Thứ Hai, 7 tháng 2, 2022

Chủ nghĩa xã hội: Một xã hội mới về chất

 Với bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã giới thiệu cho chúng ta một công trình có giá trị to lớn, không chỉ đối với Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam, mà còn thể hiện giá trị khoa học, góp phần cho cuộc đấu tranh giai cấp trên toàn thế giới. Ngay từ đầu bài viết của mình, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặt ra 4 câu hỏi mấu chốt để người đọc có thể hiểu được thực trạng của tiến trình cách mạng Việt Nam và lần lượt giải đáp chúng xuyên suốt bài viết của mình. Đó là các câu hỏi:

- Chủ nghĩa xã hội là gì?

- Vì sao Việt Nam lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa?

- Cách thức xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam?

- Thực tiễn của công cuộc đổi mới và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua có ý nghĩa như thế nào và đặt ra những vấn đề gì?

Bằng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, từ “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, năm 1848) cho đến nay, những câu hỏi này chứa đựng những khái niệm lý luận chung về chủ nghĩa xã hội, là mục tiêu đấu tranh của các tầng lớp lao động ở tất cả các quốc gia; đồng thời, cũng bao hàm trách nhiệm của mỗi đảng cộng sản và công nhân theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong việc tìm kiếm những cách thức phù hợp để giành chính quyền và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, xã hội cộng sản ở nước mình.

Với khu vực Mỹ La-tinh, mối quan hệ biện chứng giữa các quy luật của chủ nghĩa xã hội khoa học và ứng dụng vào thực tiễn tại mỗi quốc gia đã được nhà mác-xít José Carlos Mariátegui, người sáng lập Đảng Cộng sản Pê-ru, nêu bật vào năm 1928, như sau: Chúng ta chắc chắn không muốn chủ nghĩa xã hội chỉ là một bản sao. Đó phải là sự sáng tạo anh hùng. Chúng ta cống hiến cuộc sống, với nỗ lực và bằng nhiệt huyết của chúng ta, cho chủ nghĩa xã hội. Đây là một sứ mệnh đúng đắn của một thế hệ mới.

Trình bày tường tận quá trình phát triển của mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ khó khăn nhưng cần thiết, nhất là khi các yếu tố xác định trong lịch sử vẫn chưa thống nhất, trong khi mô hình này vẫn tiếp tục có những sự bổ sung cần thiết trong thời đại bùng nổ của khoa học - công nghệ như hiện nay.

Đó là vấn đề của cuộc đấu tranh giai cấp ở mọi thời đại và dưới mọi hình thức phổ biến. Và đương nhiên, đó là trường hợp của chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mà đồng chí Nguyễn Phú Trọng trình bày với chúng ta, với những suy nghĩ và định hướng của mình, trong một tác phẩm ấn tượng và có tính gợi mở về quá trình chuyển biến chính trị của một dân tộc có điểm xuất phát thấp về kinh tế, lại phải trải qua những cuộc đấu tranh trường kỳ chống thực dân, đế quốc xâm lược; qua đó, đã thể hiện khát vọng của nhân dân Việt Nam, quyết tâm đấu tranh giành độc lập, chủ quyền, vì một tương lai tươi sáng.

Trong tiến trình cách mạng, đặc biệt là từ năm 1986, với việc Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua đường lối đổi mới, đã khơi dậy niềm tin trong toàn Đảng và dân tộc Việt Nam vào những đổi thay mang tính cách mạng. Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa V tại Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Thái độ của Đảng ta trong việc đánh giá tình hình là nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật. Cùng với việc đánh giá đúng những thành tích đạt được, ở Đại hội này, chúng ta chú trọng kiểm điểm những mặt yếu kém, phân tích sâu sắc những sai lầm và khuyết điểm, vạch rõ nguyên nhân, nêu ra biện pháp khắc phục, xác định nhiệm vụ và mục tiêu phấn đấu cho những năm còn lại của chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ”.

Trở lại vấn đề, tác phẩm của đồng chí Nguyễn Phú Trọng có một đặc điểm tuyệt vời, không chỉ đơn thuần nêu ra các giai đoạn hình thành, mà còn khơi dậy sự suy ngẫm của người đọc bằng cách đi sâu vào những yếu tố tạo nên cấu trúc và sức mạnh của cách mạng Việt Nam, với các nội dung được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh từ thực tiễn cách mạng Việt Nam; vì thế, tác phẩm này là tài liệu tham khảo cho tất cả các dân tộc trên thế giới đang phải gánh chịu hậu quả của chủ nghĩa bá quyền về chính trị và kinh tế, sự chối bỏ cội nguồn, tự do, nhân phẩm và phẩm giá quốc gia.

Giả định rằng, quá trình tiến lên chủ nghĩa xã hội ngày càng nhanh khi phong trào bắt đầu đạt được một số mục tiêu và khơi dậy được cảm xúc của những người bị ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp bởi hiện thực, tác phẩm này đã phản ánh sự khởi đầu, nguồn gốc thực sự của tiến trình; đồng thời, chỉ rõ những thế lực không muốn từ bỏ không gian quyền lực của chúng.

Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội còn nhiều chông gai, nhưng đó là con đường khả dĩ duy nhất của loài người. Tháng 3-1850, C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã khẳng định trong Lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương gửi Liên đoàn những người cộng sản: “Đối với chúng ta, vấn đề không phải là làm thay đổi chế độ tư hữu, mà là thủ tiêu chế độ đó, không phải là xóa nhòa các mâu thuẫn giai cấp, mà là thủ tiêu các giai cấp, không phải là hoàn thiện xã hội hiện tồn, mà là xây dựng một xã hội mới”.

Theo đó, có thể thấy, bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bắt đầu từ điểm mà những người theo chủ nghĩa Mác nên tập trung, đó là phân tích nền móng kinh tế tư bản và nghiên cứu chủ nghĩa tư bản. Điều này chắc chắn dẫn chúng ta đến một kết luận khoa học rằng, bên trong chủ nghĩa tư bản vốn được xây dựng với những đặc quyền dành cho tầng lớp tư sản, không có giải pháp nào cho các vấn đề, nhu cầu và nguyện vọng của nhân dân lao động, cả ở thành thị và nông thôn. “Cùng với khủng hoảng kinh tế - tài chính là khủng hoảng năng lượng, lương thực, sự cạn kiệt của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái của môi trường sinh thái... đang đặt ra những thách thức vô cùng lớn cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại. Đó là hậu quả của một quá trình phát triển kinh tế - xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội”.  

