Thứ Hai, 7 tháng 2, 2022

Những nhiệm vụ, giải pháp về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị cần tập trung thực hiện trong thời gian tới theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

 

Trên cơ sở kế thừa và đánh giá kết quả việc thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp về xây dựng Đảng trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Đại hội XIII của Đảng đề ra 10 nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị để thực hiện; trong đó, có nhiều nội dung được bổ sung, phát triển cho phù hợp với thực tiễn và đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của công tác xây dựng Đảng trong tình hình mới.

Thứ nhất, đẩy mạnh xây dựng Đảng về tổ chức; tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Về hoàn thiện mô hình tổ chức của hệ thống chính trị, kế thừa Đại hội XII, Đại hội XIII bổ sung thêm một số nhiệm vụ, giải pháp mới; trong đó, đặc biệt nhấn mạnh tới việc cần tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức của hệ thống chính trị. Tổng kết các mô hình thí điểm về tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị, khắc phục sự chồng chéo và những bất hợp lý trong tổ chức của Đảng và tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Sơ kết, tổng kết, nhân rộng những mô hình thí điểm có hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và nghiên cứu triển khai thực hiện ở cấp tỉnh theo lộ trình phù hợp với quy hoạch tổng thể các đơn vị hành chính các cấp. Đồng thời, Đại hội XIII cũng nhấn mạnh: “Đẩy mạnh thực hiện tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm”(6).

Theo đó, cần tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đồng bộ với đổi mới kinh tế, đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Hoàn thiện thể chế, bảo đảm đồng bộ, liên thông giữa pháp luật của Nhà nước với quy định của Đảng về tổ chức bộ máy. Đánh giá, hoàn thiện mô hình tổ chức đảng theo ngành, lĩnh vực và những nơi có đặc điểm riêng.

Thứ hai, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, đặc biệt là đối với Nhà nước trong điều kiện mới.

Phương thức lãnh đạo của Đảng có vai trò quan trọng, đặc biệt là trong huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong thực hiện thắng lợi các nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là khâu quan trọng nhất, do vậy, cần tập trung đổi mới theo nguyên tắc: Đảng lãnh đạo Nhà nước, nhưng không bao biện, làm thay Nhà nước. Nhà nước quản lý xã hội, nhưng không xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Đổi mới trên cơ sở tổng kết thực tiễn công tác lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị; đồng thời, kết hợp chặt chẽ việc đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, tạo nên sự đồng bộ, sức mạnh tổng hợp trong hệ thống chính trị nhằm thực hiện có kết quả, đưa nghị quyết của Đảng nhanh chóng đi vào cuộc sống.

Trên tinh thần đó, Đại hội XIII của Đảng đưa ra yêu cầu: “Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng nâng cao năng lực dự báo, tầm nhìn chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương; đổi mới việc xây dựng, ban hành và nâng cao chất lượng các nghị quyết của Đảng; khắc phục tình trạng ban hành nghị quyết chưa sát thực tiễn, thiếu tính khả thi”(7).

Thứ ba, đẩy mạnh thực hành dân chủ trong Đảng, xây dựng văn hóa Đảng là nhân tố quan trọng để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Để xây dựng Đảng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng như mọi công việc khác, “thực hành dân chủ rộng rãi” là phương thuốc để phát huy quyền làm chủ và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong đấu tranh và loại trừ những kẻ thoái hóa, biến chất, quan liêu - những kẻ “miệng nói dân chủ nhưng làm việc theo lối quan chủ”. Muốn xứng đáng với vai trò tiền phong, Đảng phải chú trọng công tác xây dựng Đảng, thường xuyên tự đổi mới và chỉnh đốn; trong đó, mọi hoạt động đều phải tuân thủ Điều lệ Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ phải được thực thi và dân chủ phải được mở rộng.

Chỉ có thực hành dân chủ trong Đảng rộng rãi thì mới có thể tiến hành mở rộng dân chủ trong xã hội. Thấm nhuần, vận dụng tư tưởng của Người, Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh: “Thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội”(8).

Đảng ta đặc biệt chú trọng xây dựng văn hóa Đảng, xem đây là nền tảng, là sức mạnh nội sinh bảo đảm cho việc thực hiện mục tiêu xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng văn hóa Đảng, Đảng ta đã nhiều lần đề cập, coi đây là nhân tố quan trọng, là hạt nhân để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Thứ tư, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp.

Đại hội XIII nhấn các mạnh nhiệm vụ: Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ cán bộ. Nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, sự gương mẫu, tinh thần vì nhân dân phục vụ của cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu các cấp. Coi trọng đánh giá chất lượng, hiệu quả thực tế theo chức trách, nhiệm vụ được giao và đề cao trách nhiệm người đứng đầu. Chú trọng cơ cấu hợp lý, sớm phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số, nhất là ở cơ sở. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo động lực cho cán bộ phấn đấu, toàn tâm, toàn ý với công việc. Xây dựng và thực hiện có hiệu quả Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng nhân tàiChương trình quốc gia về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.

Thứ năm, kết hợp chặt chẽ và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra, kiểm toán nhà nước, giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.

Cần kết hợp chặt chẽ và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra, kiểm toán nhà nước và điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Nâng cao chất lượng cán bộ ủy ban kiểm tra các cấp, để họ xứng đáng là đội ngũ tiên phong trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tăng cường phối hợp giữa giám sát, kiểm tra của Đảng với thanh tra, kiểm toán của Nhà nước và giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội để tăng cường sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát, kiểm tra, tránh chồng chéo, trùng lặp, lãng phí nguồn lực, không hiệu quả. Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.


Thứ sáu, thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị.

Nhận thức sâu sắc về vai trò, vị thế đặc biệt quan trọng của nhân dân nói chung và trong công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị nói riêng, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định và đề ra nhiệm vụ cần tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, cả hệ thống chính trị về công tác dân vận; phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới.

Đảng xác định cần đổi mới và đẩy mạnh công tác vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và trách nhiệm của công dân; đồng thời, chống các biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức, mị dân. Thực hiện nghiêm, có hiệu quả các quy định, quy chế về phát huy dân chủ ở cơ sở; thực hiện tốt công tác tiếp dân, đối thoại với nhân dân, giải quyết những kiến nghị chính đáng, hợp pháp của nhân dân; xử lý kịp thời, dứt điểm các vấn đề bức xúc liên quan đến đời sống nhân dân, các vụ khiếu kiện đông người, vượt cấp, kéo dài, không để hình thành các “điểm nóng” về an ninh chính trị, trật tự xã hội.

Để đáp ứng được sự gửi gắm niềm tin của nhân dân, Đảng phải thường xuyên tự chỉnh đốn, tự khắc phục sai lầm, hạn chế, khuyết điểm, phải thật sự là đảng chân chính, cách mạng, “là đạo đức, là văn minh”, mạnh dạn thực hiện tự phê bình và phê bình, thành tâm học hỏi quần chúng nhân dân, dựa vào nhân dân để cùng xây dựng, chỉnh đốn, bảo vệ, phát triển Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh, đưa đất nước ta phát triển nhanh, bền vững, sớm đạt được mục tiêu trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI./.

Một số hạn chế, yếu kém về xây dựng Đảng cần được tập trung xử lý trong thời gian tới

           Nhìn chung, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong nhiệm kỳ Đại hội XII đã đạt được kết quả nổi bật là: Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; sắp xếp tổ chức bộ máy, sáp nhập đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và tinh giản biên chế của hệ thống chính trị; đổi mới công tác cán bộ và ngăn chặn tình trạng chạy chức, chạy quyền; tăng cường kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, xử lý nghiêm những tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên vi phạm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Kết quả của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng các nhiệm kỳ vừa qua và nhiệm kỳ Đại hội XII đã góp phần rất quan trọng để đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay. Đảng ta đoàn kết, thống nhất và trong sạch, vững mạnh hơn; niềm tin của nhân dân đối với Đảng được củng cố, tăng cường hơn, tạo nền tảng vững chắc đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong những năm tới.

Một là, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị nói chung vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị: Việc tổ chức thực hiện một số nghị quyết của Đảng vẫn là khâu yếu. Công tác tư tưởng còn có mặt hạn chế, thiếu kịp thời, tính thuyết phục chưa cao. Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa tiên phong, thiếu gương mẫu. Tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi còn hình thức. Thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là của người đứng đầu chưa tạo được sự lan tỏa sâu rộng. Việc hoàn thiện mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị cho phù hợp với tình hình thực tiễn còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu.

Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả hoạt động ở một số nơi thực hiện thiếu quyết liệt, chưa đạt mục tiêu đề ra; cá biệt có nơi còn nóng vội, chưa có bước đi vững chắc. Tinh giản biên chế mới tập trung giảm số lượng, chưa thực sự gắn với nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Xây dựng vị trí việc làm còn nhiều lúng túng, tiến độ triển khai còn chậm so với mục tiêu đề ra. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng còn thấp, chưa được củng cố kịp thời. Chính sách cán bộ chưa thực sự tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc; chưa có cơ chế bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung.

Hai là, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nói riêng và hệ thống chính trị nói chung còn nhiều bất cập, chậm được đổi mới.

Phương thức lãnh đạo của Đảng là tổng thể các hình thức, phương pháp, cách thức, quy chế, quy định, quy trình, phong cách, lề lối… mà Đảng sử dụng để tác động vào đối tượng lãnh đạo nhằm thực hiện thắng lợi cương lĩnh chính trị, đường lối, các nghị quyết của Đảng, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã thẳng thắn nhìn nhận: “Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị còn chậm đổi mới, có mặt còn lúng túng. Cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước chưa đầy đủ, đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả chưa cao. Việc thể chế hóa, cụ thể hóa một số chủ trương, nghị quyết của Đảng thành pháp luật của Nhà nước chưa đầy đủ, kịp thởi. Việc ban hành nghị quyết của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa sát thực tiễn, thiếu tính khả thi; việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện một số nghị quyết chưa nghiêm, hiệu quả thấp, chưa đạt yêu cầu đề ra. Tình trạng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng còn xảy ra ở một số nơi”(5).

