Chủ Nhật, 16 tháng 1, 2022

Nội dung, giải pháp xây dựng Đảng về công tác tư tưởng


     Sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội trên cơ sở định hướng chính trị tư tưởng là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho đường lối cách mạng của Đảng được thực hiện thắng lợi, đồng thời cũng là mục tiêu hàng đầu, có ý nghĩa sống còn đối với công tác tư tưởng của Đảng nói riêng và công tác xây dựng Đảng nói chung. Cần đổi mới nhận thức về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của công tác tư tưởng, lý luận, thực sự coi công tác tư tưởng, lý luận, báo chí là một lĩnh vực đặc biệt quan trọng. Trên cơ sở đó mà xác định công tác tư tưởng là trách nhiệm của toàn Đảng, Nhà nước, của từng cấp ủy, cơ quan chính quyền, từng cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ chiến lược. Công tác xây dựng Đảng về tư tưởng được triển khai thực hiện thông qua một loạt hoạt động của Đảng và hệ thống chính trị.

     Trước hết, Đảng chăm lo công tác lý luận, coi việc xây dựng, phát triển sáng tạo hệ thống lý luận, giải quyết kịp thời các vấn đề lý luận phát sinh trong thực tiễn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Cùng với việc tiếp tục nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới, Đảng Cộng sản Việt Nam chú trọng công tác tổng kết thực tiễn, rút ra những vấn đề lý luận mới, phát hiện những vấn đề lý luận không còn phù hợp để kịp thời đổi mới.

     Thứ hai, công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, được chăm lo thường xuyên, không ngừng đổi mới về nội dung và phương pháp, cập nhật các vấn đề thời sự. Hoạt động giáo dục chính trị tư tưởng được thông qua nhiều kênh phương tiện, nhiều hình thức, phương thức khác nhau, từ nhà trường, thông tin thời sự, tuyên truyền miệng, sinh hoạt tổ chức đảng, tổ chức đoàn thể nhân dân, đến các phương tiện truyền thông đại chúng, báo chí, phát thanh, truyền hình, mạng Internet, nhằm tạo ra hiệu quả tổng hợp. Đây là cơ sở nền tảng về tri thức để xác lập niềm tin một cách tự giác của cán bộ, nhân dân vào mục tiêu tốt đẹp của chế độ.

     Thứ ba, không ngừng nâng cao dân trí, cải thiện toàn diện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, làm cho mỗi người dân đều có thể được hưởng thụ một cách xứng đáng những thành tựu của cách mạng, của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Đây là một nội dung căn bản trong toàn bộ hoạt động của Đảng, thể hiện rõ nhất đường lối lấy con người làm trung tâm, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng.

     Thứ tư, giáo dục, rèn luyện đạo đức, tác phong, xây dựng lối sống tích cực, vì dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thực hiện nêu gương trước nhân dân theo tinh thần “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, nhất là đối với đội ngũ cán bộ chiến lược, cán bộ lãnh đạo quản lý cao cấp, cán bộ đứng đầu các cơ quan, tổ chức của Đảng và hệ thống chính trị. Làm tốt công tác này sẽ tạo được sức thuyết phục mạnh mẽ của Đảng trong xã hội, thể hiện đúng bản chất của Đảng, lý tưởng cao đẹp mà Đảng phấn đấu, “Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích gì khác”.

     Thứ năm, nghiên cứu, tổng kết và truyền bá rộng rãi hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới. Đồng thời, triển khai đồng bộ cuộc đấu tranh phản bác các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ. Mở rộng phạm vi và tăng cường hiệu quả thông tin đối ngoại.

     Thứ sáu, tăng cường đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất và các các phương tiện kỹ thuật cho công tác tư tưởng theo hướng hiện đại, đáp ứng yêu cầu trong điều kiện hội nhập quốc tế. Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng và chế độ đãi ngộ thỏa đáng cho đội ngũ cán bộ tư tưởng.


Yêu cầu, nhiệm vụ của công tác tư tưởng trong thời gian tới


     Mục đích đặt ra đối với công tác tư tưởng là tạo nên sự thống nhất nhận thức chính trị của cán bộ, đảng viên, sự đồng thuận trong xã hội trên cơ sở nền tảng tư tưởng của chế độ, các đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đó chính là điều kiện căn bản để tập hợp lực lượng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức người sức của trong nước, tận dụng mọi thời cơ và điều kiện thuận lợi từ bên ngoài để thực hiện các mục tiêu chính trị của cách mạng. Đại hội XII của Đảng yêu cầu: “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng phục vụ yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị, phù hợp với từng giai đoạn, tạo sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội; đẩy mạnh tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phù hợp với từng đối tượng theo hướng cụ thể, thiết thực, hiệu quả”.

     Để đạt được mục đích đặt ra, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới, công tác tư tưởng của Đảng trong điều kiện hiện nay phải làm tốt các công việc: Giáo dục lý luận chính trị, xây dựng thế giới quan tích cực, lý tưởng cách mạng cho cán bộ đảng viên; giáo dục, hướng dẫn nhận thức chính trị, tư tưởng trong nhân dân; giáo dục, xây dựng con người Việt Nam hiện đại, xây dựng văn hóa, đạo đức, lối sống theo hệ giá trị dân tộc, nhân văn và hiện đại; xây dựng môi trường xã hội tốt đẹp tạo cơ sở nền móng cho sự phát triển của con người. Huy động và sử dụng hợp lý, có hiệu quả mọi loại hình phương tiện, mọi lực lượng trong xã hội tham gia thực hiện các nhiệm vụ công tác tư tưởng. Đặc biệt quan tâm đến mạng xã hội, các loại hình báo chí, truyền thông hiện đại, đồng thời tận dụng khả năng tích cực của các loại hình, phương thức truyền thông truyền thống. Gắn việc thực hiện các nhiệm vụ công tác tư tưởng với các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm an ninh xã hội và công tác đối ngoại. Trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 3, khóa XII, ngày 7/7/2016, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thêm một lần nữa đã nhấn mạnh nhiệm vụ công tác tư tưởng mà toàn Đảng cần quan tâm: “Chú trọng công tác tư tưởng, tuyên truyền, báo chí, thông tin, tạo sự đồng thuận trong xã hội; kiên quyết chấn chỉnh những lệch lạc, phản bác những luận điệu sai trái”.


ĐỔI MỚI TƯ DUY NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN, TỔNG KẾT THỰC TẾ, GÓP PHẦN TÍCH CỰC VÀO VIỆC HOẠCH ĐỊNH ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG, CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC


     “Không có lý luận cách mệnh thì không có cách mạng vận động”, luận điểm quan trọng của V.I. Lênin về vai trò và tầm quan trọng của công tác lý luận được Chủ tịch Hồ Chí Minh trích dẫn trang trọng ngay trên trang đầu của tác phẩm Đường cách mệnh - cuốn giáo trình cho các lớp đào tạo cán bộ đầu tiên cho tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam từ những năm 1926-1927. Vị trí, tầm quan trọng đặc biệt của công tác lý luận được Đảng Cộng sản Việt Nam quán triệt sâu sắc trong suốt tiến trình cách mạng, là cơ sở giúp Đảng chủ động và không ngừng phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đổi mới nhận thức lý luận chính trị.

     1. Đổi mới nhận thức lý luận của cán bộ đảng, nhất là đội ngũ cán bộ chiến lược

Việc đổi mới nhận thức về công tác lý luận đặt ra trước hết đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là đội ngũ cán bộ chiến lược, những người đứng đầu các cơ quan đảng, nhà nước. Nhận thức lý luận của cán bộ đảng trước hết thể hiện trong việc hiểu đúng vai trò, vị trí, tầm quan trọng và tính chất của công tác lý luận trong xây dựng, phát triển đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Cán bộ của Đảng phải hiểu biết lý luận cách mạng, và lý luận cùng thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau”[4]. Đây là điều kiện quyết định không chỉ để có một môi trường tích cực cho việc phát triển lý luận, mà quan trọng hơn là nhằm hai mục đích lớn. Mục đích thứ nhất, từ nhận thức đúng đắn về lý luận, đội ngũ cán bộ chiến lược của Đảng sẽ ý thức đầy đủ hơn trong việc học tập, nghiên cứu, nâng cao sự hiểu biết có hệ thống về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng những thành tựu lý luận Mác-xít hiện đại. Đến lượt nó, đó chính là cơ sở để củng cố niềm tin, lý tưởng và ý thức chính trị cho cán bộ. Mục đích thứ hai, giúp đội ngũ cán bộ chiến lược quan tâm đúng mức đến công tác tổ chức nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tế, tiếp nhận và vận dụng những thành tựu lý luận mới vào thực tiễn công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước.

