Thứ Ba, 8 tháng 2, 2022

Việt Nam - Hàn Quốc dự kiến sẽ nâng cấp quan hệ song phương

 

Việt Nam - Hàn Quốc dự kiến sẽ nâng cấp quan hệ song phương

Đại sứ Việt Nam tại Hàn Quốc cho biết, Việt Nam - Hàn Quốc đã và đang tích cực chuẩn bị và triển khai nhiều hoạt động kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, dự kiến sẽ chính thức nâng cấp khuôn khổ quan hệ song phương.

Nhận lời mời của Ngoại trưởng Hàn Quốc Chung Eui-yong và Tổng Thư ký Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) Mathias Cormann, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn sẽ thăm chính thức Hàn Quốc và tham dự Hội nghị Bộ trưởng Chương trình Đông Nam Á (SEARP) của OECD từ ngày 9-11/2.

Chuyến thăm Hàn Quốc của  Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn có thể coi là hoạt động chính thức đầu tiên mở màn cho chuỗi hoạt động kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Hàn Quốc. 

Đại sứ Việt Nam tại Hàn Quốc Nguyễn Vũ Tùng cho biết, Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn sẽ có các cuộc làm việc với giới chức Hàn Quốc, tập trung thảo luận và thống nhất về các chương trình hành động cho năm kỷ niệm cũng như làm rõ hơn những định hướng cho quan hệ song phương trong thời gian tới mà lãnh đạo cấp cao hai nước đã nhất trí.

Các lĩnh vực hợp tác được ưu tiên bao gồm chính trị ngoại giao, quốc phòng an ninh, kinh tế xã hội vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của hai nước và hai khu vực Đông Nam Á và Đông Bắc Á cũng như các khu vực khác. Củng cố các mặt hợp tác hiện có và mở ra các mặt hợp tác mới, khôi phục các lĩnh vực hợp tác bị gián đoạn trong đại dịch.

Chuyến thăm sẽ góp phần thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ song phương, đúng với định hướng chung giữa hai nước là nâng tầm khuôn khổ quan hệ lên đối tác hợp tác chiến lược toàn diện. Trong chuyến thăm này, Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn cũng sẽ gặp đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Hàn Quốc để chúc Tết, thăm hỏi và động viên bà con kiều bào.

Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn sẽ tham dự Chương trình Đông Nam Á của OECD, do Hàn Quốc chủ trì, với tư cách đồng Chủ tịch chương trình giai đoạn 2022- 2025. Ngoài ra, đại diện cho Việt Nam trong vai trò điều phối viên hợp tác ASEAN – Hàn Quốc giai đoạn 2020 – 2023, Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn cũng sẽ thảo luận với các đối tác Hàn Quốc về chủ đề này.

Đại sứ khẳng định chuyến thăm sẽ mở ra những cơ hội và lĩnh vực hợp tác mới giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong nỗ lực đề cao chủ nghĩa đa phương – nhất là từ quan điểm và lợi ích của những nước tầm trung và làm tăng sức sống của các cơ chế hợp tác đa phương, trong đó có ASEAN, Chính sách Hướng Nam tăng cường của Hàn Quốc.

"Chúng ta đã chứng kiến sự phát triển rất năng động của quan hệ song phương Việt – Hàn trong thời gian qua. Dù đại dịch Covid-19 đã gây ra nhiều khó khăn trong triển khai các hoạt động hợp tác, nhưng tính tổng thể, quan hệ song phương vẫn giữ đà phát triển", Đại sứ Tùng nói.

Bên cạnh các cuộc điện đàm, trao đổi trực tuyến, hai bên còn tổ chức các chuyến thăm cấp cao. Trong đó, nổi bật là chuyến thăm Hàn Quốc của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ trong tháng 12/2021 và ngay sau đó là chuyến thăm của Bộ trưởng Công thương Nguyễn Hồng Diên. Chủ tịch Quốc hội Park Byeong-seug, các Bộ trưởng Ngoại giao Hàn Quốc Kang Kyung-wha và Chung Eui-yong cũng đã thăm Việt Nam trong các năm 2020 và 2021. Các hoạt động trao đổi cấp cao đã góp phần rất quan trọng trong việc giữ đà quan hệ song phương. 

Các lĩnh vực chủ chốt trong quan hệ song phương tiếp tục phát triển. Theo số liệu đến cuối tháng 11/2021, thương mại hai chiều đạt 70,38 tỷ USD, tăng 20% so với năm 2020.

Trong năm 2021, Hàn Quốc đã trở thành nước đầu tư trực tiếp lớn thứ hai ở Việt Nam với tổng mức đầu tư trong năm đạt 7,4 tỷ USD, tăng 85% so với năm 2020. Hàn Quốc tiếp tục là nước cấp viện trợ phát triển lớn thứ hai cho Việt Nam với mức cam kết là 1,5 tỷ USD trong giai đoạn 2016 - 2020.

Cộng đồng Việt Nam ở Hàn Quốc (ước tính trên 240.000 người) và cộng đồng người Hàn Quốc ở Việt Nam (khoảng 200.000 người) tiếp tục khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống, tăng cường thích ứng trong bối cảnh đại dịch. 

Sự phối hợp ngày càng chặt chẽ giữa hai nước trên các diễn đàn đa phương, trong đó có ASEAN và các cơ chế đa phương khu vực do ASEAN dẫn dắt, Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM), Diễn đàn Nghị viện châu Á – Thái Bình Dương cũng như trong các cơ chế thương mại đa phương như Hiệp định Tự do thương mại ASEAN-Hàn Quốc, Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) và kể cả trong các cơ chế tiểu khu vực như Me Kong. 

Đặc biệt, hai nước đã hỗ trợ lẫn nhau một cách hiệu quả trong các tình huống cần thiết. Chính phủ và nhân dân Hàn Quốc đã tặng cho Việt Nam trên 1,4 triệu liều vắc xin phòng Covid-19. Doanh nghiệp và các tổ chức hữu nghị Hàn Quốc đã đóng góp hơn 20 triệu USD vào Quỹ Vắc xin của Việt Nam cũng như nhiều viện trợ hiện vật giúp Việt Nam chống dịch.

Trong khi đó, các doanh nghiệp Việt Nam đã kịp thời đảm bảo nguồn cung tới 30% nhu cầu về urê cho thị trường Hàn Quốc và các địa phương của Việt Nam đã tích cực giúp đỡ doanh nghiệp Hàn Quốc đảm bảo sản xuất kinh doanh trong giai đoạn chống dịch.

Sự phát triển của các lĩnh vực hợp tác kể trên đã góp phần nâng mức độ tin cậy và sự hiểu biết giữa hai nước trên các cấp độ quốc gia, địa phương và nhân dân. Đó chính là cơ sở để hai nước nâng cấp khuôn khổ quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện trong thời gian tới. 

Đại sứ Việt Nam đánh giá tiềm năng hợp tác song phương còn rất lớn. Hai bên đặt ra mục tiêu phấn đấu nâng kim ngạch thương mại song phương lên 100 tỷ USD năm 2023 và 150 tỷ USD năm 2030 theo hướng cân bằng cán cân thương mại hơn và khuyến khích các doanh nghiệp Hàn Quốc mở rộng quy mô đầu tư tại Việt Nam trong khi đưa các doanh nghiệp Việt Nam lên mức cao hơn trong các chuỗi cung ứng và giá trị.

Hai bên đã và đang tích cực chuẩn bị và triển khai nhiều hoạt động trong kế hoạch kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Đại sứ Nguyễn Vũ Tùng cho hay, hai bên sẽ tổ chức các chuyến thăm, sự kiện cấp nhà nước, trao đổi điện mừng cấp cao vào ngày kỷ niệm 22/12, theo đó hai bên dự kiến sẽ chính thức nâng cấp khuôn khổ quan hệ song phương.

Các hội đoàn hữu nghị và các địa phương của hai bên cũng sẽ tổ chức các hoạt động kỷ niệm. Các hoạt động giao lưu, quảng bá văn hóa, biểu diễn nghệ thuật, thi đấu thể thao . . . sẽ được tổ chức tại cả hai nước.

Bộ Ngoại giao hai nước đã mời được một số nhân vật tiêu biểu có đóng góp vào quá trình hình thành và phát triển quan hệ song phương, tham gia tổng kết 30 năm quan hệ cũng như đề xuất các biện pháp mới đưa quan hệ tiếp tục phát triển. 

 

LẠM DỤNG MỸ TỪ, KHUẾCH TRƯƠNG DANH XƯNG

 Đối với những người cầm bút chuyên nghiệp và các cơ quan báo chí, truyền thông thì không nên sử dụng tràn lan các từ ngữ, danh xưng kiểu như “mỹ nam”, “nam thần”, “nam vương”, “soái ca”... rồi ghán ghép cho các ca sĩ, diễn viên, người mẫu trẻ khi bản thân họ chưa thực sự hội tụ đủ vẻ đẹp, tài năng, phong cách nghề nghiệp mà công chúng chân chính mong đợi.

“NHẬP KHẨU” ĐỦ THỨ MỸ TỪ HÀO NHOÁNG

Chưa thời nào mà ngôn ngữ giới trẻ lại đa dạng, nhiều màu sắc như thời nay. Điều này không có gì khó hiểu, bởi “thế giới phẳng” và các phương tiện nghe nhìn hiện đại đến với mọi người, mọi nhà, len lỏi vào mọi ngóc ngách của cuộc sống thì việc giới trẻ tiếp nhận các từ ngữ ngoại nhập để góp phần làm phong phú, tươi mới lời ăn tiếng nói hằng ngày của mình.

Nói về trai tài gái sắc, người xưa gói gọn trong cụm từ “tài tử giai nhân”. “Tài tử” sau này mở rộng ý nghĩa để nói về những diễn viên sân khấu, điện ảnh, xiếc có tài năng và sự hào hoa, phong độ. Vẻ tài tử của các nam diễn viên điện ảnh, sân khấu có thể trở thành điểm nhấn của một vở diễn, một bộ phim và cũng là sức hút đối với khán giả.

Khoảng một thập niên gần đây, dưới con mắt của giới trẻ, những chàng trai có tài năng cùng với ngoại hình ưa nhìn, nhất là những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật, thể thao (ca sĩ, diễn viên, vũ công, người mẫu, vận động viên, huấn luyện viên thể hình...) thì được gắn với nhiều cái tên đầy gợi cảm như “mỹ nam”, “nam thần”, “soái ca”, “nam vương”...