Là một nhà mác-xít uyên thâm, đồng chí Nguyễn Phú Trọng lý giải những đặc trưng cơ bản của phương thức sản xuất và tiêu dùng tư bản chủ nghĩa trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đặc biệt là việc chủ nghĩa tư bản đề cao lợi nhuận cá nhân làm mục tiêu của cuộc sống, “coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội”.

Với cuộc khủng hoảng chung của chủ nghĩa tư bản, đồng thời bị ảnh hưởng bởi đại dịch, rõ ràng hệ thống này không còn bền vững, cả về kinh tế, xã hội và sinh thái. Đó là một chân lý, đã được nữ cộng sản người Đức Rosa Luxemburg trình bày trong tác phẩm “Chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa man rợ?”.

Với chính sách đổi mới, Việt Nam đã cho thấy, dù trong những hoàn cảnh hết sức bất lợi, nhưng với quyết tâm và có chính sách đúng đắn, cũng có thể xây dựng được một đất nước thịnh vượng của dân, do dân và vì dân - yếu tố cốt lõi nhất của một nền dân chủ thực sự, chỉ có thể tồn tại trong chủ nghĩa xã hội.

Trong số những điểm mạnh tuyệt vời của bài viết, tôi muốn làm nổi bật bốn chủ đề chính:

1- Đồng chí Nguyễn Phú Trọng đánh giá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là phương pháp khoa học duy nhất để giải quyết những thách thức của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam, bất chấp sự tấn công trên nhiều phương diện của kẻ thù - giai cấp tư sản - và những khó khăn của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một số nước, bên cạnh những chiến thắng tạm thời của kẻ thù giai cấp ở những nước khác. Đồng chí chỉ rõ, chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải được củng cố vững chắc, bổ sung và phát triển trên cơ sở lý luận khoa học, cách mạng và thực tiễn của giai cấp công nhân và quần chúng lao động.

Điều đó là bởi: “Tính khoa học và cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững, đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Nó sẽ còn tiếp tục phát triển và có sức sống trong thực tiễn cách mạng cũng như trong thực tiễn phát triển của khoa học. Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống”.

2- Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bày tỏ một cách chân thành với những thông tin chính xác tuyệt đối để phân tích rằng, đường lối đổi mới của Việt Nam đã tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực kinh tế và xã hội; và cách mà Việt Nam đối mặt với những thách thức cả về lý luận và thực tiễn hiện nay, với những đặc điểm sai lầm, thành công và cả những rủi ro.  

Đồng chí giải thích, đường lối đổi mới thể hiện một bước đột phá lý luận hết sức sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, khi phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, gắn phát triển kinh tế với phát triển xã hội, gắn chính sách kinh tế với chính sách xã hội; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế song hành với thực hiện công bằng xã hội trong suốt quá trình phát triển; nhấn mạnh rằng không nên chờ đợi đến khi nền kinh tế đạt được trình độ phát triển cao thì mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không nên “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để theo đuổi tăng trưởng kinh tế như là mục tiêu cao nhất.

Ngược lại, về mặt biện chứng, mỗi chính sách kinh tế phải định hướng cho mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội cần hướng tới tạo động lực thúc đẩy kinh tế phát triển; khích lệ làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững, quan tâm giúp đỡ những người có công với đất nước và những người có hoàn cảnh khó khăn. Đây là điều kiện tiên quyết để bảo đảm sự phát triển của đất nước lành mạnh, bền vững và theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thể hiện bản chất của chế độ.

Đồng thời, bài viết cũng cảnh báo rằng: “Ý thức được nguy cơ đối với đảng cầm quyền là tham nhũng, quan liêu, thoái  hóa..., nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường, Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ra yêu cầu phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, thoái hóa,... trong nội bộ Đảng và trong toàn bộ hệ thống chính trị”.

3- Một điểm quan trọng nữa của bài viết là đã nhấn mạnh, để quá độ thành công lên chủ nghĩa xã hội thì vai trò tiên phong của Đảng Cộng sản Việt Nam theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin là hết sức cần thiết: “Nhận thức sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa”.

Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, chúng tôi nhấn mạnh rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam. Từ thực tiễn hoạt động, như một hệ quả lô-gíc, có thể thấy rằng Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tồn tại và phát triển vì lợi ích của giai cấp công nhân, của quần chúng nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền được toàn thể nhân dân công nhận là đội tiên phong, vì vậy, Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam.

Trong bài viết của đồng chí Nguyễn Phú Trọng có đoạn: “Đảng ta nhận thức rằng, hiện nay Việt Nam đang trong quá trình xây dựng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong thời kỳ quá độ, các nhân tố xã hội chủ nghĩa được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa, gồm cả các nhân tố tư bản chủ nghĩa trên một số lĩnh vực. Sự đan xen, cạnh tranh này càng phức tạp và quyết liệt trong điều kiện cơ chế thị trường và mở cửa, hội nhập quốc tế. Bên cạnh các mặt thành tựu, tích cực, sẽ luôn có những mặt tiêu cực, thách thức cần được xem xét một cách tỉnh táo và xử lý một cách kịp thời, hiệu quả. Đó là cuộc đấu tranh rất gay go, gian khổ, đòi hỏi phải có tầm nhìn mới, bản lĩnh mới và sức sáng tạo mới. Đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình không ngừng củng cố, tăng cường, phát huy các nhân tố xã hội chủ nghĩa để các nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và chiến thắng. Thành công hay thất bại là phụ thuộc trước hết vào sự đúng đắn của đường lối, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng”.

4- Xuyên suốt bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng toát lên tinh thần lạc quan vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, tin tưởng vào sự đúng đắn của con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Đồng chí Nguyễn Phú Trọng nhớ lại những năm chiến tranh liên miên khiến đất nước Việt Nam bị tàn phá nặng nề. Mười năm sau ngày chiến thắng là thời điểm khó khăn và cam go nhất của Việt Nam, với hậu quả nặng nề của chiến tranh kéo dài, việc thiếu kinh nghiệm quản lý kinh tế và những khó khăn xuất phát từ chính cơ chế quản lý kinh tế tại thời điểm đó. Chỉ riêng việc giữ vững nền kinh tế đất nước trong những ngày tháng đó đã là chiến công không thể phủ nhận của cả một dân tộc có bản lĩnh sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do.

Đồng chí Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, xây dựng chủ nghĩa xã hội là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội. Vì vậy, bên cạnh việc xác định chủ trương, đường lối đúng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Nhân dân tiếp nhận, ủng hộ và nhiệt tình tham gia thực hiện đường lối của Đảng vì thấy đường lối đó đáp ứng đúng yêu cầu, nguyện vọng của mình. Sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của thắng lợi, của phát triển”./.

