Thứ Sáu, 14 tháng 1, 2022

Trung Quốc nói vòng vo khi bị Mỹ điểm huyệt về pháp lý trong yêu sách phi pháp ở Biển Đông

 

Trung Quốc nói vòng vo khi bị Mỹ điểm huyệt về pháp lý trong yêu sách phi pháp ở Biển Đông

Nghiên cứu từ Bộ Ngoại giao Mỹ đánh giá các tuyên bố chủ quyền hàng hải của Trung Quốc đi ngược lại các quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982.

Ngày 12.1, Cục Các vấn đề đại dương, môi trường và khoa học quốc tế thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ đã công bố một tài liệu nghiên cứu với nội dung phản bác "các yêu sách trái pháp luật” của Trung Quốc ở Biển Đông, trong đó bác bỏ các cơ sở địa lý và lịch sử của Bắc Kinh.

Các tác giả chính Kevin Baumert, Amy Stern và Amanda Williams, người đã thực hiện nghiên cứu cho Văn phòng Đại dương và Địa cực thuộc Cục Đại dương và Môi trường Quốc tế và Khoa học tại Bộ Ngoại giao. Tài liệu nghiên cứu dài 47 trang của các tác giả nêu rõ các yêu sách của Trung Quốc tại Biển Đông là không có cơ sở theo luật pháp quốc tế.

Lâu nay, Trung Quốc khẳng định cái mà họ gọi là "quyền lịch sử" đối với mọi hòn đảo trong "đường chín đoạn", tuyên bố quyền tài phán đối với các vùng nước xung quanh hàng trăm địa điểm trên biển, gồm cả những hòn đảo chìm dưới bề mặt nước biển.

Nghiên cứu đánh giá các tuyên bố chủ quyền hàng hải của Trung Quốc đi ngược lại các quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982.

Dù Mỹ không có quan điểm nào về chủ quyền đối với khoảng 250 đảo, đá ngầm, bãi cạn và bờ biển, nhưng họ nhất quyết đòi quyền đi lại vô hại qua các tuyến thương mại nhộn nhịp, đặc biệt là ở những khu vực mà Bắc Kinh đòi quyền kiểm soát trái với luật pháp quốc tế.

Nghiên cứu đề cập đến bốn khu vực trên biển Đông, với hơn 100 địa điểm, trong số đó có cả những nơi Trung Quốc đơn phương tuyên bố chủ quyền nằm cách xa bờ biển của nước này, bị nhấn chìm khi thủy triều lên. Nghiên cứu phân tích: Theo công ước mà Trung Quốc phê chuẩn năm 1996, các đối tượng địa lý như vậy không thể được tuyên bố chủ quyền hợp pháp hoặc tạo ra các vùng biển.

Bắc Kinh không chỉ tuyên bố quyền sở hữu các đối tượng chìm mà còn liên kết các khu vực khác biệt về địa lý với nhau để tạo ra "đường cơ sở thẳng", tạo thành các khối lớn là vùng biển đặc quyền xung quanh các quần đảo trong vùng biển giàu năng lượng. Ngoài ra, Trung Quốc, bằng cách coi mỗi nhóm đảo là một đơn vị, khẳng định các yêu sách đối với nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Nghiên cứu cho rằng Yêu sách này không phù hợp với UNCLOS, vốn chỉ cho phép vẽ đường cơ sở trong những trường hợp giới hạn - một đường bờ biển thụt vào hoặc các đảo ở vùng lân cận bờ biển.

Cuối cùng, nghiên cứu xác định không có cơ sở pháp lý nào để Trung Quốc khẳng định "quyền lịch sử" ở Biển Đông. Bắc Kinh chưa bao giờ đưa ra căn cứ pháp lý cho tuyên bố của mình. Báo cáo cho biết: “Không có điều khoản nào của Công ước có thuật ngữ 'quyền lịch sử', cũng như không có cách hiểu thống nhất về điều gì, cụ thể, thuật ngữ này có nghĩa là gì đối với luật pháp quốc tế.

"Ảnh hưởng tổng thể của các yêu sách hàng hải này là việc CHND Trung Hoa tuyên bố chủ quyền hoặc một số hình thức độc quyền tài phán đối với hầu hết Biển Đông là bất hợp pháp, đi ngược nhiều quy định của luật pháp quốc tế được phản ánh trong Công ước.

Nghiên cứu tái khẳng định sự ủng hộ của Mỹ đối với phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài Thường trực ở The Hague đã bác bỏ yêu sách "đường chín đoạn" của Trung Quốc.

Bộ Ngoại giao Mỹ tuyên bố: "Với việc công bố nghiên cứu mới nhất này, Mỹ một lần nữa kêu gọi CHND Trung Hoa tuân thủ các yêu sách hàng hải của mình với luật pháp quốc tế như được phản ánh trong Công ước Luật Biển, tuân thủ quyết định của Tòa trọng tài trong phán quyết ngày 12.7.2016 và ngừng các hoạt động cưỡng ép và trái pháp luật ở Biển Đông".

Phân tích chi tiết của báo cáo nghiên cứu từ Bộ Ngoại giáo Mỹ đã thu hút phản ứng ngay lập tức từ chính phủ Trung Quốc vào thứ năm. Tuy nhiên, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Uông Văn Bân tỏ ra đuối lý khi không trả lời được các câu hỏi xung quanh tính hợp pháp của yêu sách do Trung Quốc đơn phương đưa ra trên Biển Đông. Ông Uông chỉ biết lặp lại những thứ không được luật pháp quốc tế thừa nhận về cái gọi là quyền lịch sử và bác bỏ phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài Thường trực ở The Hague. Ông Uông không hề đưa ra được cơ sở pháp lý nào mới liên quan đến việc này.

 

Thứ Năm, 13 tháng 1, 2022

Vai trò của giáo dục lý luận chính trị và những vấn đề đặt ra

 Giáo dục lý luận chính trị (LLCT) là một phần quan trọng trong công tác tư tưởng của Đảng, góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào tiền đồ cách mạng. Đảng ta chỉ rõ “công tác tư tưởng lý luận đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng làm cho hệ tư tưởng của Đảng của giai cấp công nhân, lý tưởng XHCN, những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc, những tinh hoa văn hóa thế giới chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội”.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm đến việc học tập lý luận, Người khẳng định: “lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”. Trong Đảng, “về tư tưởng, nhất định phải học tập lý luận Mác - Lênin” và “giáo dục tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng là việc quan trọng nhất, phải kiên quyết chống cái thói xem nhẹ tư tưởng” nói chung và xem nhẹ việc học tập lý luận nói riêng. Với những cán bộ, đảng viên ngại, lười học lý luận chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, đó là những người chỉ bo bo giữ lấy kinh nghiệm lẻ tẻ. Họ không hiểu rằng lý luận rất quan trọng cho sự thực hành cách mạng, trong khi đó thì “có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng như một mắt sáng một mắt mờ”. Đó cũng chính là những người không hiểu, thậm chí cố tình không hiểu vai trò của lý luận chính trị đối với thực tiễn và mối quan hệ chặt chẽ giữa lý luận chính trị và thực tiễn, nên trong công tác, họ không có lý luận dẫn đường. Lối làm việc theo lối kinh nghiệm, đầy cảm tính mà nguyên nhân là do “kém lý luận, hoặc khinh lý luận, hoặc lý luận suông”(5) đã khiến họ gặp phải không ít khó khăn và lúng túng khi xử lý công việc, dẫn đến phạm không ít sai lầm, khuyết điểm. Vì thế, Người nhấn mạnh, Đảng cần phải giáo dục và yêu cầu đảng viên ra sức học tập lý luận... Đảng phải chống cái thói xem nhẹ học tập lý luận. Vì không học lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng; đồng thời, yêu cầu cán bộ, đảng viên phải thường xuyên trau dồi, nâng cao trình độ lý luận; thực hiện tốt nguyên tắc gắn lý luận với thực tiễn. Phải chống giáo điều cũng như bệnh lười học, ngại học, hình thức trong học tập lý luận chính trị và vận dụng tri thức lý luận vào thực tiễn.

Thực tiễn công tác giáo dục LLCT những năm qua cho thấy, “Công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT được đổi mới cả về nội dung và phương pháp; tăng cường quản lý, kỷ luật trong giảng dạy, học tập; chất lượng đào tạo, bồi dưỡng được nâng lên”. Trong đó, nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng LLCT liên tục được đổi mới, cập nhật, có sự thống nhất hài hòa giữa lý luận và thực tiễn. Phương pháp giáo dục, bồi dưỡng cũng được thay đổi theo hướng tích cực, hiện đại, ứng dụng những thành tựu của khoa học - công nghệ hiện đại vào hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, quản lý, đánh giá thái độ, kết quả học tập, rèn luyện. Nhờ đó, chất lượng, hiệu quả của công tác giáo dục, bồi dưỡng LLCT từng bước được cải thiện, góp phần đáng kể khắc phục tình trạng ngại học, lười học lý luận chính trị, dạy và học hình thức.

