Thứ Ba, 8 tháng 2, 2022

Tiếp tục phát huy vai trò của thanh niên quân đội trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng

 

Ngày 8-2-1952, Chi đoàn Thanh niên Cứu quốc đầu tiên trong quân đội được thành lập tại Trung đoàn 246, Sư đoàn 346, Quân khu 1, đánh dấu sự ra đời của tổ chức đoàn trong Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam.

Trải qua 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, trực tiếp là Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam và hướng dẫn của Trung ương Đoàn, tổ chức đoàn trong quân đội ngày càng vững mạnh, trở thành hạt nhân chính trị của phong trào thanh niên, là nòng cốt trong tổ chức, tập hợp, đoàn kết, giáo dục, rèn luyện, phát huy vai trò của thanh niên quân đội (TNQĐ) trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng.

Thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “...Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanh niên.

Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc để chuẩn bị cho cái tương lai đó”(1), các thế hệ cán bộ, đoàn viên, thanh niên (ĐVTN) quân đội đã không ngừng phấn đấu, trưởng thành lớn mạnh, phát huy vai trò xung kích cách mạng, có nhiều cống hiến xuất sắc trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Tiếp tục phát huy vai trò của thanh niên quân đội trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng
 Tuổi trẻ Bộ đội Biên phòng tham gia tuần tra biên giới kết hợp giới thiệu cột mốc cho chiến sĩ mới. Ảnh: LÂM TỚI

Trong các cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ chống thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, TNQĐ với ý chí quyết tâm và tinh thần chiến đấu mưu trí, dũng cảm đã dấy lên nhiều phong trào thi đua: “Giết giặc lập công”, “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, "Nhằm thẳng quân thù mà bắn"... kịp thời cổ vũ, động viên tuổi trẻ vững chắc tay súng, chiến đấu anh dũng, vượt mọi khó khăn, gian khổ, lập nhiều chiến công oanh liệt.

Trong thử thách khắc nghiệt của chiến tranh, trên mọi mặt trận đã có hàng vạn dũng sĩ và chiến sĩ thi đua, chiến sĩ quyết thắng, hàng triệu ĐVTN ưu tú đã anh dũng hy sinh, cống hiến trọn vẹn tuổi thanh xuân cho sự nghiệp cách mạng.

Bước vào thời kỳ đổi mới đất nước, quán triệt và thực hiện nghị quyết của Đảng về công tác thanh niên; dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, trực tiếp là Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam và hướng dẫn của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; của cấp ủy đảng, chính ủy (chính trị viên), người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp, công tác đoàn và phong trào TNQĐ có sự phát triển vững chắc, luôn khẳng định là lá cờ đầu trong công tác đoàn và phong trào thanh niên cả nước.

Tiếp tục phát huy vai trò của thanh niên quân đội trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng

Hỏa lực SPG-9 của Sư đoàn 324, Quân khu 4 thực hành nổ súng tiêu diệt các mục tiêu trong diễn tập chỉ huy cơ quan một bên hai cấp năm 2021. Ảnh: VÕ DUY ĐÔNG

Phong trào "Phấn đấu xứng danh Bộ đội Cụ Hồ" đánh dấu sự phát triển của công tác đoàn và phong trào TNQĐ với các chương trình, mô hình mới, được tổ chức sâu rộng trên mọi lĩnh vực hoạt động của quân đội, được cụ thể hóa thành các phong trào cụ thể ở các cấp trong toàn quân như xây dựng "Chi đoàn văn hóa" với 3 yêu cầu: "Đẹp người-Đẹp doanh trại-Đẹp tình quân dân"; phong trào "3 đỉnh cao quyết thắng", "Lý tưởng đẹp-Trách nhiệm cao; Học tập tốt-Hành động giỏi; Đoàn kết tốt-Kỷ luật nghiêm”... đã tạo ra môi trường và động lực mới cho TNQĐ thi đua học tập, rèn luyện, cống hiến, trưởng thành.  

Các phong trào TNQĐ: “Thi đua rèn đức luyện tài, xung kích, sáng tạo, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ"; “Vươn tới những đỉnh cao”; “Tiến quân vào khoa học và công nghệ”; “Rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, quyết thắng”; “Đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn”; chương trình “Nghĩa tình biên giới, hải đảo”; “10.000 địa chỉ nghĩa tình”; “1.000 đội Thiếu niên Tiền phong được đỡ đầu”; “Xuân biên cương, Tết hải đảo”; “Tháng Thanh niên”; “Chiến dịch thanh niên tình nguyện hè”... được triển khai sâu rộng bằng nhiều hoạt động phong phú, sinh động, phát huy tốt vai trò của tổ chức đoàn và tuổi trẻ toàn quân xung kích vươn lên trong thực hiện nhiệm vụ; qua đó xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, nhiều tấm gương tiêu biểu, xuất sắc trên các lĩnh vực sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ), huấn luyện, học tập, nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất, rèn luyện kỷ luật, xây dựng chính quy; giúp nhân dân xóa đói, giảm nghèo, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn đóng quân.

Tiếp tục phát huy vai trò của thanh niên quân đội trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng
  Cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng tỉnh Hà Tĩnh gặt lúa giúp dân. Ảnh: VÕ TIẾN

Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, tuổi trẻ quân đội luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, với sự nghiệp cách mạng; SSCĐ, hy sinh để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; giữ vững môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước; xung kích, đi đầu trong phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn, nhất là cùng toàn dân và các lực lượng tích cực tham gia phòng, chống đại dịch Covid-19...

Nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh vì sự bình yên của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Có thể khẳng định, càng trong khó khăn, gian khổ thì càng có nhiều sự cống hiến, hy sinh của tuổi trẻ toàn quân; qua đó tô thắm hình ảnh TNQĐ và hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân.

Cùng với quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta, hệ thống tổ chức đoàn và đội ngũ cán bộ đoàn, cán bộ đảm nhiệm công tác thanh niên và lực lượng ĐVTN trong quân đội thường xuyên đ­ược quan tâm, chăm lo giáo dục, đào tạo, bồi dư­ỡng, rèn luyện, củng cố phát triển cả về số lượng và chất lượng, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong quân đội; góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu; cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”.

Đến nay đã có hàng triệu đoàn viên ưu tú được bồi dưỡng, giới thiệu kết nạp vào Đảng; hàng chục vạn ĐVTN trở thành sĩ quan quân đội, cán bộ của Đảng, Nhà nước, các cơ quan, đoàn thể và chính quyền các địa phương.

Hoạt động học tập, giao lưu sĩ quan trẻ của TNQĐ với thanh niên, sĩ quan trẻ quân đội các nước và tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình ở Phái bộ Liên hợp quốc được tổ chức thường xuyên và hiệu quả, qua đó tuyên truyền, quảng bá hình ảnh và truyền thống tốt đẹp về đất nước, con người và văn hóa Việt Nam tới bạn bè quốc tế; đồng thời vun đắp mối quan hệ hữu nghị đoàn kết, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển, góp phần củng cố, nâng cao vị thế, uy tín của quân đội và đất nước trên trường quốc tế.

Từ phong trào thi đua của Đoàn trong những năm qua, hàng vạn lượt tổ chức đoàn và ĐVTN đạt danh hiệu “Thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác”; hàng nghìn gương mặt thanh niên điển hình, tiên tiến xuất sắc trên các lĩnh vực từ cơ sở đến toàn quân được tuyên dương; hằng năm, TNQĐ đều được bình chọn trong số những Gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu.

Ghi nhận những cống hiến lớn lao đó, TNQĐ đã được Đảng, Nhà nước tặng Huân chương Hồ Chí Minh; Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất, Nhì, Ba; Huân chương Lao động hạng Ba; nhiều năm liền được Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tặng Cờ Đơn vị xuất sắc trong công tác đoàn và phong trào thanh niên, cùng nhiều phần thưởng cao quý khác...

Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đã và đang đặt ra những yêu cầu mới, ngày càng cao; TNQĐ có nhiệm vụ rất nặng nề, nhưng rất vẻ vang. Phát huy truyền thống 70 năm qua, thời gian tới, cán bộ, ĐVTN quân đội cần tiếp tục nỗ lực vươn lên, xung kích, sáng tạo thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, thường xuyên quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, trọng tâm là Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, chỉ đạo của Tổng cục Chính trị và của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh về công tác thanh niên.

Bám sát mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng, nhiệm vụ của quân đội để xây dựng và tổ chức thực hiện thắng lợi các chương trình hoạt động, phù hợp với tình hình thực tiễn của đơn vị và tâm tư,­ nguyện vọng của cán bộ, ĐVTN. TNQĐ phải luôn là lực lư­ợng xung kích, đi đầu trong các phong trào thi đua, SSCĐ, huấn luyện, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật..., góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”.

Hai là, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức cho TNQĐ về mục tiêu, lý tưởng cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống vẻ vang của Đảng, dân tộc, quân đội và của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, xây dựng niềm tin và bồi dưỡng kinh nghiệm chiến đấu, có kiến thức tổng hợp và chuyên sâu; năng động, sáng tạo, tự lực, tự rèn, thích ứng nhanh với thực tiễn; có phẩm chất đạo đức, lối sống trung thực, lành mạnh, đoàn kết; có ý thức tổ chức kỷ luật cao, xây dựng người TNQĐ thực sự tiêu biểu cho phẩm chất, bản lĩnh, trí tuệ của thanh niên Việt Nam, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong thời kỳ mới.

Ba là, tổ chức tốt các phong trào hành động cách mạng để cán bộ, ĐVTN được rèn luyện trong thực tiễn, xung kích trên các lĩnh vực, các mặt công tác, nhất là việc mới, việc khó. Đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng những việc làm cụ thể, thiết thực.

Luôn đi đầu trong học tập, làm chủ khoa học, công nghệ, vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại, tiên phong trong lĩnh vực chuyển đổi số và xây dựng Chính phủ điện tử. Chủ động đấu tranh với biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, các tác động tiêu cực, tệ nạn xã hội, các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bốn là, nhận thức sâu sắc công tác xây dựng Đoàn là một bộ phận quan trọng của công tác xây dựng Đảng, là xây dựng Đảng trước một bước, nên cần tiếp tục chú trọng xây dựng tổ chức đoàn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; đồng thời quan tâm hơn nữa đến hoạt động của tổ chức đoàn, chăm lo giải quyết những nguyện vọng chính đáng của thanh niên, có cơ chế phù hợp, tạo điều kiện về thời gian, vật chất và kinh phí cho tổ chức đoàn hoạt động; tăng cường công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dư­ỡng đội ngũ cán bộ đoàn để bổ sung nguồn cán bộ trẻ cho quân đội.

Năm là, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả phối hợp hoạt động với thanh niên các địa phương trên địa bàn đóng quân, làm tốt công tác dân vận, tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở; củng cố quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; thực hiện tốt chức năng đội quân công tác, góp phần xây dựng mối quan hệ đoàn kết “máu thịt” quân dân và củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc. 

Đồng thời, tích cực tham gia thực hiện tốt công tác đối ngoại quân sự, đảm bảo đúng đường lối và các quy định về công tác đối ngoại của Đảng, Bộ Quốc phòng; qua đó, củng cố, tăng cường mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị với TNQĐ các nước và bạn bè quốc tế.

Trải qua 70 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, các thế hệ TNQĐ luôn phát huy bản chất tốt đẹp, truyền thống anh hùng của QĐND Việt Nam và truyền thống vẻ vang của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; xứng đáng là bộ phận ưu tú của thanh niên cả nước, tiêu biểu cho hình mẫu người thanh niên Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh “Trung thành, dũng cảm; tâm trong, trí sáng; đoàn kết, kỷ luật; chủ động, sáng tạo; xung kích, quyết thắng”. Mỗi cán bộ, ĐVTN quân đội không ngừng học tập, rèn luyện, nỗ lực vươn lên, quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân.

Thượng tướng ĐỖ CĂN, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị 

Kiên quyết bảo vệ “hòn đá tảng” của Chủ nghĩa Mác-Lênin


Điều khác biệt căn bản về chất so với các luận thuyết chính trị-xã hội có trong lịch sử, học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Mác là sự thống nhất biện chứng giữa tính khoa học và tính đảng, tính lý luận và thực tiễn.

Trong Chủ nghĩa Mác-Lênin, lý luận về hình thái kinh tế-xã hội là một nội dung then chốt, nền tảng, nhờ nó mà quan niệm duy vật biện chứng về lịch sử không còn là một giả thuyết, mà được chứng minh bằng khoa học; trở thành kim chỉ nam chỉ đạo nhận thức và hành động của các đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế.

Mác và Ăng-ghen đã xác nhận rằng, học thuyết hình thái kinh tế-xã hội chính là kết quả lớn nhất mà hai ông đã đạt được, nó trở thành kim chỉ nam cho mọi sự nghiên cứu sau này.

Phải chăng vì lẽ đó, những người theo chủ nghĩa cơ hội, xét lại hiện đại dưới mọi màu sắc luôn tập trung công kích, bài xích, phủ nhận lý luận mác-xít về hình thái kinh tế-xã hội với hy vọng từ đó phủ nhận toàn bộ Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Họ lớn tiếng phê phán “sai lầm chủ yếu trong học thuyết về lịch sử của Mác là học thuyết về hình thái kinh tế-xã hội”. Từ đó, họ ra sức lý tưởng hóa mô hình xã hội tư bản hiện đại, tán dương các học thuyết xã hội phi mác-xít, chứng minh “tính hợp lý” của học thuyết của Avin Tốp-lơ với ý đồ dùng nó để thay thế học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Mác; phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Chúng ta không phủ nhận những yếu tố hợp lý trong các học thuyết xã hội ngoài mác-xít, đáng kể là thành tựu cũng như vai trò của khoa học và công nghệ hiện đại, về sự phát triển của lực lượng sản xuất, về đẩy mạnh giáo dục và đào tạo với sự tiếp thu “hạt nhân hợp lý” của nó để nâng cao trình độ dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài...

Song cần thấy rõ hơn những khiếm khuyết, hạn chế của các học thuyết đó, nhất là việc né tránh giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất và các quan hệ xã hội khác với vấn đề giải phóng con người, xóa bỏ áp bức, bóc lột và các vấn đề xã hội khác như chiến tranh và hòa bình...

Không phải ngẫu nhiên mà Thời báo Los Angeles (Mỹ), phát hành sau sự kiện cuộc đảo chính tại Liên Xô ngày 19-8-1991, đã nhận định: Tư tưởng xã hội của Chủ nghĩa Mác vẫn còn ghi dấu ấn không thể xóa bỏ trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận.

Nhiều vấn đề chính trị học, xã hội học, kinh tế học của thế giới đương đại đều được phân tích bằng lăng kính của Chủ nghĩa Mác, thậm chí còn được phân tích, sử dụng từ những khái niệm mác-xít. Cựu Tổng thống Mỹ R.Nixon, trong cuốn “Chớp lấy thời cơ-thách thức mới đối với Hoa Kỳ trong thế giới một siêu cường” cũng phải thừa nhận: “Học thuyết Mác vẫn đang được hâm mộ trong các trường đại học ở Mỹ và Tây Âu”.