(Nguồn: Bài viết của đ/c CAROLUS WIMMER TS, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Vê-nê-xu-ê-la được dịch đăng trên tapchicongsan.org.vn).

CẢ LIÊN HỢP QUỐC GẬT ĐẦU NỂ PHỤC KHI ĐẠI SỨ ANH NÓI VỀ NHỮNG THÀNH TÍCH CỦA VIỆT NAM TRONG NHIỆM KỲ 2020-2021 VỚI VAI TRÒ ỦY VIÊN KHÔNG THƯỜNG TRỰC HỘI ĐỒNG BẢO AN LIÊN HỢP QUỐC


          Khép lại một năm 2021 đầy khó khăn và thách thức đối với Việt Nam và thế giới. Thế nhưng một tổ chức trên thế giới lại vô cùng “nhớ” con số 2021 đó là Liên Hợp Quốc. Cụ thể kể từ thời khắc 0h ngày 01/01/2022, Việt Nam chính thức kết thúc nhiệm kỳ 2 năm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Một nhiệm kỳ mà Việt Nam được đánh giá là có những cống hiến ấn tượng hơn bất kỳ quốc gia nào từng ngồi ở vị trí này. Vậy Việt Nam đã làm được những gì mà khiến cho Liên Hợp Quốc phải tiếc nuối đến như vậy?

          Hội đồng Bảo an LHQ là một trong 6 cơ quan chính của LHQ có nhiệm vụ duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, chấp nhận các thành viên mới vào LHQ và phê chuẩn thay đổi với Hiến chương LHQ. Có thể nói quyền hạn của cơ quan này là khá lớn, bao gồm việc thiết lập các hoạt động gìn giữ hòa bình, các biện pháp trừng phạt quốc tế và chấp nhận hành động quân sự thông qua các nghị quyết. Việt Nam từng là ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm kỳ 2008-2009. Ở nhiệm kỳ này, Hà Nội đã được Washington hết lời ca ngợi vì những đóng góp tích cực về các vấn đề then chốt như không phổ biến vũ khí hạt nhân và chống khủng bố.

          Chính vì vậy, không khó hiểu khi mà trước nhiệm kỳ 2020-2021, Việt Nam đã nhận được tới 192/193 phiếu ủng hộ, điều đáng nói là trong lịch sử 75 năm phát triển của Liên Hợp Quốc, đây là con số kỷ lục. Ở thời điểm đó, báo giới và dư luận thế giới đã đánh giá cao uy tín, vị thế đang lên của Việt Nam. Có rất nhiều cụm từ mà các nhà báo xướng lên như: “Một nơi tuyệt vời”, “Một đất nước tươi đẹp, an toàn, thân thiện, mến khách”, “Một đất nước năng động, phát triển”, “là đối tác tin cậy vì một nền hòa bình bền vững”.

          Đại sứ Barbara Woodward, Trưởng phái đoàn thường trực Vương quốc Anh tại Liên hợp quốc, nhận định “những đóng góp của Việt Nam trong hai năm qua tại Hội đồng Bảo an hết sức có giá trị bởi Việt Nam phải trực tiếp tham gia giải quyết nhiều vấn đề quan trọng, nhưng không phải lúc nào cũng dễ nhìn thấy ở bề nổi, ví dụ như vấn đề vai trò của phụ nữ đối với hòa bình và an ninh, bảo vệ dân thường trong xung đột, hay hành động giải quyết vấn đề bom mìn. Tất cả những vấn đề này đều rất quan trọng đối với hòa bình và an ninh thế giới”. Bà cho rằng nếu không có Việt Nam thúc đẩy những vấn đề này, rất có thể Hội đồng Bảo an lại đi chệch hướng trong việc nhìn nhận và giải quyết những vấn đề cấp thiết như thế.

          Đại sứ T.S Tirumurti, Trưởng phái đoàn thường trực Ấn Độ tại Liên hợp quốc, đánh giá “Việt Nam đã đóng vai trò rất tích cực trong Hội đồng Bảo an, đặc biệt trong hai tháng đảm nhiệm vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an. Việt Nam đã thúc đẩy được các vấn đề quan trọng như bảo vệ cơ sở hạ tầng trong xung đột, vấn đề bom mìn, hợp tác giữa Liên hợp quốc và các tổ chức khu vực.” Ông cho rằng Việt Nam, với tư cách thành viên ASEAN, đã đóng góp quan điểm mang tính khu vực hết sức quan trọng tại các phiên thảo luận của Hội đồng Bảo an, nhất là trong vấn đề Myanmar.

          Đại sứ Abdou Abarry - Trưởng phái đoàn thường trực Niger tại Liên hợp quốc, nước Chủ tịch Hội đồng Bảo an tháng 12/2021 - cho biết “các nước châu Phi trong Hội đồng Bảo an rất cảm ơn sự hỗ trợ và ủng hộ của Việt Nam khi Hội đồng Bảo an thảo luận và đưa ra các quyết sách liên quan tới các vấn đề của châu Phi”. Ông cũng đánh giá cao Việt Nam đã luôn có tiếng nói mạnh mẽ tại Hội đồng Bảo an trong những vấn đề mang tính cấp thiết như khủng hoảng nhân đạo, tình trạng nước biển dâng hay xung đột mới nổi. Việt Nam cũng là 1 trong những ít nước có sự xuất hiện của những nữ quân nhân trong trang phục mũ nồi xanh đang làm nhiệm vụ giữ gìn hòa bình tại Châu Phi.

          Phó Tổng Thư ký Liên hợp quốc Jean- Pierre Lacroix, người đứng đầu các hoạt động hòa bình của Liên hợp quốc, cũng dành nhiều lời khen ngợi cho Việt Nam bởi những đóng góp của Việt Nam kể từ khi tham gia vào lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc vào năm 2014, đặc biệt là những nỗ lực trong suốt hai năm qua khi Việt Nam làm ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an. Ông đánh giá cao tính hiệu quả của việc Việt Nam tham gia cung cấp bệnh viện dã chiến cấp 2 ở Nam Sudan bởi đây chính là năng lực mà Liên hợp quốc cần có và cần các nước thành viên Liên hợp quốc đóng góp, đặc biệt ở những khu vực xung đột nguy hiểm. Phó Tổng thư ký tin tưởng Việt Nam có đủ năng lực để tham gia mạnh mẽ hơn nữa vào công tác gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc trong những năm tới.

