Thứ Năm, 13 tháng 1, 2022

Một số giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các âm mưu thủ đoạn, quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay.

 


Do đặc thù phát triển quá nhanh của công nghệ, của các dịch vụ, nội dung thông tin trên mạng nên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế, chưa cụ thể hóa, bao quát hết các đối tượng và hoạt động cần quản lý, hành vi sai phạm, chế tài xử lý chưa bảo đảm tính răn đe. Trong khi đó, quy trình sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật trên lĩnh vực này theo quy định hiện hành mất khá nhiều thời gian, dẫn đến việc quy định vừa sửa đổi, bổ sung xong đã bắt đầu lạc hậu, gây khó khăn cho công tác quản lý. Vì vậy, để kịp thời ngăn chặn, đập tan âm mưu của các thế lực thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam cần nghiên cứu, vận dụng thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, cần có giải pháp về cơ chế, chính sách: Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, đảm bảo môi trường pháp lý bình đẳng, minh bạch, kịp thời bổ sung, xây dựng các văn bản mới và xây dựng cơ chế chính sách về thông tin điện tử cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn, đáp ứng hiệu quả quản lý, bổ sung các chế tài xử lý sai phạm nghiêm khắc hơn.

- Tổ chức họp định kỳ, đột xuất nhằm định hướng, chấn chỉnh kịp thời hoạt động của các trang mạng xã hội trong nước.

- Xây dựng chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước phát triển, tạo ra những “đơn vị tiên phong” đủ mạnh để cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường.

- Nâng cao năng lực quản lý, đẩy mạnh công tác kiểm tra, rà soát, kiên quyết xử lý thông tin sai phạm trên mạng. Đối với các trường hợp vi phạm nhiều lần, mức độ nghiêm trọng có thể xem xét rút giấy phép; tăng cường hướng dẫn, phối hợp với Sở TTTT các địa phương và các đơn vị chức năng có liên quan xử lý hoạt động sai phạm về thông tin điện tử trên mạng.

Thứ hai, cần chú trọng xây dựng tốt công tác kỹ thuật, công nghệ: Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các đơn vị quản lý và doanh nghiệp; nghiên cứu, định hướng trong việc xây dựng bộ lọc và có cơ chế cập nhật khi có yêu cầu để các doanh nghiệp thực hiện; kịp thời ngăn chặn truy cập, chia sẻ, tạm ngừng hiển thị nội dung trên mạng internet khi phát hiện thông tin vi phạm. Chuẩn bị các phương án kỹ thuật, công nghệ phù hợp để có thể chủ động ngăn chặn các thông tin vi phạm trong trường hợp khẩn cấp với quyết tâm, thống nhất cao và sự phối hợp đồng bộ của các bộ, ngành, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, internet;

Thứ ba, xây dựng đầu mối tiếp nhận, quy trình xử lý tin giả trên mạng xã hội: Bộ Thông tin và Truyền thông, các Sở Thông tin và Truyền thông tại các địa phương sẽ là đầu mối thực hiện việc xử lý đối với các hành vi tung tin giả của các tổ chức, cá nhân tại Việt Nam theo quy định của pháp luật.

 Việc xác định tin giả cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các Bộ, ngành có liên quan theo chức năng, nhiệm vụ được giao, đặc biệt trong việc nhận diện và xác định tin giả theo từng lĩnh vực, đối tượng ảnh hưởng đối với các vấn đề ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, kinh tế, xã hội... Ngoài ra, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân bị ảnh hưởng trực tiếp cần chủ động tập hợp, cung cấp các tài liệu, chứng cứ để các cơ quan chức năng xác lập hành vi của các đối tượng tung tin giả.   

Thứ tư, cần tuyên truyền rộng rãi, nâng cao nhận thức: Các cơ quan chức năng tiếp tục chủ trì, phối hợp với các cơ quan báo chí & truyền thông liên quan triển khai thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức cho người sử dụng về các quy định của pháp luật có liên quan nội dung thông tin trên mạng.

- Tăng cường việc tổ chức các buổi tọa đàm, giao lưu với các thế hệ học sinh, sinh viên và các bậc phụ huynh nhằm cung cấp, trao đổi thông tin về những mặt tích cực và tiêu của Internet để thế hệ trẻ biết sàng lọc trước các luồng thông tin xấu độc. 

- Đối với các cơ quan nhà nước, đặc biệt là các cơ quan hoạt động trong lĩnh vực tuyên truyền, cần coi mạng xã hội cũng là một kênh truyền thông tương tự như báo, đài, truyền hình để tiến hành các hoạt động tuyên truyền. 

- Đối với các ban, ngành hoạt động tiếp xúc với người dân nhiều thì càng cần coi mạng xã hội cũng như Internet là một kênh quan trọng và cần có kế hoạch truyền thông của riêng mình. Cần khuyến khích các cơ quan nhà nước bên cạnh website của mình cần mở thêm một kênh thông tin giới thiệu về chuyên ngành và lĩnh vực mình quản lý, qua đó tiếp cận và minh bạch thông tin với người dân.

- Xây dựng và phổ biến rộng rãi bộ quy tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội đối với người sử dụng internet tại Việt Nam, thúc đẩy hình thành văn hóa ứng xử, chia sẻ thông tin lành mạnh, lên án, tẩy chay hành vi đi ngược lại lợi ích cộng đồng, lợi ích quốc gia trên mạng internet. Triển khai các hoạt động tuyên truyền, hướng dẫn, phổ biến kỹ năng sử dụng internet an toàn và hiệu quả.

Thứ năm, phát triển mạng xã hội do doanh nghiệp tại Việt Nam cung cấp dịch vụ: Hiện nay tại Việt Nam, một số mạng xã hội của nước ngoài như Facebook, Youtube vẫn đang chiếm phần lớn thị trường, chính vì vậy trong ngắn hạn, các giải pháp quản lý và tuyên truyền vẫn cần tiến hành đối với mạng xã hội này. Tuy nhiên về dài hạn, Việt Nam cần có những mạng xã hội tương đương, có khả năng thay thế hoặc cạnh tranh được với Facebook tại Việt Nam và do doanh nghiệp tại Việt Nam cung cấp dịch vụ. Do đó, cần có các giải pháp, cơ chế, chính sách nhằm hỗ trợ, thúc đẩy mạng xã hội trong nước phát triển. 

Thứ sáu, các cơ quan cung cấp thông tin báo chí cần quan tâm chú ý nâng cao nhận thức của đội ngũ lãnh đạo các cơ quan báo chí về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Chỉ đạo đội ngũ lãnh đạo, cán bộ, phóng viên, biên tập viên nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn nữa về Chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta. Xây dựng nền tảng xuất bản mở và đa nền tảng. Ứng dụng các công cụ hỗ trợ quản lý vận hành báo có tính liên thông cao, ví dụ: Nhân sự, công việc, tính hiệu quả cần được liên kết chặt chẽ, lấy công nghệ làm nền tảng, lấy công nghệ làm phương tiện, lấy công nghệ làm công cụ dự báo.  Bám sát việc phát triển công nghệ của toà soạn với hoạt động chuyển đổi số chung của Chính phủ và doanh nghiệp để đồng bộ trong chuẩn giao tiếp về thông tin.

Thứ bẩy,  Ban Chỉ đạo 35 của Ban Tuyên giáo Trung ương cần phối hợp với Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông hoàn thiện các văn bản chỉ đạo và quy chế, các tình huống trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay.  Ban Chỉ đạo 35 cần chủ động phối hợp với các tỉnh ủy, thành ủy bám sát thực tiễn, kịp thời dự báo những tư tưởng không tích cực, những vấn đề nổi cộm tại các địa phương, chú ý đến việc bảo vệ nhân quyền của các giáo hội …; chủ động cung cấp thông tin với các nước, các tổ chức quốc tế về những nội dung quan điểm nhận thức chưa đúng về công cuộc đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam

Thứ tám, các cơ quan báo chí cần lựa chọn những người có vị thế, uy tín trong xã hội có nhiều bài viết, nêu gương trong việc đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Tùy theo tính chất nhiệm vụ và khu vực Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức các lớp tập huấn của đội ngũ lãnh đạo các cơ quan báo chí và những phóng viên chủ chốt, tích cực trong việc viết bài, phản ánh không chỉ trên báo mà còn các phương tiện trên  mạng xã hội với những cách làm sáng tạo để kiên quyết đập tan các âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch; bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi là ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam.