Có thể thấy, việc phân định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền trách nhiệm giữa các cơ quan, tổ chức đảng và các cơ quan nhà nước chưa thực sự rõ ràng. Chưa có sự phân định thật rõ quyền hạn, trách nhiệm giữa Bộ Chính trị, Ban Bí thư với Đảng đoàn Quốc hội và Ban Cán sự Đảng Chính phủ, cũng như giữa ban thường vụ, thường trực cấp ủy với ban cán sự đảng ủy ban nhân dân, đảng đoàn hội đồng nhân dân ở địa phương. Các quy chế phối hợp đã có, nhưng vẫn còn tình trạng chung chung, khó triển khai trong thực tiễn. Cùng với đó, việc phân định thẩm quyền, trách nhiệm giữa tập thể lãnh đạo, người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng với người đứng đầu cơ quan nhà nước còn chưa thật rạch ròi và còn thiếu thống nhất, gây nên những chồng chéo, lúng túng nhất định trong chỉ đạo, điều hành ở các địa phương, cơ quan, đơn vị.

Ba là, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vẫn chưa thực sự được đẩy lùi, còn có những hiểu hiện, diễn biến phức tạp

Đảng ta là đảng cầm quyền, đội ngũ đảng viên nắm giữ hầu hết các vị trí chủ chốt trong bộ máy nhà nước, có quyền lực rất lớn và đi liền với đó là nguy cơ tha hóa quyền lực, quan liêu, tham nhũng, biến chất, rơi vào chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm” cũng rất cao. Trên thực tế, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả ở cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cao còn nhiều diễn biến tinh vi, phức tạp, khó lường.

Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay đã “làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng”, nếu không bị ngăn chặn, đẩy lùi, thì đây sẽ “là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”. Chính vì vậy, Nghị quyết Đại hội XII, Đại hội XIII của Đảng đã xác định đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong nội bộ là một nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng.

Nguyên nhân sâu xa, chủ yếu của tình trạng suy thoái ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả người đứng đầu, trước hết là do bản thân những cán bộ, đảng viên đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện, sa vào chủ nghĩa cá nhân, không đủ bản lĩnh để vượt qua những cám dỗ. Do vậy, muốn ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống thì phải bắt đầu từ việc cán bộ, đảng viên “tự soi, tự sửa”. “Tự soi, tự sửa” là việc mỗi người phải nghiêm túc tự kiểm điểm, tự nhìn lại mình; cái gì tốt thì phát huy, cái gì khiếm khuyết thì tự điều chỉnh, cái gì xấu thì tự gột rửa, tự sửa chữa.

Bốn là, chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng còn những hạn chế.

Bên cạnh những chuyển biến tích cực, kết quả đã đạt được, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng hiện vẫn còn những hạn chế. Không ít địa phương, cơ quan, đơn vị tiến hành kiểm tra, giám sát còn chiếu lệ, hình thức, chưa quyết liệt, nên hiệu quả chưa cao, chưa đủ sức răn đe; đấu tranh với vi phạm vẫn còn tình trạng nể nang, né tránh, đùn đẩy, không nghiêm túc. Một số tổ chức đảng còn tỏ ra bị động trong phát hiện tiêu cực; công tác kiểm tra, giám sát chỉ được thực hiện khi có đơn tố cáo, thiếu kiểm tra chấp hành và giám sát thường xuyên, đã làm cho vai trò, uy tín của cấp ủy và tổ chức chính quyền bị giảm sút; nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao, vi phạm kỷ luật, nhưng chỉ được phát hiện bởi báo chí, truyền thông, chứ không phải do tổ chức đảng hay cơ quan kiểm tra, giám sát... Một số cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cấp ủy chưa coi trọng đúng mức công tác kiểm tra, giám sát; chưa kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo; việc xác định nội dung kiểm tra, giám sát còn dàn trải, chưa đi vào những lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm, dễ nảy sinh tiêu cực.

Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng là “thanh bảo kiếm” giữ nghiêm kỷ luật đảng. Tuy nhiên, so với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng vẫn còn những hạn chế, yếu kém cần được nhận diện và nhanh chóng khắc phục.


Chủ Nhật, 6 tháng 2, 2022

Bộ mặt thật của đạo “Bà Cô Dợ”

 

Đạo “Bà Cô Dợ” còn gọi là Hội Thánh Đức Chúa trời yêu thương chúng ta do Vừ Thị Dợ (SN 1978, người Mông, sinh sống ở thành phố Milvvaukee, bang Wilcosin nước Mỹ) thành lập và làm Hội trưởng cuối năm 2016.Sau đó, đạo đã được truyền sang các nước khác, trong đó có Việt Nam. Từ tháng 11/2016, đạo “Bà Cô Dợ” xuất hiện ở hai huyện Mường Tè và Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu. Sau đó, ảnh hưởng đến một số huyện của tỉnh Điên Biên với tốc độ phát triển nhanh và thu hút nhiều người dân tham gia, đặc biệt trong đồng bào dân tộc thiểu số .

Đạo “Bà Cô Dợ” không có hiến chương, điều lệ rõ ràng. Đối tượng Vừ Thị Dợ chỉ lợi dụng xuyên tạc một số câu, điều trong Kinh thánh Cựu ước, Tân ước để giảng dạy, tuyên truyền đạo. Vừ Thị Dợ tuyên truyền con trai út Cứ Nu Si Lông chính là Chúa Giê Su tái thế, sẽ cai trị người Mông trong 1.000 năm. Vừ Thị Dợ còn tự nhận mình là người được Chúa Trời chọn để tái lâm lần thứ 2; không phải đóng 10 % thu nhập, ai tin theo đạo “Bà Cô Dợ” sẽ được chia tiền. Tìm hiểm về Vừ Thị Dợ được biết, trước đây Dợ từng theo Công giáo và hệ phái Tin lành CMA nhưng thường xuyên tạc Kinh thánh nên đã bị trục xuất khỏi giáo hội. Sau khi tách ra, Vừ Thị Dợ tích cực đi tuyên truyền lôi kéo người tham gia. Về mặt tổ chức, Vừ Thị Dợ đóng vai trò làm Hội trưởng, Vù Thị Mỹ – Phó Hội trưởng 1, Sùng Thị Mỷ – Phó Hội trưởng 2, Thào Chứ Lầu – Phó Hội trưởng 3 và Vàng A Páo – Thư ký. Lễ nghi sinh hoạt của “Bà Cô Dợ” cơ bản giống với các điểm nhóm theo đạo Tin lành. Tuy nhiên, tổ chức Lễ giáng Sinh không cùng thời điểm với đạo Tin lành (23/11 là ngày tái sinh của Nu long – Chúa tái lâm lần thứ hai) và không tổ chức lễ phục sinh. Thời gian đầu, số người theo đạo “Bà Cô Dợ” sinh hoạt từ 21h tối thứ bảy đến 2h sáng hôm sau, hiện nay đã chuyển sang sinh hoạt vào ngày chủ nhật hàng tuần. Các đối tượng và những người tin theo tập trung sinh hoạt tại điểm nhóm. Trong quá trình giảng dạy, các đối tượng sử dụng bài hát về Chúa đã được cải biên trên nền nhạc trẻ. Nội dung chủ yếu các đối tượng tuyên truyền mê tín dị đoan, xuyên tạc Kinh thánh, đả kích các tôn giáo chính thống, chê bai phong tục truyền thống của người dân tộc Mông; tuyên truyền về ngày tận thế, việc mua Mông ra đời… Ngoài việc truyền đạo, “Bà Cô Dợ” còn xuyên tạc, lôi kéo người dân thực hiện mục đích chính trị, thành lập nhà nước của người Mông. Từ tháng 11/2016 đến nay, Vừ Thị Dợ đã gửi về nước số tiền 20.000 USD (huyện Mường Tè, huyện Nậm Nhùn) – Lai Châu, 11.977 USD huyện Mường Nhé – Điện Biên số tiền 9.000 USD). Số tiền này được các đối tượng trong nước sử dụng để mua sắm các thiết bị thu phát wifi, máy tính, điện thoại nhằm mục đích quay lại các buổi sinh hoạt rồi gửi cho số đối tượng bên ngoài tài liệu tuyên truyền, ngoài ra mỗi người theo được cấp 600.000-800.000 đồng/tháng. Đáng chú ý, tháng 3/2018 trên địa bàn xã Tà Tổng, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xuất hiện luận điệu trên địa bàn, xuất hiện luận điệu “Chúa sẽ tái lâm, mặt trăng, mặt trời sẽ lặn 3 năm, 6 tháng sẽ xảy ra chiến tranh, gió độc sẽ thổi nên các gia đình người Mông phải tích trữ lương thực, mua than, củi lò, bít lỗ…” gây hoang mang và đã có một số bà con người Mông tin theo, thực hiện.  Bản chất của đạo “Bà Cô Dợ” chính là hoạt động lợi dụng đạo Tin lành tuyên truyền thành lập “Nhà nước Mông”. Đạo “Bà Cô Dợ” ảnh hưởng trực tiếp hai tỉnh Lai Châu và Điện Biên, lôi kéo người tin theo. Thành phần chủ yếu là đồng bào người Mông và đã là tín đồ của Hội thánh Tin lành. Thời điểm cao nhất vào năm 2017-2019, tổ chức “Bà Cô Dợ” đã có 19 điểm, nhóm với 773 người. Thời gian sau này, do nhận ra bản chất nên một số trường hợp đã từ bỏ, tính đến tháng 4/2021, tổ chức “Bà Cô Dợ” đã giảm số người.  Sự khốn cùng của những kẻ dã tâm không dừng lại ở đó, thời gian gần đây, mặc dù tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp nhưng số đối tượng cầm đầu “Bà Cô Dợ” vẫn tìm cách móc nối, lôi kéo quần chúng bằng các phần mềm, ứng dụng trên internet để tổ chức các buổi sinh hoạt, tuyên truyền và chỉ đạo các hoạt động ở trong nước. Hoạt động của Vừ Thị Dợ trong thời gian gần đây, đặc biệt khi dịch COVID-19 diễn biến phức tạp đã một lần nữa vạch trần thủ đoạn của Vừ Thị Dợ. Khi cả thế giới cũng như Việt Nam đang “gồng” mình chống chọi với đại dịch. Và đến thời điểm này, cùng với việc tuân thủ 5K thì vaccine là một trong những biện pháp hữu hiệu và quan trọng để ngăn chặn đại dịch thì đối tượng này luôn có những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc.  Cụ thể, Vừ Thị Dợ tuyên tuyền “Không được tiêm vaccine phòng dịch bệnh COVID-19 vì sẽ làm giảm trí nhớ, gây hại sức khoẻ cho con người”. Đồng thời, hướng dẫn cách thức đối phó với cơ quan y tế để không tiêm vaccine phòng COVID-19. Các đối tượng cầm đầu đồng thời tiếp tục tuyên truyền các nội dung thiếu khoa học như “trái đất sẽ bị huỷ diệt” “ngày tận thế” có liên quan đến dịch COVID 19,… Nội dung tuyên truyền là “Chúa sẽ làm cho trái đất nổ tung hết, sẽ làm cho con người bị diệt vong hết; làm cho trái đất khô cằn, làm cho con người chết dần. Lý do Chúa hủy diệt trái đất là vì con người không làm theo lời của Chúa, không theo ý Chúa, khi Trái đất bị hủy diệt là lúc mà Chúa quay về, cây cối sẽ bị khô héo hết, giống như dịch bệnh COVID-19. Và hiện nay, như mọi người đã biết các quán karaoke, chợ lớn… đều đóng cửa hết, con người không đi lại được, niềm vui của con người sẽ không còn, bây giờ mới là bắt đầu thôi”. Mặt khác, các đối tượng cho rằng: “Các thành phố sẽ trống rỗng, con người sẽ bị kẹt lại ở trong nhà, không có ai đến mở cửa được. Như mọi người đã thấy, hiện nay có dịch bệnh, họ (chính quyền) đã khóa con người ở trong nhà không đi đâu được, như các địa phương có dịch bệnh không đi mưa thực phẩm được. Cái này mới chỉ là bắt đầu thôi mà đã mạnh như thế này, khi mà có “khó khăn” (nghĩa là có cái gì đó lớn hơn dịch bệnh này) thì trái đất sẽ bị hủy diệt vấn đề này xảy ra ở tất cả các dấn tộc, chứ không riêng người Mông giống như một vụ thu hoạch. Chúa sẽ về thu hoạch sản phẩm của mình, đó là những người theo Chúa (những người theo “Bà Cô Dợ” sẽ được cứu sống) nên bây giờ Chúa mới cho “người mẹ ” về đây cho con người đến với Chúa. Những người ở phía mặt trời lặn gào thét trong sự sung sướng, đó là ở Mỹ và Châu Âu; những người ở phía mặt trời mọc sẽ cảm ơn Chúa, đó là ở Việt Nam, Lào, Thái Lan; những người sót lại sẽ có niềm vui, những người sót lại là những người đến với Chúa (theo Bà Dợ), Chúa sẽ chọn những người sót lại. Trái đất sẽ bị nổ tung thành từng mảnh; Chúa sẽ gom hết con người trên trái đất vào nhốt trong cái hố sâu, hết 1.000 năm Chúa mới phán xét cho. Mặt trời sẽ ngừng sáng, mặt trăng sẽ tối và Chúa sẽ là người cai quản, đó là Chúa Nu Long…Những luận điệu tuyên truyền phản khoa học trên thay lời muốn nói thêm một lần nữa khẳng định, hiện tượng mang màu sắc tôn giáo có tên gọi “Bà Cô Dợ” đã lợi dụng niềm tin tín ngưỡng của chính đồng bào Mông, đi ngược lại mong muốn phát triển, xâm hại trực tiếp truyền thống văn hóa lâu đời, bản sắc tốt đẹp của dân tộc Mông. Đó là hành vi của những kẻ mưu đồ chống phá Nhà nước, lật đổ chính quyền nhân dân, gây chia rẽ đại

