Thứ Năm, 10 tháng 2, 2022

NHÂN DÂN LÀ “MẠCH NGUỒN” DẪN DẮT SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 NHÂN DÂN LÀ “MẠCH NGUỒN” DẪN DẮT SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

          Trong suốt quá trình hoạt động và lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng vai trò của quần chúng nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng. Đảng coi việc củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân là nhiệm vụ rất quan trọng, bảo đảm vững chắc sự lãnh đạo toàn diện của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

          Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin hình thành nên tư tưởng độc đáo về dân vận, phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Dân là gốc của nước, là cơ sở của mọi thắng lợi, là lực lượng tạo ra mọi của cải vật chất, tinh thần. Người cho rằng: “Nước lấy dân làm gốc”, “Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, biểu hiện của dân là gốc là phải tin ở dân, gần gũi với dân, kính trọng dân và biết dựa vào dân, phải nhận thức rõ: “Dân chúng rất khôn khéo, rất hăng hái, rất anh hùng. Người tâm đắc với câu nói dân gian: “Dễ mười lần không dân cũng chịu, Khó trăm lần dân liệu cũng xong”. Không chỉ nhận thức rõ vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân mà Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ rõ, sức mạnh của nhân dân chỉ được phát huy đầy đủ khi có một Đảng cách mạng lãnh đạo. Người khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”. Khi sức dân được huy động, được tổ chức, được tập hợp dưới sự lãnh đạo của Đảng thì trở thành sức mạnh vô địch.

          Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” . Người đặc biệt nhấn mạnh đến trọng trách lịch sử của Đảng, tính tiền phong gương mẫu và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trước Đảng, trước nhân dân. Bởi như Người từng chứng kiến, dự báo, nhắc nhở: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

    Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ khi ra đời đến nay, Đảng ta hết sức quan tâm đến việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nhất quán quan điểm cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đã đứng lên với sức mạnh vô cùng to lớn, lập nên những trang sử vàng trong lịch sử của dân tộc, giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, cứu nước, đem lại độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và đưa đất nước phát triển hòa bình, tiến lên trên con đường chủ nghĩa xã hội.

HÁT HUY VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN THAM GIA XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN THAM GIA XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

           Để xây dựng, phát huy vai trò, sức mạnh của nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình hiện nay, cần chú trọng giải quyết tốt một số vấn đề:

          Một là, các cấp ủy, chính quyền và cả hệ thống chính trị tiếp tục quán triệt, triển khai tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân vận, về thực hiện dân chủ gắn với phát huy vai trò của nhân dân trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.    Đảng lãnh đạo Nhà nước nhanh chóng, kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng về dân vận, dân chủ thành chính sách, pháp luật phù hợp với thực tiễn và đáp ứng lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Thực hành dân chủ rộng rãi, để làm sao thật sự dân là chủ, dân làm chủ, từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ từ trong Đảng đến dân chủ ngoài xã hội được thực hiện ở các cấp, các địa bàn, các lĩnh vực. Tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

          Hai là, thực hiện nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng một cách toàn diện để Đảng luôn là lực lượng tiên phong bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân và của cả dân tộc. Gắn đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng để xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, gắn với tăng cường cải cách hành chính, giảm phiền hà cho nhân dân; quan tâm lắng nghe, giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc, những kiến nghị chính đáng của nhân dân và khiếu nại, tố cáo của công dân.

          Ba là, Đảng, Nhà nước tiếp tục triển khai thực hiện tốt những chủ trương, chính sách “hợp lòng dân”, nhằm chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân, nhất là ở những vùng đang còn gặp nhiều khó khăn, vùng căn cứ cách mạng trước đây, vùng sâu, vùng xa, vùng cao, biên giới, hải đảo,... Tiếp tục xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển nhanh và bền vững, không ngừng phát triển lực lượng sản xuất, tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân, nhất là thu hẹp dần khoảng cách và sự phân hóa giàu - nghèo trong cả nước. Dự báo, giải quyết tốt những vấn đề xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, nhất là những vấn đề bức xúc, nổi cộm, những nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

          Bốn là, tăng cường công khai, minh bạch, dựa vào nhân dân để kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện công tác cán bộ. Trong đó, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức,... của Đảng và hệ thống chính trị vừa có đức, vừa có tài; bảo đảm phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và phương pháp, tác phong công tác; xứng đáng là người lãnh đạo, là đầy tớ trung thành của nhân dân, nói đi đôi với làm, “tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, có trách nhiệm với dân”.  Phát huy vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu. Nâng cao cảnh giác, chống các khuynh hướng mị dân, kích động nhân dân trước những hiện tượng tiêu cực. Kiên quyết phê phán, đấu tranh với biểu hiện thờ ơ, vô cảm, quan liêu, nhũng nhiễu nhân dân,...

          Năm là, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, hướng về cơ sở, vận động đông đảo nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước, phát huy ngày càng tốt hơn vai trò chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân; chủ động tham gia giám sát và phản biện xã hội, làm tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, tham gia xây dựng Đảng và Nhà nước. Trong quá trình tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên thực hiện quyền giám sát của mình, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội cần quan tâm, tạo điều kiện để nhân dân thực hiện các quyền dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

          Sáu là, tiếp tục nâng cao chất lượng công tác thông tin tuyên truyền để nâng cao nhận thức, vai trò, trách nhiệm của nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Gắn việc thực hiện chế độ cung cấp thông tin cho báo chí, nhân dân với trách nhiệm tiếp thu, giải trình của cá nhân, tổ chức.

HÃY LUÔN LÀ NGƯỜI THAM GIA GIAO THÔNG CÓ VĂN HÓA!

 

HÃY LUÔN LÀ NGƯỜI THAM GIA GIAO THÔNG CÓ VĂN HÓA!

                   An toàn giao thông là vấn đề luôn được các ngành, các lực lượng chức năng quan tâm, thường xuyên tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền, giáo dục rộng khắp. Thế nhưng, nhiều người tham gia giao thông vẫn có những ứng xử, hành động thiếu văn hóa, gây ảnh hưởng và nguy hiểm cho bản thân và cộng đồng. Chỉ riêng trong chín ngày nghỉ Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022 vừa qua (từ ngày 29/1 đến 6/2), toàn quốc đã xảy ra 216 vụ tai nạn giao thông (riêng đường bộ 214 vụ), làm chết 121 người, bị thương 138 người.

          Giao thông được coi như một nét văn hóa và dĩ nhiên, những người tham gia giao thông là những người tạo nên nét văn hóa đó. Nó là tập hợp mọi ý thức về chấp hành các quy định của pháp luật về giao thông. Theo đó, các hành vi ứng xử trước hết phải đặt ý thức tự giác lên hàng đầu, tiếp đến là thực hiện đúng luật định, tôn trọng những người xung quanh, bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản và trật tự nơi công cộng.

          Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông như: Cơ sở hạ tầng giao thông yếu kém, phương tiện giao thông không bảo đảm điều kiện an toàn (quá hạn, quá cũ, xe tự tạo)… Tuy nhiên, nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạng (TNGT) của Việt Nam tăng cao hơn so với các nước trên thế giới là ý thức của con người, cụ thể là hành vi thiếu ý thức chấp hành luật lệ giao thông, những hành động “ phản cảm” của một bộ phận người tham gia giao thông đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ trên một số tuyến đường.

          Từ những hành vi ứng xử thiếu văn hóa trong tham gia giao thông đã dẫn đến những tai nạn, va chạm đáng tiếc xảy ra, làm nhiều người bị thương, thậm chí là tử vong. Tổn thất do TNGT để lại là hệ lụy lâu dài cho gia đình và xã hội. Do vậy, mọi người dân cần phải có trách nhiệm xây dựng văn hoá giao thông ngay từ những hành vi nhỏ hàng  ngày trên đường như :

          - Ứng xử văn minh khi tham gia giao thông.

          - Sử dụng còi xe đúng quy định

          - Chấp hành hành nghiêm tín hiệu đèn giao thông

          Để làm được điều này, trước tiên, các cơ quan chức năng cần có chiến lược tuyên truyền sâu rộng và dài hơi về ATGT, đảm bảo phù hợp với đặc thù của từng nhóm đối tượng; hướng dẫn các kỹ năng tham gia giao thông an toàn để giúp người dân biết cách tự phòng vệ trước hiểm hoạ TNGT; tổ chức các lớp học về ATGT, trưng bày hoặc triển lãm tranh, ảnh, chiếu phim lưu động về ATGT đến từng khu dân cư, trường học… Ngoài ra, các ngành chức năng cần có chế tài mạnh để xử lý nghiêm những hành vi thiếu văn hóa trong giao thông, đảm bảo đủ sức răn đe và tạo chuyển biến trong nhận thức của người tham gia giao thông. Có như vậy mới tạo được một môi trường giao thông thân thiện và an toàn./.

 

 

 

PHÁT HUY RỘNG RÃI QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN TRONG BẢO ĐẢM AN NINH, TRẬT TỰ CƠ SỞ

 

PHÁT HUY RỘNG RÃI QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN TRONG BẢO ĐẢM AN NINH, TRẬT TỰ CƠ SỞ

 

          Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vai trò của nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng, Người nhấn mạnh: “Nhân dân là chủ thể của lịch sử, là lực lượng của cách mạng”. Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, trong mọi thời kỳ, giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn chú trọng phát huy vai trò của quần chúng nhân dân và xem đây là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của dân tộc.

          Đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự, thực tiễn đã chứng minh, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của nhà nước, sự quan tâm của cả hệ thống chính trị và vai trò nòng cốt của lực lượng CAND, quần chúng nhân dân được tập hợp vào các phong trào, đặc biệt là phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” đã phát huy vai trò tích cực và có những đóng góp hết sức to lớn, góp phần cùng lực lượng CAND giữ vững ổn định an ninh, trật tự phục vụ mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

          Trong quá trình đó, quần chúng nhân dân luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, giữ gìn bí mật nhà nước, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền; chủ động phát hiện, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hoà bình”, lôi kéo, kích động, gây chia rẽ của các thế lực thù địch, phản động; đấu tranh với các loại tội phạm và tệ nạn xã hội. Các diễn đàn: “Lắng nghe ý kiến nhân dân”; “Nhân dân tố giác tội phạm”; “Mặt trận lắng nghe dân nói”; “Nói cho dân nghe và lắng nghe dân nói”; “Ngày nghe dân nói”; “Công an lắng nghe ý kiến nhân dân”... đã thực sự trở thành nơi để nhân dân thể hiện vai trò làm chủ của mình đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và công tác bảo vệ an ninh, trật tự. Quán triệt, thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những năm qua, lực lượng CAND đã tăng cường đưa công an chính quy về cơ sở, tích cực bám dân, bám địa bàn, hướng dẫn nhân dân tham gia công tác bảo vệ an ninh, trật tự, cảnh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch, phản động, các loại tội phạm và tệ nạn xã hội, góp phần giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

          Trên cả nước, phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” được triển khai đồng bộ, sáng tạo, với nhiều mô hình, điển hình tiên tiến, tiêu biểu như: “Tổ Liên gia”, “Tổ Tự quản”, “Dòng họ an toàn”, mô hình “02 không, 01 có”, “3 tăng, 3 giảm”, “Xứ, họ đạo tiên tiến”, “Gia đình Công giáo gương mẫu”, mô hình “Quản lý, giáo dục, giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù, đi cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng trở về địa phương”... góp phần phát huy vai trò của nhân dân và trách nhiệm của cộng đồng, xã hội trong bảo vệ an ninh, trật tự.

