Ở Việt Nam, trong quá trình đổi mới và
hội nhập quốc tế, quan hệ dân tộc xuyên biên giới phát triển mạnh mẽ, tác động
đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của đất nước. Vì vậy, đấu tranh phòng
ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới được xem là một trong
những nhiệm vụ phức tạp, đòi hỏi sự tham gia của các cấp, các ngành trên địa
bàn biên giới, trong đó công tác đối ngoại giữ vai trò tiên phong, nòng cốt.
Nhận diện âm mưu, thủ đoạn lợi dụng quan
hệ dân tộc xuyên biên giới để chống phá nước ta
Quan hệ dân tộc xuyên biên giới là mối quan hệ
của một tộc người trong nước với đồng tộc hoặc khác tộc ở các quốc gia có chung
đường biên giới. Quan hệ dân tộc xuyên biên giới ở Việt Nam là mối quan hệ diễn
ra từ lâu đời trong lịch sử. Hiện nay, quan hệ dân tộc xuyên biên giới không
chỉ bó hẹp trong phạm vi Việt Nam với quốc gia có chung đường biên giới mà còn
với nhiều quốc gia khác có người đồng tộc, đồng tôn giáo. Quan hệ dân tộc xuyên
biên giới ở Việt Nam biểu hiện phong phú và đa dạng, từ quan hệ về nguồn gốc lịch
sử, kinh tế, văn hóa, xã hội đến tín ngưỡng, tôn giáo. Các mối quan hệ này tác
động đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội trong nước theo cả hai chiều hướng
tích cực và tiêu cực. Bên cạnh những tác động tích cực (tăng cường sự hiểu biết
lẫn nhau về văn hóa giữa nhân dân hai bên biên giới, nâng cao tình đoàn kết và
tương trợ thông qua các mối quan hệ kinh tế; thắt chặt và làm giàu thêm sự gắn
kết tình cảm, giảm thiểu các xung đột giữa nhân dân hai bên biên giới, góp phần
phát triển bền vững kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền
núi...), quan hệ dân tộc xuyên biên giới cũng đặt ra nhiều vấn đề phức tạp,
tiềm ẩn những nguy cơ gây bất ổn ở khu vực đa tộc người, đa tôn giáo vùng biên
giới (di cư tự do, kết hôn không giá thú, lao động Việt Nam sang các nước láng
giềng tìm việc làm, buôn lậu, buôn bán người, truyền đạo trái phép...). Các vấn
đề này gây khó khăn trực tiếp đến công tác quản lý nhà nước, làm ảnh hưởng đến
mối quan hệ đoàn kết giữa các dân tộc - tộc người hai bên biên giới nói riêng
và quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia láng giềng nói chung, dễ bị các thế
lực thù địch lợi dụng để chống phá nước ta.
Âm mưu xuyên suốt của các thế lực thù địch là lợi
dụng vấn đề dân tộc nói chung, quan hệ dân tộc xuyên biên giới nói riêng để
chống phá Việt Nam, nhằm chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; kích động
đồng bào các dân tộc, các tôn giáo chống phá đường lối, chính sách của Đảng và
Nhà nước ta; mưu toan gây mất ổn định chính trị - xã hội, tạo cớ can thiệp,
kích động bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, hòng xóa
bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Âm
mưu đó được các thế lực thù địch thực hiện ráo riết với những thủ đoạn chủ yếu
sau:
Một là, lợi dụng chính sách thông thoáng
đối với việc đi lại, thăm thân; lợi dụng tình trạng kết hôn không giá thú, hoạt
động tội phạm xuyên biên giới, để tuyên truyền, kích động đồng bào dân tộc
thiểu số khu vực biên giới di cư tự do, vượt biên, xâm nhập trái phép, gây bất
ổn về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tạo cớ để can thiệp vào công việc
nội bộ của Việt Nam. Trong những năm qua, cùng với hiện tượng di cư tự do nội
địa của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số, tình trạng di cư tự do và hôn
nhân không giá thú xuyên biên giới, vượt biên, xâm nhập trái phép ở biên giới
Việt Nam có xu hướng gia tăng. Lợi dụng tình hình này, một mặt, các
thế lực thù địch đã tìm cách hỗ trợ, chỉ đạo lực lượng phản động là người dân
tộc thiểu số cư trú ở khu vực biên giới thúc đẩy, tạo “làn sóng” di cư trái phép
đến một số địa bàn “trọng điểm”(1); mặt khác, ra sức tuyên truyền,
kích động, mua chuộc, lôi kéo người dân tộc thiểu số vượt biên trái phép, “đưa
người dân tộc thiểu số” về từng khu vực theo ý đồ chính trị để có điều kiện xây
dựng căn cứ phản cách mạng, khiến vấn đề dân tộc trở thành “ngòi nổ”, tạo cớ để
nước ngoài có thể can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.