          Với việc hoàn thành xuất sắc nhiệm thứ hai ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc 2020-2021, Việt Nam đã đáp ứng kỳ vọng của bạn bè quốc tế vốn luôn ủng hộ và tin tưởng.

          Thành công của Việt Nam trong nhiệm kỳ này một lần nữa làm sâu sắc thêm tình cảm và sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế dành cho Việt Nam, qua đó nâng cao hơn nữa hình ảnh và vị thế của nước ta trong mắt bạn bè quốc tế.

         

ĐẢNG, BÁC HỒ VÀ KHÁT VỌNG ĐI TỚI NHỮNG MÙA XUÂN HẠNH PHÚC


          Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đầu năm 1930 thổi bùng ngọn lửa khát vọng giải phóng và phát triển đã ấp ủ, thai nghén trong chiều dài hàng nghìn năm lịch sử, đặc biệt những năm đầu thế kỷ XX. Vừa ra đời trong một hoàn cảnh vô cùng khó khăn vì chính sách khủng bố dã man của thực dân Pháp, nhưng Đảng ta đã lãnh đạo ngay cuộc đấu tranh kịch liệt chống thực dân Pháp. Cuộc đấu tranh đó cao đến tột bậc trong những ngày Xôviết Nghệ Tĩnh.

          Xôviết Nghệ Tĩnh bị thất bại, nhưng đã có ảnh hưởng lớn. Tinh thần quật cường, anh dũng luôn luôn nồng nàn trong tâm hồn quần chúng và đã mở đường cho thắng lợi về sau. Những cuộc đấu tranh do Đảng ta lãnh đạo ngay từ khi vừa ra đời cho thấy lòng dân được ý Đảng củng cố, nâng cao và mở ra truyền thống ý Đảng - lòng dân, lòng dân - ý Đảng trong các thời kỳ cách mạng tiếp theo.

          Năm 1941, Hồ Chí Minh về nước mang theo khát vọng độc lập dân tộc đi tới chủ nghĩa xã hội từ mùa Xuân Canh Ngọ. Khát vọng đó được thể hiện trong Nghị quyết Trung ương VIII (tháng 5/1941). Hồ Chí Minh và Đảng ta quyết định thay đổi chiến lược, lập Mặt trận Việt Minh để thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc đi tới cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhưng vấn đề cần kíp trước mắt là dân tộc giải phóng.

          Tài trí và bản lĩnh của Đảng và Hồ Chí Minh thể hiện ở chỗ “bước một bước ngắn hơn để có sức mà bước một bước dài hơn”. Cũng nhờ thế mà tạo ra một bước nhảy vọt chưa từng thấy theo tinh thần của Mác “hai mươi năm biến chuyển trong ngày thường không bằng ba tháng cách mạng”. Bước nhảy vọt đó chính là lòng dân, trí dân, sức dân được Đảng quy tụ thành quyết tâm, tín tâm, đồng tâm với lời hiệu triệu của Hồ Chí Minh “Dân ta xin nhớ chữ đồng/ Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”, để rồi “dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng kiên quyết giành cho được độc lập”.

          Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả dân tộc vùng lên “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Không phải ba tháng mà chỉ trong chưa đầy hai tuần, từ ánh sáng mùa Xuân dẫn đến thắng lợi mùa Thu. Cách mạng Tháng Tám thắng lợi “biến người nô lệ thành người tự do”. Nhân dân ta “rũ bùn đứng dậy chói lòa”, làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân.

          Khát vọng mùa Xuân Canh Ngọ năm 1930 chỉ sau mười lăm năm đã được thực hiện một phần cơ bản. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi mà đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.

          Cách mạng thắng lợi, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Cùng với ngọn đuốc soi đường của Cương lĩnh mùa Xuân Canh Ngọ năm 1930, Tết Độc lập Bính Tuất đầu tiên năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mang mùa Xuân đến cho toàn dân với tinh thần “Muôn việc đều tiến tới. Kiến quốc chóng thành công. Kháng chiến mau thắng lợi”. Và cứ thế, mỗi độ Xuân về, Bác lại chuyển tải thông điệp, truyền cảm hứng và khát vọng mùa Xuân.

          Tết Đinh Hợi năm 1947 mang không khí mùa Xuân “Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió. Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông. Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến. Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng… Sức ta đã mạnh, người ta đã đông. Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi! Thống nhất độc lập, nhất định thành công”.

          Tết Mậu Tý năm 1948 là mùa Xuân “Toàn dân đại đoàn kết. Cả nước dốc một lòng. Thống nhất chắc chắn được. Độc lập quyết thành công”. Tết Kỷ Sửu năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh góp ý kiến tổ chức nhiều hình thức vui Tết lửa trại với cán bộ, nhân viên Văn phòng Phủ Chủ tịch ở Việt Bắc. Với đồng bào cả nước, Người chúc: “Người người thi đua. Ngành ngành thi đua. Ta nhất định thắng. Địch nhất định thua”.

          Tết Canh Dần năm 1950 mang khí thế một mùa Xuân “Chuyển mau sang tổng phản công. Kháng chiến nhất định thắng lợi”. Tết Tân Mão năm 1951 “Xuân này kháng chiến đã năm Xuân. Nhiều Xuân thắng lợi càng gần thành công”. Xuân Nhâm Thìn 1952 “Chiến sĩ thi giết giặc. Đồng bào thi tăng gia. Năm mới thi đua mới. Thắng lợi ắt về ta”. Tết Xuân Qúy Tỵ 1953, Bác chúc “Mừng hậu phương phấn khởi. Mừng tiền tuyến toàn quân. Thi đua chiến thắng mới”.

          Tết Xuân Giáp Ngọ 1954, Bác chúc “Kháng chiến, kiến quốc nhất định thành công”. Nhờ sự đoàn kết chặt chẽ của quân và dân dưới lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, chúng ta đã đại thắng ở Điện Biên Phủ. Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh.

          Mười lăm năm tiếp theo khi cả nước phải tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ cách mạng, mỗi độ Tết đến Xuân về, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại mang khát vọng mùa Xuân đến cho đồng bào và chiến sĩ cả nước. Trong đó, xúc động nhất là những năm cuối đời, khi Bác không còn khỏe, nhưng Người vẫn không quên gửi thư chúc mừng Xuân mới với niềm tin chắc thắng.

          Xuân Mậu Thân năm 1968, Người viết: “Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua. Thắng trận tin vui khắp nước nhà. Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ. Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!”. Xuân Kỷ Dậu năm 1969, Bác có thơ chúc Tết như một lời hịch chứa đựng trong đó một khát vọng, một quyết tâm, một niềm tin chắc thắng: “Năm qua thắng lợi vẻ vang. Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to. Vì độc lập, vì tự do. Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào. Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào. Bắc Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!”.

