Thứ Tư, 9 tháng 2, 2022

Phát huy vai trò của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, góp phần đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong giai đoạn mới

 Tham nhũng, tiêu cực luôn là nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. Vì vậy, Đảng ta luôn kiên quyết đấu tranh phòng, chống những mối nguy cơ đó. Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ chính trị trong thời gian tới, đòi hỏi các cấp, các ngành, trong đó có đội ngũ những người làm công tác kiểm tra, giám sát phải nỗ lực hơn nữa, quyết tâm cao hơn nữa trong thực hiện nhiệm vụ quan trọng này.

Nỗ lực của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Sau khi thành lập chính quyền non trẻ, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm cảnh báo nguy cơ xa rời quần chúng và tệ thoái hóa, biến chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Người đã luôn chú trọng giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên về đạo đức cách mạng, quyết tâm phòng, chống những nguy cơ làm tha hóa đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đảng ta thường xuyên chăm lo tới công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đặc biệt, bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (tháng 1-1994), Đảng đã xác định 4 nguy cơ đối với sự nghiệp cách mạng của đất nước là: Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội; âm mưu và hành động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Trong đó, sự suy thoái, biến chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên và tệ nạn quan liêu, tham nhũng, lãng phí được coi là “giặc nội xâm”; làm ảnh hưởng xấu đến niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và đe dọa sự tồn vong của chế độ. Hiện nay, một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, có quyền bị tác động bởi mặt trái của cơ chế thị trường, kém tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất người đảng viên sẽ dẫn tới thoái hóa, biến chất, phai nhạt lý tưởng, xa rời nhân dân, sa vào tham nhũng, lãng phí. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đang diễn ra theo chiều hướng ngày càng tinh vi, phức tạp, nếu không kịp thời đấu tranh, ngăn chặn sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới vai trò lãnh đạo của Đảng, làm mất niềm tin của nhân dân.

Từ sau Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, Ðảng và Nhà nước ta đã tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và đã đạt được một số kết quả nhất định, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, cuộc đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nhiều hạn chế, khuyết điểm, hiệu quả thấp. Tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Ðảng và chế độ ta.

Trước tình hình trên, Hội nghị Trung ương 3 khóa X đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 21-8-2006, “Về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”. Một trong những chủ trương, giải pháp được Nghị quyết nêu ra là: Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử hành vi tham nhũng. Tập trung kiểm tra, thanh tra, kiểm toán một số lĩnh vực trọng điểm, như: Đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, thu - chi ngân sách, quản lý tài sản công và hệ thống ngân hàng thương mại. Thành lập các đoàn công tác liên ngành giữa ủy ban kiểm tra của Đảng với thanh tra, kiểm toán, công an, kiểm sát để phối hợp xử lý các vụ tham nhũng, lãng phí nghiêm trọng. Công khai kết quả xử lý của các đoàn công tác này”(1). Tiếp đó, Hội nghị Trung ương 5 khóa XI đã ban hành Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-5-2012, “Về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí””. Kết luận số 21-KL/TW cũng đã nhấn mạnh một trong các nhiệm vụ, giải pháp về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí là: “Tiếp tục hoàn thiện thể chế và tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”(2). Sau đó, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đều đánh giá vai trò quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng trong công tác phòng, chống tham nhũng.

Ngày 12-12-2020, phát biểu tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc, tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013 - 2020, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã đánh giá công tác kiểm tra của Đảng chính là bước “đột phá” trong công tác phòng, chống tham nhũng hiện nay: “Công tác phát hiện và xử lý tham nhũng được chỉ đạo đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả, tạo bước đột phá trong công tác phòng, chống tham nhũng, khẳng định quyết tâm rất cao của Đảng, Nhà nước trong chống tham nhũng, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”. Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, thanh tra, kiểm toán của Nhà nước được tăng cường, phát hiện và xử lý nghiêm minh các sai phạm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy nhà nước, góp phần đắc lực nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng”(3).

Thời gian qua, cấp ủy, ủy ban kiểm tra (UBKT) các cấp đã chủ động, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo kiểm tra, giám sát phục vụ cho việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp hằng năm đã ban hành các chương trình kiểm tra, giám sát, thành lập các đoàn kiểm tra, giám sát. Nội dung kiểm tra, giám sát tập trung vào việc chấp hành các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, trong đó có việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa X về tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Ủy ban Kiểm tra Trung ương và UBKT các cấp rất tích cực, chủ động, quyết tâm, quyết liệt trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với tổ chức đảng và đảng viên (trong đó trên 1/2 đảng viên là cấp ủy viên các cấp), giám sát thường xuyên và giám sát chuyên đề đối với tổ chức đảng và đảng viên; tập trung nhiều vào những điểm “nóng”, những lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực, những vấn đề bức xúc mà dư luận quan tâm, như việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc; công tác cán bộ; biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; trách nhiệm nêu gương; quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên, tài chính, ngân hàng; bảo vệ môi trường, cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp; thực hiện dự án đầu tư, xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản công... Trong đó, vừa có nhiều vụ việc mới, lại có những vụ việc tồn tại đã lâu, việc giải quyết rất khó khăn, phức tạp, nhạy cảm, liên quan nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều địa phương, gây bức xúc trong xã hội... đã được phát hiện, làm rõ, kết luận và kỷ luật; đề nghị các cấp có thẩm quyền kỷ luật nhiều tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, trong số đó có cả những người giữ cương vị cao của Đảng, Nhà nước, lãnh đạo chủ chốt các địa phương, đơn vị, sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang, đương chức hoặc đã nghỉ hưu.

Qua kiểm tra, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy và UBKT các cấp đã xử lý nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm; làm một cách bài bản, từ trên xuống dưới, có trọng tâm, trọng điểm. Quan điểm về xử lý kỷ luật là “không có vùng cấm, không có vùng trống, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, không có hạ cánh an toàn”, dù là cán bộ đương chức hay đã nghỉ hưu, cán bộ cấp cao, cả dân sự và cả trong lực lượng vũ trang, thì mọi đảng viên đều bình đẳng khi xử lý kỷ luật và làm nghiêm từ trên xuống.  Trong giai đoạn 2013 - 2020, cấp ủy, UBKT các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 131 nghìn đảng viên, trong đó có nhiều trường hợp tham nhũng(4). Riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay, đã thi hành kỷ luật hơn 87 nghìn cán bộ, đảng viên; trong đó, có hơn 3.200 đảng viên bị kỷ luật liên quan đến tham nhũng; đã thi hành kỷ luật hơn 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (4 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, 27 Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, hơn 30 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang,...).