Hai là, lợi dụng những vấn đề phức tạp
trong lịch sử quan hệ tộc người, nhất là các tộc người cư trú ở khu vực biên
giới, tuyên truyền, kích động đòi “ly khai”, “tự trị” và tìm cách “luật pháp
hóa”, “quốc tế hóa” vấn đề dân tộc để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt
Nam. Bên cạnh việc tổ chức các cuộc hội thảo, thu thập, phát tán nhiều tài liệu
trái phép, các thế lực thù địch với sự trợ giúp của nước ngoài còn đưa ra nhiều
“luật” với chế tài mang tính áp đặt vô lý nhằm hỗ trợ, khích lệ tinh thần cho
các lực lượng phản động là người dân tộc thiểu số đẩy mạnh các hoạt động chống
phá Đảng và Nhà nước ta; hỗ trợ, chỉ đạo lực lượng phản động là người dân tộc
thiểu số sống lưu vong ở nước ngoài thành lập nhiều tổ chức dưới danh nghĩa
nghiên cứu lịch sử, văn hóa các dân tộc thiểu số nhằm khơi dậy những tồn tại
trong quá khứ để kích động tư tưởng “ly khai”, “tự trị” của các dân tộc thiểu
số trên một số địa bàn chiến lược của nước ta.
Ba là, núp dưới chiêu bài hoạt động
“nhân đạo”, “từ thiện” của các tổ chức phi chính phủ để lôi kéo đồng bào là
người dân tộc thiểu số, đồng bào theo tôn giáo chống phá chính quyền Việt Nam.
Đây là một trong những thủ đoạn mới hết sức tinh vi, khó nhận biết mà các thế
lực thù địch đã và đang công khai sử dụng để hỗ trợ các lực lượng phản động,
cực đoan trên địa bàn biên giới hình thành các nhóm tổ chức, tập hợp lực lượng
và tiến hành các hoạt động chống phá nước ta. Đáng chú ý, các thế lực thù địch
sử dụng những tổ chức này để thâm nhập vào các địa bàn chiến lược của Việt Nam
thu thập tình hình, báo cáo xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và
Nhà nước Việt Nam; tiếp cận, chỉ đạo lực lượng phản động, cực đoan tiến hành
những hoạt động tuyên truyền, kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, đòi “ly
khai”, “tự trị” nhằm gây mất ổn định chính trị - xã hội và tạo cớ can thiệp.
