Thứ Năm, 10 tháng 2, 2022

Đẩy mạnh đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong Quân đội

 


Đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong Quân đội là một phương thức quan trọng nhằm làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” và thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Thực hiện tốt nhiệm vụ này sẽ góp phần tăng cường trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Thời gian qua, các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” (“DBHB”) tiến công vào Quân đội ta trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa (TT,VH). Chúng triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, nhất là mạng in-tơ-nét, các website, blog, tạp chí, tập san, báo, đài phát thanh,… để tán phát các tin, bài, tài liệu có nội dung xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Quân đội ta.

Chúng đẩy mạnh tuyên truyền quan điểm “quân đội đứng ngoài chính trị”, “quân đội phi giai cấp”, lực lượng vũ trang “… chỉ là của quốc gia, dân tộc, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của đảng phái nào, lực lượng chính trị nào”. Cùng với đó, chúng đòi giải tán hệ thống tổ chức đảng, cơ quan chính trị, chính ủy (chính trị viên) trong Quân đội, hòng chuyển hóa Quân đội ta thành “đội quân chuyên nghiệp, phi đảng phái”,… Trước thực tế quan hệ của Việt Nam với cộng đồng quốc tế ngày càng phát triển, các thế lực thù địch lại tung ra luận điệu cho rằng: hiện nay Việt Nam không còn kẻ thù, Quân đội nhân dân Việt Nam không còn đối tượng tác chiến nữa…, hòng tạo nên sự mơ hồ, mất cảnh giác trong cán bộ, chiến sĩ (CB,CS) Quân đội. Lợi dụng bầu không khí dân chủ của xã hội, khi Đảng và Nhà nước ta tổ chức lấy ý kiến đóng góp của nhân dân vào bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, chúng xuyên tạc: “Quân đội luôn được coi là công cụ trọng yếu “trước hết” bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước “sau đó” mới bảo vệ đất nước, bảo vệ nhân dân”, hoặc kích động rằng: “Bản Hiến pháp mới sẽ trói tay lực lượng vũ trang, kích hoạt những mầm mống nội chiến và tiếp tay cho kẻ thù thực hiện âm mưu xâm lược”,… Đáng chú ý là, chúng đẩy mạnh sử dụng các trang mạng xã hội để truyền tải các thông tin sai lệch, kêu gọi, tập hợp ý kiến, quan điểm “trái chiều”, “phản biện” các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta; đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 1992, xóa bỏ nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội. Chúng còn ra sức bôi nhọ, nói xấu, hạ thấp uy tín của Quân đội; chia rẽ tình đoàn kết máu thịt giữa Quân đội với nhân dân. Lợi dụng vụ cưỡng chế thu hồi đất ở huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng, chúng tung tin vu cáo Quân đội trấn áp nhân dân. Sau các vụ tàu Trung Quốc hoạt động bất hợp pháp trên vùng Biển của ta, cắt cáp tàu Bình Minh 02 và tàu Vi-king 2, xua đuổi, truy bắt tàu đánh cá của ngư dân ta, chúng vu khống Quân đội không thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc,… Gần đây, Quân đội ta thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, diễn tập quân sự, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, chúng tung tin vu khống Quân đội diễn tập để cướp đất của dân, đàn áp nhân dân, làm mất quyền tự do dân chủ của nhân dân,... Chúng còn kêu gọi Quân đội phải “nhận thức đúng đắn” về mục tiêu hành động là: vì nhân dân, vì dân tộc, chứ “không vì bảo vệ lợi ích của một đảng độc quyền”(?) Lợi dụng một số cán bộ, đảng viên trong Quân đội có những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội…, chúng tìm cách nói xấu, hòng gây chia rẽ nội bộ, làm phai nhạt bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta.

Có thể khẳng định rằng, âm mưu, thủ đoạn “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH của các thế lực thù địch nhằm vào Quân đội là rất thâm độc, xảo quyệt, được tiến hành với tần suất ngày càng tăng. Mục tiêu cuối cùng của chúng là nhằm “phi chính trị hóa” quân đội, tiến tới xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng ta đối với Nhà nước và xã hội, lái Việt Nam đi sang con đường lệ thuộc vào mục đích của chúng. Với tinh thần cảnh giác cách mạng cao độ, bản lĩnh chính trị vững vàng; luôn chú trọng kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, giữa đấu tranh với nâng cao chất lượng tổng hợp, trước hết là chất lượng về chính trị, Quân đội đã chủ động, tích cực tiến công và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội được giữ vững, bảo đảm cho Quân đội luôn là lực lượng chiến đấu, lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước, gắn bó máu thịt với nhân dân, kiên định với đường lối đổi mới của Đảng và mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Quân đội là một lực lượng nòng cốt, đi đầu cùng toàn Đảng, toàn dân tích cực, chủ động đấu tranh, phòng, chống, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH của các thế lực thù địch. Tuy vậy, trong Quân đội vẫn còn một số CB,CS có những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, làm ảnh hưởng đến bản chất, truyền thống tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”, như: chưa nắm vững thực chất tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; còn băn khoăn, lo lắng, thiếu niềm tin vào hiệu quả của việc thực hiện các nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước; còn có thái độ thờ ơ, vô cảm trước những hành vi vi phạm pháp luật, suy đồi về đạo đức, lối sống. Những biểu hiện trên, nếu không được khắc phục, sẽ là mảnh đất tốt để các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện chiến lược “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH nhằm vào Quân đội ta.

Hiện nay, nhiệm vụ xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH, hội nhập quốc tế đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao. Để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ, Quân đội phải không ngừng nâng cao chất lượng chính trị, làm cơ sở để xây dựng vững mạnh về mọi mặt. Muốn làm được điều đó, cần phải tiến hành đồng bộ nhiều nội dung, biện pháp; trong đó, đẩy mạnh đấu tranh trên lĩnh vực TT,VH là vấn đề cơ bản, cấp bách nhất.

Trước hết, phải nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chính ủy (chính trị viên), người chỉ huy và cơ quan chức năng các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức đấu tranh chống “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH. 

Nhiệm vụ này là trách nhiệm của các tổ chức đảng và mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là của cấp ủy, chính ủy (chính trị viên), người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn không ít cấp ủy, người chỉ huy, nhất là cấp cơ sở nhận thức chưa đầy đủ, cho rằng đấu tranh chống “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH là trách nhiệm của Trung ương, của các học viện, nhà trường, các viện nghiên cứu, cơ quan báo chí...; do đó, chưa thật sự coi trọng công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức phòng, chống “DBHB”. Có nơi, hoạt động của Ban Chỉ đạo phòng, chống “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH còn mang tính hình thức, thậm chí giao khoán cho cơ quan chính trị. Để khắc phục tình trạng đó, cấp ủy các cấp cần tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện Chỉ thị 34-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH”; đồng thời, rà soát, kiện toàn, xây dựng quy chế, quy định và duy trì có nền nếp chế độ hoạt động của Ban Chỉ đạo. Theo đó, các Đảng ủy trực thuộc Quân ủy Trung ương thành lập Ban Chỉ đạo của cấp ủy, Trưởng Ban là đồng chí Bí thư Đảng ủy; các cấp ủy còn lại, đồng chí Bí thư cấp ủy trực tiếp chỉ đạo. Hằng năm, Ban Chỉ đạo xây dựng nội dung, chương trình hoạt động; cấp ủy xây dựng kế hoạch đấu tranh chống “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH ở cấp mình, đề ra những chủ trương, biện pháp sát với đặc điểm, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị. Đồng thời, phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của cán bộ, đảng viên, của mọi cấp, mọi ngành; thường xuyên đổi mới hình thức, phương pháp đấu tranh, mang lại hiệu quả thiết thực. Mặt khác, phải tăng cường công tác kiểm tra, sơ kết, rút kinh nghiệm, kịp thời khắc phục những khâu yếu, mặt yếu trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện ở các đơn vị.

Hai là, làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền, xây dựng ý chí chiến đấu, tinh thần cảnh giác cách mạng cho bộ đội. Giáo dục chính trị, tư tưởng là hoạt động rất quan trọng của công tác tư tưởng, có ý nghĩa to lớn đối với việc nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội nói chung, đối với CB,CS trong phòng, chống chiến lược “DBHB” nói riêng. Cấp ủy, tổ chức đảng các đơn vị cần tiếp tục quan tâm lãnh đạo, làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền làm cho CB,CS, đảng viên, quần chúng hiểu rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH của các thế lực thù địch. Nội dung giáo dục, tuyên truyền, phải tập trung làm rõ tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Trong đó, cần chú trọng những vấn đề mang tính nguyên tắc, nhạy cảm; đẩy mạnh đấu tranh phê phán, bác bỏ những quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch. Đồng thời, trang bị cho bộ đội những kiến thức cơ bản về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội cũng như các vấn đề khác do cuộc sống đặt ra; tăng cường giáo dục về lịch sử, truyền thống của dân tộc, Quân đội và đơn vị, các giá trị chuẩn mực đạo đức cách mạng, thang giá trị đạo đức về “chân, thiện, mỹ”, kỹ năng giao tiếp, ứng xử,… Trong quá trình tiến hành, cấp ủy các đơn vị cần vận dụng sáng tạo các hình thức, biện pháp giáo dục; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục cơ bản với giáo dục thường xuyên; nâng cao chất lượng sinh hoạt chính trị, tư tưởng, thực hiện có nền nếp, chất lượng Ngày chính trị - văn hoá - tinh thần; thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở. Các đơn vị cần duy trì chặt chẽ các chế độ: thông báo chính trị, thời sự, đọc báo, nghe đài, xem truyền hình; tổ chức tốt các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao; thực hiện có chất lượng Ngày Đảng, Ngày Pháp luật; đổi mới hoạt động quản lý, nắm và giải quyết tư tưởng với mọi quân nhân tại đơn vị.