     2. Đổi mới nội dung, phương pháp, nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn.

Về nội dung, kết hợp tốt 5 phương hướng nghiên cứu. Phương hướng thứ nhất, tiếp tục đào sâu nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin, khẳng định được những giá trị đúng đắn, những vấn đề phương pháp luận cốt lõi, những vấn đề lịch sử đã vượt qua. Phương hướng thứ hai, mở rộng việc nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc những thành tựu lý luận của nhân loại, những bài học thành công, thất bại của phong trào công nhân, cộng sản, của chủ nghĩa xã hội hiện thực và những thành tựu lý luận khác của nhân loại, theo phương châm tận dụng tốt nhất những giá trị tích cực của nhân loại phục vụ cho lợi ích dân tộc, cho mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Phương hướng thứ ba, tiếp tục nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, làm rõ hơn và truyền bá sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân những giá trị sáng tạo to lớn của Người về vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam. Phương hướng thứ tư, tiếp tục đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu gắn với tổng kết thực tế, đặc biệt là các mô hình hay, những kinh nghiệm tốt trong việc giải quyết các mối quan hệ lớn, cập nhật và làm rõ những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn, phát hiện và phản biện kịp thời những chính sách không còn phù hợp. Thứ năm, nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tế, tiếp tục làm sáng tỏ hơn mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, luận giải và làm rõ những vấn đề thực tiễn xây dựng, phát triển đất nước đang đặt ra, xây dựng cơ sở khoa học và thực tế phục vụ tốt cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.

Để thực hiện tốt 5 phương hướng trên, cần thực sự đổi mới tư duy lý luận, đổi mới phương pháp nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, vận dụng những phương pháp, cách tiếp cận hiện đại. Đặc biệt, “các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới cơ sở” phải “đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc” theo yêu cầu mà Đại hội XII của Đảng đề ra là “khoa học, tập thể, dân chủ, gần dân, trọng dân, vì dân, bám sát thực tiễn, nói đi đôi với làm”[5]. Những phương pháp, phong cách đó là cần thiết đối với hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng nói chung, đồng thời cũng là điều kiện cần thiết cho việc đổi mới nội dung, phương pháp nghiên cứu, phát triển lý luận nói riêng.

     3. Đổi mới tổ chức hệ thống các cơ quan nghiên cứu và xây dựng, sử dụng đội ngũ cán bộ, chuyên gia lý luận.

     Đại hội XII của Đảng đã chỉ rõ yêu cầu: “Đổi mới mô hình tổ chức, phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của cơ quan nghiên cứu lý luận của Đảng; đầu tư thích đáng cho việc xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ lý luận, nhất là những chuyên gia đầu ngành”[6]. Trên thực tế, mô hình tổ chức các cơ quan nghiên cứu lý luận của Đảng đã được hình thành trong quá trình Đổi mới, đến nay chưa có thay đổi, cơ chế vận hành của hệ thống có nhưng chuyển biến nhất định nhưng nhiều vấn đề chưa rõ ràng, nhất là cơ chế vận hành, sự phân định trách nhiệm, các điều kiện cho việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, quan hệ giữa các cơ quan nghiên cứu trong cả nước. Hoạt động nghiên cứu, phát triển lý luận còn tách rời với hoạt động tham mưu về chính sách. Vì thế, việc đổi mới mô hình tổ chức, cơ chế vận hành của các cơ quan nghiên cứu, phát triển lý luận theo tinh thần Đại hội XII của Đảng là cấp bách.

     Việc xây dựng, sử dụng đội ngũ cán bộ, chuyên gia lý luận, từ công tác đào tạo ban đầu, đào tạo, bồi dưỡng chuyên gia, đến chế độ sử dụng, đãi ngộ với cán bộ nghiên cứu lý luận nhất là cán bộ khoa học đầu ngành cần được đổi mới đồng bộ. Cần có chính sách thu hút nhân tài vào các ngành đào tạo, nghiên cứu lý luận chính trị thông qua chính sách đãi ngộ thích đáng và nhiều biện pháp ưu đãi khác. Đối với các chuyên gia đầu ngành, cần có chính sách sử dụng thống nhất, chế độ đãi ngộ thích hợp, khuyến khích đối với các thành tựu nghiên cứu. Cần có chính sách sử dụng, khai thác hợp lý đối với những cán bộ, chuyên gia lý luận đã quá tuổi lao động nhưng còn có sức khỏe và năng lực làm việc tốt.

     4. Đổi mới về cơ chế, chính sách, chế độ trong công tác lý luận

     Cần thiết phải đổi mới chính sách đầu tư tài chính, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và điều kiện làm việc cho công tác nghiên cứu lý luận. Về quản lý tài chính đối với hoạt động nghiên cứu lý luận cần chuyển sang chế độ đặt hàng, quyết toán đầu tư theo kết quả nghiên cứu, kiên quyết cắt bỏ những khâu thủ tục hành chính, giấy tờ phức tạp và không có ý nghĩa thực tế. Các kết quả nghiên cứu phải có địa chỉ sử dụng. Cần có sự chỉ đạo, đánh giá chung, thống nhất trong cả hệ thống để tránh sự chồng chéo, trùng lặp đề tài, gây lãng phí nguồn lực đầu tư.Để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu lý luận cần có chính sách, chế độ đầu tư, đảm bảo các điều kiện hạ tầng kỹ thuật như thông tin, tư liệu, thư viện, không gian làm việc cho các cơ quan lý luận, các nhà khoa học, nhất là các chuyên gia đầu ngành. 


Lãnh đạo xây dựng, tổ chức thực hiện luật pháp, các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện thành công đường lối cách mạng của Đảng


     Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh ban hành năm 1991 và bổ sung, phát triển năm 2011). Cương lĩnh là cơ sở để Đảng lãnh đạo cụ thể hóa đường lối chung, xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách nhằm phát triển các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, giải quyết các vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển. Lãnh đạo hoạch định và tổ chức thực hiện thành công hệ thống chính sách phát triển kinh tế - xã hội là một nội dung quan trọng, đồng thời là thể hiện tập trung nhất, rõ ràng nhất chất lượng, hiệu quả của công tác xây dựng Đảng.

     Đảng lãnh đạo việc cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành những chính sách, quyết định quản lý của Nhà nước. Việc cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng là thực hiện nguyên tắc Đảng lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội. Nó được triển khai theo hai hướng: Xây dựng, hoàn thiện hệ thống luật pháp và xây dựng các chính sách, quyết sách trong phát triển, quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội. Theo hướng thứ nhất, Đảng đoàn Quốc hội là cơ quan có trách nhiệm tiếp thu đường lối, chủ trương của Đảng để dưa vào chương trình, nội dung xây dựng hệ thống luật pháp. Theo hướng thứ hai, Ban Cán sự đảng Chính phủ là cơ quan chịu trách nhiệm trước Đảng trong việc cụ thể hóa đường lối của đảng thành các quyết định quản lý nhà nước, các quyết sách trong xây dựng, phát triển các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Trong điều kiện hiện nay, cơ chế lãnh đạo của Đảng trong việc cụ thế hóa đường lối ngày càng được hoàn thiện, đảm bảo ngày càng chặt chẽ, hợp lý hơn.

     Đảng lãnh đạo tổ chức thực hiện các đường lối của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước. Đây là trách nhiệm của tất cả các tổ chức đảng, từ Trung ương đến các tổ chức cơ sở của Đảng, của toàn bộ hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng. Mỗi tổ chức đảng, mỗi tổ chức, đoàn thể trong hệ thống chính trị căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình để xây dựng, kế hoạch, chương trình hành động để giáo dục, hướng dẫn nhân dân thực hiện luật pháp, tổ chức lực lượng thực hiện các chính sách phát triển, quyết định quản lý.

     Đảng lãnh đạo kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện đường lối của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước. Thực hiện nhiệm vụ này có các cơ quan chức năng của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân. Cùng với đó là lực lượng to lớn của nhân dân. Vai trò của nhân dân trong hoạt động kiểm tra, kiểm soát ngày càng được thể chế hóa chặt chẽ, đảm bảo quyền và trách nhiệm cũng như bảo vệ người dân trước những rủi ro có thể. Nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh, “muốn kiểm soát đúng thì cũng phải có quần chúng giúp mới được”. Nói cách khác, hoạt động kiểm soát, đánh giá để đảm bảo đường lối của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước được thực hiện đúng, hiệu quả thông qua sự kết hợp giữa các cơ quan chức năng với sự đóng góp của nhân dân.