Trong năm 2021 và những năm tiếp theo, các cơ quan báo chí cần chủ động tuyên truyền về Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII; chú trọng vào việc tuyên truyền các ngày lễ kỷ niệm trong từng năm như: Ngày thành lập Đảng, ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước; Quốc khánh 2/9; Cách mạng Tháng Tám thành công; ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam…/.

          T3

Thực tiễn hoạt động mạng xã hội & âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam

 


Mạng xã hội ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ, có thể phân thành hai loại: 

Thứ nhất, mạng xã hội của Việt Nam do các doanh nghiệp trong nước cung cấp và chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam. Ở Việt Nam không thiếu các mạng xã hội xưng danh là mạng xã hội Việt, nhưng rất ít trong số đó tồn tại được quá một năm trước khi phải khai tử. Các mạng xã hội Ở Việt Nam, đặc biệt là các trang mạng xã hội đã được cấp phép hoạt động phần lớn đều tuân thủ quy định của pháp luật hiện hành. Số ít trường hợp để xảy ra sai phạm và nội dung vi phạm chủ yếu là do thành viên chia sẻ, trao đổi các nội dung vi phạm về thuần phong mỹ tục, dung tục và phản cảm.

Thứ hai, mạng xã hội của nước ngoài, do các doanh nghiệp nước ngoài cung cấp xuyên biên giới vào Việt Nam, điển hình như: Facebook, Google, Youtube, Twitter, Microsoft... cung cấp vào Việt Nam, được người Việt Nam lựa chọn sử dụng nhiều nhất hiện nay là Facebook và Youtube. Theo báo cáo của Google, Việt Nam là một trong nhóm 10 nước có lượng người dùng Youtube vào loại cao trên thế giới. Cả hai loại mạng xã hội này đều hoạt dộng và cạnh tranh lẫn nhau ở Việt Nam.

Trong môi trường phát triển số hóa mạnh mẽ như ngày nay, mạng xã hội cũng như “con dao hai lưỡi”. Không thể phủ nhận tiện ích mà mạng xã hội đem lại cho con người trong đời sống hiện đại; thế nhưng, đây lại là một thế giới ảo, thật giả lẫn lộn, có những điều tốt nhưng có cả “thuốc độc”. Tính chất thật, giả lẫn lộn không chỉ trên phương diện cá nhân, đối với từng con người, mà còn đối với phương diện xã hội, càng đặc biệt trở nên nguy hiểm khi nó được sử dụng vào các hoạt động chính trị. Với khả năng tương tác và tính lan truyền nhanh, làm cho sự thật giả của những thông tin trên mạng xã hội càng trở nên nguy hiểm. Tuy nhiên, vấn đề không phải là cấm mạng xã hội, nhưng mạng xã hội bộc lộ nhiều mặt trái mà chúng ta cần phải hạn chế, quản lý, đặc biệt là sự lợi dụng mạng xã hội để công kích, chống đối Đảng, Nhà nước và chế độ. Một hệ thống luật pháp đầy đủ để quản lý và điều chỉnh hành vi những người sử dụng mạng xã hội và thiết bị trực tuyến là đòi hỏi bức thiết của tình hình.

Thực tế mạng xã hội ở nước ta hiện nay cho thấy, tình trạng mất an toàn thông tin mạng xã hội diễn biến rất phức tạp, mang tính phổ biến; ý thức bảo đảm an toàn thông tin của một số cá nhân, tổ chức trong sử dụng công nghệ thông tin chưa được đề cao; ý thức bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng của một số cán bộ, chiến sĩ, nhất là số chiến sĩ trẻ còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng tốt yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo đảm an toàn, an ninh mạng thông tin quốc gia, về giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng chưa thật đồng bộ, hiệu lực thi hành chưa cao… Các hành vi tiêu cực như: Tung tin giả mạo, phát tán tin xấu độc, xuyên tạc, bịa đặt, phát ngôn gây thù ghét... chủ yếu tồn tại trên các mạng xã hội nước ngoài do nhận thức của người sử dụng cho rằng mạng xã hội là môi trường ảo, nên có thể tự do phát ngôn, tự do thông tin mà không phải chịu trách nhiệm.

Mạng xã hội trở thành môi trường thuận lợi để thông tin xấu độc, gây hại, những phát ngôn thù ghét tràn lan; mức độ tác động đến xã hội ngày càng nghiêm trọng. Nhiều thông tin không chính thống trên mạng xã hội đã làm nhiễu loạn, ảnh hưởng rất nhiều đến công tác chỉ đạo, điều hành. Tuy nhiên, không thể chỉ ngăn cấm mạng xã hội bằng những mệnh lệnh hành chính, mà phải biết tận dụng mặt tích cực của nó để định hướng dư luận đến với cái đúng, cái tốt, đấu tranh với cái sai, cái xấu. Điều đó chỉ có thể được thực hiện khi cơ quan chức năng chủ động cung cấp thông tin chính xác, kịp thời đến với người dân. 

Trong tình hình mới, không gian mạng sẽ còn tiếp tục phát triển mạnh mẽ, các thế lực thù địch ngày càng lợi dụng để chống phá cách mạng nước ta, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong điều kiện đó, vấn đề bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng càng trở nên quan trọng và cấp thiết. Thông qua hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta, chúng còn triển khai hướng tiến công “mềm” thông qua việc đẩy mạnh việc sử dụng các mạng thông tin, mạng quốc tế để tuyên truyền chống phá cách mạng nước ta với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt khó lường. Trong đó đáng lưu ý là, việc Mỹ đang lợi dụng những cơ hội của toàn cầu hoá kinh tế để thực hiện chiến lược “Mỹ hoá" toàn cầu. Sự du nhập lối sống phương Tây từ việc mở rộng kết nối Internet đang thách thức sự kiểm soát của Nhà nước ta; sự suy giảm niềm tin vào chủ nghĩa xã hội, vào khả năng xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế; sự lẫn lộn về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, phai nhạt ý thức quốc gia dân tộc, suy giảm ý thức quốc phòng trong một bộ phận nhân dân, trước hết là một bộ phận trong thế hệ trẻ là không tránh khỏi.

Với phương châm lấy chống phá về chính trị, tư tưởng làm hàng đầu, kinh tế là mũi nhọn, ngoại giao làm hậu thuẫn, tôn giáo, dân tộc làm ngòi nổ, kết hợp với uy hiếp, răn đe, gây sức ép về quân sự, chúng triệt để lợi dụng những vấn đề "dân tộc", "tôn giáo", "dân chủ", "nhân quyền"…; kết hợp "diễn biến hoà bình" với bạo loạn lật đổ chống phá từ bên trong, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, khi cần thiết và có điều kiện thì phát động chiến tranh xâm lược quy mô lớn. “Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp”[1].