Ba là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, là biện pháp cơ bản để Quân đội đấu tranh có hiệu quả chiến lược “DBHB” của các thế lực thù địch và phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Do vậy, các cấp cần phải giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội; đồng thời, tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 51-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) và Nghị quyết 513-NQ/ĐUQSTW của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) “Về tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy, gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”. Với phương châm gắn chặt giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là chính, cấp ủy các cấp cần tập trung lãnh đạo xây dựng nội bộ từng đơn vị vững mạnh về mọi mặt; trong đó, chú trọng gắn xây dựng đội ngũ đảng viên với xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng cấp ủy với xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì, tạo nền tảng vững chắc trong đấu tranh phòng, chống “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH. Cùng với đó, các đơn vị cần chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh có hiệu quả với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham ô, tham nhũng, cửa quyền…, tăng cường công tác bảo vệ nội bộ, không để xảy ra hiện tượng cán bộ, đảng viên và quần chúng trong cơ quan, đơn vị bị kẻ địch lôi kéo, móc nối; kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn những quan điểm, tư tưởng sai trái thẩm lậu vào đơn vị. Một trong những vấn đề quan trọng hiện nay là, cấp ủy các cấp cần gắn giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng đạo đức cách mạng với thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, trọng tâm là khắc phục những hạn chế, khuyết điểm về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, công tác cán bộ. Đồng thời, thực hiện nghiêm túc các quy chế, quy định về quản lý nội bộ, quản lý tài liệu và bảo vệ chính trị nội bộ; không để các ấn phẩm văn hoá độc hại, tài liệu phản động thẩm lậu vào đơn vị; quản lý chặt chẽ thông tin qua mạng in-tơ-nét, điện thoại di động, không để CB,CS bị tác động bởi những diễn đàn xấu độc.

Bốn là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, phương tiện truyền thông, lực lượng đấu tranh chuyên sâu và hệ thống thiết chế văn hóa. Các viện nghiên cứu, học viện, nhà trường, các cơ quan chức năng, đội ngũ các nhà khoa học trong Quân đội cần triển khai các đề tài, công trình nghiên cứu lý luận, nhất là những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường đi lên CNXH ở nước ta, về sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội,... Thường xuyên bám sát đời sống mọi mặt tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, chủ động dự báo sự vận động trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, những khuynh hướng, tình huống có thể xảy ra đối với sự phát triển của đất nước. Trong đó, dự báo nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị trong nội bộ là việc làm rất quan trọng. Việc nghiên cứu, dự báo cần được thực hiện ở các quy mô khác nhau, ở nhiều loại hình cơ quan, đơn vị; qua đó, đề xuất với lãnh đạo, chỉ huy những biện pháp phòng, chống, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “DBHB” của các thế lực thù địch. Các đơn vị cần coi trọng việc sơ kết, tổng kết, đánh giá, rút ra những bài học kinh nghiệm trong đấu tranh trên lĩnh vực TT,VH. Đồng thời, phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, xuất bản, phương tiện truyền thông, các đơn vị nghệ thuật Quân đội trong đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch; tạo ra nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về đề tài chiến tranh cách mạng, về lực lượng vũ trang,... có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao. Toàn quân cần tiếp tục củng cố và nhân rộng lực lượng đấu tranh trên mạng; coi trọng những người có bản lĩnh chính trị, trình độ lý luận, chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, có khả năng diễn đạt và dũng khí, quyết tâm đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước. Bên cạnh đó, cần thường xuyên quan tâm nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, trình độ lý luận và chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ các nhà khoa học xã hội và nhân văn quân sự của các học viện, nhà trường, cơ sở nghiên cứu và các phóng viên, biên tập viên ở các cơ quan báo chí quân đội. Đồng thời, quan tâm đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất, có cơ chế, chính sách bảo vệ, khen thưởng phù hợp đối với những lực lượng làm nhiệm vụ trực tiếp đấu tranh chống “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH; phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, tạo sự liên kết, phối hợp, hỗ trợ chặt chẽ, hiệu quả; khắc phục tình trạng “mạnh ai nấy làm” hoặc phối hợp, hiệp đồng mang tính “thời vụ”. Các đơn vị phải thường xuyên quan tâm chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho CB,CS; phát huy có hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa, tạo môi trường văn hóa quân sự trong sạch, lành mạnh trong từng cơ quan, đơn vị.

Thực hiện tốt các giải pháp trên đây là bảo đảm quan trọng để đấu tranh có hiệu quả với chiến lược “DBHB” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực TT,VH, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

          T3.

 

Quan điểm về tính hiện thực, nhân sinh của nền nghệ thuật Xã hội chủ nghĩa

 Theo quan điểm của C.Mác, nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo đặc thù của con người nhưng không phải vì thế mà xa rời hiện thực. Tính hiện thực ở đây là nghệ thuật phục vụ ai? Phục vụ quần chúng nhân dân hay là sản phẩm chỉ dành riêng cho tầng lớp quý tộc và giàu có? Thái độ coi thường thị hiếu nghệ thuật của những tầng lớp được coi là “tầng lớp thấp” trong xã hội đã bộc lộ chân tướng đặc quyền nghệ thuật của giai cấp phong kiến và tư sản. Nghệ thuật ban đầu có thể là để “mua vui” (Nguyễn Du) nhưng không thể không phản ánh nỗi thống khổ và bị chèn ép của nhân dân lao động dưới ách áp bức của giai cấp phong kiến cũng như giai cấp tư sản. Chính vì vậy, quan điểm của chủ nghĩa Mác khẳng định rằng, nghệ thuật không chỉ mang tính dân tộc, tính giai cấp mà còn mang tính nhân dân. Nghệ thuật phản ánh tinh thần của thời đại nhưng không phải để phô trương vẻ hào nhoáng và diêm dúa của tầng lớp quý tộc, thói hợm hĩnh của giai cấp tư sản mà là liều thuốc, là món ăn tinh thần cho đa số tầng lớp dân cư trong cộng đồng, quốc gia, dân tộc.

Các quan điểm về mỹ học nói chung và nghệ thuật nói riêng trước C.Mác đã có những đóng góp quan trọng trong việc phân tích nguồn gốc và bản chất nghệ thuật nhưng không tránh khỏi những hạn chế khi đưa nghệ thuật vào “tháp ngà” của nó và trở thành sở hữu của tầng lớp giàu có và quyền lực. Cách nhìn duy tâm và siêu hình đã phủ nhận vai trò chủ thể sáng tạo của con người và chia cắt vai trò to lớn của nghệ thuật đối với đời sống xã hội. Với C.Mác, nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội đặc thù phản ánh tồn tại xã hội nhưng thông qua các hình tượng nghệ thuật. Sự vận động của xã hội (suy thoái hay tiến bộ) có thể được nhìn thấy thông qua các nhân vật trong tác phẩm nghệ thuật. Tuy nhiên, các hình tượng nghệ thuật không thể đại diện cho một số ít nào đó mà phản ảnh tâm tư, nguyện vọng cho cả một cộng đồng, dân tộc, cao hơn là diện mạo của một thời đại. Tư tưởng của C.Mác không chỉ khẳng định sức mạnh chủ thể to lớn của quần chúng nhân dân trong việc sáng tạo ra nghệ thuật mà còn nêu lên sự tác động to lớn của nghệ thuật đối với đời sống xã hội. Bằng chứng hùng hồn đó là sự ra đời của nền nghệ thuật hiện thực XHCN của hệ thống các nước XHCN do Liên Xô đứng đầu. Những thành tựu nghệ thuật rực rỡ ấy là không thể chối cãi, phủ nhận cho dù mô hình CNXH tại Liên Xô và Đông Âu bị tan rã cùng với sự xuyên tạc, phủ định của các thế lực thù địch về nền nghệ thuật hiện thực XHCN trong lịch sử.