     Có thể nói, sự phối hợp tốt cả ba khâu công tác, bao gồm phát triển sáng tạo hệ thống lý luận trong xây dựng đường lối; xây dựng tổ chức bộ máy Đảng, hệ thống chính trị; xây dựng và tổ chức thực hiện luật pháp, các chính sách phát triển nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là vấn đề trung tâm của công tác xây dựng đảng về chính trị, đảm bảo cho sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.


Lãnh đạo xây dựng hệ thống chính trị, hệ thống thể chế đảm bảo kiên định và thực hiện thành công đường lối cách mạng của Đảng


     Thứ nhất, xây dựng bộ máy tổ chức đảng và hệ thống chính trị. Công tác tổ chức bộ máy hệ thống chính trị trong những năm qua đã có nhiều đổi mới về nhận thức, không ngừng hoàn thiện, đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới, tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân có nhiều hạn chế do điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước đã có những thay đổi to lớn, yêu cầu cách mạng trong giai đoạn sắp tới cũng đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ, phức tạp.

     Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII đã xác định công tác xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy hệ thống chính trị của đất nước trong thời kỳ tới tập trung vào hai mục tiêu chung. Thứ nhất, “Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với thể chế kinh tế thị trương định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và chất lượng hoạt động của mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội; phát huy quyền làm chủ của nhân dân”. Thứ hai, “Tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng, sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; giảm chi thường xuyên và góp phần cải cách chính sách tiền lương.     

     Các nhiệm vụ, giải pháp hoàn thiện tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tập trung vào các vấn đề: Thống nhất nguyên tắc Đảng lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy hệ thống chính trị; nghiên cứu xây dựng và thực hiện mô hình tổng thể phù hợp yêu cầu điều kiện mới; rà soát, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, cơ chế vận hành của tổ chức bộ máy hệ thống chính trị; cải cách hành chính, đổi mới công nghệ trong hoạt động, đổi mới chính sách phân bổ ngân sách chi thường xuyên; làm tốt công tác giáo dục tư tưởng, tạo đồng thuận xã hội trong đổi mới tổ chức bộ máy hệ thống chính trị.

     Thứ hai, xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống thể chế phát triển, trong đó thể chế chính trị là trung tâm. Đó chính là việc đổi mới, hoàn thiện và các điều kiện đảm bảo thi hành trên thực tế hệ thống các quy định pháp lý, các chế độ hoạt động và các chính sách đảm bảo cho hệ thống chính trị và hệ thống kinh tế của đất nước vận hành thông suốt, hiệu lực, hiệu quả theo đúng nguyên tắc, yêu cầu và mục đích đặt ra, phát huy được tính chất ưu việt của chế độ, giảm thiểu tối đa những ảnh hưởng tiêu cực và những phát sinh ngoài tầm kiểm soát. Giải quyết tốt về thể chế phát triển cũng chính là giải quyết mối quan hệ lớn giữa đổi mới chính trị với đổi mới kinh tế.

     Trong thời gian vừa qua, hệ thống thể chế phát triển của đất nước đã có nhiều đổi mới theo hướng ngày càng hoàn thiện, đáp ứng đòi hỏi từ thực tế. Tuy nhiên, không ít vấn đề đang đặt ra, đòi hỏi sự lãnh đạo của Đảng để khắc phục những hạn chế, không ngừng hoàn thiện hệ thống thể chế phát triển, đáp ứng yêu cầu công cuộc xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Đó là việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp, đảm bảo tính chất đồng bộ, hài hòa, thuận lợi cho việc thực thi, đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý đất nước một cách dân chủ, bảo vệ các quyền tự do, dân chủ chính đáng, đồng thời giữ vững kỷ cương, phép nước, ngăn chặn kịp thời, có hiệu quả những vấn đề, sự việc ảnh hưởng tiêu cực đến văn hóa dân tộc, lợi ích quốc gia và đời sống của cộng đồng. Rà soát, hoàn thiện hệ thống chính sách cụ thể đối với các lĩnh vực kinh tế, xã hội, con người, hợp tác quốc tế, đảm bảo tính chất hợp lý, khoa học, nhân văn, tiến bộ, theo kịp sự vận động nhanh chóng của đời sống hiện thực. Đặc biệt, cần xây dựng, hoàn thiện cơ chế vận hành và tạo các điều kiện cần và đủ về thiết chế, nguồn lực và các giải pháp cụ thể để đảm bảo cho việc thực thi đầy đủ, đúng yêu cầu về hiệu lực đối với hệ thống thể chế phát triển của đất nước.

     Thứ ba, xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược cán bộ. “Cán bộ là công việc gốc của Đảng”, vì vậy, xây dựng chiến lược, làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục, sử dụng, quản lý đội ngũ cán bộ Đảng, cán bộ của hệ thống chính trị chính là vấn đề chính trị hàng đầu, sống còn đối với Đảng, đối với chế độ. Nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, hay “cán bộ là gốc của mọi công việc”, vì thế, “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”.

     Theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ bảy khóa XII, mục tiêu đặt ra cho công tác cán bộ của Đảng trong thời gian tới là: “tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, đủ về số lượng, có chất lượng và cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ, đủ sức lãnh đạo đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”.

     Để đạt được mục tiêu ấy, công tác cán bộ tập trung thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức về cán bộ, đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng đạo đức, lối sống; đổi mới cơ chế quản lý, chính sách sử dụng, đãi ngộ; nâng cao chất lượng, năng lực công tác của đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng phát triển đất nước trong thời kỳ tới. Trọng tâm của các giải pháp trên là:  Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ, hiệu quả công tác cán bộ; chuẩn hóa, xiết chặt kỷ cương đi đôi với tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo phục vụ phát triển và có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. (2) Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược và bí thư cấp ủy, người đứng đầu các cấp đi đôi với phân cấp, phân quyền nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo, đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ quyền lực”.


Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng đường lối cách mạng


     Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu nhất quán, kiên định đồng thời cũng là đường lối chung, thống nhất quan trọng nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ những ngày đầu mới thành lập. Trên cơ sở đường lối chung ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo và không ngừng phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với đặc điểm tình hình, bối cảnh lịch sử, xã hội của từng thời kỳ; kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc; tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, học hỏi và vận dụng hợp lý kinh nghiệm quốc tế, để xây dựng đường lối, đề ra những chủ trương, kế sách thích hợp, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.Đường lối đổi mới do Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra là một biểu hiện tiêu biểu cho lập trường kiên định mục tiêu cách mạng và sự sáng tạo của Đảng trong nhận thức và phát triển lý luận. Vượt qua những định kiến, khuôn mẫu trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội đương thời, lần đầu tiên, Đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, sản xuất hàng hóa, mở rộng các điều kiện kinh doanh, thu hút nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài. Đường lối Đổi mới đã mở ra một thời kỳ phát triển mạnh mẽ của đất nước, mang lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, cải thiện cơ bản đời sống nhân dân, góp phần củng cố chế độ, tăng cường tiềm lực bảo vệ Tổ quốc.

      Ngày nay, trong điều kiện mới, khi mà mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu đã tan rã, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ trong lĩnh vực công nghệ thông tin và quá trình toàn cầu hóa cùng những vấn đề của an ninh phi truyền thống đang đặt ra trước nhân loại nhiều khó khăn và thuận lợi đan xen, những thời cơ và thách thức phức tạp, ảnh hưởng mạnh mẽ đến mỗi quốc gia, dân tộc. Các nước với các chế độ chính trị và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Trong điều kiện ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định khẳng định “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”. Đảng xác định mô hình chủ nghĩa xã hội mà nhân dân Việt Nam xây dựng là xã hội có 8 đặc trưng: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước trên thế giới. Mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam là kết tinh kinh nghiệm trong quá trình cách mạng, thể hiện lập trường kiên định con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cụ thể của đất nước. Đây cùng là kết quả của những nhận thức lý luận mới của Đảng trên cơ sở những bài học kinh nghiệm từ những mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực đã có trên thế giới, cũng như từ những đặc điểm của thời đại hiện nay.

     Để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định những phương hướng cơ bản xây dựng, phát triển đất nước dựa trên 4 trụ cột chính sách là: Xây dựng Đảng là then chốt; phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng văn hóa, con người làm nền tảng tinh thần, động lực phát triển kinh tế - xã hội; tăng cường quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên. Đồng thời, Đảng yêu cầu trong quá trình thực hiện đường lối đó phải chú trọng nắm vững và giải quyết tốt một loạt mối quan hệ lớn, trong đó có các mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, giữa tuân theo các quy luật thị trường và đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa, giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ… Đường lối xây dựng, phát triển đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang được triển khai, cụ thể hóa thành các chính sách, các quyết định quản lý, đang được thực thi có hiệu quả, mang lại những kết quả to lớn, toàn diện.