 

NHỮNG HOẠT ĐỘNG VI PHẠM PHÁP LUẬT CỦA TỔ CHỨC “TIN LÀNH ĐẤNG Chist”


“Tin lành Đấng Christ” là tổ chức phản động đội lốt tôn giáo để tiến hành các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia. Do đó, mọi hoạt động liên quan đến tổ chức này đều là hành vi vi phạm pháp luật. Nhà nước Việt Nam luôn bảo đảm quyền tự do tin tưởng của người dân. Mọi hoạt động lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để xâm phạm an ninh quốc gia đều sẽ bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.Tổ chức “Tin lành Đấng Christ – UMCC” (United Montagnard Church of Christ)” do Y Hin Niê (dân tộc Êđê, gốc ở tỉnh Đăk Lăk thành lập vào năm 2001. Y Hin Niê nguyên là “Đại tá, Bộ trưởng Bộ ngoại giao” FULRO III, xuất cảnh định cư ở Mỹ từ năm 1992). Khi thành lập tổ chức này, ý đồ của đối tượng cầm đầu là quy tụ các chức sắc, tín đồ người dân tộc thiểu số Tây Nguyên ở Mỹ và Việt Nam để tập hợp lực lượng, đấu tranh “đòi” tự do tôn giáo, dân chủ nhân quyền, tiến tới thành lập “Tôn giáo riêng”, “Nhà nước riêng” của người  Tây Nguyên. Để thực hiện ý đồ và mục đích này, UMCC chủ trương câu kết, móc nối, “lợi dụng các tổ chức phản động người Việt lưu vong để trục lợi cá nhân, đào tạo trực tuyến, chỉ đạo số cầm đầu trong nước hoạt động đấu tranh bất bạo động; củng cố, phát triển lực lượng, thu thập thông tin, tài liệu về dân chủ, nhân quyền gửi ra nước ngoài để vu cáo Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế; tranh thủ sự ủng hộ của một số nước và các thế lực thù địch chống Việt Nam. Cùng với đó, thông qua mạng xã hội, các diễn đàn quốc tế…, vu cáo Việt Nam phân biệt đối xử, đàn áp người dân tộc thiểu số . Ở bên ngoài, UMCC đã phát triển được hàng trăm tín đồ. Ở bên trong, chúng đã phát triển ở một số tỉnh thành trong cả nước để hoạt động. Ngay sau khi thành lập, UMCC ráo riết chỉ đạo số tay chân trong nước tiến hành các hoạt động chống phá Việt Nam; “cổ vũ, kích động” các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế và pháp luật của các nước Việt Nam, Thái Lan… nhằm thu lợi bất chính.  Do mâu thuẫn về quyền lợi, vào tháng 9/2019, A Ga (SN 1977, gốc Kon Tum, hiện ở Mỹ), đối tượng đang bị cơ quan điều tra Công an tỉnh Gia Lai truy nã về tội “Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài” chủ trương tách khỏi UMCC thành lập một tổ chức riêng để tiếp tục hoạt động. Tháng 9/2020, A Ga chính thức thay đổi logo và tên gọi của ECCV thành “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên, gọi tắt là CHPC, tự nhận mình làm người đại diện, đồng thời chỉ định nhân sự “Ban đại diện” tạm thời trong nước gồm 5 thành viên, do A Đảo (trú ở Sa Thầy, Kon Tum) làm “Giáo hội trưởng”. Lúc này, tổ chức “Tin lành Đấng Christ” bị phân thành hai nhóm nhỏ, hoạt động riêng biệt, nhưng âm mưu, ý đồ, phương thức, thủ đoạn tương tự nhau.  Bề ngoài, CHPC tổ chức sinh hoạt tôn giáo bình thường với các hoạt động hát thánh ca, chia sẻ kinh thánh và cầu nguyện. Tuy nhiên bên trong, CHPC chính là một tổ chức phản động đội lốt tôn giáo để tiến hành các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia. Phương thức, thủ đoạn hoạt động của CHPC không có gì mới, tương tự như “Tin lành Đêga” trước đây và tổ chức phản động “Hội thánh Tin lành đấng Christ” ở Mỹ hiện nay.  Đó là tập hợp tín đồ là người  ở trong nước liên kết với các nhóm Tin lành khác và số đối tượng phản động người Việt lưu vong lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo để chống phá Việt Nam, đòi thành lập “nhà nước riêng, tôn giáo riêng” cho người người dân tộc thiểu số. Để phát triển tổ chức phản động của mình, A Ga đã cộng tác, liên kết với các tổ chức phản động nước ngoài khác như “Ủy ban Cứu trợ người vượt biển” (BPSOS) của Nguyễn Đình Thắng ở Mỹ, “nhóm “Người Thượng đứng lên vì công lý” (MSFJ) của Y Quynh Bdăp ở Thái Lan để tạo dựng, phát triển cơ sở bên trong. Thông qua các ứng dụng trên mạng xã hội.., A Ga đã kết nối với các đối tượng bên trong để tuyên truyền, củng cố niềm tin, lôi kéo mọi người tham gia CHPC, mở rộng tín đồ, tập hợp lực lượng, từng bước công khai hóa hoạt động. Bên cạnh đó, A Ga và các đối tượng phản động lưu vong khác tích cực móc nối, lôi kéo, hướng dẫn các tín đồ theo đạo tin lành thuần túy trong nước tham gia các buổi tập huấn trực tuyến về nhân quyền mà thực chất chính là các buổi đào tạo cách thức viết “báo cáo vi phạm” về nhân quyền, tự do tôn giáo; đào tạo kỹ năng hoạt động xã hội dân sự”; hướng dẫn phương pháp thu thập, cung cấp các thông tin sai lệch về tình hình trong nước để xuyên tạc, vu cáo trên mạng xã hội và các diễn đàn quốc tế; hướng dẫn cách thức đối phó với cơ quan Công an khi bị phát hiện. Với thủ đoạn này, từ tháng 9/2020 đến nay, CHPC đã phát triển được một số tín đồ tại các tỉnh: Đắk Lắk, Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng và Phú Yên. Qua công tác nắm tình hình, lực lượng Công an đã phát hiện được toàn bộ hoạt động của tổ chức phản động “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên” cũng như hoạt động vi phạm pháp luật của các đối tượng tham gia trong nước.  Thế nhưng, với bản chất ngoan cố, số cốt cán của UMCC trước đây chưa chịu từ bỏ hoạt động vẫn lén lút móc nối, lôi kéo, phát triển lực lượng, ý đồ thành lập một tổ chức mới, trên nền tảng của tổ chức UMCC trước đó, tuy nhiên đều bị lực lượng chức năng phát hiện, đấu tranh, phá rã.