 

 

 

 GÓP PHẦN ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN "DIÊN BIẾN HÒA BÌNH"                          CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN

Phòng chống “diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận là góp phần bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội; nhân tố quyết định bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN ở Việt Nam.

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phòng chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận là hệ thống các chủ trương quan điểm... được thể hiện trong các Văn kiện, Nghị quyết, chỉ thi của Đảng đối toàn bộ hệ thống chính trị và xã hội trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. 

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh, đường lối của Đảng, bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền XHCN; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là nội dung cơ bản, hệ trọng sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng Tuyên giáo các cấp làm nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp, của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên cơ sở quán triệt sâu sắc, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam trong thời đại ngày nay, trước hết là trong xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thể chế, nguyên tắc tổ chức hoạt động của hệ thống chính trị.

Kiên trì thế giới quan, phương pháp luận khoa học và các giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống tốt đẹp của dân tộc; đồng thời tiếp thu các thành tựu mới, tinh hoa nhân loại. Nâng cao hiệu quả đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch; uốn nắn những nhận thức lệch lạc.

Gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, xây là cơ bản, chống phải quyết liệt, hiệu quả. Kết hợp giữa nhiệm vụ trước mắt và nhiệm vụ lâu dài; nâng cao khả năng tự phòng, chống của cán bộ, đảng viên và nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn và hoạt động của các thế lực thù địch, đối tượng phản động, cơ hội chính trị. Phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và xã hội.

Đổi mới nội dung, phương pháp, đa dạng hóa hình thức, coi trọng hiệu quả, trên tinh thần chủ động, cảnh giác, thường xuyên, kiên trì, kiên quyết, đồng thời có trọng tâm, trọng điểm. Kết hợp chặt chẽ giữa vận động, giáo dục, thuyết phục với kiên quyết xử lý nghiêm minh theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với các đối tượng vi phạm.

                                                                                                ĐVT


Thứ Tư, 9 tháng 2, 2022

MỘT SỐ NHỮNG NHẬN ĐỊNH SAI LỆCH VỀ NHỮNG ĐIỀU ĐẢNG VIÊN KHÔNG ĐƯỢC LAM

Ngày 25/10/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quy định số 37-QĐ/TƯ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng quy định “Về những điều đảng viên không được làm” thay thế Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 1/11/2011 trước đây.  Quy định mới về 19 điều Đảng viên không được làm Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động xuyên tạc những nội dung trong Quy định số 37, từ đó suy diễn, tự cho mình vai trò “người phát xét” để quy kết, chỉ trích chế độ, chỉ trích vị trí, vai trò của Đảng. Trên nhiều trang mạng của cá nhân, tổ chức thù địch, phản động, hội đoàn chống cộng hải ngoại xuyên tạc rằng, việc Đảng ban hành quy định mới chứng tỏ sự mục nát, là “vá những lỗ thủng quá nhiều của chế độ”. Các đối tượng vu cáo gốc rễ của tham nhũng là “do lỗi của thể chế chính trị”, lỗi hệ thống tạo ra chứ không phải do biện pháp thực hiện, từ đó quy kết việc Đảng đưa ra hết biện pháp này đến biện pháp khác để chống tham nhũng mà không thay đổi chế độ thì không bao giờ chống tham nhũng được. Đưa ra luận điệu “Đảng đứng trên pháp luật”, các đối tượng suy diễn “Đảng loay hoay, mò mẫm soạn ra các văn bản giấy tờ quy định cấm cho thêm rắc rối, chồng lấn pháp luật, vì những điều ấy pháp luật cũng cấm rồi, đảng viên cũng là công dân, thêm điều cấm là Đảng đứng trên, đứng ngoài pháp luật”! Thực chất, đây là những luận điệu hòng hạ thấp mục tiêu, vai trò, ý nghĩa của Quy định mới về những điều đảng viên không được làm, tạo ra diễn biến tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, làm giảm niềm tin đối với công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phủ nhận thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Và cuối cùng là làm suy giảm niềm tin, hạ thấp, thúc đẩy, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Trước hết cần khẳng định, quy định về kỷ luật Đảng là công tác hệ trọng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Đây là công việc thường xuyên, liên tục và mang tính kế thừa. Việc bổ sung một số quy định mới để đảm bảo đáp ứng yêu cầu thực tiễn, đảm bảo tính khách quan, khoa học. Từ đó, tổ chức Đảng, đảng viên có cơ sở, căn cứ để rèn luyện, tu dưỡng, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ. Do đó, không thể lợi dụng vào một số quy định mới để xuyên tạc, suy diễn. Quy định đảng viên không được “Phản bác, phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; không thực hiện trách nhiệm nêu gương; chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi; "tư duy nhiệm kỳ", đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa rời quần chúng” (Điều 3). Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Mỗi người khi vào Đảng đều phải rèn luyện, phấn đầu vì mục đích lý tưởng cách mạng của Đảng, kiên định, trung thành nền tảng tư tưởng, chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng… Việc bổ sung, phát triển quy định như trên là yêu cầu, đòi hỏi khách quan trong công tác xây dựng Đảng về chính trị. Hay quy định đảng viên không được “nhập quốc tịch, chuyển tiền, tài sản ra nước ngoài, mở tài khoản và mua bán tài sản ở nước ngoài trái quy định”. Điều lệ Đảng ghi rõ: “Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân” (Điều 1). Nếu thừa nhận một công dân có 2 quốc tịch là lẽ thường tình, song đối với đảng viên, lý tưởng suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, giai cấp, nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân sẽ phải giải thích thế nào khi một đảng viên nhập quốc tịch nước ngoài, chuyển tiền ra nước ngoài. Vậy trung thành với nhân dân, Tổ quốc thế nào nếu đảng viên có thêm quốc tịch khác? Đảng viên vào Đảng trên tinh thần tự nguyện, phấn đấu, hy sinh vì lý tưởng cộng sản, hạnh phúc của nhân dân. Việc bổ sung nội dung này nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của công cuộc xây dựng chỉnh đốn Đảng, phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong bối cảnh hiện nay. Không phải bây giờ mà ngay từ khi Đảng mới ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu từng tổ chức Đảng phải duy trì chặt chẽ kỷ luật, giữ nghiêm kỷ cương, nền nếp tổ chức, làm cho Đảng ta ngày càng xứng đáng với vai trò, vị trí và sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng. Hơn 90 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Đảng ta luôn tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đảm bảo chấp hành kỷ cương, kỷ luật. Thực hiện tốt kỷ luật Đảng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đầu, hoàn thành trọng trách của mình. Trong những năm qua, đứng trước đòi hỏi của thực tiễn, Đảng ta đã tập trung lãnh đạo thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng, quyết tâm siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức; xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tham nhũng, tiêu cực. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được thực hiện quyết liệt, kiên trì, bài bản, nghiêm minh và cũng rất nhân văn. Nhiều vụ việc tham nhũng, tiêu cực được đưa ra ánh sáng. Qua đó, kỷ luật Đảng được thực hiện nghiêm minh; đồng thời cảnh tỉnh, giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên không ngừng tiến bộ, trưởng thành, như khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Giữ nghiêm kỷ cương phép nước để cảnh tỉnh, cảnh báo, giáo dục, răn đe người khác tránh xa vết xe đổ của đồng chí mình”. Việc bổ sung, ban hành Quy định mới về những điều đảng viên không được làm thể hiện quyết tâm cao, đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Mặt khác, việc tăng cường kỷ luật trong Đảng còn góp phần cảnh tỉnh, khắc phục, sửa chữa dứt điểm nhiều hạn chế, khuyết điểm trong mỗi tổ chức và từng đảng viên. Từ đó từng bước ngăn chặn và đẩy lùi tiêu cực, lập lại trật tự, kỷ cương trong Đảng và hệ thống chính trị. Nhiều tổ chức Đảng kịp thời nhận diện, khắc phục được một số hạn chế, khuyết điểm. Đội ngũ cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đã quan tâm, coi trọng việc rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực công tác; chú trọng nâng cao tinh thần trách nhiệm, sửa đổi lề lối, phong cách, tác phong làm việc; nghiêm khắc tu dưỡng, rèn luyện bản thân. Việc Đảng ta sửa đổi, bổ sung Quy định về những điều đảng viên không được làm không chỉ thể hiện sự quyết tâm của Đảng mà còn tạo niềm tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Thiếu trách nhiệm - một suy thoái “kép” của cán bộ, đảng viên