          Khi mùa Xuân vui nhất đến với chúng ta vào năm 1975, thống nhất đất nước, non sông thu về một mối, Bắc - Nam sum họp một nhà, thì Bác đã đi xa hơn 5 năm. Tuy đi xa nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn sống mãi trong sự nghiệp cách mạng của chúng ta.

          Từ năm 1975 đến nay, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, trong đó có hơn 35 năm đổi mới, Đảng và dân tộc ta quyết tâm xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại hội XIII khẳng định chúng ta đã đạt được được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Đất nước, xã hội và con người đều đổi mới. Những thành tựu to lớn đó có nhiều nguyên nhân, nhưng sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong đổi mới, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Nhờ đó, Đảng đã khơi dậy được sức mạnh của toàn dân tộc. Bài học “dân là gốc” được nhận thức và phát huy cao độ trong công cuộc đổi mới.

          Một dân tộc anh hùng, dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh, trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh tỏ rõ ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Chúng ta tin tưởng đất nước ta nhất định sẽ lập nên kỳ tích phát triển mới đưa Việt Nam sải bước cùng thời đại, sánh vai với các cường quốc năm châu, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ước vọng của toàn dân tộc ta.

          Khát vọng và niềm tin đó vang lên mạnh mẽ trong Diễn văn bế mạc Đại hội XIII Đảng Cộng sản Việt Nam, Đại hội diễn ra trước thềm Xuân Tân Sửu, mang theo điều tốt lành, với niềm tự hào và tin tưởng sâu sắc vào sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ và ý chí của toàn Đảng, toàn dân tộc ta, vào tương lai tươi sáng của đất nước: “Vinh quang đời đời thuộc về dân tộc Việt Nam văn hiến và anh hùng! Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm! Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm! Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!”.

 

Thực hành tín ngưỡng an toàn trong mùa dịch


          Đi lễ ở chùa, cơ sở tự viện hay tham gia các lễ hội đầu xuân là nhu cầu thực hành tín ngưỡng chính đáng của nhân dân, cũng là nét đẹp văn hóa truyền thống dân tộc đã được gìn giữ, duy trì qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên, trước các diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19, đặc biệt là sự xuất hiện biến thể siêu lây nhiễm Omicron, việc thực hành tín ngưỡng đòi hỏi cần có sự sắp xếp, điều chỉnh hợp lý để vừa đáp ứng nhu cầu tâm linh, vừa bảo đảm an toàn trong phòng, chống dịch.

          Nhiều người vẫn còn nhớ một năm trước, trong những ngày đầu năm mới, khi phải đối mặt với dịch Covid-19, với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, nhiều địa phương trên cả nước liên tiếp đưa ra các quyết định hoãn, hủy, thu hẹp quy mô, điều chỉnh cách thức tổ chức lễ hội trên địa bàn nhằm hạn chế nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh trong cộng đồng. Theo đó, hàng loạt lễ hội lớn như lễ hội Đền Trần, lễ hội Chùa Hương, lễ hội Đền Gióng, lễ hội Cổ Loa, lễ hội Đền Hùng, lễ hội Chùa Bái Đính, chùa Tam Chúc, cướp phết Hiền Quan, hội Lim, hội Đền Bà Chúa Kho, khai xuân Yên Tử… đã dừng tổ chức hoặc không tổ chức khai hội, hoặc chỉ tổ chức phần lễ, bỏ qua phần hội. Kết quả của các quyết định phù hợp này là lượng khách trảy hội đầu năm 2021 đã giảm hẳn so với các năm trước. Đồng thời, nhiều biểu hiện biến tướng, lệch chuẩn về niềm tin tín ngưỡng vốn năm nào cũng xuất hiện ở các lễ hội và bị phê phán rất mạnh mẽ như mê tín dị đoan, trục lợi tâm linh, thương mại hóa lễ hội, chèo kéo, hét giá người dự hội, kích động bạo lực,… cũng giảm đáng kể. Tình trạng tập trung đông người khấn vái, dâng sao giải hạn tại các cơ sở thờ tự được hạn chế. Nhiều ý kiến cho rằng, nhìn từ khía cạnh tích cực thì đây chính là cơ hội để lấy lại sự ngăn nắp, vẻ đẹp của lễ hội truyền thống, cũng là bước dừng cần thiết để người dân có thời gian tự cân bằng giữa nhu cầu tinh thần của cá nhân với các thực hành tín ngưỡng.

          Tuy nhiên quan sát cụ thể, khách quan về tình trạng tụ tập đông người vẫn thấy thời gian qua tại không ít di tích, địa chỉ tâm linh vẫn tiềm ẩn nguy cơ bùng dịch. Điển hình là thời điểm giữa tháng 3/2021, có ngày khu du lịch Chùa Tam Chúc (Hà Nam) đón hàng chục nghìn khách thăm viếng. Lượng khách tăng đột ngột ngoài dự kiến khiến Ban quản lý ở đây không kịp phản ứng, dẫn đến tình trạng “vỡ trận”, không thể kiểm soát việc thực hiện giãn cách và bảo đảm 5K. Chưa kể, việc tập trung đông người còn làm không khí trở nên ngột ngạt, một số người tự ý bỏ khẩu trang hoặc chỉ đeo lấy lệ. Điều này cũng từng xảy ra ở lễ hội Đền Hùng năm 2021. Trên thực tế, một số nơi đã bỏ phần khai hội để tránh tập trung đông người nhưng lại thiếu khả năng dự báo nên vẫn không loại bỏ được hoàn toàn nguy cơ nhiều người tụ tập trong một khoảng thời gian, không gian nhất định, dẫn tới bị động, lúng túng khi giải quyết tình huống phát sinh. Trong khi đó ngày nay, việc tham dự lễ hội, chiêm bái các cơ sở thờ tự, đặc biệt là di tích và lễ hội lớn, thường không đơn thuần chỉ gói gọn trong quy mô người cùng làng, xã mà còn có sự tham gia của du khách đến từ mọi vùng, miền của đất nước. Vì thế, nếu xuất hiện một vài trường hợp F0 thì nguy cơ lây lan dịch bệnh tới nhiều tỉnh, thành phố khác sẽ rất lớn.