“Mỹ nam” là từ ngữ có nguồn gốc từ Hàn Quốc, được sử sụng phổ biến từ đầu những năm 2000, để chỉ các ca sĩ, diễn viên trẻ có khuôn mặt tươi tắn, phong cách cá nhân và thời trang nổi bật, dễ thu hút và trở thành thần tượng của giới trẻ ở xứ sở kim chi.

“Nam thần” có gốc gác từ những cuốn sách, bộ phim ngôn tình Trung Quốc, để nói về những chàng trai đẹp đẽ, giỏi giang, từ vóc dáng hình thể đến phong cách nói năng đều toát lên sự hào hoa, nhã nhặn, dễ tạo ấn tượng, sức hút đối với các thiếu nữ.

“Soái ca” có nguồn gốc từ tiếng Hán. “Soái” xuất phát từ “thống soái”, “nguyên soái”, nghĩa là người đàn ông đứng đầu một đội quân tinh nhuệ, có tài năng về chiến thuật, nghệ thuật quân sự để điều binh khiển tướng trong các cuộc chiến đấu. Theo nghĩa gốc, “soái ca” để chỉ người đàn ông có dũng khí, bản lĩnh, quyền lực, oai phong, lẫm liệt, có thể quyết định đến vận mệnh của cả một đội quân, quốc gia, dân tộc. Sau này, “soái ca” xuất hiện trong truyện ngôn tình ở Trung Quốc, dành để chỉ những chàng trai trẻ đẹp, tài năng, chung tình, bên ngoài tỏ vẻ lạnh lùng mà bên trong ấm áp. Đây là “hình mẫu lý tưởng” mà nhiều cô gái trẻ mơ ước.

“Nam vương” là một danh hiệu dành cho những chàng trai đoạt ngôi vị cao nhất trong các cuộc thi tôn vinh vẻ đẹp nam tính mang tầm quốc tế như Mister Internationnal, Mister World, Mister Global... hay cuộc thi trong nước như Mister Vietnam. Người đoạt ngôi vị nam vương là những người mẫu sở hữu thân hình cân đối, vóc dáng săn chắc, khỏe mạnh, tràn đầy năng lượng tích cực và hút mắt giám khảo cùng khán giả trong suốt quá trình thi.

BÁO CHÍ, TRUYỀN THÔNG KHÔNG NÊN LẠM DỤNG MỸ TỪ, KHUẾCH TRƯƠNG DANH XƯNG

Việc nhập khẩu các từ ngữ chỉ vẻ đẹp toàn năng, vẻ đẹp thánh thiện của nam giới trẻ (“mỹ nam”, “nam thần”, “soái ca”, “nam vương”...) vào môi trường giao tiếp, đời sống ngôn ngữ hằng ngày và trên các phương tiện truyền thông đại chúng là điều bình thường. Vấn đề đáng nói là những từ ngữ này nhiều khi sử dụng không đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng, thậm chí có biểu hiện lạm dụng thái quá, lệch chuẩn.

Một số nam ca sĩ, diễn viên trẻ có ngoại hình khá ưa nhìn, song phải nhờ công nghệ photoshop chỉnh sửa và được các góc quay camera chau chuốt mà hình ảnh anh ta xuất hiện trên mạng xã hội, thể hiện trong các MV (music video) hay trong các bộ phim truyền hình mới trở nên tươi đẹp, bắt mắt. Còn kỹ thuật giọng hát, kỹ năng diễn xuất, nói chung là nội lực thanh sắc của những ca sĩ, diễn viên này cũng chỉ trên mức bình thường một chút. Tuy nhiên, qua con mắt nhận định, đánh giá của một số cây bút theo dõi mảng văn hóa giải trí, những ca sĩ, diễn viên này được gắn với những dòng tít, dòng chữ rất mùi mẫn, như: “Mỹ nam vừa ra mắt MV mới đã đốn tim hàng triệu cô nàng”; “Nam thần thu hút triệu like nhờ thủ vai chính trong phim”; “Chàng ca sĩ soái ca sắp lên xe hoa khiến nhiều fan nữ ngẩn ngơ”; “Nam vương đa tài khi đóng phim, làm MC, thi gameshow, ngồi ghế nóng ban giám khảo cuộc thi người mẫu”, v.v...

Trong thực tế, một bộ phận công chúng, nhất là giới trẻ có thể chưa hiểu hết gốc gác, ý nghĩa của các từ “mỹ nam”, “nam thần”, “soái ca”, “nam vương” nên sử dụng còn có phần lẫn lộn, bát nháo, thì dẫu sao cũng dễ bề thông cảm vì cái nhìn hời hợt, bồng bột của lứa tuổi chưa đủ độ chín, thiếu vốn văn hóa và vốn sống.

Đối với những người cầm bút chuyên nghiệp và các cơ quan báo chí, truyền thông thì không nên sử dụng tràn lan các từ ngữ, danh xưng này rồi ghán ghép vào các ca sĩ, diễn viên, người mẫu trẻ khi bản thân họ chưa thực sự hội tụ đủ vẻ đẹp, tài năng, phong cách nghề nghiệp mà công chúng chân chính mong đợi. Bởi cách truyền thông như vậy vô hình trung đội lên một vầng hào quang giả tạo cho ca sĩ, diễn viên, người mẫu, từ đó tung hô, cổ súy lối sống hư danh, cuồng thần tượng của một bộ phận giới trẻ đang có nguy cơ làm vẩn đục môi trường văn hóa nghệ thuật của nước nhà.
-------------
PT.TG. st


Càng ở những nơi khó khăn, gian khổ thì càng có nhiều sự cống hiến, hy sinh của tuổi trẻ toàn quân

 

Phát biểu của Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tại Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Truyền thống Thanh niên Quân đội, Ban Thanh niên Quân đội (8-2-1952 / 8-2-2022) và đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất.

BIÊN GIỚI PHÍA BẮC 1979: “…CHÚNG TÔI ĐÃ CHIẾN ĐẤU HẾT ĐẠN, XIN VĨNH BIỆT CÁC ĐỒNG CHÍ”


          Trong hàng triệu bức điện mật xuyên suốt từ thời chiến đến thời bình, phần lớn các bức điện nhằm duy trì thông tin liên lạc, chỉ đạo, chỉ huy của lãnh đạo. Nhưng cũng có những bức điện mật là lời chào, lời từ biệt gửi tới đồng đội; phản ánh sự khốc liệt của những năm tháng chiến tranh bảo vệ tổ quốc. Một trong số đó là bức điện mật cuối cùng của chiến sĩ cơ yếu đồn Pha Long, với những lời từ biệt đồng đội: “...Chúng tôi đã chiến đấu hết đạn. Xin vĩnh biệt các đồng chí”.

          Trong lịch sử đấu tranh cách mạng, đặc biệt là trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân ta, Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc đã dành sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn cho Việt Nam. Tuy nhiên, sau khi đất nước Việt Nam được thống nhất, Trung Quốc đã tăng cường các hoạt động tuyên truyền, kích động tâm lý thù hằn dân tộc, khiêu khích vũ trang, xâm lấn đất đai… gây nên tình hình căng thẳng, phức tạp giữa hai nước, mà đỉnh điểm là cuộc tiến công của quân Trung Quốc vào biên giới phía Bắc Việt Nam (tháng 2/1979). Trước tình hình đó, Đảng, Nhà nước Việt Nam kiên trì chủ trương giải quyết tình hình nói trên bằng giải pháp hòa bình, đồng thời khẩn trương tăng cường lực lượng, đẩy mạnh xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trên phạm vi cả nước.

          Trong những ngày cuối năm 1978 đầu năm 1979, theo ý kiến chỉ đạo của Bộ Tư lệnh, phụ trách cơ yếu các đơn vị đã nhanh chóng rà soát, bổ sung tiếp vào kế hoạch bảo đảm liên lạc qua kỹ thuật mật mã trong chiến đấu. Các đơn vị đã cử cán bộ cơ yếu xuống các đồn biên phòng kiểm tra, giúp đỡ cơ yếu đồn thực hiện kế hoạch chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu theo phương án đã quy định của cấp trên. Các quy ước liên lạc trong tình huống khẩn cấp đã được các đồn thực tập liên lạc thử về tỉnh và vượt cấp về Bộ Tư lệnh.

          Ngày 17/2/1979, hàng chục vạn quân Trung Quốc đồng loạt vượt biên giới Trung Quốc - Việt Nam, tiến công nhiều mục tiêu trên toàn tuyến biên giới phía Bắc nhằm nhanh chóng đánh chiếm một số thị xã, đường tiếp tế của Việt Nam từ phía sau lên. Hướng tiến công chủ yếu là Lạng Sơn, Cao Bằng, hướng quan trọng là Lào Cai, hướng phối hợp là Phong Thổ, Lai Châu, hướng nghi binh để thu hút lực lượng của Việt Nam là Hà Tuyên và Quảng Ninh.

          Cách đánh chủ yếu của Trung Quốc là sử dụng lực lượng áp đảo bất ngờ tiến công đồng loạt, tập trung vào hướng chính diện kết hợp với vu hồi, thọc sâu, bao vây, chia cắt lực lượng ta, đặc biệt là sử dụng pháo binh gây sát thương lớn cho bộ đội và dân thường Việt Nam. Tại Lào Cai, Trung Quốc dùng 2 trung đoàn bộ binh bất ngờ tấn công đồn Pha Long, nhằm triển khai ý đồ chiến thuật cắt rời mảnh đất hình tam giác này ra khỏi thế trận liên hoàn toàn tỉnh Hoàng Liên Sơn.