Sống trong cuộc đời này, ai cũng phải có trách nhiệm. Nếu không có trách nhiệm với chính mình, công việc, gia đình, xã hội thì con người khó có thể trưởng thành, tiến bộ. Đối với cán bộ, đảng viên, trách nhiệm không dừng lại ở bổn phận “việc phải làm, việc phải gánh vác, việc phải nhận lấy về mình”, mà đó còn là một trong những giá trị thuộc về phẩm chất chính trị, tư cách đạo đức, chiều sâu văn hóa của người chiến sĩ tiên phong của Đảng. Tuy nhiên, việc thấu hiểu, thể hiện, hành xử với hai chữ “trách nhiệm” của một bộ phận cán bộ, đảng viên thời gian qua có nhiều vấn đề rất đáng cảnh báo. Một biểu hiện suy thoái “kép” Với tư cách là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam từ lâu đã ăn sâu vào trái tim, khối óc của nhân dân lao động bởi nói đến đảng viên là nói đến hình ảnh dấn thân, tinh thần cống hiến, tấm gương hy sinh, trách nhiệm cao cả đối với Tổ quốc và nhân dân. Điều này đã được biểu hiện sinh động trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, những năm qua, trước sự tác động mặt trái của cơ chế thị trường, một bộ phận cán bộ, đảng viên không những không giữ gìn được vai trò tiên phong, gương mẫu của người cộng sản, mà còn có biểu hiện sa sút ý chí phấn đấu, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao. Trong số 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII nêu ra, có một biểu hiện suy thoái “kép” đáng báo động trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, đó là: “Né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả” (biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị) và “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân” (biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống). Theo kết quả điều tra dư luận xã hội cách đây chưa lâu của Viện Nghiên cứu dư luận xã hội (Ban Tuyên giáo Trung ương), một trong 4 vấn đề liên quan đến cán bộ, đảng viên chưa được đa số nhân dân ghi nhận, đó là tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên chưa hết lòng vì tập thể, vì việc chung, vì nhân dân, vì đất nước. Đã là trách nhiệm thì phải làm đến nơi đến chốn. Trong khi Đảng yêu cầu cán bộ, đảng viên sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của Đảng, Nhà nước và nhân dân, thì còn không ít người tìm mọi cách để trục lợi, tham nhũng nhằm vinh thân phì gia. Khi Đảng đòi hỏi cán bộ, đảng viên “kiên quyết không nhận quà biếu với động cơ vụ lợi dưới mọi hình thức; không để cho người thân lợi dụng quyền hạn và ảnh hưởng của mình để trục lợi”, thì một số người vẫn thản nhiên thu vén, vơ vét quà cáp của nhân viên, cấp dưới, người lao động và để cho vợ con lén lút làm những việc không trong sáng, minh bạch, gây điều tiếng xấu. Khi Đảng yêu cầu phải đề cao ý thức trung thực, công tâm, cầu thị trong tự phê bình và phê bình, thì còn nhiều cán bộ, đảng viên né tránh khuyết điểm, chạy theo thành tích, thậm chí lợi dụng phê bình để tâng bốc, tung hô nhau hoặc thành kiến, trù dập những người có ý kiến cương trực, thẳng thắn. Khi được bổ nhiệm chức vụ mới, đáng ra cán bộ phải dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, nhưng có những người đã lợi dụng vị trí công để lo việc tư, cắt xén của công đưa vào nhà riêng, lúc tập thể có thành tích thì "vơ" công lao về cá nhân mình, khi cơ quan, đơn vị có khuyết điểm thì lại đổ lỗi trách nhiệm chung nhằm “đánh bùn sang ao”, “hòa cả làng”! Thậm chí ở một số nơi đã xuất hiện tình trạng người đứng đầu miệng thì “thao thao bất tuyệt” là phải phát huy dân chủ trong thường vụ, cấp ủy, nhưng khi lại mưu mẹo, khéo léo “vỗ về” tập thể lãnh đạo “nuông chiều” theo ý kiến cá nhân, lúc thì lạm dụng tối đa quyền lực để định hướng, “lèo lái” thường vụ, cấp ủy tán thành với chủ kiến bản thân đưa ra. Đây thực chất là biểu hiện dựa dẫm, ỷ lại vào “trách nhiệm tập thể” nhưng để né tránh trách nhiệm cá nhân người lãnh đạo khi có hệ lụy xảy ra. Một đảng viên bình thường khi thiếu trách nhiệm đã là điều đáng trách. Nhưng đáng phê phán hơn là một bộ phận đảng viên có chức, có quyền thiếu trách nhiệm trong rèn luyện, tu dưỡng, công tác. Vì sự thiếu trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo các cấp không chỉ ảnh hưởng đến tư cách, uy tín cá nhân, mà còn tác động không thuận đến sự phát triển ổn định, lành mạnh của tổ chức, cơ quan, đơn vị. Cán bộ có chức vụ càng cao mà thiếu trách nhiệm thì càng gây ra những hệ lụy, hậu quả lớn. Những vụ việc sai phạm liên quan đến nhiều cựu cán bộ lãnh đạo ở Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc nhiệm kỳ 2010-2015, Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng nhiệm kỳ 2015-2020, Ban Cán sự Đảng Bộ Công Thương nhiệm kỳ 2011-2016, Ban Cán sự Đảng Bộ Thông tin và Truyền thông nhiệm kỳ 2011-2016… đều liên quan đến sự thiếu trách nhiệm cá nhân người đứng đầu ở các doanh nghiệp, cơ quan, địa phương này. Đề cao trách nhiệm nêu gương để phòng ngừa, giảm thiểu suy thoái Sống trong cuộc đời này, ai cũng phải có trách nhiệm. Nếu không có trách nhiệm với chính mình, công việc, gia đình, xã hội thì con người khó có thể trưởng thành, tiến bộ. Đối với cán bộ, đảng viên, trách nhiệm không dừng lại ở bổn phận “việc phải làm, việc phải gánh vác, việc phải nhận lấy về mình”, mà đó còn là một trong những giá trị thuộc về phẩm chất chính trị, tư cách đạo đức, chiều sâu văn hóa của người chiến sĩ tiên phong của Đảng. Vậy tinh thần trách nhiệm là gì? Giải đáp câu hỏi này, sinh thời, Bác Hồ đã khẳng định: “Là khi Đảng, Chính phủ, hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công. Làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy, v.v.. là không có tinh thần trách nhiệm”. Nói về hai chữ “trách nhiệm” thì dễ, nhưng thực hiện đến nơi đến chốn trách nhiệm của cán bộ, đảng viên thì lại đòi hỏi mỗi người luôn nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, nhiệm vụ của mình, từ đó thường xuyên nêu cao ý thức, bổn phận, nghĩa vụ trong rèn luyện, công tác, gắn bó hết mình với công việc, tận tụy với chức trách được phân công, góp công góp sức cùng cán bộ, nhân viên, người lao động trong cơ quan, đơn vị thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao. Phải làm sao để theo ngày ngày tháng tháng, mỗi cán bộ, đảng viên càng làm việc càng trôi chảy, hiệu quả, càng đóng góp nhiều hơn cho tập thể. Vì khi tập thể vững mạnh, trưởng thành thì bản thân mình cũng tiến bộ. Theo đồng chí Cao Văn Thống, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương, để có tinh thần trách nhiệm tốt, mỗi cán bộ, đảng viên cần có “5 tự”: Phải tự mình chủ động, tích cực, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ, làm việc có chương trình, kế hoạch, khoa học và đạt kết quả cao nhất; Phải có tính tự trọng cao để làm việc với tinh thần, thái độ công tâm, khách quan, vì lợi ích chung của cơ quan, đơn vị, vì danh dự của cá nhân; Phải biết tự xử với chính bản thân mình trong mọi việc, khi mắc phải thiếu sót, khuyết điểm phải tự giác nhận trách nhiệm cá nhân, xác định rõ nguyên nhân do đâu mà mắc phải để có biện pháp sửa chữa, khắc phục, phấn đấu vươn lên, không tranh công, đổ lỗi cho khách quan, cho người khác; Phải tự giác tự phê bình, phê bình và không được tự ái để không ngừng tiến bộ; Phải có sự tự tin trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, công việc được giao. Một trong những tiêu chí cơ bản để nhận định, đánh giá cán bộ, đảng viên có hoàn thành chức trách, nhiệm vụ hay không, đó là tinh thần trách nhiệm. Từ nhiều năm nay, khi lựa chọn nhân sự vào vị trí lãnh đạo các cấp, Đảng ta luôn nhấn mạnh đến tiêu chí “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” của người cán bộ. “Dám chịu trách nhiệm” không chỉ thể hiện tinh thần gan dạ, dũng cảm, tính khí khảng khái, cương trực của người cán bộ, mà còn nói lên ý thức dám đối mặt với khó khăn, chấp nhận sự rủi ro khi dấn thân vào việc khó, giải quyết vấn đề khó, chưa có tiền lệ, song cũng khơi thông được mạch nguồn sáng tạo, cổ vũ cho những hướng đi mới, cách làm mới mang lại hiệu ứng, hiệu quả khả quan trong tương lai. “Dám chịu trách nhiệm” hiểu theo nghĩa này chính là khuyến khích những nhân tố mới để góp phần làm chuyển biến, thay đổi tình hình theo chiều hướng tích cực. Như vậy, “dám chịu trách nhiệm” ở đây là tinh thần đề cao “trách nhiệm nhân đôi” và cũng là bản lĩnh vững vàng của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp. Trong tình hình hiện nay, để tránh nguy cơ sa ngã, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải đề cao trách nhiệm cá nhân trong tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, nhất là cán bộ có chức có quyền luôn bị những cám dỗ bủa vây quanh mình nên bất cứ một sự lơ là, dễ dãi, sơ hở nào cũng có thể bị “sập bẫy” trước “cái bả” tiền tài, danh vọng và tửu sắc đầy mê hoặc, quyến rũ nhưng chòng chành, mong manh như đứng bên lề vực thẳm! Tự nghiêm khắc với chính mình cũng là một trong những cách tốt nhất để đội ngũ cán bộ, đảng viên tự phòng ngừa, giảm thiểu được những biểu hiện suy thoái Quy định số 101-QĐ/TW ngày 7-6-2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp” đã nhấn mạnh: “Mỗi cán bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam phải tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Cán bộ có chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”; đồng thời yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên có trách nhiệm nêu gương ở 7 nội dung cụ thể là: Tư tưởng chính trị; Đạo đức, lối sống, tác phong; Tự phê bình và phê bình; Quan hệ với nhân dân; Trách nhiệm trong công tác; Ý thức tổ chức kỷ luật; Đoàn kết nội bộ

 

Kỷ niệm làm báo với Bộ trưởng Phùng Quang Thanh

Là phóng viên có may mắn được tháp tùng ông trong một số chuyến công tác, được gặp gỡ, phỏng vấn ông sau khi ông nghỉ hưu, Đại tướng Phùng Quang Thanh đã để lại nhiều kỷ niệm sâu sắc trong tôi...

"Đừng gọi tôi là Đại tướng"

Cũng như cán bộ, chiến sĩ toàn quân, đồng chí Phùng Quang Thanh luôn ngưỡng mộ, học tập và làm theo tấm gương Đại tướng Võ Nguyên Giáp-Người Anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam. Lần đầu ông được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp là ngay sau Chiến dịch Đường 9-Nam Lào năm 1971. Đơn vị ông rút ra Quảng Bình để củng cố lực lượng. Tại đây, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đến thăm Sư đoàn 320. Cử chỉ ân cần, gần gũi, cách trò chuyện thân tình, cởi mở giữa vị Tổng Tư lệnh với cán bộ, chiến sĩ dưới quyền đã thấm sâu vào tâm hồn người Anh hùng trẻ tuổi Phùng Quang Thanh. Sau này, trên cương vị Tư lệnh Quân khu 1, Tổng Tham mưu trưởng và đặc biệt là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đồng chí Phùng Quang Thanh có nhiều dịp được đến thăm, được Đại tướng Võ Nguyên Giáp tin cậy trao đổi, chỉ dẫn nhiều vấn đề về nghệ thuật chỉ huy và xây dựng quân đội, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa...

Tôi từng được chứng kiến, trong nhiều cuộc gặp gỡ tại số nhà 30 phố Hoàng Diệu (Hà Nội), Đại tướng Võ Nguyên Giáp dồn tâm huyết để trao đổi với Bộ trưởng Phùng Quang Thanh những vấn đề quân cơ, quốc sự. Một ngày tháng 8-2010, sau khi chúc mừng sinh nhật Đại tướng Võ Nguyên Giáp (lúc này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đang điều trị tại Khoa A11, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108), ra đến phòng khách của Khoa A11, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh bất ngờ vẫy tôi lại gần, yêu cầu: “Ông thử nói tôi nghe, ông viết tin như thế nào về cuộc gặp hôm nay?” (Bộ trưởng Phùng Quang Thanh thường xưng hô thân mật với cánh phóng viên tháp tùng như thế). Bất ngờ, thoáng lúng túng, tôi báo cáo: “Báo cáo thủ trưởng, tôi dự định rút tít là: Đại tướng Phùng Quang Thanh chúc mừng sinh nhật Đại tướng Võ Nguyên Giáp...”. Bộ trưởng ra dấu cho tôi ngừng lại và nói: “Trên tiêu đề, đừng gọi tôi là Đại tướng. Từ trước đến nay, khi nhắc đến từ Đại tướng mà đứng độc lập, nhân dân ta dùng để tôn vinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Cho nên, ông đặt tiêu đề như vậy, đẩy tôi đứng ngang hàng với Đại tướng-Tổng Tư lệnh thì không hợp, không khiêm tốn”. Sau khi nghe tôi trình bày “cái khó của tin lễ tân là phải đúng, đủ chức danh”, đồng chí Phùng Quang Thanh dặn: “Có thể lấy tiêu đề là: Bộ trưởng Phùng Quang Thanh thăm, chúc mừng sinh nhật Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Trong bài thì đề đầy đủ cấp bậc, chức vụ của tôi nhưng trên tiêu đề thì rút như thế. Ông về báo cáo với anh Nguyên (Tổng biên tập Lê Phúc Nguyên) là từ nay thống nhất cách viết như thế nhé!”.

