Thứ Ba, 15 tháng 2, 2022

Phản bác luận điệu xuyên tạc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Quân đội

Trong quá trình hoạt động cách mạng, tìm đường cứu nước, cứu dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức và hình thành tư tưởng xây dựng một quân đội kiểu mới, mang bản chất giai cấp cách mạng, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; sử dụng mọi phương thức, biện pháp cách mạng để giành độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân; trong đó có vấn đề dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng. Người chỉ rõ: “Trong cuộc đấu tranh gian khổ chống kẻ thù của giai cấp và của dân tộc, cần dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”. Từ đó, Người đã trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện Quân đội nhân dân Việt Nam. Những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Quân đội, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân mà “hồn cốt” là quan điểm: Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân đã trở thành kim chỉ nam, nhân tố quyết định sự lớn mạnh, trưởng thành và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam trong các thời kỳ cách mạng. Chính bởi tính đúng đắn, khoa học cùng sự tồn tại khách quan, là nền tảng tạo nên sức mạnh của Quân đội và cơ đồ, vị thế lớn mạnh của đất nước, con người Việt Nam, mà tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng của Người về xây dựng Quân đội nói riêng là dấu ấn không thể phai mờ. Cũng chính vì thế mà tư tưởng đó, luôn bị các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc, chống phá quyết liệt; trong đó, bản chất giai cấp, bản chất chính trị của Quân đội là một trọng điểm. Với chiêu bài kêu gọi “phi chính trị hóa” quân đội, chúng ra sức rêu rao quan điểm: quân đội là “của quốc gia, dân tộc, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của đảng phái, lực lượng chính trị nào”,... nhằm chuyển hóa Quân đội về chính trị, tước bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội; làm cho Quân đội ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy yếu, biến chất về chính trị, từ bỏ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, những luận điệu thù địch đó không thể xuyên tạc, phủ nhận được quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội đã được đúc rút thành lý luận nền tảng và kiểm nghiệm, chứng minh tính khách quan, khoa học trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội Từ thực tiễn hoạt động cách mạng, tiếp thu, phát triển sáng tạo tư tưởng của V.I. Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới - “một đội quân có trình độ giác ngộ chính trị cao” do Đảng Cộng sản tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, Hồ Chí Minh rút ra nhận thức sâu sắc về quyền lãnh đạo của Đảng cách mạng đối với Quân đội. Trong bài giảng “Công tác quân sự của Đảng trong nông dân” tại trường quân sự của những người cộng sản Đức ở Mátxcơva vào cuối năm 1927 và được xuất bản lần đầu tiên ở Đức vào năm 1928, Hồ Chí Minh khẳng định quan điểm “…phải làm sao cho Đảng thực hiện quyền lãnh đạo về chính trị và tác chiến của mình” đối với các đội du kích - lực lượng vũ trang đầu tiên của quân đội cách mạng. Bởi vậy, khi quyết định thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, bên cạnh việc trực tiếp chọn cán bộ chỉ huy, Người còn căn dặn: Tổ chức Đội phải lấy chi bộ làm hạt nhân lãnh đạo. Quan điểm đó đã đặt nền móng vững chắc cho sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ chức sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh cách mạng và xây dựng lực lượng vũ trang, cùng với việc giải quyết đúng đắn các mối quan hệ có tính nguyên tắc, như: giữa quân sự với chính trị, Quân đội với Nhà nước cách mạng, Quân đội với Nhân dân,... Người đã giải thích rõ mối quan hệ giữa Quân đội với Đảng. Người nêu quan điểm: Đảng “Phải xây dựng và lãnh đạo vững chắc lực lượng vũ trang cách mạng của nhân dân, bảo đảm đánh thắng bất cứ kẻ thù nào, bất cứ trong hoàn cảnh nào”. Điều đó có nghĩa là, một mặt, Đảng tổ chức ra Quân đội, nên tất yếu Đảng phải nắm quyền lãnh đạo Quân đội, quyền lãnh đạo đó phải được giữ vững và tăng cường, không chia sẻ cho bất cứ giai cấp nào; mặt khác: “Quân đội phải tôn trọng sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, phải giúp đỡ các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương”, Quân đội phải nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng giao cho. Đó là nội dung cốt lõi nhất của mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với Quân đội nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò quyết định trong mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; giữ vai trò quyết định đối với sự ra đời, phát triển, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam; quyết định bản chất cách mạng của Quân đội, bảo đảm cho Quân đội luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng. Đó là quy luật ra đời và phát triển của Quân đội ta - một quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân ở một nước thuộc địa, nông nghiệp lạc hậu - mà Hồ Chí Minh đã khẳng định là: nó chỉ có thể ra đời và phát triển trong phong trào cách mạng sâu rộng của quần chúng nhân dân và muốn có phong trào như vậy, trước hết phải có sự lãnh đạo của Đảng. Người Viết: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”. Tư tưởng của Hồ Chí Minh về xây dựng Quân đội nhân dân, về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội là hoàn toàn khoa học, trên cơ sở kế thừa, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, không ai có thể bóp méo, xuyên tạc. Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội trong thực tiễn là minh chứng hùng hồn bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Quân đội nhân dân. Lịch sử cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ta ra đời đến nay đã minh chứng: sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội. Đảng Cộng sản Việt Nam là người tổ chức và lãnh đạo Quân đội và Quân đội luôn phục tùng sự lãnh đạo của Đảng là hai mệnh đề song hành trong suốt quá trình xây dựng, phát triển, trưởng thành và chiến thắng của Quân đội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội cùng với toàn dân lập nên nhiều chiến công hiển hách, giành độc lập, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Sự lãnh đạo của Đảng trước hết bảo đảm cho Quân đội luôn mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc. Từ khi ra đời, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân đã là đội quân mang bản chất của giai cấp công nhân, làm nòng cốt trong thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, của nhân dân và của dân tộc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Quân đội là công cụ bạo lực vũ trang của một giai cấp, nhà nước nhất định, nhưng chỉ có quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản như Quân đội nhân dân Việt Nam mới có thể phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân theo đúng nghĩa của nó và gắn bó chặt chẽ sự trung thành với Đảng, với Tổ quốc, Nhà nước và Nhân dân trong chỉnh thể thống nhất, không tách rời. Chiến đấu vì nhân dân, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc là lý do tồn tại và phát triển; là lý tưởng và phương châm hành động của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Sự lãnh đạo của Đảng bảo đảm cho Quân đội luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, Nhà nước và với Nhân dân. Đó là những nội dung cơ bản, cốt lõi gắn bó chặt chẽ trong bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam, được thể hiện bằng sự hy sinh, phấn đấu trong mọi công việc cách mạng của Ðảng; trong suy nghĩ, việc làm cụ thể vì nước, vì dân, vì lợi ích quốc gia dân tộc của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Trong quá trình xây dựng, trưởng thành, dù công tác ở đâu, đi đến đâu, làm những nhiệm vụ gì, trong điều kiện chiến tranh hay trong hòa bình, cán bộ, chiến sĩ Quân đội đều ra sức bảo vệ, giúp đỡ nhân dân; tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; giúp dân phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói giảm nghèo; xả thân vì nhân dân trong bão lũ, dịch bệnh,... tất cả vì tự do, hạnh phúc của nhân dân, v.v. Những thành tựu, phẩm chất, truyền thống tốt đẹp mà Quân đội có được là nhờ sự tổ chức, lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, tách vấn đề tuyệt đối trung thành với Đảng và Nhân dân là không đúng với bản chất chính trị - xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đó là sự cố tình xuyên tạc, bóp méo thực tiễn lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, cũng như thực tiễn mối quan hệ giữa Quân đội với Đảng, Nhà nước và Nhân dân, nhằm thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, xuyên tạc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Quân đội. Trước sự xuyên tạc đó, một mặt, chúng ta cần đẩy mạnh đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đối với Quân đội và sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Mặt khác, cần thực hiện tốt việc xây dựng Quân đội thực sự vững mạnh, trước hết là vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu. Xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị là tạo sức mạnh nội sinh, khả năng và sức “đề kháng” làm thất bại, phá sản mọi mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Mối quan hệ biện chứng giữa “xây” và “chống” này cần phải được nhận thức đúng và giải quyết tốt trong thực tiễn xây dựng Quân đội, cũng như thực tiễn đấu tranh phòng, chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội trong tất cả các giai đoạn. Theo đó, cần quán triệt, thực hiện nghiêm nội dung Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân”. Đồng thời, đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; đặc biệt là xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, đảm bảo Quân đội thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, Nhà nước và Nhân dân, có đủ sức mạnh hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ sẽ là minh chứng thuyết phục bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam.