Ở Việt Nam, nền nghệ thuật hiện thực XHCN đã có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Những tác phẩm nghệ thuật đó không chỉ có sức tác động mạnh mẽ đến quá trình đấu tranh giành độc lập, thống nhất, mà còn thỏa mãn nhu cầu, thị hiếu của đại bộ phận người dân. Các tầng lớp nhân dân đều tìm thấy chính mình trong các tác phẩm. Số phận và diện mạo của người dân được thời đại khẳng định trong tác phẩm nghệ thuật Việt Nam là một minh chứng cho bản chất của nền nghệ thuật hiện thực XHCN. Đó chính là đặc điểm, là sự ưu việt và nhân bản mà những người mácxít đã đóng góp cho nghệ thuật nhân loại.

Việc khẳng định chân lý “nghệ thuật thuộc về nhân dân” không đồng nghĩa với cách hiểu ai cũng có thể là một nghệ sĩ. Năng lực thơ ca, âm nhạc, hội họa, văn chương đều tiềm ẩn trong mỗi con người nhưng không phải ai cũng có thể trở thành nghệ sĩ, nghệ nhân. Sự ngộ nhận này, nếu được cổ súy sẽ dẫn đến tình trạng tầm thường hóa nghệ thuật, tạo ra ảo tưởng cho một số nghệ sĩ “nửa vời”, đồng thời tạo ra thái độ thiếu tôn vinh, trân trọng đối với những nghệ sĩ hoạt động nghệ thuật chân chính. C.Mác từng cho rằng, nghệ thuật thuộc về nhân dân nhưng đó là một quá trình đào luyện các giác quan của con người, trong đó, tai và mắt có vai trò vô cùng to lớn trong sáng tạo nghệ thuật. Theo ông, “lịch sử con người là lịch sử đào luyện ngũ quan”. Ngũ quan lại là cơ sở cho nghệ thuật. Việc sắp xếp các loại hình nghệ thuật như: nghệ thuật thị giác, nghệ thuật thính giác, nghệ thuật ngôn từ... đã nói lên điều đó. C.Mác cho rằng, quá trình phát triển các giác quan đã tạo ra sự phân công lao động xã hội trong nghệ thuật, hình thành đội ngũ văn nghệ sỹ - chủ thể sáng tạo ra các tác phẩm nghệ thuật phục vụ nhân dân.

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, phương tiện truyền thông, lực lượng đấu tranh chuyên sâu và hệ thống thiết chế văn hóa.

 


Các viện nghiên cứu, học viện, nhà trường, các cơ quan chức năng, đội ngũ các nhà khoa học trong Quân đội cần triển khai các đề tài, công trình nghiên cứu lý luận, nhất là những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường đi lên CNXH ở nước ta, về sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội,... Thường xuyên bám sát đời sống mọi mặt tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, chủ động dự báo sự vận động trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, những khuynh hướng, tình huống có thể xảy ra đối với sự phát triển của đất nước. Trong đó, dự báo nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị trong nội bộ là việc làm rất quan trọng. Việc nghiên cứu, dự báo cần được thực hiện ở các quy mô khác nhau, ở nhiều loại hình cơ quan, đơn vị; qua đó, đề xuất với lãnh đạo, chỉ huy những biện pháp phòng, chống, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “DBHB” của các thế lực thù địch. Các đơn vị cần coi trọng việc sơ kết, tổng kết, đánh giá, rút ra những bài học kinh nghiệm trong đấu tranh trên lĩnh vực TT,VH. Đồng thời, phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, xuất bản, phương tiện truyền thông, các đơn vị nghệ thuật Quân đội trong đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch; tạo ra nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về đề tài chiến tranh cách mạng, về lực lượng vũ trang,... có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao. Toàn quân cần tiếp tục củng cố và nhân rộng lực lượng đấu tranh trên mạng; coi trọng những người có bản lĩnh chính trị, trình độ lý luận, chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, có khả năng diễn đạt và dũng khí, quyết tâm đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước. Bên cạnh đó, cần thường xuyên quan tâm nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, trình độ lý luận và chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ các nhà khoa học xã hội và nhân văn quân sự của các học viện, nhà trường, cơ sở nghiên cứu và các phóng viên, biên tập viên ở các cơ quan báo chí quân đội. Đồng thời, quan tâm đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất, có cơ chế, chính sách bảo vệ, khen thưởng phù hợp đối với những lực lượng làm nhiệm vụ trực tiếp đấu tranh chống “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH; phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, tạo sự liên kết, phối hợp, hỗ trợ chặt chẽ, hiệu quả; khắc phục tình trạng “mạnh ai nấy làm” hoặc phối hợp, hiệp đồng mang tính “thời vụ”. Các đơn vị phải thường xuyên quan tâm chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho CB,CS; phát huy có hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa, tạo môi trường văn hóa quân sự trong sạch, lành mạnh trong từng cơ quan, đơn vị.

          T3.

 

Làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền, xây dựng ý chí chiến đấu, tinh thần cảnh giác cách mạng cho bộ đội.

 


Giáo dục chính trị, tư tưởng là hoạt động rất quan trọng của công tác tư tưởng, có ý nghĩa to lớn đối với việc nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội nói chung, đối với CB,CS trong phòng, chống chiến lược “DBHB” nói riêng. Cấp ủy, tổ chức đảng các đơn vị cần tiếp tục quan tâm lãnh đạo, làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền làm cho CB,CS, đảng viên, quần chúng hiểu rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH của các thế lực thù địch. Nội dung giáo dục, tuyên truyền, phải tập trung làm rõ tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Trong đó, cần chú trọng những vấn đề mang tính nguyên tắc, nhạy cảm; đẩy mạnh đấu tranh phê phán, bác bỏ những quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch. Đồng thời, trang bị cho bộ đội những kiến thức cơ bản về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội cũng như các vấn đề khác do cuộc sống đặt ra; tăng cường giáo dục về lịch sử, truyền thống của dân tộc, Quân đội và đơn vị, các giá trị chuẩn mực đạo đức cách mạng, thang giá trị đạo đức về “chân, thiện, mỹ”, kỹ năng giao tiếp, ứng xử,… Trong quá trình tiến hành, cấp ủy các đơn vị cần vận dụng sáng tạo các hình thức, biện pháp giáo dục; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục cơ bản với giáo dục thường xuyên; nâng cao chất lượng sinh hoạt chính trị, tư tưởng, thực hiện có nền nếp, chất lượng Ngày chính trị - văn hoá - tinh thần; thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở. Các đơn vị cần duy trì chặt chẽ các chế độ: thông báo chính trị, thời sự, đọc báo, nghe đài, xem truyền hình; tổ chức tốt các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao; thực hiện có chất lượng Ngày Đảng, Ngày Pháp luật; đổi mới hoạt động quản lý, nắm và giải quyết tư tưởng với mọi quân nhân tại đơn vị.

          T3.

 

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chính ủy (chính trị viên), người chỉ huy và cơ quan chức năng các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức đấu tranh chống “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH.

 


Nhiệm vụ này là trách nhiệm của các tổ chức đảng và mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là của cấp ủy, chính ủy (chính trị viên), người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn không ít cấp ủy, người chỉ huy, nhất là cấp cơ sở nhận thức chưa đầy đủ, cho rằng đấu tranh chống “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH là trách nhiệm của Trung ương, của các học viện, nhà trường, các viện nghiên cứu, cơ quan báo chí...; do đó, chưa thật sự coi trọng công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức phòng, chống “DBHB”. Có nơi, hoạt động của Ban Chỉ đạo phòng, chống “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH còn mang tính hình thức, thậm chí giao khoán cho cơ quan chính trị. Để khắc phục tình trạng đó, cấp ủy các cấp cần tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện Chỉ thị 34-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH”; đồng thời, rà soát, kiện toàn, xây dựng quy chế, quy định và duy trì có nền nếp chế độ hoạt động của Ban Chỉ đạo. Theo đó, các Đảng ủy trực thuộc Quân ủy Trung ương thành lập Ban Chỉ đạo của cấp ủy, Trưởng Ban là đồng chí Bí thư Đảng ủy; các cấp ủy còn lại, đồng chí Bí thư cấp ủy trực tiếp chỉ đạo. Hằng năm, Ban Chỉ đạo xây dựng nội dung, chương trình hoạt động; cấp ủy xây dựng kế hoạch đấu tranh chống “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH ở cấp mình, đề ra những chủ trương, biện pháp sát với đặc điểm, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị. Đồng thời, phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của cán bộ, đảng viên, của mọi cấp, mọi ngành; thường xuyên đổi mới hình thức, phương pháp đấu tranh, mang lại hiệu quả thiết thực. Mặt khác, phải tăng cường công tác kiểm tra, sơ kết, rút kinh nghiệm, kịp thời khắc phục những khâu yếu, mặt yếu trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện ở các đơn vị.

          T3.

 

Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và tiếp thu ý kiến phản biện của nhân dân

 


Gần đây trên trang mạng xã hội có bài viết với tiêu đề hết sức mỉa mai “Xin chúc mừng vì sự thành công!” của Đoàn Bảo Châu trên baotiengdan. Thực chất bài viết của y là lợi dụng một số phần tử do đã có những hành vi vi phạm pháp luật và phát ngôn không đúng sự thật, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Việt Nam đã bị xử lý để tuyên truyền cho cái gọi là “đàn áp các ý kiến phản biện”. Lố bịch hơn, y còn đổ lỗi cho nhà cầm quyền Việt Nam không biết lắng nghe “tư tưởng, ý kiến trái chiều để học hỏi và phát triển”.