          Đồn Pha Long rơi vào thế cô lập, bị bao vây. Với tinh thần cách mạng, các chiến sĩ đã chiến đấu phòng ngự trong suốt 4 ngày đêm chống trả số lính thiện chiến, có sự yểm trợ của pháo binh và đông gấp nhiều lần bên ta. 9 giờ ngày 18/2/1979 địch tập trung lực lượng lớn tiếp tục áp sát đồn, kêu gọi chiến sĩ ta đầu hàng. Cán bộ chiến sĩ đồn Pha Long vẫn bình tĩnh ngoan cường nổ súng vào đầu quân xâm lược. Những lúc ác liệt đó, chiến sĩ Nguyễn Duy Mạc, nhân viên Cơ yếu Đồn Biên phòng Pha Long (Hoàng Liên Sơn) vẫn liên tục một tiếng, rồi ba mươi phút một lần mã điện báo cáo về Tỉnh và Bộ Tư lệnh. Quyết tâm chiến đấu của cán bộ chiến sĩ đồn Pha Long đã được chiến sĩ Mạc chuyển đi ngay trưa 18/2/1979: “Đồn Pha Long bị bao vây, địch đã chiếm hết các chốt của ta, lực lượng thương vong nhiều. Nhưng anh em chúng tôi còn lại kiên quyết không rời vị trí chiến đấu. Dù còn một người cũng chiến đấu”. 11 giờ 20 ngày 18/2/1979, bộ phận cơ yếu tỉnh bộ Công an vũ trang Hoàng Liên Sơn đã cấp tốc chuyền ngay mệnh lệnh chiến đấu của Ban chỉ huy Tỉnh cho đồn Pha Long và đại đội 3 cơ sở biên phòng: “Đại đội 3 chi viện ngay cho đồn Pha Long để cùng phối hợp chiến đấu. Các đồng chí hãy nêu cao khí phách anh hùng dù hy sinh cũng phải chiến đấu đến cùng, kiên quyết không đầu hàng địch, không để địch bắt sống”. Tiếp đó, Phòng Cơ yếu cũng mã ngay chỉ thị khẩn cấp của Bộ Tư lệnh cho Trung đoàn 16 cơ động biên phòng: “Điều ngay tiểu đoàn một ở Mường Khương triển khai cùng tác chiến với đồn Pha Long. Cho một đại đội khác tìm đường từ Xi Ma Cai lên Pha Long cùng chiến đấu. Nhận chỉ thị này thực hiện ngay không được chậm”. Thời điểm ấy, Đồn trưởng Pha Long đi công tác xa, việc chỉ huy do thượng úy Trần Ngọc, Chính trị viên kiêm Bí thư Chi bộ Đồn.

          Mặc dù, trước đó đã được chi viện tăng cường, nhưng do bị vây đánh suốt mấy ngày liền, lương thực, đạn dược cạn dần, thương vong ngày càng cao... Đến sáng 19/2/1979, quân Trung Quốc đông gấp nhiều lần. Trước nguy cơ Đồn bị rơi vào tay địch, Phòng Cơ yếu đã điện chỉ đạo cho cơ yếu đồn Pha Long: “Tình hình không bảo đảm an toàn tài liệu thì báo cáo Ban chỉ huy đồn tìm cách bảo vệ hoặc xử lý ngay”. 11 giờ ngày 19/2/1979, Cơ yếu đồn Pha Long đã mã bức điện cuối cùng của Ban Chỉ huy Đồn báo cáo Bộ Tư lệnh và Ban chỉ huy tỉnh: “Một Sư đoàn địch đang vây hãm đồn. Chúng tôi đã chiến đấu hết đạn. Xin vĩnh biệt các đồng chí”.

          Chiến tranh đã qua đi nhưng kí ức về một thời bom đạn vẫn còn đó. Càng thấm thía, biết ơn sâu sắc đối với lớp lớp thế hệ cha anh đi trước đã hy sinh xương máu trong sự nghiệp giải phóng dân tộc...

 

 

“DÙ CÓ PHẢI ĐỐT CHÁY CẢ DÃY TRƯỜNG SƠN” CŨNG QUYẾT PHẢI CHỐNG CHO ĐƯỢC THAM NHŨNG, TIÊU CỰC


          Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng”. Một trong các lý do để Đảng ta ban hành Kết luận số 21 đó là: Xây dựng và chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sự tồn vong của Đảng và chế độ, sự phát triển bền vững của đất nước. 92 năm qua kể từ khi có Đảng, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân đã được phát huy tối đa; điều đó được chứng minh dân tộc ta đã đánh thắng 2 đế quốc hùng mạnh nhất, cả dân tộc chung sức, đồng lòng xây dựng đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu sánh vai cùng các cường quốc 5 Châu; như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

          Tuy nhiên hiện nay, việc huy động sức mạnh lòng dân để khơi dậy khát vọng phát triển đất nước; đang gặp phải những rào cản từ một số cán bộ, đảng viên trong bộ máy công quyền. Đó là một số đảng viên không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả…

          Nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều, làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về nghi hưu. Hạ thấp, phủ nhận thành quả cách mạng, thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Số khác cán bộ, đảng viên suy thoái đạo đức, lối sống đánh bạc, rượu chè bê tha, mê tín, dị đoan, ủng hộ hoặc tham gia các tổ chức tôn giáo bất hợp pháp. Xa vào các tệ nạn xã hội, vi phạm thuần phong, mỹ tục, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, chuẩn mực đạo đức gia đình và xã hội.

          Nguy hiểm hơn là họ gây lãng phí, thất thoát tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên...; đầu tư công tràn lan, hiệu quả thấp hoặc không hiệu quả; mua sắm, sử dụng tài sản công vượt quy định; chi tiêu công quỹ tùy tiện, vô nguyên tắc; sử dụng lãng phí nguồn nhân lực, phí phạm thời gian lao động. Tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực. Bổ nhiệm thần tốc; đưa con, cháu vào những vị trí dễ “vinh thân, phì gia”.

          Những vụ án mà Ủy ban Kiểm tra Trung ương đưa ra ánh sáng lần sau có số nghìn tỷ, nhiều hơn lần trước và thực tế công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực mới chỉ nóng ở cấp Trung ương; còn cấp bộ, ngành, tỉnh, huyện còn rất nguội lạnh. Vậy sẽ còn bao nhiêu con voi nghìn tỷ nữa, hằng ngày, hằng giờ chui lọt lỗ kim? Và một điều chắc chắn là khi cán bộ, đảng viên càng tham nhũng, tiêu cực thì niềm tin của nhân dân vào Đảng càng dần vơi cạn.

          Một mùa Xuân mới đang về trên khắp quê hương, đất nước; quyết tâm của Đảng ta tại Đại hội XIII là vô cùng lớn, khát vọng phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa được bạn bè 5 châu và nhân dân đồng tình ủng hộ. Chúng ta đã một lần quyết tâm dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng quyết dành cho được độc lập; thì lần này muốn Ðảng Cộng sản Việt Nam luôn được Nhân dân tin tưởng và trường tồn cùng non sông đất nước; muốn sự nghiệp xây dựng đất nước hùng cường, sánh vai với các cường quốc 5 châu như Bác Hồ hằng mong muốn thành công. Thì dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn một lần nữa chúng ta cũng quyết phải chống cho bằng được tham nhũng, tiêu cực.

NHẬN RÕ BẢN CHẤT CỦA VIỆC KÊU GỌI ĐÓNG GÓP “QUỸ ỦNG HỘ TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM”


          Lâu nay, giới “dân chủ” vẫn thực hiện vô số chiêu trò để đánh lừa dư luận. Song song với việc gieo rắc các thông tin độc hại, những kẻ này cũng ra sức kêu gọi người dân đóng góp vào các “quỹ ủng hộ tù nhân lương tâm” – thực chất là hành động huy động vật chất phục vụ mục đích chống phá. Gần đây, đối tượng “dân chủ” Hoàng Dũng đăng đàn kêu gọi với nội dung: “Tết sắp đến rồi, mình có số tài khoản ngân hàng của hầu hết các tù nhân lương tâm dưới đây. Anh chị em có muốn gửi quà Tết cho người nào, xin vui lòng nhắn tin cho mình, mình sẽ gửi số tài khoản”.

          Trong danh sách các “tù nhân lương tâm”, Hoàng Dũng liệt kê ra hàng loạt cái tên cộm cán của giới dân chủ là Lê Anh Hùng, Huỳnh Trương Ca, Lê Đình Lượng, Cấn Thị Thêu, Lê Dũng Vova… Các cơ quan chức năng của Việt Nam không ít lần nhấn mạnh tại Việt Nam không có cái gọi là “tù nhân lương tâm”. Ấy thế nhưng những chiếc “mõ làng dân chủ” lại cố tình xuyên tạc, tô vẽ ra cái gọi là “tù nhân lương tâm” để đánh lạc hướng dư luận, tạo cớ chống phá chính quyền.

          Vậy đằng sau chiêu trò khóc mướn, kêu gọi ủng hộ cho các đối tượng “tù nhân lương tâm” mục đích thực sự là gì? Nói trắng ra, hành động của các đối tượng thực chất là việc xin tiền một cách hết sức thô thiển để nuôi dưỡng các hoạt động chống phá đất nước. Núp dưới chiêu trò đấu tranh cho “dân chủ”, “nhân quyền”, các đối tượng xấu đã tìm mọi cách để huy động các nguồn vật chất. Trong đó có thể kể đến các loại quỹ với các tên hết sức thu hút như “quỹ 50k”, “quỹ thiện nguyện vì dân”…

          Thực tế, các đối tượng được xếp vào nhóm “tù nhân lương tâm” đều là những kẻ chống phá hết sức quyết liệt, có hành vi vi phạm pháp luật hình sự một cách nghiêm trọng, xâm phạm đến an ninh quốc gia của Việt Nam. Việc kêu gọi “ủng hộ” cho những kẻ này không phải là việc thúc đẩy sự phát triển của “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền” như những gì các đối tượng xấu đang rêu rao. Mục đích chính hành động này là kêu gọi tài trợ về vật chất trên danh nghĩa hỗ trợ, ủng hộ các “tù nhân lương tâm”.

          Thông qua việc ủng hộ về vật chất, các đối tượng xấu tiếp tục hướng lái, kích động người nhà của những kẻ bị kết án đi vào “con đường dân chủ”. Chúng ta đã được chứng kiến không ít trường hợp cả gia đình đi theo “con đường dân chủ”. Một số trường hợp khác, thông qua người nhà, người thân của các “tù nhân lương tâm”, các đối tượng đã thêu dệt, tô vẽ ra vô số vấn đề đen tối, quy chụp cho rằng những kẻ đang chấp hành án bị dùng nhục hình trong trại giam… Tất cả những điều này đã trở thành cái cớ để các thế lực thù địch bên ngoài tiếp tục chống phá chính quyền.

          Mặt khác, việc kêu gọi ủng hộ cho các “tù nhân lương tâm” cũng là một cách để đánh bóng tên tuổi cho những kẻ đứng ra kêu gọi lẫn những kẻ đang chấp hành án. Trong “nghề dân chủ”, các đối tượng không từ bất cứ thủ đoạn gì để xây dựng, tô vẽ hình tượng bản thân nhằm khiến dư luận lầm tưởng cho rằng những kẻ này đầy đạo đức, nhân nghĩa.

          Vậy nhưng thực tế, “nghề” này có sự cạnh tranh hết sức khốc liệt. Nếu muốn nổi tiếng, muốn nhận được “đầu tư” từ bên ngoài thì mỗi “nhà dân chủ” phải tự đánh bóng tên tuổi bản thân. Với những kẻ đang trong tù, nếu tên tuổi bản thân không được nhắc đến thì sẽ nhanh chóng bị rơi vào quên lãng. Với những kẻ “dân chủ mới nổi”, do thâm niên trong nghề chưa cao, “uy tín” còn thấp nên chưa nhận được sự chú ý đầu tư từ bên ngoài. Vì vậy, việc kêu gọi ủng hộ là một cách mượn danh các đối tượng “dân chủ” cộm cán đang bị kết án để nâng cao địa vị bản thân.