CẦN XỬ LÝ NGHIÊM MINH HÀNH VI TRỐN NGHĨA VỤ QUÂN SỰ




Thực hiện âm mưu, thủ đoạn chống phá Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tiến hành nhiều hành vi xấu độc, trong đó có việc chống phá Luật Nghĩa vụ quân sự. Chúng xuyên tạc  tính đúng đắn, sự cần thiết của Luật, nói xấu môi trường Quân đội, kêu gọi, kích động thanh niên trốn tránh nghĩa vụ quân sự. Trên mạng xã hội thường xuyên xuất hiện những thông tin dưới tiêu đề “trốn nghĩa vụ quân sự như thế nào?” hay“hướng dẫn cách trốn nghĩa vụ quân sự”. Thậm chí chúng còn trắng trợn kêu gọi thanh niên phản đối, tẩy chay thực hiện nghĩa vụ quân sự, đưa ra những khẩu hiệu láo xược, vô lý như “Trốn nghĩa vụ quân sự sẽ sống, thực hiện nghĩa vụ quân sự sẽ chết” hay “Thà đi tù vì trốn nghĩa vụ quân sự, còn hơn đi nghĩa vụ quân sự để mất mạng”.

“Phúc trình toàn cầu 2022” - sự lạc lõng của HRW

 Trong bản “Phúc trình toàn cầu 2022” đưa ra ngày 13/1/2022, tổ chức Theo dõi Nhân quyền - HRW một lần nữa soạn lại điệp khúc chống phá Việt Nam khi cho rằng, năm 2021, “chính quyền Việt Nam trừng phạt một cách có hệ thống các nhà hoạt động dám thách thức tình trạng đàn áp”.

Bản phúc trình viết rằng, Nhà nước Việt Nam “đã tống giam ít nhất là 63 người vì bày tỏ chính kiến hoặc tham gia các nhóm bị coi là chống chính quyền, trong số đó có nhiều người đã bị các bản án rất nặng nề sau các phiên xử bất công”.

Ông Phil Robertson, Phó Giám đốc Ban Á châu của tổ chức HRW vu cáo: “Chính quyền Việt Nam núp bóng đại dịch COVID-19 để tiến hành đàn áp nặng tay đối với các hoạt động ôn hòa khiến đa số các vụ đàn áp không được thế giới biết đến. Dường như chính quyền muốn xóa sổ phong trào bất đồng chính kiến đang lớn mạnh bằng các án tù khắc nghiệt trước khi thế giới quan tâm chú ý đến Việt Nam trở lại”.

“Phúc trình toàn cầu 2022” dài 752 trang, là bản phúc trình lần thứ 31 mà tổ chức HRW tự cho mình quyền đánh giá việc thực thi nhân quyền trên thế giới, với danh sách liệt kê không đầy đủ, khoảng gần 100 quốc gia.

Giám đốc Điều hành của HRW Kenneth Roth cho rằng, trong thời gian gần đây, lần lượt diễn ra ở nhiều quốc gia hiện tượng rất đông người xuống đường bất chấp các nguy cơ bị bắt hay bị bắn đã cho thấy “mong muốn sống trong thể chế dân chủ vẫn còn mạnh mẽ”.

Ông Kenneth Roth vu cáo chính quyền Việt Nam hạn chế nghiêm ngặt các quyền dân sự và chính trị cơ bản, trong đó có các quyền tự do biểu đạt, ngôn luận, thông tin, lập hội và nhóm họp ôn hòa cũng như quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng.

Xuyên tạc ở Việt Nam không có tự do báo chí, cho rằng “Những người công khai phê phán chính quyền hay lãnh đạo Đảng Cộng sản trên mạng xã hội thường xuyên phải đối mặt với nguy cơ bị sách nhiễu, đe dọa, theo dõi gắt gao, cản trở quyền tự do đi lại, bị hành hung thân thể và bắt giữ.

Sau khi bị bắt vì thực hiện các quyền của mình, họ phải đối mặt với nguy cơ bị thẩm vấn thô bạo, bị tạm giam trong thời gian dài mà không được tiếp xúc với luật sư hay gia đình và bị xét xử bởi các tòa án mang động cơ chính trị, đưa ra các án tù càng ngày càng nặng nề”.

Để minh chứng cho những cáo buộc trên, bản phúc trình đưa ra những “dẫn chứng” như: “Vào tháng giêng, ba thành viên của Hội Nhà báo Việt Nam độc lập - Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy và Lê Hữu Minh Tuấn - bị xử có tội và bị kết án từ 11 đến 15 năm tù.

Vào tháng năm, một tòa án xử nhà hoạt động vì quyền lợi đất đai Cấn Thị Thêu và con trai bà, Trịnh Bá Tư, cộng tác viên của Nhà xuất bản Tự do, mỗi người 8 năm tù. Vào tháng bảy, nhà văn Phạm Chí Thành bị xử 5 năm rưỡi tù giam. Tháng mười, một tòa án ở Cần Thơ kết tội và xử án 5 thành viên Báo Sạch - Trương Châu Hữu Danh, Đoàn Kiên Giang, Lê Thế Thắng, Nguyễn Phước Trung Bảo và Nguyễn Thanh Nhã - từ 2 đến 4 năm rưỡi tù giam.

Vào tháng mười hai, các tòa án xử blogger nổi tiếng Phạm Đoan Trang 9 năm tù giam, các nhà hoạt động vì quyền lợi đất đai Trịnh Bá Phương 10 năm tù giam và Nguyễn Thị Tâm 6 năm tù giam, nhà vận động dân chủ Đỗ Nam Trung 10 năm tù giam và ứng cử viên chính trị độc lập Lê Trọng Hùng 5 năm tù giam.

Tất cả những người này đều bị cáo buộc tội tuyên truyền chống Nhà nước theo Điều 117 (hoặc Điều 88) hoặc tội lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước theo Điều 331, Bộ luật Hình sự”.

Điểm qua những nội dung trên của bản phúc trình cũng như phát ngôn của những cá nhân có liên quan cho thấy, tất cả chỉ là “bình mới rượu cũ”, chỉ khác về thời gian và một số cái gọi là “dẫn chứng” được đưa ra, còn lại bản chất chống phá, xuyên tạc thì không có gì thay đổi.

Bao trùm toàn bộ bản phúc trình vẫn là sự cố tình đánh tráo vấn đề dân chủ, nhân quyền bằng cách tập hợp, gom lại một loạt các vụ án hình sự mà cơ quan tiến hành tố tụng ở Việt Nam đã, đang xử lý. Tổ chức này cố tình gán ghép vấn đề báo chí vào các bị can, bị cáo đã bị khởi tố, điều tra, xét xử để lấy cớ vu cáo Việt Nam “bắt giữ nhà báo”, “tống giam người bất đồng chính kiến”, tiếp tục gọi số đối tượng này là “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị”…

Về những vụ án mà bản phúc trình liệt kê nói trên, như đã phân tích trong nhiều bài viết trước đây, những đối tượng như Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Lê Hữu Minh Tuấn thì không thể gọi đó là hành động “bắt giữ nhà báo”, “tống giam nhà báo”, “bịt miệng nhà báo” mà đây là những cá nhân ở thời điểm bị bắt, xử lý không hoạt động tại cơ quan báo chí nào, không có danh nghĩa nào về hoạt động báo chí theo quy định của Luật Báo chí.

Ngược lại, đây là những người xưng là báo chí để lợi dụng, tiến hành các hoạt động tuyên truyền như viết, đăng tải các bài viết, hình ảnh lên internet với nội dung xuyên tạc sự thật nhằm chống phá chính quyền nhân dân. Các hành vi này phạm các tội quy định tại Bộ luật Hình sự và bị cơ quan tiến hành tố tụng xử lý theo luật định, không thể gán ghép vấn đề “tù  nhân chính trị” hay “tù nhân lương tâm” vào các vụ án. 

Thực tế, năm 2021 ghi dấu ấn rất đậm nét về việc đảm bảo quyền con người của Việt Nam, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Điển hình là các nỗ lực của Đảng, Nhà nước trong chính sách phòng, chống COVID-19, nhất là các hoạt động giúp người yếu thế, người bị ảnh hưởng do đại dịch, đảm bảo “không ai bị bỏ lại phía sau”.

Cùng với đó, nhiều thành tựu có ý nghĩa lớn như ban hành Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 để tranh thủ những thành quả của Cách mạng công nghiệp 4.0, đẩy mạnh ứng dụng khoa học-công nghệ, chuyển đổi số, từ đó chuyển đến mô hình phát triển một cách hiệu quả, bền vững, giúp người dân thực hiện tốt hơn các quyền y tế, giáo dục, văn hóa, xã hội, kinh tế và quyền tham gia xây dựng pháp luật, nhà nước pháp quyền.