Bài báo bị “gác” 10 năm

Năm 2009, tôi được giao nhiệm vụ tổ chức trang "Tiếp lửa truyền thống" trên Báo Quân đội nhân dân hằng ngày. Nhiệm vụ đó tạo điều kiện cho tôi có nhiều cuộc hành quân về nguồn, thăm lại chiến trường xưa cùng các cựu chiến binh (CCB). Một lần, tôi cùng các CCB Tiểu đoàn K3 Tam Đảo trèo lên đỉnh Điểm cao 689 ở Khe Sanh (Hướng Hóa, Quảng Trị), nửa đêm đốt lá rừng “hát cho đồng đội tôi nghe”. Trong cái đêm huyền diệu đó, một CCB quê ở Vĩnh Phúc kể cho tôi nghe về tấm gương chiến đấu, hy sinh của liệt sĩ Phùng Quang Sức thời chống Pháp.

Câu chuyện rất hay, rất xúc động. Sau lần đó, tôi tìm về xã Thạch Đà thuộc huyện Mê Linh (Hà Nội), đi tìm nhân chứng để viết về tấm gương liệt sĩ Phùng Quang Sức. Từ trung tâm Hà Nội chạy xe máy lên Thạch Đà mất khoảng hơn một giờ đồng hồ, nhưng tìm nhân chứng thì rất khó. Nhờ sự giúp đỡ của các CCB, sau 3 lần đi “mở rộng tìm kiếm”, chúng tôi mới gặp được cụ Nguyễn Văn Bưu, đảng viên hoạt động cùng thời với liệt sĩ Phùng Quang Sức. Cụ Bưu năm đó cũng đã gần 90 tuổi, rất may cụ còn minh mẫn. Cụ kể: "Phùng Quang Sức là Bí thư chi bộ, Chủ tịch Ủy ban Hành chính-Kháng chiến xã Thống Nhất (gồm xã Thạch Đà và Tam Đồng ngày nay). Năm 1951, xã nhà là vùng tạm chiếm của Pháp, nhưng Phùng Quang Sức vẫn bám đất, bám dân hoạt động. Ban ngày, anh trốn trong chùa hoặc gia đình cơ sở cách mạng, ban đêm thì đi từng nhà vận động nhân dân tham gia du kích, ủng hộ kháng chiến. Một lần, do có chỉ điểm, quân Pháp vây bắt anh trong một ngôi chùa. Để nhà chùa không bị tàn phá, anh chạy ra cánh đồng Cư An thì bị bắt và đưa về đồn Mai Khê tra tấn dã man. Giặc dùng đủ mọi cực hình tàn khốc, muốn anh khai ra các gia đình ủng hộ kháng chiến nhưng chúng không nhận được ở anh nửa lời. Nhân dân quanh đồn Mai Khê thương anh, nhưng đồn bốt kiên cố, không có cách nào giải thoát. Giặc tra tấn anh đến chết rồi chôn trong một hố chôn tập thể cùng nhiều cán bộ, đảng viên, du kích khác của ta".

Khi kể xong chuyện, chừng như chưa hết ngậm ngùi, cụ Bưu bảo tôi: “Anh Sức sống trung thành, chết vẻ vang, giờ anh Phùng Quang Thanh được như thế, chắc anh ấy được ngậm cười nơi chín suối”. Đến lúc này, tôi mới biết liệt sĩ Phùng Quang Sức là thân phụ của Bộ trưởng Phùng Quang Thanh. Câu chuyện bỗng nhiên... rắc rối. Vì theo nguyên tắc, tôi phải báo cáo rõ chuyện này với chỉ huy phòng và Ban biên tập. Hồi đó, trang "Tiếp lửa truyền thống" được Tổng biên tập Lê Phúc Nguyên rất quan tâm. Khi đọc được báo cáo của tôi trên tòa soạn điện tử, ông cẩn thận gác bài lại và gọi điện xin ý kiến của Bộ trưởng Phùng Quang Thanh. Theo Tổng biên tập thông báo lại, Bộ trưởng đề nghị không đăng vì sẽ có người cho rằng, làm như vậy là “đánh bóng” lý lịch. Thế là bài báo công phu của tôi không đăng được.

Ít lâu sau, sang năm 2010, trong lần họp mặt một số CCB Sư đoàn 390 tại Hà Nội, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh đến dự. Được dự cuộc họp mặt lần đó, tôi tranh thủ nêu “thắc mắc” với Bộ trưởng về bài báo chưa được đăng của mình. Ông rất chú ý lắng nghe, rồi bảo: "Tôi cảm ơn, nhưng chuyện đăng báo tấm gương ông cụ nhà tôi vào lúc này là không nên”.

Từ đó, suốt 9 năm, tôi gần như đã quên bản thảo bài báo thì đầu tháng 8-2019, một CCB ở Mê Linh gọi điện cho tôi và nói: “Cụ Bưu đã yếu lắm rồi, cụ hỏi thăm anh và bảo nhà báo về lấy tư liệu kỹ thế mà không thấy gửi biếu tờ báo”. Tôi thấy mình có lỗi với cụ, có lẽ cụ cũng gần trăm tuổi rồi. Tôi bèn gọi điện xin ý kiến thủ trưởng Phùng Quang Thanh, trình bày lý do và xin sửa lại cho cập nhật để đăng bài báo. Đại tướng Phùng Quang Thanh bảo tôi mang bản thảo đến nhà riêng, tự tay ông biên tập, sửa chữa bài, cẩn thận ghi thêm dòng chữ “Đồng ý cho đăng”, ký tên vào bên lề bản thảo rồi đưa lại cho tôi: “Giờ tôi về hưu rồi, ông đăng được là rất quý. Hôm nào báo ra, gửi tôi mấy tờ, tôi sẽ biếu cụ Bưu”.

Tình đồng chí, đồng đội là một tài sản quý giá

Trong suốt 10 năm đồng chí Phùng Quang Thanh làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, được tháp tùng ông trong một số chuyến công tác, tôi rất muốn thực hiện một cuộc phỏng vấn với ông về tình đồng đội nhưng hiểu rằng điều đó là chưa nên khi ông còn đương chức. Năm 2017, một năm sau khi ông nghỉ hưu, tôi mới gọi điện trình bày mong muốn ấy. Nghe xong, ông nói: "Hôm nào rảnh ông qua chơi, trò chuyện thì được nhưng đăng báo thì thôi". Tôi phải áp dụng chiến thuật "mưa dầm thấm lâu". Thời gian này, ông phải điều trị bệnh hiểm nghèo, sức khỏe không ổn định, nên mỗi lần đến thăm, cuộc trò chuyện với ông cũng không được dài. Nhưng những câu chuyện ông kể rất giá trị với người làm báo như tôi. Tích hợp lại, năm 2019, nhân dịp kỷ niệm 75 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, ông mới đồng ý cho tôi đăng bài phỏng vấn "Tình đồng đội là một tài sản quý giá". Sau khi báo đăng, đồng chí, đồng đội, bạn bè gọi điện trao đổi với ông rất nhiều điều tâm đắc, khiến ông rất vui. Lúc đó, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân cùng với các nhà báo: Nguyễn Minh Trường, Nguyễn Mạnh Hùng, Trịnh Phú Sơn ở Báo Quân đội nhân dân làm cuốn sách ảnh "Đại tướng Phùng Quang Thanh-Những khoảnh khắc nhớ mãi". Những người làm sách đã đưa bài phỏng vấn của tôi vào cuốn sách nên khi sách in, ông gọi tôi sang tặng một cuốn. Chữ đề tặng của ông rất đẹp. PGS, TS Trần Đình Huỳnh, nguyên Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng, khi nhìn thấy nét chữ của ông, nói với tôi: "Nét chữ nết người".

Xem cuốn sách, tôi rất xúc động khi thấy tấm hình ông chụp năm 15 tuổi (1964) với 3 cháu bé là con của người anh con bác ruột tại Yên Bái. Mồ côi cha từ khi còn nhỏ, mẹ đi bước nữa, ông ở với chú ruột, rồi lại lên Yên Bái ở cùng bác ruột. Năm 18 tuổi, khi xung phong đi bộ đội, ông đã phải viết cùng lúc hai lá đơn tình nguyện, một gửi xã đội, một gửi huyện đội thì mới được xét duyệt vì là con liệt sĩ, thuộc diện miễn nghĩa vụ quân sự. Tình yêu thương đồng chí, đồng đội được hình thành và vun đắp trong ông có lẽ xuất phát từ tình cảm thiêng liêng với người cha và tình yêu quê hương, đất nước đã bồi đắp từ thuở ấu thơ. Ông tâm sự, Quân đội ta là quân đội cách mạng, sự khác biệt với các quân đội khác nằm ở tình đồng chí, đồng đội trên cơ sở lòng yêu nước, thương nòi. Người chỉ huy muốn chỉ huy được bộ đội thì phải gương mẫu, lúc nào cũng chí công vô tư, yêu thương cấp dưới thật lòng thì lúc chiến đấu người lính mới sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc. Câu nói của ông: "Tôi cũng như tất cả đồng chí, đồng đội cùng thế hệ, không ai mong muốn đất nước có chiến tranh để mình trở thành anh hùng" chính là biểu ngôn của một thế hệ đã trải qua nhiều thăng trầm, mất mát, trưởng thành cùng dân tộc. VD

 

Những dũng sĩ bảo vệ môi trường

 

Ô nhiễm môi trường luôn là vấn đề nóng, gây nhức nhối trong xã hội. Các sự cố hóa chất, độc xạ, hay cháy, nổ, dịch họa, chất độc tồn lưu sau chiến tranh là nguy cơ đe dọa trực tiếp đến sự ổn định, phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Tiên phong trên tuyến đầu khắc phục sự cố môi trường, cán bộ, nhân viên Viện Hóa học môi trường quân sự, Binh chủng Hóa học luôn xung kích vào nơi khó khăn, nguy hiểm... để làm nhiệm vụ.

Cùng với hóa giải những "quả bom" ô nhiễm đột xuất, họ còn thường xuyên tham gia xử lý chất độc da cam/dioxin sau chiến tranh, đem lại cho người dân cuộc sống trong lành, xanh, sạch...

Bài 1: "Bắt mạch" môi trường

Lặng thầm bộ đội quan trắc

Những ngày cuối thu, trong căn phòng yên tĩnh của Trạm Quan trắc cảnh báo môi trường độc, xạ miền Bắc, Viện Hóa học môi trường quân sự trên đường Lạc Long Quân, quận Tây Hồ, TP Hà Nội, Trung tá Phạm Viết Đức đang miệt mài với những số liệu. Đó là thông số mẫu nước, không khí của TP Hà Nội và một số tỉnh lân cận được trạm thu thập, phân tích, theo dõi thường xuyên. Những con số là thước đo đánh giá “sức khỏe” của môi trường.