          Từ việc kêu gọi, những kẻ này hoá thành “ân nhân” của một số kẻ được hưởng lợi. Thông qua đó, những đối tượng “dân chủ” móc nối với nhau, mở rộng phạm vi hoạt động, hình thành các “liên kết ma quỷ” chống phá đất nước. Đồng thời, thông qua việc kêu gọi ủng hộ các “tù nhân lương tâm”, các đối tượng tạo ra một bức tranh nguệch ngoạc, tăm tối, u ám về tình hình dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam. Những kẻ này “tẩy trắng” cho các đối tượng bị kết án, vu khống chính quyền “đàn áp người vô tội”, tạo cớ cho các thế lực bên ngoài can thiệp, tác động vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đây là những điều không thể chấp nhận được.

          Núp dưới chiêu trò “dân chủ”, “nhân quyền” để chống phá đất nước không phải là thủ đoạn mới. Tuy nhiên, đây vẫn là chiêu bài chính được sử dụng để chống phá chế độ. Vì vậy, người dân phải hết sức cảnh giác trước các thông tin được những kẻ mang danh nghĩa “dân chủ” tung ra và kiên quyết vạch trần bộ mặt “giả nhân, giả nghĩa” của các đối tượng chống phá./.

HỘI TỤ TÂM VÀ TẦM

Ngay trong tuần đầu, sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022, Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Hội đồng Lý luận Trung ương, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật sẽ tổ chức Lễ ra mắt cuốn sách: "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Thư của Bí thư thứ Nhất Trung ương Đoàn gửi Thanh niên Quân đội nhân kỷ niệm 70 năm Ngày Truyền thống

Nhân dịp kỷ niệm 70 năm Ngày Truyền thống Thanh niên Quân đội, đồng chí Nguyễn Anh Tuấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư thứ Nhất Ban chấp hành Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh gửi thư chúc mừng.

Kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống Thanh niên Quân đội

Hôm nay, ngày 08/02/2022, tại Hà Nội, Ban Thanh niên Quân đội (TNQĐ) tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống TNQĐ, Ban TNQĐ (8-2-1952 /8-2-2022) và đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất. Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tới dự và có bài phát biểu quan trọng.

CHÚNG TÔI SẼ THẮNG



Tháng 2 .1979, đại sứ nước CHXHCNVN tại Ý là ông Nguyễn Anh Vũ, đã mở một cuộc họp báo chí quốc tế để lên án Trung Quốc tấn công 6 tỉnh biên giới nước ta. Tại họp báo có một phóng viên hỏi ông :

GIÁM MỤC KON TUM BỊ CÔNG KÍCH VÌ ĐƯA THÔNG TIN KHÁCH QUAN


Giám mục Kon Tum bị công kích chỉ vì đưa thông tin khách quan đã lộ rõ bộ mặt xấu xa của những kẻ lợi dụng tôn giáo để chống phá!


Ngày 29/1, ngay thời điểm trước Tết nguyên đán, một sự việc đau lòng xảy ra tại xã Saloong, huyện Ngọc Hồi, Kon Tum. Linh mục Trần Ngọc Thanh trong khi làm lễ đã bị một người sát hại. Kẻ thủ ác là Nguyễn Văn Kiên (sinh sống tại xã  Saloong) nhanh chóng bị giáo dân bắt, giao nộp cho cơ quan công an. Lực lượng công an đã khởi tố đối tượng tội Giết người.

CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT:SỐ PHẬN NGƯỜI ĐÓNG THẾ STALIN!

         Những truyền thuyết đáng kinh ngạc nhất vẫn còn lưu truyền về những người đóng thế của Stalin. Đúng vậy, tên của nhiều người trong số họ vẫn chưa được biết đến cho đến tận ngày nay. Tuy nhiên, nữ nhà báo Irina Sergievskaya trong cuốn sách “Đền Pantheons của Điện Kremlin” đã đề cập đến ít nhất 5 người từng đảm nhận vai trò đóng thế Stalin, trong đó có một nhân viên kế toán bình thường, Yevsey Lubnitsky.


MỘT LOẠT VỤ MƯU SÁT

Được biết, nhiều âm mưu ám sát Stalin đã được liên tục tổ chức, đặc biệt là trong thập niên 1930. Chỉ trong năm 1933, Stalin đã hai lần đứng trước bờ vực của cái chết. Chẳng hạn, trong chuyến đi nghỉ dưỡng đến hồ Ritsa, dọc đường sếp an ninh Beria đã yêu cầu lãnh tụ chuyển sang một chiếc xe khác, vì linh cảm nghề nghiệp đã báo cho ông ta biết có thẻ sẽ xảy ra tai họa với Stalin.

Stalin đã làm theo lời khuyên của Beria. Ngay sau đó, khi đi qua sông Lashupse, cầu bắc qua sông bất ngờ bị sập, chiếc ô tô mà Stalin ngồi trước đó lao xuống nước. Vài ngày sau, Beria lại nổi bật với một hành động anh hùng: dùng thân mình che chắn cho Stalin khỏi những phát súng bắn từ bờ khi hai người đang ngồi thuyền dạo chơi trên hồ. Số là các chiến sĩ biên phòng đã bắn do nhầm lẫn. Tuy nhiên, có một phiên bản cho rằng Lavrenty Beria đã sắp xếp cả hai "âm mưu ám sát" để lấy lòng Stalin.

Trong khi đó, câu chuyện xảy ra với nhà lãnh đạo năm 1935 đóng vai trò quyết định trong việc Stalin quyết định phải có người đóng thế. Ít nhất, đây là những gì Andrei Sudoplatov, con trai của viên tướng tình báo nổi tiếng Pavel Sudoplatov, đề cập trong cuốn sách Cuộc đời bí mật của tướng Sudoplatov. Theo Andrei Sudoplatov, vào mùa thu năm đó, Stalin đến Gruzia để gặp mẹ mình, bà Ekaterina Dzhugashvili.

Tuy nhiên, chuyến thăm trở nên ngắn ngủi: đội bảo vệ của nhà lãnh đạo đã phát hiện một âm mưu trong hàng ngũ những người cộng sản cũ của Gruzia, vốn tin chắc rằng Stalin đã phản bội sự nghiệp của Lenin. Những kẻ dự mưu đã thất bại trong âm mưu sát hại "lãnh tụ của các dân tộc", nhưng chính sau vụ việc này, Stalin đã được bố trí một nhân viên đóng thế - Yevsey Lubnitsky.


KẾ TOÁN VIÊN TRONG VAI STALIN

Theo Maria Pankova và các tác giả khác của ấn phẩm "100 bí mật nổi tiếng trong lịch sử", các nhân viên an ninh đã phát hiện ra “bản sao” của Stalin vào năm 1935 tại thành phố Vinnitsa ở miền Trung Ukraina. Khi đó, Yevsey Lubnitsky (theo cách gọi khác là Lubitsky), người giống Stalin một cách bất thường, đang là một nhân viên kế toán bình thường. Ngay lập tức, Lubnitsky được đưa đến Moskva, sống trong một căn nhà gỗ nằm ở ngoại ô, nơi người ta bắt đầu công việc chuẩn bị cho kế toán viên đảm nhiệm một trọng trách vô cùng to lớn.

Các chuyên gia thẩm mỹ, thợ làm tóc, thợ may, cũng như các nhà tâm lý học đã tham gia vào hoạt động bí mật này. Theo các tác giả của cuốn sách đã được đề cập, những người này sau đó đã bị loại bỏ. Ngoài ra, trong sáu tháng, Yevsey Lubnitsky đã được dạy về dáng đi, nét mặt và cử chỉ của nhà lãnh đạo. Theo lời Lubnitsky, chính Stalin đã chấp thuận và rất hài lòng về kẻ đóng thế. Nhân dịp này, "hai Stalin" thậm chí còn uống với nhau một chai rượu cognac.

Buổi "biểu diễn" đầu tay của anh chàng kế toán cũ thành công vượt cả lên trên mong đợi. Còn phải nói: ngay cả người đứng đầu Dân ủy Nội vụ, Nikolai Yezhov, cánh tay phải, nhân vật cận kề như hình với bóng của Stalin, mà còn không nhận ra (khi chưa được nghe giọng nói), huống chi các thành viên của phái đoàn thợ mỏ Scotland, những người chưa bao giờ nhìn thấy nhà lãnh đạo Liên Xô ở ngoài đời. Sau khi vượt qua "thử thách" ban đầu thành công như vậy, Yevsey Lubnitsky bắt đầu tham gia vào các sự kiện khác, quan trọng hơn.

Ông thậm chí còn đứng trên ban công lăng Lenin bên cạnh các “đại thần” Kaganovich, Molotov, Malenkov và các quan chức cao cấp khác. Trong lần trả lời phỏng vấn tờ Montreal Gazette, Lubnitsky cho biết tất cả các quan chức lớn đều đã biết rằng trước mặt họ chỉ là Stalin giả, và không che giấu sự ganh tị. Lubnitsky cho rằng sở dĩ có thái độ này là do hầu hết các quan chức cao sấp của đảng đều mơ ước có được người đóng thế.

BỊ BẮT GIỮ VÀ ĐÀY ĐẾN TRUNG Á

Tuy nhiên, vài năm sau, Yevsey Lubnitsky cảm nhận được sự căm ghét của giới quan chức đảng cao cấp không chỉ trong ánh mắt của họ. Vào năm 1952, người đóng thế của Stalin đã bị bắt. Các tác giả của ấn bản "100 bí mật nổi tiếng trong lịch sử" nói trên cho rằng sở dĩ Lubnitsky bị bắt giữ là do ông "không còn phù hợp vơi vai diễn vô cùng quan trọng" này. Thực tế là vào thời điểm đó, 17 năm đã trôi qua, khác với người đóng thế của mình, Stalin đã già đi rất nhiều do phải lao tâm khổ tứ với trăm nghìn công việc quốc gia đại sự, đặc biệt phải lãnh đạo cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại trường kỳ, vì thế sự khác biệt giữa hai người trở nên quá rõ ràng. Gần như chắc chắn rằng Lubnitsky sẽ bị thủ tiêu như một nhân chứng không cần thiết. Nhưng số phận đã hé mở một cánh cửa khác.