Hiểu đúng sự thật, tôn trọng sự thật thì phải thừa nhận rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết duy nhất từ trước đến nay bàn về mục tiêu, con đường, điều kiện, lực lượng và phương thức đấu tranh giải phóng triệt để xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột, bất công, tha hóa, đói nghèo dưới mọi hình thức; đem lại cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Lẽ phải duy nhất là Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ ra những quy luật vận động, phát triển của thế giới khách quan, sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản và sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản; đưa giai cấp công nhân và những người dân lao động từ nô lệ lên địa vị làm chủ xã hội.

Bản chất khoa học, cách mạng của học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Chủ nghĩa Mác-Lênin thể hiện ở tính tất yếu khách quan của sự ra đời học thuyết, ở việc khẳng định sản xuất vật chất là cơ sở quyết định sự tồn tại và phát triển lịch sử xã hội loài người, ở quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, ở mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, ở việc khẳng định sự phát triển của các hình thái kinh tế-xã hội là quá trình lịch sử-tự nhiên...

Không thể lấy cách tiếp cận khác, ví như cách tiếp cận lịch sử các nền văn minh, các làn sóng văn minh, hoặc cách tiếp cận của sự phát triển khoa học, công nghệ, kỹ thuật... để thay thế học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Chủ nghĩa Mác-Lênin, mặc dù trong các cách tiếp cận của các học thuyết ngoài mác-xít có một số yếu tố khoa học, chúng ta có thể chắt lọc, tiếp thu, kế thừa trên tinh thần phê phán để phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, làm giàu có Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Điểm nhấn cần nhận thức đúng bản chất khoa học, cách mạng của học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Chủ nghĩa Mác-Lênin là ở chỗ, Mác làm nổi bật vai trò quyết định-xét đến cùng-của nhân tố kinh tế. Tuy nhiên, Mác, Ăng-ghen và Lênin không bao giờ coi kinh tế là nhân tố duy nhất quyết định sự vận động, phát triển của lịch sử.

Về vấn đề này, Ăng-ghen đã khẳng định rõ ràng: “Theo quan niệm duy vật về lịch sử, xét đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực. Cả tôi lẫn Mác chưa bao giờ khẳng định gì hơn thế. Còn nếu có ai đó xuyên tạc luận điểm này theo ý nghĩa nhân tố kinh tế là nhân tố quyết định duy nhất, thì người đó biến lời khẳng định này thành một câu trống rỗng, trừu tượng, vô nghĩa. Tình hình kinh tế là cơ sở hạ tầng, nhưng các yếu tố khác của kiến trúc thượng tầng... cũng có ảnh hưởng đến quá trình của cuộc đấu tranh lịch sử và trong nhiều trường hợp chiếm ưu thế trong việc quyết định hình thức của cuộc đấu tranh ấy".

Mác chỉ ra vai trò quyết định của sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và phát triển xã hội, con người, loài người. Nếu không có hoạt động sản xuất vật chất, thì con người và xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển. Ngoài chức năng đầu tiên và trực tiếp này, con người thông qua lao động sản xuất vật chất còn sản xuất ra chính bản thân mình.

Ăng-ghen khẳng định: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người... lao động đã sáng tạo ra bản thân con người”.

Đây là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học để chúng ta tiếp tục vận dụng sáng tạo học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Chủ nghĩa Mác vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và chính nó là vũ khí lý luận sắc bén để chúng ta đứng vững trên mặt trận tư tưởng, lý luận; kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm, luận điệu xuyên tạc, phản động, bảo vệ chân lý khoa học của Chủ nghĩa Mác- Lênin trước sự tấn công từ nhiều phía của kẻ thù; kiên quyết giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà chúng ta đạt được sau hơn 35 năm đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng ta.

Vì sao học thuyết về hình thái kinh tế-xã hội mác-xít bị chống phá dữ dội?


Trước sự biến động dữ dội của tình hình thế giới và khu vực, đặc biệt là những khó khăn, thoái trào của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế kể từ sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình xô viết ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các quan điểm, luận thuyết xuyên tạc bản chất khoa học, cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin “nở rộ như nấm sau mưa”.

Vin vào cớ chủ nghĩa tư bản đương đại đang đổi mới, thích nghi và phát triển, họ cho rằng, Việt Nam lại “giậm chân tại chỗ”, vì cứ “bám lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin”, mục tiêu, con đường chủ nghĩa xã hội đã lựa chọn nên bị tụt hậu xa hơn so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.

Sự trì trệ, bảo thủ chậm khắc phục với những hạn chế, bất cập của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đại dịch Covid-19 đang hoành hành, đang đẩy Việt Nam xuống vực thẳm, hố sâu, đi vào “ngõ cụt”, “bế tắc”(!).

Mượn cái cớ đó, một số kẻ cơ hội chính trị, bất mãn quan điểm với Đảng, Nhà nước cho rằng, cả đời đã ngưỡng mộ, tin theo học thuyết Mác-Lênin là sai lầm, họ tiếc nuối vì đi theo “con đường chủ nghĩa xã hội không tưởng” của C.Mác nên giờ nhận thức lại, họ thấy cần phải “tẩy sạch, gột rửa nền tảng tư tưởng của Đảng cho sạch đầu” là Chủ nghĩa Mác-Lênin, nhất là lý luận về hình thái kinh tế-xã hội của Mác để “thanh thản đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”, mong sớm phát tài, giàu sang, noi gương các nước Đông Âu (!).

Vì sao khi chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, các thế lực thù địch lại chĩa mũi nhọn vào việc xuyên tạc, phủ nhận học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Mác một cách điên cuồng và quyết liệt như vậy? Hẳn là họ ý thức rõ ràng về sức sống mãnh liệt và sự nguy hiểm của học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Mác đối với sự tồn tại, phát triển và đe dọa lợi ích nhóm của họ.

Bởi lẽ, học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Mác đã vạch ngọn nguồn “bí mật” của chế độ áp bức, bóc lột; chỉ ra con đường, biện pháp “kết liễu”, đập tan sự dối trá của họ; hướng tới xóa bỏ mọi sự áp bức, bóc lột, bất công; dẫn dắt, chỉ đường cho giai cấp vô sản đấu tranh tự giải phóng mình, xây dựng chế độ xã hội mới tốt đẹp-xã hội xã hội chủ nghĩa.

Những người có quan điểm đối lập với Chủ nghĩa Mác-Lênin đã nhận thức rằng, chừng nào còn tồn tại học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Mác thì chừng ấy còn có sự thống trị của Chủ nghĩa Mác-Lênin, còn có đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế, cũng như cuộc đấu tranh không khoan nhượng của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản.

Do đó, họ cảm nhận các nguy cơ đe dọa sự tồn tại của họ là sự thật. Điều tất yếu sẽ đến là sự diệt vong khó tránh khỏi. Rõ ràng, sự tồn tại và ảnh hưởng mạnh mẽ từ học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Mác và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là “lưỡi dao đâm thẳng vào tim họ” và họ không mong muốn kết cục bi thảm, đau thương ấy.

Vì lẽ đó, họ không thể ngồi nhìn sự “chết dần chết mòn” của đồng đảng, của chính mình và không thể “chịu đựng nổi” uy tín và vai trò ngày càng tăng lên của đảng cộng sản, ưu thế và sức mạnh của chủ nghĩa xã hội. Để tự cứu lấy mình, buộc họ phải dùng thuyết âm mưu để chống phá học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Mác-một nội dung trọng yếu trong nền tảng tư tưởng của đảng cộng sản-Chủ nghĩa Mác-Lênin.