Một dấu ấn nữa của Việt Nam là bảo đảm quyền con người trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Tại Khóa họp thường kỳ lần thứ 47 diễn ra tháng 7/2021, Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (UNHRC) đã thông qua Nghị quyết về biến đổi khí hậu và quyền con người do Việt Nam chủ trì cùng Bangladesh và Philippines soạn thảo, đề xuất, trong đó chú trọng bảo đảm quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương, đặc biệt là người khuyết tật, người cao tuổi.

Cũng trong năm 2021, Việt Nam đã lần đầu tiên xây dựng Báo cáo giữa kỳ tự nguyện thực hiện các khuyến nghị theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III để gửi lên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, qua đó thể hiện trách nhiệm, sự minh bạch và nghiêm túc của Việt Nam đối với UPR nói riêng và việc thực hiện các cam kết quốc tế về bảo đảm quyền con người nói chung.

“Việt Nam đã nỗ lực, quyết tâm rất cao trong việc bảo vệ quyền con người và thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc” - bà Tatiana Valovaya, Tổng Giám đốc Văn phòng Liên hợp quốc tại Geneva (Thụy Sĩ) nhấn mạnh. Những thành tựu toàn diện trong phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế đã góp phần tạo nguồn lực cho việc bảo đảm thụ hưởng các quyền con người của người dân, thúc đẩy nâng cao chất lượng tăng trưởng với những cam kết về lao động và phát triển bền vững.

Theo dõi quá trình hình thành và phát triển của HRW thấy rằng, HRW chính là một trong những công cụ đắc lực trong chiến lược “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch sử dụng nhằm xóa bỏ chế độ XHCN. Lịch sử hình thành, hoạt động của HRW cho thấy, tổ chức này được lập ra để hoạt động chống phá các nước XHCN, trong đó có Việt Nam dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền.

Điều này lý giải tại sao HRW lại thường xuyên có những hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam mà các bản phúc trình như trên là ví dụ. Dân chủ, nhân quyền vẫn được xem là một mũi nhọn trong chiến lược này và HRW coi đây là “ngòi nổ” để tìm cách lu loa, vu cáo dưới các dạng như báo cáo, phúc trình, thư ngỏ, thỉnh nguyện thư…

Do đó, khi kết thúc năm cũ, mở đầu năm mới, HRW lại ra phúc trình để “đánh giá tình hình nhân quyền” năm cũ với các nội dung sai lệch. Ý đồ của HRW là sự giả dối nói mãi sẽ khiến người ta tưởng là thật, từ đó tạo dư luận xấu về Việt Nam, lấy cớ gây sức ép, can thiệp. Tuy nhiên, việc Việt Nam ngày càng khẳng định uy tín, vị thế trên trường quốc tế, trong đó có thành tựu, uy tín về vấn đề nhân quyền khiến những âm mưu, thủ đoạn chống phá của những tổ chức như HRW rơi vào lạc lõng.

Nhiều phương án dạy học sau Tết

Từ tháng 2-2022, nhiều trường ĐH cho sinh viên học trực tiếp tại trường kết hợp với học trực tuyến các học phần lý thuyết. Vì sao trường chưa cho sinh viên học trực tiếp hoàn toàn?
Theo thông báo từ nhiều trường ĐH, từ sau Tết Nguyên đán, các học phần thực hành sẽ học trực tiếp hoàn toàn tại trường. Các học phần lý thuyết vừa học trực tiếp kết hợp trực tuyến. Một số trường quyết định cho sinh viên học trực tiếp hoàn toàn.
Đa dạng hình thức
Tại Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM, sinh viên sẽ học trực tiếp cho tất cả các loại học phần được mở trong học kỳ 2 năm học 2021-2022. Tuy nhiên, các học phần lý thuyết, tích hợp giảng viên có thể chủ động sử dụng tối đa 20 - 30% thời lượng giảng dạy của học phần để dạy trực tuyến. Các học phần thực tập, thí nghiệm, sinh viên học trực tiếp tại trường.
Tương tự, Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM cũng kết hợp giảng dạy trực tiếp và trực tuyến các học phần lý thuyết. Toàn bộ học phần thực hành sinh viên sẽ học tập trung tại trường. Đối với các học phần lý thuyết, có thể kết hợp dạy trực tiếp và trực tuyến hoặc trực tuyến hoàn toàn.
Trường ĐH Công nghiệp thực phẩm cũng sẽ dạy trực tiếp toàn bộ học phần thực hành. Học phần lý thuyết sẽ kết hợp dạy trực tiếp và trực tuyến, trong đó thời lượng dạy trực tuyến chiếm khoảng 30%.
Vừa dạy vừa "hóng" tình hình dịch bệnh
Đối với việc tổ chức dạy song song trực tiếp và trực tuyến, một lãnh đạo Trường ĐH Công nghệ TP.HCM - cho biết chủ trương của trường là dạy học trực tiếp hoàn toàn. 
Tuy nhiên, tình hình dịch COVID-19 ở nhiều địa phương còn khá phức tạp, một số sinh viên có thể mắc COVID-19 hoặc chưa thể đến trường học trực tiếp. Do đó, việc phát trực tiếp lớp học tập trung tại trường trên nền tảng trực tuyến là hình thức hỗ trợ để các bạn có thể học kịp tiến độ. Tuy nhiên, hình thức lớp học song song này chỉ thực hiện trong một khoảng thời gian ngắn.
Trong khi đó, với nhiều trường, việc dạy kết hợp là cách để theo dõi diễn biến dịch bệnh trước khi quyết định phương thức tối ưu. Sau một số tuần dạy kết hợp, tùy tình hình dịch bệnh trường sẽ có quyết định phương thức học cho thời gian tiếp theo. Nếu ổn sẽ dạy trực tiếp toàn bộ và không mong muốn phương án dạy học trực tuyến hoàn toàn như trước đây.

“Khiêm tốn”

 Một trong những bài học đầu tiên, mà ai cũng thuộc lòng ngay từ thuở ấu thơ, đó là cần rèn đức tính khiêm tốn (cùng với thật thà, dũng cảm). Ấy vậy mà trong xã hội, nhiều người dù thành đạt, thậm chí đến tuổi “lên lão” lại chưa hiểu đúng, đủ về hai chữ “khiêm tốn”.

Có hiện tượng hạ thấp ý nghĩa của sự khiêm tốn, cũng như hiểu sai về vấn đề lễ nghĩa, văn hóa, để rồi cho rằng khiêm tốn là không được thể hiện mình, không được đi trước người khác trong công việc. Thậm chí lấy đó làm lý do buộc người khác (thường là cấp dưới, người yếu thế hơn,...) phải nín nhịn, nghe theo, vâng lệnh răm rắp.

Có những người lại dùng vỏ bọc “khiêm tốn” để trốn tránh trách nhiệm, ra vẻ đề cao người khác cốt để bản thân “ngồi mát”. Ngược lại, có những người lại cho rằng khiêm tốn làm mất đi giá trị cá nhân nên phải thể hiện sự “sáng chói” của mình, đầy hãnh tiến, kiêu ngạo.

Cũng thật lạ khi đức tính vô cùng tốt đẹp là khiêm tốn lại bị lạm dụng với ý nghĩa là “hạn chế”, “nhỏ bé”. Chúng ta thường xuyên được nghe những câu đại loại như: thành tích còn khiêm tốn, kết quả còn khiêm tốn,... với ý nghĩa là những gì đạt được còn nhỏ bé, chưa xứng tiềm năng.

Vậy, cần hiểu khiêm tốn sao cho đúng; vì sao khiêm tốn là một đức tính quan trọng hàng đầu, nhất là đối với cán bộ, đảng viên?

Trong Từ điển tiếng Việt, khiêm tốn là “có ý thức và thái độ đúng mức trong việc đánh giá bản thân, không tự mãn, tự kiêu, không tự cho là mình hơn người”; trái nghĩa với nó là kiêu căng, kiêu ngạo. C. Mác cho rằng: Khiêm tốn bao nhiêu cũng chưa đủ, tự kiêu một chút cũng là thừa. Ph. Ăng-ghen cũng từng nói: Hành trang quan trọng nhất của con người là khiêm tốn và giản dị. Chủ tịch Hồ Chí Minh khi được hỏi về khiêm tốn đã trả lời rằng: Khiêm tốn là nền tảng đạo đức của cả dân tộc Việt Nam; đối với bản thân thì bao giờ cũng nhìn ra điều kém cỏi của mình; đối với đồng chí và bạn bè thì ai cũng là thầy học của mình, tìm cho được điều mình phải học tập; đối với kẻ thù cần biết cái mạnh của địch, cái yếu của ta. Đảng ta khi xây dựng khung tiêu chí đánh giá cán bộ cũng nêu rõ yêu cầu: Có lối sống trung thực, khiêm tốn, chân thành, trong sáng, giản dị.