Đặc biệt, các thế lực thù địch sẽ đẩy mạnh tuyên truyền các luận điệu nhằm ca ngợi chủ nghĩa tư bản, cổ súy cho chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng. Chúng tuyên truyền rằng chủ nghĩa tư bản là chế độ xã hội cuối cùng của lịch sử loài người, hiện nay chủ nghĩa tư bản đã thay đổi bản chất, không còn là một xã hội áp bức, bóc lột nữa. Đồng thời, chúng cho rằng con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn là “mù mờ”, là “không tưởng”, hoặc cho rằng “chủ nghĩa nào, chế độ nào cũng được, miễn dân giàu, nước mạnh”. Chúng cố tình tách rời và đối lập độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội; đối lập một cách sai lầm chủ quyền dân tộc với ý thức hệ xã hội chủ nghĩa; tuyên truyền luận điệu thù địch cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ý thức hệ cao hơn chủ quyền dân tộc”…

Các thế lực thù địch thông qua việc phát tán các ấn phẩm, tài liệu sách, báo, băng hình trên các phương tiện thông tin, trên các trang mạng xã hội,... nhằm xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng còn đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng Hồ Chí Minh chỉ là người theo chủ nghĩa dân tộc, chứ không lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa. Chúng vin vào một số khuyết điểm, sai lầm trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng, sự tha hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên đã làm cho cách mạng nước ta có lúc gặp khó khăn, đẩy mạnh tuyên truyền các luận điệu nhằm bôi xấu, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Được sự hậu thuẫn mạnh của các thế lực phản động bên ngoài, các phần tử cơ hội chính trị, chống đối ở trong nước tăng cường viết và phát tán các tài liệu đưa ra những luận điệu, quan điểm, sai trái phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên không gian mạng. Họ cho rằng, đã đến lúc phải xét lại cả những nguyên lý cơ bản có tính chất thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, những nguyên lý về giai cấp, đấu tranh giai cấp, lý luận về hình thái kinh tế - xã hội… Các thế lực thù địch đã và đang điều chỉnh một số vấn đề về chủ trương, giải pháp sử dụng các thủ đoạn “mềm, ngầm, sâu, điểm”, mở rộng địa bàn hoạt động, nhất là các địa bàn trọng yếu; tích cực móc nối, liên kết các nhóm, tổ chức phản động và tìm mọi cách xâm nhập vào nội bộ ta (nhất là các cơ quan lãnh đạo, chính quyền, đoàn thể) nhằm tạo dựng “ngọn cờ” chuẩn bị thời cơ gây bạo loạn, ly khai ở một số vùng hoặc nhiều vùng có tính chất độc lập để chia cắt nước ta, hy vọng tạo dựng nhà nước “tự do”, “độc lập” chịu sự chi phối của bên ngoài,... Phương thức chống phá của các thế lực thù địch hết sức đa dạng, có lúc lợi dụng sự công khai của báo chí, truyền thông, lợi dụng sự tự do tư tưởng; có lúc ngụy trang dưới nhiều hình thức, vỏ bọc tinh vi, đặc biệt là chúng triệt để lợi dụng mạng xã hội.

Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, internet đã trở thành không gian xã hội mới “không gian mạng” mang lại những cơ hội, vận hội mới để các quốc gia, dân tộc cùng nhau  hợp tác và phát triển. Các thế lực thù địch, phản động đang tận dụng những ưu thế vượt trội của công nghệ số, mạng xã hội để tuyên truyền những tư tưởng độc hại; thu thập thông tin, bí mật nhà nước, bí mật quân sự, phá vỡ niềm tin và cắt đứt sợi dây liên kết giữa Đảng với nhân dân; xuyên tạc, phủ nhận những thành quả cách mạng trong công cuộc đổi mới ở nước ta. Với sự phát triển rất sôi động và phong phú của mạng thông tin toàn cầu, thì đó lại là một "điều kiện", "thời cơ" thuận lợi để các thế lực thủ địch thực hiện âm mưu, thủ đoạn chống phá chủ nghĩa xã hội, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin, truyền thông hiện đại như báo chí, đài phát thanh đặt ở ngoài nước, internet, các trang mạng xã hội, các blog, tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng còn trực tiếp tiến công vào báo chí cách mạng nước ta, làm nhiễu mạng điện tử, tiến công vào những nhà báo cách mạng.

Sự chống phá của các thế lực thù địch, đặc biệt lợi dụng báo chí, mạng xã hội chống phá cách mạng nước ta, làm cho việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay gặp những khó khăn, thách thức mới. Trong Báo cáo gửi Bộ Ngoại giao Mỹ, Jon Aloisi (cựu Phó Đại sứ Mỹ tại Việt Nam) từng viết: “Thành công lớn nhất là đã thực hiện việc đưa vào Việt Nam mạng lưới internet. Đó là phương tiện hữu hiệu cho chiến dịch truyền bá các tư tưởng phương Tây nằm trong chiến lược nhằm thay đổi chính thể ở quốc gia này”.

Trong tình hình mới, “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam càng quyết liệt và nguy hiểm hơn. Cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam ngày càng phức tạp, khó khăn. Trong thời gian tới, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá, trong đó tập trung tuyên truyền, phủ nhận nền tảng tư tưởng, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là những thời điểm Quốc hội thông qua các văn bản pháp luật mới; phủ nhận thành quả cách mạng, vai trò lãnh đạo của Đảng; xuyên tạc chủ trương củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội; bóp méo sự thật lịch sử, bôi nhọ hình ảnh các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, quân đội; đả kích bản sắc văn hóa dân tộc; làm giảm sút lòng tin của nhân dân ta đối Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam là nhiệm vụ cấp bách hiện nay của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam là phải kết hợp chặt chẽ giữa "xây" và "chống", lấy xây dựng là chính, tích cực chủ động phòng, chống là quan trọng; kết hợp chặt chẽ giữa chủ động ngăn chặn, phòng ngừa với chủ động tiến công làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch.

T3

Đấu tranh làm thất bại quan điểm sai trái trên mạng xã hội hiện nay

 

Yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam là phải kết hợp chặt chẽ giữa "xây" và "chống", lấy xây dựng là chính, tích cực chủ động phòng, chống là quan trọng; kết hợp chặt chẽ giữa chủ động ngăn chặn, phòng ngừa với chủ động tiến công làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch.

Nền tảng tư tưởng của Đảng ta là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng ta khẳng định rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng của Đảng”. Trong quá trình cách mạng, Đảng ta thường xuyên cảnh giác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng; đồng thời cũng đặt ra yêu cầu nâng cao nhận thức, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước, nên đã giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là hệ thống quan điểm, nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường, biện pháp tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng dân tộc, giải phóng con người và là cơ sở vững chắc để Đảng đề ra chủ trương, đường lối lãnh đạo; là kim chỉ nam định hướng cho mọi hành động của mình. Nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được cấu thành bởi hai thành tố có mối quan hệchặt chẽ, khăng khít với nhau là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thế giới mà chúng ta sống đang diễn ra những quá trình, những xu hướng quá độ mà sự vận động của nó là điều rất khó dự lường, tác động mạnh mẽ và sâu sắc, làm thay đổi toàn bộ đời sống nhân loại. Thế giới hiện nay vẫn đang quá độ từ trật tự thế giới cũ của thời kỳ chiến tranh lạnh sang trật tự thế giới mới, nhưng vẫn chưa được định hình rõ nét, đặc biệt trở nên rất khó đoán lường sau khi ông Joe Biden làm Tổng thống Mỹ. Thế giới cũng bắt đầu bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, (cách mạng công nghiệp 4.0), với sự phát triển vô cùng nhanh chóng, mà hiện nay chúng ta chưa có thể nắm bắt và tiên lượng hết mọi điều sẽ diễn tiến và hệ quả của nó đối với cuộc sống con người, mọi quốc gia dân tộc và cộng đồng nhân loại. Thế giới hiện nay lại đang chứng kiến sự nổi lên của chủ nghĩa dân tộc và dân túy, những nguy cơ phá vỡ nhiều luật lệ và tổ chức, thiết chế quốc tế tưởng như đã phát triển ổn định, bền vững của thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Thế giới vẫn đang phải đối mặt với sự gia tăng sức mạnh quốc phòng, quân sự, đặc biệt là sự ra đời nhiều loại vũ khí trang bị mới, kể cả vũ khí hạt nhân với những chính sách cực đoan của nhiều nước, đặc biệt là các nước lớn, các nước phát triển, treo lơ lửng trên đầu nhân loại nguy cơ xung đột, chiến tranh quy mô lớn, có thể bùng phát vào bất kỳ ở đâu và thời điểm nào.