Nâng cao chất lượng thể chế hóa các quy định về giám sát cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh

 


 

Trong những năm qua, công tác giám sát cán bộ đảng viên đã được cấp ủy các cấp trong toàn Đảng coi trọng và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm túc và đạt được những kết quả quan trọng, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Một trong những nguyên nhân của thành công đó là việc tổ chức nghiên cứu, quán triệt, học tập, thể chế hóa các quy định của Đảng và Nhà nước về công tác giám sát cán bộ đảng viên và công tác cán bộ. Đặc biệt là thể chế hóa các quy định về giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên theo Quy định số 124-QĐ/TW; về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; giám sát công tác đối thoại của người đứng đầu cấp ủy với Nhân dân; giám sát về trách nhiệm của đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với tổ chức đảng và Nhân dân nơi cư trú...Qua đó, góp phần tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức, hành động của cán bộ, đảng viên, nâng cao kỷ luật, kỷ cương, kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá", xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức đảm bảo chất lượng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ…

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn những hạn chế cần khắc phục. Đó là một số cấp uỷ ở các địa phương nhận thức, quán triệt có lúc chưa đầy đủ, sâu sắc về các nguyên tắc, quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác giám sát cán bộ, đảng viên và công tác cán bộ dẫn đến việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện có lúc, có việc còn bị động, lúng túng, chưa sát với tình hình thực tiễn. Mặt khác, một số cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc cấp uỷ cấp huyện chưa thực hiện tốt vai trò của mình trong việc giúp cấp uỷ kiểm tra, giám sát về công tác cán bộ. Công tác phối hợp giữa các cơ quan trong thực hiện giám sát cán bộ, đảng viên và công tác cán bộ có lúc thiếu thường xuyên, chưa chặt chẽ, hiệu quả chưa cao. Chức năng giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội một vài nơi chưa phát huy rõ nét. Vai trò định hướng, chỉ đạo của một số cấp uỷ thiếu cụ thể, chưa rõ ràng.

Nhận thức của một số cấp uỷ và tổ chức đảng về công tác giám sát cán bộ, đảng viên và công tác cán bộ có mặt chưa đầy đủ. Sau giám sát, xử lý vi phạm còn một vài nơi thiếu kiểm tra việc khắc phục, sửa chữa những sai phạm, thiếu sót của cán bộ, đảng viên. Tâm lý ngại va chạm, nể nang, né tránh, thiếu bản lĩnh khi thực hiện nhiệm vụ giám sát cán bộ, đảng viên và công tác cán bộ, nhất là giám sát vai trò người đứng đầu và cán bộ chủ chốt các cấp nên số lượng và chất lượng một số cuộc giám sát không cao, chưa đánh giá đúng thực chất của vụ việc, nên chưa đủ sức góp phần ngăn chặn sự suy thoái về đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Từ hạn chế nêu trên, trong thời gian tới để công tác giám sát cán bộ đảng viên, phản biện xã hội của MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội và Nhân dân thực hiện tốt chức năng của mình, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, Quốc hội, Chính phủ cần phải tiếp tục nâng cao chất lượng thể chế hóa các quy định của Đảng và phát huy tốt vai trò của MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội trong tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, đồng thời để đảm bảo MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện tốt hơn nhiệm vụ giám sát, phản biện xã hội.

Mặt khác, cần tiếp tục quan tâm chỉ đạo cấp ủy, chính quyền các cấp trong việc thực hiện Quy chế đối thoại giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp với MTTQ Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và Nhân dân; đồng thời, chỉ đạo cấp ủy các cấp tạo điều kiện, phối hợp chặt chẽ để MTTQ các cấp thực hiện tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội nói chung, việc giám sát cán bộ, đảng viên và công tác cán bộ nói riêng./.

                                                                   TRIỂN MỖ (Theo ĐCSVN)

Hiện thực hóa Quy định số 32-QĐ/TW của Bộ Chính trị


Để thiết thực đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống; đồng thời, nhằm nâng cao chất lượng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng nói chung, phòng và chống tham nhũng, tiêu cực nói riêng, ngày 16-9-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã ký ban hành Quy định số 32-QĐ/TW của Bộ Chính trị về "Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực"; trong đó, nêu rõ việc gắn công tác phòng, chống tham nhũng đồng bộ với công tác phòng, chống tiêu cực, nhất là chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên. Tiếp đó, ngày 25-10-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quy định số 37-QĐ/TW về "Những điều đảng viên không được làm" thay thế cho Quy định số 47-QĐ/TW ngày 1-11-2011 về "Những điều đảng viên không được làm".

Gắn đấu tranh phòng, chống tham nhũng với phòng, chống những biểu hiện tiêu cực, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên chính là hiểu đúng, hiểu một cách sâu sắc những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”; “các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân” và “vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là “tính Đảng”. Hiểu đúng để hành động đúng trên tinh thần "phải làm liên tục, bền bỉ, không ngừng, không nghỉ, không ngại ngần khó khăn; càng khó, càng phải quyết tâm cao, phải phối hợp tốt hơn nữa", chính là góp phần ngăn chặn từ gốc, phát hiện từ sớm và xử lý ngay từ đầu để ngăn chặn những vi phạm nhỏ, không để chúng tích tụ thành những sai phạm lớn, vụ án lớn; không để những cành cây làm hỏng một thân cây, không để một thân cây bệnh lây lan cả rừng cây như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh.

Vì thế, mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên trong cả hệ thống chính trị đều phải:

Một là, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc phải học tập, quán triệt và thực hiện tốt hơn nữa các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng nói chung, về học tập lý luận chính trị nói riêng trên tinh thần gắn lý luận với thực tiễn. Thông qua quá trình đó, mỗi người tự soi, tự sửa, tự rèn luyện mình theo 3 chuẩn mực và nêu gương về đạo đức cách mạng: “Tự mình phải”, “Đối với người phải”, “làm việc phải” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ trong tác phẩm Đường Kách mệnh, năm 1927. Trong triển khai thực hiện, chú trọng nguyên tắc “trên trước, dưới sau”, "trong trước, ngoài sau"; coi đó là việc làm thường xuyên, liên tục, nền nếp, là nhu cầu tự thân của mỗi cán bộ, đảng viên gắn liền với tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát.

Hai là, trong công cuộc phòng, đấu tranh chống tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" này, cần phải tăng cường vai trò nêu gương trong rèn luyện bản lĩnh chính trị gắn với việc phát huy tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu nói riêng về mọi mặt. Trong đó, chú trọng yêu cầu sự gương mẫu trong học tập nâng cao trình độ, nghiệp vụ, kỹ năng quản lý; trong rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác... trên tinh thần thấm nhuần cảnh báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước... Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên”.

Ba là, cùng với việc các cơ quan chức năng tiếp tục xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, chống tham nhũng hiệu quả; cùng với việc bổ sung, thay thế Quy định số 47-QĐ/TW bằng Quy định số 37-QĐ/TW về "Những điều đảng viên không được làm" và sự phối hợp công tác giữa các cơ quan, ban, ngành chức năng để kịp thời nhận diện rõ hơn, cụ thể hơn các hành vi tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp có liên quan đến tham nhũng của cán bộ, đảng viên (biến quyết tâm chính trị thành hành động thực tiễn trong phòng, chống tham nhũng và mở rộng thêm nội hàm đấu tranh gắn với chống tiêu cực bằng văn bản cụ thể), thì mỗi cấp ủy cũng cần phải chú trọng làm tốt công tác tư tưởng, phát huy dân chủ, xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong từng tổ chức cơ sở đảng để làm hạt nhân cho khối đoàn kết của từng địa phương, cơ quan, đơn vị.

Tiến hành đồng bộ, kết hợp chặt chẽ trong phòng, chống tham nhũng và tiêu cực

 

Theo Từ điển tiếng Việt, tham nhũng là "lợi dụng quyền hành để hạch sách nhũng nhiễu dân", cho nên, tham nhũng là sản phẩm của sự tha hóa, lạm dụng, lợi dụng quyền lực để mưu lợi cho cá nhân và người thân. Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, tham nhũng là hành vi của những người có chức vụ, quyền hạn khi họ lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được trao, được đảm nhiệm nhằm mục đích vụ lợi cho cá nhân, người thân, nhóm lợi ích... Đó là các hành vi: Tham ô tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi... và đó cũng chính là các biểu hiện của sự suy thoái.