Những vấn đề đặt ra

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, Đại hội XIII của Đảng cũng chỉ ra một số hạn chế trong công tác giáo dục, bồi dưỡng tư tưởng, chính trị nói chung và giáo dục LLCT nói riêng. Đó là “việc giáo dục tư tưởng, chính trị cho cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, một bộ phận đảng viên chưa nắm được chủ trương, đường lối của Đảng. Việc học tập lý luận chính trị tuy có nhiều cố gắng nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu”. Vẫn còn một số cán bộ, đảng viên nhận thức chưa đúng đắn vị trí, vai trò, tầm quan trọng của học tập LLCT, có những biểu hiện ít quan tâm, xem nhẹ, coi thường việc học tập lý LLCT; xác định động cơ, mục đích học tập LLCT không đúng đắn, học không vì mục đích bù đắp những tri thức, kỹ năng còn thiếu, mà học để hoàn thiện bằng cấp, đáp ứng tiêu chuẩn được đề bạt, bổ nhiệm lên những vị trí cao hơn. Một số cán bộ, đảng viên thiếu tự giác, không chủ động tham gia học tập LLCT, mượn nhiều lý do để trốn tránh hoặc xin thôi không tham gia học tập LLCT. Có người vừa học vừa giải quyết các công việc khác hoặc đến điểm danh rồi nghỉ giữa chừng; thái độ học tập thiếu nghiêm túc, gượng ép, học đối phó, thậm chí vi phạm quy chế học tập như nhờ học hộ, thi hộ hoặc bỏ học, bỏ thi…

Việc ngại, lười học tập LLCT là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị rất nguy hiểm, là một trong những nguyên nhân dẫn đến những trường hợp, cán bộ, đảng viên khi tiếp xúc với quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch thì tỏ ra lúng túng, hiểu nửa vời, thiếu lý lẽ để “lý giải” cho chính mình và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, phản động nhằm bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) khẳng định, nhận thức không đúng về vai trò của lý luận và LLCT, lười học LLCT chính là biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị. Chính sự suy thoái này không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo của mỗi cán bộ, đảng viên mà còn khiến họ gặp khó khăn trong công tác vận động quần chúng; thậm chí không giữ được lập trường trước sự cám dỗ của vật chất và sự lôi kéo của các thế lực phản động.

Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của internet, mạng xã hội, lợi dụng những vấn đề nảy sinh từ mặt trái của nền kinh tế trị trường; một số yếu kém trong quản lý, điều hành của Nhà nước; tình trạng ô nhiễm môi trường và các vụ việc phức tạp liên quan đến vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để ra sức chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta với nhiều phương thức, thủ đoạn mới, tinh vi hơn. Chúng tập trung xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin trên các nguyên lý cơ bản như: Lý luận về hình thái kinh tế - xã hội, học thuyết giá trị thặng dư, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta; phủ nhận mục tiêu, lý tưởng, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; hạ thấp và đi đến phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội. Xuyên tạc, phá hoại Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách được thể hiện trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (bổ sung, phát triển năm 2011), trong các văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII). 

Các thế lực thù địch cũng khoét sâu vào những “điểm nóng” về an ninh, về trật tự, an toàn xã hội để kích động chống phá ta, nhất là trên các địa bàn chiến lược quan trọng, những vùng sâu, vùng xa, vùng cao nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, đang có những khó khăn về đời sống vật chất và tinh thần. Lợi dụng những sơ hở, thiếu sót của ta trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội, trong đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí để gây áp lực, bôi nhọ, xuyên tạc, hạ thấp uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta...

Cảnh giác, đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện phản văn hóa ở các đơn vị trong Quân đội hiện nay

 Quân đội với vai trò là trung tâm văn hóa giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ cả về lý tưởng, phẩm chất, năng lực, lối sống, thì không thể để cho sự tồn tại của những biểu hiện phản văn hóa len lỏi trong môi trường hoạt động quân sự. Hiện nay, bên cạnh những tiêu cực bên ngoài xã hội tác động đến tâm lý, tình cảm của bộ đội, thì các thế lực thù địch ra sức lợi dụng không gian mạng, dùng mọi thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm hiểm nhằm thẩm thấu những nội dung văn hóa xấu độc vào trong môi trường quân đội, hòng làm cho cán bộ, chiến sĩ chạy theo ham muốn tầm thường, từ đó nhạt phai lý tưởng, xa rời mục tiêu chiến đấu, v.v. Bởi vậy, nhận diện, nêu cao cảnh giác và đấu tranh ngăn ngừa các biểu hiện phản văn hóa ở các đơn vị hiện nay cần được tiến hành chủ động, tích cực, kiên quyết với những giải pháp cơ bản sau:

Một là, tăng cường giáo dục, bồi đắp giá trị văn hóa làm chuyển biến từ nhận thức tới hành động cho cán bộ, chiến sĩ. Quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam. Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ”, các đơn vị cần tập trung giáo dục lòng tự hào truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, bồi đắp phẩm chất nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa, người quân nhân cách mạng. Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng; coi trọng giáo dục nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống; giáo dục pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội, quy định của đơn vị, nhất là nội dung về xây dựng nền nếp chính quy; gắn giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng với hoạt động huấn luyện, rèn luyện bộ đội. Cùng với giáo dục, bồi đắp các chân giá trị văn hóa, cần đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, đấu tranh phê phán những biểu hiện lệch chuẩn giá trị, những thói hư, tật xấu. Tổ chức tốt phong trào Thi đua Quyết thắng, thực hiện hiệu quả là Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị (khóa XIII) và Chỉ thị số 87-CT/QUTW, ngày 08/7/2016 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về “đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

Hai là, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong các đơn vị Quân đội”. Đây vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp hữu hiệu để ngăn ngừa sự phản văn hóa, thực hiện phương châm kết hợp giữa “xây” và “chống”, lấy “cái đẹp” dẹp “cái xấu”. Thời gian qua, Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa trong các đơn vị Quân đội” đã góp phần quán triệt, hiện thực hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng, phát triển văn hóa, con người mới xã hội chủ nghĩa trong toàn bộ đời sống của cán bộ, chiến sĩ; đồng thời, bồi đắp, củng cố, phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Tuy nhiên, vẫn còn “Một số cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cơ quan, đơn vị và cơ quan chức năng chưa nhận thức sâu sắc, đầy đủ vai trò, ý nghĩa, tính toàn diện và mục tiêu của Cuộc vận động”. Trước yêu cầu mới, để Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa trong các đơn vị Quân đội” đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực, cần tập trung xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần lành mạnh, phong phú; hướng mọi hoạt động của cán bộ, chiến sĩ tới những chuẩn mực giá trị văn hóa trong môi trường văn hóa quân sự. Xây dựng các quan hệ văn hóa văn minh, lành mạnh; trong đó, coi trọng các giá trị đạo đức, làm nền tảng vững chắc cho thực hành đạo đức, thực hành văn hóa chính trị của cán bộ, chiến sĩ, mà cốt lõi nhất là quan hệ cấp trên, cấp dưới, đồng chí đồng đội. Tích cực xây dựng thiết chế, cảnh quan văn hóa hài hòa, thân thiện, hiện đại tạo nên cả diện mạo cũng như chiều sâu của đơn vị chính quy, vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”; tổ chức tốt các hoạt động văn hóa đa dạng, phong phú, đáp ứng với nhu cầu sáng tạo, tiếp nhận, hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của bộ đội.    

Ba là, phát huy vai trò nêu gương về văn hóa của cán bộ, đảng viên. Giá trị văn hóa nhân cách ở mỗi cá nhân được hình thành, phát triển tuân theo quy luật về sự tích hợp và lan tỏa văn hóa. Nêu gương về văn hóa của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp có tác dụng lan tỏa rất lớn trong giáo dục, định hướng giá trị văn hóa nhân cách của cán bộ, chiến sĩ. Nhận rõ vai trò của nêu gương trong lãnh đạo, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Bởi vậy, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần thực hiện nghiêm Quy định số 101-QÐ/TW, ngày 07/6/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19/12/2016 về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định số 08i-QĐ/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII), “Quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Nội dung là toàn diện, song trọng tâm là: đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc là chuẩn mực quan trọng. Trên cơ sở đó, mỗi cán bộ, đảng viên, mà trước hết là cán bộ chủ trì, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải không ngừng học tập và thực hành đạo đức cách mạng, “đi trước”, làm gương cho quần chúng về đạo đức, tri thức, phong cách và tinh thần trách nhiệm cao cả đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tạo sự lan tỏa các giá trị văn hóa nhân cách đến bộ đội.