Toàn bộ những quá trình, những xu hướng quá độ nêu trên đang vận động, biến đổi và phát triển nhanh chóng trong điều kiện mới của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, cách mạng công nghiệp 4.0, kinh tế tri thức và toàn cầu hóa phát triển hết sức mạnh mẽ và sâu rộng; phản ánh sâu sắc tính chất gay go, phức tạp mới của thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn cầu trong bối cảnh lịch sử mới. Những quá trình, những xu hướng đó tác động mạnh mẽ và ảnh hưởng vừa gián tiếp vừa trực tiếp đến nền tảng tư tưởng và hoạt động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay.

Sự phát triển của mạng xã hội và sự lợi dụng không gian mạng chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch ảnh hưởng đến hoạt động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay... Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến hoạt động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam, gây nhiều khó khăn đối với các đơn vị cung cấp thông tin, quản lý mạng xã hội hiện nay.

T3

Lật tẩy thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc xây dựng đất nước

 

Nhận thấy sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định chiều hướng đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch thường xuyên thực hiện thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng với nhiều luận điệu tinh vi, thâm hiểm. Một mặt, họ thẳng thừng đòi bỏ Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013) quy định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội; mặt khác, họ khéo léo che đậy mục tiêu thực sự của mình khi lập luận rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam có công trong sự nghiệp giải phóng dân tộc; nhưng không có khả năng lãnh đạo sự nghiệp xây dựng đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa”(!). Để củng cố lập luận trên, họ cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam giỏi lãnh đạo trong chiến tranh, nhưng không có kỹ năng lãnh đạo phát triển kinh tế, xã hội trong thời bình”(!). Từ đây, họ kết luận: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, do đó cần trao vai trò lãnh đạo công cuộc xây dựng, phát triển đất nước cho các lực lượng chính trị khác”(!), thực chất là đòi trao cho các thế lực chống đối con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Những luận điệu này được họ lặp đi, lặp lại nhiều lần, dưới nhiều hình thức, trong nhiều thời điểm khác nhau, nhất là vào thời gian Đảng ta tiến hành đại hội nhiệm kỳ, hay những lúc tình hình kinh tế - xã hội của đất nước gặp khó khăn, hoặc trong những ngày kỷ niệm lớn của Đảng, của đất nước. Họ hy vọng tác động của những luận điệu đó sẽ góp phần thúc đẩy sự “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, dẫn đến Đảng ta tự tan rã.

Mục tiêu thực sự của các luận điệu trên đều hướng vào xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội; cổ súy cho “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt Nam. Sâu xa hơn, là nhằm xóa bỏ mọi thành quả cách mạng và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta; hướng lái sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước hiện nay theo con đường tư bản chủ nghĩa. Bởi theo họ, nếu Đảng Cộng sản không còn giữ vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội, thì tất yếu đất nước sẽ không phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa. Đây là điều mà các thế lực thù địch, chống đối từng thành công ở Liên Xô trong thập niên cuối của thế kỷ trước và họ hy vọng sẽ thành công ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, những thành tựu của sự nghiệp xây dựng, phát triển nước Việt Nam thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhất là trong suốt 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới là thực tiễn sinh động bác bỏ mọi xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.

Nhìn lại quãng thời gian 10 năm sau chiến tranh giải phóng (1975 - 1985), đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng. Nguyên nhân một phần do điểm xuất phát của chúng ta về kinh tế là một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, kém phát triển, lại chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh; cùng với đó, do chính sách bao vây, cấm vận kinh tế của Mỹ và các nước phương Tây; “song chủ yếu là do chúng ta đã phạm sai lầm chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, trong tiến trình công nghiệp hóa và trong cơ chế quản lý kinh tế”1. Với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, tại Đại hội VI, Đảng ta đã nghiêm túc tự phê bình, nhận khuyết điểm, chủ động đề ra và lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới theo hướng xóa bỏ cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp, chuyển sang phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Nhờ thực hiện đường lối đổi mới đúng đắn trong hơn 35 năm qua, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với trước thời kỳ đổi mới. Thế bị bao vây, cấm vận được phá bỏ. Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng nước nghèo, kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng trung bình khoảng 07% mỗi năm trong suốt 35 năm qua. Quy mô và tiềm lực kinh tế của đất nước từ chỗ chỉ đạt 6,3 tỉ USD vào năm 1989 đã không ngừng tăng lên, đạt 342,7 tỉ USD vào năm 2020, đứng trong tốp 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và đứng thứ tư trong ASEAN. Kim ngạch xuất khẩu năm 1990 mới chỉ đạt 2,4 tỉ USD, thì năm 2020 đã đạt hơn 280 tỉ USD, tăng gần 120 lần trong vòng 30 năm. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của đất nước phát triển khá nhanh với nhiều công trình lớn, hiện đại, làm cho diện mạo của đất nước có nhiều thay đổi, tiến bộ. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, với công nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng 85% GDP hiện nay. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành và phát triển, đã có 79 nước công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường. Năm 2021, mặc dù chịu tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19, song do những nỗ lực của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự gắng sức của các doanh nghiệp, các tầng lớp nhân dân, sau hơn một tháng thực hiện Nghị quyết số 128/NQ-CP của Chính phủ về “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19”, nền kinh tế đã có dấu hiệu phục hồi mạnh mẽ. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11/2021 tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước; tính chung 11 tháng năm 2021, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm 2020. Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tháng 11 so với tháng trước tăng 44,6% về số doanh nghiệp, 38% về vốn đăng ký, 30,2% về số lao động. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục phục hồi. Tính đến ngày 20/11/2021, vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 26,46 tỉ USD, tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước. Điều đó cho thấy nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục tin tưởng vào môi trường đầu tư Việt Nam. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 11 tháng năm 2021 vẫn duy trì tốc độ tăng cao, đạt 599,12 tỉ USD, tăng 22,3% so với cùng kỳ năm trước; trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt  299,67 tỉ USD, tăng 17,5% so với cùng kỳ năm trước.

Quan hệ đối ngoại của nước ta ngày càng rộng mở và đi vào chiều sâu; từng bước chuyển từ “tham gia tích cực” sang “chủ động đóng góp xây dựng, định hình luật chơi chung”. Đến nay, nước ta đã có quan hệ ngoại giao với hầu hết các quốc gia thành viên Liên hợp quốc; thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với 16 nước, đối tác toàn diện với 11 nước, bao gồm cả 05 nước Thường trực Hội đồng Bảo an; có quan hệ kinh tế - thương mại và đầu tư với 230 nước và vùng lãnh thổ; là thành viên của nhiều định chế kinh tế quốc tế lớn, như: Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), v.v. Nước ta đã hai lần đảm nhận vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2008 - 2009, 2020 - 2021) và còn đảm nhận nhiều trọng trách quan trọng trong các tổ chức quốc tế khác. Hàng loạt chuyến thăm chính thức của lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước ta đến Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Thụy Sỹ, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ôxtrâylia, một số nước Tây Âu, Vatican,… và nguyên thủ các nước này đến thăm nước ta trong thời gian qua, đã khẳng định vị thế và uy tín ngày càng cao của Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam trên trường quốc tế. Từ năm 2014, nước ta bắt đầu tham gia vào lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, thể hiện trách nhiệm trong việc xây dựng lòng tin, duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới.

Trên cơ sở kinh tế phát triển, đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện rõ rệt. Thu nhập bình quân đầu người trong những năm đầu đổi mới chỉ đạt khoảng 250 USD/năm, đến năm 2020 đạt 3.521 USD, đứng thứ sáu trong ASEAN. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Tiến bộ và công bằng xã hội đạt nhiều kết quả ấn tượng, được Liên hợp quốc xếp là một trong những nước đứng đầu thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ. Các vấn đề an sinh xã hội luôn được quan tâm chăm lo, ngay cả lúc nền kinh tế gặp khó khăn do tác động của suy thoái kinh tế thế giới, hay của đại dịch Covid-19. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 03% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam tăng gần 46% từ năm 1990 đến năm 2019, nằm trong số các nước có tốc độ tăng HDI cao nhất trên thế giới. Năm 2019 HDI của Việt Nam đạt mức 0,704, thuộc nhóm nước phát triển con người cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển.

Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền quốc gia được giữ vững. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, nhất là phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh, triển khai quyết liệt, đồng bộ, toàn diện, đi vào chiều sâu, tạo nhiều chuyển biến tích cực, rõ rệt. Nhờ đó, niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa tiếp tục được củng cố, tăng cường. Con số 99,6% cử tri tham gia Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 trong điều kiện khó khăn, phức tạp do đại dịch Covid-19 bùng phát mạnh, là minh chứng sinh động về lòng tin của nhân dân vào thể chế chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử nói trên đều gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là minh chứng thuyết phục về năng lực lãnh đạo của Đảng trước đây, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ hội nhập; là thực tiễn khách quan bác bỏ mọi sự xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Đúng như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”2. Trong một công trình nghiên cứu cùng Cơ quan Phát triển quốc tế Thụy Điển (SIDA), các nhà nghiên cứu của Viện Phát triển quốc tế thuộc trường Đại học Harvard (Hoa Kỳ) cũng có nhận xét: “Ở Việt Nam, trong tương lai, khó có thể hình dung cơ sở xã hội cho việc xây dựng một đảng có khả năng cạnh tranh với Đảng Cộng sản Việt Nam”. Bởi lẽ, ở Việt Nam hơn 90 năm qua, đại đa số nhân dân thừa nhận sự lãnh đạo độc tôn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; trìu mến gọi Đảng Cộng sản Việt Nam là “Đảng ta” và coi Đảng là người đại biểu trung thành cho lợi ích của mình, do Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, mà còn đại biểu cho lợi ích của nhân dân lao động và của cả dân tộc.

Để tiếp tục giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới, Đại hội XIII của Đảng đã xác định “phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”3, xem đó là nhiệm vụ then chốt. Tổ chức thực hiện một cách nghiêm túc, quyết liệt, đồng bộ công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn liền với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, là cách làm hiệu quả nhất để bác bỏ những mưu toan và hành động xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước trong thời kỳ hội nhập.

T3

Đấu tranh với các qua điểm sai trái trên không gian mạng.

 

Hiện nay, các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng Internet, các trang mạng xã hội để đăng tải thông tin xấu độc, bịa đặt, sai sự thật, bóp méo, xuyên tạc, làm lẫn lộn đúng - sai, thật - giả; hoặc có một phần sự thật nhưng được đưa tin với dụng ý xấu, phân tích và định hướng dư luận bằng luận điệu sai trái, thù địch; bôi nhọ, vu khống lãnh tụ, kích động bạo lực, lừa đảo trên mạng, đánh cắp thông tin…

Song do nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về âm mưu, hoạt động “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa cũng như tác hại của quan điểm sai trái, thù địch đối với xã hội còn hạn chế; sự phối hợp giữa các cơ quan ban, ngành trong tuyên truyền và đấu tranh, phản bác còn mang tính hình thức, thụ động, chưa đa dạng, phong phú về nội dung, có nơi, có lúc còn thiếu sắc bén, tính thuyết phục chưa cao; việc thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tại một số địa phương còn sơ hở, thiếu sót; việc giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện ở một số nơi còn chậm, kéo dài, vượt cấp, gây bức xúc trong nhân dân… là những yếu tố để kẻ địch triệt để lợi dụng tuyên truyền các luận điệu sai trái, thù địch với nước ta.

Thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng 2 trang mạng xã hội là Facebook và Youtube để đăng, chia sẻ những thông tin sai trái, cơ hội chính trị lên không gian mạng Internet. Thủ đoạn thường được chúng sử dụng đó là dùng những tin, bài, những hình ảnh trên các báo chí chính thống của ta ở trong nước, sau đó viết lại, chỉnh sửa thành những nội dung bịa đặt hoặc định hướng sai lệch để đăng tải. Điều này thu hút sự quan tâm của người xem, người đọc trước những thông tin có nội dung giống với các thông tin chính thống, tạo cảm giác nửa tin, nửa ngờ và nếu không tìm hiểu, nghiên cứu kỹ sẽ bị tác động xấu bởi những thông tin xuyên tạc này. Ngoài ra, các đối tượng sử dụng trang Blog để nói xấu, chống phá Đảng, Nhà nước, khi nó kết hợp với mạng xã hội, các bài viết trên Blog được chia sẻ lên mạng xã hội tạo sức lan tỏa lớn.

Để  đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet, mạng xã hội hiện nay cần phải đổi mới, nâng cao chất lượng nội dung thông tin chính thống, đảm bảo phong phú, đa dạng, nhiều cấp độ, tùy theo đối tượng để cung cấp, phổ biến, truyền tải. Đồng thời luôn xây dựng bản lĩnh vững vàng, có nhận thức đúng đắn, có sự suy xét khi tiếp cận những thông tin nhạy cảm, ở những thời điểm diễn ra các sự kiện mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng để xuyên tạc, chống phá. Loại bỏ những thông tin xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch ra khỏi không gian mạng bằng cách tạo môi trường trong sạch về thông tin. Đặc biệt, các cơ quan báo chí, truyền thông, các tổ chức đoàn thể và toàn thể nhân dân cần phối hợp chặt chẽ, tạo nên sức mạnh tổng hợp chỉ rõ các quan điểm sai trái, vạch trần các âm mưu phản động thù địch, từng bước cô lập chúng trên mạng xã hội. Chủ động chia sẻ, lan tỏa những tin, bài, ảnh có nội dung tích cực, gương người tốt việc tốt trong học tập, công tác, lao động sản xuất, trong cuộc sống, sinh hoạt thường ngày... “lấy cái đẹp để dẹp cái xấu”. Nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không tin theo, không truy cập và tán phát, chia sẻ những thông tin xấu độc, cũng là góp phần đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng.

T3

 

Phần tử phản động, cơ hội chính trị, xét lại

 

          Trước hết về quan điểm cơ hội chính trị, xét lại: Là quan điểm của phần tử phản động – những người không có quan điểm rõ ràng, luôn ngả nghiêng, giao động, không kiên định theo nguyên tắc, quy luật khoa học. Khi cách mạng thuận lợi thì họ tỏ ra cấp tiến, hăng hái. Khi cách mạng gặp khó khăn thì họ quay lại chê bai, thoái lui, thỏa hiệp với các thế lực thù địch để chống phá; đòi xét lại những vấn đề cơ bản của nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối lãnh đạo cách mạng của Đảng.

          Về phần tử phản động, cơ hội chính trị, xét lại: Đó chính là những đối tượng đội lốt “yêu nước”, đội lốt các nhà đấu tranh vì “dân chủ”, “nhân quyền”, “xã hội dân sự”…Thành phần của bọn cơ hội chính trị rất đa dạng, phức tạp, thường là: Đối tượng đã bị xử lý trong các vụ án chính trị trước đây, nay tiếp tục hoạt động chống đối trở lại, như số đối tượng trong các vụ án chống Đảng, Nhà nước XHCN, chính quyền nhân dân. Một số đối tượng là đảng viên trong bộ máy Nhà nước có quá trình tham gia cách mạng, có người từng giữ cương vị chủ chốt trong Đảng, sĩ quan cao cấp trong LLVT. Nhận thức quan điểm chính trị của họ đối lập với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, phản bội lại mục tiêu, lý tưởng Cộng sản, phản bội Tổ quốc. Một bộ phận là trí thức, văn nghệ sỹ, cán bộ trẻ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bị mua chuộc, lôi kéo, bất mãn, trở cờ quy lưng lại với lợi ích quốc gia, dân tộc.