Anh Đức lý giải: "Trong thành phần của nước, không khí có nhiều tạp chất do khói, bụi. Đặc biệt, chất thải từ nhà máy, khu công nghiệp... dễ tán phát trong nước, không khí, gây hại cho sức khỏe con người nhưng lại không màu, không mùi nên khó nhận biết. Có những loại chất độc chỉ khi con người, động vật tiếp xúc, xuất hiện triệu chứng mầm bệnh thì mới phát hiện được. Do đó, việc theo dõi thường xuyên chất lượng nguồn nước, không khí có ý nghĩa rất quan trọng trong bảo đảm môi trường sống trong sạch cho người dân".

Ngoài nhiệm vụ quan trắc, cảnh báo phát hiện các biến động ô nhiễm môi trường hóa độc, xạ, trạm còn tham gia phân tích xác định các tác nhân hóa học, phóng xạ, khắc phục các sự cố độc xạ và đánh giá tác động môi trường. Vậy nên, công việc của anh Đức và đồng nghiệp liên quan chủ yếu đến các hóa chất và phản ứng hóa học, âm thầm, lặng lẽ, tiềm ẩn nhiều nguy hiểm.

Cơn gió lạnh khẽ ùa tới, bất giác gợi cho anh Đức nhớ về kỷ niệm năm 2016. Sáng sớm, Viện Hóa học môi trường quân sự liên tục nhận được điện thoại thông báo cá ở Hồ Tây, TP Hà Nội chết hàng loạt, nổi dạt vào bờ. Ngay sau đó, anh Đức nhận lệnh cùng 3 đồng nghiệp mang hóa chất và thiết bị chuyên dụng ra hồ phân tích mẫu nước. Sương trắng bảng lảng mặt hồ, hàng nghìn con cá chết trắng bụng nổi lềnh phềnh trên mặt nước. Mùi không khí xú uế nặng nề. Chiếc thuyền chở đoàn công tác lướt tới từng điểm xác định, lấy mẫu nước đổ vào thùng, sử dụng hóa chất đánh lắng, rồi phân tích, đánh giá...

Điều bất thường xảy ra, nước ở khu vực gần bờ nồng độ nhiễm độc rất thấp nhưng ở khu vực giữa hồ nồng độ nhiễm độc lại cao, gây khó khăn cho nhóm công tác trong việc tìm nguồn lây. Quá trưa, công việc phân tích thành phần nước tại thực địa mới xong, chuyển sang bước phân tích tại phòng thí nghiệm. Rất nhanh chóng sau đó, kết quả phân tích nguồn nước ô nhiễm đã được Viện Hóa học môi trường quân sự gửi đến cơ quan chức năng.

Ô nhiễm môi trường là vấn đề cấp thiết nên không chỉ trên địa bàn TP Hà Nội, bất cứ nơi đâu cần, nhận mệnh lệnh là anh Đức cùng đồng đội lập tức lên đường.

Cũng trong năm 2016, biển miền Trung bị ô nhiễm do Công ty Formosa gây ra. Anh Đức nhận được lệnh tức tốc lên đường. Hơn nửa tháng, anh cùng cán bộ, nhân viên Viện Hóa học môi trường quân sự đi thuyền dọc bờ biển từ tỉnh Hà Tĩnh đến tỉnh Thừa Thiên Huế, ban ngày vượt sóng gió lấy mẫu nước gần bờ và ngoài khơi, đến tối xử lý kỹ thuật, gửi mẫu ra trung tâm ở TP Hà Nội phân tích. Kết quả, viện đã có thông số chính xác báo cáo cấp trên và tham mưu cho cơ quan chức năng, góp phần làm sáng tỏ nguyên nhân sự cố môi trường nghiêm trọng này.

Dấn thân trong hiểm nguy

Trên khắp các vùng miền của Tổ quốc, cán bộ, nhân viên Viện Hóa học môi trường quân sự luôn theo sát những biến đổi của môi trường. Trong những ngày TP Hồ Chí Minh oằn mình chống dịch Covid-19, chúng tôi liên hệ với Thiếu tá Nguyễn Hữu Đức, Trạm trưởng Trạm Quan trắc cảnh báo môi trường độc, xạ miền Nam (gọi tắt là Trạm Quan trắc). Anh Đức kể ngay, từ đầu tháng 7, khi dịch Covid-19 bùng phát mạnh, cán bộ, nhân viên trạm căng mình làm việc gấp đôi ngày thường. Ngoài nhiệm vụ thường xuyên quan trắc, cảnh báo phát hiện các biến động ô nhiễm môi trường hóa độc, xạ, trạm còn cử lực lượng cùng chính quyền địa phương làm nhiệm vụ ở các chốt kiểm dịch phòng, chống Covid-19.

Qua vài phút trò chuyện, tinh thần sôi nổi của Thiếu tá Nguyễn Hữu Đức làm chúng tôi như cảm nhận được sự nhiệt huyết của cán bộ, nhân viên trạm. Bắt nối câu chuyện, Thiếu tá QNCN Võ Hồng Cầu, nhân viên hóa nghiệm của trạm hồ hởi kể thêm với chúng tôi, hơn chục năm qua, cán bộ, nhân viên trạm đã tham gia khắc phục nhiều sự cố môi trường như tràn dầu, rò rỉ hóa chất, cháy, nổ kho hóa chất, trải dài trên địa bàn các tỉnh từ Ninh Thuận đến Kiên Giang, Bến Tre... Lần cam go nhất cán bộ, nhân viên của trạm tham gia là khắc phục sự cố cháy kho hóa chất tại Khu công nghiệp Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh, năm 2014.

Theo thông tin từ cơ quan chức năng, vụ cháy xuất phát từ một cơ sở kinh doanh có 185 loại hóa chất, dung môi công nghiệp, với tổng khối lượng khoảng 1.000 tấn hóa chất. Trong đó, một số loại hóa chất có nguy cơ cháy, nổ cao. Khi xảy ra sự việc, lực lượng cảnh sát phòng cháy, chữa cháy TP Hồ Chí Minh đã có mặt chữa cháy. Tuy nhiên, do phản ứng của hóa chất, ngọn lửa sau mỗi lần bị dập tắt lại tự động bùng phát đám cháy mới, làm 24 người tham gia chữa cháy bị bỏng và ngạt thở do hóa chất.

Trong lúc nguy nan, anh Đức và cán bộ, nhân viên Trạm Quan trắc nhận lệnh lên đường tìm hóa chất lạ dẫn đến đám cháy bất thường. Đeo mặt nạ, mặc khí tài đi vào khu nhà xưởng rộng hơn 1.000m2 với hàng trăm loại hóa chất vương vãi, vừa cháy, vừa phản ứng với nhau, anh Đức nói với anh Cầu và một số đồng đội: “Chúng ta lao vào miệng lửa, cùng với hàng tấn hóa chất, lành ít dữ nhiều. Mọi người chia thành nhóm nhỏ hai người, lỡ có sự cố, nhóm còn lại thoát ra cầu cứu. Cố gắng phân loại, xác định hóa chất gây ra cháy bất thường, sớm tìm ra thủ phạm”. Giữa lằn ranh nguy hiểm, tinh thần dũng cảm đã thôi thúc các anh tìm ra nguyên nhân, dập tắt đám cháy triệt để.

Câu chuyện bảo vệ môi trường của cán bộ, nhân viên Viện Hóa học môi trường quân sự còn nhiều, muôn hình muôn vẻ, từ những công việc âm thầm thường ngày, "bắt mạch" môi trường đến lao vào điểm nóng khắc phục sự cố môi trường, góp phần tô thắm thêm chiến công thầm lặng của Bộ đội Hóa học. Phần tiếp theo, chúng tôi gửi tới bạn đọc công việc của cán bộ, nhân viên Viện Hóa học môi trường quân sự tham gia chữa lành vết thương cho những mảnh đất nhiễm chất độc hóa học.VD

 

Mùa xuân ở lại..

 

Những ngày cuối năm, khi mọi người háo hức chờ đợi giây phút sum vầy cùng người thân đón xuân mới, nhiều cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn Công binh 543 (Quân khu 2) vẫn chạy đua với thời gian để hoàn thành cung đường tuần tra biên giới ở một vùng Tây Bắc xa xôi.

Trời mới tảng sáng, chiếc xe tải chất đầy rau, củ, quả cùng nhiều phần quà Tết đã sẵn sàng lên đường. Trước lúc khởi hành, Đại tá Lê Anh Tuấn, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Công binh 543 cẩn thận kiểm tra lại toàn bộ hàng hóa, nhu yếu phẩm chuyển lên biên giới cho cán bộ, chiến sĩ đơn vị đang thực hiện nhiệm vụ nơi tuyến đầu Tổ quốc. Anh cho biết: “Cán bộ, chiến sĩ thực hiện nhiệm vụ cả năm ròng rã nơi rừng thiêng nước độc, vùng sâu, vùng xa nên những ngày Tết rất cần sự quan tâm và chăm lo chu đáo”.

Hành quân gần 5 giờ liên tục, vượt qua bao cung đường quanh co, hiểm trở, cuối cùng chúng tôi cũng đặt chân đến thôn Choán Ván, thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai, nơi cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn Công binh 543 đang thực hiện nhiệm vụ. Đã quá 12 giờ mà không gian nơi đây vẫn âm u, mù mịt chẳng khác nào lúc sáng sớm. Không khí lạnh tăng cường kèm theo mưa phùn, gió bấc khiến nhiệt độ giảm sâu, trời rét căm căm. Nhìn bầu trời xám màu chì, ai trong đoàn công tác cũng mong sao cho trời ấm lại để đồng đội của mình vơi bớt khó khăn.

Trong cái giá lạnh biên cương, tôi chợt nhớ đến phong trào quyên góp, ủng hộ quần áo ấm dành cho cán bộ, chiến sĩ của đơn vị thực hiện nhiệm vụ nơi biên giới. Phong trào được lữ đoàn duy trì đều đặn mấy năm gần đây. Nhờ hoạt động đầy ý nghĩa này mà bộ đội luôn được bổ sung kịp thời quần áo ấm, bảo hộ lao động, giúp họ có thể vượt qua điều kiện thời tiết khắc nghiệt của mùa đông Tây Bắc. Cũng bởi thế, cùng với rau, củ, quả, lương thực, thực phẩm, mỗi chuyến đi thăm, động viên bộ đội trên các công trình, bao giờ đơn vị cũng chở theo quần áo, chăn đệm tăng cường cho bộ đội.

Doanh trại dã chiến của bộ đội công binh là những “túp lều” ẩn hiện trong sương. Đó là những căn nhà tạm bên sườn núi, được thiết kế bằng khung sắt, tường gỗ, hoặc cót ép, mái lợp lá cọ. Vào nhà, chúng tôi không khỏi ngạc nhiên bởi sự ấm áp lạ thường. Phản nằm của bộ đội được kê thẳng tắp với những hàng chăn “vuông thành sắc cạnh”; quần áo, giày dép, đồ dùng sinh hoạt được sắp đặt gọn gàng, ngăn nắp chẳng khác ở đơn vị chính quy.

Đang say sưa ngắm doanh trại đặc biệt của các chiến sĩ “mở đường thắng lợi”, chợt có bàn tay vỗ vào vai tôi: “Không ngờ lại được gặp anh nơi biên giới xa xôi này?”. Sau giây lát, tôi nhận ra Vũ Thanh Tùng, người anh em cùng xã. Chưa đầy hai năm bám trụ trên các công trình quân sự nơi biên cương Tổ quốc mà Tùng thay đổi nhiều quá. Mái tóc xanh rờn, mượt như tơ mấy năm trước giờ tựa rễ tre. Nước da trắng thư sinh cùng gương mặt điển trai của chàng kỹ sư-sĩ quan tốt nghiệp Học viện Kỹ thuật Quân sự nay nhuốm màu biên ải, khiến Tùng già đi trước tuổi.