Ban đầu, Yevsey Lubnitsky được đưa đến trại giam đặc biệt ở Viễn Đông, và sau khi Stalin qua đời thì được chuyển đến Trung Á. Cũng trong năm 1953, Lubnitsky mới biết rằng, cùng với các chuyên gia đã từng hóa trang và dạy ông cách cư xử của lãnh tụ, những người thân của ông cũng bị Nikolai Yezhov ra lệnh thủ tiêu. Bản thân người kế toán khốn khổ, ngay trước khi được trả tự do cũng đã phải ký cam đoan sẽ không đi đâu ra khỏi phần lãnh thổ châu Á của Liên Xô. Do đó, “bản sao của nhà lãnh đạo” đã không thể trở về quê hương Vinnitsa của mình: ông qua đời ở Dushanbe (thủ đô nước cộng hòa Trung Á Tajikistan của Liên Xô) vào năm 1981./.

Yêu nước ST.

LOẠT ĐIỂM MẤU CHỐT CUỘC HỘI ĐÀM GIỮA PUTIN-MACRON VỀ UKRAINE!

         Trong nỗ lực hóa giải cuộc khủng hoảng Ukraina, hai nhà lãnh đạo Nga và Pháp đã có cuộc thảo luận kéo dài 6 giờ về một loạt vấn đề quan trọng.

Theo tin tức từ RT, Tổng thống Nga Vladimir Putin và người đồng cấp Pháp Emmanuel Macron đã gặp nhau ở Moscow ngày 7/2 và hội đàm về khủng hoảng Ukraina, an ninh châu Âu và các vấn đề song phương. Sau đó, họ tổ chức cuộc họp báo để công bố các kết quả cuộc gặp và người đứng đầu nước Pháp sẽ bay sang Ukraina để gặp lãnh đạo nước chủ nhà, ông Volodymyr Zelensky.


Putin tố NATO phớt lờ đề xuất an ninh của Nga

Có 3 điểm chính trong đề xuất an ninh mà Moscow đưa ra hồi tháng 12: Không tiếp tục mở rộng NATO, không triển khai các hệ thống tấn công dọc biên giới Nga, và rút các đội quân mà NATO triển khai mới đây tới các ranh giới 1997.

Hồi đáp của NATO và Mỹ không đề cập đến những điểm này.


Macron nêu "các cơ chế an ninh" mới cho bế tắc Ukraina

Tổng thống Pháp khẳng định, đối thoại với Nga "là cách duy nhất để đảm bảo an ninh và ổn định ở châu Âu".

Ông đề xuất, nếu các cơ chế và hiệp ước hiện tại không đủ để giải quyết tình hình an ninh, những hiệp ước mới nên được đề ra và thực thi.

Người đứng đầu điện Elysee đặc biệt lưu ý, Pháp và Nga "không có cùng cách hiểu" về ý nghĩa của các văn bản, chẳng hạn như Đạo luật cuối cùng Helsinki năm 1975 thiết lập tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE), đặc biệt là khi nhắc đến các vấn đề nhân quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia.


Putin đồng ý làm việc về các đề xuất giảm leo thang của Macron

Tổng thống Nga cho biết "có thể" tiếp tục đối với "một số" đề xuất của người đồng cấp Pháp mà có thể dẫn đến giảm leo thang tình hình ở Ukraina.

Cả hai nhà lãnh đạo không tiết lộ thêm bất kỳ chi tiết nào, và ông Putin thông báo sẽ thảo luận thêm với ông Macron sau khi nhà lãnh đạo Pháp gặp Tổng thống Ukraina trong hôm nay (8/2)./.

Tổng thống Nga Vladimir Putin (phải) và người đồng cấp Pháp Emmanuel Macron.

Môi Trường ST.


Công tác đối ngoại trong đấu tranh phòng ngừa các hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Việt Nam hiện nay

 

Ở Việt Nam, trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, quan hệ dân tộc xuyên biên giới phát triển mạnh mẽ, tác động đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của đất nước. Vì vậy, đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới được xem là một trong những nhiệm vụ phức tạp, đòi hỏi sự tham gia của các cấp, các ngành trên địa bàn biên giới, trong đó công tác đối ngoại giữ vai trò tiên phong, nòng cốt.

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới để chống phá nước ta

Quan hệ dân tộc xuyên biên giới là mối quan hệ của một tộc người trong nước với đồng tộc hoặc khác tộc ở các quốc gia có chung đường biên giới. Quan hệ dân tộc xuyên biên giới ở Việt Nam là mối quan hệ diễn ra từ lâu đời trong lịch sử. Hiện nay, quan hệ dân tộc xuyên biên giới không chỉ bó hẹp trong phạm vi Việt Nam với quốc gia có chung đường biên giới mà còn với nhiều quốc gia khác có người đồng tộc, đồng tôn giáo. Quan hệ dân tộc xuyên biên giới ở Việt Nam biểu hiện phong phú và đa dạng, từ quan hệ về nguồn gốc lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội đến tín ngưỡng, tôn giáo. Các mối quan hệ này tác động đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội trong nước theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực. Bên cạnh những tác động tích cực (tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau về văn hóa giữa nhân dân hai bên biên giới, nâng cao tình đoàn kết và tương trợ thông qua các mối quan hệ kinh tế; thắt chặt và làm giàu thêm sự gắn kết tình cảm, giảm thiểu các xung đột giữa nhân dân hai bên biên giới, góp phần phát triển bền vững kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi...), quan hệ dân tộc xuyên biên giới cũng đặt ra nhiều vấn đề phức tạp, tiềm ẩn những nguy cơ gây bất ổn ở khu vực đa tộc người, đa tôn giáo vùng biên giới (di cư tự do, kết hôn không giá thú, lao động Việt Nam sang các nước láng giềng tìm việc làm, buôn lậu, buôn bán người, truyền đạo trái phép...). Các vấn đề này gây khó khăn trực tiếp đến công tác quản lý nhà nước, làm ảnh hưởng đến mối quan hệ đoàn kết giữa các dân tộc - tộc người hai bên biên giới nói riêng và quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia láng giềng nói chung, dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá nước ta.

Âm mưu xuyên suốt của các thế lực thù địch là lợi dụng vấn đề dân tộc nói chung, quan hệ dân tộc xuyên biên giới nói riêng để chống phá Việt Nam, nhằm chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; kích động đồng bào các dân tộc, các tôn giáo chống phá đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta; mưu toan gây mất ổn định chính trị - xã hội, tạo cớ can thiệp, kích động bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Âm mưu đó được các thế lực thù địch thực hiện ráo riết với những thủ đoạn chủ yếu sau:

Một là, lợi dụng chính sách thông thoáng đối với việc đi lại, thăm thân; lợi dụng tình trạng kết hôn không giá thú, hoạt động tội phạm xuyên biên giới, để tuyên truyền, kích động đồng bào dân tộc thiểu số khu vực biên giới di cư tự do, vượt biên, xâm nhập trái phép, gây bất ổn về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tạo cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Trong những năm qua, cùng với hiện tượng di cư tự do nội địa của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số, tình trạng di cư tự do và hôn nhân không giá thú xuyên biên giới, vượt biên, xâm nhập trái phép ở biên giới Việt Nam có xu hướng gia tăng. Lợi dụng tình hình này, một mặt, các thế lực thù địch đã tìm cách hỗ trợ, chỉ đạo lực lượng phản động là người dân tộc thiểu số cư trú ở khu vực biên giới thúc đẩy, tạo “làn sóng” di cư trái phép đến một số địa bàn “trọng điểm”(1); mặt khác, ra sức tuyên truyền, kích động, mua chuộc, lôi kéo người dân tộc thiểu số vượt biên trái phép, “đưa người dân tộc thiểu số” về từng khu vực theo ý đồ chính trị để có điều kiện xây dựng căn cứ phản cách mạng, khiến vấn đề dân tộc trở thành “ngòi nổ”, tạo cớ để nước ngoài có thể can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Hai là, lợi dụng những vấn đề phức tạp trong lịch sử quan hệ tộc người, nhất là các tộc người cư trú ở khu vực biên giới, tuyên truyền, kích động đòi “ly khai”, “tự trị” và tìm cách “luật pháp hóa”, “quốc tế hóa” vấn đề dân tộc để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Bên cạnh việc tổ chức các cuộc hội thảo, thu thập, phát tán nhiều tài liệu trái phép, các thế lực thù địch với sự trợ giúp của nước ngoài còn đưa ra nhiều “luật” với chế tài mang tính áp đặt vô lý nhằm hỗ trợ, khích lệ tinh thần cho các lực lượng phản động là người dân tộc thiểu số đẩy mạnh các hoạt động chống phá Đảng và Nhà nước ta; hỗ trợ, chỉ đạo lực lượng phản động là người dân tộc thiểu số sống lưu vong ở nước ngoài thành lập nhiều tổ chức dưới danh nghĩa nghiên cứu lịch sử, văn hóa các dân tộc thiểu số nhằm khơi dậy những tồn tại trong quá khứ để kích động tư tưởng “ly khai”, “tự trị” của các dân tộc thiểu số trên một số địa bàn chiến lược của nước ta.

Ba là, núp dưới chiêu bài hoạt động “nhân đạo”, “từ thiện” của các tổ chức phi chính phủ để lôi kéo đồng bào là người dân tộc thiểu số, đồng bào theo tôn giáo chống phá chính quyền Việt Nam. Đây là một trong những thủ đoạn mới hết sức tinh vi, khó nhận biết mà các thế lực thù địch đã và đang công khai sử dụng để hỗ trợ các lực lượng phản động, cực đoan trên địa bàn biên giới hình thành các nhóm tổ chức, tập hợp lực lượng và tiến hành các hoạt động chống phá nước ta. Đáng chú ý, các thế lực thù địch sử dụng những tổ chức này để thâm nhập vào các địa bàn chiến lược của Việt Nam thu thập tình hình, báo cáo xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam; tiếp cận, chỉ đạo lực lượng phản động, cực đoan tiến hành những hoạt động tuyên truyền, kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, đòi “ly khai”, “tự trị” nhằm gây mất ổn định chính trị - xã hội và tạo cớ can thiệp.