Khiêm tốn luôn gắn với thật thà, trung thực, với văn hóa, với lối sống nghĩa tình, thủy chung, lễ nghĩa, tôn trọng người khác, nhất là với những người hiền tài và với nhân dân. Khiêm tốn giúp xử thế giữa con người với nhau, giữa đảng viên với nhân dân, giữa lãnh đạo với cấp dưới,... chan hòa tình đồng chí, đồng tình, đồng thuận.

Khiêm tốn cũng luôn gắn với dũng cảm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; tận tụy với công việc, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc; lấy cái chung đặt trên cái riêng nhưng cần nỗ lực bởi từ sự cống hiến của mỗi cá nhân mới đem tới thành công chung của tập thể.

Khiêm tốn là hết lòng, hết sức trong công việc, vì việc công, vì xã hội, vì mục tiêu, lý tưởng nhưng không khoe khoang thành tích, không tự đề cao, tôn vinh bản thân. Khiêm tốn là để tập thể đánh giá, suy tôn mình; để tự những thành công của mình được tỏa sáng theo kiểu “hữu xạ tự nhiên hương”. Nó khác xa với các thói kiêu ngạo, tự mãn lẫn tự ti, né tránh.

Khiêm tốn đó là sự tự đánh giá về bản thân mình, về công việc mình làm một cách công tâm, khoa học, đủ lý lẫn tình, thể hiện sự khiêm nhường. Chẳng hạn như câu nói mà người đứng đầu Đảng ta hiện nay thường nhắc khi đánh giá sự phát triển của đất nước: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Lời nói đó thực sự mang đúng ý nghĩa khiêm tốn, đồng thời cũng khẳng định những kết quả, thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà chúng ta đạt được qua hơn 35 năm đổi mới, khẳng định sự kiêu hãnh của dân tộc ta trên bước đường thành công./.

Ông Thanh mắng cháu

 

Ngày cuối tuần, ông Thanh đang chăm sóc cây cảnh thì người cháu họ đưa cậu con trai đến, nhờ ông xin cho cháu hoãn nghĩa vụ quân sự (NVQS) vì... nó sợ đi bộ đội vất vả!

Ông Thanh đã khẳng định vào quân ngũ không có gì quá gian khổ và phân tích cho cha con người cháu thấy môi trường quân đội chính là trường học lớn, giúp thanh niên trưởng thành; hơn nữa, đã là nghĩa vụ đối với Tổ quốc thì công dân phải tự giác thực hiện; ông là đảng viên, từng là sĩ quan cấp cao trong quân đội thì càng phải gương mẫu, không thể xin cho cháu miễn nhập ngũ.

Bất ngờ, chàng trai vừa trúng tuyển NVQS nói với ông Thanh: "Cháu thấy trên mạng xã hội có người bảo đi nghĩa vụ vất vả lắm, chẳng có tương lai gì và "con ông cháu cha" chả mấy người phải đi NVQS. Thế mà, ông từng làm to trong quân đội lại không giúp cháu"...

Ông Thanh mắng cháu
Công dân lên đường nhập ngũ năm 2021. Ảnh: Qdnd.vn  

Nghe vậy, ông Thanh nhớ ra, cách đây ít ngày, một đồng đội cùng chiến hào năm xưa khá bức xúc khi chia sẻ câu chuyện về những thế lực xấu đang rao giảng trên mạng xã hội luận điệu chống phá công tác tuyển quân. Chúng cho rằng, việc bắt công dân thực hiện NVQS là vi phạm nhân quyền, nhập ngũ là đi làm thuê không công... Nghĩ đến đó, ông Thanh sôi máu trong lòng. Chắc cháu họ của ông đã tin vào những luận điệu của bọn phản động, chống phá này.

Bực mình, ông Thanh mắng cháu một chặp: "Bao thế hệ với cả triệu người đã đi bộ đội, vào chiến trường đánh giặc, cứu nước. Ngay bản thân ông và rất nhiều đồng đội đã để lại một phần máu xương của mình trên chiến trường vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Nếu ai cũng tính toán, sợ gian khổ, chỉ muốn nhàn hạ như cháu thì ai sẽ làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Ông rất buồn vì cháu đã học hết lớp 12 mà vẫn không biết đúng-sai, vẫn tin vào lời xúi giục của những kẻ chống phá. Là một công dân, được phục vụ trong quân đội không chỉ là nghĩa vụ mà còn là niềm tự hào thiêng liêng và cao quý.

Không chỉ nước ta mà rất nhiều nước bắt buộc công dân thực hiện NVQS; nhiều con em của cán bộ, đảng viên đã và đang thực hiện NVQS. Khi nhập ngũ, ngoài được rèn luyện, học tập, chiến sĩ còn được hưởng nhiều chế độ đãi ngộ và quan trọng hơn là khi hoàn thành NVQS sẽ trưởng thành hơn... Bây giờ, cháu tin ông hay tin những luận điệu phản động trên mạng xã hội? Muốn thành người đàng hoàng, cứng cáp hay làm thằng "em chã" ươn lười, có tội với Tổ quốc?".

Nghe ông Thanh mắng bằng những lời rút ra từ ruột gan, đứa cháu trẻ tuổi đã hiểu ra và ấp úng xin lỗi. Rồi vài hôm sau, bố cháu đến báo cáo với ông Thanh rằng cháu đã vui vẻ làm công tác chuẩn bị lên đường tòng quân, không còn tin lời kẻ xấu.

Đẹp gì khi chối bỏ quê hương

 

Ông bà ta xưa có câu “Con không chê cha mẹ khó”. Ấy thế mà, gần đây lại nổi lên nhân vật Tưởng Năng Tiến tự chối bỏ gốc gác của mình.

Trong khi đó, cha mẹ mang nặng đẻ đau, nuôi nấng ông ta khôn lớn; quê hương, đất nước dung dưỡng ông ta thành người.

Đến độ tuổi xế chiều-“gần đất xa trời”, đáng lẽ ra ông Tưởng Năng Tiến phải đủ độ chín chắn, làm gương cho con cháu về tri ân cội nguồn của mình. Nhưng không, ông ta lại muốn mình là “người Mã, người Miên, người Thái hay người Tàu... chớ không phải dân An Nam” để rồi lớn tiếng phê phán Đảng ta “không lo cho người dân, để người dân chết đói giữa đại dịch"... Đây là những lời nói hàm hồ, thiếu khách quan, cố tình bôi nhọ, phủ nhận tâm sức, vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Khoản 2, Điều 4, Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: "...Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình...".

Đẹp gì khi chối bỏ quê hương
Ảnh minh họa / Tuyengiao.vn 

Thực tế đã chứng minh, gần 92 năm qua, Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân, toàn quân ta hoàn thành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đảng cũng lãnh đạo công cuộc đổi mới đạt được nhiều thành tựu nổi bật, vị thế và uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam, của đất nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao.

Không phải ngẫu nhiên mà Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng đề cập nhiều lần cụm từ “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”; trong đó, nhấn mạnh đến yếu tố hạnh phúc của nhân dân. Thời gian qua, dù đại dịch Covid-19 diễn biến hết sức phức tạp, nhưng dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Đảng, Nhà nước, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đoàn kết, đồng lòng, chung sức nỗ lực triển khai đồng bộ các giải pháp, đưa Việt Nam trở thành một trong những điểm sáng trên thế giới vì vừa kiểm soát, khống chế hiệu quả đại dịch Covid-19, vừa duy trì tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội.

Liên tục hai năm gần đây, Việt Nam đã tăng 11 bậc trên bảng xếp hạng chỉ số hạnh phúc của Liên hợp quốc, từ 94/156 quốc gia (năm 2019) lên 83/156 quốc gia (năm 2020).

Mới đây, tại Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc năm 2021 (COP26), Thủ tướng Phạm Minh Chính đã nêu rõ: "Nhân quyền lớn nhất là lo cơm ăn, áo mặc cho 100 triệu dân, không để ai thiếu ăn, thiếu mặc, khi khó khăn không bỏ ai lại phía sau".

Đây là điều hoàn toàn đúng đắn, được người dân trong nước cũng như cộng đồng quốc tế thừa nhận. Vậy mà, một số kẻ phản động, có âm mưu chống phá cách mạng nước ta không chỉ tự chối bỏ gốc gác quê hương của mình mà còn cố tình xuyên tạc, nói xấu Đảng, Nhà nước, nhân dân ta. Chúng ta luôn nêu cao đạo lý “chim có tổ, người có tông”, vì thế những kẻ tự chối bỏ quê hương, bản quán cũng nên tự vấn.