Vậy sự thật có đúng như lời vu khống của Đoàn Bảo Châu hay không. Hiển nhiên một điều chắc chắn rằng mọi người dân Việt Nam và kiều bào ở nước ngoài đều nhận thức rất rõ:

1. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn khuyến khích, coi trọng, tiếp thu các ý kiến phản biện, hiến kế xây dựng chủ trương, đường lối lãnh đạo

Không như lời vu khống, xuyên tạc của Đoàn Bảo Châu, Đảng ta nhất quán chủ trương tạo môi trường cho ý kiến, phản biện của nhân dân, các tổ chức chính trị – xã hội, đóng góp, phê bình, kiến nghị với Đảng và Nhà nước về các vấn đề quốc kế dân sinh, mở rộng dân chủ và tạo ra sự đồng thuận cao trong xã hội. Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay luôn coi trọng ý kiến đóng góp của các tầng lớp nhân dân đối với đường lối, chính sách. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X chỉ rõ: “Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân”.

Mọi ý kiến, phản biện của nhân dân với Đảng, Nhà nước đều được ghi nhận thông qua vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, người đại diện cho quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân. Mặt trận Tổ quốc luôn đối thoại, lắng nghe và tiếp thu ý kiến của nhân dân để phản ánh với các cơ quan Đảng, Nhà nước ở Trung ương cũng như các địa phương. Tuy nhiên, những ý kiến phản biện đi ngược lại đường lối của Đảng, lợi ích dân tộc và nhân dân, núp bóng “dân chủ@ để “ký sinh” tư tưởng chống đối, sẽ bị loại bỏ.

Đoàn Bảo Châu rất lươn lẹo khi dựa vào một số phần tử xã hội vi phạm pháp luật để xuyên tạc và vu khống Đảng, Nhà nước Việt Nam đàn áp ý kiến phản biện. Y đã không biết rằng, để tôn trọng và thực hiện quyền góp ý, phản biện của nhân dân, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị về lấy ý kiến phản biện. Điển hình như Quyết định số 217 về Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội; Quyết định 218 quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền…

2. Đảng và Nhà nước luôn tạo môi trường thuận lợi cho sự tham gia ý kiến và phản biện của nhân dân

Trên thực tế, từ Trung ương đến địa phương đã tạo môi trường dân chủ trong tiếp thu ý kiến phản biện của các tầng lớp nhân dân đóng góp xây dựng các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, đóng góp ý kiến về những vấn đề quốc kế dân sinh…

Để tiếp nhận ý kiến phản biện của nhân dân nhanh chóng và kịp thời, các ban ngành ở Trung ương, địa phương đã mở các Fanpage “Cổng tiếp nhận ý kiến nhân dân” trên mạng xã hội Facebook và tài khoản “Cổng tiếp nhận ý kiến nhân dân” trên mạng xã hội VCNET… Ngoài ra, việc tiếp thu các ý kiến phản biện từ người dân và các tầng lớp xã hội còn được thực hiện thông qua nhiều kênh tiếp xúc, trao đổi, giải quyết đơn thư, hội nghị lấy ý kiến cử tri, các phương tiện truyền thông, thăm dò dư luận xã hội, các diễn đàn đối thoại…

Những chủ trương và hành động cụ thể của Đảng, Nhà nước ta về tiếp thu ý kiến phản biện từ nhân dân là minh chứng để chúng ta phản bác lại những luận điệu vu khống, xuyên tạc của Đoàn Bảo Châu. Chúng ta cần cảnh giác và lên án mạnh mẽ những lời vu cáo vô căn cứ trên, góp phần giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và bảo vệ Tổ quốc của Nhân dân ta./.

T3.

 

Chủ động phòng ngừa, không để các thế lực thù địch âm mưu “diễn biến hòa bình”.

 

  

Trong thời gian qua, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để tuyên truyền những thông tin không đúng sự thật nhằm bôi nhọ, hạ uy tín của Đảng, Nhà nước ta. Âm mưu của chúng không mới, nhưng những phương thức, thủ đoạn thì ngày càng tinh vi hơn. Vì vậy, chủ động phòng ngừa, đập tan những âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước ta luôn là nhiệm vụ cấp thiết hiện nay của toàn bộ hệ thống chính trị, của mỗi cán bộ, đảng viên và của mọi công dân.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và công nghệ thông tin, mạng xã hội phát triển ngày càng mạnh mẽ, các thế lực thù địch tăng cường móc nối, cấu kết với những phần tử cơ hội chính trị, ra sức xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ nhận mục tiêu, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Chúng tung ra nhiều luận điệu xuyên tạc hết sức tinh vi, xảo trá theo kiểu “mưa dầm thấm lâu” hòng làm chao đảo, lung lay nhận thức, tư tưởng, niềm tin của quần chúng nhân dân vào Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo của Đảng ta.

Để áp dụng chiêu thức này hiệu quả, chúng tìm mọi cách tiếp cận, móc nối, lôi kéo, kích động, tiếp sức cho những phần tử thoái hóa, biến chất, bất mãn với chế độ... để làm công cụ, tay sai, phủ nhận thành quả cách mạng, phóng đại những khuyết điểm, yếu kém, nhằm tạo ra những bức xúc trong dư luận, những điểm nóng trong xã hội. Chúng coi những phần tử thoái hóa, biến chất “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là lực lượng nòng cốt, đi đầu để chuyển hóa chế độ chính trị ở nước ta.

Cùng với phủ nhận lịch sử truyền thống dân tộc, phủ nhận thành quả cách mạng, chúng triệt để lợi dụng chiêu bài xuyên tạc, bôi nhọ lãnh tụ của Đảng, Nhà nước ta. Nhất là vào dịp đất nước ta tổ chức các sự kiện, ngày lễ lớn, chiêu trò này được chúng sử dụng càng nhiều. Đối với cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay, mặc dù kết quả chống tham nhũng thời gian qua đã đạt được những kết quả rất quan trọng, nhưng các thế lực thù địch luôn xuyên tạc rằng: “Đảng Cộng sản không thể chống tham nhũng thành công” vì chế độ độc đảng cầm quyền sẽ thủ tiêu đấu tranh... Muốn chống tham nhũng thành công thì phải bằng cách thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập... Những chủ trương, chính sách và các thành quả quan trọng mà chúng ta đã đạt được trên mặt trận đối ngoại cũng bị chúng xuyên tạc hòng chia rẽ mối quan hệ giữa nước ta với các nước và các tổ chức quốc tế, làm giảm vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

Có thể thấy, các thế lực thù địch không từ bất cứ âm mưu, thủ đoạn nào nhằm chống phá Đảng, cách mạng Việt Nam trên mọi lĩnh vực. Trước tình hình ấy, Ðảng ta đã xác định đấu tranh, phản bác có hiệu quả với luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên của toàn bộ hệ thống chính trị, của mỗi cán bộ, đảng viên và của mọi công dân. Chúng ta phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó, tính chủ động cần được đặt lên hàng đầu.

Tính chủ động trước hết phải xuất phát từ trong nhận thức. Hiện nay, một số lượng rất lớn các trang mạng xã hội của nhiều tổ chức, hội nhóm phản động lưu vong được chúng huy động để tuyên truyền bóp méo, xuyên tạc tình hình nhằm chống phá Việt Nam. Từ thực tế ấy, vấn đề đặt ra là chúng ta phải chủ động đẩy mạnh tuyên truyền để nhân dân hiểu rõ những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Chỉ khi nào nhận thức rõ những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; tính chất nguy hiểm, phức tạp của cuộc đấu tranh thì mọi người dân mới đề cao cảnh giác, không bị động, lúng túng trước những luận điệu và âm mưu, thủ đoạn chống phá; ý thức rõ trách nhiệm xây dựng thế trận chủ động đấu tranh.

Sự chủ động của các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị trong đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái, thù địch cũng giữ một vai trò rất quan trọng. Tính chất phức tạp, cam go và quyết liệt của cuộc đấu tranh đòi hỏi phải huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị. Cùng với đó là sự chủ động của các cơ quan chức năng trong công tác theo dõi, thanh tra, kiểm tra, định hướng với các tổ chức, cá nhân hoạt động trong những lĩnh vực nhạy cảm dễ bị móc nối, lôi kéo, để họ không tiếp tay cho kẻ xấu, không mắc mưu các thế lực thù địch.

Chủ động đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục của các tổ chức, đoàn thể là rất cần thiết, nhưng quan trọng và quyết định hơn vẫn là sự chủ động trong rèn luyện bản lĩnh chính trị, tích cực học tập nâng cao trình độ, tu dưỡng phẩm chất đạo đức của mỗi cá nhân. Bởi, đó chính là yếu tố cơ sở nền tảng để mỗi cán bộ, đảng viên và từng người dân chủ động, tích cực, tự giác tham gia có hiệu quả vào cuộc đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái, thù địch vốn ngày càng phức tạp, khó khăn, lâu dài và cam go.