Vạch trần bản chất của đối tượng cầm đầu

Trong tổ chức “Tin lành Đấng Christ Tây Nguyên”, phải kể đến A Đảo (SN 1981, trú tại huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum). Đối tượng này có những hoạt động chống phá quyết liệt. Cụ thể, vào khoảng tháng 7/2014, theo sự chỉ đạo của số cầm đầu UMCC bên ngoài, A Đảo cùng Y Nuen Ayun ra Hà Nội gặp ông David Showronski và bà Rose Miconell (nhân viên Đại sứ quán Úc tại Hà Nội) và Nguyễn Bắc Truyển, Nguyễn Văn Đài để cung cấp tài liệu giấy mời, giấy triệu tập làm việc, giấy chứng nhận mãn hạn tù… của các đối tượng tại Tây Nguyên; xuyên tạc chính sách tôn giáo, xuyên tạc, vu cáo chính quyền Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, đàn áp, sách nhiễu người dân tộc thiểu số  ở địa bàn Tây Nguyên.  Tại cuộc gặp này, Nguyễn Bắc Truyền trả số tiền 5 triệu đồng và Nguyễn Văn Đài trả số tiền 4 triệu đồng cho A Đảo, Y Nuen Ayun tiền thù lao. Từ tháng 2 – 12/2015, số cầm đầu UMCC ở bên ngoài tiếp tục giới thiệu, chỉ đạo số tay chân trong nước như A Đảo, A Hlum, A Hmưk, A Trung, A Xã, A Viei, Y Huy, A Đoàn, A Hluih, A Chang, Y Bét tham gia đào tạo, huấn luyện trực tuyến về Nhân quyền, tự do tôn giáo quốc tế, hướng dẫn cách thức đối phó với chính quyền Việt Nam… Tuy nhiên, việc chỉ đạo số trong nước tham gia các khóa đào tạo này của UMCC chỉ với mục đích nhận được số tiền hỗ trợ khoảng 500.000 đồng/tuần/1 đối tượng tham gia. Trong khóa học này A Đảo quen biết Huỳnh Thục Vy, sau đó A Đảo, Y Bét, A Trung tiếp tục lợi dụng Huỳnh Thục Vy. Từ đó, đối tượng đã gặp gỡ và tiếp xúc với một số người nước ngoài nhằm mục đích xin tiền, phục vụ việc tiêu xài xá nhân.  Từ ngày 25/7/2016 đến ngày 11/8/2016, với mục đích trục lợi và theo chỉ đạo của số cầm đầu, cốt cán UMCC bên ngoài, A Đảo cùng Y Bét xuất cảnh sang Đông Timor dự Hội nghị tự do tôn giáo khu vực Đông Nam Á. Tại hội nghị này, A Đảo được các đối tượng trả 500 USD thù lao. Ngoài ra, từ tháng 3/2016 đến tháng 8/2016, A Ga (cốt cán UMCC đang cư trú bất hợp pháp tại Thái Lan) chỉ đạo A Đảo, Nay Them tổ chức 3 đợt đưa 10 người dân tộc thiểu số xuất cảnh và định cư trái phép ở Thái Lan. Khi đối tượng này đang tổ chức đưa, dẫn người thì bị lực lượng Công an đã phát hiện, bắt quả tang vào ngày 18/8/2016. Quá trình bắt giữ, lực lượng chức năng đã thu giữ 160 USD, 49.735.000VNĐ liên quan hoạt động phạm tội của A Đảo. Căn cứ vào các hành vi phạm tội trên, Cơ quan ANĐT đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với A Đảo về hành vi tổ chức người khác trốn ra nước ngoài theo điều 275, BLHS năm 1999. Đồng thời, đã ra lệnh truy nã quốc tế đối với A Ga về tội tổ chức người khác trốn đi nước ngoài. 

Sau khi A Đảo bị xử lý, một số người dân trước đó đã bị khống chế theo UMCC tại các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Lâm Đồng, Bình Phước tỏ ra bất mãn, không tin tưởng vào UMCC. Một số trường hợp đã viết đơn tự nguyện xin chuyển sinh hoạt theo Hệ phái Tin lành đã được cấp quy chế pháp nhân và được cấp ủy, chính quyền địa phương tạo điều kiện để chuyên sinh hoạt tại các hệ phái Tin lành như: Bắp tít Liên hiệp; Bắp tít Nam Phương…, bộ khung tổ chức trong nước tự tan rã.  Tháng 9/2020, ngay sau khi A Đảo ra tù, số cầm đầu bên ngoài tiếp tục sử dụng A Đảo thành con bài cho âm mưu của chúng, một mặt chúng vận động, kêu gọi, quyên góp tiền để gửi cho A Đảo, mặt khác chúng chỉ đạo A Đảo móc nối, lôi kéo, gây dựng số tay chân bên trong, một trong những người tham gia CHPC tích cực nhất trên địa bàn Đắk Lắk đó là Y Krếc Bya (hay còn gọi là Ama Guôn, sinh năm 1978, trú tại buôn Knia 2, xã Ea Bar, huyện Buôn Đôn). Y Krếc là đối tượng FULRO, bị xử phạt 8 năm tù về tội “Phá hoại chính sách đoàn kết”. Năm 2013, sau khi ra tù được một năm, Y Krếc lại tiếp tục tham gia hoạt động cơ sở ngầm FULRO và bị cơ quan Công an đấu tranh xử lý, đưa ra kiểm điểm trước dân. Với vai trò là “Quản nhiệm điểm sinh hoạt buôn Knia 2”, sau khi được liên lạc, lôi kéo, Y Krếc đã đồng ý tham gia CHPC và được A Ga giao cho làm Thủ quỹ của Ban điều hành tạm thời. Từ tháng 3/2020 cho đến khi bị phát hiện, Y Krếc đã tích cực lôi kéo 15 người, hầu hết là các tín đồ Tin lành sinh hoạt trong điểm nhóm tại gia của mình tham gia CHPC. Ngoài ra còn có một số đối tượng khác, như: Y Nuen Ayun (Ama Đawit, sinh năm 1967; trú buôn Puăn B, xã Ea Phê, huyện Krông Pắc); Y Chới Bkrông (Ama H’Nal, sinh năm 1972; trú buôn Ko Mleo, xã Hòa Thắng, TP Buôn Ma Thuột); YYuăn Byă (Ama H’Wôn, sinh năm 1966; trú tại buôn Knia 3, xã Ea Bar, huyện Buôn Đôn) là những đối tượng tích cực tham gia phát triển CHPC trên địa bàn Đắk Lắk. Quá trình làm việc với cơ quan Công an, những người này khai nhận, được sự chỉ đạo từ A Ga và các đối tượng cầm đầu bên ngoài, họ đã tiếp tục đi tuyên truyền, vận động, lôi kéo những người thân trong gia đình, các tín đồ sinh hoạt đạo thuần túy nhẹ dạ cả tin khác trong buồn cùng tham gia. Thủ đoạn lôi kéo mọi người của các đối tượng vẫn là những luận điệu cũ rích, đó là tham gia CHPC để về lâu dài sẽ thành lập “tôn giáo riêng, nhà nước riêng” cho người Tây Nguyên, và nếu sau này “Nhà nước Đê ga” thành công thì những người tham gia sẽ được chia đất đai, nhà cửa, tài sản, phong chức tước. Bản thân Y Krếc đã tập hợp, gửi các “bản tường trình”, “báo cáo” xuyên tạc về tình hình tôn giáo, nhân quyền cho phản động bên ngoài để tập hộ, báo cáo cho phản động lưu vong, phản ánh sai lệnh cho các tổ chức quốc tế, gây sức ép, làm giảm uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.  Đối tượng Y Nuen với vai trò “Giáo hội phó” CHPC đã lôi kéo một số người tham gia; thu thập, gửi một số “bản tường trình” vu cáo chính quyền, vu cáo lực lượng Công an vi phạm tự do tôn giáo, nhân quyền. Đối với Y Chới Bkrông, sau khi được tuyên truyền, lôi kéo tham gia CHPC, từ tháng 11/2020 đến nay, Y Chới đã tham gia nhiều buổi tập huấn nhân quyền trực tuyến do Y Quynh Bdap và Nguyễn Đình Thắng giảng dạy, đồng thời đã viết một số báo cáo với nội dung vu cáo chính quyền đàn áp tôn giáo gửi cho A Ga. Để “nuôi dưỡng” cho hoạt động trong nước, các đối tượng phản động bên ngoài đã nhiều lần gửi tiền cho số cầm đầu, cốt cán trong nước để củng cố niềm tin hoạt động chống phá. Tuy nhiên, A Đảo, Y Krếc, Y Nuen đã trục lợi cá nhân, “ăn chặn” và thậm chí mâu thuẫn nhau về việc “chia tiền”. Từ những âm mưu, ý đồ hoạt động và những chứng cứ thu được đã thể hiện “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên” chính là một tổ chức phản động đội lột tôn giáo để tiến hành các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.  Do đó, mọi hoạt động liên quan đến tổ chức này đều là hành vi vi phạm pháp luật. Mặc dù sau khi bị phát hiện, các đối tượng tham gia CHPC trên địa bàn Đắk Lắk đều đã thừa nhận, cam kết từ bỏ, tuy nhiên, tùy vào tính chất, mức độ vi phạm của từng người mà cơ quan chức năng sẽ có biện pháp xử lý phù hợp, đúng quy định của pháp luật.  Thực tế, thời gian qua tại Tây Nguyên, đa số các chức sắc, tín đồ các tôn giáo được tạo điều kiện sinh hoạt tôn giáo thuần túy, chấp hành tốt các quy định của pháp luật. Riêng đối với đạo Tin lành, ngoài 5 tổ chức đã được Nhà nước công nhận (gồm: Hội thánh Tin lành Việt Nam (Miền Nam), Hội thánh Tin lành Cơ đốc Phục lâm, Hội thánh Tin lành Trưởng lão, Hội thánh Truyền giáo Cơ đốc và Hội thánh Tin Lành Liên hữu Cơ đốc), vẫn còn hàng chục tổ chức, hệ phái Tin lành chưa được công nhận tư cách pháp nhân, chưa được đăng ký hoạt động