Thực hiện nghiêm túc quan điểm “Kỷ luật đảng đi trước, tạo tiền đề, mở đường cho thanh tra, điều tra, xử lý hình sự theo pháp luật”, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã tập trung kiểm tra các tổ chức đảng, đảng viên có dấu hiệu vi phạm trong các vụ án, vụ việc nổi cộm, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Trong năm 2021, qua kiểm tra, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã xử lý và đề nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư xử lý nghiêm 12 tổ chức đảng và 20 đảng viên thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý (gồm 3 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương; 2 thứ trưởng, 1 đồng chí nguyên chủ tịch; 1 đồng chí nguyên phó bí thư tỉnh ủy; 13 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang). Đã kiểm tra, làm rõ các sai phạm, xử lý và yêu cầu xử lý trách nhiệm đối với nhiều tập thể, cá nhân sai phạm liên quan đến việc giảm chấp hành hình phạt tù trước thời hạn cho Phan Sào Nam (trong đó, đã thi hành kỷ luật đối với Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh và 5 cán bộ gồm Chánh án, 2 Phó Chánh án, Chánh Tòa dân sự, Phó Trưởng phòng Kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án; hiện đang yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng xem xét, xử lý trách nhiệm đối với các tập thể và cá nhân khác); một số tập thể và cá nhân sai phạm liên quan đến vụ án xảy ra tại Cục Quản lý Dược, Bộ Y tế; 1 tập thể và nhiều cá nhân sai phạm xảy ra tại Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam và các đơn vị trực thuộc(5)...

Các tổ chức đảng và đảng viên sau khi được kiểm tra, giám sát đã nghiêm túc khắc phục, sửa chữa vi phạm, khuyết điểm và hậu quả gây ra, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng đã góp phần đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; qua đó, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Như vậy, có thể thấy rõ rằng, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng ta được tiến hành rất quyết liệt, trong đó, ngày càng xác định rõ hơn vai trò, trách nhiệm của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng.

Bước sang nhiệm kỳ Đại hội XIII, đất nước ta tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn đang hiện hữu, có mặt còn gay gắt hơn; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ còn diễn biến phức tạp. Khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên có nguy cơ gia tăng về số lượng, mức độ, với tính chất, quy mô tinh vi hơn trước. Thực tế đó đặt ra yêu cầu, đòi hỏi phải đặc biệt coi trọng và đưa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng lên tầm cao mới, gắn liền với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Ban Chấp hành Trung ương quyết định đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đã đề ra. Trong đó, Ban Chấp hành Trung ương đặc biệt nhấn mạnh đến giải pháp về: Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm(6).

Những nhiệm vụ của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng cần thực hiện tốt trong thời gian tới

Để đáp ứng yêu cầu và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới, trong đó, có đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng cần được nhận thức đúng, đầy đủ hơn và tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, tiếp tục tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa về nhận thức của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, ngành và đội ngũ cán bộ, đảng viên về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng.

Đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và các cấp, các ngành, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu về vị trí, vai trò, mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu, phải gương mẫu, đi đầu, nêu cao tinh thần tự giác, thống nhất cao về ý chí và hành động trong công tác kiểm tra, giám sát để giữ gìn uy tín, củng cố niềm tin của nhân dân và phải công khai những điều cần thiết để nhân dân biết, ủng hộ và giám sát. Tiếp tục khẳng định kiểm tra, giám sát là một phương thức lãnh đạo của Đảng, một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng, là nhiệm vụ của toàn Đảng, trước hết là trách nhiệm của cấp ủy và của người đứng đầu cấp ủy. Công tác kiểm tra, giám sát, như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “là thanh bảo kiếm của Đảng”. Những nỗ lực đó nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của các cấp ủy, tổ chức đảng và UBKT các cấp.

Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng trên các phương tiện thông tin đại chúng bằng nhiều hình thức, biện pháp thích hợp; chú trọng nhân rộng các nhân tố điển hình, kinh nghiệm hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả; rà soát, tiếp tục mở các chuyên trang, chuyên mục, xuất bản, phát hành sách, báo, tạp chí, các tác phẩm văn học, nghệ thuật về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. Công khai kết quả xử lý các vụ việc đến cán bộ, đảng viên và nhân dân để phát huy tối đa hiệu quả tác dụng trong phòng ngừa, giáo dục, răn đe, cảnh tỉnh vi phạm; không để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, chia rẽ nội bộ, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ; tạo đồng thuận và hiệu ứng tốt trong xã hội, góp phần quan trọng cho công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Hai là, tiếp tục chỉ đạo nghiên cứu xây dựng, hoàn thiện các quy định của pháp luật và hệ thống các quy định về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng có liên quan đến việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp ủy các cấp tăng cường chỉ đạo nghiên cứu xây dựng hoàn chỉnh các nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định về công tác xây dựng Đảng, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng đồng bộ, thống nhất; đổi mới phương pháp, kỹ năng, quy trình công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng bảo đảm khoa học, dân chủ, đồng bộ, thống nhất, khả thi; trong đó, tập trung vào các cơ chế, biện pháp chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm, khuyết điểm của tổ chức đảng, đảng viên. Đồng thời, chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và các quy định về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực gắn với cơ chế kiểm soát quyền lực; tạo sự đồng bộ, thống nhất trong thực hiện quy định xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức với kỷ luật đảng viên; có cơ chế, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức, viên chức để cán bộ, đảng viên “không thể tham nhũng”, “không dám tham nhũng”, “không cần tham nhũng”...

Ba là, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng, góp phần quan trọng cho công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT các cấp cần nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu lực, hiệu quả và tạo bước tiến mới trong công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng. Tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tiêu cực. Cấp ủy các cấp phải thường xuyên tự kiểm tra, nhất là đối với cấp ủy viên và cán bộ diện cấp ủy cấp mình quản lý, kịp thời chỉ ra những ưu điểm để phát huy, phát hiện những hạn chế, khuyết điểm để chủ động khắc phục, chấn chỉnh. Tăng cường giám sát để giúp cho tổ chức đảng, đảng viên kịp thời chấn chỉnh, khắc phục, sửa chữa khuyết điểm, vi phạm, không để khuyết điểm kéo dài trở thành vi phạm, vi phạm nhỏ trở thành vi phạm lớn, vi phạm của một người trở thành vi phạm của cả tập thể. Thực hiện giám sát trên tất cả các địa bàn, lĩnh vực; tập trung giám sát việc tham mưu, ban hành thể chế, nhất là những nơi nội bộ có biểu hiện mất đoàn kết, có vấn đề phức tạp mới nảy sinh, dư luận xã hội quan tâm để chủ động nhắc nhở, cảnh báo, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm từ sớm. Việc thực hiện kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm cần có tinh thần chủ động hơn, nỗ lực quyết tâm cao hơn, hành động quyết liệt hơn, tập trung vào những nơi có vấn đề phức tạp, điểm “nóng”, những địa bàn, lĩnh vực dễ nảy sinh vi phạm, những vấn đề nổi cộm, gây bức xúc trong xã hội, như các lĩnh vực kinh tế - tài chính, hành chính, tư pháp, y tế, giáo dục, quản lý báo chí, sử dụng nguồn viện trợ của nước ngoài,... Việc xử lý kỷ luật phải nghiêm minh, kịp thời, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, song, phải trên tinh thần nhân văn, “trị bệnh cứu người”, mục đích là làm cho tổ chức đảng, đảng viên tiến bộ hơn, để thực hiện tốt hơn nhiệm vụ chính trị được giao.

Bên cạnh đó, cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT các cấp cần nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng cường kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý, kỷ luật nghiêm minh đối với cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, góp phần quan trọng cho đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống tất yếu dẫn đến tham nhũng và đây mới là cái gốc của tệ nạn, là cái cơ bản cần phải phòng, chống. Do đó, công tác phòng, chống tham nhũng phải gắn liền, đồng bộ với công tác phòng, chống tiêu cực, nhất là chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Không chỉ đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực kinh tế, mà quan trọng hơn là phải chống tiêu cực trong cả lĩnh vực tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Bốn là, tăng cường sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cơ quan kiểm tra với các cơ quan thanh tra, điều tra, kiểm toán và các cơ quan quản lý nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, tạo sự chuyển biến rõ nét trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực từ Trung ương đến cơ sở.

Thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa UBKT với các đảng ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn liên quan. Ủy ban kiểm tra các cấp tiếp tục tham mưu cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy cùng cấp sửa đổi, bổ sung, xây dựng ban hành mới quy chế phối hợp giữa UBKT với cơ quan điều tra, thanh tra, kiểm toán, viện kiểm sát nhân dân, tòa án nhân dân và tổ chức thực hiện có chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan theo cơ chế chỉ đạo phối hợp xử lý sai phạm được phát hiện trong quá trình thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Ủy ban kiểm tra các cấp cần phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng nhà nước để kiểm soát thu nhập của cán bộ, nhất là cán bộ thuộc diện cấp ủy quản lý theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền.

Tiếp tục thực hiện nghiêm túc quan điểm “Kỷ luật đảng đi trước, tạo tiền đề, mở đường cho thanh tra, điều tra, xử lý hình sự theo pháp luật”. Ủy ban kiểm tra các cấp tập trung kiểm tra các tổ chức đảng, đảng viên có dấu hiệu vi phạm trong các vụ án, vụ việc nổi cộm, gây bức xúc trong dư luận xã hội; qua kiểm tra, giám sát phát hiện thấy có các cán bộ, đảng viên có dấu hiệu tội phạm về tham nhũng, tiêu cực thì chuyển cho các cơ quan pháp luật xem xét, xử lý theo thẩm quyền, không chờ đến khi kết thúc kiểm tra, giám sát mới chuyển. Các cơ quan chức năng trong quá trình thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đối với các vụ việc, vụ án về tham nhũng, tiêu cực, nếu phát hiện vi phạm liên quan đến cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp quản lý thì báo cáo ngay cho Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, cấp ủy quản lý cán bộ để kịp thời chỉ đạo xử lý. Đồng thời, chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan đến Ủy ban Kiểm tra Trung ương, UBKT thuộc cấp ủy quản lý cán bộ để kiểm tra, xử lý theo quy định của Đảng, không chờ khi có kết luận, kết thúc vụ việc, vụ án mới chuyển.

Năm là, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp theo hướng chuyên nghiệp hóa, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, phục vụ cho công tác đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Cán bộ kiểm tra phải có phẩm chất đạo đức cách mạng, có bản lĩnh chính trị, tính chiến đấu cao, có kinh nghiệm về công tác xây dựng Đảng, kỹ năng nghiệp vụ thuần thục, phương pháp công tác khoa học, dân chủ, thận trọng, chặt chẽ; nắm vững và thực hiện đúng các nguyên tắc, thẩm quyền, quy trình, thủ tục, cơ chế, chính sách, quy định của Đảng và Nhà nước về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; không lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để trục lợi. Đổi mới công tác tuyển dụng, bố trí, phân công, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng đối với cán bộ kiểm tra. Có chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp đối với cán bộ kiểm tra và chế độ, chính sách thu hút cán bộ chuyên môn giỏi, phẩm chất chính trị tốt về làm công tác kiểm tra. Tiếp tục đổi mới nội dung chương trình, hình thức, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm tra theo hướng chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng bằng giáo trình đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh, ngạch bậc và với đội ngũ giảng viên, báo cáo viên bảo đảm điều kiện, tiêu chuẩn.

Để góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””, các cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT các cấp cần đặc biệt coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, làm hết trách nhiệm và lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có chất lượng, hiệu lực, hiệu quả các văn kiện trên./.

Cảnh giác với chiêu trò cổ vũ cho sự ra đời, hoạt động của tổ chức xã hội dân sự độc lập

 

Cho đến nay, khái niệm xã hội dân sự (XHDS) thường được hiểu theo hai nghĩa, đó là: (1) Một chế độ xã hội và (2) là tổ chức XHDS độc lập. Vậy, XHDS là gì? Tổ chức XHDS độc lập là gì? Vì sao các thế lực thù địch, những kẻ tự xưng là “người bất đồng chính kiến” lại đang cổ vũ cho sự ra đời, hoạt động của tổ chức XHDS độc lập; cho rằng “chỉ có XHDS độc lập mới bảo đảm được dân chủ và quyền con người”?

Xã hội là quan hệ giữa người với người. Trong các chế độ nô lệ, phong kiến, quan hệ giữa người với người là quan hệ đẳng cấp, về chính trị, kinh tế luôn luôn bất bình đẳng. Xã hội dân sự (Civil society) chỉ ra đời sau khi có các cuộc cách mạng dân chủ tư sản. Những cuộc cách mạng này đã lật đổ chế độ đẳng cấp đó, tuyên bố về quyền bình đẳng, về “quyền công dân” (tất nhiên đây chỉ là về mặt pháp lý, còn trên thực tế thì quyền bình đẳng thực sự chưa được bảo đảm). Giai cấp tư sản thống trị xã hội bằng quan hệ kinh tế, quan hệ giữa chủ với thợ và bằng thể chế chính trị của mình.

Tổ chức XHDS chính trị độc lập (còn gọi là các tổ chức “phi chính phủ”- non-governmental organization-NGOs) là những tổ chức tự nguyện, là liên minh, là sự tập hợp những người có chung những mục tiêu, lý tưởng, tự quản trong hoạt động và tự chịu trách nhiệm về tài chính.

Về mặt lịch sử, XHDS ra đời từ sau khi có Cách mạng Dân chủ tư sản Anh (1642-1689). Tuy nhiên, hai cuộc cách mạng dân chủ tư sản điển hình là Cách mạng Pháp năm 1789, Cách mạng giành độc lập của Mỹ năm 1776 và Hiến pháp Mỹ năm 1787 mới là cơ sở bền vững cho XHDS và tổ chức XHDS độc lập.

Ở Việt Nam, các quyền công dân và quyền con người là thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trong Tuyên ngôn Độc lập công bố trước quốc dân đồng bào ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn văn kiện "Tuyên ngôn độc lập" của Mỹ và "Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền" của Pháp, như là một sự kế thừa, phát triển những giá trị chung của nhân loại trong điều kiện của một nước thuộc địa. Đó là độc lập dân tộc (đưa đất nước thoát khỏi sự thống trị của chủ nghĩa thực dân) và quyền con người, quyền công dân. Các Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013, tuy ngôn từ có khác nhau nhưng về bản chất xã hội Việt Nam là chế độ dân chủ, là chế độ tôn trọng và bảo đảm quyền công dân, quyền con người.

Trên phạm vi quốc tế, cơ sở chính trị, pháp lý của XHDS bắt nguồn từ những văn kiện quạn trọng nhất của cộng đồng quốc tế. Đó là Hiến chương Liên hợp quốc (United Nations Conference on International Organization, tại San Francisco, California,ngày 26-6-1945); tiếp đó là văn kiện “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người”, ngày 10-12-1948. Trong "Tuyên ngôn thế giới về quyền con người", quyền tự do hội họp và lập hội đã được quy định như sau: “Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội, một cách ôn hòa; không một ai có thể bị cưỡng bức gia nhập vào một đoàn thể” (Ðiều 20).

Trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, những giá trị chung của nhân loại, trong đó có quyền con người với những giá trị nền tảng là tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết và trách nhiệm (bổ sung của tác giả) được chia sẻ giữa các quốc gia, dân tộc theo những phương thức khác nhau. Tuy nhiên, Hoa Kỳ và các quốc gia tư bản chủ nghĩa (TBCN) phương Tây đã dùng chiến lược “diễn biến hòa bình”, lợi dụng khái niệm dân chủ, nhân quyền, XHDS đưa các “giá trị dân chủ, nhân quyền” của họ “thẩm thấu” vào các quốc gia xã hội chủ nghĩa (XHCN), từng bước “mở tung bức màn sắt của chế độ cộng sản” (theo cách nói của họ).

Vào những năm từ 1985 đến 1991, các nước XHCN cải tổ. Ở Ba Lan, tổ chức “Công đoàn đoàn kết” giữ vai trò ngòi nổ và đột phá làm sụp đổ chế độ xã hội và nhà nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Ở Liên Xô, Mỹ và phương Tây sử dụng quan điểm về dân chủ, nhân quyền, XHDS độc lập để tấn công phá hủy ý thức hệ XHCN. Rốt cuộc, quốc gia hùng mạnh bậc nhất thế giới một thời đã tan rã, sụp đổ.

Tuy nhiên ở một số quốc gia khác, trong đó có Việt Nam, quá trình đổi mới đã tiếp thu có chọn lọc các giá trị quyền con người, kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền với sự vận dụng, phát triển sáng tạo phù hợp truyền thống dân tộc và chế độ xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã vượt qua khủng hoảng, tồn tại và ngày càng phát triển.

Ở nước ta, các thế lực thù địch, tổ chức phản động lưu vong, trong đó có tổ chức FULRO do Ksor Kơk cầm đầu (ở Mỹ) đã lợi dụng internet, mạng xã hội tuyên truyền về “quyền tự do dân chủ” về “nhân quyền”… kích động đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên đòi thành lập “Nhà nước Tin Lành Đề Ga”. Vào năm 2001 và 2004, chúng đã lôi kéo được một số lượng lớn đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên gây ra hai cuộc bạo loạn là ví dụ. Gần đây, các thế lực thù địch đã chuyển sang dùng thủ đoạn đấu tranh “bất bạo động”, “bất tuân dân sự” để chống lại chính quyền nhân dân. Thủ đoạn này chủ yếu là dùng các tổ chức XHDS độc lập huy động lực lượng tạo ra “hội chứng đám đông” để chống chính quyền nhân dân. Ai cũng biết đằng sau những “đám đông” đó vẫn là những tổ chức XHDS độc lập phản động, chẳng hạn như tổ chức Việt Tân… Những sự kiện người dângây ách tắc giao thông trên Quốc lộ 1A ở Hà Tĩnh, Nghệ An các năm 2016-2017 sau vụ Công ty Fomosa Hà Tĩnh gây ra sự cố môi trường diện rộng là một ví dụ.

Như vậy có thể nói, sử dụng các tổ chức XHDS độc lập là thủ đoạn chính trị của các thế lực thù địch, nhằm “cài cấy” người của chúng chi phối hoạt động của nhân dân. Thông qua hoạt động của các tổ chức XHDS độc lập, chúng “rèn luyện” lực lượng chống phá chế độ và lựa chọn kẻ cầm đầu. Ngoài ra, dựa trên các tổ chức XHDS độc lập, chúng còn tính đến sẽ kêu gọi nước ngoài can thiệp vào công việc của đất nước khi có cơ hội.

 Để phòng, chống các thế lực thù địch lợi dụng tổ chức XHDS độc lập, mỗi người cần nhận thức đúng âm mưu chính trị của các thế lực lợi dụng khái niệm XHDS độc lập. Trên thế giới, cho đến nay không có mô hình “chuẩn” nào về chế độ xã hội, XHDS, tổ chức XHDS độc lập và quyền con người. Chế độ một đảng lãnh đạo, cầm quyền hay chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập đều là những hình thức chính trị nhằm duy trì chế độ xã hội do các đảng chính trị cầm quyền. Ở các nước TBCN, các cuộc cạnh tranh chính trị chỉ có thể dẫn đến những thay đổi nào đó về pháp luật, thay đổi nội các… nhưng chế độ TBCN vẫn không thay đổi.

Quan điểm cho rằng “chỉ có XHDS độc lập mới có dân chủ và quyền con người” hoàn toàn không có cơ sở lý luận và thực tiễn. Ở các nước TBCN hiện nay, điển hình là Hoa Kỳ, có rất nhiều NGOs, nhưng thử hỏi ở quốc gia giàu có nhất hành tinh này, quyền con người có được bảo vệ và bảo đảm không? Thực tế đã trả lời: Quyền sống của con người ở đây luôn luôn bị xâm phạm. Chẳng hạn, vụ xả súng ở Las Vegas ngày 2-10-2017 làm ít nhất 50 người chết, hơn 200 người bị thương. Truyền thông Mỹ nói “đây là vụ xả súng đẫm máu nhất trong lịch sử hiện đại nước Mỹ”[1]. Về các quyền kinh tế xã hội thì sao? Theo Reuters, Cơ quan Thống kê dân số Mỹ ngày 13-9-2011 cho biết, “tỷ lệ người nghèo nước này trong năm 2010 đã tăng năm thứ ba liên tục, lên mức 15,1%, đồng nghĩa với việc cứ 6 người Mỹ thì có gần 1 người sống dưới mức nghèo”[2].

Mặc dù Việt Nam đang là nước chưa phát triển, nhưng nhờ có chính sách kinh tế, xã hội hướng vào người dân nên Việt Nam đã trở thành một quốc gia có thành tích xóa đói, giảm nghèo được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Điều này được thể hiện “bằng số lượng người nghèo giảm từ 89% trong tổng dân số vào năm 1993 xuống còn 8-9% vào năm 2016, trong một thời gian rất ngắn. Giảm nghèo không chỉ ở thu nhập mà còn là khả năng tiếp cận những dịch vụ căn bản như giáo dục, y tế, nhà ở”[3]. 

Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn không ít cán bộ, đảng viên vì nhiều lý do có nhận thức mơ hồ, sai trái về XHDS, một số đảng viên “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về lập trường, quan điểm chính trị, trong đó có những đảng viên đã từng có đóng góp cho cách mạng đã lập tổ chức XHDS độc lập (thực chất là tổ chức xã hội phi pháp). Hiến pháp năm 2013 xác định: Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Như vậy có thể nói, luận điểm “chỉ có XHDS độc lập mới có dân chủ, quyền con người” thực chất là một thủ đoạn chính trị, tư tưởng thâm độc, nhằm xóa bỏ chế độ xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, chuyển hóa chế độ Việt Nam sang con đường đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập theo mô hình phương Tây-ngoại nhập, đi ngược lại với quyền và lợi ích của đại đa số nhân dân ta.

Quảng Ninh phát huy giá trị văn hóa biển, đảo

 

Trong số 6 di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia của Quảng Ninh thì có tới 4 lễ hội gắn liền với biển và không gian văn hóa biển, đảo.

Việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống từ những lễ hội này luôn được Quảng Ninh quan tâm, góp phần giáo dục người dân về niềm tự hào dân tộc và tình yêu với biển, đảo quê hương.