Vì tham nhũng là một loại hành vi tiêu cực do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện; là một loại biểu hiện cụ thể của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, cho nên phòng và đấu tranh chống tham nhũng luôn là một nhiệm vụ quan trọng, được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm; được đẩy mạnh trong những nhiệm kỳ gần đây.

Đặc biệt, những biểu hiện tiêu cực mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra lúc sinh thời về cơ bản cũng nằm trong số 27 biểu hiện suy thoái mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã nêu; trong đó, tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống chính là biểu hiện rõ nét nhất của sự tiêu cực đang diễn ra trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thuộc các cơ quan công quyền.

Thực tiễn chỉ ra rằng, tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực đều là "kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta... Nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính". Do đó, không phải ngẫu nhiên lần đầu tiên vấn đề phòng, chống tham nhũng lại được ghi rõ tại khoản 2, Điều 8 Hiến pháp năm 2013: "Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải... kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền".

Do đó, phòng và đấu tranh chống tham nhũng, chống các biểu hiện tiêu cực không chỉ cần phải được tiến hành đồng thời, đồng bộ mà còn phải có sự kết hợp, gắn bó chặt chẽ với nhau, để phát huy hiệu quả của từng bộ phận và bảo đảm tính toàn diện của nhiệm vụ quan trọng này. 


Những lời cảnh báo của Bác Hồ


 Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập không lâu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những biểu hiện tiêu cực của đội ngũ cán bộ, đảng viên tại các cơ quan công quyền, như: “Óc bè phái. Ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng. Ai không hẩu với mình thì dù có tài cũng dìm họ xuống, họ phải mấy cũng không nghe. Đó là một khuyết điểm rất có hại. Nó làm cho đoàn thể mất cán bộ, kém nhất trí, thường hỏng việc. Đó là một chứng bệnh rất nguy hiểm”; “Óc hẹp hòi-Ở trong Đảng thì không biết cất nhắc những người tốt, sợ người ta hơn mình. Ở ngoài Đảng thì khinh người, cho ai cũng không cách mạng, không khôn khéo bằng mình. Vì thế mà không biết liên lạc hợp tác với những người có đạo đức tài năng ở ngoài Đảng”; "Óc quân phiệt quan liêu. Khi phụ trách ở một vùng nào thì như một ông vua con ở đấy, tha hồ hách dịch, hoạnh họe. Đối với cấp trên thì xem thường, đối với cấp dưới cậy quyền lấn áp"; "Ích kỷ, hủ hóa...".

Đó còn là những biểu hiện thể hiện rõ tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, như: "Bệnh tị nạnh-Cái gì cũng muốn “bình đẳng”... Bệnh này sinh ra vì hiểu lầm hai chữ bình đẳng; “Bệnh kiêu ngạo-Tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình, khen ngợi mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình. Không thèm học hỏi quần chúng, không muốn cho người ta phê bình. Việc gì cũng muốn làm thầy người khác”; “Bệnh hiếu danh-Tự cho mình là anh hùng, là vĩ đại. Có khi vì cái tham vọng đó mà việc không đáng làm cũng làm. Đến khi bị công kích, bị phê bình thì tinh thần lung lay... Chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ, chớ không ham công tác thiết thực”; "Bệnh cận thị-Không trông xa thấy rộng. Những vấn đề to tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chú những việc tỉ mỉ... chỉ trông thấy sự lợi hại nhỏ nhen mà không thấy sự lợi hại to lớn"; "Bệnh "cá nhân"... Không theo nguyên tắc sinh hoạt của Đảng... Không phục tùng mệnh lệnh, không tuân theo kỷ luật. Cứ làm theo ý mình..." Bên cạnh đó, "Bệnh xu nịnh, a dua-Lại có những người trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu. Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái"; “Kéo bè kéo cánh lại là một bệnh rất nguy hiểm nữa. Từ bè phái mà đi đến chia rẽ. Ai hợp với mình thì dù người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách gièm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống. Bệnh này rất tai hại cho Đảng”... Những cán bộ, đảng viên mang trong mình các biểu hiện tiêu cực, các tật bệnh xấu này chính là những người suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống, “hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư. Thậm chí dùng pháp công để báo thù tư, làm cho dân oán đến Chính phủ và Đoàn thể”.

Có thể nói, những biểu hiện tiêu cực, sự suy thoái mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra ở trên đều là "con đẻ" của chủ nghĩa cá nhân; không chỉ phản ánh sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện về mọi mặt của người cán bộ, đảng viên mà còn là "kẻ địch nội xâm", kẻ thù của người cách mạng. Những cán bộ, đảng viên có suy nghĩ và hành động tiêu cực này là những người không chỉ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cao tự đại, coi thường tập thể, độc đoán, chuyên quyền, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật mà còn coi thường công tác dân vận (không lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, ngày càng rời xa quần chúng, làm trái ngược nguyên tắc phải gắn bó mật thiết với nhân dân...).