          Tóm lại, đó là những cá nhân, tổ chức, chính thể có quan điểm, hành động, việc làm khác, đối lập với nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật Nhà nước, có hoạt động đi ngược lại với lợi ích dân tộc, đất nước và nhân dân Việt Nam.

                 T3

Nhận diện về đối tượng, lực lượng chống phá: (Thực chất là trả lời câu hỏi Ai chống phá? Thế lực thù địch họ là ai?

 


“Thế lực thù địch”, một cách dễ hiểu nhất là cá nhân, tổ chức có âm mưu, hành vi gây tổn hại đến chủ quyền, lãnh thổ và các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại vv… của Việt Nam, trái với những quy định của pháp luật Việt Nam và luật pháp quốc tế.

“Quan điểm thù địch”, là quan điểm của các thế lực luôn đối lập về lợi ích và lập trường với giai cấp công nhân (đối lập về lập trường tư tưởng, lợi ích giai cấp, lợi ích quốc gia, dân tộc). Chúng có động cơ chính trị rõ ràng, muốn xây dựng “ngọn cờ”, hình thành các tổ chức chính trị đối lập. Với đặc trưng: Về động cơ chính trị là chống Đảng, chống chế độ. Về nội dung quan điểm: Bác bỏ thẳng thừng những nội dung cốt lõi, then chốt trong đường lối, quan điểm cơ bản của Đảng như lý luận Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, con đường đi lên CNXH; phủ nhận đường lối kinh tế thị trường định hướng XHCN, phủ nhận thành quả cách mạng; đáng chú ý là chúng ra sức cổ súy xã hội dân sự, phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng.

Thành phần những phần tử thù địch là: Những tổ chức, cá nhân có hoạt động chống lại Nhà nước CHXHCN Việt Nam, xâm phạm đến độc lập, tự chủ, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc…như các tổ chức Việt Tân, Triều đại Việt, Việt Nam quốc dân đảng, Thanh niên dân chủ, Văn bút Việt Hải ngoại…Các đối tượng trong chế độ cũ hoạt động đối lập với sự lãnh đạo của Đảng ta và chế độ XHCN; những đối tượng tiêu cực, bất mãn, bị các thế lực thù địch lợi dụng, kích động, lôi kéo vào hoạt động chống Đảng Cộng sản và chế độ XHCN ở Việt Nam; một số chức sắc núp bóng dưới những hình thức tôn giáo khác nhau lợi dụng vào tôn giáo để kích động, lôi kéo quần chúng nhân dân xuyên tạc nền tảng tư tưởng, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, có những hoạt động chống Đảng, chống chế độ.

T3

 

 

Kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam của các thế lực thù địch.

 


Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cánh mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại phải đi đôi với chống mọi âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Thực tiễn cho thấy, các thế lực thù địch ráo riết  đẩy mạnh chống phá cách mạng Việt Nam bằng “diễn biến hòa bình”, một trong những mũi nhọn chúng tập trung chống phá là Quân đội nhân dân Việt Nam. Chúng sử dụng mọi thủ đoạn,tinh vi, xảo quyệt, ra sức tuyên truyền, lừa mị kích động đòi “phi chính trị hóa” Quân đội ta. Ý đồ thâm hiểm của chúng  là làm cho quân đội ta thoái hóa biến chất về chính trị, chuyển sang quỹ đạo chính trị của các thế lực thù địch, phản động chống phá độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam .

Do đó, đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội ta của các thế lực thù địch thực sự là một đòi hỏi khách quan, bức thiết của sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đặc biệt, trong điều kiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, hội nhập quốc tế, khu vực ngày càng sâu rộng, bên cạnh những thời cơ, vận hội cho phát triển toàn diện đất nước do đổi mới, hội nhập đem lại, thì mặt trái của nó cũng đang đặt ra không ít khó khăn, thách thức cho sự nghiệp cách mạng nói chung, cho sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Nhất là âm mưu thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đang diễn ra hết sức quyết liệt với nhiều thủ đoạn tinh vi xảo quyệt, đan cài vào nhiều lĩnh vực cả chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại…. đã làm cho việc nhận diện, phân biệt giữa kẻ thù, đối tượng, đối tác trong các quan hệ cụ thể là hết sức khó khăn.

Thực tế cho thấy, sự chống phá tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, phản động đã và đang tác động ảnh hưởng rất lớn đến đời sống chính trị - tinh thần, ý chí quyết tâm, niềm tin và tinh thần cảnh giác cách mạng của cán bộ, chiến sĩ. Một số cán bộ, chiến sĩ có biểu hiện lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận thức và xử lý các tình huống cụ thể; không thể phân biệt, nhận diện đúng đắn về đối tượng, đối tác trong từng mặt quan hệ cụ thể; không nhận rõ đâu là thiếu sót khuyết điểm của ta, đâu là âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.v.v. . Vì vậy, tích cực, chủ động và kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch, bảo vệ chính trị của Đảng trong Quân đội một nhiệm vụ, nội dung trọng yếu, yêu cầu cấp thiết của công tác đảng, công tác chính trị trong sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Mọi sự lơ là, hoặc xem nhẹ cuộc đấu tranh này đều có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng đối với bản chất chính trị, sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta.

Để chủ động và kiên quyết đấu tranh chống âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, trước hết đòi hỏi các cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chức năng và các tổ chức, lực lượng trong toàn quân phải quán triệt và thực hiện triệt để quan điểm, tư tưởng chỉ đạo: tích cực, chủ động, liên tiếp tiến công, kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc chính trị của quân đội. Thường xuyên củng cố, tăng cường bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng lý luận, trận địa chính trị, tư tưởng của Đảng trong Quân đội, tạo dựng màng ngăn vững chắc để ngăn ngừa mọi sự thẩm thấu bởi các thủ đoạn tấn công của kẻ thù trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng vào trong Quân đội. Tăng cường giáo dục, tuyên truyền nâng cao giác ngộ về lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về chính trị của Quân đội và xây dựng Quân đội về chính trị, làm cơ sở tiền đề khoa học cho đấu tranh bác bỏ các quan điểm thù địch, phản động, phản khoa học. Tích cực, chủ động đấu tranh vạch trần mọi thủ đoạn, luận điệu xuyên tạc, phá hoại của các thế lực thù địch; bóc trần tính chất phản động, phản khoa học của các luận thuyết “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ quân đội nhận rõ bản chất phản động, phản khoa học trong các luận thuyết của kẻ thù, đồng thời trang bị cho mọi quân nhân có đủ kiến thức toàn diện cần thiết, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có kinh nghiệm, kỹ năng, phương pháp đấu tranh chống lại các luận thuyết của kẻ thù, bảo vệ chính trị của quân đội. Đặc biệt, cần tiếp tục coi trọng bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ chính ủy, chính trị viên, đội ngũ những người làm công tác nghiên cứu lý luận khoa học xã hội và nhân văn quân sự, bảo đảm cho đội ngũ này thực sự là lực lượng cốt cán, đi đầu trong đấu tranh chống âm mưu, hành động chống phá của kẻ thù hòng “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đổi mới, tăng cường tính hiệu lực, hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận của Đảng trong quân đội. Tổ chức tốt các diễn đàn đấu tranh tư tưởng, lý luận, thường xuyên tổ chức các hội thảo, mạn đàm, tọa đàm trao đổi, sinh hoạt khoa học, giao ban tình hình an ninh chính trị.v.v., thông qua đó để phát huy vai trò của nhà lãnh đạo, các chuyên gia nghiên cứu lý luận, các nhà khoa học, các chính trị gia cả trong và ngoài quân đội, cả ở trong nước và quốc tế để phân tích, nhận diện đầy đủ về chiến lược “diễn biến hòa bình”; về âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam, đồng thời tìm tòi biện pháp tiến công, chủ động dập tan mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Xây dựng và bỗi dưỡng lực lượng đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận vững mạnh đủ sức làm nòng cốt cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân kiên quyết chiến đấu làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch. Kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống, lấy xây làm chính; tích cực xây dựng môi trường văn hóa, lối sống lành mạnh; lấy cái tích cực, tiến bộ đẩy lùi cái tiêu cực, lạc hậu; lấy tư tưởng cách mạng khoa học để loại bỏ tư tưởng phản động, phản khoa học.