( Tin lành Truyền giảng phúc âm, Tin lành Liên hữu Bắp tít, Tin lành Phúc âm đời đời…) với tổng số hàng chục ngàn tín đồ. Các tổ chức, hệ phái này vẫn được tạo điều kiện để hoạt động ổn định. Tuy nhiên, thời gian qua, các thế lực thù địch bên ngoài, nhất là số FULRO lưu vong tiếp tục rêu rao ở Việt Nam “không có tự do tôn giáo”, chỉ có “tôn giáo quốc doanh”, không cho các tổ chức Tin lành chưa được đăng ký hoạt động. Một lần nữa chúng ta cần khẳng định rằng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, nhưng bên cạnh đó cũng nghiêm cấm việc lợi dụng tôn giáo để xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Mỗi tín đồ tôn giáo bên cạnh việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cần phải thực hiện nghĩa vụ công dân của mình trên cơ sở chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật. Qua đây, mỗi chức sắc, tín đồ và người dân hãy đề cao cảnh giác, không tin, không nghe các đối tượng lôi kéo tham gia vào các hoạt động tôn giáo đề chống Đảng, Nhà nước, vi phạm pháp luật, đồng thời tích cực tố giác, phối hợp với chính quyền và lực lượng Công an các cấp ngăn chặn, góp phần loại bỏ cái gọi là “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên” ra khỏi cộng đồng

 

Dân tộc trường tồn nhờ bồi đắp cội nguồn văn hóa


          Lịch sử Việt Nam ghi lại, sau hơn 15 năm khởi nghĩa, quân Tây Sơn đã đánh đổ 3 tập đoàn phong kiến thống trị là Nguyễn, Trịnh, Lê. Nước nhà được thống nhất từ Hà Tiên đến cả miền Bắc. Từ lời cầu cứu của Lê Chiêu Thống, triều đình phong kiến Mãn Thanh đã cho Tôn Sĩ Nghị đưa quân xâm lược vào chiếm đóng Thăng Long ngày 17/12/1788. Năm ngày sau đó, ngày 22/12/1788 (tức ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân), được sự chấp thuận, ủng hộ của hàng vạn tướng sĩ và cũng là làm sáng tỏ tính chính danh, chính nghĩa đối với muôn dân, Nguyễn Huệ lập đàn ở phía nam núi Ngự Bình (Huế) làm lễ trọng thể tế cáo trời đất, lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung. Trước ba quân tướng sĩ, Hoàng đế Quang Trung-Nguyễn Huệ tuyên thệ hùng hồn: “Đánh cho để dài tóc/ Đánh cho để đen răng/ Đánh cho nó chích luân bất phản/ Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn/ Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ!”.

          Lời hịch trên được hiểu là: Quyết đánh kẻ thù để giữ gìn, bảo tồn phong tục, tập quán của tổ tiên ông cha để lại, vẫn để được tóc dài, vẫn nhuộm được răng đen. Đánh cho nó một chiếc xe để chạy về nước cũng không có. Đánh cho nó một mảnh giáp cũng chẳng còn. Đánh cho lịch sử muôn đời biết nước Nam anh hùng là có chủ.

          Theo sử sách truyền lại, người Việt xưa có phong tục nhuộm răng đen. Duy trì phong tục này, một mặt nhằm bảo đảm cho răng được bền chắc, tránh bị sâu răng; mặt khác, cũng là một cách chống lại mưu đồ đồng hóa của kẻ thù đối với nhân dân ta dưới thời kỳ đô hộ nghìn năm Bắc thuộc. Phong tục nhuộm răng đen từng là một nét đẹp tao nhã, duyên dáng của người phụ nữ Việt thuở trước. Vẻ đẹp đó được thể hiện qua bài ca dao “Mười thương” với hai câu: “Ba thương má lúm đồng tiền/ Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua” (răng hạt huyền là răng đã được nhuộm đen). Trong bài thơ nổi tiếng “Bên kia sông Đuống” của thi sĩ Hoàng Cầm (sáng tác tháng 4/1948) cũng có những câu thơ rất đẹp, rất hay về hình ảnh người phụ nữ vùng Kinh Bắc trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp: “Ai về bên kia sông Đuống/ Có nhớ từng khuôn mặt búp sen/ Những cô hàng xén răng đen/ Cười như mùa thu tỏa nắng”. Hiện nay, tuy phụ nữ Việt không duy trì phong tục nhuộm răng đen, nhưng chúng ta vẫn bắt gặp nhiều bà lão ở độ tuổi 70 trở lên nơi vùng nông thôn Bắc Bộ vẫn còn răng đen, nhai trầu đỏ môi. Đó là nét văn hóa xưa còn lưu lại trong xã hội hiện đại.

          Lễ hội gò Đống Đa là niềm tự hào, sự quật cường của cả một dân tộc và được tổ chức để tưởng nhớ chiến công lẫy lừng của vua Quang Trung - người Anh hùng “áo vải, cờ đào” trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc.

          Ngoài nhuộm răng đen, người Việt cũng có phong tục để tóc dài. Theo các nhà nghiên cứu văn hóa, việc để tóc dài của người Việt kéo dài từ khoảng thế kỷ 15 đến gần cuối thế kỷ 18. Xưa kia, đàn bà để tóc dài thể hiện sự đoan trang, thùy mị. Còn đàn ông để tóc dài thì cuốn thành búi trên đầu rồi để phía sau gáy cho gọn gàng.

          Có thể khẳng định rằng, lời hịch của Hoàng đế Quang Trung-Nguyễn Huệ thể hiện rõ ràng ở 3 khía cạnh: “Đánh cho để dài tóc/ Đánh cho để răng đen” nhằm mục tiêu bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc; “Đánh cho nó chích luân bất phản/ Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn” nhằm mục tiêu thắng lợi về mặt quân sự; “Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ” nhằm đạt mục tiêu chính trị là giành lại vị thế, khẳng định nước Nam đã có chủ.

          Vì sao Hoàng đế Quang Trung-Nguyễn Huệ lại đặt mục tiêu giữ gìn phong tục, tập quán, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc lên trước mục tiêu thắng lợi quân sự và mục tiêu giành lại vị thế chính trị của đất nước? Vì “răng đen, tóc dài” không đơn thuần là những bộ phận trên cơ thể của người Việt xưa, mà hơn thế, đó là hình ảnh thân thuộc của đồng bào ta qua bao đời, đó cũng là phong tục, tập quán văn hóa của người Việt Nam tồn tại từ lâu. Lời hịch thực chất là lời quyết chiến, quyết đánh đuổi quân xâm lược đến cùng để bảo toàn những giá trị gốc gác của người Việt, của linh hồn văn hóa truyền thống Việt.

          Có thể khẳng định rằng, lời hịch của Hoàng đế Quang Trung-Nguyễn Huệ góp phần thức tỉnh tâm can, lay động lòng người, vì thế quy tụ, lôi cuốn được muôn dân đồng tâm hiệp lực thành sức mạnh phi thường để đánh tan 29 vạn quân xâm lược Thanh trong mùa xuân Kỷ Dậu 1789, làm nên trận đại thắng Ngọc Hồi-Đống Đa lẫy lừng trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Ở hàm ý sâu xa hơn, người anh hùng dân tộc áo vải cờ đào muốn gửi thông điệp tới các thế hệ con cháu mai sau, những gì thuộc về giá trị bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán của tổ tiên, ông cha từ ngàn đời thì phải luôn có trách nhiệm lưu giữ, bảo tồn để dân tộc Việt không bao giờ bị mất gốc hay trở thành “bản sao” của dân tộc khác.

          Hơn 230 năm trôi qua, tinh thần, ý nghĩa từ lời hịch bất hủ của Hoàng đế Quang Trung-Nguyễn Huệ về bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc vẫn còn giá trị. Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, một trong những thách thức lớn nhất mà các quốc gia-dân tộc phải đối mặt là dễ bị phai mờ, thậm chí đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc. Vì vậy, chúng ta càng phải nhận thức thấu đáo hơn nữa vị trí, ý nghĩa đặc biệt quan trọng về bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, từ đó đề cao trách nhiệm và có những giải pháp căn cơ, đồng bộ để giữ gìn bằng được những giá trị văn hóa mà ông cha ta đã bền bỉ xây dựng, sáng tạo, hun đúc từ thời đại Hùng Vương dựng nước đến thời đại Hồ Chí Minh. Những tinh hoa văn hóa đó là hệ thống giá trị di sản vật thể, phi vật thể văn hóa và tất cả những gì góp phần làm nên đặc trưng tính cách Việt, tâm hồn Việt, nhân cách Việt từ thời mở nước đến nay.