Quảng Ninh có bờ biển dài hơn 250km, không gian biển rộng lớn với hơn 2.000 hòn đảo, là môi trường để hình thành nền văn hóa biển, đảo đặc sắc, đa dạng. 4 di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia của tỉnh gồm: Lễ hội đền Cửa Ông (Cẩm Phả), Lễ hội Tiên Công (Quảng Yên), Lễ hội đình Trà Cổ (Móng Cái), Lễ hội đình Quan Lạn (Vân Đồn). Ngoài ra, còn có Lễ hội đình-nghè Cẩm Hải (Cẩm Phả), Lễ hội đình làng My Sơn (Hải Hà)... Có thể thấy, các vùng giáp biển và trên các đảo của Quảng Ninh đều có những lễ hội về biển. Những lễ hội này đều mang giá trị tưởng nhớ tiền nhân, là nơi tập hợp các phong tục, tập quán truyền thống, thích ứng với thiên nhiên, nơi thể hiện trách nhiệm và tình yêu biển, đảo, chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải của Tổ quốc.

Quảng Ninh phát huy giá trị văn hóa biển, đảo
 Hội đua thuyền truyền thống tại Lễ hội đình Trà Cổ năm 2021.

Có thể thấy, hoạt động tín ngưỡng để nhân dân bày tỏ lòng tri ân với các anh hùng của địa phương, của dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử thể hiện qua hầu hết các lễ hội. Hội đình Trà Cổ, nơi mang đậm bản sắc văn hóa vùng biển Đông Bắc, được người dân địa phương duy trì hằng năm để tưởng nhớ công ơn của các vị thành hoàng, các bậc tiền nhân đã có công khai khẩn đất hoang, mở làng. Cụm di tích đình, miếu, nghè, chùa Quan Lạn hiện là nơi thờ phụng 3 vị tướng tài của triều Trần là Phạm Công Chính, Phạm Thuần Dụng và Phạm Quý Công, đã anh dũng hy sinh trong trận chiến trên biển với quân đội phương Bắc xâm lược năm 1288. Còn đền Cửa Ông, đền Cặp Tiên (Vân Đồn) thì gắn liền với danh tướng Trần Quốc Tảng và các chiến công của quân, dân nhà Trần để bảo vệ vùng biển Bái Tử Long-Hạ Long, giúp nhân dân yên tâm lao động, sinh sống.

Các lễ hội còn là tập hợp các phong tục, tập quán, lối sống, kho tàng tri thức dân gian, thực hành tín ngưỡng... được hình thành từ nhu cầu phải thích ứng với điều kiện thiên nhiên đặc thù, khai thác nguồn lợi từ biển khơi, cùng nhau bám biển hiệu quả, bảo vệ ngư trường, giữ vững chủ quyền biển, đảo... Biểu hiện rõ nét nhất chính là những bài ca dao, điệu hát dân ca bình dị nhưng độc đáo, giàu bản sắc vẫn được lưu truyền đến ngày nay, như: Hát nhà tơ-hát múa cửa đình ở Vạn Ninh (Móng Cái), hát giao duyên của ngư dân trên vịnh Hạ Long, hát đúm ở Hà Nam (Quảng Yên), hò biển ở Vân Đồn...

Để phát huy các giá trị của các di sản văn hóa phi vật thể này, hiện nay, Quảng Ninh đã và đang thực hiện nhiều hoạt động bảo tồn, phục dựng, bảo tồn gắn với khai thác du lịch. Ngoài các hoạt động thuộc chính hội, Quảng Ninh hiện đang khai thác các sản phẩm du lịch đặc thù từ văn hóa biển, đảo như: Một ngày làm ngư dân trên biển vịnh Hạ Long; khám phá đảo Quan Lạn (Vân Đồn); hành trình biển, đảo quê hương ở Cô Tô; trải nghiệm làng chài ven biển; các lễ hội truyền thống tại Trà Cổ, Vạn Ninh (Móng Cái)... Các sản phẩm này đều được du khách yêu thích, có thể trở thành sản phẩm thu hút du khách đến từ các thị trường khách chất lượng cao.

Bài và ảnh: TRƯỜNG GIANG

Văn hóa tâm linh và phòng, chống mê tín, dị đoan

 

Một trong những trăn trở của không ít cán bộ, đảng viên hiện nay là tham gia đời sống tâm linh như thế nào cho phù hợp, để không vi phạm Điều 19 của Quy định số 37-QĐ/TW “về những điều đảng viên không được làm”: “Mê tín, hoạt động mê tín, ủng hộ hoặc tham gia các tôn giáo bất hợp pháp hoặc lợi dụng các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng để trục lợi”.

Ranh giới giữa hoạt động tâm linh với hoạt động mê tín, dị đoan thường rất mỏng manh. Định hình được ranh giới ấy, cán bộ, đảng viên sẽ thấy thoải mái, tự tin hơn trong tham gia các hoạt động tâm linh...

Mỗi dịp Tết đến, những ai là con dân nước Việt đều cảm nhận rõ ràng không khí linh thiêng của ngày Tết. Thời khắc giao thừa, thắp nén hương thơm dâng lên bàn thờ tiên tổ, ai cũng cầu mong tổ tiên phù hộ độ trì cho con cháu mạnh khỏe, may mắn, hạnh phúc. Những người cựu chiến binh dẫn theo con cháu đến nghĩa trang liệt sĩ, nhớ về những đồng đội từng hy sinh cho mình được sống, cảm thấy như đồng đội vẫn đang ở đâu đó trên những tầng mây cao vời vợi dõi theo mình, dẫn dắt mình tránh những tai ương, vận hạn.

Đến vãn cảnh khu tưởng niệm các danh nhân, anh hùng dân tộc, đền, miếu, chùa chiền, có ai không xúc động khi dâng hương tưởng nhớ các bậc tiền nhân có nhiều công lao với quê hương, đất nước, khấn cầu các vị thánh thần phù hộ cho quốc thái, dân an, gia đình và bản thân mình an khang, gặp nhiều phúc lộc... Rõ ràng, những hoạt động tâm linh kể trên là rất phổ biến trong đời sống hiện nay, mang lại những giá trị tinh thần cao cả, có tác dụng hướng con người đến chân-thiện-mỹ mãnh liệt.

Tuy nhiên, cũng có không ít những hoạt động tâm linh của cán bộ, đảng viên, thậm chí có cả những cán bộ (hoặc vợ con của cán bộ) giữ những vị trí lãnh đạo, quản lý rất quan trọng gây phản cảm trong nhân dân. Đó là những lễ dâng sao, giải hạn rình rang với chi phí hàng trăm triệu đồng, những buổi “gọi hồn, thỉnh vong”, hầu đồng, yểm bùa, cầu cúng, hóa vàng mã... hoành tráng với những niềm tin mù quáng vào số mệnh, thần thánh, ma quỷ.

Văn hóa tâm linh và phòng, chống mê tín, dị đoan
Ảnh minh họa / qdnd.vn 

Trước đây, đã có thời kỳ chúng ta cho rằng, người đảng viên với thế giới quan của Chủ nghĩa Mác-Lênin thì không được phép tham gia hoạt động tâm linh. Nhiều người còn cho rằng, tâm linh là “mảng tối”, là mặt tiêu cực trong ý thức con người, nơi chưa được chân lý khoa học soi sáng; cùng với sự phát triển vũ bão của khoa học-công nghệ (KHCN) thì đời sống tâm linh sẽ ngày càng bị thu hẹp.