Những nêu trên chưa phải là đầy đủ, nhưng đó là định hướng cơ bản, quan trọng của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong thời kỳ mới, đòi hỏi phải được thực hiện tốt. Quân đội càng tiến lên chính quy, hiện đại, trang bị, vũ khí, phương tiện càng hiện đại, thử thách của chiến tranh càng khốc liệt, đòi hỏi quân nhân phải có bản lĩnh chính trị, phẩm chất tinh thần chiến đấu và ý thức tổ chức kỷ luật cao. Vì thế, càng phảikiên định quan điểm của Đảng, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở, tiền đề phát huy trí tuệ, tài năng của bộ đội, sức mạnh của vũ khí trang bị kỹ thuật thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Do đó càng phải tăng cường hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị trong công cuộcxây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Mọi biểu hiện coi nhẹ, hạ thấp hoặc buông lỏng công tác đảng, công tác chính trị sẽ dẫn đến hậu quả nguy hại cho sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

 

     T3

Chúng ta phải đấu tranh phê phán luận điệu phủ nhận “không có thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội”

Trong tình hình hiện nay, chúng ta phải nhận thức rõ đặc điểm và xu hướng phát triển của thời đại cũng như cục diện và tình hình thế giới là một việc rất cần thiết. Hiểu biết sâu sắc về thời đại giúp ta tìm thấy xu hướng tất yếu trong vô vàn những hiện tượng phức tạp, mang tính ngẫu nhiên của đời sống xã hội, giúp ta nhìn xa trông rộng, nắm bắt khuynh hướng và quy luật phát triển của nhân loại để vừa có thể lựa chọn được hướng đi phù hợp với sự phát triển của lịch sử; lường trước được những thách thức phức tạp, tránh được những vấp váp sai lệch trên đường đi; từ đó sẽ không bị chao đảo hoặc bị cuốn trôi trước phong ba bão táp của thời cuộc và đời sống chính trị quốc tế. V.I.Lenin từng chỉ rõ: Khi phân tích bất cứ vấn đề xã hội nào, phải đặt trong bối cảnh lịch sử nhất định, vì chỉ có dựa trên cơ sở hiểu biết những đặc điểm cơ bản của một thời đại, người ta mới có thể tính đến những đặc điểm chi tiết của nước này hay nước khác. Nói cách khác, vấn đề thời đại là căn cứ khách quan và tiền đề cần thiết để các chính đảng đi theo Chủ nghĩa Mác phân tích tình hình, xác định nhiệm vụ, phân chia trận tuyến, xây dựng chiến lược, hoạch định chính sách, triển khai thực hiện một cách khoa học. Chính vì lẽ đó, khi bàn về những vấn đề lớn của cách mạng, trước đây cũng như hiện nay, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta bao giờ cũng bắt đầu bằng việc phân tích đặc điểm, nội dung, xu thế phát triển của thời đại và nhận định các mặt của tình hình thế giới để xác định đúng con đường đi của cách mạng Việt Nam và đề ra đường lối đối nội, đối ngoại đúng đắn, sáng tạo. Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn là như vậy, nhưng hiện nay, một số luận điệu sai trái cho rằng: Thật không tưởng khi nói thời đại ngày nay là quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vì vậy, từ Đại hội XIII trở đi, không nên nói đến chủ nghĩa xã hội nữa. Cụ thể hơn, họ cho rằng làm gì có thời đại quá độ; nội hàm, đặc điểm, xu thế của thời đại là sự mơ hồ; hai nội dung cốt yếu của thời đại đã bị lịch sử phủ định. Bởi thế, khi không còn Liên Xô và hệ thống XHCN nữa thì Việt Nam làm sao có thể đi lên chủ nghĩa xã hội được. Đây là luận điệu sai trái cần phải phê phán, bởi: Thời đại mới do Cách mạng Tháng Mười Nga khai sáng. Theo nghĩa chung nhất, thời đại lịch sử được hiểu là toàn bộ thời kỳ phát triển của một hình thái kinh tế-xã hội hoặc những giai đoạn chủ yếu trong hình thái ấy. Tuyên bố tại Hội nghị đại biểu các đảng cộng sản và công nhân các nước XHCN tháng 11-1957 tại Moscow (Liên Xô) đã khẳng định: “Nội dung cơ bản của thời đại chúng ta là sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga”. Thực tế cho thấy, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi và nhà nước XHCN đầu tiên ra đời năm 1917 đã đánh dấu chấm hết thời đại độc tôn của chủ nghĩa tư bản, mở ra thời đại mới, thời đại của sự quá độ lớn lao nhất trong lịch sử loài người, tiến tới một xã hội hiện thực không còn người bóc lột người, không còn nô dịch giữa người và người. Chế độ XHCN non trẻ đã vượt qua hàng loạt thử thách khắc nghiệt nhất của lịch sử, hiện diện cả ở châu Âu, châu Á, châu Mỹ, phát triển mạnh mẽ với nhiều ưu việt về chính trị, kinh tế, xã hội. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định nhận thức rõ bản chất, nội dung của thời đại cũng như cục diện và tình hình thế giới là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Trong khi khẳng định thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta nhận rõ tình hình phức tạp, quanh co và rất lâu dài của quá trình chuyển biến xã hội nên đã hướng vào đánh giá trực tiếp những động thái, đặc trưng, xu hướng và tính chất trong giai đoạn hiện nay của thời đại. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng năm 1991 đã nêu rõ: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc gay go, phức tạp của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chủ nghĩa xã hội hiện đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”. Tiếp đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với các chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”. Thế giới có nhiều biến động nhưng khuynh hướng phát triển thời đại không thay đổi. Xem xét trên cơ sở lý luận và thực tiễn lịch sử xã hội loài người đều cho thấy, mỗi bước chuyển từ một hình thái kinh tế-xã hội này đến hình thái cao hơn đều diễn biến trong thời gian rất dài, có khi vài trăm năm hoặc vài nghìn năm. Vậy nên việc Đảng ta phân định giai đoạn hiện nay của thời đại “quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới” là tư duy sáng tạo, có tính khoa học xác thực và cần thiết. Theo đó, việc nghiên cứu đặc điểm và xu hướng phát triển của thời đại cũng được thực hiện trong khung khổ giai đoạn hiện nay của thời đại. Khi đã xác định thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng XHCN Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga, thì rõ ràng nội dung của thời đại ngày nay có hai vấn đề chính: Một là, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội; hai là, mở đầu bằng Cách mạng XHCN Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga. Nhận định về nội dung thời đại như vậy là sự khái quát mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc, đầy tính thuyết phục. Tuy nhiên, sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch lợi dụng sự kiện này để công kích, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, bài bác những luận điểm cơ bản nhất về thời đại. Lập luận của luận điệu sai trái là, nếu nói thời đại hiện nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội thì nay chủ nghĩa xã hội sụp đổ rồi, thời đại này đương nhiên là của chủ nghĩa tư bản; rằng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản đã tàn lụi thì dù có trăm năm sau cũng không thể gượng dậy được nữa. Cách nhìn nhận như vậy rõ ràng là thiếu kiến thức lịch sử và thiển cận. Quá trình chuyển biến và thay thế một thời đại này bằng thời đại khác không thể diễn ra nhanh chóng được mà phải qua một chặng đường dài. Quá trình đó là một xu thế tất yếu của xã hội loài người, nhưng diễn ra quanh co, phức tạp, chứa đựng nhiều biến cố, có cả bước tiến mạnh mẽ và cũng có cả những bước thụt lùi. Sự đổ vỡ của XHCN ở Đông Âu và Liên Xô đương nhiên là tổn thất nặng nề đối với phong trào cộng sản. Sự sụp đổ ấy có nhiều nguyên nhân, nhưng nó không thuộc về bản chất của chế độ XHCN, càng không phải vì thế mà làm mất đi nội dung thời đại. Lịch sử đã cho thấy thời đại tư bản chủ nghĩa thay thế thời đại phong kiến đâu phải dễ dàng. Quá trình chuyển biến đó diễn ra hàng mấy trăm năm, trải qua biết bao phức tạp bởi sự chống trả quyết liệt của các thế lực phong kiến. Tình hình hiện nay cũng tương tự như vậy. Thế lực đế quốc không từ một thủ đoạn nào để mưu toan chặn đứng phong trào cộng sản. Điều đó càng thể hiện tính chất phức tạp của thời đại ngày nay. Kẻ thù tư tưởng của chúng ta công khai tuyên bố rằng, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã sụp đổ thì giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga cũng chấm hết. Đây là kết luận vội vã và hồ đồ. Đành rằng thành quả mà Cách mạng Tháng Mười Nga đem lại đã bị đổ vỡ tại ngay quê hương của nó, nhưng đó không phải là sự chấm dứt lý tưởng cao đẹp của Cách mạng Tháng Mười Nga. Vả chăng, lịch sử đã chứng minh, không có một cuộc cách mạng nào, kể cả các cuộc cách mạng vĩ đại nhất, lại đủ khả năng kết thúc ngay công việc xóa bỏ xã hội cũ và xây dựng xong ngay xã hội mới. Quá trình chuyển từ xã hội phong kiến lên xã hội tư bản chủ nghĩa đã phải trải qua hàng trăm năm với nhiều cuộc cách mạng tư sản: Cách mạng Anh năm 1688, các cuộc cách mạng tư sản Pháp vào các năm 1830, 1848, 1871. Sự đột phá của Cách mạng Tháng Mười Nga làm cho chủ nghĩa tư bản bị đổ vỡ một mảng lớn. Thế giới bừng tỉnh, bung ra với sức mạnh mới của sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa xã hội làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống thuộc địa, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Thành quả của Cách mạng Tháng Mười Nga đã tạo cho loài người có khả năng kìm giữ sự lộng hành của chủ nghĩa tư bản, làm thay đổi cả những yếu tố bên trong của chủ nghĩa tư bản. Những thay đổi trong chiến lược kinh tế, chính trị để thích nghi, những thay đổi trong các chính sách phúc lợi xã hội ở các nước tư bản phát triển hiện nay đều bắt nguồn từ kết quả của xã hội đấu tranh của những người lao động và sâu xa hơn là được ảnh hưởng những yếu tố tích cực của Cách mạng Tháng Mười Nga. Từ những phân tích trên đây, chúng ta càng thống nhất với nhận định của Đảng ta rằng, tình hình cụ thể trong từng thời kỳ của thế giới có những biến động nhưng điều đó không làm thay đổi nội dung của thời đại; loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc hơn, nội dung và hình thức biểu hiện có nhiều nét mới. Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội tuy không còn có sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước XHCN như trước nhưng trong giai đoạn mới của thời đại, khi cách mạng khoa học-công nghệ và toàn cầu hóa đời sống thế giới, tất cả các nước đều ở trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, không một nước nào sống biệt lập mà có thể phát triển được. Sự hợp tác kinh tế với các nước bằng nhiều hình thức sinh động trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau dưới bất kỳ hình thức nào, sẽ tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý, phục vụ cho việc phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là một khả năng thực tế mà chúng ta đã và đang cố gắng tận dụng, đưa nước ta hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Như vậy, từ một nước kinh tế kém phát triển, nếu chúng ta biết tranh thủ những thời cơ, thuận lợi và biết vượt qua những thách thức, nguy cơ, chúng ta có thể “phát triển rút ngắn” lên XHCN bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa theo quan điểm của V.I.Lenin-người đã có đóng góp to lớn vào lý luận về sự “phát triển rút ngắn” và Chính sách kinh tế mới (NEP). Nó đã được thực tiễn khảo nghiệm mà ngày nay Đảng ta đang vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta. Xuất phát từ tình hình như thế, chúng ta có thể tin tưởng vững chắc rằng Việt Nam đang trong tư thế vươn tầm, kiên định con đường đã lựa chọn, đã có đủ sức lực và trí tuệ để tiến bước cùng thế giới, tiến cùng thời đại; phấn đấu hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Kiên định nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt công cuộc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại Đây là nguyên tắc bất di bấ