Bốn là, nâng cao hiệu lực quản lý, điều hành của hệ thống chỉ huy, tăng cường kiểm tra xử lý các biểu hiện vi phạm. Đây là giải pháp nhằm ngăn ngừa những tác động tiêu cực từ bên ngoài, kịp thời phát hiện, xử lý các biểu hiện phản văn hóa nảy sinh trong đơn vị. Nâng cao hiệu lực quản lý, điều hành của hệ thống chỉ huy các cấp cần được tiến hành một cách đồng bộ: từ việc đổi mới, hoàn thiện các quy chế, quy định đến vận hành hệ thống chỉ huy, quản lý hiệu lực, hiệu quả. Trong đó, cần làm tốt từ công tác tuyển sinh đầu vào, tuyển quân hằng năm; kiên quyết không để các đối tượng không đủ tiêu chuẩn “lọt” vào cơ quan, đơn vị. Trên cơ sở tiêu chí chung, các cấp, các ngành cần cụ thể hóa và xây dựng tiêu chí, chuẩn mực đạo đức về văn hóa công vụ riêng cho ngành mình trong xây dựng mối quan hệ gắn kết giữa văn hóa, đạo đức với pháp luật cho mọi quân nhân. Thực hiện tốt các quy chế, quy định trong giáo dục chính trị, tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật và các chế độ quy định của đơn vị, nhất là quy định về tham gia mạng xã hội của quân nhân: không truy cập trang tin xấu độc, không bình luận tán đồng, ủng hộ quan điểm, luận điệu tiêu cực, sai trái trên các phương tiện thông tin truyền thông, mạng xã hội, v.v. Coi trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng trong quản lý bộ đội, duy trì thực hiện tốt các khâu, các bước: nắm, quản lý, dự báo, định hướng và xử lý tình hình tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ. Đồng thời, phát huy tốt vai trò của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, bảo vệ chính trị nội bộ, tổ chiến sĩ bảo vệ ở đơn vị; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hiện tượng tiêu cực, tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội, nhất là vi phạm đạo đức, lối sống làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”.

Văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ ” đã có nền tảng ngay từ khi thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, nét đẹp văn hóa đó được lưu giữ, trao truyền qua nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội hãy góp sức mình để nét đẹp truyền thống đó ngày càng được bồi đắp, trở thành giá trị vĩnh hằng. Lấy cái đẹp dẹp cái xấu, không để “con sâu làm rầu nồi canh”; nêu cao cảnh giác nhận diện và đấu tranh kiên quyết, không khoan nhượng với mọi biểu hiện phản văn hóa, không để văn hóa xấu độc thâm nhập vào đơn vị. Việc này, cần sự vào cuộc của lãnh đạo, chỉ huy các cấp và mọi cán bộ, chiến sĩ để lưu giữ và nhân lên giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, góp phần “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí phấn đấu vươn lên, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Nhận diện những biểu hiện phản văn hóa trong Quân đội

 Để nhận diện được các biểu hiện phản văn hóa, đòi hỏi mỗi người phải nâng cao nhận thức tới tầm lý trí, hòa nhập vào tư duy khoa học đạt tới sự trưởng thành của ý thức. Các biểu hiện phản văn hóa xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống, dưới rất nhiều diện mạo khác nhau, thường thể hiện ở những biểu hiện về lối sống, cách ứng xử về tính cá nhân, ích kỷ, vụ lợi xảy ra trong xã hội. Biểu trưng đầu tiên của các hiện tượng phản văn hóa là nó đứng về phía cái sai, nhân danh cái sai, ủng hộ, cổ vũ cho cái sai, ra sức trấn áp, hù dọa cái đúng. Phản văn hóa thường xuất hiện từ cái sai, cái phản khoa học, chống lại công lý và chân lý.

Ở các đơn vị quân đội, bên cạnh hệ giá trị văn hóa phản ánh sâu sắc các chuẩn giá trị chân, thiện, mỹ cũng tồn tại các biểu hiện phản văn hóa. Đặc biệt, trước những tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường trong xu thế hội nhập và sự phát triển của Cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư, các biểu hiện phản giá trị văn hóa đang hằng ngày, hàng giờ tác động, thẩm lậu vào trong môi trường văn hóa quân sự. Nổi lên là những biểu hiện tiêu cực, như: bệnh thành tích, không trung thực, thiếu khách quan, minh bạch; một bộ phận cán bộ, đảng viên, chiến sĩ có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội, chế độ quy định của đơn vị. Các chuẩn mực văn hóa ứng xử giữa cấp trên và cấp dưới, tình đồng chí, đồng đội có biểu hiện nhạt phai vẫn xảy ra, thiếu đi sự chuẩn mực trong mối quan hệ qua lại giữa quân nhân và tập thể quân nhân; xen vào đó là những quan hệ do lợi ích vật chất chi phối, v.v. Những giá trị phản văn hóa đó tác động không chỉ làm cho một số cán bộ, chiến sĩ, nhạt phai mục tiêu, lý tưởng, xa rời đạo đức cách mạng, mà còn làm suy giảm uy tín, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân.

Nguy hại từ căn bệnh “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” của cán bộ, đảng viên hiện nay

 Mối nguy hại của căn bệnh “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên là rất lớn, nhất là khi nó “chui” vào chính trị để hình thành sự “vô cảm về chính trị”. Bởi lẽ, cán bộ, đảng viên là cầu nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân; là người truyền đạt và tổ chức cho nhân dân thực thi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời, nắm bắt và phản hồi thông tin từ Nhân dân để Đảng, Nhà nước có căn cứ hoạch định, điều chỉnh, bổ sung và đưa ra những quyết sách bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Khi cán bộ, đảng viên thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc, đòi hỏi chính đáng của nhân dân thì vô hình trung đã tự chặt đứt sợi dây gắn bó máu thịt giữa Nhân dân với Đảng và giữa Đảng với Nhân dân.

“Thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” còn là căn nguyên gây mất đoàn kết, mâu thuẫn, nghi kỵ lẫn nhau trong nội bộ cơ quan, đơn vị, địa phương dẫn đến kết quả hoàn thành nhiệm vụ thấp, gây hại cho Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Chính thái độ này dẫn đến thói ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa, kèn cựa địa vị, quan liêu, bao biện, phô trương, lãng phí, tự tư, tự lợi, tham ô, hủ hóa, không quan tâm đến công việc được giao; thậm chí bỏ mặc, né tránh khi được giao nhiệm vụ mới, khó khăn; hoang mang dao động trước những khó khăn, thách thức tác động đến cơ quan, đơn vị, địa phương mình, v.v. Nhưng khi có thành tích lại cố vơ về mình, không tận tâm, tận lực, đồng lòng, đồng sức, thống nhất để tìm ra giải pháp hữu hiệu đưa cơ quan, đơn vị, địa phương mình vượt qua thách thức, khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Điều này gây nguy hại rất lớn đến xây dựng sự đoàn kết, thống nhất trong các tổ chức, nếu để kéo dài, không khắc phục kịp thời sẽ làm chuyển hóa từ bên trong nội bộ từng tổ chức.

“Thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” làm suy giảm năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, hiệu quả điều hành của các cơ quan Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội. Năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước và vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội phụ thuộc trước hết vào phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nếu đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng mà có thái độ “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” - thái độ: “Sao cũng mặc kệ, sao xong chuyện thì thôi. Không phê bình, không tự phê bình”, thì đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước không đi vào quần chúng. Như thế sẽ làm suy giảm năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng và hiệu quả quản lý của Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.

Đây còn là căn bệnh “quái ác” làm giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức”. Vì vậy, nếu cán bộ, đảng viên mà có thái độ “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm”, nghĩa là không giữ được đạo đức cách mạng, mà đã không còn tư cách đạo đức cách mạng thì nhân dân sẽ không tin tưởng vào cán bộ, đảng viên, niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước sẽ suy giảm. Mặt khác, đoàn kết, thương yêu, đùm bọc, chia sẻ ngọt bùi, sẵn sàng giúp đỡ nhau những lúc khó khăn, hoạn nạn với tinh thần “Bầu ơi thương lấy bí cùng”, “thương người như thể thương thân”,... là truyền thống văn hóa rất tốt đẹp của dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Do đó, nếu cán bộ, đảng viên mà có thái độ “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” với nhân dân sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến truyền thống tốt đẹp của dân tộc và Đảng ta.

Có thể nói, “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” là căn bệnh còn tồn tại khá phổ biến trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay và rất nguy hại, giống như sâu mọt đục khoét làm cho “cây mất gốc”, sớm muộn gì cũng sẽ đổ. Nguyên nhân sâu xa của “căn bệnh” này là do cán bộ, đảng viên không quan tâm đến chính trị, lười học lý luận chính trị, nhất là nghị quyết của Đảng, có lối sống thực dụng, xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng, thờ ơ với thời cuộc và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, đơn vị, địa phương, chỉ chăm lo thu vén cá nhân; ngại va chạm, giữ tâm thế trung dung với tư tưởng “dĩ hòa vi quý”; không tích cực tham gia đấu tranh với những vi phạm, biểu hiện xấu, nhận thức, hành vi lệch lạc ở xung quanh để xây dựng đơn vị, địa phương đoàn kết, vững mạnh, phát triển.