Bốn là, lợi dụng địa bàn biên giới của các nước láng giềng để hỗ trợ, chỉ đạo các lực lượng phản động là người dân tộc thiểu số sống lưu vong ở nước ngoài lôi kéo một bộ phận người dân tộc thiểu số từ Việt Nam tham gia thực tập vũ trang cướp chính quyền, xâm nhập, phá hoại các địa bàn chiến lược ở nước ta. Các tổ chức, đứng đầu là những phần tử cực đoan, đã và đang liên kết chặt chẽ với lực lượng phản động trong nước để tiến hành các hoạt động chống phá cách mạng nước ta trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Lực lượng phản động không chỉ tìm mọi cách hỗ trợ, khuyến khích xây dựng các tổ chức phản động sử dụng danh nghĩa tôn giáo ở nước ngoài chuyển hướng hoạt động vào trong nước; ra sức cổ xúy, hỗ trợ các tổ chức phản động mang danh nghĩa tôn giáo ở trong nước để chống phá, mà còn lợi dụng những sơ hở, thiếu sót của các cấp, các ngành trong thực hiện chính sách dân tộc để mưu toan kích động tư tưởng chống đối, khoét sâu mâu thuẫn nội bộ, tạo ra những nhân tố gây mất ổn định, bạo loạn, biến vấn đề dân tộc, tôn giáo thành vấn đề chính trị...

Có thể thấy, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc nói chung, quan hệ dân tộc xuyên biên giới nói riêng nhằm chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay vô cùng đa dạng, với tính chất vô cùng nguy hiểm, vừa công khai, vừa bí mật, diễn ra cả trong nước và ngoài nước, trên tất cả các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội, nhằm gây mất ổn định, phá hoại mối quan hệ tốt đẹp của Việt Nam với các nước láng giềng, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Những thủ đoạn chống phá đó của các thế lực thù địch đã làm cho đời sống kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Việt Nam vốn khó khăn lại càng khó khăn hơn; ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại giữa Việt Nam với các nước, nhất là các nước láng giềng.

Vai trò của công tác đối ngoại trong đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá nước ta

Đại hội XIII (tháng 1-2021) của Đảng xác định, trong những năm tới, cần “tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”(2). Điều đó khẳng định, công tác đối ngoại có vai trò hết sức quan trọng trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và sự phát triển của đất nước nói chung, trong đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới nói riêng.

Vai trò của công tác đối ngoại trong đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới thể hiện ở các cấp độ, mức độ và phạm vi khác nhau tùy theo chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, lực lượng trong thực hiện công tác đối ngoại. Xét trong tổng thể công tác đối ngoại của các cấp, các ngành, các lực lượng liên quan, gắn với thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới, công tác đối ngoại giữ vai trò “tiên phong”, là lực lượng nòng cốt góp phần quan trọng ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Vai trò của công tác đối ngoại trong đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới thể hiện cụ thể trên những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, trực tiếp góp phần nhận diện, phát hiện “từ sớm, từ xa” âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đây là vai trò quan trọng, đồng thời là thế mạnh của công tác đối ngoại trong đấu tranh, phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới. Do tính chất phức tạp, nhạy cảm và liên quốc gia trong quan hệ dân tộc xuyên biên giới mà các tổ chức, lực lượng hoạt động trong phạm vi nội địa khó nắm bắt kịp thời âm mưu, thủ đoạn, hoạt động của các thế lực thù địch, dẫn tới bị động trong giải quyết những vấn đề nảy sinh. Thực tế những năm qua, công tác đối ngoại đã “phát huy được thế mạnh để hóa giải, xử lý từ sớm, từ xa các nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia, nhất là thông qua thúc đẩy đối thoại, xây dựng lòng tin, ngoại giao phòng ngừa, tận dụng hiệu quả các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế”(3). Trên cơ sở đó, kịp thời thông tin đến các tổ chức, lực lượng và quần chúng nhân dân nâng cao nhận thức, ý thức cảnh giác, chủ động xây dựng phương án và tổ chức đấu tranh hiệu quả, không bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Thứ hai, thông qua hoạt động đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân của các cấp, các ngành, công tác đối ngoại đã trực tiếp tham gia đấu tranh, làm thất bại các hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới trên tất cả các bình diện, ở mọi phạm vi và quy mô. Những năm qua, công tác đối ngoại đã phát huy tốt vai trò trong đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nói chung, hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá nước ta nói riêng, qua đó vừa giữ vững được ổn định chính trị - xã hội trong nước, vừa giải tỏa thành công sức ép của các nước phương Tây trong một số vấn đề; “ngăn chặn, vô hiệu hóa những âm mưu, thủ đoạn móc nối, lôi kéo, phá hoại nội bộ Đảng và Nhà nước Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động”(4), góp phần tạo môi trường hòa bình, ổn định đất nước, phát triển bền vững khu vực biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi ở nước ta.

Thứ ba, phối hợp hiệu quả với các cấp, các ngành, các tổ chức, lực lượng, nhất là lực lượng chuyên trách quản lý và bảo vệ vùng biên giới, tạo sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh với các hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Trên cơ sở phối hợp triển khai công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước, thực hiện quản lý biên giới và cửa khẩu theo các văn kiện pháp lý, thỏa thuận về biên giới đã ký kết với các nước; thống nhất quản lý các hoạt động đối ngoại theo Quyết định số 272-QĐ/TW, ngày 21-1-2015, của Bộ Chính trị khóa XI, “Về việc ban hành Quy chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại”, công tác đối ngoại phối hợp chặt chẽ giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh; giữa các cơ quan, bộ, ngành liên quan; chủ động phối hợp tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương các biện pháp trong giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bổ sung, kiện toàn các phương án xử lý những tình huống nảy sinh từ quan hệ dân tộc xuyên biên giới.

Thứ tư, công tác đối ngoại góp phần quan trọng trong quản lý biên giới quốc gia, tạo môi trường hòa bình, ổn định khu vực biên giới, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc vùng biên giới; tham gia xây dựng, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, tạo “sức đề kháng” cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn và hành động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới của các thế lực thù địch, phản động. Trong những năm qua, cùng với những hoạt động khác, các cấp, các ngành luôn phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại; chủ động tham mưu cho Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền địa phương huy động nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân khu vực biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vững mạnh; tạo thế chủ động trong phòng ngừa, đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hành động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động. 

Có thể nói, vai trò của công tác đối ngoại trong đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới nhằm chống phá Việt Nam, đã được khẳng định và phát huy mạnh mẽ trong thực tiễn thời gian qua. Tuy nhiên, có những thời điểm nhất định, vai trò của công tác đối ngoại ở một số tổ chức, lực lượng chưa thực sự được phát huy đầy đủ. Đặc biệt, “nhận thức của một số sở, ngành địa phương và một số cán bộ, đảng viên về vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc, công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số chưa sâu sắc, toàn diện. Sự phối hợp giữa các ngành, các cấp trong việc triển khai thực hiện các chương trình, dự án, chính sách dân tộc thiếu đồng bộ, việc nắm bắt thông tin từ cơ sở chưa đầy đủ, còn chậm, thiếu và chưa sát với tình hình thực tiễn”(5). Hơn nữa, trong thời gian tới, bên cạnh những thuận lợi, vấn đề dân tộc ở Việt Nam được dự báo tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch không từ bỏ âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá nước ta, đòi hỏi các cấp, các ngành cần tiếp tục phát huy tốt vai trò của công tác đối ngoại nhằm đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Việt Nam.

Một số giải pháp pháp phát huy vai trò của công tác đối ngoại trong đấu tranh, phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá nước ta

Một là, quán triệt, nâng cao nhận thức cho các tổ chức, lực lượng làm công tác đối ngoại, lực lượng chuyên trách quản lý, bảo vệ biên giới và cấp ủy, chính quyền địa phương trên địa bàn khu vực nắm chắc quan điểm, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, nhất là đối với các nước láng giềng. Mỗi tổ chức, lực lượng cần bám sát chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trên cơ sở đó triển khai phối hợp, hiệp đồng hiệu quả. Tập trung quán triệt các quy định của luật pháp quốc tế về vấn đề biên giới lãnh thổ, các văn kiện pháp lý đã ký kết giữa Việt Nam với các quốc gia láng giềng, trong đó trọng tâm là ba văn kiện biên giới trên đất liền với Trung Quốc; Hiệp định về quy chế biên giới quốc gia và Thỏa thuận về việc giải quyết vấn đề người di cư tự do, kết hôn không giá thú trong vùng biên giới với Lào; Hiệp ước bổ sung năm 2019 và Nghị định thư phân giới, cắm mốc biên giới trên đất liền với Cam-pu-chia. Nắm chắc tình hình dân tộc, quan hệ dân tộc, tình hình hoạt động, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới nhằm chống phá Việt Nam ở cả trong và ngoài nước. 

Hai là, hoàn thiện cơ chế phối hợp, hiệp đồng giữa các tổ chức, lực lượng, tạo sức mạnh tổng hợp đấu tranh hiệu quả với các hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới. Huy động sự tham gia của các tổ chức và các tầng lớp nhân dân vào các hoạt động đấu tranh chống lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ đất nước(6). Để thực hiện được điều đó, việc đẩy mạnh cơ chế phối hợp, hiệp đồng hiệu quả giữa lực lượng chuyên trách làm công tác đối ngoại với các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương, với lực lượng vũ trang trên địa bàn đóng vai trò hết sức quan trọng. Trên cơ sở thực hiện Quy chế số 272 về quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại, cần chú trọng hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa công tác đối ngoại với quốc phòng - an ninh, tạo thế “chân kiềng” vững chắc ở khu vực biên giới. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, cơ quan có liên quan và chính quyền địa phương đề xuất chủ trương, chính sách và các biện pháp quản lý về biên giới quốc gia; thực hiện quản lý nhà nước, hướng dẫn lực lượng nòng cốt, chuyên trách về nghiệp vụ đối ngoại biên phòng, qua đó, nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Ba là, tăng cường hợp tác quốc tế, cụ thể hóa các khung khổ pháp lý đã ký kết giữa Việt Nam với các nước, nhất là các nước láng giềng, làm cơ sở pháp lý quốc tế để xử lý, đấu tranh hiệu quả với các hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Đảng, Nhà nước và cách mạng Việt Nam. Vận dụng nhuần nhuyễn các quy định có liên quan của luật pháp quốc tế vào những trường hợp cụ thể. Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại nhân dân khu vực biên giới, góp phần giúp nhân dân thế giới hiểu rõ hơn về đất nước, truyền thống và con người Việt Nam; chính sách đối nội, đối ngoại; chính sách dân tộc, tôn giáo... của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Tăng cường giao lưu, kết nghĩa giữa các địa phương, cơ quan chức năng của nước ta với các nước láng giềng, góp phần thắt chặt tình đoàn kết, hữu nghị, hợp tác, hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau, qua đó tạo nền tảng sâu rộng, bền chặt giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước.