          T3.

Xuyên tạc chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại - điều không thể chấp nhận

 


Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại là nội dung quan trọng, tiếp theo trong chiến lược xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Điều này được nêu rõ trong các nghị quyết của Đảng, trong Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc,... được thể chế hóa trong chính sách, pháp luật của Nhà nước và được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nỗ lực thực hiện. Hiện nay, trước sự biến đổi nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo trên tất cả các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực quốc phòng, an ninh, thì vấn đề xây dựng Quân đội hiện đại càng trở nên quan trọng và bức thiết, mang tính chiến lược cơ bản, lâu dài. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Xây dựng Quân đội nhân dân, …. tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”1.

Đây là chủ trương đúng đắn, phù hợp và cần thiết, phản ánh sâu sắc tư duy mới của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc và xây dựng Quân đội. Nhưng với dã tâm phá hoại sự nghiệp xây dựng Quân đội, các thế lực thù địch dùng mọi thủ đoạn xuyên tạc, công kích chủ trương đúng đắn ấy bằng các luận điệu: “muốn hiện đại hóa quân đội, thì trước hết phải đổi mới xây dựng quân đội”; rằng, phải nghiên cứu, thực hiện xây dựng theo “mô hình quân đội của phương Tây”. Họ còn “khuyên nhủ”, để hiện đại hóa quân đội, nên liên minh, liên kết với cường quốc có nhiều vũ khí, trang bị hiện đại và đang “mong muốn giúp đỡ” Việt Nam. Thâm hiểm hơn, chúng còn rắp tâm quy kết: Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh, xây dựng quân đội hiện đại là “cuốn theo cuộc chạy đua vũ trang”, là “khơi mào cho một cuộc chạy đua vũ trang mới trong khu vực” và để “chống lại một nước thứ ba”; xuyên tạc rằng “Việt Nam đang chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh mới”, làm cho tình hình khu vực và Biển Đông trở nên phức tạp và “nóng” hơn, nhằm phá hoại mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với một số nước trong khu vực. Để chống phá, các thế lực thù địch tấn công trực diện, công khai, liên tục với cường độ mạnh bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt; họ triệt để lợi dụng các phương tiện truyền thông, đặc biệt là mạng xã hội để phát tán những thông tin, tài liệu, luận điệu xuyên tạc, công kích trắng trợn và kêu gọi, lôi kéo sự phụ họa của những phần tử cơ hội chính trị, bất mãn tham gia chống phá chủ trương xây dựng Quân đội hiện đại của Đảng, Nhà nước ta.

Những thủ đoạn đó đặc biệt nguy hiểm, tác động tiêu cực đến quá trình hiện đại hóa và sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân trong thời kỳ mới. Bởi, nó gây nhiễu, kìm hãm và cản trở sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; tạo bất lợi cho nước ta trong quan hệ quốc tế và đối ngoại quân sự, quốc phòng, nhất là với các nước lớn, các nước trong khu vực, cũng như bảo đảm hòa bình cho ổn định và phát triển đất nước. Họ cũng toan tính rằng, nếu chưa thể làm chệch hướng quá trình hiện đại hóa Quân đội Việt Nam, thì thủ đoạn đó cũng dễ tạo nên mối nghi ngờ, tâm lý hoang mang nhất định, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào đường lối quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và phương hướng xây dựng Quân đội hiện đại của Đảng, Nhà nước ta; từ đó tin và mong muốn xây dựng quân đội theo mô hình phương Tây; khơi dậy sự “mong ngóng” trong xã hội về sự liên kết, hỗ trợ, “giúp đỡ” của cường quốc để hiện đại hóa quân đội.

Chúng ta đều biết, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng quân đội vững mạnh là đòi hỏi tất yếu đối với mỗi quốc gia; việc hiện đại hóa cũng là yêu cầu cần thiết đối với bất cứ lực lượng vũ trang, quân đội của quốc gia nào. Đó là sự thật hiển nhiên mà không có tổ chức và quốc gia nào phủ nhận. Theo đó, mỗi nước, căn cứ vào đặc điểm, tình hình, điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể; tính chất, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang nước mình mà thực hiện hiện đại hóa, trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật cho phù hợp với khả năng của mình. Trong bối cảnh hiện nay, tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, tranh chấp biên giới, lãnh thổ, chủ quyền biển đảo,… diễn ra ở nhiều nơi với tính chất ngày càng phức tạp, thì vấn đề xây dựng và hiện đại hóa quân đội để tự vệ chính nghĩa, bảo vệ hòa bình lại càng trở nên quan trọng và bức thiết hơn bao giờ hết. Như vậy, việc Đảng, Nhà nước ta chủ trương xây dựng Quân đội hiện đại, ưu tiên một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại là tất yếu. Chủ trương này tuyệt nhiên không phải là “chưa cần thiết”, “không phù hợp”, ảnh hưởng tiêu cực đến “đời sống của nhân dân” như sự công kích của các thế lực thù địch. Thậm chí, đây còn là chủ trương cho thấy rõ tầm quan trọng mang tính chiến lược của việc xây dựng Quân đội hiện đại trong bối cảnh mới; đồng thời, khẳng định Việt Nam đã có đủ điều kiện, khả năng và sự đồng thuận, sự mong muốn của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong xây dựng Quân đội hiện đại.

Mặt khác, sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng với sự xuất hiện của các hình thái chiến tranh hiện đại và phương thức tác chiến mới đã và đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; nhất là bảo vệ chủ quyền biển, đảo, bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, v.v. Những vấn đề đó đòi hỏi chúng ta phải đẩy nhanh lộ trình hiện đại hóa Quân đội, tập trung xây dựng một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh”. Đây là vấn đề được Đảng, Nhà nước ta xác định là một nội dung quan trọng trong phương hướng xây dựng Quân đội. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 35 năm đổi mới, cùng những kết quả bước đầu đạt được từ quá trình hiện đại hóa Quân đội thời gian qua bảo đảm cho chúng ta những điều kiện cần và đủ để xây dựng Quân đội hiện đại như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định. Chủ trương đó cũng chỉ rõ, bên cạnh việc phát huy, nâng cao hiệu quả vũ khí, trang bị hiện có, cần phải có vũ khí, trang bị kỹ thuật mới, hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội đất nước.

Bên cạnh đó, tăng cường sức mạnh quốc phòng, hiện đại hóa Quân đội là nhằm chủ động giữ vững hòa bình, ổn định, ngăn ngừa mọi nguy cơ xung đột, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, không để đất nước xảy ra chiến tranh. Đồng thời, bảo đảm cho Quân đội có đủ sức mạnh, sẵn sàng đánh thắng mọi cuộc chiến tranh xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống. Đó là mục đích tự vệ, thể hiện tính chất hòa bình, chính nghĩa, độc lập, tự chủ, không liên kết trong chủ trương xây dựng Quân đội hiện đại, không phải là “khơi mào” cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực, để “chống lại một nước thứ ba” nào đó, làm cho tình hình trở nên phức tạp và “nóng” hơn như sự xuyên tạc xảo trá theo kiểu “gắp lửa bỏ tay người” của các thế lực thù địch.

Hiện nay, không ít phần tử tuy bày tỏ sự “ủng hộ” chủ trương hiện đại hóa quân đội của Đảng và Nhà nước ta, song lại hướng lái quân đội chỉ trung thành với Tổ quốc, không chịu sự lãnh đạo của Đảng; rằng, chỉ cần trang bị vũ khí hiện đại thì quân đội ắt sẽ mạnh lên, khiến các nước khác phải e dè, v.v. Đây là thủ đoạn rất tinh vi, nham hiểm, hòng che đậy mưu đồ “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, làm cho Quân đội ta mất phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu để dễ bề thao túng. Ở đây, cần phải khẳng định rằng, cùng với các nội dung xây dựng khác, việc xây dựng Quân đội hiện đại, tinh, gọn, mạnh còn nhằm không ngừng tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội ta hiện nay, làm cho Quân đội ta thực sự là của dân, do dân và vì dân; là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước, Tổ quốc, Nhân dân và đủ sức hoàn thành phận sự trung thành ấy, chứ không phải theo mô hình “quân đội nhà nghề” phương Tây như sự hướng lái của các thế lực thù địch. Đảng, Nhà nước, Nhân dân và Quân đội ta luôn nêu cao ý chí, tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường để xây dựng quân đội hiện đại. Vì vậy, không thể từ bỏ chính sách quốc phòng “4 không” như sự “khuyên nhủ” của các thế lực thù địch. Tuy nhiên “Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế”2

Cùng với đó, cần nhận thức đúng: chúng ta xây dựng Quân đội hiện đại không chỉ về vũ khí trang bị, mà hiện đại trên tất cả các nội dung cấu thành sức mạnh chiến đấu của Quân đội trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, xây dựng Quân đội nhân dân, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đó còn là sự quán triệt sâu sắc quan điểm “người trước, súng sau”, giải quyết tốt mối quan hệ giữa con người và vũ khí, trang bị trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu. Nếu xa rời những nguyên tắc, yêu cầu trên, thì xây dựng Quân đội hiện đại sẽ mất phương hướng, không những không tăng cường được sức mạnh chiến đấu và bản chất giai cấp công nhân của Quân đội, mà có thể dẫn đến những nguy hại khôn lường.

Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại là tạo nên một cốt lõi vững chắc trong các “trụ cột” của sức mạnh tổng hợp: “kinh tế vững”, “quốc phòng mạnh”, “thực lực cường”, “lòng dân yên”, “chính trị - xã hội ổn định”, “cả dân tộc là một khối đoàn kết thống nhất” như Đảng ta xác định trong Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc. Đó là chủ trương đúng đắn, phù hợp của Đảng, Nhà nước ta và là nguyện vọng, mong muốn xây dựng Quân đội nhân dân thực sự hùng mạnh, đủ sức bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

          T3.

Nguy hại từ căn bệnh “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” của cán bộ, đảng viên hiện nay

 

   “Thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” trước những bức xúc, nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân là một trong các biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; “căn bệnh” nguy hại tác động sâu sắc đến niềm tin của Nhân dân với Đảng và sự trong sạch, vững mạnh của Đảng. Vì thế, cần sớm phát hiện, điều trị triệt để “căn bệnh” này để xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh.

Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Nhìn chung đội ngũ cán bộ, đảng viên đã đề cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống; gương mẫu đi đầu, tận tụy với công việc, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao”1. Tuy nhiên, “Việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, một số suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống… chưa nêu cao ý thức trách nhiệm trước tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương và nhân dân”2. Trong đó, vẫn còn tình trạng thờ ơ, vô cảm, chưa nêu cao ý thức, trách nhiệm trước tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương và nhân dân. “Thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” của một số cán bộ, đảng viên thực sự là một “căn bệnh” rất nguy hại, có biểu hiện đa dạng trên các lĩnh vực đời sống xã hội, như: suy nghĩ hẹp hòi, thái độ dửng dưng, làm ngơ, không quan tâm đến những sự kiện, sự việc diễn ra của đất nước, địa phương, cơ quan, đơn vị cũng như trước khó khăn, bức xúc, nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; sống ích kỷ, vun vén cá nhân, kèn cựa, đố kỵ, có những hành vi trái đạo đức, lương tâm của con người; tranh công, đổ lỗi, không trung thực, không hoàn thành nhiệm vụ được giao, làm việc thì “được chăng hay chớ”, “dân có cần, nhưng quan không vội”, “khó người dễ ta”, hoặc rơi vào tham nhũng, lãng phí, tư duy nhiệm kỳ. Đáng chú ý là, những ngày qua, trước sự vào cuộc quyết liệt của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các cấp, các ngành, các địa phương, sự chung tay góp sức của cả cộng đồng, với nhiều tấm gương sáng mang đậm “nghĩa đồng bào”, cùng nhau quyết tâm cao nhất sớm đẩy lùi và chiến thắng đại dịch Covid-19, thì một số cán bộ, đảng viên có chức, có quyền vẫn đi du lịch, chơi Golf,… vi phạm nghiêm trọng quy định của Chính phủ về phòng, chống dịch Covid-19, gây hậu quả nghiêm trọng.

Mối nguy hại của căn bệnh “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên là rất lớn, nhất là khi nó “chui” vào chính trị để hình thành sự “vô cảm về chính trị”. Bởi lẽ, cán bộ, đảng viên là cầu nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân; là người truyền đạt và tổ chức cho nhân dân thực thi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời, nắm bắt và phản hồi thông tin từ Nhân dân để Đảng, Nhà nước có căn cứ hoạch định, điều chỉnh, bổ sung và đưa ra những quyết sách bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Khi cán bộ, đảng viên thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc, đòi hỏi chính đáng của nhân dân thì vô hình trung đã tự chặt đứt sợi dây gắn bó máu thịt giữa Nhân dân với Đảng và giữa Đảng với Nhân dân.

“Thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” còn là căn nguyên gây mất đoàn kết, mâu thuẫn, nghi kỵ lẫn nhau trong nội bộ cơ quan, đơn vị, địa phương dẫn đến kết quả hoàn thành nhiệm vụ thấp, gây hại cho Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Chính thái độ này dẫn đến thói ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa, kèn cựa địa vị, quan liêu, bao biện, phô trương, lãng phí, tự tư, tự lợi, tham ô, hủ hóa, không quan tâm đến công việc được giao; thậm chí bỏ mặc, né tránh khi được giao nhiệm vụ mới, khó khăn; hoang mang dao động trước những khó khăn, thách thức tác động đến cơ quan, đơn vị, địa phương mình, v.v. Nhưng khi có thành tích lại cố vơ về mình, không tận tâm, tận lực, đồng lòng, đồng sức, thống nhất để tìm ra giải pháp hữu hiệu đưa cơ quan, đơn vị, địa phương mình vượt qua thách thức, khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Điều này gây nguy hại rất lớn đến xây dựng sự đoàn kết, thống nhất trong các tổ chức, nếu để kéo dài, không khắc phục kịp thời sẽ làm chuyển hóa từ bên trong nội bộ từng tổ chức.

“Thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” làm suy giảm năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, hiệu quả điều hành của các cơ quan Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội. Năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước và vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội phụ thuộc trước hết vào phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nếu đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng mà có thái độ “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” - thái độ: “Sao cũng mặc kệ, sao xong chuyện thì thôi. Không phê bình, không tự phê bình”3, thì đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước không đi vào quần chúng. Như thế sẽ làm suy giảm năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng và hiệu quả quản lý của Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.

Đây còn là căn bệnh “quái ác” làm giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức”4. Vì vậy, nếu cán bộ, đảng viên mà có thái độ “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm”, nghĩa là không giữ được đạo đức cách mạng, mà đã không còn tư cách đạo đức cách mạng thì nhân dân sẽ không tin tưởng vào cán bộ, đảng viên, niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước sẽ suy giảm. Mặt khác, đoàn kết, thương yêu, đùm bọc, chia sẻ ngọt bùi, sẵn sàng giúp đỡ nhau những lúc khó khăn, hoạn nạn với tinh thần “Bầu ơi thương lấy bí cùng”, “thương người như thể thương thân”,... là truyền thống văn hóa rất tốt đẹp của dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”5. Do đó, nếu cán bộ, đảng viên mà có thái độ “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” với nhân dân sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến truyền thống tốt đẹp của dân tộc và Đảng ta.

Có thể nói, “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” là căn bệnh còn tồn tại khá phổ biến trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay và rất nguy hại, giống như sâu mọt đục khoét làm cho “cây mất gốc”, sớm muộn gì cũng sẽ đổ. Nguyên nhân sâu xa của “căn bệnh” này là do cán bộ, đảng viên không quan tâm đến chính trị, lười học lý luận chính trị, nhất là nghị quyết của Đảng, có lối sống thực dụng, xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng, thờ ơ với thời cuộc và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, đơn vị, địa phương, chỉ chăm lo thu vén cá nhân; ngại va chạm, giữ tâm thế trung dung với tư tưởng “dĩ hòa vi quý”; không tích cực tham gia đấu tranh với những vi phạm, biểu hiện xấu, nhận thức, hành vi lệch lạc ở xung quanh để xây dựng đơn vị, địa phương đoàn kết, vững mạnh, phát triển.

Chính vì vậy, chữa trị triệt để “căn bệnh” này là vấn đề cấp bách, đòi hỏi kết hợp đồng bộ nhiều giải pháp, trước hết, cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp phải tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức, tư tưởng, đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là tư tưởng: “lấy dân làm gốc”, tinh thần trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, có trách nhiệm với dân, chia sẻ với dân, giúp đỡ dân,… làm “điểm mấu chốt” để khắc phục bệnh “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thực hiện có hiệu quả Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị trên thực tế; đồng thời, quán triệt, thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Trên cơ sở đó, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên có sự chuyển biến mạnh mẽ về hành động trong thực tiễn quá trình thực hiện nhiệm vụ, chức trách được giao; trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, biết đau với nỗi đau của nhân dân, luôn trăn trở, sáng tạo, tìm ra những giải pháp hữu hiệu để đáp ứng những nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Đặc biệt, trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19 hiện nay, mỗi cán bộ, đảng viên phải thấu triệt, thực hiện tốt phương châm: tất cả vì sức khỏe, an toàn và hạnh phúc của nhân dân; không được để một người dân nào phải chịu đói, khát, không chỗ ở.