ĐẬP TAN ÂM MƯU CỦA CÁC PHẦN TỬ CƠ HỘI CHÍNH TRỊ, PHẢN ĐỘNG LỢI DỤNG VỤ VIỆC CỦA CÔNG TY VIỆT Á ĐỂ CHỐNG PHÁ CHẾ ĐỘ Ở VIỆT NAM

Sau 2 năm đến nay đại dịch Covid-19 đã lây lan ở 224 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có Việt Nam. Ngay từ khi xuất hiện dịch bệnh, Đảng, Nhà nước đã có những chỉ đạo đúng đắn, từ các biện pháp phòng, chống dịch, bảo đảm y tế, an sinh đến việc phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ khoa học để nghiên cứu, tự sản xuất thiết bị, vật tư y tế, vắc xin, đáp ứng nhu cầu phòng, chống dịch; lực lượng Quân đội, quân y đã phát huy vai trò là lực lượng tuyến đầu, luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, không ngại hi sinh gian khổ, cứu chữa nhân dân nơi tâm dịch… Vậy mà lợi dụng vụ án hình sự xảy ra tại Công ty Việt Á và các đơn vị, địa phương có liên quan, các đối tượng cơ hội chính trị, các phần tử phản động đã phát tán nhiều bài viết với những nội dung xuyên tạc, chúng cho rằng Đảng “Tạo điều kiện cho các nhóm lợi ích thao túng chính sách và lũng đoạn thể chế”. Đồng thời, kích động gây mất đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân và bôi nhọ, nói xấu công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta. Vậy bản chất của luận điệu trên là gì? Như chúng ta đã biết, ngày 30/12, Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã có chủ trương chỉ đạo xử lý đối với vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á, như sau: Trong thời gian qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư và của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong cả nước đã có nhiều nỗ lực cố gắng, chung sức, đồng lòng, vượt qua khó khăn, quyết liệt phòng, chống đại dịch COVID-19. Thường trực Ban Chỉ đạo và các cơ quan chức năng đã chỉ đạo, xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng phòng, chống dịch bệnh để tham nhũng, tiêu cực. Tuy nhiên, vụ án xẩy ra tại Công ty Việt Á vừa qua đã gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng đến niềm tin của Nhân dân đối với công tác phòng, chống dịch và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước. Để xử lý nghiêm minh những tổ chức, cá nhân sai phạm, cảnh báo, răn đe mạnh mẽ hơn nữa để ngăn ngừa tham nhũng, tiêu cực, củng cố niềm tin của Nhân dân, Thường trực Ban Chỉ đạo thống nhất đưa vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á vào diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo và yêu cầu: Đảng ủy Công an Trung ương, Ban cán sự đảng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan, chỉ đạo các cơ quan chức năng tập trung lực lượng, khẩn trương, quyết liệt, mở rộng điều tra làm rõ bản chất của vụ án, xử lý nghiêm các sai phạm theo quy định của pháp luật; không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không chịu bất kỳ sự can thiệp trái pháp luật của bất kì tổ chức, cá nhân nào. Giao Ủy ban Kiểm tra Trung ương tiến hành kiểm tra dấu hiệu vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên có liên quan để kịp thời xử lý nghiêm theo quy định của Đảng. Các cấp ủy, tổ chức đảng, tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo khẩn trương kiểm tra, thanh tra, điều tra xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng công tác phòng, chống dịch bệnh để tham nhũng, tiêu cực. Giao Ban Nội chính Trung ương - Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo chủ trì phối hợp với các cơ quan chức năng đôn đốc, kiểm tra, tham mưu Thường trực Ban Chỉ đạo để chỉ đạo xử lý kịp thời, nghiêm minh. Như vậy khẳng định: Luân điệu “Đảng tạo điều kiện cho các nhóm lợi ích thao túng chính sách và lũng đoạn thể chế” là hoàn toàn vu cáo, bịa đặt. Thực chất luận điệu của các đối tượng phản động là đang cố tình kích động và hướng lái nhân dân mất niềm tin vào thể chế, bác bỏ công sức, thành tích của cả hệ thống chính trị trong công tác phòng, chống dịch. Vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á chỉ là cái cớ để chúng chống phá đất nước, hòng lật đổ chế độ tại Việt Nam; đề nghị mỗi người cần sáng suốt nhận diện và kiên quyết đấu tranh để đập tan âm mưu này. Đối với vụ việc nêu trên, chúng ta hãy tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và tin tưởng sự công tâm, khách quan, minh bạch của pháp luât Việt Nam./.

NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI LỆCH

Những ngày qua, đất nước phấn khởi chào đón mùa xuân mới, cũng là dịp kỷ niệm 92 ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Vai trò, vị trí lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử. Thực tiễn quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, vào mỗi dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động lại gia tăng các hoạt động tuyên truyền chống phá, đưa ra những luận điệu xuyên tạc hòng làm lung lạc về nhận thức, niềm tin đối vai trò, vị trí cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Từ đó, chúng tích cực vận động, tập trung lực lượng, đẩy mạnh hoạt động chống phá hòng làm thay đổi chế độ chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Đây là âm mưu, luận điệu nguy hiểm, cần được nhận diện, đấu tranh, phản bác trong công tác tư tưởng hiện nay. Những luận điệu này tập trung ở những điểm sau đây: Một là, các đối tượng xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ nhận cơ sở lý luận về vị trí, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những chiêu bài mà chúng sử dụng không mới nhưng ngày càng tinh vi và thâm độc hơn. Các đối tượng lập luận, tuyên truyền, cổ vũ cho việc từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, cho rằng đây là sự sai lầm về ý thức hệ; rêu rao học thuyết Mác - Lênin là một “lý thuyết suông” về CNXH không tưởng, không bao giờ thực hiện được. Cho rằng sự sụp đổ của CNXH ở Đông Âu, Liên Xô và trên toàn thế giới là một tất yếu, là sự cáo chung đã được báo trước; xuyên tạc lý luận về CNXH đã lỗi thời, không còn phù hợp với thế kỷ XXI, đặc biệt không phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam hiện nay và cần loại bỏ. Tầm thường hóa, phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh; cố tình xuyên tạc Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin với học thuyết đấu tranh giai cấp là nguyên nhân gây ra cảnh “huynh đệ tương tàn, nồi da nấu thịt” trước đây, làm đất nước nghèo nàn, lạc hậu… Vị trí, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn của lịch sử dân tộc. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, trong điều kiện khủng hoảng về đường lối cứu nước, đã xuất hiện nhiều khuynh hướng đấu tranh, nhiều lực lượng cách mạng, tuy nhiên đều không thể giành lại độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Chỉ khi Nguyễn Ái Quốc tìm ra chân lý con đường cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác - Lênin, sự ra đời, lãnh đạo, đoàn kết, tập hợp lực lượng của Đảng đã dẫn dắt dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đem lại vị thế, cơ đồ đất nước như ngày hôm nay. Thực tiễn khách quan là minh chứng khẳng định rõ, không thể nói chủ nghĩa Mác - Lênin là sai lầm ý thức hệ, sai lầm lịch sử như các luận điệu chống phá. Hai là, các đối tượng cố gắng lập luận, quy kết thể chế chính trị ở Việt Nam tạo lập vị trí của Đảng đứng trên Hiến pháp, cho rằng Đảng đã và đang tham nhũng quyền lãnh đạo, cai trị đất nước, chuyên quyền, độc đoán. Chúng ta đều biết, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua bao giông tố, thác ghềnh, đưa dân tộc Việt Nam tới những thắng lợi hiển hách, thống nhất non sông đất nước, mang lại độc lập cho dân tộc. Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Với cơ sở như vậy thì luận điệu rêu rao “trong thể chế chính trị ở Việt Nam, Đảng đứng trên Hiến pháp, tham nhũng quyền lãnh đạo, và bám giữ quyền cai trị đất nước; một thể chế độc đảng là chuyên quyền, độc đoán” là hoàn toàn sai trái. Rõ ràng, luận điệu này nhằm mục đích phá hoại, lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng. Ba là, dưới chiêu bài góp ý về đổi mới thể chế chính trị Việt Nam, các đối tượng đưa ra những luận điệu chống phá núp dưới dạng kiến nghị, đòi hỏi phải “đổi mới chính trị” bằng cách phải thực hiện thể chế đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Trước hết, cần thấy rằng, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nằm trong âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình” mà mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị, hướng lái cách mạng Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa. Từ đó, chúng đòi hỏi phải thực hiện xóa bỏ ngay Điều 4 của Hiến pháp. Thực chất luận điệu này là tạo điều kiện, tiền đề cho việc ra đời và công khai hóa, hợp pháp hóa các tổ chức chính trị đối lập, từ đó cạnh tranh vai trò lãnh đạo, tiến tới thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng rêu rao nước ta vẫn còn tình trạng khủng hoảng, đói nghèo là hậu quả của chính sách cai trị độc tài dựa trên nền tảng tư tưởng chính trị là chủ nghĩa Mác-Lênin mà Đảng Cộng sản áp đặt trên đất nước Việt Nam. Chúng tập trung xuyên tạc vào các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ, vu cáo rằng đó là chiếm quyền để cai trị nhân dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền, "độc đoán, đảng trị"… Luận điệu này xuyên tạc bản chất chính trị, hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng, đẩy quần chúng, nhân dân xa rời, đối lập với Đảng, thúc đẩy thể chế đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Lịch sử diễn ra tại Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu đã chỉ ra bài học xương máu, chứng minh rõ âm mưu, ý đồ thâm độc này. Sau khi Điều 6 Hiến pháp Liên Xô bị xóa bỏ, ngay lập tức, các đảng phái xuất hiện “như nấm sau mưa”, ngoài Đảng Cộng sản Liên Xô còn có tới 153 tổ chức đảng phái khác ra đời và cạnh tranh vai trò lãnh đạo với Đảng Cộng sản. Đến đầu năm 1991, sự tồn tại của Đảng Cộng sản Liên Xô chỉ còn trên danh nghĩa và sự sụp đổ của Liên bang Xô viết vào cuối năm 1991 là tất yếu, khi Đảng Cộng sản đã mất quyền lãnh đạo. Không đi theo “vết xe đổ của Liên Xô”, bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, không để hình thành tổ chức chính trị đối lập, đối trọng với Đảng và Nhà nước là yêu cầu có tính nguyên tắc. Bốn là, các đối tượng lợi dụng những vấn đề mang tính tiêu cực nảy sinh trong đời sống xã hội như thiếu sót, bất cập trong cơ chế, chính sách, tình trạng tham nhũng... để hướng lái, xuyên tạc bản chất của chế độ, quy tiêu cực do hệ quả sự lãnh đạo của Đảng. Trong quá trình đổi mới, các lĩnh vực của đời sống xã hội vừa được xây dựng, tổng kết, rút kinh nghiệm và từng bước hoàn thiện về mặt lý luận và thực tiễn. Những vấn đề như kinh tế thị trường định hướng XHCN còn những hạn chế, hoàn thiện còn chậm; hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách chưa hoàn chỉnh và đồng bộ; nhiều cơ chế, chính sách chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới. Cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa chưa đạt mục tiêu. Kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước hiệu quả hoạt động chưa cao; công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí mặc dù đạt được những kết quả tích cực song còn nhiều tồn tại, hạn chế; hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước còn những bất cập… Dựa vào những hạn chế, tồn tại nói trên, các thế lực thù địch lợi dụng để suy diễn, xuyên tạc, thổi phồng dưới nhiều hình thức khác nhau. Chúng lập luận, quy chụp bằng những luận điệu chính trị hóa, cho rằng đó là bản chất của chế độ XHCN và là hậu quả của Đảng. Những luận điệu này làm cho những người không có tư tưởng chính trị vững vàng dễ bị lầm tưởng, hồ nghi, thậm chí xét lại, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái về tư tưởng chính trị. Tổng kết 35 năm đổi mới, Đại hội XIII của Đảng đánh giá:“Đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN”. Có được những thành tựu trên đây là do Đảng ta có đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo, phù hợp lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, được nhân dân tin tưởng, kiên định, đấu tranh, hy sinh, thực hiện con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” mà Đảng lựa chọn.