Nhưng thực tế hơn 35 năm đổi mới vừa qua cho thấy, đất nước ta càng phát triển, dân trí càng lên cao, KHCN đã và đang có những bước phát triển rất nhanh thì đời sống tâm linh của nhân dân nói chung, của cán bộ, đảng viên nói riêng càng phong phú, đa dạng.

Vậy, đứng vững trên nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng ta cần nhìn nhận vấn đề cán bộ, đảng viên tham gia hoạt động tâm linh như thế nào? Có thể thấy, dù KHCN có phát triển đến mấy thì những nỗi đau do thiên tai, nhân tai, dịch bệnh, tai nạn giao thông... vẫn xảy ra.

Thậm chí, sẽ có những người ngẫu nhiên gặp phải rất nhiều tai ương, thiếu may mắn, “họa vô đơn chí”... Với mỗi người, khi gặp phải những nỗi đau quá sức chịu đựng như vậy thì sự giúp đỡ, động viên của cơ quan, đơn vị, hàng xóm, người thân là không đủ, họ cần có niềm tin vào một phép màu, một sự cứu rỗi trong tâm hồn để vượt qua. Rõ ràng, hoạt động tâm linh mang bản tính lịch sử tự nhiên, có tác dụng xoa dịu, bù đắp những mất mát, khổ đau; một loại “thuốc” tinh thần đặc biệt đối với con người.

Do đó, hoạt động tâm linh là một nhu cầu văn hóa tinh thần đặc biệt của con người, trong đó có cán bộ, đảng viên. Hơn nữa, đời sống tâm linh còn là nét văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc Việt Nam, được hun đúc qua mấy nghìn năm lịch sử, trở thành văn hóa tâm linh, “sợi dây neo” giữ hồn cốt dân tộc. Người cộng sản mang trong mình chủ nghĩa yêu nước, không thể thiếu “sợi dây neo” đó trong phẩm chất, tâm hồn mình. Lênin từng chỉ rõ: “Người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra”.

Với tinh thần đó, người đảng viên cộng sản Việt Nam không chỉ tìm hiểu về đời sống tâm linh của dân tộc mình, mà phải thực sự tham gia một cách tích cực vào hoạt động đó, để lọc bỏ những yếu tố mê tín, dị đoan, kế thừa và phát triển văn hóa tâm linh trở thành giá trị cốt lõi của nền văn hóa mới, nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

Các Mác từng nói rằng: “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”; đó là một câu nói rất có giá trị khoa học. Thuốc phiện, nếu được sử dụng hợp lý, đúng lúc, đúng chỗ, luôn là một liều thuốc quý; nhưng nếu sử dụng thái quá, lại trở thành độc dược đối với con người.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, khóa IX của Đảng ta khẳng định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Điều 3, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2016) quy định: “1. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân”.

Như vậy, từ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ta đều công nhận và bảo đảm hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, cũng là thừa nhận và tạo điều kiện cho văn hóa tâm linh hoạt động và phát triển. Về phương diện nhận thức và hành động, cán bộ, đảng viên khi tham gia đời sống tâm linh phải xem đó là hoạt động bày tỏ tình cảm thiêng liêng, niềm tin linh thiêng, là sự biết ơn của người đang sống đối với những người thân đã mất, đối với danh nhân, anh hùng liệt sĩ được nhân dân suy tôn làm thánh, làm thần, làm thành hoàng...; là sự thấu cảm về giá trị văn hóa và đạo đức của các biểu tượng tôn giáo.

Đó là những điều tốt đẹp, cao cả mà ai cũng khát khao, trông đợi, hướng về. Đi ngược lại mục đích tốt đẹp đó, hoạt động tâm linh, buôn thần, bán thánh... để cầu “vinh thân, phì gia”, cầu chạy tội, cầu che mắt các cơ quan công quyền khi làm những việc trái pháp luật, trái đạo lý... là những hành vi đáng phê phán, cần đấu tranh, loại bỏ.

Trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, lối sống thực dụng, coi trọng vật chất, chạy theo đồng tiền là một nguy cơ lớn. Để ngăn ngừa cái xấu, cái ác, ngăn ngừa lối sống thực dụng, Đảng, Nhà nước ta cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp. Trong đó, tác dụng giáo dục lẽ sống hướng thiện của hoạt động văn hóa tâm linh là không thể phủ nhận.

Đó cũng là con đường giáo dục chân-thiện-mỹ, giáo dục truyền thống dân tộc rất hiệu quả. Niềm tin vào sự tích “con Rồng, cháu Tiên”, niềm tin vào hồn thiêng sông núi, niềm tin vào linh khí tổ tiên... khi hòa quyện vào niềm tin cộng sản sẽ tạo thành sức mạnh tinh thần to lớn trong mỗi cán bộ, đảng viên để thực hiện khát vọng hùng cường, thịnh vượng, đưa nước ta trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.

Hiệu quả từ chính sách hỗ trợ người dân đi xuất khẩu lao động

 

Từ chính sách khuyến khích hỗ trợ người lao động (NLĐ) đi làm việc ở nước ngoài của tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn năm 2016-2021, nhiều NLĐ nghèo trong tỉnh đã có cơ hội xuất khẩu lao động (XKLĐ), tạo đà cho việc xóa nghèo bền vững của địa phương.

Theo Nghị quyết số 45/2016/NQ-HĐND ngày 8-12-2016 của HĐND tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn năm 2017-2021, NLĐ có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Thanh Hóa đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng sẽ được hỗ trợ 3.000.000 đồng/người. Ngoài ra, NLĐ thuộc hộ nghèo, hộ mới thoát nghèo (trong vòng 24 tháng, tính từ ngày thoát nghèo), hộ cận nghèo và hộ bị thu hồi đất nông nghiệp; NLĐ là thân nhân của người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu số khi đi lao động xuất khẩu sẽ được hỗ trợ 100% lãi suất tiền vay trong vòng 24 tháng.

Là một trong người được hưởng thụ chính sách trên của tỉnh, anh Lương Bá Thoa (sinh năm 1984) ở xã Na Mèo, huyện Quan Sơn cho biết: “Nắm được chính sách hỗ trợ của tỉnh, tôi bàn bạc với gia đình và quyết định đi làm việc tại Rumani. Nếu không có các chính sách này, tôi không thể thực hiện được. Sau 3 năm sang lao động tại Rumani, với số vốn tích góp gần 700 triệu đồng, tôi đã mở được một xưởng chế biến gỗ tại địa phương, cuộc sống của gia đình 5 nhân khẩu đến nay đã ổn định hơn”.

Hiệu quả từ chính sách hỗ trợ người dân đi xuất khẩu lao động
Người lao động tỉnh Thanh Hóa chụp ảnh khi làm thủ tục nhập cảnh tại sân bay Incheon, Hàn Quốc. 

 

Tại huyện miền núi Mường Lát, qua thực hiện Nghị quyết số 45/2016/NQ-HĐND của HĐND tỉnh, số lượng người dân đi XKLĐ tăng lên theo từng năm. Cụ thể, năm 2016 mới có 21 người đi làm việc tại nước ngoài thì đến năm 2019, con số này đã tăng lên 50 người; năm 2020 là 110 và năm 2021 có gần 200 NLĐ.