Cùng với đó, cấp ủy, chính quyền các cấp, các ngành, đơn vị, địa phương cần tăng cường rèn luyện, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên về phẩm chất, năng lực, đạo đức cách mạng. Đổi mới và nâng cao chất lượng nhận xét, đánh giá, phân loại cán bộ, đảng viên một cách công khai, minh bạch; kiên quyết sàng lọc, đưa những cán bộ, đảng viên không còn đủ tư cách, thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước công việc ra khỏi Đảng, cơ quan Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, như lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu: “Nếu cảm thấy mình không đủ năng lực, trách nhiệm thì dẹp sang một bên để người khác làm”. Đối với mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện, bồi đắp và nâng cao ý chí để làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao, làm tấm gương sáng để quần chúng học tập, làm theo. Thực tế cho thấy, ở bất cứ cơ quan, đơn vị, địa phương nào mà cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu gương mẫu về phẩm chất đạo đức, lối sống, có năng lực công tác và hết lòng vì dân thì được nhân dân tôn trọng, yêu mến, nể phục, tin tưởng và noi theo.

Để có cơ sở phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân, điều trị tận gốc “căn bệnh” nguy hiểm này, cơ quan chức năng của Đảng, Nhà nước cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế, quy chế trên các mặt công tác để nhân dân tham gia giám sát, đóng góp xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả việc tiếp dân, đối thoại với dân, tiếp thu những đóng góp chân thành, quý báu của nhân dân, giải quyết dứt điểm những kiến nghị chính đáng của nhân dân. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, lan tỏa gương người tốt, việc tốt, những việc tử tế trong nhân dân và toàn xã hội. Qua đó, để quy chiếu, tạo “hệ miễn dịch” với thái độ “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên “vừa hồng, vừa chuyên”, góp phần xây dựng Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng vai trò, sứ mệnh cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

          T3.

TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Ðó là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị – xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng trên cơ sở quán triệt sâu sắc, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam, trước hết là trong xây dựng đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thể chế, nguyên tắc tổ chức hoạt động của toàn hệ thống chính trị,…

Trong đó, Nghị quyết nêu bảy nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu. Trọng tâm là tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; đổi mới nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục đối với các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, nhằm nâng cao sức đề kháng, khả năng chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch.

Tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong tình hình mới. Hệ thống hóa, phổ biến những thành tựu lý luận mà Ðảng ta đã đạt được trên cơ sở vận dụng đúng đắn, sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới. Tiếp tục khẳng định bản chất và mô hình tổng thể của thể chế chính trị và bộ máy nhà nước đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013.

Ðổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền về chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo hướng chủ động, có tính thuyết phục cao, hấp dẫn. Khẩn trương thực hiện nghiêm quy hoạch báo chí đã được phê duyệt. Chủ động tăng cường thông tin tích cực đi đôi với ngăn chặn có hiệu quả, xử lý, xóa bỏ thông tin xấu độc trên in-tơ-nét, mạng xã hội.

Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Ðảng. Siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong Ðảng. Các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Ðảng, Nhà nước, lan truyền những thông tin sai lệch hoặc tán phát những đơn thư nặc danh, mạo danh, hoặc thư có danh nhưng có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động.

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý và sử dụng in-tơ-nét, mạng xã hội. Trong đó chú trọng xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và có các giải pháp kỹ thuật phù hợp với sự phát triển nhanh của in-tơ-nét, mạng xã hội. Phát huy cao nhất trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, trước hết là người đứng đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch,…

          T3.

Một số giải pháp xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thời kỳ mới

 “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”. Để thực hiện mục tiêu đó, chúng ta cần tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; tạo bước phát triển mới của Đảng về trí tuệ, bản lĩnh chính trị, thực sự là đạo đức, là văn minh, ngày càng gắn bó mật thiết với nhân dân, ngày càng được nhân dân tin tưởng. Trong đó, tập trung thực hiện đồng bộ một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tiếp tục đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; tập trung xây dựng Đảng về đạo đức, tăng cường trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu.

Tiếp tục quán triệt, nhận thức thật sâu sắc các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo Đại hội XIII của Đảng đã đề ra; các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định, quy chế… của Trung ương về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị. Đây là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng và hệ thống chính trị, không chỉ quán triệt tư tưởng chỉ đạo, nội dung các văn bản của Đảng mà cần có sự phân tích, so sánh, liên hệ và vận dụng phù hợp với thực tế từng cơ quan, tổ chức, đoàn thể, cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên. Chú trọng xây dựng Đảng về đạo đức, đề cao trách nhiệm nêu gương, ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các cấp, cán bộ giữ cương vị càng cao càng phải tiên phong, gương mẫu.

Hai là, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu các cấp, gắn với đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Xây dựng đội ngũ cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới; thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng; đặt trong tổng thể của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút, trọng dụng nhân tài. Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác quy hoạch, luân chuyển cán bộ và đánh giá cán bộ. Chủ động phát hiện nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược nhiệm kỳ 2025-2030 và chuẩn bị cho nhiệm kỳ tiếp theo, bảo đảm tính kế thừa, ổn định, đổi mới, phát triển theo hướng nâng cao chất lượng, bảo đảm số lượng và cơ cấu hợp lý. Luân chuyển cán bộ phải phù hợp với chức danh quy hoạch; bảo đảm cân đối, hài hòa giữa luân chuyển cán bộ với phát triển nguồn cán bộ tại chỗ; luân chuyển ngang và dọc, luân chuyển cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội sang các lĩnh vực khác, và ngược lại. Tăng cường cán bộ có bản lĩnh chính trị, trình độ, năng lực cho địa bàn trọng điểm, lĩnh vực khó khăn, phức tạp; khắc phục tình trạng khép kín trong công tác cán bộ. Đánh giá cán bộ công tâm, khách quan, có tiêu chí rõ ràng và thông qua sản phẩm cụ thể; gắn việc đánh giá cá nhân với đánh giá tập thể, với kết quả thực tế thực hiện nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị. Kịp thời cho từ chức, miễn nhiệm, thay thế những cán bộ năng lực hạn chế, uy tín thấp, mắc sai phạm mà không chờ đến hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm. Thực hiện tốt chủ trương khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung.

Ba là, tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách đồng bộ, thống nhất, hiệu quả.

Kịp thời cụ thể hóa, thể chế hóa các chủ trương của Đảng; rà soát sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định, quy chế, hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, ổn định, công khai, minh bạch. Bổ sung, hoàn thiện toàn diện hơn các thể chế, thiết chế về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo tinh thần kết hợp nhuần nhuyễn giữa “xây” và “chống”; giữa xây dựng đạo đức cách mạng và chống chủ nghĩa cá nhân; phòng, chống, ngăn ngừa và đặc trị các loại “bệnh tật” phát sinh trong Đảng và hệ thống chính trị; giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng. Rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ công tác của cấp ủy, chính quyền các cấp, bảo đảm tốt mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”; phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm, khắc phục tình trạng Đảng bao biện, làm thay Nhà nước hoặc buông lỏng lãnh đạo.

Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm.

Tạo chuyển biến mạnh mẽ đối với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, kết hợp phòng ngừa với xử lý vi phạm kỷ luật. Cải tiến, đổi mới phương pháp, quy trình, kỹ năng thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng theo hướng chặt chẽ, bài bản, khoa học hơn; trong đó, tập trung vào các cơ chế, biện pháp chủ động phát hiện sớm, phòng ngừa, ngăn chặn từ xa khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên. Tăng cường kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tham nhũng, tiêu cực, có nhiều khiếu kiện kéo dài. Tăng cường kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Xây dựng đội ngũ cán bộ các cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, bảo vệ pháp luật có bản lĩnh vững vàng, liêm chính, trung thực, có dũng khí đấu tranh, có kiến thức, kỹ năng chuyên sâu.

Năm là, phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội; thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và báo chí. Hoàn thiện cơ chế nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Sớm cụ thể hóa những quy định của Đảng, đồng thời thể chế hóa, hoàn thiện các quy định về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và quy định về kiểm soát quyền lực công khai, minh bạch, rõ ràng để mỗi người dân đều có thể giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải tăng cường trách nhiệm giải trình, thực hiện nghiêm quy định của Đảng, Nhà nước về tiếp, đối thoại với công dân; tiếp nhận và kịp thời chỉ đạo giải quyết các vấn đề nhân dân phản ánh, khiếu kiện.

Bước vào thời kỳ mới, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần tăng cường đoàn kết, chung sức, đồng lòng chăm lo thế nước, vun đắp lòng dân, “giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(9), dẫn dắt công cuộc đổi mới tiếp tục tiến lên, thực hiện thắng lợi mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra là phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta “trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Lật tẩy thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc xây dựng đất nước

 


Xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước là một thủ đoạn thâm hiểm của các thế lực thù địch. Đấu tranh, vạch trần thủ đoạn đó là góp phần bảo vệ Đảng, bảo vệ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Nhận thấy sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định chiều hướng đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch thường xuyên thực hiện thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng với nhiều luận điệu tinh vi, thâm hiểm. Một mặt, họ thẳng thừng đòi bỏ Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013) quy định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội; mặt khác, họ khéo léo che đậy mục tiêu thực sự của mình khi lập luận rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam có công trong sự nghiệp giải phóng dân tộc; nhưng không có khả năng lãnh đạo sự nghiệp xây dựng đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa”(!). Để củng cố lập luận trên, họ cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam giỏi lãnh đạo trong chiến tranh, nhưng không có kỹ năng lãnh đạo phát triển kinh tế, xã hội trong thời bình”(!). Từ đây, họ kết luận: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, do đó cần trao vai trò lãnh đạo công cuộc xây dựng, phát triển đất nước cho các lực lượng chính trị khác”(!), thực chất là đòi trao cho các thế lực chống đối con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Những luận điệu này được họ lặp đi, lặp lại nhiều lần, dưới nhiều hình thức, trong nhiều thời điểm khác nhau, nhất là vào thời gian Đảng ta tiến hành đại hội nhiệm kỳ, hay những lúc tình hình kinh tế - xã hội của đất nước gặp khó khăn, hoặc trong những ngày kỷ niệm lớn của Đảng, của đất nước. Họ hy vọng tác động của những luận điệu đó sẽ góp phần thúc đẩy sự “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, dẫn đến Đảng ta tự tan rã.