Bốn là, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng thế trận lòng dân khu vực biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vững chắc. Thực tế cho thấy, những vấn đề phức tạp nảy sinh từ quan hệ dân tộc xuyên biên giới thường xuất phát từ thực trạng kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, khu vực biên giới nước ta còn nhiều khó khăn. Mặc dù trong giai đoạn 2013 - 2018, bình quân mỗi năm, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo giảm 0,7%, nhưng tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo ở các hộ vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn khá cao, nhất là ở khu vực biên giới. Thực trạng này đòi hỏi cần tập trung phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng thế trận lòng dân khu vực biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vững chắc, tạo nền tảng, điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội để các lực lượng làm công tác đối ngoại phát huy tốt vai trò trong đấu tranh hiệu quả với các hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Việt Nam.

Năm là, nâng cao năng lực đấu tranh ngoại giao của các lực lượng, nhất là lực lượng chuyên trách đối ngoại, bộ đội biên phòng và cấp ủy, chính quyền các địa phương khu vực biên giới. Đây là biện pháp quan trọng, trực tiếp quyết định việc phát huy vai trò của công tác đối ngoại trong đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới hiện nay. Bởi lẽ, vai trò của công tác đối ngoại nói chung, trong đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới nói riêng, phụ thuộc không nhỏ vào năng lực tiến hành và đấu tranh ngoại giao của các chủ thể, trong đó nòng cốt thường xuyên là các lực lượng trên địa bàn biên giới. Mặt khác, các yếu tố quốc tế cũng là một trong những nguyên nhân để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Việt Nam. Do vậy, cần nâng cao năng lực đấu tranh ngoại giao của đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại, nhất là cán bộ, nhân viên bộ phận lãnh sự - quản lý biên giới, để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh ngay từ bên ngoài; tập trung vào những đối tượng phản động cốt cán, cầm đầu trong các tổ chức tôn giáo hải ngoại và người dân tộc thiểu số lưu vong. Nâng cao năng lực dự báo, nắm tình hình hoạt động của các đối tượng, kịp thời phát hiện âm mưu, thủ đoạn, hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới “từ sớm, từ xa”; xác định nội dung, phương thức đấu tranh phù hợp với từng đối tượng, từng địa bàn, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống./.

LƯƠNG THANH DUY

Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

----------------

(1) Như khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cũ của địch, các địa bàn chiến lược...
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t. I, tr. 162
(3) Bùi Thanh Sơn: “Công tác đối ngoại nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng và những định hướng đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới”, Tạp chí Cộng sản, số 959, tháng 2-2021
(4) Xem: Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam: Tài liệu nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2020, tr. 15
(5) Ủy ban Dân tộc: Báo cáo sơ kết tình hình triển khai Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020 và một năm thực hiện Chỉ thị số 28/CT-TTg, ngày 9-10-2014, của Thủ tướng Chính phủ, số 13/BC-UBDT, ngày 20-1-2016
(6) Xem: Chỉ thị số 04-CT/TW, ngày 6-7-2011, của Ban Bí thư Trung ương Đảng, “Về tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân trong tình hình mới”

Tapchicongsan.org.vn

Vạch trần thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc tôn giáo để hình thành “Nhà nước Mông”

 

Để thực hiện âm mưu chia rẽ đoàn kết dân tộc, các thế lực thù địch, phản động không ngừng gieo rắc niềm tin tín ngưỡng đối với đồng bào các dân tộc thiểu số. Nhiều người Mông tại các tỉnh miền núi phía Bắc bị xúi giục, ép buộc, lừa mị tin theo cái gọi là đạo “Giê Sùa” với những luận điệu viển vông…

Trên thực tế, bản chất của các đối tượng này lập ra là nhằm lừa phỉnh, dụ dỗ, lôi kéo, tập hợp lực lượng phục vụ mưu đồ ly khai, tự trị, hình thành “Nhà nước” riêng, tách ra khỏi cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Vậy tổ chức “Giê Sùa là gì”?

Có nguồn gốc ngoại sinh từ một người có quốc tịch Mỹ sáng lập và đưa vào Việt Nam; dựa vào Kinh thánh của Tin lành, lấy cơ sở để phát triển tổ chức “Giê Sùa”. Người sáng lập “Giê Sùa” là David Her tên thật là Hờ Chá Sùng, người Mông, gốc huyện Phon Xa Vẳn Xiêng Khoảng, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào. Hiện đang sinh sống tại Bang California, có quốc tịch Mỹ sáng lập ra.

 “Hội thánh Giê Sùa” không có giáo lý rõ ràng mà dựa vào một số câu trong Kinh thánh để tuyên truyền, cho rằng Tên Chúa Giê Su phải gọi là “Giê Sùa” và giải thích Giê Su là tên nhà cầm quyền La Mã cố tình viết sai để lừa mọi người. Tổ chức này đả kích, không thừa nhận các tôn giáo khác, cho rằng chỉ có “Giê Sùa” mới là tôn giáo có thật, chính thống, tôn giáo của tất cả người Mông. Hội thánh “Giê Sùa” không thừa nhận A-đam và E-Va trong Kinh thánh, thay vào đó là nhân vật chàng Ong và cô Ía theo truyền thuyết người Mông; không tổ chức lễ Giáng sinh, Phục sinh và coi đây là trò bịp bợm, vì lợi ích của nhà cầm quyền La Mã; không bắt buộc dâng hiến 10% thu nhập; kiêng ăn hịt lọn và một số loại cá không có vảy, cua, ốc…

 “Giê Sùa” chưa có giáo lý, giáo luật, hiến chương; tài liệu, kinh sách sử dụng là một số điều trong Kinh thánh (Tân ước và Cựu ước) và một số tài liệu do David Her tự soạn thảo, tán phát trên mạng Internet. 

Thường sinh hoạt vào thứ 7 hàng tuần, sinh hoạt với nội dung, hình thức gần giống với điểm nhóm Tin lành (hát thánh ca, chia sẻ lời Chúa, cầu nguyện). Tuy nhiên, một số nội dung giảng dạy trong kinh thánh khác với điểm nhóm Tin lành, tin vào việc Chúa tái lâm, không thừa nhận tên Chúa là Giê Su mà gọi là Giê Sùa. Bác bỏ ngày lễ trọng trong năm như lễ Noel, Lễ Phục sinh         

David Her đã thông qua mạng Internet để tán phát các video clip có nội dung tuyên truyền đạo “Giê Sùa” trên Wedsite WAVw… Trong thời gian hoạt động tại một số địa phương Tây Bắc, “Giê Sùa” đã có những hoạt động gây mất tình hình an ninh trật tự (ANTT) nơi nó du nhập vào. Các đối tượng lợi dụng, xuyên tạc một số câu trong Kinh thánh để tuvên truyền, lôi kéo người khác tin theo như “Không thừa nhận tên Chúa Giê Su như các tổ chức Tin lành khác như Giê Sùa và giải thích rõ ràng là do nhà cầm quyền La Mã cố tình viết sai để lừa gạt và đả kích mọi người. Trong một số bài tuyên truyền, đối tượng David Her còn cho rằng, Chúa trời Giê Hô Va đã chia đất cho người Mông nhưng do người Mông không đoàn kết không biết bảo vệ nhau nên đất đai bị các dân tộc khác xâm chiếm, cho nên người Mông mới không có lãnh thổ, đất nước riêng, suốt đời phải đi làm thuê cho dân tộc khác.

David Her nhận mình là người đưa tin của “Chúa Giê Sùa”; “Chúa Giê Sùa” tái lâm để bảo vệ người Mông, kêu gọi người Mông đi theo “Chúa Giê Sùa”, đồng thời kích động người Mông ở các nước vê Lào chiến đấu xây dựng “Nhà nước Mông”. Các nhóm tà đạo “Giê Sùa” trên địa bàn đã hình thành tổ chức, phân công vai trò, vị trí đối tượng trong nhóm và đang ráo riết tuyên truyên, lôi kéo người khác tin theo. Tuy nhiên, giữa các điểm nhóm bị ảnh hưởng chưa có sự liên kết, thống nhất với nhau hoạt động. Một số đối tượng lợi dụng giáo lý danh nghĩa của các hệ phái để che giấu việc tin theo tà đạo “Giê Sùa”.

“Giê Sùa” xuất hiện khoảng tầm 5 năm trở lai đây ở các địa phương vùng núi phía Bắc như: Điện Biên, Lai Châu, Thanh Hóa, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái. Chỉ xuất hiện trong một thời gian ngắn nhưng mức độ ảnh hưởng của “Giê Sùa” khá nhanh, mức độ ảnh hưởng rộng đến đồng bào dân tộc Mông; lôi kéo người dân tin theo nhằm mục đích xây dựng nhà nước riêng, kêu gọi người Mông đi theo “Chúa Giê Sùa”, đồng thời kích động người Mông ờ các nước về Lào chiến đấu để xây dựng “Nhà nước Mông” tại tỉnh Xiêng Khoảng. Theo con số thống kê các địa phương gửi báo cáo, hiện “Giê Sùa” hoạt động tại các tỉnh: Điện Biên, Lai Châu, Thanh Hóa, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái. Mức độ lan nhanh ảnh hưởng đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số như đồng bào dân tộc Mông. Hiện nay, theo con số thống kê được của các địa phương có khoảng 1.297 người tin theo.

Xuân Mai

Cand.com.vn

Đấu tranh phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ trong Quân đội

 

Đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ Quân đội nói chung, đội ngũ sĩ quan trẻ nói riêng là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh. Điều đó đòi hỏi cấp ủy, tổ chức đảng các cấp toàn quân, cần có nhiều giải pháp quyết liệt, đồng bộ, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quan trọng này.

Đội ngũ sĩ quan trẻ là lực lượng “rường cột” kế tục sự nghiệp cách mạng trong Quân đội, hay nói cách khác, sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc phụ thuộc phần lớn vào đội ngũ này. Đảng ta đã chỉ rõ, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là “giặc nội xâm” đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trong đội ngũ sĩ quan trẻ, ít nhiều cũng có những biểu hiện suy thoái như Đảng ta đã chỉ ra. Tuy nhiên, sự suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ thường hay biểu hiện trước và có khả năng làm trầm trọng suy thoái về tư tưởng chính trị và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bởi, họ là thế hệ trẻ, đang cần tiếp tục được rèn luyện về nhân cách. Đạo đức, lối sống là điều căn bản, gốc của nhân cách mà bị suy thoái, thì khi đó con người cũng dễ đánh mất mình. Khi giá trị làm người đã không giữ được thì sĩ quan trẻ rất dễ ngả nghiêng, dao động về lập trường tư tưởng và bị dụ dỗ, mua chuộc, từ đó suy thoái, biến chất là điều khó tránh khỏi.