Chính vì vậy, chữa trị triệt để “căn bệnh” này là vấn đề cấp bách, đòi hỏi kết hợp đồng bộ nhiều giải pháp, trước hết, cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp phải tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức, tư tưởng, đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là tư tưởng: “lấy dân làm gốc”, tinh thần trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, có trách nhiệm với dân, chia sẻ với dân, giúp đỡ dân,… làm “điểm mấu chốt” để khắc phục bệnh “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thực hiện có hiệu quả Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị trên thực tế; đồng thời, quán triệt, thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Trên cơ sở đó, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên có sự chuyển biến mạnh mẽ về hành động trong thực tiễn quá trình thực hiện nhiệm vụ, chức trách được giao; trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, biết đau với nỗi đau của nhân dân, luôn trăn trở, sáng tạo, tìm ra những giải pháp hữu hiệu để đáp ứng những nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Đặc biệt, trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19 hiện nay, mỗi cán bộ, đảng viên phải thấu triệt, thực hiện tốt phương châm: tất cả vì sức khỏe, an toàn và hạnh phúc của nhân dân; không được để một người dân nào phải chịu đói, khát, không chỗ ở.

Lật tẩy thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc xây dựng đất nước

 Nhận thấy sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định chiều hướng đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch thường xuyên thực hiện thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng với nhiều luận điệu tinh vi, thâm hiểm. Một mặt, họ thẳng thừng đòi bỏ Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013) quy định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội; mặt khác, họ khéo léo che đậy mục tiêu thực sự của mình khi lập luận rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam có công trong sự nghiệp giải phóng dân tộc; nhưng không có khả năng lãnh đạo sự nghiệp xây dựng đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa”(!). Để củng cố lập luận trên, họ cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam giỏi lãnh đạo trong chiến tranh, nhưng không có kỹ năng lãnh đạo phát triển kinh tế, xã hội trong thời bình”(!). Từ đây, họ kết luận: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, do đó cần trao vai trò lãnh đạo công cuộc xây dựng, phát triển đất nước cho các lực lượng chính trị khác”(!), thực chất là đòi trao cho các thế lực chống đối con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Những luận điệu này được họ lặp đi, lặp lại nhiều lần, dưới nhiều hình thức, trong nhiều thời điểm khác nhau, nhất là vào thời gian Đảng ta tiến hành đại hội nhiệm kỳ, hay những lúc tình hình kinh tế - xã hội của đất nước gặp khó khăn, hoặc trong những ngày kỷ niệm lớn của Đảng, của đất nước. Họ hy vọng tác động của những luận điệu đó sẽ góp phần thúc đẩy sự “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, dẫn đến Đảng ta tự tan rã.

Mục tiêu thực sự của các luận điệu trên đều hướng vào xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội; cổ súy cho “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt Nam. Sâu xa hơn, là nhằm xóa bỏ mọi thành quả cách mạng và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta; hướng lái sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước hiện nay theo con đường tư bản chủ nghĩa. Bởi theo họ, nếu Đảng Cộng sản không còn giữ vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội, thì tất yếu đất nước sẽ không phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa. Đây là điều mà các thế lực thù địch, chống đối từng thành công ở Liên Xô trong thập niên cuối của thế kỷ trước và họ hy vọng sẽ thành công ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, những thành tựu của sự nghiệp xây dựng, phát triển nước Việt Nam thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhất là trong suốt 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới là thực tiễn sinh động bác bỏ mọi xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.

Kết hợp xây dựng với chỉnh đốn Đảng: Bài học trong quá trình đổi mới đất nước

 Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhu cầu tự thân của một đảng mác-xít chân chính. Kết hợp đúng đắn giữa xây dựng và chỉnh đốn Đảng vừa là khoa học tổ chức, vừa là nghệ thuật quản trị nội bộ Đảng; có vai trò phòng ngừa, ngăn chặn, sàng lọc, loại bỏ các yếu tố có khả năng gây thoái hóa, biến chất; bảo đảm giữ vững bản chất giai cấp công nhân và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.

Vai trò, sự cần thiết phải kết hợp xây dựng với chỉnh đốn Đảng

Xây dựng và chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ cơ bản, quan trọng, cấp bách, có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sự tồn vong của Đảng và chế độ, sự phát triển bền vững của đất nước. Với ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt đó, kể từ khi ra đời đến nay, trong các văn kiện đại hội Đảng, các hội nghị trung ương và trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng, xây dựng và chỉnh đốn Đảng là một nội dung trung tâm, vấn đề then chốt trong hoạt động và tổ chức của Đảng. Bản thân nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng tiền bối và hiện nay, bên cạnh là lãnh tụ chính trị, đồng thời cũng là nhà lý luận, có nhiều bài viết, tác phẩm về xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Xây dựng và chỉnh đốn Đảng là hai mặt của một quá trình. Xây dựng là việc xác lập, hình thành đường lối, Cương lĩnh chính trị, các quy định, quy chế; làm cho tư tưởng của cán bộ, đảng viên phù hợp, thống nhất cao và tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng; là việc xây dựng tổ chức, cán bộ, phương thức lãnh đạo,... Chỉnh đốn là việc uốn nắn, chấn chỉnh, sắp đặt lại cho đúng theo quy định, Điều lệ Đảng; xử lý, đấu tranh chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực,... Xây dựng và chỉnh đốn Đảng liên quan mật thiết với nhau, gắn liền với nhau, bổ trợ, tác động đến nhau. Trong xây dựng có chỉnh đốn, trong chỉnh đốn có xây dựng.

Trong mỗi giai đoạn, thời kỳ, căn cứ vào đặc điểm, bối cảnh, yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, xây dựng và chỉnh đốn Đảng có nhiệm vụ trọng tâm khác nhau. Nếu như trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, trong các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc, xây dựng, chỉnh đốn Đảng tập trung chủ yếu vào nhiệm vụ hoạch định đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo; thống nhất tư tưởng và hành động, chống ngả nghiêng, dao động trước khó khăn, khi đối mặt nguy cơ sinh tử, mất - còn; củng cố lòng tin, nâng cao ý chí, tăng cường quyết tâm kháng chiến..., thì trong thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước, xây dựng, chỉnh đốn Đảng tập trung vào việc nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ để Đảng đủ sức lãnh đạo công cuộc đổi mới; đấu tranh chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực,... trong bộ máy Đảng và Nhà nước.

Hiện nay, công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế càng sâu rộng lại càng xuất hiện những vấn đề mới, những khó khăn, thách thức đòi hỏi Đảng phải luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn để đủ sức lãnh đạo cách mạng. Tinh thần tự đổi mới, tự chỉnh đốn đã được Đảng ta phát huy cao độ trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, trong cách mạng giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, trở thành truyền thống tốt đẹp của Đảng; nhờ đó, Đảng không ngừng lớn mạnh, vượt qua mọi sóng gió, những bước ngoặt của lịch sử để lãnh đạo cách mạng Việt Nam thành công. Trong thời kỳ hòa bình, xây dựng, phát triển đất nước, truyền thống đó cần tiếp tục được phát huy lên một tầm cao mới, với chất và lượng mới, trở thành ý thức thường trực trong mỗi cán bộ, đảng viên, cấp ủy, tổ chức đảng để tạo thành nguồn sức mạnh to lớn giúp Đảng ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới tiến lên.

Thực tiễn sau khi đất nước thống nhất, bước vào công cuộc đổi mới cũng cho thấy, việc kết hợp giữa xây dựng với chỉnh đốn Đảng còn một khoảng cách. Về lý luận, trong nhiều văn kiện, nghị quyết của Đảng đã đề cập đến xây dựng, đổi mới và chỉnh đốn Đảng. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện lại chưa chú ý đúng mức, chưa chỉ đạo kiên quyết việc chỉnh đốn Đảng, chưa kịp thời uốn nắn, chấn chỉnh, xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm quy định, Điều lệ Đảng. Việc kết hợp giữa xây dựng với chỉnh đốn chưa hài hòa, hiệu quả, chưa có tác dụng hỗ trợ, bổ sung cho nhau. Đây là một trong những nguyên nhân lý giải vì sao từ khi đất nước thống nhất, đặc biệt là bước vào công cuộc đổi mới, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực, quan liêu, “lợi ích nhóm”,... diễn ra ngày càng nghiêm trọng trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên.

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phần tử bất mãn, cơ hội chính trị không từ một thủ đoạn nào nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và đất nước. Chúng tìm đủ mọi cách để mưu toan phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc rằng, Đảng phạm nhiều sai lầm, khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo; đảng cộng sản lãnh đạo mất dân chủ, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là cuộc “đấu đá nội bộ”, “phe này cánh kia”, “nhẹ trên nặng dưới”; xuyên tạc công tác cán bộ, mưu toan hạ bệ hình tượng lãnh tụ Hồ Chí Minh, trắng trợn cho rằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã lỗi thời, không thể làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng,...