Chiêu trò xuyên tạc về kỳ họp bất thường của Quốc hội

 

Sau 4,5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, dân chủ và trách nhiệm cao, Kỳ họp bất thường lần thứ nhất, Quốc hội (QH) khóa XV đã thành công và bế mạc vào tuần qua.

Thế nhưng một số đối tượng thù địch và những kẻ chống đối lại hậm hực trước kết quả của kỳ họp, đưa ra những chiêu trò xuyên tạc nhằm hạ thấp vai trò của QH, chia rẽ QH với Chính phủ...

Họp bất thường để giải quyết những vấn đề cấp bách

Một trong những sự kiện thu hút sự quan tâm đặc biệt của cử tri trong những ngày đầu năm mới 2022 là Kỳ họp bất thường lần thứ nhất của QH khóa XV.

Phát biểu khai mạc kỳ họp, Chủ tịch QH Vương Đình Huệ cho biết, trên cơ sở yêu cầu cấp thiết của đất nước và công tác chuẩn bị, căn cứ quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức QH và các nghị quyết Kỳ họp thứ 2, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã quyết định triệu tập kỳ họp bất thường lần thứ nhất nhằm kịp thời xem xét, quyết định một số vấn đề lớn, quan trọng, cấp bách về kinh tế-xã hội, tài chính, ngân sách để hỗ trợ kịp thời cho chương trình phòng, chống dịch Covid-19 và chương trình phục hồi, phát triển kinh tế-xã hội.

Trước đó, tại cuộc họp báo về kỳ họp bất thường lần đầu tiên được tổ chức tại QH Việt Nam,  Tổng thư ký QH, Chủ nhiệm Văn phòng QH Bùi Văn Cường khẳng định: Theo quy định của pháp luật, QH có hai kỳ họp là họp thường kỳ và họp bất thường khi cần xem xét những vấn đề cần thiết, cấp bách. Cái tên bất thường ấy cũng gắn với yếu tố cấp bách. Trong đổi mới hoạt động QH, chúng ta phải xem cách thức vận hành và hoạt động của nghị viện các nước cũng thế. Khi cần phải họp để thông qua thì họ cũng đã có những hình thức như vậy.

Tổng thư ký QH cũng nêu quan điểm, QH sẽ có thêm những kỳ họp bất thường để giải quyết những vấn đề cấp bách. Theo đó, khi có những việc cần thiết, cấp bách, cần giải quyết sớm thì QH sẽ có thêm những kỳ họp bất thường bên cạnh hai kỳ họp thường kỳ, với mục tiêu tối thượng là phục vụ nhân dân, phục vụ cho phát triển đất nước, bảo đảm thể chế hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, không bị ách tắc; thể hiện sự chủ động, tích cực của QH trong thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

Thực tế, tại Kỳ họp bất thường lần thứ nhất của QH, nhiều vấn đề cấp bách của đất nước đã được cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân giải quyết.  

Chiêu trò xuyên tạc về kỳ họp bất thường của Quốc hội
Quang cảnh phiên bế mạc kỳ họp bất thường của Quốc hội khóa XV. Ảnh: VPQH  

Chăm chú theo dõi kỳ họp bất thường của QH, TS Trần Du Lịch, chuyên gia kinh tế, đại biểu QH khóa IX, XII và XIII nhận xét: “Đây là kỳ họp với nhiều nội dung hết sức quan trọng, không chỉ phục vụ cho năm 2022 mà cho cả giai đoạn 2021-2025, được cử tri, nhân dân và dư luận xã hội dành sự quan tâm đặc biệt. Kỳ họp diễn ra trong bối cảnh đất nước gặp những khó khăn, thách thức mới, gay gắt hơn do dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường tại nhiều địa phương trên cả nước. Để góp phần khôi phục và phát triển kinh tế-xã hội, khắc phục hệ quả của đại dịch Covid-19, tại kỳ họp, QH đã có những quyết sách kịp thời về tài khóa, tiền tệ để hỗ trợ triển khai chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội, giải quyết những vướng mắc pháp lý cho đầu tư, phát triển. Tôi đánh giá cao việc QH thông qua "một luật sửa 9 luật" để giải quyết những vấn đề căn cơ, bất cập của luật pháp liên quan đến hoạt động kinh tế-xã hội. Đây là sự tháo gỡ căn bản về thể chế.

Trên cơ sở đó, các văn bản pháp quy khác của Chính phủ sẽ điều chỉnh, tạo thuận lợi tốt hơn cho môi trường sản xuất, kinh doanh. Các nội dung cụ thể được sửa đổi, bổ sung lần này liên quan trực tiếp tới hoạt động đầu tư, kinh doanh, quản trị doanh nghiệp, công tác bảo vệ an ninh mạng, thi hành án dân sự, thực hiện chính sách xã hội hóa vào hệ thống truyền tải điện quốc gia, khuyến khích đầu tư sản xuất và sử dụng phương tiện giao thông thân thiện với môi trường... Đáng lưu ý, luật đã tháo gỡ các thủ tục, điểm nghẽn trong hấp thụ nguồn vốn cũng như trong các hoạt động đầu tư, kinh doanh và các hoạt động kinh tế hiện nay”.

Thực tế của kỳ họp bất thường là vậy, cử tri và đồng bào cả nước đều có thể theo dõi các phiên họp qua những phương tiện thông tin đại chúng với rất nhiều kênh truyền hình trực tiếp, trực tuyến. Vậy mà vẫn có một số người lại cố tình xuyên tạc nội dung, bản chất của kỳ họp. Họ rêu rao trên mạng xã hội, phát biểu trên một số phương tiện thông tin đại chúng của nước ngoài rằng: “QH họp bất thường để tạo cơ sở pháp lý cho việc tham nhũng chính sách”, “QH họp bất thường vì lợi ích nhóm”, “QH họp bất thường có bình thường không vào lúc này?”...

Quốc hội họp bất thường không vi hiến

Trên mạng xã hội, có người còn diễn giải rằng: “QH họp bất thường là vi hiến”, “QH họp bất thường là trái luật”... Họ không biết (hoặc cố tình không biết) trong Hiến pháp năm 2013, tại khoản 2 của Điều 83 đã hiến định: “QH họp mỗi năm hai kỳ. Trường hợp Chủ tịch nước, UBTVQH, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu QH yêu cầu thì QH họp bất thường”. Luật Tổ chức QH tại Điều 90 cũng quy định rõ: “QH họp thường lệ mỗi năm hai kỳ. Trường hợp Chủ tịch nước, UBTVQH, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu QH yêu cầu thì QH họp bất thường”.

Như vậy, việc QH họp bất thường đã được quy định trong Hiến pháp và Luật Tổ chức QH. Không phải “QH họp bất thường là vi hiến”, “QH họp bất thường là trái luật” như lý lẽ của một số người.

Cũng có người cho rằng “QH họp bất thường nên không có thời gian chuẩn bị”, “Các đại biểu QH phụ thuộc hoàn toàn vào giải trình của ban soạn thảo khi quyết định bấm nút”... Thực tế không phải như vậy. Vào đúng ngày kết thúc Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XV (13-11-2021), trước những vấn đề cấp bách đặt ra từ thực tiễn, UBTVQH đã đề nghị Chính phủ trình hồ sơ 5 nội dung để có cơ sở xem xét, đề xuất việc tổ chức kỳ họp bất thường của Quốc hội (ban đầu dự kiến vào cuối tháng 12-2021).

Chiều 22-11-2021, UBTVQH cho ý kiến bước đầu về tổ chức kỳ họp này. Ngày 10-12-2021, tại phiên họp của UBTVQH, ông Bùi Văn Cường, Tổng thư ký QH đã báo cáo về 3 phương án tổ chức Kỳ họp bất thường lần thứ nhất của QH và đã được nhiều đại biểu cho ý kiến. Phát biểu tại phiên họp, Chủ tịch QH Vương Đình Huệ đã nhấn mạnh: “Thống nhất chủ trương có một kỳ họp bất thường, song các nội dung cần phải chuẩn bị kỹ lưỡng, tránh trường hợp vừa phê duyệt, sửa đổi song phát sinh bất cập”. Chủ tịch QH yêu cầu tất cả các cơ quan liên quan phải sát sao, công khai, vô tư, khách quan, minh bạch, không được để sơ suất gì trong công tác chuẩn bị cho kỳ họp này.

Chính vì phải chuẩn bị kỹ lưỡng nên kỳ họp mới lùi sang đầu năm 2022.