          Có câu danh ngôn, “Văn hóa là những gì còn lại khi tất cả những cái khác mất đi”. Trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, trong đó lịch sử đấu tranh giữ nước chiếm phần lớn thời gian trong tiến trình dân tộc đã cho chúng ta một chân lý: Nước có thể mất, nhà có thể tan, nhưng nhất định không thể để mất tổ tiên, gia phả, dòng họ, không thể mất phong tục, tập quán của ông cha để lại. Lịch sử Việt đã đúc kết rằng, sức sống bền bỉ, trường tồn, mãnh liệt của dân tộc Việt chủ yếu bắt nguồn từ “sức mạnh mềm”, tức là từ văn hóa, bản lĩnh, khí phách của con người Việt Nam.

          Muốn giữ được quê cha đất tổ lâu dài, muốn cho tổ tiên không bị mất gốc thì không bao giờ được phép lãng quên và làm “đứt gãy” mạch nguồn văn hóa được người Việt vun trồng, bồi đắp, trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Bài học về sự kiên trì, ý chí kiên quyết bảo vệ các giá trị văn hóa đã làm nên căn tính, cốt cách dân tộc cách nay cả ngàn năm chưa bao giờ mất đi ý nghĩa của nó, mà vẫn còn sức sống mãnh liệt đến hôm nay và mai sau.

          Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Cái gốc của văn hóa mới là dân tộc”. Gốc có vững, cây mới bền. Giữ được cái gốc dân tộc của văn hóa, đó không chỉ là cơ sở vững vàng để bảo vệ thống nhất, độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, mà còn là thành trì chắc chắn để bảo vệ nền văn hóa dân tộc trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay.

 

Phủ nhận thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội và công cuộc đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo

 


Thêm một lần nữa, tội ác của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị và phản động lại bộc lộ rõ trong các quan điểm sai trái, phủ nhận thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội và công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta lãnh đạo hơn 35 năm qua. Chúng tập trung công kích Đảng, Nhà nước ta từ nhiều phía, cho rằng thành quả của cách mạng Việt Nam, nhất là thành tựu của công cuộc đổi mới hơn 35 năm qua không có gì đáng kể, tất cả là do Đảng ta “bịa ra”, “hư cấu”, “tự vẽ nên”, “tự mình khen mình”. Hơn thế, chúng còn cho rằng, giả sử nếu có thành tựu đổi mới gì đó nổi bật thì đó chính là “tham nhũng, tham quan, lãng phí, bóc lột dân”; bởi ở Việt Nam, “dân nghèo vẫn nghèo, dân không có gì, không được hưởng gì”; “đất nước vẫn lạc hậu, thấp kém”; “đạo đức suy đồi, xã hội lộn xộn, mất trật tự, vô kỷ cương”, v.v..  Một số ý kiến còn “lộng ngôn”, cho rằng, “dưới sự lãnh đạo của một đảng độc tài, ở Việt Nam chỉ có đổi mới kinh tế, không hề có đổi mới chính trị”, đến nay “vẫn giữ nguyên bộ máy chuyên quyền, độc tài của Đảng Cộng sản”… Từ đó, chúng cho rằng “ở Việt Nam không có bước tiến nào, thậm chí còn thụt lùi về “dân chủ, nhân quyền”, “tôn giáo và dân tộc”…

Thật nực cười bởi sự xuyên tạc trắng trợn, vô liêm xỉ của những kẻ vừa “ăn cướp vừa la làng”. Ai cũng biết rằng, ở Việt Nam, Đảng lãnh đạo Nhân dân ta tiến hành công cuộc đổi mới đất nước từ năm 1986. Đó là một tất yếu khách quan, một đòi hỏi nghiêm túc của lịch sử nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh rất nặng nề do quân xâm lược và tay sai để lại; đưa nước ta thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội, là bước ngoặc đặc biệt quan trọng để đất nước phát triển trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới hiện đại đã xác nhận sự thật đúng đắn ấy. Sau hơn 35 năm Đảng lãnh đạo công cuộc đổi mới nhìn lại, chúng ta tự hào về những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà chúng ta đã giành được; đất nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, đã qua thời kỳ lạm phát ba con số (774, 7% năm 1986) và ngày càng phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Chưa bao giờ đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế quốc tế to lớn như ngày nay. Điều đó khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Nhân dân ta là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đúng vậy! Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh. Đảng đã quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đảng khẳng định: Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ đó, Đảng đã phát huy dân chủ đi đôi với kỷ cương, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, phát triển lý luận về đường lối đổi mới, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; luôn kiên định và đổi mới, kế thừa và phát triển. Đồng thời, chủ động nghiên cứu, nắm bắt, sự báo đúng tình hình, tuyệt đối không để bị động, bất ngờ. Kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đi đôi với giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn để đổi mới, phát triển đất nước. Quá trình đổi mới ở Việt Nam là toàn diện, đồng bộ, có nguyên tắc, có lộ trình và bước đi phù hợp. Đảng đã kết hợp hài hòa giữa đổi mới về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội với đổi mới quân sự, quốc phòng, an ninh và đối ngoại…Trong quá trình đổi mới, Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; luôn đổi mới phương thức, tổ chức hoạt động của Đảng, hệ thống chính trị; kết hợp chặt chẽ giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vố sản, kết hợp giữa sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới; được nhân dân ta và cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Với những thành tựu to lớn, những kỳ tích vĩ đại do Đảng lãnh đạo trong 92 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến trở thành một quốc gia độc lập, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; đưa nhân dân từ thân phận là nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Đất nước ta từ một nước kém phát triển đã trở thành một nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, có vị thế, uy tín quốc tế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Quyết tâm chính trị to lớn của Đảng ta là xây dựng quốc gia Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Những thành tựu ấy đã kết tinh trí tuệ, sức lực và bản lĩnh chính trị vững vàng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta. Thế lực nào đó, ai đó còn cố tình phủ nhận thành quả vĩ đại của cách mạng Việt Nam hẳn là những người cố chấp, có bộ óc “thiểu năng”, bệnh hoạn, không có trái tim, không còn tính người; không biết phân biệt thật giả, phải trái, đúng sai. Quan điểm của những người ấy là hư vô lịch sử, không thể chấp nhận, cần phải vạch trần bản chất sai trái, hèn mọn của chúng; cần phải nghiêm trị đích đáng bằng luật pháp Việt Nam./

 

PHỦ NHẬN THÀNH QUẢ CÁCH MẠNG, CHỐNG PHÁ ĐẢNG ĐÓ LÀ NHỮNG NGƯỜI SỢ ÁNH SÁNG

 


Năm nay, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta chào mừng kỷ niệm 92 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh (3/2/1930-3/2/2022). Trong âm hưởng dạt dào của trời đất, của tiết trời mùa Xuân – Tết Nhâm Dần 2022 và của lòng người, xin mượn ý thơ của Bác Hồ để nói về Đảng thân yêu. Đúng là, Đảng ta vĩ đại như biển rộng, non cao. 92 năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình. Đảng ta là đạo đức, là văn minh. Là nếp sống tốt đẹp, là hòa bình, tự do. Công ơn Đảng thật là to. 92 năm cả lịch sử Đảng là một pho lịch sử bằng vàng.

 Thế nhưng niềm vui của chúng ta chưa trọn vẹn. Đó đây, trến đất nước ta, vẫn còn một bộ phận người quay lưng lại với Đảng, với chế độ, có những hành vi, biểu hiện chống phá Đảng, gây tổn hại cho nước cho dân. Trong đó, phủ nhận thành quả cách mạng là một thủ đoạn nham hiểm trong mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị và phản động. Để thực hiện âm mưu đen tối ấy, các thế lực thù địch đã và đang cố tình đổi trắng thay đen, bóp méo sự thật, xóa nhòa lịch sử, gán cho Đảng, Nhà nước và cách mạng Việt Nam những sai trái, tội lỗi mà đến các bậc sinh thành ra chúng cũng thấy “chướng tai gai mắt”, không thể chấp nhận.

Phủ nhận thành quả cách mạng và công lao của Đảng, Bác Hồ

Các chiêu trò “phi nhân tính” được chúng tập trung chống phá Đảng, Nhà nước ta là phủ nhận thành quả cách mạng do Đảng, Bác Hồ lãnh đạo Nhân dân ta làm nên những kỳ tích vĩ đại: Phủ nhận thành quả Cách mạng Tháng Tám năm 1945, phủ nhận thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Sự thật là mọi người dân Việt Nam yêu nước không lạ gì những “điệp khúc” đã và đang được tua đi tua lại nhiều lần: “Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là cái quái thai của lịch sử”, là “sai lầm của Cụ Hồ”, “Người dân Việt Nam không đáng tự hào vì Cách mạng Tháng Tám chẳng qua chỉ là sự thay đổi chế độ “vua quan bù nhìn” bằng “đảng trị”, “đảng độc tài”, đó là “sự ăn may của Đảng vì Nhật thua trong chiến tranh thế giới lần thứ hai”, “Đảng Cộng sản Việt Nam chẳng có tài cán gì”; thậm chí có kẻ còn “lộng ngôn” cho rằng: “Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là nguyên nhân gây ra hai cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam”, “nếu không có cuộc cách mạng này, nước ta đã là con rồng, con hổ ở châu Á từ lâu rồi”, v.v..