Ông Bùi Thanh Lĩnh, Phó trưởng phòng Lao động-Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) huyện Mường Lát thông tin: “Người dân địa phương chủ yếu thuộc hộ nghèo, cận nghèo, hoàn cảnh khó khăn nên chính sách hỗ trợ 100% lãi suất trong 24 tháng của tỉnh đã tạo động lực để bà con đi XKLĐ nhiều hơn. Trước đây, không có cơ chế hỗ trợ, nhiều bà con muốn đi làm việc tại nước ngoài cũng khó”.

Theo thống kê của Sở LĐ-TB&XH tỉnh Thanh Hóa, từ năm 2017 đến nay, tỉnh Thanh Hóa đã hỗ trợ hơn 23.000 người đi XKLĐ với số tiền hơn 69 tỷ đồng (mức hỗ trợ 3 triệu đồng/người); hỗ trợ lãi suất tiền vay cho hơn 1.000 lao động là hộ nghèo, cận nghèo, gia đình chính sách, người dân tộc thiểu số gần 4,5 tỷ đồng. Thị trường XKLĐ chính là Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản, Hàn Quốc...

Trong đó, mức thu nhập trung bình ở thị trường Đài Loan (Trung Quốc) từ 15 triệu đồng đến 20 triệu đồng/tháng; Nhật Bản từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng/tháng; Hàn Quốc từ 36 triệu đồng đến 40 triệu đồng/tháng. NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đều tích lũy được tiền và gửi về gia đình thanh toán các khoản nợ ngân hàng, trang trải chi phí, như: Xây dựng nhà, phát triển sản xuất, chăn nuôi...

Các gia đình có người đi XKLĐ cơ bản thoát nghèo, vươn lên làm giàu. Nhiều người sau khi về nước đã mở trang trại, thành lập doanh nghiệp, tổ sản xuất tạo việc làm cho nhiều lao động địa phương... Quan trọng hơn, nhận thức về việc đi XKLĐ của người dân có sự thay đổi lớn, giải quyết được nhiều việc làm, xóa đói giảm nghèo và hạn chế các tệ nạn xã hội, nâng cao đời sống vật chất của người dân ở các huyện miền núi, tỷ lệ thoát nghèo tăng.

Ông Lê Đình Tùng, Phó giám đốc Sở LĐ-TB&XH tỉnh Thanh Hóa đánh giá: “Nghị quyết số 45/2016/NQ-HĐND của HĐND tỉnh đã tạo động lực cho người nghèo, cận nghèo, gia đình chính sách... có cơ hội tham gia làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Từ đó, giải quyết việc làm cho người dân, ổn định cuộc sống, hạn chế được tệ nạn xã hội. Thời gian tới, chúng tôi tiếp tục nghiên cứu, tham mưu cho UBND tỉnh có chính sách khuyến khích, hỗ trợ người lao động vay vốn từ ngân hàng chính sách để tổ chức hoạt động XKLĐ đi các nước hiệu quả hơn...”.

Bài và ảnh: KHÁNH TRÌNH

Cuốn tài liệu quý có giá trị tham khảo đặc biệt

 

Tại Lễ ra mắt cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, các đại biểu đã trao đổi, khẳng định ý nghĩa, giá trị nội dung của cuốn sách. Báo Quân đội nhân dân trích lược, giới thiệu các ý kiến này.

Đồng chí LÂM QUỐC TUẤN, Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh:

Kế tục sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tôi có niềm vinh dự khi được làm học trò của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Tôi đã đọc, nghiên cứu nhiều bài phát biểu, bài nói của đồng chí về vấn đề xây dựng Đảng. Nhưng thấy rằng, nội dung cuốn sách này bao quát những vấn đề lý luận chính trị, lý luận cách mạng liên quan cương lĩnh xây dựng đất nước, đường lối đổi mới của Đảng ta. Đọc cuốn sách, tôi cảm nhận được một niềm tin yêu mãnh liệt của đồng chí Tổng Bí thư về con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn.

Cuốn tài liệu quý có giá trị tham khảo đặc biệt
Các đại biểu tại lễ ra mắt sách. Ảnh: Phạm Kiên 

Trong 29 bài viết của Tổng Bí thư có hai bài viết rất quan trọng liên quan đến kế tục trung thành sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh vững bước đi lên CNXH và Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh soi sáng con đường đi đến tương lai của dân tộc Việt Nam. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói, đi lên CNXH là sự nghiệp khổng lồ, khó khăn, phức tạp dễ rơi vào bị động, vấp váp, sai lầm nên cần phải chuẩn bị rõ ràng, kỹ càng và chu đáo. Vậy ai sẽ làm việc này và kế sách hàng đầu như thế nào? Không ai khác đó chính là Đảng ta, và trong cuốn sách này đồng chí Tổng Bí thư đã thấu hiểu, quán triệt và phát triển sáng tạo tư tưởng, đạo đức, phong cách Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay của đất nước ta. Bên cạnh đó, theo tôi, cuốn sách này còn là một cơ sở lý luận rất quan trọng, là tiền đề để chúng ta nhận thức và quán triệt quan điểm của Đảng về các nhiệm vụ xây dựng Đảng về đạo đức; về tổ chức cơ sở đảng viên; về cán bộ cấp chiến lược; về kiểm tra giám sát; về mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; về đấu tranh phòng, chống tham nhũng... trong thời đại hiện nay.

Đồng chí NGUYỄN PHƯƠNG NGA, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam:

Củng cố niềm tin của bạn bè quốc tế về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội

Tôi cho rằng, các bài viết của đồng chí Tổng Bí thư trong cuốn sách đã được tổng hợp, đúc kết rất khoa học về cả lý luận và thực tiễn trên tất cả các lĩnh vực. Các bài viết thực sự là sự kết tinh quan điểm của Đảng ta cả về lý luận và thực tiễn, đi vào trả lời những vấn đề cốt lõi về sự phát triển của CNXH khoa học và định hướng của Việt Nam đi trên con đường CNXH. Cuốn sách được thể hiện bởi một trí tuệ, nhân cách trong sáng của người đứng đầu Đảng ta, bằng ngôn ngữ, phong cách dung dị, dễ hiểu, lôi cuốn, thuyết phục, vì thế đã và sẽ chinh phục trái tim của cả người dân Việt Nam, cùng bạn bè quốc tế, các nhà khoa học, nghiên cứu trên thế giới.

Ở đây, tôi muốn nhấn mạnh thêm, cuốn sách đã tác động rất tích cực đến bạn bè quốc tế, thể hiện trên hai khía cạnh. Thứ nhất, bạn bè quốc tế đánh giá, cuốn sách là một đóng góp to lớn vào kho tàng lý luận và thực tiễn về nghiên cứu CNXH khoa học. Có thể nói, con đường mà chúng ta đi chưa có tiền lệ, những vấn đề đề cập đến trong cuốn sách đã tạo niềm tin cho bạn bè quốc tế về sự lựa chọn mô hình XHCN, về mục đích mà chúng ta đang tiến đến, đó là nhân văn, nhân ái, hòa bình, về đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hòa hiếu. Chúng ta phấn đấu đạt mục tiêu lợi ích quốc gia, dân tộc nhưng chúng ta khẳng định là thành viên có trách nhiệm với quốc tế, cùng xây dựng một xã hội tiến bộ, phát triển. Những luận điểm này nhận được sự ủng hộ, đồng tình của bạn bè quốc tế. Bạn bè nhiều nơi coi những quan điểm của chúng ta, thành tựu của chúng ta đạt được là những đóng góp quan trọng vào sự phát triển của CNXH. Nhiều chính đảng và nhiều tờ báo lớn đã cho đăng toàn văn phổ biến các bài viết của Tổng Bí thư và coi đây là tư liệu có giá trị tham khảo lớn, cung cấp câu trả lời cho nhiều nhà nghiên cứu thế giới đang trăn trở.