Tất cả những vấn đề lý luận và thực tiễn trên cho thấy, việc nhận thức đúng đắn, đầy đủ, sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng nói chung, kết hợp xây dựng với chỉnh đốn Đảng nói riêng là hết sức quan trọng, cấp bách, tạo cơ sở cho việc triển khai thực hiện một cách hài hòa, chặt chẽ, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm giữa “xây” và “chống”, “chống” và “xây” nhằm tiếp tục tạo chuyển biến thực chất trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Nhận thức của Đảng về sự kết hợp giữa xây dựng với chỉnh đốn Đảng trong quá trình đổi mới đất nước

Trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng ta đã dành nhiều công sức cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đã có không ít nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về xây dựng Đảng. Các cương lĩnh, văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc đều có đề cập đến công tác xây dựng Đảng; có đại hội có báo cáo riêng về xây dựng Đảng. Ban Bí thư khóa VII đã chỉ đạo tiến hành tổng kết 20 năm xây dựng Đảng thời kỳ 1975 - 1995. Tính từ Đại hội VI đến Đại hội XIII, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận chuyên đề về xây dựng Đảng(1). Nhiều văn kiện, báo cáo, nghị quyết, kết luận nêu trên đã đề cập đến quan điểm, nhận thức về sự kết hợp giữa xây dựng và chỉnh đốn Đảng, thể hiện ở những điểm chủ yếu sau:

Một là, xây dựng và chỉnh đốn Đảng có mối quan hệ mật thiết; phải kết hợp hài hòa, chặt chẽ, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm.

Đảng ta cho rằng, xây dựng Đảng gồm hai mặt “xây” và “chống”, có quan hệ mật thiết và phải kết hợp chặt chẽ với nhau. Trong chỉnh đốn có đổi mới và trong đổi mới có chỉnh đốn. Do vậy, “phải thực hiện tốt cả yêu cầu xây và yêu cầu chống”(2). Trên cơ sở kết hợp giữa “xây” và “chống”, “lấy xây làm chính, cổ vũ mạnh mẽ các nhân tố tích cực, tạo ra môi trường, nếp sống, lối sống lành mạnh, có văn hóa; lấy cái tích cực, cái tốt đẩy lùi cái tiêu cực, cái xấu”(3).

Nhận thức của Đảng về kết hợp giữa xây dựng với chỉnh đốn Đảng tiếp tục được bổ sung, phát triển, đặc biệt trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Theo đó, kết hợp “chống và xây”, “xây và chống”; trong đó “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách; tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc, trì trệ nhất. Đại hội XIII của Đảng đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng, đã phát triển thành tố “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh” của Đại hội XII thành “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng” trong Tiêu đề Báo cáo chính trị Đại hội XIII; đồng thời nhấn mạnh, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”(4). Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”” nhấn mạnh, “phải đặc biệt coi trọng và đưa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng lên tầm cao mới, gắn với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”; “kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống”, xây là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, chống là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, thường xuyên”.

Hai là, từ kết hợp xây dựng và chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức đến xây dựng, chỉnh đốn Đảng trên các mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức, cán bộ. Mỗi mặt có vị trí, vai trò riêng, bổ trợ, tác động lẫn nhau.

Trong giai đoạn 1986 - 2011, Đảng ta nhận thức, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là quá trình thống nhất, được thực hiện trên ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức. Ba mặt ấy gắn liền với nhau, có mối quan hệ, tác động lẫn nhau, trong đó xây dựng Đảng về chính trị có vai trò quyết định. Xây dựng Đảng về chính trị là việc xác định đường lối, chính sách, Cương lĩnh chính trị, hệ tư tưởng chính trị, bản lĩnh chính trị,... Có đường lối, cương lĩnh đúng mới có nội dung, phương hướng tiến hành công tác tư tưởng, tổ chức. Nếu không đi từ xây dựng Đảng về mặt chính trị hoặc xác định nhiệm vụ chính trị không đúng, thì khó tránh khỏi những hạn chế, khuyết điểm, thậm chí sai lầm. Do vậy, xây dựng, chỉnh đốn Đảng về tư tưởng và tổ chức phải xuất phát từ đường lối, nhiệm vụ chính trị; đồng thời, bảo đảm cho đường lối, nhiệm vụ chính trị được xác định đúng, thấu suốt và thực hiện đầy đủ.

Tại Đại hội XII của Đảng, Đảng ta bổ sung thành tố “đạo đức” cùng với “chính trị, tư tưởng và tổ chức” cấu thành mục tiêu xây dựng Đảng. Đây là một điểm mới, điểm nhấn của Đại hội XII. Xây dựng Đảng về đạo đức có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, được đặt ngang hàng, có mối liên hệ, tác động đến xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức.

Tại Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục bổ sung thành tố “cán bộ”, tạo thành hệ mục tiêu gồm năm thành tố của công tác xây dựng, chính đốn Đảng, gồm: chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Mỗi thành tố có vị trí, vai trò riêng, tác động, bổ trợ và thúc đẩy lẫn nhau. Đại hội XIII nhấn mạnh, trong những năm tới phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(5).

Ba là, Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn.

Đảng ta coi tự đổi mới, tự chỉnh đốn là quy luật tồn tại và phát triển của mình. Bởi vì, một đảng duy nhất cầm quyền như Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có thể giữ vững được vị trí, vai trò lãnh đạo, nhận được sự yêu mến, tin tưởng của nhân dân khi và chỉ khi không ngừng tự đổi mới và chỉnh đốn để có đủ trình độ, trí tuệ, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu, nhiều vấn đề mới được đặt ra càng đòi hỏi Đảng phải vượt lên để đủ sức lãnh đạo sự nghiệp cách mạng; đồng thời, kịp thời uốn nắn, chấn chỉnh, kiểm soát, ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và những hạn chế, yếu kém tồn tại trong Đảng. Do vậy, tự đổi mới và chỉnh đốn phải gắn chặt với nhau, là công việc thường xuyên, liên tục, không ngừng nghỉ.

Bốn là, gắn xây dựng và chỉnh đốn Đảng với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh góp phần quan trọng vào việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.

Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”” nhấn mạnh: Kết hợp chặt chẽ giữa học tập với làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi địa phương, đơn vị và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng,... Thực hiện đồng bộ giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. “Xây” là tổ chức tốt các phong trào thi đua yêu nước; động viên cán bộ, đảng viên, nhân dân thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và nghị quyết đại hội đảng của các địa phương, cơ quan, đơn vị đã đề ra. “Chống” là đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; phê phán, xử lý nghiêm những việc làm sai trái, thiếu trách nhiệm, quan liêu, hách dịch, cửa quyền; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với tinh thần không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không ngừng nghỉ, không bị tác động bởi bất cứ tổ chức, cá nhân có hành vi không lành mạnh nào. Nâng cao khả năng cảnh tỉnh, răn đe đối với những tư tưởng, biểu hiện tiêu cực, đồng thời khuyến khích, cổ vũ cán bộ, đảng viên suy nghĩ, hành động vì lợi ích chung, vì hạnh phúc của nhân dân, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh.

Năm là, xây dựng và chỉnh đốn Đảng muốn kết hợp hiệu quả, tạo sự chuyển biến thực sự phải gắn với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; với lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế.

Xây dựng và chỉnh đốn Đảng phải gắn liền với việc kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, gắn với việc xây dựng và củng cố các tổ chức chính trị - xã hội, hình thành sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị. Trong hệ thống ấy, mỗi tổ chức có vị trí, vai trò riêng, đồng thời các tổ chức đó gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo thành một hệ thống thống nhất. Do vậy, muốn kết hợp hiệu quả xây dựng với chỉnh đốn Đảng phải đặt trong mối quan hệ khăng khít, gắn với xây dựng hệ thống chính trị, với vấn đề phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh - đối ngoại.

Thực hiện các quan điểm, chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, kể từ khi đổi mới đất nước đến nay, đặc biệt là trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt; kết hợp chặt chẽ, hài hòa, hiệu quả giữa xây dựng và chỉnh đốn Đảng, trong đó xây dựng Đảng được tập trung đẩy mạnh, chỉnh đốn Đảng được chú trọng, tăng cường; nhờ đó, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã đạt được kết quả toàn diện, trong đó nổi bật là: Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; sắp xếp tổ chức bộ máy, sáp nhập đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và tinh giản biên chế, đổi mới công tác cán bộ, ngăn chặn tình trạng chạy chức, chạy quyền; tăng cường kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, xử lý nghiêm những tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên vi phạm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Kết quả của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng các nhiệm kỳ qua và nhiệm kỳ Đại hội XII đã góp phần rất quan trọng để đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay, Đảng ta đoàn kết, thống nhất, trong sạch, vững mạnh hơn; niềm tin của nhân dân đối với Đảng được củng cố, tăng cường hơn(6).

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng còn nhiều hạn chế, yếu kém. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ còn diễn biến phức tạp; một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật. Những hạn chế, yếu kém đó do nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, nhưng chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan; trong đó, từ góc độ kết hợp giữa xây dựng và chỉnh đốn Đảng, có thể rút ra một số nhận xét sau:

Thứ nhất, một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc tính chất, tầm quan trọng và kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa xây dựng với chỉnh đốn Đảng.