Suy thoái về đạo đức, lối sống của sĩ quan trẻ là trạng thái suy giảm và sa sút dần về phẩm chất đạo đức, xuống cấp về lối sống, lệch lạc trong nhận thức và thực hành các giá trị chuẩn mực đạo đức, lối sống, không tương xứng với chuẩn mực, yêu cầu nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ”. Biểu hiện sự suy thoái của đội ngũ cán bộ này cũng là những biểu hiện suy thoái mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng đã chỉ ra, nhưng thường biểu hiện và có nguy cơ trầm trọng hơn ở những mặt, như: sống thực dụng, ích kỷ, thờ ơ, vô cảm trước khó khăn của đồng đội, háo danh, thổi phồng thành tích, che dấu khuyết điểm, “chạy chức”, “chạy thành tích”, “chạy khen thưởng”, quân phiệt, quan liêu, thiếu sâu sát đơn vị, lười biếng, ngại khổ, ngại khó, ngại rèn luyện, v.v.

Đấu tranh phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ là vấn đề vừa cấp bách, vừa lâu dài. Cấp bách bởi vì sự suy thoái này làm hư hỏng đội ngũ sĩ quan trẻ, từ đó làm cho hoạt động của bộ máy chỉ huy, tổ chức đảng trong Quân đội suy yếu: “Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”1. Đây cũng là vấn đề lâu dài, bởi vì không phải làm một lần là xong. Và sự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của sĩ quan trẻ là việc làm thường xuyên, như “rửa mặt” hàng ngày. Hơn nữa, đấu tranh với những hư hỏng, suy thoái trong mỗi con người có lúc còn khó hơn chống giặc ngoại xâm, vì nó là kẻ thù vô hình ở trong chính bản thân mỗi chúng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh tỉnh: “Có thể những người khi kháng chiến thì rất anh dũng, trước bom đạn địch không chịu khuất phục, nhưng đến khi về thành thị lại bị tiền bạc, gái đẹp quyến rũ, mất lập trường, sa vào tội lỗi. Cho nên bom đạn của địch không nguy hiểm bằng “đạn bọc đường” vì nó làm hại mình mà mình không trông thấy”2. Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, đối với nhiều người, đặc biệt là thế hệ trẻ những giá trị gần gũi, như: việc làm, nghề nghiệp, thu nhập, tiền bạc, lợi ích kinh tế có sức thu hút và quan tâm hàng đầu, đôi khi còn trên cả các giá trị tinh thần. Những mặt trái của nó đã, đang làm giới trẻ, trong đó có đội ngũ sĩ quan trẻ có xu hướng quá đề cao giá trị vật chất và xem nhẹ giá trị đạo đức, tinh thần. Những tiêu cực đó làm cho lối sống tự do cá nhân cực đoan, thực dụng, thích hưởng thụ vượt quá khả năng bảo đảm của gia đình, xã hội ngày càng nảy nở. Đội ngũ sĩ quan trẻ, nếu không nghiêm túc rèn luyện đạo đức, lối sống sẽ rất dễ bị những tác động tiêu cực trên chi phối. Để chủ động đấu tranh phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống trong đội ngũ sĩ quan trẻ, cần thực hiện đồng bộ những giải pháp cơ bản sau:

Một là, tăng cường công tác giáo dục đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ. Đây là một trong những nội dung cơ bản của công tác bồi dưỡng cán bộ. Tuy nhiên, trong thực tế đôi khi vì quá nhấn mạnh yêu cầu về năng lực chuyên môn của đội ngũ sĩ quan trẻ mà công tác giáo dục đạo đức, lối sống chưa được coi trọng đúng mức, đặc biệt là lĩnh vực thực hành đạo đức. Việc thực hành đạo đức, lối sống chuẩn mực đòi hỏi đội ngũ sĩ quan trẻ phải tự nguyện, tự giác chứ không chỉ xuất phát bằng mệnh lệnh. Khi đạo đức, lối sống của sĩ quan trẻ đạt tới chuẩn mực, thì suy nghĩ, lời nói và hành động luôn thống nhất với nhau; luôn đặt lợi ích của Đảng, Tổ quốc, Nhân dân, tập thể lên trên lợi ích cá nhân; hết lòng, hết sức thực hiện nhiệm vụ được giao. Trong khi đó, những phẩm chất này không phải lúc nào cũng tự nhiên, có sẵn mà phải thông qua giáo dục, rèn luyện; do đó, thực hiện tốt giải pháp này càng có ý nghĩa quan trọng. Để đạt hiệu quả trong giáo dục, lãnh đạo, chỉ huy mỗi đơn vị phải xây dựng được môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh để tạo dư luận tích cực trong đấu tranh, phê phán những hành vi đạo đức, lối sống thiếu chuẩn mực của đội ngũ sĩ quan trẻ. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân; bởi, nó là kẻ thù của đạo đức cách mạng, là căn nguyên của sự suy thoái đạo đức, lối sống trong đội ngũ sĩ quan trẻ. Do đó, cần phải thường xuyên, kiên trì lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy tấm gương tích cực để cổ vũ, lan tỏa những hành vi đạo đức, lối sống chuẩn mực.

Hai là, thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình. Đây là vũ khí sắc bén, nguyên tắc quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Khéo sử dụng tự phê bình và phê bình là phương cách tốt nhất để rèn luyện đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ. Tuy nhiên, đó là vấn đề liên quan đến phẩm chất, nhân cách và lợi ích của con người nên rất nhạy cảm, dễ làm tổn thương đồng chí, đồng đội. Thậm chí, trong thực tiễn, có một số người còn bao biện, cho rằng, tự phê bình và phê bình là cần thiết, nhưng nên “nhẹ nhàng”, “nhân văn”, thông cảm, “vuốt ve nhau”, bởi ai chẳng có lúc va vấp,… nên dễ dàng cho qua những sai lầm, vi phạm đạo đức, lối sống của đồng đội. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nếu không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh”3. Đại đa số sĩ quan trẻ được sinh hoạt, rèn luyện trong các tổ chức đảng. Vì vậy, thường xuyên, kiên trì thông qua tự phê bình và phê bình thẳng thắn, trung thực là phương cách tốt nhất để đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ này. Tự phê bình và phê bình trong đấu tranh phòng, chống suy thoái đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ chỉ có hiệu lực, hiệu quả khi cấp trên, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên và cấp ủy các cấp tự giác nêu gương về đạo đức, lối sống. Nếu người đứng đầu và cấp ủy không gương mẫu, không đặt lợi ích của tập thể lên trên hết, trước hết thì tự phê bình và phê bình dễ bị biến tướng trở thành nơi nịnh bợ cấp trên, “dĩ hòa vi quý”, nể nang, né tránh hoặc lợi dụng phê bình để trù dập, hạ bệ lẫn nhau.

Ba là, làm tốt công tác đào tạo, quy hoạch, bố trí, sử dụng đội ngũ sĩ quan trẻ. Với ưu điểm được đào tạo cơ bản, nhanh nhạy với sự phát triển khoa học, kỹ thuật và trong tương lai nhiều sĩ quan trẻ sẽ tiếp tục trưởng thành, nắm giữ các cương vị lãnh đạo, chỉ huy cao cấp trong Quân đội. Do đó, thông qua thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần thường xuyên bồi dưỡng đạo đức, lối sống cho đội ngũ sĩ quan trẻ. Cương quyết không bổ nhiệm sĩ quan trẻ có biểu hiện suy thoái và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đặc biệt là suy thoái về đạo đức, lối sống lên vị trí cao hơn.

Về cơ bản, đội ngũ sĩ quan trẻ có khát vọng cống hiến, năng nổ, nhiệt tình công tác. Thực hiện tốt công tác đào tạo, quy hoạch, bố trí, sử dụng đội ngũ sĩ quan trẻ chính là động lực cơ bản, quan trọng để họ phấn đấu, cống hiến và tự rèn luyện đạo đức, lối sống. Tuy nhiên, do tuổi đời còn trẻ, chưa trải qua nhiều gian khổ, nên khi gặp khó khăn, một bộ phận dễ nản chí. Do đó, cần phải tiếp tục rèn luyện, thử thách đạo đức, lối sống của đội ngũ này. Kịp thời đề xuất quy hoạch, tạo điều kiện phát triển cho sĩ quan trẻ hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đồng thời, có cơ chế, biện pháp bảo vệ sĩ quan trẻ dám nghĩ, dám làm, tiên phong trong công tác.

Bốn là, thực hiện tốt hoạt động kiểm tra, giám sát đội ngũ sĩ quan trẻ. Đây là nội dung rất quan trọng, xuyên suốt trong ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái đạo đức, lối sống đối với đội ngũ sĩ quan trẻ; bởi nó thể hiện sự chủ động của cấp ủy, chỉ huy các cấp, lấy phòng ngừa là chính. Khi chủ động phát hiện, ngăn ngừa hành vi suy thoái đạo đức, lối sống sẽ góp phần hạn chế tổn thất, ngăn ngừa sự suy thoái của đội ngũ sĩ quan trẻ khi sự vi phạm còn nhỏ, mới hình thành. Quá trình kiểm tra, giám sát cần gắn việc thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ sĩ quan trẻ với cam kết của bản thân trong chấp hành kỷ luật, quy định về cán bộ, đảng viên của Đảng, cũng như thực hiện chỉ tiêu các phong trào thi đua của Quân đội và đơn vị. Khi phát hiện, sĩ quan trẻ có biểu hiện suy thoái và vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội cần xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng tội, tuyệt đối không bao che, dung túng cho hành vi vi phạm. Đó cũng là biện pháp để chủ động ngăn ngừa đẩy lùi sự suy thoái từ sớm, từ xa, đưa hoạt động xây dựng chỉnh đốn Đảng ngày càng đi vào thực chất, đạt chất lượng, hiệu quả cao.

Đấu tranh phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ, tổng hợp nhiều biện pháp. Quá trình đó, đòi hỏi đội ngũ sĩ quan trẻ và cấp ủy, chỉ huy các cấp phải nhận thức sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, đặc biệt là phòng, chống sự suy thoái đạo đức, lối sống. Khi giữ được đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh thì những khuyết điểm, sự suy thoái khác sẽ ít dần đi.

Thiếu tướng, PGS, TS. KIM NGỌC ĐẠI, Phó Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Chính trị
__________________        

1 - Văn phòng Trung ương Đảng – Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII), H. 2016, tr. 144.

2 - Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 9, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 46 - 47.

3 - Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 273.

Tapchiqptd.vn