Bốn là, lợi dụng địa bàn biên giới của
các nước láng giềng để hỗ trợ, chỉ đạo các lực lượng phản động là người dân tộc
thiểu số sống lưu vong ở nước ngoài lôi kéo một bộ phận người dân tộc thiểu số
từ Việt Nam tham gia thực tập vũ trang cướp chính quyền, xâm nhập, phá hoại các
địa bàn chiến lược ở nước ta. Các tổ chức, đứng đầu là những phần tử cực đoan,
đã và đang liên kết chặt chẽ với lực lượng phản động trong nước để tiến hành
các hoạt động chống phá cách mạng nước ta trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Lực lượng phản động không chỉ tìm mọi cách hỗ trợ, khuyến khích xây dựng các tổ
chức phản động sử dụng danh nghĩa tôn giáo ở nước ngoài chuyển hướng hoạt động
vào trong nước; ra sức cổ xúy, hỗ trợ các tổ chức phản động mang danh nghĩa tôn
giáo ở trong nước để chống phá, mà còn lợi dụng những sơ hở, thiếu sót của các
cấp, các ngành trong thực hiện chính sách dân tộc để mưu toan kích động tư
tưởng chống đối, khoét sâu mâu thuẫn nội bộ, tạo ra những nhân tố gây mất ổn
định, bạo loạn, biến vấn đề dân tộc, tôn giáo thành vấn đề chính trị...
Có thể thấy, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù
địch lợi dụng vấn đề dân tộc nói chung, quan hệ dân tộc xuyên biên giới nói
riêng nhằm chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay vô cùng đa dạng, với tính chất
vô cùng nguy hiểm, vừa công khai, vừa bí mật, diễn ra cả trong nước và ngoài
nước, trên tất cả các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội,
nhằm gây mất ổn định, phá hoại mối quan hệ tốt đẹp của Việt Nam với các nước
láng giềng, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Những thủ đoạn
chống phá đó của các thế lực thù địch đã làm cho đời sống kinh tế - xã hội vùng
đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Việt Nam vốn khó khăn lại càng khó khăn
hơn; ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại giữa Việt Nam với các nước, nhất
là các nước láng giềng.
Vai trò của công tác đối ngoại trong đấu
tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá
nước ta
Đại hội XIII (tháng 1-2021) của Đảng xác định,
trong những năm tới, cần “tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại
trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn
lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất
nước”(2). Điều đó khẳng định, công tác đối ngoại có vai trò hết sức quan trọng
trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và sự phát triển của đất nước
nói chung, trong đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên
biên giới nói riêng.
Vai trò của công tác đối ngoại trong đấu tranh
phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới thể hiện ở các
cấp độ, mức độ và phạm vi khác nhau tùy theo chức năng, nhiệm vụ của từng tổ
chức, lực lượng trong thực hiện công tác đối ngoại. Xét trong tổng thể công tác
đối ngoại của các cấp, các ngành, các lực lượng liên quan, gắn với thực hiện
nhiệm vụ đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên
giới, công tác đối ngoại giữ vai trò “tiên phong”, là lực lượng nòng cốt góp
phần quan trọng ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các
thế lực thù địch, phản động. Vai trò của công tác đối ngoại trong đấu tranh
phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới thể hiện cụ thể
trên những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, trực tiếp góp phần nhận diện,
phát hiện “từ sớm, từ xa” âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng
quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đây là vai
trò quan trọng, đồng thời là thế mạnh của công tác đối ngoại trong đấu tranh,
phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới. Do tính chất
phức tạp, nhạy cảm và liên quốc gia trong quan hệ dân tộc xuyên biên giới mà
các tổ chức, lực lượng hoạt động trong phạm vi nội địa khó nắm bắt kịp thời âm
mưu, thủ đoạn, hoạt động của các thế lực thù địch, dẫn tới bị động trong giải
quyết những vấn đề nảy sinh. Thực tế những năm qua, công tác đối ngoại đã “phát
huy được thế mạnh để hóa giải, xử lý từ sớm, từ xa các nguy cơ đe dọa an ninh
quốc gia, nhất là thông qua thúc đẩy đối thoại, xây dựng lòng tin, ngoại giao
phòng ngừa, tận dụng hiệu quả các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc
tế”(3). Trên cơ sở đó, kịp thời thông tin đến các tổ chức, lực lượng và quần
chúng nhân dân nâng cao nhận thức, ý thức cảnh giác, chủ động xây dựng phương
án và tổ chức đấu tranh hiệu quả, không bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
Thứ hai, thông qua hoạt động đối ngoại
đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân của các cấp, các ngành, công
tác đối ngoại đã trực tiếp tham gia đấu tranh, làm thất bại các hoạt động lợi
dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới trên tất cả các bình diện, ở mọi phạm vi
và quy mô. Những năm qua, công tác đối ngoại đã phát huy tốt vai trò trong đấu
tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù
địch nói chung, hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá
nước ta nói riêng, qua đó vừa giữ vững được ổn định chính trị - xã hội trong
nước, vừa giải tỏa thành công sức ép của các nước phương Tây trong một số vấn
đề; “ngăn chặn, vô hiệu hóa những âm mưu, thủ đoạn móc nối, lôi kéo, phá hoại
nội bộ Đảng và Nhà nước Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động”(4), góp
phần tạo môi trường hòa bình, ổn định đất nước, phát triển bền vững khu vực
biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi ở nước ta.