LỢI DỤNG TÔN GIÁO ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

Để chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch từ lâu xem tôn giáo là một trong những mũi nhọn để công kích, chống phá. Những đối tượng phản động, cơ hội chính trị lợi dụng tôn giáo và quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo để kích động và tiến hành các hoạt động chống chính quyền, chống chế độ XHCN dưới chiêu bài “đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền”, tiến tới phủ nhận, xóa bỏ vai trò của Đảng, Nhà nước ta. Do vậy, cần nhận diện âm mưu thủ đoạn, hoạt động chống phá: Trước hết, các thế lực thù địch đi sâu tuyên truyền, gieo rắc tâm lý cho rằng: “CNXH không chấp nhận tôn giáo, xóa bỏ tôn giáo; công dân theo đạo không được xét, kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam”; cố gắng tạo ra khoảng cách cũng như dùng các thủ đoạn làm tăng sự đối kháng giữa tôn giáo với đời sống hiện thực để kích động tôn giáo chống lại Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch không những phủ nhận những kết quả trong công tác tôn giáo mà còn ra sức lợi dụng tôn giáo, coi tôn giáo là vũ khí lợi hại để chống phá sự nghiệp cách mạng với nhiều chiêu thức thâm độc, tinh vi, xảo quyệt; khi thì bí mật, lúc thì trắng trợn, công khai. Thứ hai, xây dựng các tổ chức lấy danh xưng tôn giáo cùng với việc thiết lập các trang mạng xã hội như: Youtube, facebook, blog… để phát tán, đăng tải các video, hình ảnh, bài viết với danh nghĩa các tôn giáo để đả kích, nói xấu chế độ, bôi nhọ lãnh tụ, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Họ đi sâu vào những mặt trái của xã hội để quy kết, hạ thấp thanh danh của Đảng, Nhà nước ta, thậm chí cố tình “diễn trò”, lợi dụng về đức tin và sự gắn kết cộng đồng của tôn giáo nhằm lôi kéo, tập hợp lực lượng chống phá cách mạng hay tìm mọi cách chia rẽ các tôn giáo với nhau, chia rẽ người có tôn giáo với người không có tôn giáo, nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm sút lòng tin của một bộ phận nhân dân với hệ thống chính trị. Thứ ba, các tôn giáo ở Việt Nam đều có mối quan hệ quốc tế sâu sắc. Đây chính là “mảnh đất màu mỡ” để các thế lực thù địch lợi dụng, sử dụng mọi chiêu trò để vu khống Đảng, Nhà nước ta “xâm phạm quyền tự do, đàn áp tôn giáo”; từ đó, kêu gọi các tổ chức, cộng đồng quốc tế lên tiếng, can thiệp. Thứ tư, lôi kéo, cổ súy, hậu thuẫn cho một số linh mục, chức sắc tôn giáo có nhiều tham vọng chính trị và lợi dụng đức tin của các tín đồ đã tuyên truyền, xuyên tạc hết sức phản động về Đảng, chế độ, chính quyền các cấp; ngang nhiên phát thư ngỏ trên mạng xã hội, kêu gọi, kích động một bộ phận nhân dân có đạo gây rối. Thứ năm, Việt Nam là quốc gia đa dân tộc song phát triển không đều về kinh tế, văn hóa, xã hội. Đời sống dân trí và các hoạt động xã hội giữa thành thị với nông thôn, miền xuôi với miền núi, vùng có đạo và không có đạo còn có sự chênh lệch. Các dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng núi cao, địa bàn có vị trí chiến lược nhưng điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn. Dựa vào đặc điểm địa lý; khó khăn về kinh tế, văn hóa, xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số, các thế lực thù địch đã lợi dụng để hình thành, phát triển những tôn giáo cực đoan, dị dạng trái với các giá trị văn hóa của tôn giáo, đi ngược lại thuần phong mỹ tục của dân tộc, từ đó thúc đẩy kết hợp chống phá sự nghiệp cách mạng cả về vấn đề dân tộc và tôn giáo. Trước những vấn đề trên cần nhìn nhận như sau: Một là, cần thấy rằng, trong lịch sử xã hội loài người, tôn giáo có vị trí, vai trò lớn, có những đóng góp quan trọng vào giá trị văn hóa nhân loại và ở Việt Nam cũng vậy. Trong tiến trình đi lên CNXH, tôn giáo luôn được thừa nhận và bảo vệ theo đúng quan điểm của Đảng, Nhà nước ta. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến tôn giáo, Người khẳng định mỗi tôn giáo đều có những ý nghĩa tốt đẹp, trong đó: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”. Đồng bào các tôn giáo từ xưa đến nay là bộ phận không thể tách rời trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Năm 1952, trong Báo cáo tại Hội nghị lần thứ 3 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II, khi đề cập đến Tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:“Phần lớn đồng bào tôn giáo, nhất là các tầng lớp lao động đều yêu nước kháng chiến”. Hiện nay, các tôn giáo ở Việt Nam đã xây dựng đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc. Các tổ chức tôn giáo tập hợp đông đảo tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng quê hương, đất nước giàu đẹp, như:“Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”của Phật giáo;“Sống phúc âm giữa lòng dân tộc”của Công giáo;“Sống phúc âm phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và dân tộc”của đạo Tin lành;“Nước vinh, đạo sáng”của đạo Cao Đài;“Vì đạo pháp, vì dân tộc”của Phật giáo Hòa Hảo... Hai là, kế thừa tư tưởng đó của Người, trong quá trình lãnh đạo, quản lý đất nước, Đảng, Nhà nước ta vừa quan tâm, chăm lo, bảo đảm quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo, vừa tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho nhân dân về đường lối, chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, vừa quan tâm tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để các tôn giáo hoạt động, phát triển bình đẳng trong khuôn khổ pháp luật. Điều này thể hiện rõ trong quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước ta. Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một chính sách nhất quán của Đảng ta kể từ khi thành lập đến nay, là một nội dung cốt lõi trong quan điểm, chính sách của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo. Trong các giai đoạn cách mạng, quan điểm, nhận thức của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo luôn có sự bổ sung, phát triển cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, thực tiễn cách mạng Việt Nam, cũng như thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước. Điều 24 Hiến pháp 2013 ghi rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được nhìn nhận là quyền tự nhiên của con người - tức đã là con người, ai cũng được thụ hưởng, đó là quyền bẩm sinh của con người, con người sinh ra đã có quyền đó. Một điểm nữa để khẳng định rõ hơn chính sách tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là việc có nhiều hơn những người theo tôn giáo được kết nạp Đảng. Văn kiện Đại hội XII chỉ rõ: “Số đảng viên mới kết nạp là đoàn viên thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, nữ, trí thức, học sinh, sinh viên, dân tộc thiểu số, người theo tôn giáo, người lao động trong các thành phần kinh tế và chủ doanh nghiệp tư nhân tăng hơn so với khóa trước”. Ba là, tính tới nay, theo Cục An ninh Nội địa (Bộ Công an), Việt Nam đã công nhận 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo với 60 cơ sở đào tạo với 55.000 chức sắc, 145.000 chức việc, 29.000 cơ sở thờ tự. Khoảng 95% dân số Việt Nam có đời sống tín ngưỡng tôn giáo, trong đó có 26 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số cả nước; có hơn 8 ngàn lễ hội tín ngưỡng tôn giáo hàng năm, thu hút sự tham gia đông đảo của các tín đồ và quần chúng nhân dân. Tính đến năm 2018, có 12 báo, tạp chí liên quan tôn giáo. Phần lớn các tổ chức tôn giáo đều có website riêng. Việc ra đời các tổ chức tôn giáo phản ánh sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam trong thực hiện nhất quán quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời khẳng định Việt Nam không phân biệt giữa người có tín ngưỡng, tôn giáo hay không; không phân biệt hay kỳ thị bất kỳ tôn giáo nào dù nội sinh hay được truyền từ nước ngoài, dù là tôn giáo đã ổn định lâu dài hay mới được công nhận. Trong hơn 5 năm qua, hơn 3.000 đầu ấn phẩm tôn giáo được xuất bản với hơn 10 triệu bản in, hàng triệu CD, DVD bằng nhiều ngôn ngữ, nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức ở Việt Nam như Đại lễ Phật đản Vesak, 500 năm cải chính đạo Tin lành…Điều đáng nói, tự do tôn giáo các dân tộc thiểu số luôn được bảo đảm: Năm 2017, Giáo hội Phật giáo Việt Nam triển khai xây dựng Học viện Phật giáo Nam tông Khmer tại Cần Thơ; ở Bình Phước và Tây Nguyên có 33 tổ chức, hệ phái, nhóm Tin lành đang sinh hoạt tại 304 chi hội và hơn 1.300 điểm nhóm; ở Tây Bắc có 693 điểm nhóm Tin lành, 8 Hội thánh cơ sở được thành lập; nhiều điểm nhóm của người dân tộc thiểu số theo Hội thánh Lutheran, Hội Liên hữu Baptist Việt Nam đã đăng ký sinh hoạt tập trung... Quan trọng hơn, các tôn giáo được tự do hành lễ, dù ở nhà riêng hay các nơi thờ tự; được tạo điều kiện mở mang cơ sở vật chất, tu sửa nơi thờ tự, được mở các trường đào tạo những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp, đáp ứng nhu cầu phát triển của Giáo hội, được Nhà nước tạo điều kiện phát triển các quan hệ giao lưu quốc tế…Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động đã xây dựng và thực hiện đường hướng hành đạo đậm chất nhân văn tôn giáo và trách nhiệm với đất nước, dân tộc. Phủ nhận quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước cũng như những kết quả đạt được trong công tác tôn giáo - điều này xuất phát từ bản chất, mục tiêu cao nhất của các thế lực thù địch là lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ không đi theo quỹ đạo của họ, mà trước hết là các nước XHCN bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ.

Kiên định, kiên quyết bảo vệ những giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin

 

Lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác cũng như lý tưởng và sức sống mãnh liệt của Cách mạng Tháng Mười Nga là những giá trị vĩnh hằng, có sức sống trường tồn cùng nhân loại bởi “cái ngày vĩ đại ấy càng cách xa chúng ta thì ý nghĩa của cuộc CMVS Nga càng trở nên rõ rệt, chúng ta cũng càng suy nghĩ sâu về toàn bộ kinh nghiệm thực tiễn của công tác của chúng ta”(1), thấy rõ hơn giá trị và ý nghĩa hiện thực của Cách mạng Tháng Mười Nga; đặc biệt là những cống hiến vĩ đại của Lênin đối với việc khai mở con đường thực hiện tiến bộ xã hội, đưa các dân tộc thuộc địa thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, trở thành chủ nhân xây dựng cuộc sống mới, sống trong hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc.