Mục tiêu thực sự của các luận điệu trên đều hướng vào xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội; cổ súy cho “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt Nam. Sâu xa hơn, là nhằm xóa bỏ mọi thành quả cách mạng và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta; hướng lái sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước hiện nay theo con đường tư bản chủ nghĩa. Bởi theo họ, nếu Đảng Cộng sản không còn giữ vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội, thì tất yếu đất nước sẽ không phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa. Đây là điều mà các thế lực thù địch, chống đối từng thành công ở Liên Xô trong thập niên cuối của thế kỷ trước và họ hy vọng sẽ thành công ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, những thành tựu của sự nghiệp xây dựng, phát triển nước Việt Nam thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhất là trong suốt 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới là thực tiễn sinh động bác bỏ mọi xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.

Nhờ thực hiện đường lối đổi mới đúng đắn trong hơn 35 năm qua, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với trước thời kỳ đổi mới. Thế bị bao vây, cấm vận được phá bỏ. Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng nước nghèo, kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng trung bình khoảng 07% mỗi năm trong suốt 35 năm qua. Quy mô và tiềm lực kinh tế của đất nước từ chỗ chỉ đạt 6,3 tỉ USD vào năm 1989 đã không ngừng tăng lên, đạt 342,7 tỉ USD vào năm 2020, đứng trong tốp 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và đứng thứ tư trong ASEAN. Kim ngạch xuất khẩu năm 1990 mới chỉ đạt 2,4 tỉ USD, thì năm 2020 đã đạt hơn 280 tỉ USD, tăng gần 120 lần trong vòng 30 năm. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của đất nước phát triển khá nhanh với nhiều công trình lớn, hiện đại, làm cho diện mạo của đất nước có nhiều thay đổi, tiến bộ. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, với công nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng 85% GDP hiện nay. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành và phát triển, đã có 79 nước công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường. Năm 2021, mặc dù chịu tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19, song do những nỗ lực của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự gắng sức của các doanh nghiệp, các tầng lớp nhân dân, sau hơn một tháng thực hiện Nghị quyết số 128/NQ-CP của Chính phủ về “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19”, nền kinh tế đã có dấu hiệu phục hồi mạnh mẽ. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11/2021 tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước; tính chung 11 tháng năm 2021, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm 2020. Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tháng 11 so với tháng trước tăng 44,6% về số doanh nghiệp, 38% về vốn đăng ký, 30,2% về số lao động. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục phục hồi. Tính đến ngày 20/11/2021, vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 26,46 tỉ USD, tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước. Điều đó cho thấy nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục tin tưởng vào môi trường đầu tư Việt Nam. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 11 tháng năm 2021 vẫn duy trì tốc độ tăng cao, đạt 599,12 tỉ USD, tăng 22,3% so với cùng kỳ năm trước; trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt  299,67 tỉ USD, tăng 17,5% so với cùng kỳ năm trước.

Quan hệ đối ngoại của nước ta ngày càng rộng mở và đi vào chiều sâu; từng bước chuyển từ “tham gia tích cực” sang “chủ động đóng góp xây dựng, định hình luật chơi chung”. Đến nay, nước ta đã có quan hệ ngoại giao với hầu hết các quốc gia thành viên Liên hợp quốc; thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với 16 nước, đối tác toàn diện với 11 nước, bao gồm cả 05 nước Thường trực Hội đồng Bảo an; có quan hệ kinh tế - thương mại và đầu tư với 230 nước và vùng lãnh thổ; là thành viên của nhiều định chế kinh tế quốc tế lớn, như: Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), v.v. Nước ta đã hai lần đảm nhận vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2008 - 2009, 2020 - 2021) và còn đảm nhận nhiều trọng trách quan trọng trong các tổ chức quốc tế khác. Hàng loạt chuyến thăm chính thức của lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước ta đến Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Thụy Sỹ, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ôxtrâylia, một số nước Tây Âu, Vatican,… và nguyên thủ các nước này đến thăm nước ta trong thời gian qua, đã khẳng định vị thế và uy tín ngày càng cao của Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam trên trường quốc tế. Từ năm 2014, nước ta bắt đầu tham gia vào lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, thể hiện trách nhiệm trong việc xây dựng lòng tin, duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới.

Trên cơ sở kinh tế phát triển, đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện rõ rệt. Thu nhập bình quân đầu người trong những năm đầu đổi mới chỉ đạt khoảng 250 USD/năm, đến năm 2020 đạt 3.521 USD, đứng thứ sáu trong ASEAN. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Tiến bộ và công bằng xã hội đạt nhiều kết quả ấn tượng, được Liên hợp quốc xếp là một trong những nước đứng đầu thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ. Các vấn đề an sinh xã hội luôn được quan tâm chăm lo, ngay cả lúc nền kinh tế gặp khó khăn do tác động của suy thoái kinh tế thế giới, hay của đại dịch Covid-19. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 03% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam tăng gần 46% từ năm 1990 đến năm 2019, nằm trong số các nước có tốc độ tăng HDI cao nhất trên thế giới. Năm 2019 HDI của Việt Nam đạt mức 0,704, thuộc nhóm nước phát triển con người cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển.

Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền quốc gia được giữ vững. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, nhất là phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh, triển khai quyết liệt, đồng bộ, toàn diện, đi vào chiều sâu, tạo nhiều chuyển biến tích cực, rõ rệt. Nhờ đó, niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa tiếp tục được củng cố, tăng cường. Con số 99,6% cử tri tham gia Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 trong điều kiện khó khăn, phức tạp do đại dịch Covid-19 bùng phát mạnh, là minh chứng sinh động về lòng tin của nhân dân vào thể chế chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử nói trên đều gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là minh chứng thuyết phục về năng lực lãnh đạo của Đảng trước đây, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ hội nhập; là thực tiễn khách quan bác bỏ mọi sự xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Đúng như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”2. Trong một công trình nghiên cứu cùng Cơ quan Phát triển quốc tế Thụy Điển (SIDA), các nhà nghiên cứu của Viện Phát triển quốc tế thuộc trường Đại học Harvard (Hoa Kỳ) cũng có nhận xét: “Ở Việt Nam, trong tương lai, khó có thể hình dung cơ sở xã hội cho việc xây dựng một đảng có khả năng cạnh tranh với Đảng Cộng sản Việt Nam”. Bởi lẽ, ở Việt Nam hơn 90 năm qua, đại đa số nhân dân thừa nhận sự lãnh đạo độc tôn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; trìu mến gọi Đảng Cộng sản Việt Nam là “Đảng ta” và coi Đảng là người đại biểu trung thành cho lợi ích của mình, do Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, mà còn đại biểu cho lợi ích của nhân dân lao động và của cả dân tộc.

Để tiếp tục giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới, Đại hội XIII của Đảng đã xác định “phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”3, xem đó là nhiệm vụ then chốt. Tổ chức thực hiện một cách nghiêm túc, quyết liệt, đồng bộ công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn liền với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, là cách làm hiệu quả nhất để bác bỏ những mưu toan và hành động xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước trong thời kỳ hội nhập.

          T3.

 

BIỆN PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG ĐỐI VỚI QUÂN ĐỘI TRONG PHÒNG CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng là một bộ phận quan trọng của công tác tư tưởng, là mặt hoạt động quan trọng của công tác đảng, công tác chính trị, đặc biệt trong tình hình hiện nay khi chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang đẩy mạnh âm mưu "DBHB" trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận nhằm "phi chính trị hóa" Quân đội thì công tác này càng phải đặc biệt coi trọng để tạo chuyển biến về nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên đối với việc phòng chống "DBHB" của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, cần tập trung thực hiện tốt những biện pháp cơ bản sau:

Tăng cường bồi dưỡng mục tiêu lý tưởng chiến đấu, xây dựng niềm tin và bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sĩ quân đội

Phát huy vai trò trách nhiệm của cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong công tác giáo dục chính trị-tư tưởng

Thường xuyên đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng tại đơn vị

Phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị, địa phương, gia đình, kết hợp nhiều phương pháp để giáo dục bộ đội

                                                                                                TDV