Những câu chuyện hoang đường, vô bổ với các luận điệu sai trái ấy là sự xuyên tạc trắng trợn lịch sử Đảng, bôi nhọ Đảng, Nhà nước ta, rất đáng phê phán, cần phải vạch mặt, bác bỏ. Những kẻ tung tin, tuyên truyền những luận điệu sai trái ấy cần phải nghiêm trị, xử phạt thật nặng theo pháp luật của Việt Nam. Ai cũng biết Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thắng lợi vĩ đại của Nhân dân ta mà trước hết là thắng lợi của sự lựa chọn đúng đắn con đường cách mạng của Đảng, Bác Hồ. Nó đã được chuẩn bị kỹ lưỡng, từ việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, trải nghiệm thực tiễn qua các cao trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939 và 1939-1945. Đó là những cuộc tổng diễn tập và là tiền đề cho Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, thể hiện sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, Bác Hồ kính yêu. Nếu không có sự lãnh đạo của Đảng và thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tất nhiên, chúng ta không thể có cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc ngày nay; cũng không thể có được niềm vui xum họp, vui Tết đoàn viên, chào mừng Xuân Nhâm Dần, khai mở con đường bước vào năm mới 2022, Nhân dân ta phấn khởi thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, vững tin bước vào thời kỳ phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Nhìn lại chặng đường 92 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, chúng ta càng thấm thía giá trị, ý nghĩa của những ngày được sống trong hòa bình, độc lập, tự do; cảm nhận công ơn trời biển của Đảng, Bác Hồ và các bậc tiền nhân, các anh hùng, liệt sĩ đã phấn đấu, hy sinh xương máu, dày công vun đắp, đem lại cuộc sống tươi đẹp này, dẫu chưa thật giầu có, song Nhân dân ta cũng không thiếu thứ gì khi mỗi độ Tết đến Xuân về. Ai cũng biết rằng, khi chưa có Đảng, nước ta là nước thuộc địa nửa phong kiến, nghèo nàn, lạc hậu, Nhân dân đói khổ lầm than, cơ cực, phải làm nô lệ cho thực dân Pháp và tay sai. Nỗi đau về thảm họa của dân tộc do nạn đói năm 1945 để lại còn nhắc nhở các thế hệ con cháu chúng ta vì nó đã cướp đi hơn hai triệu người dân, bằng 11% dân số nước ta hồi ấy. Nhờ có Đảng dẫn đường, lãnh đạo và thắng lợi của Cách mạng Tháng tám năm 1945, Nhân dân ta đã thực hiện thành công cuộc “đổi đời”, từ thân phận nô lệ, Đảng đã đưa người lao động lên địa vị chủ nhân đất nước. Cùng với đó, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta thanh toán nạn “giặc đói, giặc dốt”, phát triển kinh tế – xã hội, đem lại cơm no, áo ấm, được học hành, tiến bộ. Sự thật ấy đã bác bỏ mọi điều bịa đặt, các quan điểm sai trái, vu cáo nhằm hạ thấp uy tín, danh dự của Đảng, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm suy yếu Đảng và Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á.  Rõ ràng, quan điểm cho rằng, Đảng “không có công cán gì, chỉ thay đổi chế độ “vua quan bù nhìn” bằng “đảng trị”, “đảng độc tài”, là hoàn toàn vô lý, không thể chấp nhận. Nhân dân ta và nhân dân tiến bộ thế giới đều thừa nhận sự thật: Nhân dân ta đã làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, trấn động địa cầu” và “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, kết thúc cuộc chiến tranh kéo dài đằng đẵng hơn 30 năm, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Sự thật lịch sử là minh chứng đanh thép bác bỏ các quan điểm sai trái cho rằng cuộc chiến tranh của Nhân dân ta do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo “là cuộc chiến tranh ý thức hệ”,  là cuộc “nội chiến”. Cần phải nói lại cho rõ rằng, cuộc chiến tranh chống quân xâm lược của Nhân dân ta là chính nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo để giành lại độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Nó không phải là “nội chiến”, cũng không phải là “cuộc chiến tranh ủy nhiệm” như ai đó đã và đang rêu rao, nhắc lại “điệp khúc sai lầm, vu khống”, “buộc tội” Đảng ta. Về thực chất, quan điểm sai trái này là sự xuyên tạc bản chất chính nghĩa của cuộc chiến tranh chống quân xâm lược, là xúc phạm danh dự, nhân phẩm, lương tri và giá trị nhân cách con người Việt Nam – những người đã đổ máu, hy sinh vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của Nhân dân, vì cuộc sống hòa bình hôm nay. Các thế hệ con cháu Bác Hồ cực lực lên án, phản đối những hành vi vô văn hóa, phi nhân tính ấy.

 

Quan điểm của Đảng về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh


Tiếp tục truyền thống và kế thừa tinh thần của các đại hội trước đó, Đại hội XIII của Đảng đặc biệt coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng được thể hiện rõ cả trong chủ đề, bài học kinh nghiệm, quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển.

Chủ đề Đại hội XIII đã phát triển thành tố “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh” của Đại hội XII thành “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”. Điểm mới ở đây là đã bổ sung “xây dựng hệ thống chính trị” cùng với xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và không chỉ đề cập đến xây dựng Đảng, mà còn nhấn mạnh cả đến chỉnh đốn Đảng.

Không phải ngẫu nhiên mà Đại hội XIII của Đảng lại xác định, đặt ra yêu cầu đầu tiên là cần tiếp tục tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Trên thực tế, xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau; trong đó, xây dựng, chỉnh đốn Đảng có vai trò hạt nhân, quan trọng vì Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đặc biệt là Đảng lãnh đạo, giới thiệu những đảng viên ưu tú của mình ứng cử vào các vị trí chủ chốt của Nhà nước và cả hệ thống chính trị.

Xây dựng Đảng phải gắn liền với xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; bởi lẽ, chỉ khi nào Nhà nước mạnh, liêm chính, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội phát huy mạnh mẽ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình thì mới đưa được những đường lối, chủ trương của Đảng vào cuộc sống. Nói cách khác, Đảng muốn vững mạnh và thể hiện được vai trò lãnh đạo toàn diện của mình thì Nhà nước cũng phải được xây dựng vững mạnh, liêm chính, vì Nhà nước chính là người thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, đưa các quyết sách lãnh đạo của Đảng thành chính sách, pháp luật, chương trình, kế hoạch cụ thể, sát hợp với thực tiễn phát triển đất nước. Cũng như vậy, Đảng và Nhà nước chỉ vững mạnh, hoàn thành được nhiệm vụ của mình khi và chỉ khi có Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội phát huy hết vai trò, trách nhiệm, cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thành hành động thực tế của nhân dân, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân và bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh còn giúp cho Đảng có được mối quan hệ mật thiết với nhân dân, khơi dậy tiềm năng sáng tạo, khát vọng phát triển vì một Việt Nam hùng cường, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, khuyến khích, động viên nhân dân tích cực tham gia xây dựng Đảng và Nhà nước; đáp ứng ngày càng tốt hơn sự kỳ vọng, xứng đáng với sự gửi gắm niềm tin của nhân dân.

Như vậy, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là yêu cầu quan trọng, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng, góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tính đồng bộ, sự phù hợp giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, đưa nước ta phát triển nhanh, bền vững. Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, do vậy, là nhân tố quyết định tạo nên những thắng lợi, thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới ở Việt Nam trong suốt 35 năm qua.


VUI TẾT ĐOÀN VIÊN KHÔNG QUÊN NHIỆM VỤ MỚI

 


 

 

Thế là Tết Nhâm Dần đã về trên quê hương, đất nước thân yêu của chúng ta. Tết đoàn viên, Tết xum họp gia đình với bao niềm vui, cảm hứng mới. Chúng ta vui Xuân đón Tết Nhâm Dần trong niềm vui lâng lâng, thật tự hào về Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, nhân dân ta anh hùng, chiến sĩ ta dũng cảm. Khác trước đây, năm nay chúng ta vui Xuân, đón Tết Nhâm Dần trong bối cảnh đặc biệt. Nước ta chịu sự tác động mạnh mẽ của đại dịch Covid-19.

May mắn thay, niềm vui vẫn còn ở lại trên đất nước Bác Hồ, vào cuối năm 2021, cơn lốc Covid-19 cơ bản đã bị chặn đứng ở Việt Nam bởi sự kiểm soát nghiêm ngặt, chặt chẽ, bài bản của cả hệ thống chính trị. Chúng ta nhẹ nhõm, thở phào và tin tưởng rằng, không ai có thể xuyên tạc sự thật: Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự đồng tâm hiệp lực cùng vào cuộc quyết liệt của Nhà nước, của các cấp, các ngành và 63 địa phương cùng với quân đội, công an, qua bốn lần “chung sức đồng lòng” chống giặc dịch, bằng nhiều chủ trương, biện pháp, chúng ta đã chặn lại sự lây lan của dịch bệnh, bước vào cuộc sống bình thường mới. Thế là, kết thúc năm 2021, chúng ta cơ bản đã đạt “mục tiêu kép”: vừa chống dịch Covid-19, vừa hoàn thành phần lớn các mục tiêu, chỉ tiêu mà Quốc hội, Nhà nước đặt ra cho năm 2021. Kinh tế tăng trưởng đáng mừng so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam tăng đạt 2,85%. Mọi mặt của đời sống xã hội đều khởi sắc, báo tin vui, ghi những dấu ấn tốt đẹp, rất đáng mừng để chúng ta tự tin bước vào năm 2022, đón Tết Nhâm Dần. Năm mới suy ngẫm về chuyện cũ, so với các năm trước đây và nhìn sang các nước trong khu vực, thấy đất nước ta chưa bao giờ có được cơ ngơi, tiền đồ, sức mạnh to lớn như ngày nay. Uy tín, vị thế của Đảng, của nước ta không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vững tin thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2022, chào mừng 92 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; tiễn năm Tân Sửu đầy khó khăn, vất vả và vui mừng đón Xuân, đón Tết Nhâm Dần với niềm tin, hy vọng tốt đẹp trong năm mới.