Chúng ta nhận thức sâu sắc rằng, phát triển không phải là một đường thẳng mà có lúc sẽ diễn ra quanh co, phức tạp. Sự  ra đời, tồn tại, phát triển và sụp đổ của các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô trong thập kỷ 90 của thế kỷ 20 phần nào đã nói lên sự “dích dắc” đó. Song, không vì thế mà tiến trình lịch sử bị đảo lộn, bị “ngưng đọng”, “thụt lùi”.

Theo quy luật tiến hóa của loài người, lịch sử vẫn tiếp tục vận động và phát triển. Những tổn thất từ sự sụp đổ của một số nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô là đáng tiếc nhưng nó chỉ có thể làm chậm bước tiến của nhân loại trên con đường đi lên CNXH.

Song, nó cũng nói lên rằng, các thế lực thù địch không thể và không bao giờ xóa bỏ được lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga cũng như mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH mà Đảng, Bác Hồ và dân tộc ta đã lựa chọn. Điều này đã được Đảng ta khẳng định: “Lịch sử đang trải qua những bước quanh co, phức tạp, song “loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới CNXH, vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”(2).

Vì vậy, khi nói về ý nghĩa thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đó là thắng lợi của lý tưởng cộng sản, của Cách mạng Tháng Mười Nga, thắng lợi của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Thắng lợi của cách mạng Việt Nam đã chỉ ra một chân lý không thể nào bác bỏ, đó là bất cứ một xã hội nào đã tỏ ra lỗi thời, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, của dân tộc, cản trở tiến bộ xã hội thì tất yếu sẽ bị thay thế bởi một chế độ xã hội khác cao hơn, tiến bộ hơn; đó là xã hội XHCN-giai đoạn đầu của CNCS.

Con đường xóa bỏ sự lạc hậu, lỗi thời, tệ nạn người áp bức, bót lột người là đi theo tấm gương Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại.

Sự sụp đổ của chế độ XHCN theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và các nước Đông Âu đem lại cho chúng ta nhiều bài học sâu sắc, cần suy ngẫm, rút kinh nghiệm để chỉ đạo sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay: Bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào, người cộng sản đều phải kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga, con đường cách mạng vô sản, luôn độc lập, tự chủ, năng động, sáng tạo, thường xuyên đổi mới, tỉnh táo đi lên CNXH. 

Trong đó, đổi mới nhận thức, bổ sung, phát triển lý luận về đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc phù hợp với thời cuộc hiện nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Học tập, tin theo Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta cần đổi mới nhận thức, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam. Làm tốt điều này là thiết thực bảo vệ và góp phần tăng thêm sức sống cho chủ nghĩa Mác-Lênin - nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện lịch sử mới.

Có thể nói rằng, lý luận về đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là một sáng tạo trong vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Không thể vì sự sụp đổ của chế độ XHCN theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và Đông Âu mà ai đó đã vội quy kết, coi nó là “sự phá sản”, “sự sụp đổ” của chủ nghĩa Mác-Lênin, của lý luận về CNXH khoa học hay sự thất bại của lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga.

Đó chỉ là sự ngộ nhận và là quan điểm hoàn toàn sai trái, cần loại bỏ. Trái lại, những gì đã diễn ra ở Liên Xô và các nước Đông Âu những năm 90 của thế kỷ 20 là minh chứng khẳng định rằng, trong tình hình hiện nay, bất cứ đảng cộng sản nào và bất cứ ai, nếu coi thường chủ nghĩa Mác-Lênin, đi ngược lại lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga, thì tất yếu sẽ mắc phải sai lầm về chính trị, và mọi sai lầm đều phải trả giá đắt: Đảng Cộng sản mất vai trò lãnh đạo; chế độ XHCN sụp đổ, xã hội sẽ rơi vào rối loạn, nhân dân sẽ đau khổ, lầm than. Đó là kết cục đáng tiếc về sự sai lầm, khinh thường chủ nghĩa Mác-Lênin.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay từ khi mới ra đời cho đến nay, đặc biệt từ Đại hội VII (1991), Đảng đã khẳng định lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động.

Làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Do vậy, kiên trì, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề có tính nguyên tắc số một đối với Đảng ta, vì điều căn cốt này liên quan trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ ta.

Một trong những yêu cầu, giải pháp hàng đầu để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu mà Đại hội XIII của Đảng vạch ra là bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, đặc biệt là nghiên cứu, khai thác những giá trị quý báu của chủ nghĩa Mác-Lênin, toàn bộ di sản mà Người để lại cho nhân loại, đặc biệt là lý luận về xây dựng đảng mác xít kiểu mới, về chính sách kinh tế mới (NEP), về chiến tranh và hòa bình...

Qua đó, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn chủ nghĩa Lênin-ngọn nguồn bí mật đã đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác, trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam và Người đã mở ra con đường mới cho cách mạng Việt Nam-con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

Lênin vận dụng trung thành, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác


Giống như  C.Mác và Ph.Ăng-ghen trong thế kỷ 19, V.I.Lênin xuất hiện trong thế kỷ 20 với tư cách là một nhà bác học vĩ đại nhất trong cách mạng và thực hiện cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong khoa học; là một trong những người có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong thế kỷ 20.

Chủ nghĩa Lênin trở thành cấu phần rất quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và là kim chỉ nam cho hành động của các đảng cộng sản trên thế giới.

Lênin là người kế tục trung thành, bảo vệ và phát triển sáng tạo các học thuyết khoa học, cách mạng của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, đã lãnh đạo Đảng Cộng sản Bolshevik  và nhân dân Nga làm cuộc cách mạng long trời lở đất, xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột người; giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, mở ra thời đại mới-thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản (CNTB) lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) và cách mạng vô sản (CMVS) trên phạm vi toàn thế giới.

Với việc bảo vệ và phát triển sáng tạo cả 3 bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác trước sự tấn công từ nhiều phía của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị, Lênin đã bổ sung, phát triển toàn diện, đồng bộ cả 3 bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác: Triết học, Kinh tế học chính trị và Chủ nghĩa xã hội khoa học với hệ thống luận điểm mới, sáng tạo; nâng tầm cao thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của cuộc CMVS trong giai đoạn CNTB độc quyền chuyển thành chủ nghĩa đế quốc-đêm trước của CMVS.

Sự cống hiến vĩ đại của Lênin đã làm cho chủ nghĩa Mác sống động hơn, trở thành hệ thống lý luận hoàn bị nhất, chắc chắn nhất, trở thành “công cụ nhận thức vĩ đại” để giai cấp công nhân nhận thức và cải tạo thế giới.

Với ý nghĩa đó, chủ nghĩa Lênin được coi là sản phẩm phát triển chín muồi của chủ nghĩa Mác trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, là sự hội tụ, kết tinh, liên tục đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững hệ tư tưởng vô sản, khẳng định sự tất thắng của mục tiêu, con đường đi tới CNXH của giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ trong thời đại cách mạng XHCN.

Lênin đã nâng tầm cao uy tín, vị thế, giá trị và ý nghĩa lý luận-thực tiễn của chủ nghĩa Mác; nêu tấm gương mẫu mực về sự trung thành, đổi mới sáng tạo trong kế thừa, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-hệ tư tưởng của giai cấp vô sản trong điều kiện lịch sử mới.

Lênin coi chủ nghĩa Mác là một hệ thống mở, bởi ông cho rằng lý luận của C.Mác mới chỉ đặt nền móng cho một bộ môn khoa học mà những người cộng sản cần phải phát triển hơn nữa, nếu không muốn trở thành lạc hậu và bị cuộc sống đào thải.