Đoàn kết thắng lợi của sức mạnh 3 nước Đông Dương

Sau hai năm thực hiện chính sách “Đông Dương hóa chiến tranh” và đạt được một số kết quả tạm thời, đầu năm 1971, Mỹ-ngụy mở đồng thời 3 cuộc hành quân quy mô lớn đánh phá tuyến chi viện Trường Sơn của cách mạng 3 nước Đông Dương, đó là: Cuộc hành quân “Lam Sơn 719” đánh ra khu vực Đường 9-Nam Lào; cuộc hành quân “Toàn thắng 1/71” đánh lên Đông Bắc Campuchia; cuộc hành quân “Quang Trung 4” đánh ra vùng ngã ba biên giới Việt Nam-Lào-Campuchia; trong đó cuộc hành quân mang mật danh “Lam Sơn 719” có quy mô lớn nhất (lực lượng địch lúc cao nhất lên tới 55.000 quân), mang tham vọng lớn nhất: Đánh phá, cắt đứt hoàn toàn từ gốc tuyến hành lang chi viện chiến lược Bắc-Nam; thể nghiệm công thức cơ bản của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”: Ngụy quân Sài Gòn+cố vấn Mỹ+hỏa lực và hậu cần Mỹ; tạo sức ép trên bàn đàm phán tại Hội nghị Paris, buộc ta phải nhân nhượng, chấp nhận giải pháp do Mỹ đưa ra. Thắng lợi của sức mạnh đoàn kết 3 nước Đông Dương Từ nửa đầu năm 1970, khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh xâm lược sang Campuchia, thực hiện chính sách “Đông Dương hóa chiến tranh”, tháng 6-1970, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) nhận định: Thời gian tới, âm mưu quan trọng nhất của Mỹ là tăng cường đánh phá tuyến chi viện của cách mạng 3 nước Đông Dương. Từ đó, Bộ Chính trị giao nhiệm vụ cho QUTƯ, Bộ Quốc phòng: Phối hợp chặt chẽ với các hướng chiến trường Lào và Campuchia, “phải có kế hoạch sẵn sàng đánh bại các cuộc tấn công lớn hoặc những hoạt động lấn chiếm, bảo vệ hành lang chiến lược”. Chấp hành chỉ đạo của Bộ Chính trị, mùa hè năm 1970, QUTƯ và Bộ Tổng Tham mưu bắt tay xây dựng kế hoạch tác chiến cho mùa khô 1970-1971, dự đoán địch sẽ tiến công ở 3 hướng: Đường 9-Nam Lào, vùng ngã ba biên giới Việt Nam-Lào-Campuchia và Đông Bắc Campuchia, trong đó hướng chủ yếu là Đường 9-Nam Lào. Đây là nhận định chính xác, thể hiện sự nhạy bén của Trung ương Đảng cùng cơ quan tham mưu và chỉ huy chiến lược, đặt cơ sở cho toàn bộ thắng lợi sau này. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng, từ tháng 9-1970 đến tháng 1-1971, quân dân Việt Nam phối hợp chặt chẽ với quân dân hai nước bạn Lào, Campuchia chuẩn bị chu đáo, toàn diện trên tất cả các mặt, các hướng. Riêng tại hướng Đường 9-Nam Lào, Trung ương Đảng ta chủ động bàn bạc với Trung ương Đảng Nhân dân Lào (nay là Đảng Nhân dân Cách mạng Lào) thống nhất chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị, các chiến trường liên quan, lập phương án hiệp đồng tác chiến, phát huy sức mạnh tình đoàn kết, hạ quyết tâm mở chiến dịch phản công hiệp đồng quân binh chủng quy mô lớn. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm nhiều đơn vị chủ lực mạnh, bao gồm: 5 sư đoàn bộ binh (308, 304, 320, 324 và 2), nhiều đơn vị binh chủng cùng lực lượng tại chỗ của các mặt trận: B4 (Quân khu Trị-Thiên), B5 (Mặt trận Đường 9-Bắc Quảng Trị), Đoàn 559 (Bộ đội Trường Sơn). Tổng quân số gần 60.000 người. Ngoài ra, chiến dịch còn có sự giúp đỡ, phối hợp chặt chẽ từ nhân dân các bộ tộc và lực LLVT cách mạng Nam Lào, nhất là tại tỉnh Savannakhet (nơi Đường 9 chạy qua). Sau một thời gian chuẩn bị và cơ động lực lượng, đầu tháng 2-1971, quân ngụy (được Mỹ yểm trợ) đồng loạt tổ chức 3 cuộc tiến công vào tuyến hành lang chi viện chiến lược Trường Sơn. Quân dân 3 nước Việt Nam-Lào-Campuchia với thế trận đã chuẩn bị sẵn, chủ động đón đánh ngay từ đầu, giáng trả địch những đòn bất ngờ, mạnh mẽ. Trên hướng Đông Bắc Campuchia, Trung ương Cục miền Nam và Bộ chỉ huy Miền quyết định sử dụng lực lượng chủ lực hoạt động ở miền Đông Nam Bộ, bao gồm 3 sư đoàn bộ binh (5, 7 và 9), 1 sư đoàn pháo binh và các đơn vị binh chủng phối hợp với lực lượng kháng chiến và nhân dân Campuchia mở chiến dịch phản công, đánh tan cuộc hành quân “Toàn thắng 1/71”, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 20.000 tên. Tại ngã ba biên giới Việt Nam-Lào-Campuchia, bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên với cách đánh mưu trí, sáng tạo, phối hợp với quân dân địa phương đánh tan cuộc hành quân “Quang Trung 4” của quân đoàn 2 ngụy, loại khỏi vòng chiến đấu gần 10.000 tên. Thắng lợi tại chiến trường Đông Bắc Campuchia và ngã ba biên giới đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, đẩy chúng lún sâu vào thế bị động, không còn khả năng chi viện cho chiến trường Đường 9-Nam Lào, tạo điều kiện thuận lợi cho quân dân Việt-Lào chiến đấu. Chiến dịch phản công Đường 9-Nam Lào diễn ra từ ngày 30-1 đến 23-3-1971, kết thúc thắng lợi. Lần đầu tiên, ta thực hành thắng lợi chiến dịch phản công hiệp đồng quân binh chủng quy mô lớn, đánh tiêu diệt một tập đoàn quân chủ lực tinh nhuệ của địch, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 21.000 tên, bắn rơi và phá hủy 556 máy bay, 528 xe tăng, xe bọc thép, 112 khẩu pháo, cối, thu giữ nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh của địch. Như vậy, chỉ trong mấy tháng đầu năm 1971, quân dân 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia đã vượt lên gian khổ, hy sinh, đánh bại hoàn toàn 3 cuộc phản công quy mô lớn trên 3 địa bàn chiến lược ở cùng một thời điểm. Mỗi chiến công giành được đều là kết quả của sự phối hợp chặt chẽ, mang dấu ấn sức mạnh đoàn kết nhân dân 3 nước Đông Dương. Chiến thắng Đường 9-Nam Lào khiến chúng ta thêm tự hào truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc, đồng thời cũng nhận thức sâu sắc, đầy đủ hơn về sức mạnh của tình đoàn kết 3 nước Đông Dương trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do.