Thứ hai, tôi muốn nhấn mạnh thêm là, bạn bè quốc tế đã có thêm cơ sở củng cố niềm tin vào thành công của Việt Nam, tăng thêm sự ủng hộ công cuộc xây dựng đất nước, tăng thêm sự ngưỡng mộ đối với Việt Nam và đối với riêng đồng chí Tổng Bí thư, như hình ảnh một dân tộc Việt Nam đang bước vào thời kỳ mới, nỗ lực xây dựng hùng cường, phồn vinh, nhân dân hạnh phúc, đóng góp vào hòa bình, thịnh vượng thế giới.

Thiếu tướng ĐẶNG SỸ LỘC, Phó giám đốc Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng:

Nguồn tư liệu quan trọng phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy

Đối với Học viện Chính trị, trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính trị, đào tạo chính ủy, cán bộ giảng dạy khoa học xã hội nhân văn (KHXHNV) quân sự hàng đầu trong quân đội, cuốn sách này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. 29 bài viết tiêu biểu của Tổng Bí thư đã đề cập rất toàn diện về tầm nhìn chiến lược trên các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh nhưng được trình bày dung dị, dễ hiểu, có sức thuyết phục. Theo tôi, cuốn sách không chỉ hấp dẫn ở tính khoa học, tính thực tiễn, kết tinh trí tuệ mà chính là ở tâm huyết, nhân cách, lẽ sống cao đẹp, lối sống mẫu mực, nói đi đôi với làm của đồng chí Tổng Bí thư.

Chúng tôi đánh giá, trước hết, cuốn sách của Tổng Bí thư là một tài liệu quý về cơ sở lý luận và thực tiễn để học viện nâng cao chất lượng giảng dạy các môn KHXHNV cho các đối tượng học viên, đặc biệt là đối tượng đào tạo hoàn chỉnh cao cấp lý luận chính trị và đào tạo chính ủy. Bởi đây là những cán bộ tiếp tục lan tỏa, tuyên truyền những kiến thức, kinh nghiệm về vấn đề xây dựng Đảng. Thứ hai, cuốn sách là tài liệu quý phục vụ nâng cao chất lượng nghiên cứu KHXHNV quân sự ở Học viện Chính trị. Trên cơ sở đó, chúng tôi sẽ đẩy mạnh nghiên cứu, tiếp tục cung cấp những luận cứ để tổng kết thực tiễn, cung cấp những luận cứ khoa học cho Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng hoạch định đường lối quân sự, quốc phòng nói chung, đặc biệt là xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, mẫu mực, tiêu biểu, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, phát huy phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới. Thứ ba, cuốn sách là cơ sở củng cố trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, làm thất bại âm mưu "diễn biến hòa bình", "phi chính trị hóa quân đội" của các thế lực thù địch. Những lập luận của cuốn sách là những luận cứ sắc bén, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng ta.

Ra mắt cuốn sách đúng dịp kỷ niệm 92 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và đầu Xuân Nhâm Dần 2022, sẽ truyền đi thông điệp mạnh mẽ của người đứng đầu Đảng ta tạo nguồn cảm hứng để Đảng ta thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đặt ra.

SỨC SỐNG TRƯỜNG TỒN BỘ "TƯ BẢN" CỦA C.MÁC

  C. Mác (1818 - 1883) là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của nhân loại, một nhà bác học uyên bác trên nhiều lĩnh vực, lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới.

Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn phát triển nền sản xuất Tư bản chủ nghĩa, cụ thể là quan sát ngành công nghiệp hiện đại nước Anh, điều kiện làm việc của ngành và các phân tích của nhng nhà học thuyết đi trước ông về nền kinh tế chính trị (như David Ricardo hoặc Adam Smith). C. Mác đã chỉ ra bản chất thật sự của chủ nghĩa tư bản bằng việc nhấn mạnh vào những mâu thuẫn nội tại của hệ thống này. Với Tư bản luận (Das Kapital) vào năm 1867 - Đây là một công trình khoa học vĩ đại của ông, đã được xuất bản ra nhiều thứ tiếng khác nhau. Ở Việt Nam, bộ sách đã được xuất bản nhiều lần. Trong tác phẩm của mình, C. Mác đã phân tích một cách toàn diện và sâu sắc về chủ nghĩa tư bản với tính cách là một hình thái kinh tế – xã hội, vạch ra các quy luật ra đời, phát triển và suy vong của nó, đồng thời luận chứng các luận điểm và khái niệm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Không chỉ đề cập đến những vấn đề như: tư bản, hàng hóa, tiền tệ, gía trị thặng dư, tích lũy tư bản, tiền lương…, tác phẩm còn chứa đựng những quan điểm triết học của C. Mác và những kiến thức về lịch sử các nước Tây Âu đương thời.

Cuốn sách này có tác động rất lớn tới sự phát triển của các hệ thống kinh tế toàn cầu. Ở đây, người ta tiếp thu được cả ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác: triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học, trong đó, kinh tế chính trị là phần chủ yếu nhất, trực tiếp nhất, qua đó thể hiện rõ nhất nội dung và sức sống của các quan điểm triết học và chủ nghĩa xã hội khoa học. Nói cách khác, bộ Tư bản là một tác phẩm nòng cốt, trung tâm của chủ nghĩa Mác nói chung và kinh tế chính trị Mác - Lênin nói riêng.

Cuối năm 2008 cuốn sách này bán chạy vì góp một phần luận giải cuộc khủng hoàng tài chính suy thoái kinh tế toàn cầu đã phơi bày sự thật về bất công trong các nước tư bản phát triển. Nhân dịp kỷ niệm 200 năm ngày sinh của C.Mác (05/5/1818 - 05/5/2018) hàng vạn cuốn Tư bản đã được phát hành và đón nhận tại các nước tư bản phát triển ở Đức và Châu Âu. Ngày nay, chủ nghĩa tư bản luôn theo đuổi tăng trưởng kinh tế bằng cách đặt gánh nặng lên môi trường, những vấn đề như trái đất nóng lên, biến đổi khí hậu và bất bình đẳng kinh tế, xã hội, đại dịch Covd-19, tạo ra những bất ổn mang tính toàn cầu....đã chứng minh các nước tư bản không thể tự mình giải quyết được bởi nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Bộ Tư bản được đón nhận trên khắp thế giới cho chúng ta nhiều suy nghĩ. Đó là cơ sở khẳng định sức sống Chủ nghĩa Mác vẫn trường tồn, sự kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng ta là đúng đắn. Nhưng bên cạnh đó chúng ta cũng cần học hỏi cách tuyên truyền, lan tỏa Chủ nghĩa Mác - Lênin của nước ngoài để cho tổ chức tuyên truyền, vận động, lan tỏa tư tưởng khoa học,vĩ đại của C. Mác được trường tồn mãi mãi.