Trong các nghị quyết, kết luận của Đảng, việc kết hợp giữa xây dựng và chỉnh đốn đã được đề cập; tuy nhiên, khi tổ chức triển khai thực hiện, vấn đề chỉnh đốn chưa được quan tâm đúng mức, chỉ đạo chưa sâu sát, thiếu quyết liệt, còn tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm trong công tác kiểm tra, xử lý vi phạm. Điều này đã được Đảng thẳng thắn thừa nhận trong nhiều văn kiện: “Chưa kết hợp đúng đắn giữa “xây” và “chống”, biểu dương và phê bình”(7); lãnh đạo chưa kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực, trước hết là chống tham nhũng, chống buôn lậu. Chưa đề ra các giải pháp có hiệu lực để khắc phục bất công xã hội. Để kéo dài tình trạng kỷ cương, pháp luật không nghiêm(8); chưa xử lý kỷ luật nghiêm minh và kịp thời những cán bộ, đảng viên có vi phạm(9). Đây là một trong những nguyên nhân khiến việc thực hiện nhiều nghị quyết, kết luận về xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa đạt được yêu cầu đề ra.

Thứ hai, có những thời điểm chưa quán triệt và thực hiện đầy đủ Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn, phải giữ gìn Đảng ta thật sự trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Tuy nhiên, sau khi đất nước thống nhất, trong những năm đầu tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng chưa nhận thức, chú ý đúng mức, chưa đặt đúng tầm quan trọng của việc chỉnh đốn Đảng theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chưa coi trọng đúng mức việc nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội và xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính quyền, ở thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội(10). Vì thế, có ý kiến đề nghị cần làm rõ khuyết điểm của Đảng trong nhiều khóa do không thực hiện Di chúc của Bác về chỉnh đốn Đảng dẫn đến suy thoái(11).

Thứ ba, trong quan hệ giữa phát triển kinh tế với xây dựng Đảng, có những thời điểm, nhiều cấp ủy, tổ chức đảng chú trọng quá mức đến phát triển kinh tế, chưa quan tâm đầy đủ, đúng mức đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trí tuệ, thời gian, công sức ở nhiều nơi còn bị cuốn vào các vấn đề kinh tế - xã hội, xây dựng cơ bản, vào việc chạy dự án, dàn xếp nội bộ(12).

Bài học kinh nghiệm

Một là, xây dựng và chỉnh đốn Đảng phải kiên định, vận dụng sáng tạo nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam; quán triệt, thực hiện nghiêm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình để giữ vững đoàn kết, thống nhất trong Đảng; chống khuynh hướng bảo thủ, cơ hội, cực đoan; phải đặt lợi ích của Đảng, của đất nước, của nhân dân lên trên hết, trước hết.

Hai là, phải kết chặt chẽ, hài hòa, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm giữa xây dựng với chỉnh đốn; trong đó, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. Trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải chọn những vấn đề thực sự quan trọng, cấp bách, trọng tâm, xuyên suốt để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tránh làm một cách dàn trải, tạo bước chuyển biến cụ thể, thực chất.

Ba là, xây dựng và chỉnh đốn Đảng phải có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và nhân dân; phải được tiến hành một cách kiên quyết, kiên trì, có bước đi, phương pháp phù hợp, lộ trình cụ thể, không nóng vội; đặc biệt, cần có quyết tâm chính trị cao, sự chỉ đạo sâu sát, hiệu quả, kịp thời, không có vùng cấm, không có ngoại lệ của đội ngũ lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước.

Bốn là, xây dựng và chỉnh đốn Đảng phải toàn diện, đồng bộ, triệt để, thường xuyên không ngừng nghỉ về các mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức, cán bộ. Các mặt, lĩnh vực đó có liên quan chặt chẽ với nhau. Trên từng lĩnh vực, nội dung đổi mới cũng bao gồm nhiều mặt. Nếu chỉ đổi mới một lĩnh vực hoặc một khâu nào đó, thì việc xây dựng và chỉnh đốn Đảng không thể đạt được yêu cầu như mong muốn; đồng thời, trong mỗi khâu, mỗi mặt phải xác định đúng khâu then chốt để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đạt hiệu quả cao nhất./.

TS. NGUYỄN VĂN CHUNG

Tạp chí Cộng sản

-----------

(1) Có thể kể đến như: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VI, “Về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng, bảo đảm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI của Đảng”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VII, “Về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, “Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””
(2) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t. 49, tr. 348
(3) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 61, tr. 317
(4), (5) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 77, 180
(6) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 220 - 221
(7) Tiểu ban Tổng kết xây dựng Đảng (nhiệm kỳ Đại hội VII): Kỷ yếu tổng kết công tác xây dựng Đảng 1975 - 1995, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t. 1, tr. 100
(8) Xem: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 50, tr. 449
(9) Xem: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 52, tr. 191
(10) Xem: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 51, tr. 211
(11), (12) Xem: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 60, tr. 75, 747

Tapchicongsan.org.vn

Phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng

 Nhận diện những quan điểm sai trái, thù địch để luôn vững tin vào quyết tâm chính trị của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

NHẬN DIỆN NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

Thời gian qua, các thế lực thù địch đã ra sức công kích, xuyên tạc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng của Việt Nam. Chúng cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã quá khôn ngoan khi đưa vấn đề xây dựng Đảng thành vấn đề then chốt nhưng đó chỉ là kiểu “giật gấu vá vai”. Tình trạng này tất yếu sẽ khiến Đảng đổ vỡ và tan rã”(1). Chúng hàm hồ dự đoán, tình hình sẽ ngày càng có nhiều sự phản ứng quyết liệt của nhân dân chống lại Đảng. Những suy luận vô căn cứ nhưng rất nguy hiểm vừa nhằm xuyên tạc, phủ nhận công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; vừa nhằm chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân.

Ngoài ra, trước những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thời gian qua; các thế lực thù địch, cơ hội chính trị coi đây là cái cớ không gì thuyết phục hơn để xuyên tạc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Các thế lực thù địch còn ra sức tuyên truyền, xuyên tạc và hơn nữa là cổ súy hành động “từ bỏ”  Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ suy diễn một cách vô căn cứ, đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản với một số đảng viên, cán bộ tham nhũng, thoái hóa, biến chất và lên tiếng rêu rao “Đảng không còn là Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc”(2).

Họ tìm cách thổi phồng, bịa đặt, xuyên tạc đời tư của một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước…, gieo rắc sự hoài nghi trong các tầng lớp nhân dân về lòng trung thành, tinh thần tận tụy phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên mà lúc sinh thời của Hồ Chí Minh cũng như Đảng ta luôn quan tâm xây dựng, củng cố. Theo họ, đó chỉ là những cách Đảng “che mắt thế gian theo kiểu đánh ai và ai đánh?”, “ta đánh mình, mình đánh ta”, hay “chỉ dám đánh con tôm, con tép thôi”(3) … Đây là những luận điệu hết sức thâm độc hòng gây mất lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Không chỉ xuyên tạc, phủ nhận công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị còn công kích tình trạng tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Từ một số vụ, việc tham nhũng trong thời gian gần đây, nhất là những vụ liên quan đến một số lãnh đạo cấp cao, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị trong và ngoài nước đã lấy hiện tượng làm bản chất, quy chụp, cường điệu hóa, suy diễn một cách vô căn cứ, đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản Việt Nam với một số đảng viên, cán bộ tham nhũng, thoái hóa, biến chất. Họ đã lên tiếng rêu rao rằng “Đảng không còn là Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc”(4). Tinh vi hơn, với chiêu bài “tung hô thần tượng”, các phần tử cơ hội chính trị đã lấy đạo đức, nhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh để chỉ trích Đảng vì đã “dung túng”, “bao che” cho cán bộ, đảng viên dẫn đến tình trạng cán bộ thoái hóa, biến chất, tham nhũng.

Gần đây, khi Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII diễn ra, các thế lực thù địch lại được dịp lên tiếng công kích, xuyên tạc về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng bằng những luận điệu mang tính quy chụp, suy diễn vô căn cứ. Ngày 6/10/2021, trên trang VOA giật tít dòng chữ: “Điều quan tâm duy nhất là sự sống còn của đảng, của chế độ”. Họ xuyên tạc rằng, đang trong thời điểm dịch bệnh phức tạp, người lao động ở các tỉnh phía Nam rơi vào cảnh khó khăn do COVID-19 nhưng Trung ương lại tổ chức “họp trong phòng lạnh” để tung hô, khen ngợi các thành tích “vinh quang thuộc về Đảng”, còn “đau thương trút lên đầu nhân dân”. Thậm chí họ còn vu cáo rằng “Đảng không bận tâm về hoạt động phòng, chống dịch COVID-19 mà chỉ quan tâm làm sao để Đảng “muôn năm trường trị”…

Những luận điệu xuyên tạc trên vẫn là trò “rượu cũ bình mới” nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng. Vẫn là những quan điểm dân túy thường thấy, các thế lực phản động, cơ hội chính trị lấy danh nghĩa đứng về phía nhân dân để chỉ trích Đảng và Nhà nước nhằm kích động một bộ phận nhân dân chống lại những quy định của Nhà nước trong công tác phòng, chống dịch. Mục đích sâu xa của chiêu bài này là bẻ lái dư luận, phủ nhận chế độ của ta, từ đó ca ngợi, cổ xúy, hướng lái theo cái họ gọi là giá trị xã hội phương Tây. Bên cạnh đó, thông qua việc bóp méo tình hình Việt Nam, các thế lực thù địch cũng cố tình xuyên tạc bản chất ưu việt, nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng.