Quyết tâm bảo vệ những giá trị cơ bản của chủ nghĩa Lênin

Lênin vận dụng trung thành, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Giống như C.Mác và Ph.Ăng-ghen trong thế kỷ 19, V.I.Lênin xuất hiện trong thế kỷ 20 với tư cách là một nhà bác học vĩ đại nhất trong cách mạng và thực hiện cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong khoa học; là một trong những người có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong thế kỷ 20. Chủ nghĩa Lênin trở thành cấu phần rất quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và là kim chỉ nam cho hành động của các đảng cộng sản trên thế giới. Lênin là người kế tục trung thành, bảo vệ và phát triển sáng tạo các học thuyết khoa học, cách mạng của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, đã lãnh đạo Đảng Cộng sản Bolshevik (b) và nhân dân Nga làm cuộc cách mạng long trời lở đất, xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột người; giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, mở ra thời đại mới-thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản (CNTB) lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) và cách mạng vô sản (CMVS) trên phạm vi toàn thế giới. Bảo vệ những giá trị cơ bản của chủ nghĩa Lênin Với việc bảo vệ và phát triển sáng tạo cả 3 bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác trước sự tấn công từ nhiều phía của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị, Lênin đã bổ sung, phát triển toàn diện, đồng bộ cả 3 bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác: Triết học, Kinh tế học chính trị và Chủ nghĩa xã hội khoa học với hệ thống luận điểm mới, sáng tạo; nâng tầm cao thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của cuộc CMVS trong giai đoạn CNTB độc quyền chuyển thành chủ nghĩa đế quốc-đêm trước của CMVS. Sự cống hiến vĩ đại của Lênin đã làm cho chủ nghĩa Mác sống động hơn, trở thành hệ thống lý luận hoàn bị nhất, chắc chắn nhất, trở thành “công cụ nhận thức vĩ đại” để giai cấp công nhân nhận thức và cải tạo thế giới. Với ý nghĩa đó, chủ nghĩa Lênin được coi là sản phẩm phát triển chín muồi của chủ nghĩa Mác trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, là sự hội tụ, kết tinh, liên tục đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững hệ tư tưởng vô sản, khẳng định sự tất thắng của mục tiêu, con đường đi tới CNXH của giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ trong thời đại cách mạng XHCN. Lênin đã nâng tầm cao uy tín, vị thế, giá trị và ý nghĩa lý luận-thực tiễn của chủ nghĩa Mác; nêu tấm gương mẫu mực về sự trung thành, đổi mới sáng tạo trong kế thừa, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-hệ tư tưởng của giai cấp vô sản trong điều kiện lịch sử mới. Lênin coi chủ nghĩa Mác là một hệ thống mở, bởi ông cho rằng lý luận của C.Mác mới chỉ đặt nền móng cho một bộ môn khoa học mà những người cộng sản cần phải phát triển hơn nữa, nếu không muốn trở thành lạc hậu và bị cuộc sống đào thải. Sự thống nhất biện chứng về quan điểm, lập trường thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng giữa chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Lênin đã gắn chặt tên tuổi, cuộc đời, sự nghiệp của các ông với giai cấp công nhân, với hệ tư tưởng của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công; xây dựng chế độ xã hội mới tốt đẹp-xã hội XHCN. Vì lẽ đó, chủ nghĩa Lênin được coi là chủ nghĩa Mác trong thời đại mới-thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH và CMVS trên phạm vi toàn thế giới. Chủ nghĩa Mác đã được tiếp nối bằng sức sống đầy sinh khí của chủ nghĩa Lênin trên cơ sở thống nhất biện chứng giữa lập trường, quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa cộng sản (CNCS). Vì vậy, chủ nghĩa Lênin chính thức trở thành chủ nghĩa Mác-Lênin - nguồn năng lượng dồi dào, động lực mới tạo nên sức mạnh vô địch và là cấu phần rất quan trọng trong nền tảng tư tưởng của các đảng cộng sản. Trong chiều sâu của sợi dây chuyền ấy, người có công kết nối, xây dựng, tạo nên tượng đài dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân thế giới là Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh. Với linh hồn sống động của chủ nghĩa Mác là phép biện chứng duy vật và giá trị nhân văn sâu sắc, Lênin đã giải quyết thỏa đáng mối quan hệ biện chứng giữa trung thành và sáng tạo, bảo vệ và phát triển, lý luận và thực tiễn, đưa chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của các đảng cộng sản. Quan điểm của Lênin về cách mạng XHCN có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, vạch ra con đường đi tới với triển vọng thắng lợi của CMVS ở một số nước, thậm chí ở một nước, đồng thời nhấn mạnh vai trò chủ động, tích cực sáng tạo của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống mọi loại kẻ thù. Để cách mạng thắng lợi hoàn toàn, Lênin yêu cầu phải bảo đảm quyền lãnh đạo tuyệt đối của giai cấp công nhân, đứng đầu là bộ tham mưu chiến đấu có tổ chức và là tổ chức cao nhất là Đảng Cộng sản. Cùng với đó, phải xây dựng khối liên minh công nông và khối đại đoàn kết giữa các dân tộc vững chắc; kiên quyết thực hiện chuyên chính vô sản; ra sức đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội; làm cho CNXH ngày càng nhiều hơn, dân chủ nhiều hơn. Chìa khóa để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng XHCN là sự giác ngộ và làm chủ vận mệnh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đặc biệt là việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ của Đảng và sử dụng hiệu quả tầng lớp trí thức XHCN. Kiên định, kiên quyết bảo vệ những giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin Lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác cũng như lý tưởng và sức sống mãnh liệt của Cách mạng Tháng Mười Nga là những giá trị vĩnh hằng, có sức sống trường tồn cùng nhân loại bởi “cái ngày vĩ đại ấy càng cách xa chúng ta thì ý nghĩa của cuộc CMVS Nga càng trở nên rõ rệt, chúng ta cũng càng suy nghĩ sâu về toàn bộ kinh nghiệm thực tiễn của công tác của chúng ta”(1), thấy rõ hơn giá trị và ý nghĩa hiện thực của Cách mạng Tháng Mười Nga; đặc biệt là những cống hiến vĩ đại của Lênin đối với việc khai mở con đường thực hiện tiến bộ xã hội, đưa các dân tộc thuộc địa thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, trở thành chủ nhân xây dựng cuộc sống mới, sống trong hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc. Chúng ta nhận thức sâu sắc rằng, phát triển không phải là một đường thẳng mà có lúc sẽ diễn ra quanh co, phức tạp. Sự ra đời, tồn tại, phát triển và sụp đổ của các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô trong thập kỷ 90 của thế kỷ 20 phần nào đã nói lên sự “dích dắc” đó. Song, không vì thế mà tiến trình lịch sử bị đảo lộn, bị “ngưng đọng”, “thụt lùi”. Theo quy luật tiến hóa của loài người, lịch sử vẫn tiếp tục vận động và phát triển. Những tổn thất từ sự sụp đổ của một số nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô là đáng tiếc nhưng nó chỉ có thể làm chậm bước tiến của nhân loại trên con đường đi lên CNXH. Song, nó cũng nói lên rằng, các thế lực thù địch không thể và không bao giờ xóa bỏ được lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga cũng như mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH mà Đảng, Bác Hồ và dân tộc ta đã lựa chọn. Điều này đã được Đảng ta khẳng định: “Lịch sử đang trải qua những bước quanh co, phức tạp, song “loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới CNXH, vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”(2). Vì vậy, khi nói về ý nghĩa thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đó là thắng lợi của lý tưởng cộng sản, của Cách mạng Tháng Mười Nga, thắng lợi của chủ nghĩa Mác-Lênin. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam đã chỉ ra một chân lý không thể nào bác bỏ, đó là bất cứ một xã hội nào đã tỏ ra lỗi thời, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, của dân tộc, cản trở tiến bộ xã hội thì tất yếu sẽ bị thay thế bởi một chế độ xã hội khác cao hơn, tiến bộ hơn; đó là xã hội XHCN-giai đoạn đầu của CNCS. Con đường xóa bỏ sự lạc hậu, lỗi thời, tệ nạn người áp bức, bót lột người là đi theo tấm gương Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại. Sự sụp đổ của chế độ XHCN theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và các nước Đông Âu đem lại cho chúng ta nhiều bài học sâu sắc, cần suy ngẫm, rút kinh nghiệm để chỉ đạo sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay: Bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào, người cộng sản đều phải kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga, con đường cách mạng vô sản, luôn độc lập, tự chủ, năng động, sáng tạo, thường xuyên đổi mới, tỉnh táo đi lên CNXH. Trong đó, đổi mới nhận thức, bổ sung, phát triển lý luận về đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc phù hợp với thời cuộc hiện nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Học tập, tin theo Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta cần đổi mới nhận thức, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam. Làm tốt điều này là thiết thực bảo vệ và góp phần tăng thêm sức sống cho chủ nghĩa Mác-Lênin - nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện lịch sử mới. Có thể nói rằng, lý luận về đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là một sáng tạo trong vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Không thể vì sự sụp đổ của chế độ XHCN theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và Đông Âu mà ai đó đã vội quy kết, coi nó là “sự phá sản”, “sự sụp đổ” của chủ nghĩa Mác-Lênin, của lý luận về CNXH khoa học hay sự thất bại của lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga. Đó chỉ là sự ngộ nhận và là quan điểm hoàn toàn sai trái, cần loại bỏ. Trái lại, những gì đã diễn ra ở Liên Xô và các nước Đông Âu những năm 90 của thế kỷ 20 là minh chứng khẳng định rằng, trong tình hình hiện nay, bất cứ đảng cộng sản nào và bất cứ ai, nếu coi thường chủ nghĩa Mác-Lênin, đi ngược lại lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga, thì tất yếu sẽ mắc phải sai lầm về chính trị, và mọi sai lầm đều phải trả giá đắt: Đảng Cộng sản mất vai trò lãnh đạo; chế độ XHCN sụp đổ, xã hội sẽ rơi vào rối loạn, nhân dân sẽ đau khổ, lầm than. Đó là kết cục đáng tiếc về sự sai lầm, khinh thường chủ nghĩa Mác-Lênin. Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay từ khi mới ra đời cho đến nay, đặc biệt từ Đại hội VII (1991), Đảng đã khẳng định lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Do vậy, kiên trì, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề có tính nguyên tắc số một đối với Đảng ta, vì điều căn cốt này liên quan trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ ta. Một trong những yêu cầu, giải pháp hàng đầu để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu mà Đại hội XIII của Đảng vạch ra là bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, đặc biệt là nghiên cứu, khai thác những giá trị quý báu của chủ nghĩa Mác-Lênin, toàn bộ di sản mà Người để lại cho nhân loại, đặc biệt là lý luận về xây dựng đảng mác xít kiểu mới, về chính sách kinh tế mới (NEP), về chiến tranh và hòa bình... Qua đó, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn chủ nghĩa Lênin-ngọn nguồn bí mật đã đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác, trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam và Người đã mở ra con đường mới cho cách mạng Việt Nam-con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

Thứ Hai, 14 tháng 2, 2022

NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI LỆCH VỀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

 Những ngày qua, đất nước phấn khởi chào đón mùa xuân mới, cũng là dịp kỷ niệm 92 ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Vai trò, vị trí lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử. Thực tiễn quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.


Tuy nhiên, vào mỗi dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động lại gia tăng các hoạt động tuyên truyền chống phá, đưa ra những luận điệu xuyên tạc hòng làm lung lạc về nhận thức, niềm tin đối vai trò, vị trí cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Từ đó, chúng tích cực vận động, tập trung lực lượng, đẩy mạnh hoạt động chống phá hòng làm thay đổi chế độ chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Đây là âm mưu, luận điệu nguy hiểm, cần được nhận diện, đấu tranh, phản bác trong công tác tư tưởng hiện nay. Những luận điệu này tập trung ở những điểm sau đây:


Một là, các đối tượng xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ  nhận cơ sở lý luận về vị trí, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.


Những chiêu bài mà chúng sử dụng không mới nhưng ngày càng tinh vi và thâm độc hơn. Các đối tượng lập luận, tuyên truyền, cổ vũ cho việc từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, cho rằng đây là sự sai lầm về ý thức hệ; rêu rao học thuyết Mác - Lênin là một “lý thuyết suông” về CNXH không tưởng, không bao giờ thực hiện được.