Thứ ba, phối hợp hiệu quả với các cấp,
các ngành, các tổ chức, lực lượng, nhất là lực lượng chuyên trách quản lý và
bảo vệ vùng biên giới, tạo sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh với các hoạt động
lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Trên cơ sở phối hợp triển khai công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước, thực hiện
quản lý biên giới và cửa khẩu theo các văn kiện pháp lý, thỏa thuận về biên
giới đã ký kết với các nước; thống nhất quản lý các hoạt động đối ngoại theo
Quyết định số 272-QĐ/TW, ngày 21-1-2015, của Bộ Chính trị khóa XI, “Về việc ban
hành Quy chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại”, công tác đối ngoại
phối hợp chặt chẽ giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân
dân; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh; giữa các cơ quan, bộ, ngành liên
quan; chủ động phối hợp tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương các biện
pháp trong giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bổ sung, kiện
toàn các phương án xử lý những tình huống nảy sinh từ quan hệ dân tộc xuyên
biên giới.
Thứ tư, công tác đối ngoại góp phần quan
trọng trong quản lý biên giới quốc gia, tạo môi trường hòa bình, ổn định khu
vực biên giới, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn; nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc vùng biên giới; tham gia xây
dựng, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, tạo “sức đề
kháng” cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn và hành động
lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới của các thế lực thù địch, phản động.
Trong những năm qua, cùng với những hoạt động khác, các cấp, các ngành luôn
phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại; chủ động tham mưu cho Đảng, Nhà
nước, cấp ủy, chính quyền địa phương huy động nguồn lực để phát triển kinh tế -
xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an
ninh nhân dân khu vực biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
vững mạnh; tạo thế chủ động trong phòng ngừa, đấu tranh, làm thất bại mọi âm
mưu, thủ đoạn, hành động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá
Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động.
Có thể nói, vai trò của công tác đối ngoại trong
đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới nhằm
chống phá Việt Nam, đã được khẳng định và phát huy mạnh mẽ trong thực tiễn thời
gian qua. Tuy nhiên, có những thời điểm nhất định, vai trò của công tác đối
ngoại ở một số tổ chức, lực lượng chưa thực sự được phát huy đầy đủ. Đặc biệt,
“nhận thức của một số sở, ngành địa phương và một số cán bộ, đảng viên về vấn
đề dân tộc, chính sách dân tộc, công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số
chưa sâu sắc, toàn diện. Sự phối hợp giữa các ngành, các cấp trong việc triển
khai thực hiện các chương trình, dự án, chính sách dân tộc thiếu đồng bộ, việc
nắm bắt thông tin từ cơ sở chưa đầy đủ, còn chậm, thiếu và chưa sát với tình
hình thực tiễn”(5). Hơn nữa, trong thời gian tới, bên cạnh những thuận lợi, vấn
đề dân tộc ở Việt Nam được dự báo tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức. Các
thế lực thù địch không từ bỏ âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá nước
ta, đòi hỏi các cấp, các ngành cần tiếp tục phát huy tốt vai trò của công tác
đối ngoại nhằm đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động lợi dụng
quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Việt Nam.