GẮN CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG VỚI XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không tránh khỏi những sai lầm, thiếu sót do giáo điều, chủ quan, duy ý chí. Tuy nhiên, như một thông lệ không thể thiếu, trước mỗi kỳ Đại hội Đảng, khi đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội qua một nhiệm kỳ, với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật”, “tôn trọng hiện thực khách quan”, Đảng ta luôn thẳng thắn nhìn nhận những sai lầm, khuyết điểm. Đảng ta coi những sai lầm, khuyết điểm là yêu cầu, đòi hỏi Đảng phải tiếp tục đổi mới, nhân dân phải tiếp tục đồng lòng để vượt qua những khó khăn, thử thách. Điều này được khẳng định rõ trong Báo cáo tổng kết chặng đường 30 năm đổi mới của Đảng: “Những hạn chế, khuyết điểm đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải nỗ lực phấn đấu không ngừng để khắc phục, tiếp tục đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững theo con đường xã hội chủ nghĩa”(5).

Nhìn nhận lại những chủ trương của Đảng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời gian qua thông qua những nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, có thể nhận thấy tinh thần nghiêm túc trong tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, chỉnh đốn, giữ vững bản chất cách mạng, làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân và của toàn dân tộc. Đây không phải là sự “chắp vá”, “giật gấu vá vai” như những luận điệu mà các thế lực thù địch vẫn rêu rao mà nó thể hiện quyết tâm chính trị rất lớn của Đảng trong việc “tự sửa mình” và đào tạo, huấn luyện cán bộ, đảng viên. Do đó, cần có thái độ khách quan, công tâm khi xem xét những sai lầm, khuyết điểm của Đảng. Cần tránh cả hai xu hướng xem nhẹ, bỏ qua những khiếm khuyết hoặc tuyệt đối hóa, thổi phồng những khuyết điểm bởi cả hai xu hướng này hoặc là dẫn đến thái độ chủ quan, lơ là; hoặc dẫn đến thái độ cực đoan, bất mãn. Sai lầm, khuyết điểm của Đảng, nhất là của một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp trong thời gian qua là một bài học đắt giá cho công tác xây dựng Đảng nhưng không vì thế mà đánh đồng với đóng góp của biết bao thế hệ đảng viên với sự nghiệp cách mạng của đất nước.

Có thể nhận thấy, qua mỗi nhiệm kỳ Đại hội, tinh thần chỉ đạo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là thông qua việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ngày càng quyết liệt hơn, thực chất hơn với phương châm “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”. Tham nhũng được coi là một loại “giặc nội xâm” luôn được xử lý một cách quyết liệt. Quyết tâm chính trị trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng được thể hiện rõ nét từ người đứng đầu Đảng, Nhà nước đến cả hệ thống chính trị. Đúng như Đại hội XIII nhận định: “Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng được lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện quyết liệt, toàn diện, đi vào chiều sâu, với quyết tâm chính trị rất cao, không có vùng cấm, không có ngoại lệ”(6). Do đó, trong thời gian qua, nhiều vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, được dư luận xã hội quan tâm đã được xử lý nghiêm minh, đúng quy định của pháp luật, vừa có tác dụng cảnh báo, răn đe; vừa siết chặt kỷ luật, kỷ cương của Đảng; được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ; được dư luận quốc tế đánh giá cao.

Đặc biệt, để tăng cường kỷ cương, kỷ luật Đảng, công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng cũng được chỉ đạo quyết liệt; tạo nên những bước chuyển biến rõ rệt trong việc phát hiện, xử lý tham nhũng. Trong nhiệm kỳ vừa qua, “cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.209 cán bộ, đảng viên có liên quan đến tham nhũng; trong đó có 113 cán bộ diện Trung ương quản lý cả đương chức và đã nghỉ hưu”(7). Điều đó cho thấy quyết tâm rất lớn của Đảng trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng; đồng thời, cũng chứng tỏ năng lực, bản lĩnh của Đảng trong việc phát hiện, xử lý tình trạng tham nhũng của cán bộ, đảng viên, kể cả những người đã và đang giữ chức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo của Đảng, Nhà nước nói riêng và cả hệ thống chính trị nói chung.

Trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, điểm mới của Hội nghị lần này là Đảng ta đã mở rộng phạm vi, không chỉ trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà còn bao gồm cả trong xây dựng hệ thống chính trị. Đây là một yêu cầu khách quan bởi lẽ Đảng Cộng sản Việt Nam tuy giữ vai trò lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội nhưng Đảng không đứng ngoài hệ thống chính trị, không phải là nhân tố độc lập hoàn toàn với hệ thống chính trị. Hơn nữa, “Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay”(8).

Những năm qua, sở dĩ Đảng ta nhấn mạnh hơn đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là vì muốn củng cố, gia tăng thêm sức mạnh cho Đảng; từ đó tiến đến xây dựng cả hệ thống chính trị. Đây là những bước đi thận trọng, chắc chắn, có lộ trình rõ ràng trong từng giai đoạn cụ thể. Thời gian qua, khi công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng được gia tăng đáng kể nên Đảng ta đã gắn công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng với xây dựng hệ thống chính trị. Điều này đã từng được đặt ra ngay từ chủ đề của Đại hội XIII: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”(9) và đến Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII lại được nhấn mạnh thêm. Do đó, không thể cố tình phủ nhận, xuyên tạc nỗ lực lớn, quyết tâm chính trị cao của Đảng trong việc tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị hiện nay. Đó là những luận điệu của những kẻ cố tình “nhắm mắt làm ngơ”, thiếu thiện chí nên cần phải cảnh giác và kiên quyết đấu tranh phản bác.

Thực tiễn cho thấy, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam thời gian qua được tiến hành đồng bộ, quyết liệt từ Trung ương đến cơ sở, không chỉ góp phần củng cố, gia tăng thêm sức mạnh của Đảng mà còn nâng cao uy tín của Đảng với nhân dân nên được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Do đó, một trong những điểm mới quan trọng được Đại hội XIII đưa ra là “Dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng”. Đại hội khẳng định: “Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của các cấp uỷ đảng, hệ thống chính trị về công tác dân vận; có cơ chế phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới”(10). Việc phát huy vai trò của nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng thể hiện quyết tâm rất lớn của Đảng trong việc khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên ở nước ta thời gian qua, góp phần làm cho Đảng ngày càng trọng sạch, vững mạnh. Do đó, không thể cố tình phủ nhận những quyết tâm, nỗ lực của cả hệ thống chính trị và nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

TS. Lê Thị Chiên
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

-----------------

  (1) (2) (3) (4) Cục Tuyên huấn: Phòng, chống âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch (sách chuyên khảo), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2019, tr.32, 45, 101, 45

(5) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H, 2016, tr.68.

(6) (7) (8) Đảng Cộng sản Việt Nam:Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.II, tr.206, 208-209, 91.

(9) (10) Đảng Cộng sản Việt Nam:Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.I, tr.14, 191.

Tuyengiao.vn

Phòng và chống các biểu hiện tiêu cực theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

 Tiêu cực là để chỉ những hiện tượng không lành mạnh, có tác dụng phủ định, cản trở, không tốt đối với quá trình phát triển của xã hội; tiêu cực là trái với tích cực.

Tiêu cực thường được sử dụng dưới dạng: Hiện tượng tiêu cực, không lành mạnh; nảy sinh tiêu cực; đấu tranh chống tiêu cực... Tiêu cực có nguồn gốc sâu xa từ chủ nghĩa cá nhân, là con đẻ của chủ nghĩa cá nhân. Để thiết thực xây dựng và chỉnh đốn Đảng, để Đảng "là đạo đức, là văn minh", xứng đáng với vai trò tiền phong, thì phòng và chống các biểu hiện tiêu cực là một nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa thường xuyên của Đảng cầm quyền.