          Từ thực tế hoạt động lễ hội, phải khẳng định rằng không ai có thể bảo đảm tình trạng tương tự sẽ không xảy ra vào mùa lễ hội, chiêm bái năm nay, nhất là khi một bộ phận người dân đang có tâm lý chủ quan. Một bộ phận người dân vẫn lơ là trong phòng dịch. Thậm chí “sống chung với dịch” đang trở thành câu nói cửa miệng được nhiều người sử dụng làm lý lẽ bao biện cho việc được rong chơi, ăn uống, tận hưởng cuộc sống như bình thường. Hầu như họ không bận tâm đến vấn đề sống chung an toàn với dịch là thông điệp phải được quán triệt rộng rãi, trên tinh thần đó tìm cách kiểm soát rủi ro, thích ứng an toàn, linh hoạt với dịch bệnh. Việc cố tình hiểu sai lệch rất có thể sẽ dẫn đến tình trạng nhiều người bất chấp quy định về phòng, chống dịch mà cố tình tụ tập tại các lễ hội, cơ sở thờ tự để thỏa mãn nhu cầu tâm linh dịp đầu năm kết hợp với vui chơi, giải trí. Và nếu địa phương có di tích, lễ hội không chuẩn bị sẵn phương án ứng phó hiệu quả sẽ có nguy cơ bị “thất thủ”.

          Xác định rõ thực tế này và thực hiện nghiêm Chỉ thị số 11-CT/TW của Ban Bí thư về việc tổ chức Tết Nhâm Dần 2022, Chỉ thị số 35/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp bảo đảm đón Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022 vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm, ngày 7/1/2022, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có Công văn số 58/BVHTTDL-VHCS gửi các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Sở Văn hóa và Thể thao; Sở Văn hóa, Thông tin, Thể thao và Du lịch; Sở Du lịch các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đề nghị tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch, lễ hội trước, trong và sau Tết Nguyên đán; bảo đảm phục vụ nhân dân đón Tết vui tươi, lành mạnh, an toàn, phù hợp với nếp sống văn minh, phong tục tập quán, truyền thống văn hóa của dân tộc và tình hình dịch Covid-19 của từng địa phương. Ngay sau đó, một số địa phương đã ban hành quyết định tạm dừng một số lễ hội, hoạt động có khả năng thu hút đông người để tập trung cho công tác phòng, chống dịch trên địa bàn, tiêu biểu như lễ hội đền Trần (Thái Bình), lễ hội chùa Hương (Hà Nội)... Các quyết định này cho thấy quyết tâm cao của các địa phương trong nỗ lực đẩy lùi dịch bệnh, vì an toàn sức khỏe người dân và sự phát triển bền vững. Ngay sát Tết cổ truyền, ngày 28/1, Bộ trưởng Văn hóa Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng gửi công điện đến các địa phương, yêu cầu tạm dừng tổ chức các loại hình lễ hội và hoạt động bắn pháo hoa nổ dịp Tết Nhâm Dần 2022, với lễ hội truyền thống, địa phương chỉ tổ chức phần nghi lễ, không tổ chức phần hội (vui chơi, giải trí, thể thao...).

          Thiết nghĩ, việc thực hành tín ngưỡng để cầu an, mong mọi sự tốt lành là nhu cầu chính đáng của mỗi cá nhân cần được tôn trọng. Tuy nhiên, ở giai đoạn đặc biệt này, khi mà số ca nhiễm Covid-19 lên tới hàng chục nghìn người mỗi ngày, tác động nặng nề đến đời sống kinh tế, xã hội, đe dọa sức khỏe và tính mạng của con người thì mỗi cá nhân cần phải cân nhắc, điều chỉnh hành vi phù hợp vì lợi ích, trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội. Để thực hiện mục tiêu kép, đưa đất nước vận hành ổn định trong trạng thái “bình thường mới”, cùng với việc đẩy nhanh tốc độ tiêm phủ vắc-xin, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 128/NQ-CP quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19”. Như vậy, hiện nay chủ trương phòng, chống dịch của nước ta là tăng cường kiểm soát rủi ro. Điều này đòi hỏi sự chủ động, tự giác, nêu cao tinh thần trách nhiệm khi thực hiện hành vi của mỗi tổ chức, cá nhân. Chủ trương này trực tiếp liên quan đến nhu cầu thực hành tín ngưỡng của người dân.         Theo các chuyên gia, để việc thực hành tín ngưỡng đầu năm của người dân diễn ra thuận lợi, văn minh, an toàn, nhất thiết cần có sự thay đổi, sắp xếp lại cách tổ chức hoạt động của lễ hội, điểm di tích, cơ sở tự viện. Căn cứ vào tính chất, quy mô lễ hội và tình hình phòng, chống dịch thực tế của địa phương, chính quyền và ban quản lý lễ hội có thể xem xét, đưa ra các quyết định như: dừng, hủy, thu hẹp quy mô tổ chức,… nhằm hạn chế tốt nhất tình trạng tập trung đông người. Đồng thời, cần đưa ra các dự báo để xây dựng nhiều kịch bản ứng phó với những tình huống phát sinh khác nhau. Thời gian qua, tại một số điểm di tích, cơ sở thờ tự đã có một số cách làm sáng tạo như: tổ chức lễ cầu an trực tuyến hay khai ấn trực tuyến… Đây là những giải pháp cần tiếp tục phát huy, nhân rộng, bởi vừa giúp người dân thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng lành mạnh, vừa bảo đảm phòng, chống dịch. Để tránh bị động do quá tải số người đến thực hành tín ngưỡng cùng một thời điểm, chính quyền địa phương và ban quản lý các di tích cần tính toán được sức chứa của điểm đến sao cho bảo đảm về giãn cách mùa dịch; có sự phối hợp phân luồng giao thông, phân luồng người đến di tích; khi cần có thể chủ động hạn chế lượng người vào di tích để tránh ùn tắc; yêu cầu và giám sát người dân thực hiện nghiêm quy tắc 5K; kiên quyết dừng đón khách nếu không bảo đảm yêu cầu phòng dịch…