Một số giải pháp pháp phát huy vai trò
của công tác đối ngoại trong đấu tranh, phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ
dân tộc xuyên biên giới chống phá nước ta
Một là, quán triệt, nâng cao nhận thức
cho các tổ chức, lực lượng làm công tác đối ngoại, lực lượng chuyên trách quản
lý, bảo vệ biên giới và cấp ủy, chính quyền địa phương trên địa bàn khu vực nắm
chắc quan điểm, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, nhất là
đối với các nước láng giềng. Mỗi tổ chức, lực lượng cần bám sát chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn, trên cơ sở đó triển khai phối hợp, hiệp đồng hiệu quả. Tập
trung quán triệt các quy định của luật pháp quốc tế về vấn đề biên giới lãnh
thổ, các văn kiện pháp lý đã ký kết giữa Việt Nam với các quốc gia láng giềng,
trong đó trọng tâm là ba văn kiện biên giới trên đất liền với Trung Quốc; Hiệp
định về quy chế biên giới quốc gia và Thỏa thuận về việc giải quyết vấn đề
người di cư tự do, kết hôn không giá thú trong vùng biên giới với Lào; Hiệp ước
bổ sung năm 2019 và Nghị định thư phân giới, cắm mốc biên giới trên đất liền
với Cam-pu-chia. Nắm chắc tình hình dân tộc, quan hệ dân tộc, tình hình hoạt
động, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng quan hệ dân
tộc xuyên biên giới nhằm chống phá Việt Nam ở cả trong và ngoài nước.
Hai là, hoàn thiện cơ chế phối hợp, hiệp
đồng giữa các tổ chức, lực lượng, tạo sức mạnh tổng hợp đấu tranh hiệu quả với
các hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới. Huy động sự tham gia
của các tổ chức và các tầng lớp nhân dân vào các hoạt động đấu tranh chống lợi
dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, chống “diễn biến hòa
bình” của các thế lực thù địch, đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất
và toàn vẹn lãnh thổ đất nước(6). Để thực hiện được điều đó, việc đẩy mạnh cơ
chế phối hợp, hiệp đồng hiệu quả giữa lực lượng chuyên trách làm công tác đối
ngoại với các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị -
xã hội ở địa phương, với lực lượng vũ trang trên địa bàn đóng vai trò hết sức
quan trọng. Trên cơ sở thực hiện Quy chế số 272 về quản lý thống nhất các hoạt
động đối ngoại, cần chú trọng hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa công tác đối
ngoại với quốc phòng - an ninh, tạo thế “chân kiềng” vững chắc ở khu vực biên giới.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc
phòng, Bộ Công an, cơ quan có liên quan và chính quyền địa phương đề xuất chủ
trương, chính sách và các biện pháp quản lý về biên giới quốc gia; thực hiện
quản lý nhà nước, hướng dẫn lực lượng nòng cốt, chuyên trách về nghiệp vụ đối
ngoại biên phòng, qua đó, nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi
dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Ba là, tăng cường hợp tác quốc tế, cụ
thể hóa các khung khổ pháp lý đã ký kết giữa Việt Nam với các nước, nhất là các
nước láng giềng, làm cơ sở pháp lý quốc tế để xử lý, đấu tranh hiệu quả với các
hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Đảng, Nhà nước và
cách mạng Việt Nam. Vận dụng nhuần nhuyễn các quy định có liên quan của luật
pháp quốc tế vào những trường hợp cụ thể. Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại
nhân dân khu vực biên giới, góp phần giúp nhân dân thế giới hiểu rõ hơn về đất
nước, truyền thống và con người Việt Nam; chính sách đối nội, đối ngoại; chính
sách dân tộc, tôn giáo... của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Tăng cường giao lưu,
kết nghĩa giữa các địa phương, cơ quan chức năng của nước ta với các nước láng
giềng, góp phần thắt chặt tình đoàn kết, hữu nghị, hợp tác, hiểu biết, tôn
trọng lẫn nhau, qua đó tạo nền tảng sâu rộng, bền chặt giữa nhân dân Việt Nam
với nhân dân các nước.