"Không phải hôm nay có đoàn công tác lên thăm mà nội vụ vệ sinh của đơn vị gọn gàng, sạch sẽ như vậy đâu nhé", Thiếu tá Vũ Thanh Tùng, Phó tham mưu trưởng lữ đoàn, vui vẻ phân trần với tôi. Anh chia sẻ, mặc dù đóng quân dã ngoại, nhưng đơn vị thường xuyên duy trì nghiêm các nền nếp, chế độ theo quy định nhằm rèn luyện bộ đội về tính tự giác, kỷ luật và tác phong chính quy, đồng thời có đủ sức khỏe để thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện khó khăn, gian khổ, thời tiết khắc nghiệt. Được biết, mấy tháng nay, trên cương vị Phó tham mưu trưởng lữ đoàn, chỉ huy trưởng công trình đường tuần tra biên giới địa bàn huyện Mường Khương, ngày nào Thiếu tá Vũ Thanh Tùng cũng như con thoi, xông xáo khắp các khu vực thi công. Khi thì ở vị trí khoan nổ, đổ bê tông, lúc lại trèo lên các vách đá cheo leo, trực tiếp chỉ đạo bộ đội khoan núi, mở đường, thông tuyến.

Có lẽ chẳng riêng Vũ Thanh Tùng, khi quan sát các tổ, đội đang hối hả làm việc tại những vị trí khác nhau, nếu không nhìn kỹ cấp bậc quân hàm trên ve áo, quả thực tôi cũng khó phân biệt được đâu là cán bộ, đâu là chiến sĩ. Bởi tất cả đều vận trên mình quân phục dã ngoại hoặc đồ bảo hộ lao động lấm lem bụi đất. Thượng tá Nguyễn Đông Hưng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Lữ đoàn Công binh 543, tâm sự: "Nhiệm vụ của bộ đội công binh vốn vất vả, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn, nên với chuyên môn vững vàng, nhiều kinh nghiệm, lại giàu bản lĩnh, đội ngũ cán bộ, QNCN của đơn vị luôn nhận về mình những nhiệm vụ khó khăn, gian khổ, không bao giờ thoái thác, khoán trắng cho chiến sĩ. Điều này vừa thể hiện trách nhiệm nêu gương của người cán bộ, đảng viên, đồng thời cũng là sự sẻ chia, đồng cam cộng khổ với chiến sĩ".

Đêm biên giới buông xuống thật nhanh. Thoáng chốc cả vùng núi non hiểm trở đã chìm trong bóng tối, chỉ còn ánh đèn đỏ quạch bên trong các lán trại của bộ đội công binh. Câu chuyện về cuộc sống của họ trên công trình đang rôm rả thì bữa cơm mời khách được dọn ra. Khó có thể tin được giữa một vùng biên giới xa xôi, thiếu thốn, khó khăn mà mâm cơm mời khách của các chiến sĩ công binh lại tươm tất như vậy. Tôi tỏ vẻ ngạc nhiên, Thiếu tá Hoàng Sơn Hải, Phó tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3, phấn khởi khoe: "Cùng với nhiệm vụ chuyên môn, chúng tôi đặc biệt coi trọng công tác tăng gia, chăn nuôi cải thiện đời sống bộ đội. Ngoài việc cung cấp đầy đủ, kịp thời cho bộ đội các tiêu chuẩn, chế độ theo quy định, đơn vị đều tận dụng tối đa diện tích đất xung quanh lán trại để trồng rau, chăn nuôi, bảo đảm nguồn thực phẩm tươi sống, an toàn cho bộ đội, nhất là dịp lễ, Tết... Hiện chúng tôi đang nuôi 20 con gà đẻ, 10 con lợn, đồng thời tận dụng tối đa diện tích đất gần công trình để trồng rau xanh, vườn giàn".

Quả thật, đến các điểm đóng quân nhỏ lẻ của Lữ đoàn Công binh 543, tôi đều thấy những khoảnh rau xanh nho nhỏ, những giàn mướp, giàn bầu ghé lên vách đá, hệ thống chuồng trại được quây tạm đơn sơ. Sản phẩm tăng gia thu được tuy còn khiêm tốn, nhưng góp phần không nhỏ nâng cao chất lượng bữa ăn hằng ngày của bộ đội.

Với đặc thù nhiệm vụ, đơn vị thường thi công các công trình ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, xa quốc lộ, xa dân cư, giao thông đi lại rất khó khăn, bộ đội thường xuyên thực hiện nhiệm vụ trong môi trường độc hại, thiếu ánh sáng, nhiều tiếng ồn, cường độ làm việc cao; mùa hè thì nắng nóng gay gắt, mùa đông thường là rét đậm, rét hại, có nơi xuất hiện băng tuyết... ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe cán bộ, chiến sĩ, việc chủ động tăng gia, nâng cao đời sống của họ thật đáng trân trọng. Gió biên ải lạnh buốt từng cơn, nhưng tôi thấy lòng mình như ấm lên khi nghĩ đến niềm vui của các chiến sĩ công binh và bà con dân bản trong đêm Giao thừa sắp tới. Hương thơm nồng ấm từ nồi bánh chưng lan tỏa, những bước chân tung tăng của trẻ nhỏ cùng sự lạc quan, yêu đời của người chiến sĩ để mùa xuân thêm tươi vui trên một dẻo biên cương. Hoa mận, hoa mơ, hoa đào bung nở khắp núi rừng Tây Bắc, hòa niềm vui trên cung đường mới cùng tình quân dân, để mùa xuân biên cương đẹp hơn, đẹp mãi.VD

 

Thanh cao Hồ Chí Minh

 

Phong cách sống thanh cao của Hồ Chí Minh là một nét đẹp riêng biệt bắt nguồn từ truyền thống văn hóa của dân tộc, từ quê hương, gia đình Hồ Chí Minh và chính những phẩm chất riêng có của Người. Từ điển tiếng Việt định nghĩa thanh cao là trong sạch và cao thượng. Chúng tôi cho rằng định nghĩa này rất phù hợp để đánh giá về Hồ Chí Minh.

Suốt đời sống vì mọi người

Trong những bài giảng tại lớp huấn luyện ở Quảng Châu, sau được in trong cuốn Đường Kách mệnh, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nhắc nhở mỗi người cách mạng phải giải quyết hài hòa 3 mối quan hệ: Với mình, với người và với công việc. Trong đó, Người xác định tự mình phải: "Cần, kiệm, liêm, chính" và cả cuộc đời Người đã sống như thế.

Đã từng phải làm tới gần 20 nghề, miễn là nghề lương thiện để sống và để hoạt động, đến khi đã trở thành một vị lãnh đạo có quyền lực và uy tín, Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh vẫn vẹn nguyên chất người lao động cần cù, có kỷ luật, có trách nhiệm, tiết kiệm, liêm chính. Từ chuyện gói lại đồ ăn thừa để chuyển cho người nghèo khi làm phụ bếp ở nước Anh xa xôi, đến khi làm Chủ tịch nước ăn cơm nắm muối vừng đi công tác, hay dự bữa tiệc chiêu đãi sang trọng của lãnh đạo nước bạn, Người vẫn trân trọng từng người lao động và nâng niu từng sản phẩm do con người làm ra.

Người dành cả cuộc đời để lo giải phóng dân tộc, đấu tranh cho con người thoát khỏi áp bức, bất công. Người tâm sự: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo-là vì mục đích đó". Là một lãnh tụ mà “lời nói luôn đi đôi với việc làm”, Người là tấm gương sáng về lòng “tận trung với nước, tận hiếu với dân” nhất quán, trước sau như một.

Ngay từ những ngày đầu ra đi tìm đường cứu nước, hướng tới mục tiêu độc lập cho Tổ quốc, cơm no áo ấm cho đồng bào, Người đã vượt qua bao khó khăn, thử thách. Sự truy sát ráo riết và đe dọa của kẻ thù không làm Người nhụt chí. Trong lao tù của kẻ thù, lòng kiên trung bất khuất của Người, quyết tâm giải phóng dân tộc, mong muốn mang lại cơm no áo ấm cho đồng bào càng được bồi đắp thêm. Ngay cả khi bị cấp trên (Quốc tế Cộng sản) và cấp dưới chưa hiểu, Người vẫn trung trinh một niềm tin để đặt sự nghiệp của Đảng cao hơn cuộc sống cá nhân, để luôn sống và làm việc vì Đảng, như nhận xét của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương Lê Hồng Phong.

Khi Tổ quốc được độc lập, Người “tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào” không muốn “dính líu gì với vòng danh lợi” mà “chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”...

Trong suốt những năm “phải gánh chức Chủ tịch vì đồng bào ủy thác”, tình yêu thương Tổ quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện hữu trong từng công việc. Dù ở đâu, làm gì, Người cũng chỉ nhằm một mục đích là “phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc”... để rồi trước lúc đi xa, về với "thế giới người hiền", trong Di chúc thiêng liêng, Người tự vấn lòng mình và thấy rằng: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”...  

Suốt đời yêu thương, quý trọng con người

Trong quá trình tìm đường cứu nước, nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin và thực tiễn đấu tranh của các dân tộc, Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận quan trọng: Trên đời này có hai hạng người: Người thiện và người ác; hai thứ việc: Việc chính và việc tà. Theo đó, tình yêu thương con người không thể chung chung, trừu tượng, mà thiết thực, cụ thể, trước hết dành cho người mất nước, người cùng khổ. Chính vì vậy, với Chủ tịch Hồ Chí Minh, tình yêu thương con người là không biên giới. Người lo cho dân tộc mình và lo cho tất cả những kiếp người trên hành tinh còn bị đày đọa, đau khổ, bởi vì: “Lọ là thân thích ruột rà/ Công nông thế giới đều là anh em". 

Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Người để lại “muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng” và “gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế”.

Người ân cần nhắc nhở toàn Đảng phải tiếp tục chăm lo cho con người, trước hết là những người đã hy sinh một phần xương máu cho công cuộc kháng chiến, tiếp đến là cha mẹ, vợ con thương binh, liệt sĩ, là bà con nông dân, là thanh niên, phụ nữ... lo cho hiện tại, lo đào tạo cho tương lai. Ngay cả “với những nạn nhân của chế độ xã hội cũ như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu... thì Nhà nước phải dùng vừa giáo dục, vừa phải dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện”.

Tình yêu thương con người được thể hiện rất cụ thể, từ việc lớn như lo giải phóng cho con người, khuyến khích: "Phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân, và phần xấu bị mất dần đi", đến việc chăm lo từng con người cụ thể, không chỉ: Lụa tặng cụ già, sữa tặng bà mẹ sinh ba, mà là từng bát cơm, manh áo, từ chỗ ở, việc làm để an cư lạc nghiệp đến chuyện tương cà mắm muối hằng ngày cho nhân dân.

Người lo cho toàn dân tộc và chăm lo cho từng chiến sĩ bảo vệ, phục vụ quanh Người. Vai trò của nhân dân được vô cùng trân trọng: "Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân". Người tôn trọng từ các nhà khoa học, các bậc hiền tài cho tới những người lao công, bởi theo Người, từ Chủ tịch nước tới người lao động bình thường, nếu hoàn thành tốt nhiệm vụ, đều được coi trọng, đều vẻ vang như nhau. 