Những lời cảnh báo của Bác Hồ

 Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập không lâu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những biểu hiện tiêu cực của đội ngũ cán bộ, đảng viên tại các cơ quan công quyền, như: “Óc bè phái. Ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng. Ai không hẩu với mình thì dù có tài cũng dìm họ xuống, họ phải mấy cũng không nghe. Đó là một khuyết điểm rất có hại. Nó làm cho đoàn thể mất cán bộ, kém nhất trí, thường hỏng việc. Đó là một chứng bệnh rất nguy hiểm”; “Óc hẹp hòi-Ở trong Đảng thì không biết cất nhắc những người tốt, sợ người ta hơn mình. Ở ngoài Đảng thì khinh người, cho ai cũng không cách mạng, không khôn khéo bằng mình. Vì thế mà không biết liên lạc hợp tác với những người có đạo đức tài năng ở ngoài Đảng”; "Óc quân phiệt quan liêu. Khi phụ trách ở một vùng nào thì như một ông vua con ở đấy, tha hồ hách dịch, hoạnh họe. Đối với cấp trên thì xem thường, đối với cấp dưới cậy quyền lấn áp"; "Ích kỷ, hủ hóa...".

Đó còn là những biểu hiện thể hiện rõ tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, như: "Bệnh tị nạnh-Cái gì cũng muốn “bình đẳng”... Bệnh này sinh ra vì hiểu lầm hai chữ bình đẳng; “Bệnh kiêu ngạo-Tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình, khen ngợi mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình. Không thèm học hỏi quần chúng, không muốn cho người ta phê bình. Việc gì cũng muốn làm thầy người khác”; “Bệnh hiếu danh-Tự cho mình là anh hùng, là vĩ đại. Có khi vì cái tham vọng đó mà việc không đáng làm cũng làm. Đến khi bị công kích, bị phê bình thì tinh thần lung lay... Chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ, chớ không ham công tác thiết thực”; "Bệnh cận thị-Không trông xa thấy rộng. Những vấn đề to tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chú những việc tỉ mỉ... chỉ trông thấy sự lợi hại nhỏ nhen mà không thấy sự lợi hại to lớn"; "Bệnh "cá nhân"... Không theo nguyên tắc sinh hoạt của Đảng... Không phục tùng mệnh lệnh, không tuân theo kỷ luật. Cứ làm theo ý mình..." Bên cạnh đó, "Bệnh xu nịnh, a dua-Lại có những người trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu. Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái"; “Kéo bè kéo cánh lại là một bệnh rất nguy hiểm nữa. Từ bè phái mà đi đến chia rẽ. Ai hợp với mình thì dù người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách gièm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống. Bệnh này rất tai hại cho Đảng”... Những cán bộ, đảng viên mang trong mình các biểu hiện tiêu cực, các tật bệnh xấu này chính là những người suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống, “hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư. Thậm chí dùng pháp công để báo thù tư, làm cho dân oán đến Chính phủ và Đoàn thể”.

Có thể nói, những biểu hiện tiêu cực, sự suy thoái mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra ở trên đều là "con đẻ" của chủ nghĩa cá nhân; không chỉ phản ánh sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện về mọi mặt của người cán bộ, đảng viên mà còn là "kẻ địch nội xâm", kẻ thù của người cách mạng. Những cán bộ, đảng viên có suy nghĩ và hành động tiêu cực này là những người không chỉ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cao tự đại, coi thường tập thể, độc đoán, chuyên quyền, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật mà còn coi thường công tác dân vận (không lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, ngày càng rời xa quần chúng, làm trái ngược nguyên tắc phải gắn bó mật thiết với nhân dân...).

Tiến hành đồng bộ, kết hợp chặt chẽ trong phòng, chống tham nhũng và tiêu cực

Theo Từ điển tiếng Việt, tham nhũng là "lợi dụng quyền hành để hạch sách nhũng nhiễu dân", cho nên, tham nhũng là sản phẩm của sự tha hóa, lạm dụng, lợi dụng quyền lực để mưu lợi cho cá nhân và người thân. Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, tham nhũng là hành vi của những người có chức vụ, quyền hạn khi họ lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được trao, được đảm nhiệm nhằm mục đích vụ lợi cho cá nhân, người thân, nhóm lợi ích... Đó là các hành vi: Tham ô tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi... và đó cũng chính là các biểu hiện của sự suy thoái.

Vì tham nhũng là một loại hành vi tiêu cực do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện; là một loại biểu hiện cụ thể của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, cho nên phòng và đấu tranh chống tham nhũng luôn là một nhiệm vụ quan trọng, được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm; được đẩy mạnh trong những nhiệm kỳ gần đây.

Đặc biệt, những biểu hiện tiêu cực mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra lúc sinh thời về cơ bản cũng nằm trong số 27 biểu hiện suy thoái mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã nêu; trong đó, tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống chính là biểu hiện rõ nét nhất của sự tiêu cực đang diễn ra trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thuộc các cơ quan công quyền.

Thực tiễn chỉ ra rằng, tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực đều là "kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta... Nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính". Do đó, không phải ngẫu nhiên lần đầu tiên vấn đề phòng, chống tham nhũng lại được ghi rõ tại khoản 2, Điều 8 Hiến pháp năm 2013: "Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải... kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền".

Do đó, phòng và đấu tranh chống tham nhũng, chống các biểu hiện tiêu cực không chỉ cần phải được tiến hành đồng thời, đồng bộ mà còn phải có sự kết hợp, gắn bó chặt chẽ với nhau, để phát huy hiệu quả của từng bộ phận và bảo đảm tính toàn diện của nhiệm vụ quan trọng này. 

Hiện thực hóa Quy định số 32-QĐ/TW của Bộ Chính trị

Để thiết thực đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống; đồng thời, nhằm nâng cao chất lượng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng nói chung, phòng và chống tham nhũng, tiêu cực nói riêng, ngày 16-9-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã ký ban hành Quy định số 32-QĐ/TW của Bộ Chính trị về "Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực"; trong đó, nêu rõ việc gắn công tác phòng, chống tham nhũng đồng bộ với công tác phòng, chống tiêu cực, nhất là chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên. Tiếp đó, ngày 25-10-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quy định số 37-QĐ/TW về "Những điều đảng viên không được làm" thay thế cho Quy định số 47-QĐ/TW ngày 1-11-2011 về "Những điều đảng viên không được làm".

Gắn đấu tranh phòng, chống tham nhũng với phòng, chống những biểu hiện tiêu cực, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên chính là hiểu đúng, hiểu một cách sâu sắc những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”; “các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân” và “vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là “tính Đảng”. Hiểu đúng để hành động đúng trên tinh thần "phải làm liên tục, bền bỉ, không ngừng, không nghỉ, không ngại ngần khó khăn; càng khó, càng phải quyết tâm cao, phải phối hợp tốt hơn nữa", chính là góp phần ngăn chặn từ gốc, phát hiện từ sớm và xử lý ngay từ đầu để ngăn chặn những vi phạm nhỏ, không để chúng tích tụ thành những sai phạm lớn, vụ án lớn; không để những cành cây làm hỏng một thân cây, không để một thân cây bệnh lây lan cả rừng cây như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh.

Vì thế, mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên trong cả hệ thống chính trị đều phải:

Một là, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc phải học tập, quán triệt và thực hiện tốt hơn nữa các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng nói chung, về học tập lý luận chính trị nói riêng trên tinh thần gắn lý luận với thực tiễn. Thông qua quá trình đó, mỗi người tự soi, tự sửa, tự rèn luyện mình theo 3 chuẩn mực và nêu gương về đạo đức cách mạng: “Tự mình phải”, “Đối với người phải”, “làm việc phải” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ trong tác phẩm Đường Kách mệnh, năm 1927. Trong triển khai thực hiện, chú trọng nguyên tắc “trên trước, dưới sau”, "trong trước, ngoài sau"; coi đó là việc làm thường xuyên, liên tục, nền nếp, là nhu cầu tự thân của mỗi cán bộ, đảng viên gắn liền với tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát.

Hai là, trong công cuộc phòng, đấu tranh chống tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" này, cần phải tăng cường vai trò nêu gương trong rèn luyện bản lĩnh chính trị gắn với việc phát huy tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu nói riêng về mọi mặt. Trong đó, chú trọng yêu cầu sự gương mẫu trong học tập nâng cao trình độ, nghiệp vụ, kỹ năng quản lý; trong rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác... trên tinh thần thấm nhuần cảnh báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước... Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên”.

Ba là, cùng với việc các cơ quan chức năng tiếp tục xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, chống tham nhũng hiệu quả; cùng với việc bổ sung, thay thế Quy định số 47-QĐ/TW bằng Quy định số 37-QĐ/TW về "Những điều đảng viên không được làm" và sự phối hợp công tác giữa các cơ quan, ban, ngành chức năng để kịp thời nhận diện rõ hơn, cụ thể hơn các hành vi tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp có liên quan đến tham nhũng của cán bộ, đảng viên (biến quyết tâm chính trị thành hành động thực tiễn trong phòng, chống tham nhũng và mở rộng thêm nội hàm đấu tranh gắn với chống tiêu cực bằng văn bản cụ thể), thì mỗi cấp ủy cũng cần phải chú trọng làm tốt công tác tư tưởng, phát huy dân chủ, xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong từng tổ chức cơ sở đảng để làm hạt nhân cho khối đoàn kết của từng địa phương, cơ quan, đơn vị.

TS VĂN THỊ THANH MAI và TS TRẦN THỊ BÌNH

Qdnd.vn