Bốn là, kết hợp phát triển kinh tế - xã
hội với củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng thế trận lòng dân khu vực biên
giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vững chắc. Thực tế cho thấy,
những vấn đề phức tạp nảy sinh từ quan hệ dân tộc xuyên biên giới thường xuất
phát từ thực trạng kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi,
khu vực biên giới nước ta còn nhiều khó khăn. Mặc dù trong giai đoạn 2013 -
2018, bình quân mỗi năm, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo giảm 0,7%, nhưng tỷ lệ hộ
nghèo và cận nghèo ở các hộ vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn khá cao, nhất là
ở khu vực biên giới. Thực trạng này đòi hỏi cần tập trung phát triển kinh tế -
xã hội gắn với củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng thế trận lòng dân khu vực
biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vững chắc, tạo nền tảng,
điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội để các lực lượng làm công tác đối ngoại
phát huy tốt vai trò trong đấu tranh hiệu quả với các hoạt động lợi dụng quan
hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Việt Nam.
Năm là, nâng cao năng lực đấu tranh
ngoại giao của các lực lượng, nhất là lực lượng chuyên trách đối ngoại, bộ đội
biên phòng và cấp ủy, chính quyền các địa phương khu vực biên giới. Đây là biện
pháp quan trọng, trực tiếp quyết định việc phát huy vai trò của công tác đối
ngoại trong đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên
giới hiện nay. Bởi lẽ, vai trò của công tác đối ngoại nói chung, trong đấu
tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới nói riêng,
phụ thuộc không nhỏ vào năng lực tiến hành và đấu tranh ngoại giao của các chủ
thể, trong đó nòng cốt thường xuyên là các lực lượng trên địa bàn biên giới.
Mặt khác, các yếu tố quốc tế cũng là một trong những nguyên nhân để các thế lực
thù địch, phản động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Việt
Nam. Do vậy, cần nâng cao năng lực đấu tranh ngoại giao của đội ngũ cán bộ làm
công tác đối ngoại, nhất là cán bộ, nhân viên bộ phận lãnh sự - quản lý biên
giới, để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh ngay từ bên ngoài; tập trung
vào những đối tượng phản động cốt cán, cầm đầu trong các tổ chức tôn giáo hải
ngoại và người dân tộc thiểu số lưu vong. Nâng cao năng lực dự báo, nắm tình
hình hoạt động của các đối tượng, kịp thời phát hiện âm mưu, thủ đoạn, hoạt
động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới “từ sớm, từ xa”; xác định nội
dung, phương thức đấu tranh phù hợp với từng đối tượng, từng địa bàn, không để
bị động, bất ngờ trong mọi tình huống./.
LƯƠNG THANH DUY
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
----------------
(1) Như khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa,
vùng căn cứ cũ của địch, các địa bàn chiến lược...
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị
quốc gia Sự thật, Hà Nội, t. I, tr. 162
(3) Bùi Thanh Sơn: “Công tác đối ngoại nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng và những
định hướng đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới”, Tạp chí Cộng sản,
số 959, tháng 2-2021
(4) Xem: Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam: Tài liệu nghiên
cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ
XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2020, tr. 15
(5) Ủy ban Dân tộc: Báo cáo sơ kết tình hình triển khai Chiến lược công tác
dân tộc đến năm 2020 và một năm thực hiện Chỉ thị số 28/CT-TTg, ngày 9-10-2014,
của Thủ tướng Chính phủ, số 13/BC-UBDT, ngày 20-1-2016
(6) Xem: Chỉ thị số 04-CT/TW, ngày 6-7-2011, của Ban Bí thư Trung ương Đảng, “Về
tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân trong
tình hình mới”
Tapchicongsan.org.vn