Cho rằng sự sụp đổ của CNXH ở Đông Âu, Liên Xô và trên toàn thế giới là một tất yếu, là sự cáo chung đã được báo trước; xuyên tạc lý luận về CNXH đã lỗi thời, không còn phù hợp với thế kỷ XXI, đặc biệt không phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam hiện nay và cần loại bỏ. Tầm thường hóa, phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh; cố tình xuyên tạc Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin với học thuyết đấu tranh giai cấp là nguyên nhân gây ra cảnh “huynh đệ tương tàn, nồi da nấu thịt” trước đây, làm đất nước nghèo nàn, lạc hậu…


Vị trí, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn của lịch sử dân tộc. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, trong điều kiện khủng hoảng về đường lối cứu nước, đã xuất hiện nhiều khuynh hướng đấu tranh, nhiều lực lượng cách mạng, tuy nhiên đều không thể giành lại độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Chỉ khi Nguyễn Ái Quốc tìm ra chân lý con đường cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác - Lênin, sự ra đời, lãnh đạo, đoàn kết, tập hợp lực lượng của Đảng đã dẫn dắt dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đem lại vị thế, cơ đồ đất nước như ngày hôm nay. Thực tiễn khách quan là minh chứng khẳng định rõ, không thể nói chủ nghĩa Mác - Lênin là sai lầm ý thức hệ, sai lầm lịch sử như các luận điệu chống phá.


Hai là, các đối tượng cố gắng lập luận, quy kết thể chế chính trị ở Việt Nam tạo lập vị trí của Đảng đứng trên Hiến pháp, cho rằng Đảng đã và đang tham nhũng quyền lãnh đạo, cai trị đất nước, chuyên quyền, độc đoán.


Chúng ta đều biết, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua bao giông tố, thác ghềnh, đưa dân tộc Việt Nam tới những thắng lợi hiển hách, thống nhất non sông đất nước, mang lại độc lập cho dân tộc. Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Với cơ sở như vậy thì luận điệu rêu rao “trong thể chế chính trị ở Việt Nam, Đảng đứng trên Hiến pháp, tham nhũng quyền lãnh đạo, và bám giữ quyền cai trị đất nước; một thể chế độc đảng là chuyên quyền, độc đoán” là hoàn toàn sai trái. Rõ ràng, luận điệu này nhằm mục đích phá hoại, lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng.


Ba là, dưới chiêu bài góp ý về đổi mới thể chế chính trị Việt Nam, các đối tượng đưa ra những luận điệu chống phá núp dưới dạng kiến nghị, đòi hỏi phải “đổi mới chính trị” bằng cách phải thực hiện thể chế đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.


Trước hết, cần thấy rằng, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nằm trong âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình” mà mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị, hướng lái cách mạng Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa. Từ đó, chúng đòi hỏi phải thực hiện xóa bỏ ngay Điều 4 của Hiến pháp. Thực chất luận điệu này là tạo điều kiện, tiền đề cho việc ra đời và công khai hóa, hợp pháp hóa các tổ chức chính trị đối lập, từ đó cạnh tranh vai trò lãnh đạo, tiến tới thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng rêu rao nước ta vẫn còn tình trạng khủng hoảng, đói nghèo là hậu quả của chính sách cai trị độc tài dựa trên nền tảng tư tưởng chính trị là chủ nghĩa Mác-Lênin mà Đảng Cộng sản áp đặt trên đất nước Việt Nam. Chúng tập trung xuyên tạc vào các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ, vu cáo rằng đó là chiếm quyền để cai trị nhân dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền, "độc đoán, đảng trị"… Luận điệu này xuyên tạc bản chất chính trị, hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng, đẩy quần chúng, nhân dân xa rời, đối lập với Đảng, thúc đẩy thể chế đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.


Lịch sử diễn ra tại Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu đã chỉ ra bài học xương máu, chứng minh rõ âm mưu, ý đồ thâm độc này. Sau khi Điều 6 Hiến pháp Liên Xô bị xóa bỏ, ngay lập tức, các đảng phái xuất hiện “như nấm sau mưa”, ngoài Đảng Cộng sản Liên Xô còn có tới 153 tổ chức đảng phái khác ra đời và cạnh tranh vai trò lãnh đạo với Đảng Cộng sản. Đến đầu năm 1991, sự tồn tại của Đảng Cộng sản Liên Xô chỉ còn trên danh nghĩa và sự sụp đổ của Liên bang Xô viết vào cuối năm 1991 là tất yếu, khi Đảng Cộng sản đã mất quyền lãnh đạo. Không đi theo “vết xe đổ của Liên Xô”, bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, không để hình thành tổ chức chính trị đối lập, đối trọng với Đảng và Nhà nước là yêu cầu có tính nguyên tắc. 


Bốn là, các đối tượng lợi dụng những vấn đề mang tính tiêu cực nảy sinh trong đời sống xã hội như thiếu sót, bất cập trong cơ chế, chính sách, tình trạng tham nhũng... để hướng lái, xuyên tạc bản chất của chế độ, quy tiêu cực do hệ quả sự lãnh đạo của Đảng.


Trong quá trình đổi mới, các lĩnh vực của đời sống xã hội vừa được xây dựng, tổng kết, rút kinh nghiệm và từng bước hoàn thiện về mặt lý luận và thực tiễn. Những vấn đề như kinh tế thị trường định hướng XHCN còn những hạn chế, hoàn thiện còn chậm; hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách chưa hoàn chỉnh và đồng bộ; nhiều cơ chế, chính sách chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới. Cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa chưa đạt mục tiêu. Kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước hiệu quả hoạt động chưa cao; công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí mặc dù đạt được những kết quả tích cực song còn nhiều tồn tại, hạn chế; hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước còn những bất cập… Dựa vào những hạn chế, tồn tại nói trên, các thế lực thù địch lợi dụng để suy diễn, xuyên tạc, thổi phồng dưới nhiều hình thức khác nhau. Chúng lập luận, quy chụp bằng những luận điệu chính trị hóa, cho rằng đó là bản chất của chế độ XHCN và là hậu quả của Đảng. Những luận điệu này làm cho những người không có tư tưởng chính trị vững vàng dễ bị lầm tưởng, hồ nghi, thậm chí xét lại, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái về tư tưởng chính trị.


Tổng kết 35 năm đổi mới, Đại hội XIII của Đảng đánh giá:“Đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN”. Có được những thành tựu trên đây là do Đảng ta có đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo, phù hợp lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, được nhân dân tin tưởng, kiên định, đấu tranh, hy sinh, thực hiện con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn mình” mà Đảng lựa chọn.

VIỆT NAM XỨNG ĐÁNG VỚI DANH HIỆU "CON HỔ CHÂU Á MỚI"


Trong một bài viết đăng tải ngày 13-2, Sputnik cho biết, ngân hàng hàng đầu của Singapore DBS đã dự báo tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam trong năm 2022 là 8%.


Theo chuyên gia Alexandr Rogozhin thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga, dự báo trên không phải là lạc quan thái quá. “Việt Nam hoàn toàn xứng đáng với danh hiệu “con hổ châu Á mới”. Việt Nam đang cho thấy những kết quả đáng kinh ngạc về kinh tế và xã hội. Trong hoàn cảnh khó khăn của đại dịch Covid-19 giáng đòn nặng nề vào nền kinh tế toàn cầu, Việt Nam đã đạt được những kết quả xuất sắc.


Với những nỗ lực kiên quyết trong triển khai công tác ngoại giao vaccine, Việt Nam có tỷ lệ bao phủ vaccine ngừa Covid-19 lớn, từ đó tạo điều kiện cho nền kinh tế nhanh chóng phục hồi”, ông Rogozhin khẳng định. Vị chuyên gia này nhấn mạnh sự phát triển năng động, ổn định của nền kinh tế Việt Nam có được là nhờ vào các chính sách hiệu quả của các nhà lãnh đạo Việt Nam.


Sự ổn định chính trị, lực lượng lao động có tay nghề cao, trẻ và giá rẻ đã trở thành những yếu tố quan trọng trong việc thu hút một số lượng lớn doanh nghiệp nước ngoài tới Việt Nam.