Suốt đời sống trong sạch

24 năm liên tục nắm giữ đỉnh cao quyền lực: Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước, có thời kỳ dài là Chủ tịch Chính phủ, có thời kỳ kiêm chức Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam, Người luôn luôn giữ cho mình trong sạch, luôn giữ vững tư cách đạo đức. 

Người suốt đời tránh xa những biểu hiện của đầu óc lãnh tụ, lúc nào cũng chỉ tâm niệm làm một người lính vâng lệnh quốc dân đồng bào, làm tròn trọng trách nhân dân ủy thác, không chấp nhận sự đề cao, tung hô. Tháng 7-1969, Bộ Chính trị họp ra nghị quyết về việc tổ chức 4 ngày kỷ niệm lớn của năm: Ngày thành lập Đảng, ngày Quốc khánh, ngày sinh Lênin và ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Khi biết tin này, Người đề nghị: “Bác chỉ đồng ý ba phần tư nghị quyết. Bác không đồng ý đưa ngày 19-5 là ngày kỷ niệm lớn trong năm sau. Hiện nay, các cháu học sinh đã sắp bước vào năm học mới, giấy mực, tiền bạc dùng để tuyên truyền về ngày sinh của Bác thì các chú nên dành để in sách giáo khoa và mua dụng cụ học tập cho các cháu, khỏi lãng phí”.

Đoàn đại biểu các nước đến thăm Việt Nam hay khi Bác đi công tác nước ngoài, Người thường được biếu các đồ lưu niệm. Những tặng phẩm đó, Bác đều chuyển cho Văn phòng vào sổ và bảo quản. Chính vì vậy, sau ngày Người qua đời, Văn phòng Phủ Chủ tịch đã bàn giao cho Bảo tàng Cách mạng, Bảo tàng Hồ Chí Minh hàng nghìn hiện vật là đồ tặng phẩm của Bác Hồ. Đi công tác các địa phương, Người thường từ chối nhận quà, cho dù đấy chỉ là yến gạo, bộ quần áo. 

Năm 1959, đi công tác Liên Xô, trước ngày về nước, Bác đã viết thư và gửi trả lại 5.000 rúp do Đảng bạn tặng Bác và Thư ký Vũ Kỳ. Thực ra, đây không phải đặc quyền của riêng Bác Hồ, mà theo thông lệ hợp tác giữa các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, khi đón đoàn nước bạn đến thăm, nước chủ nhà ngoài việc lo phương tiện đi lại, kinh phí ăn ở, lễ tân, thường có thêm một khoản gọi là “tiền tiêu vặt” cho các vị khách. Tất nhiên, mức tiền khác nhau theo từng chức vụ và thời gian lưu trú. Song ngay cả với số tiền thông lệ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từ chối nhận. Bởi với Người, việc không nhận quà biếu đã trở thành một nguyên tắc sống. VD

 

BẢN LĨNH ĐẢNG TIÊN PHONG, DÂN TỘC ANH HÙNG


Hơn 90 năm qua, trong muôn vàn khó khăn, có lúc tưởng chừng không vượt qua nổi, Đảng ta kiên định, linh hoạt, thích ứng, bản lĩnh và sáng tạo lãnh đạo toàn dân vượt qua nhiều thách thức chưa có tiền lệ trong lịch sử. Đảng tiên phong, dân tộc anh hùng là nền tảng đưa đất nước tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác...


Một mốc son chói lọi


Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trong hoàn cảnh đất nước trải qua gần một trăm năm dưới chế độ thực dân và hàng ngàn năm dưới chế độ phong kiến là chưa có tiền lệ trong lịch sử, trở thành một mốc son chói lọi. Đảng ta có đặc điểm rất Việt Nam, vì nhân dân đã sinh thành ra Đảng. Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin và phong trào công nhân, Đảng ra đời có thêm yếu tố phong trào yêu nước. Đó là một nguồn lực mạnh mẽ không chỉ trong thời khắc Đảng ra đời mà cho đến tận hôm nay. Chủ nghĩa yêu nước là mạch nguồn của dân tộc Việt Nam, được hình thành, vun bồi qua hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, tạo ra nguồn cảm hứng vô tận, là sức mạnh nội sinh. Mỗi khi đất nước gặp thiên tai, dịch bệnh hay địch họa thì tinh thần ấy lại sôi nổi, kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nhấn chìm lũ bán nước, cướp nước, vượt qua và chiến thắng những gì chưa có tiền lệ.


Lãnh đạo cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp lên tới đỉnh cao trong những tháng ngày Xô viết Nghệ Tĩnh ngay sau khi ra đời, Đảng ta mở ra truyền thống đấu tranh anh dũng, tiên phong vì lợi quyền của nhân dân. Chúng ta có quyền tự hào vì chưa đầy một năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã nắm chính quyền ở địa phương và bắt đầu thi hành những chính sách dân chủ. Nhưng ngay sau đó, thực dân Pháp khủng bố dữ dội. Các tổ chức của Đảng và quần chúng tan rã hầu hết. Phong trào cách mạng sụt xuống, có lúc tưởng như không vượt qua được. Biến cái rủi thành cái may, các chiến sĩ cộng sản đã biến nhà tù thành trường học. Chính sách khủng bố đã không ngăn trở được bước tiến của cách mạng mà trở thành một thứ “lửa thử vàng”. Lòng trung thành và máu đào của những người cộng sản đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ và đồng bào đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhờ sự lãnh đạo sáng suốt và kiên quyết của Đảng cùng với sức đoàn kết và hăng hái của toàn dân, với tinh thần “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng kiên quyết giành cho kỳ được độc lập”, chúng ta đi tới Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thắng lợi. Lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công và nắm chính quyền toàn quốc. Niềm tự hào to lớn đó không chỉ dành cho nhân dân Việt Nam mà còn dành cho các dân tộc bị áp bức.


Sau Cách mạng Tháng Tám, nước ta ở trong hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”. So với địch đủ hải, lục, không quân với vũ khí hiện đại, ta thiếu mọi thứ nhưng thừa lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và sự anh dũng hy sinh của toàn quân và toàn dân dưới sự lãnh đạo của một Đảng kiên quyết chủ trương kháng chiến, vừa lãnh đạo đánh giặc vừa bồi dưỡng sức dân. Sau 9 năm kháng chiến với tinh thần “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, chúng ta đã đại thắng ở Điện Biên Phủ. Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là thắng lợi của nhân dân Việt Nam, của lực lượng hòa bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội trên thế giới.


Từ ngày hòa bình được lập lại, đất nước bị tạm chia làm hai miền. Đế quốc Mỹ và tay sai thống trị ở miền Nam, khủng bố cực kỳ dã man những người yêu nước, tiến hành chiến tranh phá hoại ở miền Bắc. Nhưng nhân dân Việt Nam quyết không sợ, vì có một Đảng lãnh đạo luôn giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội. Với nguồn cảm hứng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”, chúng ta đã giành chiến thắng, một thắng lợi mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc.


Đổi mới mang đậm dấu ấn của trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam


Gần nửa thế kỷ trôi qua từ khi cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là qua hơn 35 năm đổi mới, chúng ta tiếp tục hứng chịu muôn vàn khó khăn, thử thách. Khôi phục kinh tế sau chiến tranh; đối mặt với bao vây cấm vận của Mỹ, chiến tranh bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ. Các thế lực thù địch và cơ hội, bằng mọi âm mưu và thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt chống phá quyết liệt cách mạng nước ta.


Với bài học độc lập, tự chủ, sáng tạo, biết thích ứng linh hoạt, Đảng ta xác định rõ chủ nghĩa xã hội đứng trước nhiều khó khăn thử thách, lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội. Trong cơn chấn động chính trị lớn nhất thế kỷ XX khi thành trì của chủ nghĩa xã hội là Liên Xô sụp đổ, Đảng ta công khai tuyên bố với nhân dân và nhân loại tiến bộ về Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời khẳng định Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng ta xác định đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và dân tộc ta, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.


Với đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sự gặp gỡ giữa ý Đảng - lòng dân; lòng dân - ý Đảng, cùng với ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, qua hơn 90 năm Đảng lãnh đạo, trong đó có hơn 35 năm đổi mới, Việt Nam ta đã tiến những bước dài chưa từng thấy, kinh tế, văn hóa - xã hội và con người đều đổi mới. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Từ một nước nghèo, khoảng 3/4 dân số sống dưới mức nghèo khổ, hiện nay Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 5,8% năm 2016 xuống dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều. Từ một nước thiếu lương thực triền miên, đến nay Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng đầu thế giới. Người nghèo, trẻ em và người cao tuổi được cấp bảo hiểm y tế miễn phí. Tuổi thọ trung bình của người dân năm 2020 là 73 tuổi. Hiện có khoảng 70% dân số sử dụng internet, là một trong những nước có tốc độ phát triển công nghệ thông tin cao nhất thế giới. Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu Thiên niên kỷ và thuộc nhóm có chỉ số phát triển con người (HDI) cao của thế giới so với các nước có cùng trình độ phát triển. Trong khi chúng ta cơ bản khống chế được đại dịch Covid-19, vẫn giữ vững ổn định chính trị và từng bước phục hồi kinh tế.


Hai từ “ĐỔI MỚI” mang đậm dấu ấn trí tuệ, bản lĩnh và phong cách Việt Nam, là “Made in Việt Nam”. Đổi mới với sự kiên định mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đem lại một sinh khí mới với kết quả cuối cùng là tạo ra một xã hội xã hội chủ nghĩa theo đặc điểm Việt Nam, mang đậm dấu ấn của thiên tài và cốt cách, bản lĩnh và khí phách, thông minh và sáng tạo, linh hoạt và nhạy bén của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng ta và của dân tộc Việt Nam văn hiến và anh hùng.


Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nêu quyết tâm tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, đặt mục tiêu cụ thể đến năm 2030 (kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng), nước ta trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Dưới sự lãnh đạo của một Đảng trí tuệ, bản lĩnh, nghị lực, quyết tâm, chân chính cách mạng, đạo đức, văn minh và sự đồng lòng, ủng hộ của nhân dân anh hùng, chúng ta có cơ sở để tin tưởng chắc chắn rằng đất nước ta nhất định sẽ lập nên kỳ tích phát triển mới, cùng tiến bước và sánh vai với các cường quốc năm châu, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và ước vọng của toàn dân tộc ta.

CẦN MỞ ĐỢT SINH HOẠT CHÍNH TRỊ SÂU RỘNG!

         Để góp phần quán triệt, triển khai Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương (QUTƯ) về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, từ hôm nay, Báo Quân đội nhân dân mở Chuyên mục 'Nuôi dưỡng văn hóa Bộ đội Cụ Hồ' vào các ngày thứ 2, 4, 6 hằng tuần.

Các bài viết tập trung khẳng định nỗ lực, quyết tâm chính trị của toàn quân đưa nghị quyết của QUTƯ vào cuộc sống; đồng thời đề xuất, kiến nghị những vấn đề thực tiễn nảy sinh liên quan.