Tại kỳ họp bất thường, với tinh thần trách nhiệm cao trước đất nước, đồng bào và cử tri, trên cơ sở các tờ trình, báo cáo của Chính phủ, báo cáo thẩm tra của các cơ quan của QH, với gần 1.100 lượt đại biểu phát biểu qua 3 phiên thảo luận tổ và 3 phiên họp toàn thể trực tuyến, các đại biểu QH đã tập trung nghiên cứu, thảo luận sôi nổi, đóng góp rất nhiều ý kiến sâu sắc, tâm huyết, chất lượng, có tính xây dựng. “Các cơ quan của QH, Chính phủ và cơ quan có liên quan đã nỗ lực tối đa, không quản ngày đêm trong việc tổng hợp, tiếp thu, giải trình đầy đủ, nghiêm túc các ý kiến của đại biểu để QH xem xét, biểu quyết thông qua 1 luật và 4 nghị quyết với sự thống nhất rất cao, góp phần vào thành công thực chất của kỳ họp”, Chủ tịch QH Vương Đình Huệ đã khẳng định như vậy trong bài phát biểu bế mạc kỳ họp.

Dấu ấn từ những quyết sách chưa có tiền lệ

QH khóa XV mới có nửa năm hoạt động nhưng đã để lại dấu ấn với những quyết sách chưa từng có tiền lệ để đáp ứng tốt nhất yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của đất nước trong giai đoạn mới. Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Chủ tịch QH Vương Đình Huệ nhiều lần khẳng định, QH sẽ không để xảy ra tình trạng "bắc nước sôi chờ gạo người", không chờ các dự án luật được các cơ quan soạn thảo trình sang xong mới cho ý kiến, mà QH sẽ giữ vai trò chủ động dẫn dắt công tác lập pháp, vào cuộc từ sớm, từ xa, thậm chí "đặt hàng" cho các cơ quan Chính phủ trong việc hoàn thiện thể chế pháp luật.

Trên cơ sở đề xuất của Đảng đoàn QH, lần đầu tiên Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 19-KL/TW về định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ QH khóa XV, đây là cơ sở hết sức quan trọng để QH và các cơ quan chủ động hơn, vào cuộc từ sớm, từ xa, phối hợp chặt chẽ bảo đảm tiến độ, chất lượng công tác xây dựng pháp luật.

Trong kỳ họp đầu tiên, QH khóa XV đã ban hành 29 nghị quyết. Tại kỳ họp thứ 2, QH đã thông qua 2 luật, 12 nghị quyết, cho ý kiến 5 dự án luật và quyết định rất nhiều vấn đề quan trọng trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp.

Tại kỳ họp thứ nhất, QH đã ban hành Nghị quyết số 30/2021/QH15 trao quyền chủ động mạnh mẽ cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ được quyết định và tổ chức thực hiện một số giải pháp cấp bách đặc biệt, đặc thù, đặc cách để ứng phó kịp thời với dịch Covid-19. Trường hợp cần thiết phải ban hành quy định về phòng, chống dịch Covid-19 khác với quy định của luật thì trong thời gian QH không họp, Chính phủ báo cáo UBTVQH xem xét, quyết định theo trình tự, thủ tục rút gọn trước khi thực hiện. Nghị quyết đã thể hiện sự vào cuộc quyết liệt, quyết tâm của QH nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống, được cử tri và dư luận cả nước đồng tình, đánh giá cao.

Để góp phần khôi phục, phát triển kinh tế-xã hội, kỳ họp bất thường lần đầu tiên của QH đã được tổ chức, đưa ra quyết sách kịp thời về tài khóa, tiền tệ để hỗ trợ triển khai chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội; giải quyết những vướng mắc pháp lý cho đầu tư phát triển. Việc tổ chức kỳ họp đã cho thấy sự chủ động, tích cực của QH trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, với mục tiêu tối thượng là phục vụ nhân dân, sự phát triển của đất nước.

Là đại biểu QH nhiều khóa, Tiến sĩ Vũ Tiến Lộc, nguyên Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho rằng, QH khóa XV có rất nhiều đổi mới trong hoạt động. QH không chỉ song hành với Chính phủ mà trong một số hoạt động, QH còn đóng vai trò dẫn dắt, những đề án, dự án luật không chỉ từ cơ quan Chính phủ đề xuất mà các cơ quan của QH, UBTVQH còn đưa ra những đòi hỏi, định hướng, gợi ý, đề nghị đối với Chính phủ. “Hoạt động của QH đã bám sát được những động thái quan trọng nhất, những yêu cầu quan trọng nhất của người dân và doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay. Với việc luôn bám sát yêu cầu của thực tiễn, QH có thể có những kỳ họp bất thường vào bất cứ thời gian nào để đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát sinh, đáp ứng mong mỏi của cử tri cả nước. Đây cũng chính là phong cách làm việc mới của QH...”, Tiến sĩ Vũ Tiến Lộc chia sẻ.

Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng QH nhận xét: “Tôi thấy QH khóa này có vẻ dẫn dắt nhiều hơn. Ví dụ, diễn đàn kinh tế thường niên của QH đã bàn thẳng vào các vấn đề thuộc về chính sách phục hồi kinh tế, trong đó có chính sách tài khóa, tiền tệ. Thảo luận các vấn đề kỹ trị quan trọng như bơm tiền vào như thế nào và làm sao để rút ra mà không gây các tác động tiêu cực về vĩ mô. Rồi phục hồi du lịch ra sao trong hoàn cảnh dịch bệnh còn có thể kéo dài. Khuôn khổ tư duy, tầm nhìn, các ưu tiên được hình thành từ đây và vang lên ở kỳ họp QH...".

Ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học, đông đảo cử tri và thực tế diễn ra là minh chứng, là lời phản bác đanh thép cho những chiêu trò xuyên tạc về Kỳ họp bất thường lần thứ nhất của QH khóa XV.

Xử lý nghiêm các sai phạm liên quan vụ kit xét nghiệm của Công ty Việt Á

Trưởng Ban Nội chính trung ương đề nghị khẩn trương kiểm tra, thanh tra, điều tra xử lý nghiêm các sai phạm liên quan vụ án kit xét nghiệm của Công ty Việt Á và các vụ việc liên quan đến lĩnh vực y tế...

Ngày 12-1, Ban Nội chính trung ương tổ chức hội nghị trực tuyến tổng kết công tác ngành nội chính Đảng năm 2021, triển khai nhiệm vụ năm 2022.

Phát biểu kết luận hội nghị, ông Phan Đình Trạc - ủy viên Bộ Chính trị, bí thư Trung ương Đảng, trưởng Ban Nội chính trung ương - ghi nhận, biểu dương sự nỗ lực, cố gắng, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ năm 2021 của cán bộ, công chức, viên chức toàn ngành nội chính Đảng.

Trưởng Ban Nội chính trung ương đề nghị thời gian tới tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác nghiên cứu, đề xuất những quan điểm, chủ trương, định hướng lớn của Đảng về nội chính, phòng chống tham nhũng, tiêu cực và cải cách tư pháp.

Tập trung tham mưu chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, nhất là về giám định, định giá, để đẩy nhanh tiến độ điều tra, xử lý dứt điểm các vụ án tham nhũng, tiêu cực đã khởi tố, nhất là các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi.

Đặc biệt cần tập trung tham mưu chỉ đạo khẩn trương kiểm tra, thanh tra, điều tra xử lý nghiêm các sai phạm liên quan vụ án kit xét nghiệm của Công ty Việt Á và các vụ việc liên quan đến lĩnh vực y tế đã được đưa vào diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo.

Tiếp tục tham mưu, chỉ đạo xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp. Tham mưu chỉ đạo nâng cao hơn nữa hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng, tạo bước đột phá trong công tác thu hồi tài sản tham nhũng, tiêu cực.

Tham mưu, chỉ đạo tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán các lĩnh vực có nhiều dư luận tham nhũng, tiêu cực như lĩnh vực y tế, phòng, chống dịch COVID-19, quản lý sử dụng đất đai, việc mua bán, chuyển nhượng tài sản công...

Theo báo cáo tại hội nghị, năm 2021 tuy có nhiều khó khăn, thách thức, nhất là diễn biến phức tạp của dịch bệnh COVID-19, nhưng ngành nội chính Đảng vừa tích cực phòng, tránh dịch hiệu quả, thích ứng linh hoạt, an toàn với dịch bệnh, vừa tích cực triển khai thực hiện các nhiệm vụ, đảm bảo hoàn thành theo chương trình, kế hoạch đã đề ra.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, còn một số tồn tại, hạn chế, như công tác tham mưu, đề xuất xây dựng, hoàn thiện thể chế về nội chính, phòng chống tham nhũng, tiêu cực và cải cách tư pháp có mặt chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là thể chế kiểm soát quyền lực để phòng chống tham nhũng, tiêu cực. 

Công tác kiểm tra, giám sát có lúc, có nơi chưa được chú trọng đúng mức.