          Thực tế cho thấy, bất kỳ hoạt động mang tính cộng đồng nào cũng cần được tổ chức, quản lý sao cho luôn vận hành theo hướng tích cực, và thực hành tín ngưỡng cũng không là ngoại lệ. Vì thế, bên cạnh vai trò của chính quyền địa phương, ban quản lý di tích, ban tổ chức lễ hội, còn cần sự vào cuộc rốt ráo của các cơ quan chức năng trong việc định hướng và đôn đốc, kiểm tra các hoạt động thực hành tín ngưỡng, kịp thời phát hiện, xử lý các vi phạm về phòng, chống dịch, hoặc lợi dụng di tích, lễ hội để trục lợi, thực hiện nghiêm biện pháp tạm ngừng tổ chức lễ hội theo Nghị định số 110/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định về quản lý và tổ chức lễ hội khi nhận thấy nguy cơ lây nhiễm dịch trong cộng đồng. Đặc biệt và quan trọng nhất vẫn là vận động người dân nâng cao ý thức phòng dịch. Mỗi người cần có sự điều chỉnh về hành vi, thói quen khi thực hành tín ngưỡng. Chẳng hạn, thay vì đi lễ đầu năm thì có thể cân nhắc lựa chọn thời điểm khác trong năm để hành lễ, tránh tụ tập đông người; hoặc thay vì cả đại gia đình đi lễ, nay chỉ cần một người đại diện; hoặc thực hành theo nghi lễ theo hình thức trực tuyến… Suy cho cùng, đi lễ là để cầu bình an, nên vào thời điểm dịch bệnh phức tạp, mỗi cá nhân cần nâng cao ý thức về việc giữ bình an cho bản thân, gia đình và mọi người chung quanh bằng cách thật thận trọng khi lựa chọn thời gian cũng như cách thức thực hành tín ngưỡng. Việc thay đổi hành vi, điều chỉnh thói quen của mỗi người một cách linh hoạt để thích ứng với tình hình mới, bảo đảm an toàn phòng dịch, đó cũng chính là thể hiện ý thức, trách nhiệm của công dân đối với toàn xã hội.

 

Đảng ta thật là vĩ đại!


          Kỷ niệm 92 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vô cùng tự hào về những thành tựu đã đạt được của cách mạng nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh thời đã khẳng định: 'Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật là vĩ đại!'.

          Ngược lại dòng lịch sử, từ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa đế quốc. Các nước tư bản đế quốc thực hiện chính sách: Bên trong tăng cường bóc lột nhân dân lao động, bên ngoài gia tăng các hoạt động xâm lược và áp bức nhân dân các nước thuộc địa. Sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc làm đời sống nhân dân lao động trên thế giới trở nên cùng cực. Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng gay gắt. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ ở các nước thuộc địa. Năm 1917, với thắng lợi của Cách mạng Tháng mười Nga, chủ nghĩa Mác - Lênin từ lý luận đã trở thành hiện thực, mở ra một thời đại mới trong lịch sử loài người; là ánh sáng soi đường cho các dân tộc bị áp bức đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.    Tháng 3/1919, Quốc tế III Cộng sản ra đời đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đối với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đầu thế kỷ XX, giữa lúc dân tộc ta khủng hoảng về đường lối cứu nước, nhiều nhà yêu nước đương thời như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… tiếp tục con đường cứu nước theo lối cũ nhưng do hạn chế của lịch sử, nhất là thiếu một đường lối đúng nên không thành công thì năm 1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành (tức Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh sau này) đã ra đi tìm đường cứu nước theo phương hướng mới. Nhờ hoạt động không mệt mỏi của Nguyễn Ái Quốc và nhiều đồng chí cách mạng tiền bối mà đến cuối năm 1929 đầu năm 1930, những điều kiện cho sự ra đời của một đảng vô sản ở Việt Nam đã chín muồi. Từ ngày 6/1 đến ngày 7/2/1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp ở bán đảo Cửu Long thuộc Hồng Kông (Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc thay mặt cho Quốc tế Cộng sản. Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản có ý nghĩa như Đại hội thành lập Đảng. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng tháng 9/1960 đã quyết định lấy ngày 3 tháng 2 mỗi năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

          Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời có ý nghĩa lịch sử vô cùng quan trọng, mở ra thời kỳ mới cho Cách mạng Việt Nam - thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng ra đời đã xác định được những nội dung cơ bản nhất của con đường cách mạng Việt Nam, đáp ứng được những nhu cầu bức thiết của lịch sử và trở thành ngọn cờ tập hợp, đoàn kết thống nhất các tổ chức cộng sản, các lực lượng cách mạng và toàn thể dân tộc. Đây là bước ngoặt vô cùng quan trọng của lịch sử cách mạng Việt Nam, quyết định sự phát triển của dân tộc, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX. Đó là kết quả của sự vận động, phát triển và thống nhất phong trào cách mạng trong cả nước; sự chuẩn bị công phu về mọi mặt của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và sự đoàn kết nhất trí của những chiến sỹ tiên phong vì lợi ích của giai cấp, của dân tộc. Đây cũng là thành quả của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam; chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng. Việc Đảng ra đời và chủ trương cách mạng Việt Nam là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới đã được sự ủng hộ to lớn của cách mạng thế giới, kết hợp sứ mệnh dân tộc với sứ mệnh của thời đại làm nên những thắng lợi vẻ vang; đồng thời, đóng góp tích cực vào sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ của nhân loại trên thế giới.

          Sau khi ra đời, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành được những kỳ tích vĩ đại. Đó là:

          Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 lật đổ ách thống trị gần 100 năm của thực dân Pháp và triều đình phong kiến, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

          Thắng lợi của cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp với quyết tâm “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta lần lượt đánh bại các kế hoạch chiến tranh của thực dân Pháp giành thắng lợi, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc chính phủ Pháp phải ký kết Hiệp định Giơnevơ chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp ở Việt Nam.

          Thắng lợi của cuộc kháng chiến 21 năm chống Mỹ cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là một trong những trang chói lọi nhất của lịch sử dân tộc, là một sự kiện có tầm quốc tế và có tính thời đại sâu sắc. Thắng lợi đó mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX.

          Thắng lợi của sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo hơn 35 năm, đã vượt qua mọi khó khăn, bao vùng cấm vận, đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đứng vững và tiếp tục đi lên trong cơn “động đất chính trị” trên thế giới khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ (1989 - 1991); hệ thống xã hội chủ nghĩa lâm vào thoái trào. Qua hơn 35 năm đổi mới, với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Từ một nước làm không đủ ăn, thu không đủ chi, xuất không đủ nhập, Đảng đã lãnh đạo đưa đất nước từ hơn 10 năm qua ra khỏi nhóm nước nghèo có thu nhập thấp sang các nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp.

          Những thắng lợi giành được 92 năm qua là minh chứng về năng lực lãnh đạo của Đảng. Với phương châm đúng đắn: “Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội…”, Đảng ta không ngừng tự đổi mới để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trước yêu cầu mới của tình hình quốc tế và trong nước. Công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức được đặc biệt quan tâm, được đặt ra trong nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng, nhất là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và ban hành Quy định số 37- QĐ/TW về những điều Đảng viên không được làm trên tinh thần sửa đổi, bổ sung Quy định số 47-QĐ/TW đã được ban hành trước đó. Đáng chú ý, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được Đảng ta đẩy mạnh với tinh thần “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, “không ngừng nghỉ”. Do vậy, niềm tin của cán bộ và các tầng lớp nhân dân đối với Đảng ngày càng được củng cố và không ngừng nâng cao.

        Thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam trong 92 năm qua đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và tài tình của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, thông qua quá trình lãnh đạo, Đảng ta được tôi luyện và ngày càng trưởng thành, xứng đáng với vai trò và sứ mệnh cao cả mà lịch sử đã lựa chọn là lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đưa dân tộc đến tương lai tươi sáng và đáp ứng sự tín nhiệm, kỳ vọng của nhân dân. Từ thực tiễn đó đã khẳng định Đảng là lực lượng chính trị duy nhất có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước.

          Với những thành tựu to lớn do Đảng lãnh đạo đã đạt được, chúng ta có đủ cơ sở vững chắc để khẳng định rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay! Thực tiễn Đảng lãnh đạo đất nước 92 năm qua đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác là do “Một Đảng Cách mạng chân chính có đường lối đúng, có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, gương mẫu, tận tụy, tôn trọng, gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân ủng hộ, thì Đảng đó có sức mạnh vô địch, không thế lực nào ngăn cản nổi trên con đường dẫn dắt dân tộc đi lên”.

          Năm nay kỷ niệm 92 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh cũng là năm thứ hai triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng m với các mục tiêu cụ thể: Đến giữa năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước: là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua nước thu nhập trung bình thấp; Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước: trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

          Để thực hiện các mục tiêu trên thành hiện thực, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta khắc sâu lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Với hướng đi đúng đắn, hợp quy luật, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chung sức đồng lòng bằng khát vọng vươn lên mãnh liệt và ý chí, quyết tâm chính trị cao, nhất định Việt Nam sẽ lập nên những kỳ tích phát triển mới để hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

          Với niềm phấn khởi, tự hào, chúng ta tin tưởng vững chắc rằng, phát huy truyền thống vẻ vang, tăng cường bản chất cách mạng, tính tiên phong của Đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ hoàn thành xuất sắc trọng trách của mình vượt qua mọi khó khăn, thách thức, trong đó có đại dịch COVID-19, để lãnh đạo nhân dân ta xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đất nước đang đứng trước thời cơ, vận hội mới, chúng ta xin gửi trọn niềm tin vào con đường mà Bác Hồ kính yêu và Đảng đã lựa chọn, mỗi người hãy đặt quyết tâm như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Có đánh thức được tiềm năng và biến thành nguồn lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hay không, điều đó phụ thuộc vào ý chí, nghị lực của toàn Đảng, toàn dân ta, của mỗi người Việt Nam chúng ta”./.


 

NIỀM TIN MÃI MÃI VỚI ĐẢNG

92 năm qua, cách mạng nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”, niềm tin của nhân dân với Đảng được củng cố và tăng cường.

Trong suốt quá trình xây dựng và trưởng thành, Đảng luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, bản chất cách mạng và khoa học; kiên định chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; bằng đường lối đúng đắn mang lại lợi ích thiết thân cho nhân dân, cho đất nước; bằng sự nêu gương, hy sinh quên mình phấn đấu không mệt mỏi của đội ngũ cán bộ, đảng viên; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn; đoàn kết, thống nhất chặt chẽ, liên hệ máu thịt với nhân dân. Đảng ngày càng lớn mạnh, khẳng định là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm: Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng còn thấp; sinh hoạt chi bộ nhiều nơi vẫn còn hình thức; tính chiến đấu trong tự phê bình và phê bình còn yếu. Tham nhũng, lãng phí trên một số lĩnh vực, địa bàn còn nghiêm trọng, phức tạp, gây bức xúc trong xã hội, là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ.

Nhiệm vụ đặt ra cho Đảng trong thời gian tới hết sức nặng nề, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển, nhưng cũng đang bị đe dọa bởi sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế diễn ra gay gắt. Tác động của đại dịch COVID-19 khiến thế giới rơi vào khủng hoảng nhiều mặt. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả thời cơ và thách thức… Đất nước dù đạt được những thành tựu rất quan trọng, rất đáng tự hào, nhưng vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị vẫn tiếp tục chống phá bằng những thủ đoạn hết sức thâm độc, tinh vi, xảo quyệt.

Tình hình trên đòi hỏi Đảng ta phải tiếp tục nâng cao hơn nữa bản lĩnh và trí tuệ, thực sự “là đạo đức, là văn minh”, ngày càng trong sạch, vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ, tận dụng mọi thời cơ, vượt qua thách thức, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. Nhiệm vụ trọng tâm đầu tiên trong 6 nhiệm vụ trọng tâm được Đại hội XIII của Đảng xác định trong nhiệm kỳ là: “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Xây dựng đội ngũ đảng viên và cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Củng cố lòng tin, sự gắn bó của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm trên đây, đòi hỏi mỗi cấp ủy, tổ chức đảng phải triển khai một cách đồng bộ, toàn diện các nghị quyết, kết luận, quy định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị về công tác xây dựng Đảng; kết hợp chặt chẽ giữa “xây và chống”, “chống và xây”. Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Mỗi cán bộ, đảng viên tùy thuộc vào vị trí công tác phải tự giác rèn luyện, phấn đấu, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, đối với các đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý phải làm gương, nêu gương, nghiêm túc tự phê bình và phê bình. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải thực sự “làm cho Đảng ta ngày càng mạnh hơn; cán bộ, đảng viên gương mẫu hơn; tổ chức đảng có sức chiến đấu cao hơn; đoàn kết nội bộ tốt hơn; gắn bó với nhân dân mật thiết hơn; thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ chính trị đạt kết quả cao hơn” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai Kết luận và Quy định của Ban Chấp hành Trung ương về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày 9-12-2021.

Xuân Nhâm Dần này, mừng Đảng ta tròn 92 tuổi, chúng ta thêm tự hào về Đảng ta - Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng luôn là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Mừng Đảng, mừng Xuân, mừng đất nước đổi mới, ý Đảng, lòng Dân ngày càng thêm hòa quyện. Mãi mãi niềm tin theo Đảng, chúng ta có cơ sở để tin tưởng vững chắc năm 2022, năm Nhâm Dần đất nước ta sẽ vượt qua mọi khó khăn thử thách, đặc biệt là những khó khăn do đại dịch COVID-19 gây ra, tiếp tục đạt được những thành tựu quan trọng, vững bước trên con đường đi tới sớm “trở thành nước phát triển, thu nhập cao” như mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.

TK. ST