 CẦN NHẬN RÕ ÂM MƯU CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CNXH Ở VIỆT NAM                                        

    Dễ nhận thấy, không phải đến tận bây giờ, kẻ thù mới hướng mũi chống phá vào việc phủ nhận CNXH ở Việt Nam mà thực chất, đây là mục tiêu xuyên suốt, bao trùm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Cái cách mà chúng đã thành công ở Liên Xô và các nước Đông Âu 3 thập kỷ trước. Theo đó, mỗi khi có cơ hội, kiếm tìm được cái cớ về sự kiện, hiện tượng ở xã hội Việt Nam chúng lại réo lên những thông tin phản nghịch, đậm chất ngụy biện, bịa đặt, hòng gây xáo trộn nhận thức, lung lay niềm tin về mục tiêu lý tưởng của Đảng. Nhất là khi chúng ta kỷ niệm 92 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và xuất bản cuốn sách những vấn đề lý luận và thực tiễn về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam thì chúng lại càng ra sức chống phá đây là việc làm xấu xa mà chúng vẫn thường làm mà thôi. Còn chúng ta vẫn luôn tin tưởng rằng con đường đi lên CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là hoàn toàn đúng đắn./.

 Luận điệu sai trái về thời đại ngày nay

     Nhận thức rõ đặc điểm và xu hướng phát triển của thời đại cũng như cục diện và tình hình thế giới là một việc rất cần thiết. Hiểu biết sâu sắc về thời đại giúp ta tìm thấy xu hướng tất yếu trong vô vàn những hiện tượng phức tạp, mang tính ngẫu nhiên của đời sống xã hội, giúp ta nhìn xa trông rộng, nắm bắt khuynh hướng và quy luật phát triển của nhân loại để vừa có thể lựa chọn được hướng đi phù hợp với sự phát triển của lịch sử; lường trước được những thách thức phức tạp, tránh được những vấp váp sai lệch trên đường đi; từ đó sẽ không bị chao đảo hoặc bị cuốn trôi trước phong ba bão táp của thời cuộc và đời sống chính trị quốc tế.
     V.I.Lenin từng chỉ rõ: Khi phân tích bất cứ vấn đề xã hội nào, phải đặt trong bối cảnh lịch sử nhất định, vì chỉ có dựa trên cơ sở hiểu biết những đặc điểm cơ bản của một thời đại, người ta mới có thể tính đến những đặc điểm chi tiết của nước này hay nước khác. Nói cách khác, vấn đề thời đại là căn cứ khách quan và tiền đề cần thiết để các chính đảng đi theo Chủ nghĩa Mác phân tích tình hình, xác định nhiệm vụ, phân chia trận tuyến, xây dựng chiến lược, hoạch định chính sách, triển khai thực hiện một cách khoa học.
     Chính vì lẽ đó, khi bàn về những vấn đề lớn của cách mạng, trước đây cũng như hiện nay, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta bao giờ cũng bắt đầu bằng việc phân tích đặc điểm, nội dung, xu thế phát triển của thời đại và nhận định các mặt của tình hình thế giới để xác định đúng con đường đi của cách mạng Việt Nam và đề ra đường lối đối nội, đối ngoại đúng đắn, sáng tạo.
     Đây là luận điệu sai trái cần phải phê phán, vì những lý do cơ bản sau:Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn là như vậy, nhưng hiện nay, một số luận điệu sai trái cho rằng: Thật không tưởng khi nói thời đại ngày nay là quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vì vậy, từ Đại hội XIII trở đi, không nên nói đến chủ nghĩa xã hội nữa. Cụ thể hơn, họ cho rằng làm gì có thời đại quá độ; nội hàm, đặc điểm, xu thế của thời đại là sự mơ hồ; hai nội dung cốt yếu của thời đại đã bị lịch sử phủ định. Bởi thế, khi không còn Liên Xô và hệ thống XHCN nữa thì Việt Nam làm sao có thể đi lên chủ nghĩa xã hội được.

 

KHÂM PHỤC Ý CHÍ THÉP CỦA ÔNG CHA TA

Trong vòng 4 năm với 1.089 ngày làm việc, người lính ấy đã mang được hơn 55 tấn hàng trên lưng và đi qua quãng đường có tổng chiều dài 41.025 km, tương đương một vòng trái đất theo đường xích đạo... Đó là những con số kỷ lục mà đại tá, anh hùng Nguyễn Viết Sinh (SN 1940, xã Xuân Hòa, huyện Nam Đàn, Nghệ An) – người được ví là anh hùng gùi hàng trên dãy núi Trường Sơn năm xưa.

Ăn rau rừng vác cả yến hàng trèo đèo lội suối

Năm 1961, khi vừa tròn 21 tuổi, ông Sinh đi theo tiếng gọi của Tổ quốc đã lên đường nhập ngũ.

Sau 1 ngày đêm di chuyển, địa điểm ông đặt chân đến đầu tiên là làng Ho - Quảng Bình. Tại đây, ông được vào biên chế tại Tiểu đoàn bộ binh 301 với nhiệm vụ tải hàng vào chiến trường miền Nam.

Thời đó, quân ta vừa đi vừa mở đường, phương tiện cơ giới không có nên toàn bộ hàng hóa, tiền tệ, súng đạn, nhu yếu phẩm đều được vận chuyển bằng...gùi hàng, cõng trên lưng. Cũng vì thế, nhiệm vụ của ông Sinh và đồng đội là rất cấp bách và cần thiết.

Với khẩu hiệu “1kg hàng là 1 đồng bào miền Nam đỡ đổ máu”, ông Sinh cùng đồng đội đã cố gắng vượt bao gian khó của địa hình núi đèo hiểm trở để vận chuyển hàng nghìn chuyến hàng.

Thời gian đầu không quen, ông Sinh chỉ gùi được 15kg hàng trên lưng. Rồi sau đó dần quen với công việc, ông Sinh mạnh dạn tăng dần lượng hàng trên lưng thêm nhiều chục kg nữa. Có lúc đỉnh điểm, trên lưng ông gùi hơn 75kg, trong khi đó, người ông Sinh chỉ nặng 58kg.

Vấn đề gùi hàng trên lưng di chuyển đã khó và nhiệm vụ của ông Sinh và đồng đội càng khó khăn hơn nữa khi địa hình là đèo núi hiểm trở với chiều dài mỗi trạm hơn 20km. Vì thế, dù có sức khỏe nhưng nhiều chiến sỹ cũng không thể hoàn thành được nhiệm vụ này.

“Những ngày đầu mới gùi hàng, tôi tưởng không thể chịu nổi được. Hàng trên lưng nặng gần bằng người khiến dây thắt lại vào vai đau ê ẩm. Đôi chân có lúc phồng rộp lên vì đi nhiều. Quần áo, dép cao su hư hỏng liên tục, cứ mấy tháng tôi phải xin thay”, ông Sinh nói.

Ngày đó, tiểu đội của ông có 9 chiến sỹ, ông Sinh được phân làm tiểu đội trưởng. Trong đó, ông Sinh gùi hàng và làm việc hiệu quả hơn nhiều lần các chiến sỹ khác cùng tiểu đội.

Mỗi ngày, cứ đều đặn, ông Sinh cùng đồng đội phải căng mình cõng những chuyến hàng vượt qua quãng đường 40km (cả đi và về) để thực hiện nhiệm vụ. Có lần đỉnh điểm giao công văn hỏa tốc, ông Sinh phải đi cả ngày lẫn đêm hơn 80km để hoàn thành nhiệm vụ.

Ngoài nhu yếu phẩm, có ngày những người lính bị thương được chuyển ra Bắc để điều trị, sau khi giao hàng xong, khi quay trở lại đơn vị, ông Sinh lại cùng mọi người khiêng binh sĩ đi bệnh viện điều trị.

Ông Sinh nhớ lại, người lính chiến trường làm việc khổ là vậy nhưng ăn uống còn gian khó hơn bởi sự thiếu thôn và đói. Có những ngày, di chuyển ở Hạ Lào, trời mưa, anh em hết thức ăn nên cả đội chỉ ăn rau rừng và măng cho qua ngày để tiếp tục gùi hàng làm nhiệm vụ.

“Có những đợt đói khát anh em phải ăn rau rừng, măng. Tuy vậy nhưng anh em cũng cố gắng ăn thật nhiều để lấy sức gùi hàng.