 

t dịch, đồng thời là bài học kinh nghiệm vô cùng quí báu của Đảng ta trong tổ chức, lãnh đạo và xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng. Lịch sự xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội ta đã khẳng định rằng, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định bản chất chính trị, sự trưởng thành, chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng. Các thế lực thù địch biết rõ điều đó, chúng tìm mọi thủ đoạn, cả hợp pháp và không hợp pháp để xuyên tạc, tiến tới loại bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam và sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

Chính vì vậy, công cuộc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại phải kiên định nguyên tắc này. Bởi lẽ, chỉ giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng thì Quân đội nhân dân Việt Nam giữ vững bản chất cách mạng, tính nhân dân, tính dân tộc, thực sự là quân đội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, sẵn sáng chiến đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho.

Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội là nguyên tắc bất di, bất dịch, được thể hiện trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức, trong mọi hoạt động của Quân đội. Là Đảng cầm quyền, Đảng trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chiến lược bảo vệ Tổ quốc, chiến lược quốc phòng, phát triển khoa học nghệ thuật quân sự Việt Nam, đầu tư trang bị hiện đại hóa quân đội, các chính sách đối với quân đội, hậu phương quân đội. các chủ trương, giải pháp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân; xây dựng tiềm lực mọi mặt cho nền quốc phòng toàn dân; tăng cường sự sự quản lý của Nhà nước đối với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân. Đảng xác định rõ đối tượng, đối tác trong điều kiện thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực mở rộng, giao lưu, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Đảng trực tiếp lãnh đạo Nhà nước, các tổ chức trong hệ thống chính phát huy vai trò, tiềm năng, sức mạnh của toàn dân vào xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo đảm cho Quân đội tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với công cuộc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, nắm chắc Quân đội trong mọi tình huống phải chấp hành nghiêm túc, chặt chẽ Nghị quyết số 51- NQ/TW ngày 20/7/2005 của Bộ Chính trị (khóa IX) “Về tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”.

Vấn đề có ý nghĩa trực tiếp đối với việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, là Đảng phải chăm lo xây dựng Đảng bộ quân đội, xây dựng hệ thống tổ chức đảng trong quân đội trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo toàn quân; tăng cường rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội thực sự là “hạt nhân”, là “nòng cốt” trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Namnhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Thực hiện có hiệu quả chiến lược xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì về quân sự, chính có đủ số lượng cần thiết, có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống thực sự tiền phong, gương mẫu, có đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Đội ngũ cán bộphải nắm chắc và hiểu sâu sắcchủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang,nắm vững đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế, chính trị - xã hội, văn hoá; có khả năng vận dụng sáng tạo các quan điểm, chủ trương đó trong thực tiễn xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc.

Đó là những nội dung quan trọng mà công tác đảng, công tác chính trị cần nắm vững và thực hiện tốt nhằm trực tiếp giữ vững, tăng cường sự lãnhđạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với công cuộc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đảng bộ Quân đội luôn trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao; tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên không suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bản chất cách mạng, truyền thống vẻ vang của Quân đội được giữ vững và phát huy; phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” tiếp tục tỏa sáng, là nền tảng chính trị - tinh thần củacông cuộc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo đảm cho toàn quân luôn đoàn kết, thống nhất cao, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

                          T3