Thế nhưng, một số người bất mãn với Đảng ta lại tỏ thái độ “hằn học”, “bất an”, không vui với những kết quả to lớn mà chúng ta đạt được, thậm chí còn “đội mũ ni che tai”, nhắm mắt làm ngơ, quay lưng lại với thực tại, không thừa nhận sự thật là toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã rất cố gắng trong lao động sản xuất, xây dựng và bảo vệ đất nước, kết quả đấu tranh phòng, chống dịch Covid-19, phát triển kinh tế – xã hội, tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; tạo ra môi trường hòa bình, ổn định để đầu tư, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tạo đà bước sang năm mới 2022. Điều đó đã làm cho các thế lực thù địch càng thêm bực tức, căm phẫn và vô cùng thất vọng.

Với nhiều mưu mô, chiêu trò quỷ quái nhằm chống phá, cản trở nhân dân ta triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhưng đến giờ phút này, năm 2022 đã đến, chúng ta khẳng định rằng các thế lực thù địch đã hoàn toàn bất lực, âm mưu, thủ đoạn chống phá của chúng đã sụp đổ, mặc dù chúng lắm mưu mô xảo quyệt, triệt để khai thác, sử dụng internét, mạng xã hội: facebook, youtube, zalo, viber và các phương tiện truyền thông như Đài BBC, VOA, RFA, RFI… với tần xuất lớn để gây rối, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Rõ ràng, làm những công việc đen tối ấy, chúng đã bán rẻ lương tâm, danh dự, làm tay sai cho địch, phản bội nhân dân chỉ vì đồng tiền, vì muốn thỏa mãn lợi ích cá nhân mà đánh mất nhân tính, bôi đen sự thật, bóp méo tình hình, xuyên tạc lẽ phải, nói xấu, vu khống, hạ thấp uy tín của Đảng, danh dự của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Quân đội, Công an…, những người đang gánh trên vai trách nhiệm vô cùng to lớn: Lãnh đạo, chỉ đạo nhân dân, cán bộ, chiến sĩ vượt qua mọi khó khăn, thử thách để đất nước an lành, vững bước tiến lên, có Xuân, có Tết, có thành tựu mới. Phải chăng, chúng không còn trái tim con người, lương tâm đã biến mất, không hề bị cắn dứt khi bôi nhọ danh dự những cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh vì dân vì nước. Lẽ ra, là người Việt Nam, có cội nguồn gốc dễ dân tộc, là con Lạc cháu Rồng, chúng phải đau với nỗi đau của đất nước, của nhân dân; phải vui mừng, phấn khởi khi đất nước vào Xuân mới, nhân dân có Tết đoàn viên, xum họp; phải vui khi nhìn thấy bộ mặt đất nước đang từng ngày, từng giờ thay da đổi thịt. Nhưng không, những kẻ này đã bị mua chuộc, theo đuôi bọn xấu, nhúng tay vào chàm, làm những việc hèn hạ, đầy tội ác, cản đường, chống Đảng, hại dân, hại nước. Những lời nói nhảm nhí, xằng bậy, những tin xấu, độc của chúng đã tung lên mạng xã hội, vậy chúng nhằm mục đích gì? Nếu không phải là gây rối, khiêu khích, phá Đảng, làm vẫn đục bầu không khí chính trị trong lành ở nước ta? Trong những ngày bình thản vui Xuân, xum họp gia đình trong dịp Tết Nhâm dần, chúng ta nhìn về 35 năm trước đây, khi Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới mà thấy nao lòng, vô cùng xúc động. Thêm vui vì đất nước đổi mới, cũng buồn vì trên đất nước ta còn có không ít kẻ xấu điên cuồng chống đối, cản trở Đảng ta với các chiêu trò bỉ ổi, hèn hạ, nhưng rốt cuộc, chúng chỉ rước vào thân nỗi đau, sự nhục nhã của kẻ phản bội Đảng, hại dân, hại nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, quân và dân ta đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách, giành những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đó là sự thật không thể chối cãi được, bất cứ ai có lương tâm, danh dự cũng phải thừa nhận sự thật ấy.

Thế mà chúng lại khước từ sự thật ấy, trà đạp lên những cố gắng của gần 100 triệu dân Việt Nam ngày đêm nỗ lực phấn đấu. Chúng không dám mở lòng, mắt to đôi mắt để nhìn cho tường tận, hiểu cho thấu đáo sự thật; vẫn “ngựa quen đường cũ”, nhai lại cái điệp khúc chống phá Đảng; cản trở nhân dân triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, bày đặt các chiêu trò cắt dán, lắp ghép, tung tin, vu khống, nói xấu cán bộ, hạ thấp uy tín đồng chí Tổng Bí thư của Đảng ta và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Việc làm đó là ngang trái, thật dã man, là tội ác. Chúng tưởng rằng làm cái chiêu trò đen tối, bỉ ổi ấy chúng sẽ mê hoặc, lôi kéo, làm dao động lòng người, hạ thấp lòng tin của nhân dân ta vào nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, là thực hiện được tham vọng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, ngăn chặn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Rõ ràng là, chúng đã xuyên tạc sự thật ở Việt Nam một cách trắng trợn, bằng cách “vơ đũa cả nắm” cốt để làm rối beng tình hình, gây bất ổn cho chế độ ta, tạo thêm áp lực cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Sự lợi dụng hèn hạ internét, mạng xã hội để phê phán, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đã chọn; xuyên tạc đường lối, chính sách đổi mới của Đảng, Nhà nước ta là rất đáng phê phán. Điều hết sức nguy hiểm là các quan điểm sai trái này bằng nhiều hình thức đã được phát tán, lan truyền rất nhanh trên mạng xã hội, đang gieo rắc hoang mang, hoài nghi cho nhiều người, để lại những hậu quả khôn lường, không thể xem thường. Thật nực cười, ngồi bên phương trời Tây nhưng chúng lại xía vào bàn luận các câu chuyện của Việt Nam hiện tại, đưa ra các nhận định, đánh giá theo kiểu đoán mò về tình hình Việt Nam. Làm việc đó, chúng muốn tạo nên sự “diễn biến từ bên trong” xã hội ta, trước hết là diễn biến về nhận thức, tư tưởng; từ đó dẫn đến những diễn biến về mặt khác: phá hoại Nghị quyết Đại hội XIII, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì sao chúng lại điên cuồng chống chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chống Đảng ta một cách quyết liệt như vậy? Hẳn là chúng ý thức rất rõ sức sống mãnh liệt cũng như sự nguy hiểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự tồn tại, phát triển và lợi ích của chúng, nhất là khi chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta. Hẳn là chúng hiểu rằng, chừng nào còn có chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thì chừng ấy còn có Đảng ta, còn có các kỳ Đại hội Đảng…, còn có cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống lại chúng, tất yếu sẽ tiêu diệt chúng; chủ nghĩa xã hội tất yếu sẽ được xây dựng thành công ở Việt Nam. Do đó, chúng hết chỗ tồn tại, sẽ bị diệt vong. Rõ là, sự tồn tại, phát triển của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là hoàn toàn có hại cho chúng, hẳn là chúng không mong muốn mình có kết cục “bi thảm” như thế nên chúng không thể ngồi nhìn sự “chết dần, chết mòn” của mình, chúng không thể “chịu đựng nổi” uy tín và vai trò ngày càng tăng lên của Đảng, chúng phải chống Nghị quyết Đại hội XIII; ngăn chặn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Chúng tự cho mình cái quyền quy kết, buộc tội Đảng ta “thiếu tầm tư duy chiến lược”, “không chịu đổi mới” rồi đồng thanh la ó rằng “Việt Nam đang đi vào ngõ cụt”, “Đảng Cộng sản Việt Nam lúng túng, bế tắc”. Thế mà cả thế giới khâm phục, ngưỡng mộ Việt Nam, ca ngợi Đảng, Nhà nước ta. Là người Việt Nam, ít nhất chúng cũng phải hiểu được đạo lý “đất có lề, quê có thói”, ra đời ăn cơm góp thiên hạ, lẽ ra chúng phải biết rõ mỗi chế độ, mỗi nước, có ngày lễ tết của dân tộc mình, sao lại học đòi phương Tây, bắt chước “người ta” chống đối nhân dân ta đón Tết vui Xuân, xum họp đoàn viên gia đình. Chúng còn có não bộ, có lương tâm, danh dự, nhân cách của một con người hay không? Với tham vọng “mưa dầm thấm sâu”, “nước chảy đá mòn”, chúng nhiều lần đưa ra các luận điệu chống chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho một số người nhẹ dạ, cả tin “tán thưởng, hùa theo”, nói xấu, xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, ca ngợi chủ nghĩa tư bản. Để những người này tỉnh ngộ, nhận thức ra lẽ phải, trong công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, chúng ta cần làm rõ bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò và sứ mệnh lịch sử của Đảng ta; giá trị, ý nghĩa của việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Đồng thời, phải có biện pháp nghiêm trị những kẻ sai phạm, phản bội dân tộc, chống Đảng, phá Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, cản trở công cuộc đổi mới của nhân dân ta. Đây là một “liều thuốc đặc biệt” có thể cắt đứt “căn bệnh hoang tưởng”, sự xảo trá của những người ảo tưởng về lòng tốt, đức tính “nhân từ”, “bác ái” của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa cá nhân; là cái cách tốt nhất để cắt cái đuôi của những kẻ xấu đang a dua, tòng phạm với các thế lực thù địch chống Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Chủ trương, đường lối của Đảng đúng hay sai, thực tiễn đời sống xã hội Việt Nam và sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân dành cho Đảng ta mới là sự trả lời trung thực, khách quan nhất./.