Sự thống nhất biện chứng về quan điểm, lập trường thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng giữa chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Lênin đã gắn chặt tên tuổi, cuộc đời, sự nghiệp của các ông với giai cấp công nhân, với hệ tư tưởng của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công; xây dựng chế độ xã hội mới tốt đẹp-xã hội XHCN.

Vì lẽ đó, chủ nghĩa Lênin được coi là chủ nghĩa Mác trong thời đại mới-thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH và CMVS trên phạm vi toàn thế giới.

Chủ nghĩa Mác đã được tiếp nối bằng sức sống đầy sinh khí của chủ nghĩa Lênin trên cơ sở thống nhất biện chứng giữa lập trường, quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa cộng sản (CNCS). Vì vậy, chủ nghĩa Lênin chính thức trở thành chủ nghĩa Mác-Lênin - nguồn năng lượng dồi dào, động lực mới tạo nên sức mạnh vô địch và là cấu phần rất quan trọng trong nền tảng tư tưởng của các đảng cộng sản.

Trong chiều sâu của sợi dây chuyền ấy, người có công kết nối, xây dựng, tạo nên tượng đài dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân thế giới là Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh.

Với linh hồn sống động của chủ nghĩa Mác là phép biện chứng duy vật và giá trị nhân văn sâu sắc, Lênin đã giải quyết thỏa đáng mối quan hệ biện chứng giữa trung thành và sáng tạo, bảo vệ và phát triển, lý luận và thực tiễn, đưa chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của các đảng cộng sản.

Quan điểm của Lênin về cách mạng XHCN có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, vạch ra con đường đi tới với triển vọng thắng lợi của CMVS ở một số nước, thậm chí ở một nước, đồng thời nhấn mạnh vai trò chủ động, tích cực sáng tạo của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống mọi loại kẻ thù.

Để cách mạng thắng lợi hoàn toàn, Lênin yêu cầu phải bảo đảm quyền lãnh đạo tuyệt đối của giai cấp công nhân, đứng đầu là bộ tham mưu chiến đấu có tổ chức và là tổ chức cao nhất là Đảng Cộng sản. Cùng với đó, phải xây dựng khối liên minh công nông và khối đại đoàn kết giữa các dân tộc vững chắc; kiên quyết thực hiện chuyên chính vô sản; ra sức đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội; làm cho CNXH ngày càng nhiều hơn, dân chủ nhiều hơn.

Chìa khóa để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng XHCN là sự giác ngộ và làm chủ vận mệnh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đặc biệt là việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ của Đảng và sử dụng hiệu quả tầng lớp trí thức XHCN.


 KỶ NIỆM 92 NĂM KHỞI NGHĨA YÊN BÁI


BÀI HỌC CHO CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Cách đây 92 năm, vào đêm ngày 9, rạng sáng ngày 10/2/1930, một cuộc nổi dậy bằng vũ trang đã nổ ra tại Yên Bái do Nguyễn Thái Học - lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân Đảng, nhà yêu nước kiên trung, bất khuất khởi xướng và lãnh đạo, nhằm lật đổ chính quyền thuộc địa của Pháp để xây dựng một nước Việt Nam độc lập theo chính thể cộng hòa, mở đầu cho hàng loạt các cuộc bạo động chống Pháp tại nhiều địa phương thuộc miền Bắc nước ta; đã làm rung động toàn bộ hệ thống chính quyền thuộc địa của Pháp ở Đông Dương và gây ra những chấn động lớn tại nước Pháp đương thời.
Cuộc khởi nghĩa Yên Bái được đề cao, được coi như ngọn cờ tiêu biểu cho tinh thần đấu tranh của một dân tộc bị áp bức chống đế quốc xâm lược. … nhưng chỉ như tiếng nổ trong canh trường im lặng. Nguyên nhân thất bại của khởi nghĩa Yên Bái là:
- Thực dân Pháp còn mạnh, bản thân Việt Nam Quốc dân đảng còn non kém về nhiều mặt, nhất là chưa có đường lối lãnh đạo đúng đắn, thiếu kinh nghiệm
- Tổ chức chưa chặt chẽ, còn lỏng lẻo. Các đảng viên mới được kết nạp chỉ được giải thích qua loa về chương trình và điều lệ. Họ không được đào tạo theo một chương trình cụ thể, ngoại trừ một số bài thơ cảm khái khơi dậy lòng yêu nước, thương nòi hoặc những tài liệu về chủ nghĩa cộng sản sơ giải, Công xã Pari…
- Không xác định được lực lượng chủ yếu của cách mạng là đại bộ phận quần chúng nhân dân cũng là bài học xương máu đưa đến sự thất bại của cuộc khởi nghĩa.
- Cuộc khởi nghĩa nổ ra chưa có sự chuẩn bị kĩ, còn bị động.
Khắc phục những hạn chế, yếu kém từ những bài học xương máu nêu trên, sau cuộc Khởi nghĩa Yên Bái, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng đường lối, lãnh đạo, dẫn dắt quần chúng nhân dân dưới ngọn cờ của mình với nền tảng lý luận cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân; lãnh đạo cách mạng bằng đường lối chính trị đúng đắn, xây dựng Đảng trên cả ba mặt tư tưởng, chính trị và tổ chức. Chú trọng công tác tuyên truyền, huấn luyện lý luận cách mạng trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thành phong trào cách mạng của quần chúng, đưa dân tộc Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, mở ra kỷ nguyên mới, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; mở ra một thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
Dù không thành công song tinh thần yêu nước cũng như ý chí hiên ngang của các vị tiên liệt trong cuộc Khởi nghĩa Yên Bái đem máu xương của mình xây đắp nền độc lập, tự do của Tổ quốc, gây dựng truyền thống anh dũng bất khuất của dân tộc Việt Nam mãi trường tồn.

ÔNG CHA TA GIỮ NƯỚC: CHÚNG TÔI SẼ THẮNG!

         Tháng 2 .1979, đại sứ nước CHXHCNVN tại Ý là ông Nguyễn Anh Vũ, đã mở một cuộc họp báo chí quốc tế để lên án Trung Quốc tấn công 6 tỉnh biên giới nước ta. Tại họp báo có một phóng viên hỏi ông:

- Thưa ngài đại sứ! Bây giờ các quân đoàn chủ lực thiện chiến của Việt Nam đang chiến đấu ở bên Campuchia, chưa về kịp Việt Nam để chiến đấu chống giặc Trung Quốc, vậy Việt Nam lấy đâu ra lính để đánh trước sức mạnh của pháo binh Trung Quốc, liệu Việt Nam có chống đỡ nổi không?

- Đại sứ Nguyễn Anh Vũ trả lời: Dân tộc tôi hiểu họ, trong quá khứ họ nhiều lần mang quân xâm lược nước tôi, chúng tôi đều đánh bại họ. Còn bây giờ họ có đông quân và pháo binh hoả lực mạnh hơn hẳn chúng tôi thì họ vẫn thua ...Vì với Việt Nam chúng tôi, mỗi người dân là một chiến sĩ, những làng mạc là pháo đài, cả dân tộc chúng tôi sẽ đánh bại họ. Mà ngài thấy đó, trong 2 ngày 17 và 18.2 chỉ với lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân, chúng tôi đã đánh trả họ thích đáng, tiêu diệt hàng ngàn tên địch, bắn cháy nhiều xe tăng.. .Nên chúng tôi sẽ thắng .

Sau câu trả lời đó là tiếng vỗ tay của các nhà báo quốc tế./.

Ảnh trên: Đại sứ Nguyễn Anh Vũ tại cuộc họp báo chí quốc tế diễn ra tại Italia tháng 2.1979.

Ảnh dưới: Chiến tranh biên giới chống Trung Quốc.

Yêu nước ST.