Cần mở đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng

Sự ra đời của Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của QUTƯ về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới (sau đây gọi là Nghị quyết 847) được cán bộ, chiến sĩ toàn quân đồng thuận, ủng hộ rất cao; nhất là tính cấp thiết và những quan điểm, chủ trương đúng đắn, sáng tạo của nghị quyết.
Tuy vậy, nghị quyết dù hay đến mấy, thiết thực bao nhiêu cũng sẽ chỉ là những văn bản vô dụng nếu công tác quán triệt, triển khai thiếu quyết liệt, sáng tạo, hiệu quả. Cũng vì đó mà ngay trong nội dung của nghị quyết và quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức học tập, nghiên cứu, QUTƯ chỉ rõ yêu cầu: Toàn quân phải mở đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng để quán triệt, triển khai Nghị quyết 847 vào cuộc sống.
1. Mở các đợt sinh hoạt chính trị trong toàn quân là công việc quen thuộc, từng diễn ra khá phổ biến, đạt hiệu quả thiết thực ở nhiều giai đoạn lịch sử của quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Đảng bộ Quân đội và Quân đội ta. Đây là phần việc được tổ chức để toàn quân thống nhất ý chí và hành động, tạo sự đồng thuận, nỗ lực cao nhất trước những nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng. Và lần này việc “phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ” kết hợp với “chống chủ nghĩa cá nhân” đang đặt ra với những yêu cầu cấp thiết, là một nhiệm vụ chính trị hàng đầu của Quân đội ta trong tình hình mới.
Việc mở đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng cần được hiểu đầy đủ trên nhiều phương diện, nhưng tựu chung lại chính là việc các cấp ủy, chỉ huy, tổ chức quần chúng phải thống nhất nhận thức, xem đây là một nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu của năm 2022 và các năm tiếp theo. Nói cách khác, sinh hoạt chính trị thực chất là một cao trào tổ chức học tập và tự học tập, tổ chức hành động và tự hành động cách mạng với yêu cầu nghiêm túc, chặt chẽ, quyết liệt theo mục tiêu, quan điểm, nội dung, giải pháp của Nghị quyết 847.
Ở đó, các cấp ủy, người đứng đầu là chủ thể khởi xướng, lãnh đạo, dẫn dắt và chịu trách nhiệm trong việc làm cho bộ đội không chỉ nắm được tinh thần cơ bản, mà phải hiểu sâu kỹ các vấn đề cụ thể được nghị quyết xác định, như: 5 đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ; 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân; 5 quan điểm; 6 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu...
Phải trên cơ sở nhận thức đúng thì mới hành động đúng; phải thống nhất về mặt tư duy thì mới có quyết tâm chính trị cao, thái độ cách mạng kiên quyết, triệt để. Theo nghĩa đó, việc tổ chức đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng là một trong những việc cần làm ngay bằng tinh thần trách nhiệm cao nhất của mọi tổ chức, cá nhân trong quân đội.
Quán triệt sâu sắc tinh thần đó, Đảng bộ Binh chủng Đặc công chủ trương phân loại rõ các đối tượng, lực lượng, đặc thù cơ quan, đơn vị để linh hoạt, sáng tạo trong tổ chức học tập, quán triệt; kết hợp giữa giáo dục chung với giáo dục riêng; tổ chức học tập kết hợp với bồi dưỡng đối tượng đặc thù; giữa định hướng với cung cấp tài liệu tự nghiên cứu... Tính đến nay, hệ thống văn bản tài liệu nghiên cứu về nghị quyết đã được cấp phát đến 100% chi bộ.
Trước thềm Xuân Nhâm dần 2022, các cấp ủy, chỉ huy đã xác định bổ sung nhiều nội dung của Nghị quyết 847 vào đề án tuyên truyền trong nội bộ đơn vị và cấp ủy, chính quyền, nhân dân trên địa bàn đóng quân. Không chỉ tập trung quán triệt cho đối tượng là đảng viên, cán bộ, sĩ quan, mà các cấp còn linh hoạt kết hợp phổ biến, tuyên truyền về nghị quyết đến toàn thể quân nhân, các đối tượng quần chúng trong cơ quan, đơn vị.
Đặc biệt, các chi bộ, tổ chức đảng đã bám sát định hướng, chú trọng chọn lựa đúng nội dung trọng tâm, trọng điểm (có tính chất ưu tiên) để dồn sức lãnh đạo trong từng thời điểm thích hợp. Chú trọng làm cho cán bộ, chiến sĩ hiểu sâu, nắm chắc mối quan hệ của việc “phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ” và nhiệm vụ “chống chủ nghĩa cá nhân”.
Đây là hai thành tố có mối quan hệ biện chứng, trong đó “chống chủ nghĩa cá nhân” là giải pháp có tính thời sự giúp giữ vững, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới và ngược lại phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ là chủ trương xuyên suốt; cũng là giải pháp lớn nhằm sớm nhận diện, phát hiện, đẩy lùi triệt để các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân.
Đảng ủy và cấp ủy các cấp xác định: Việc quán triệt nghị quyết không thể làm một lần là xong, đạt được kết quả ngay, mà phải triển khai phần việc này một cách thường xuyên liên tục, với cách làm, phương thức, hình thức sáng tạo, sát với đặc thù hoạt động của các quân, bình chủng, ngành và thực tế cơ sở.
Trong quá trình đó, công tác kiểm tra, giám sát việc học tập, quán triệt nghị quyết phải đồng thời được triển khai nghiêm túc, chặt chẽ, đúng nguyên tắc. Nơi nào kết quả học tập chưa bảo đảm, thiếu thực chất; việc tổ chức học tập chưa đúng với chỉ đạo, hay có các biểu hiện hình thức, đối phó... thì người đứng đầu cơ quan, đơn vị đó phải chịu trách nhiệm cao nhất.
2. Cùng với tổ chức học tập, quán triệt nghị quyết, vấn đề tiếp theo là phải đồng thời tổ chức ngay các hoạt động thực tiễn cách mạng sôi động, thực chất. Theo đó, hàng loạt các nội dung, vấn đề được nghị quyết đề cập phải sớm được các cấp ủy, chỉ huy cụ thể hóa vào nghị quyết lãnh đạo, kế hoạch, chương trình hành động.
Ở mọi cấp phải khởi xướng nên trào lưu, phong trào, mô hình hoạt động cụ thể trong phát huy truyền thống, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và chống chủ nghĩa cá nhân. Đặc biệt, phải nhất quán kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ, cấp bách thường xuyên.
Theo nghĩa đó, các cấp nhất thiết phải tạo được hai trào lưu sinh hoạt chính trị bao trùm, xuyên suốt: Vừa phát hiện, bảo vệ, nhân rộng cái hay, cái đẹp; vừa đấu tranh bài trừ, đẩy lùi cái xấu, cái tiêu cực, cả những biểu hiện nhận thức, tư tưởng lệch lạc, hành vi sai trái trong cán bộ, chiến sĩ.
Với tinh thần chủ động, Đảng ủy, chỉ huy các cấp đề cao trách nhiệm bàn thảo kỹ lưỡng nhiều nội dung định hướng, dẫn dắt các trào lưu, phong trào hành động cách mạng của tổ chức chỉ huy, tổ chức quần chúng ở tất cả các cấp, lĩnh vực. Việc triển khai theo ngành dọc là tất yếu, nhưng  Đảng ủy, chỉ huy các cấp cũng chủ trương khuyến khích sự sáng tạo của cơ sở, nhất là ở các ngành, lĩnh vực đặc thù.
Hay nói cách khác, việc triển khai nghị quyết được đặt ra với những yêu cầu và quyết tâm rất cao, nhưng không cứng nhắc mà “mở ra” sự chủ động, linh hoạt của từng tổ chức, cá nhân trong lựa chọn đúng, trúng các vấn đề cần ưu tiên tập trung sức lãnh đạo việc vận dụng, sớm đưa nghị quyết vào cuộc sống.
Đặc biệt, đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng lần này được xác định là dịp kích hoạt, “tái khởi động” tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình một cách mạnh mẽ trong hệ thống tổ chức đảng và đoàn thể các cấp; kết hợp với đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và nhất là âm mưu “phi chính trị hóa quân đội”...
Để tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình đạt hiệu quả, Đảng ủy các cấp trong toàn Quân chủ trương phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ chủ trì, chủ chốt, gắn chặt với các giải pháp đề cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng trong lãnh đạo phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân.
Đảng ủy, chỉ huy các cấp yêu cầu lãnh đạo, chỉ huy cấp dưới phải thường xuyên rà soát, bổ sung và thực hiện nghiêm quy chế làm việc, quy chế lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng trên từng mặt công tác, nhất là các mặt công tác trọng yếu dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực, không để sơ hở, dẫn đến sai phạm, vi phạm pháp luật, kỷ luật.
Tập trung lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý các cấp, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, có phẩm chất đạo đức trong sáng, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm; có kiến thức, năng lực toàn diện; thực sự mẫu mực về phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; không tham vọng quyền lực, tham nhũng, lãng phí, cơ hội, cửa quyền, tư duy nhiệm kỳ; luôn đề cao trách nhiệm, quyết tâm đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ,
dám nói, dám làm, sẵn sàng đương đầu với khó khăn, thử thách, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung.
Với yêu cầu rất cao, trong đợt sinh hoạt chính trị lần này, Đảng ủy, chỉ huy các cấp đặt ra mục tiêu phải nêu cao tinh thần đấu tranh không khoan nhượng với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân ở mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ. Bằng mọi giá, tập thể chi bộ, tổ chức hành chính từ cấp thấp nhất (tiểu đội, trung đội, đại đội....) phải là môi trường sàng lọc mọi biểu hiện tiêu cực từ lúc manh nha, thông qua thực tiễn sinh hoạt, công tác, huấn luyện, SSCĐ...
Phải dồn sức lãnh đạo xây dựng tổ chức đảng mạnh từ gốc, từ các tổ chức tế bào nhỏ nhất (chi bộ, tổ đảng); nuôi dưỡng và kích hoạt tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình từ những việc nhỏ nhất, trên cơ sở phòng ngừa là chính và xuyên suốt, đặt lên cao nhất mục tiêu vì sự tiến bộ của bộ đội và tổ chức.
Để đợt sinh hoạt chính trị đạt hiệu quả toàn diện, thực chất, các cấp ủy, chỉ huy cần đặc biệt chú ý đến tính chất “sâu” và “rộng” của nó. “Rộng” là cần thiết, có nghĩa phải đồng thời quán triệt, triển khai ở tất cả các cấp, các loại hình cơ quan, đơn vị... Thế nhưng cần chú ý nhiều hơn đến “chiều sâu” của đợt sinh hoạt chính trị lần này.
“Sâu” có nghĩa là làm kỹ, làm chất lượng ngay từ đầu, làm đến đâu chắc chắn đến đó; không màu mè, hình thức, thiếu thực chất. “Sâu” cũng chính là thể hiện tính chuyên nghiệp, chuyên sâu, với cách làm bài bản, có kế hoạch với lộ trình và bước đi phù hợp, không nóng vội nhưng cần khẩn trương triển khai bằng thái độ trách nhiệm cao nhất, hướng đến những mục tiêu, yêu cầu không ngừng được nâng cao./.

Theo Báo QĐND (Đã chỉnh sửa một số nội dung).
Công tác dân vận là một trong ba chức năng của Quân Đội ta. Trong ảnh: Quân Đội giúp nhân dân khắc phục hậu quả bão lụt.
Yêu nước ST.