Gạo thì vẫn có sau lưng đấy, nhưng chúng tôi không dám lấy ăn. Vì chúng tôi ăn thì các anh em ở chiến trường trực tiếp cầm súng sẽ đói, nên chúng tôi nhịn”, ông Sinh chia sẻ.

Người lính Trường Sơn đi trọn 1 vòng trái đất

Cứ như thế, Suốt 4 năm từ 1961 đến 1965, ông Sinh đã làm tổng cộng hơn 1.000 ngày, mang được hơn 55 tấn hàng trên lưng và đi quảng đường dài hơn 41.025km, tương đương 1 vòng trái đất theo đường xích đạo.

Thành tích của ông đã được ghi rõ trong 1 cuốn sách: Năm 1962: Gùi 13.553kg hàng trên đoạn đường 10.196km; Năm 1963: Gùi 9.365kg hàng và khiêng 23 cáng thương; Năm 1964: Mang vác 11.445kg, thồ 8.230kg, khiêng 62 ca thương binh trên đoạn đường 10.982km.

Với những thành tích đó, ngày 1/1/1967, ông Sinh được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Ngày đó, ông Sinh là 1 trong những anh hùng đầu tiên ở Trường Sơn được ra Hà Nội báo cáo gương điển hình nhưng vì đường xa, ông Sinh đã bỏ lỡ cơ hội.

Kết thúc những năm tháng làm chiến sỹ giao liên gùi hàng, ông Sinh được chuyển sang làm đường ở bên Lào. Năm 1991, ông về hưu với quân hàm Đại tá.

Năm 2012, Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã về trao huy chương, xác lập kỷ lục cho ông Sinh là người chiến sỹ giao liên Trường Sơn gùi thồ hàng và dẫn quân với tổng đoạn đường dài nhất.

Kỷ lục của ông cũng đã được viết trong cuốn “Chân trần chí thép” được xuất bản vào tháng 4/2010, của Trung tá thủy quân lục chiến James G.Zumwalk viết về đường Hồ Chí Minh.

Trong sách viết có đoạn: “Trước khi xe cơ giới có thể lưu thông trên đường mòn, gùi hàng là cách thức vận tải chính yếu. Nguyễn Viết Sinh có lẽ là nhân vật minh họa rõ nhất quyết tâm của người tải hàng với mỗi lần gùi được 45-50kg.

Trong vòng 4 năm với 1089 ngày làm việc, anh đã mang được hơn 55 tấn hàng trên lưng và đi qua quãng đường có tổng chiều dài 41.025km - tương đương một vòng trái đất theo đường xích đạo và mang theo 1 lượng hàng bằng với trọng lượng cơ thể”.

ST

 

VIỆT TÂN LẠI XUYÊN TẠC LỄ TỊCH ĐIỀN CỦA NƯỚC TA


Nếu như hình ảnh Nguyễn Văn Thiệu ngồi trên máy cày trong ngày 26/3/1970. Bọn Việt Tân cho rằng những năm 70 của thế kỷ trước Việt Nam Cộng Hòa đã đi cày bằng máy cày là văn minh . Còn ảnh phía dưới là hình ảnh Chủ tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam trong Lễ Tịch điền Đọi Sơn 2022 tại xã Tiên Sơn, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam ngày 7/2/2022 là không văn minh?

Trong ảnh Chủ tịch nước trong trang phục nhà nông xuống ruộng đi cấy cùng chú trâu đạt giải trong cuộc thi hóa trang cho trâu trước đó. Hình ảnh những hoa văn trên người chú trâu cũng là những hoa văn giống năm con hổ để cầu chúc một năm mới nhiều lộc lá cho nông nghiệp.

Hơn nữa, lễ Tịch điền đã có cách đây hơn 1000 năm và là truyền thống quý báu của nhân dân ta mỗi dịp đầu xuân. Lễ hội Tịch điền được coi như một ngày quốc lễ, một lễ hội xuống đồng lớn nhất vùng đồng bằng Bắc Bộ, lễ hội mang ý nghĩa cho cả một năm của nông nghiệp làm ăn phát đạt, mây thuận gió hòa.

Trong khi đó Nông nghiệp Việt Nam trong năm 2021 cũng đạt được nhiều kết quả vượt bậc. Khi mà nhiều mặt hàng nông sản được xuất khẩu sang nhiều thị trường khó tính với chất lượng và giá cả cao hơn. Các giống lúa của Việt Nam đạt chất lượng hàng đầu thế giới và xuất khẩu lúa gạo cũng nằm top đầu của thế giới. Việc ứng dụng công nghệ kỹ thuật và hiện đại hóa nghành nông nghiệp cũng được đẩy mạnh hơn bao giờ hết. Tầm nhìn đến 2050: Việt Nam chúng ta sẽ trở thành nước có nền nông nghiệp hàng đầu thế giới.
Nền văn minh của nước chúng ta vẫn luôn luôn phát triển theo chiều hướng tích cực. Chỉ có lũ Việt Tân “ khát nước “ là chẳng có nền văn minh nào mà thôi. Hình ảnh Chủ tịch nước xuống ruộng cày Tịch điền chính là đại diện cho một nét văn hóa của dân tộc ta từ bao đời nay. Sự tiến hóa của văn minh chính là tiếp nhận những cái mới mẻ, tốt đẹp, có chọn lọc và giữ gìn truyền thống dân tộc. Cho nên chẳng có nền văn minh nào đi lùi cả mà chỉ có sự xuyên tạc của bè lũ Việt Tân mà thôi./.

 

TRÂN QUÝ MÙA XUÂN VÀ LẼ SỐNG CAO ĐẸP, KIÊN ĐỊNH CON ĐƯỜNG MÀ ĐẢNG, BÁC HỒ ĐÃ CHỌN

  Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã và đang là vấn đề thời sự, tâm điểm chống phá Đảng ta của các thế lực thù địch, nhất là vào dịp Tết đến Xuân về. Những người có quan điểm đối lập với Đảng ta cho rằng, “Việt Nam không thể có độc lâp dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”; việc “níu kéo mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” chứng tỏ Đảng Cộng sản Việt Nam “bảo thủ, trì trệ”, là “sai lầm nghiêm trọng” trong việc xác định con đường phát triển của dân tộc trong bối cảnh thế giới hiện đại đã khác xưa; toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế là một tất yếu khách quan, mang giá trị toàn cầu, khẳng định vị thế của chủ nghĩa tư bản là “đại diện chân chính” của thời đại... Vì vậy, các nước đang phát triển lựa chọn con đường tư bản chủ nghĩa là “khôn ngoan”, “sáng suốt”, “đúng quy luật khách quan”, còn Đảng Cộng sản Việt Nam “cứ khư khư bám giữ món đồ cổ” là chủ nghĩa Mác - Lênin, đi theo con đường chủ nghĩa xã hội là “tự mình trói buộc mình”, bị “cô lập”, bị “gạt ra lề cuộc sống”, “một mình một chợ”, “một mình một bàn cờ”…

Những lời lẽ xuyên tạc, vu khống của các thế lực thù địch là sai trái, phản động, tác động tiêu cực đến một bộ phận người dân nhẹ dạ, cả tin, do thiếu thông tin, ít quan tâm đến đời sống chính trị, gây tâm lý bức xúc, bất bình, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống tinh thần - xã hội, bị phần lớn người dân phản đối, bác bỏ tính phi lý của các quan điểm sai trái.

Chúng ta nhận thức rõ rằng, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn của Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta, đã trở thành mục tiêu, lẽ sống của một dân tộc yêu chuộng hòa bình, có khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Trong đó, độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở vững chắc để bảo đảm cho độc lập dân tộc. Đây là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ, quy định và bổ sung cho nhau. Cơ sở của sự lựa chọn và thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, là kinh nghiệm thực tiễn hơn 90 năm Đảng lãnh đạo quân và dân ta thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trên dải đất hình chữ S. Vì vậy, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là lẽ sống cao đẹp, nguyên tắc “bất di bất dịch” và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam. 

Thực tiễn đã được kiểm chứng bởi chính lịch sử dân tộc, truyền thống yêu nước và chí căm thù giặc của nhân dân ta, ngay sau khi thực dân Pháp đặt chân lên đất nước Việt Nam, các sĩ phu yêu nước đã lãnh đạo nhân dân ta khởi nghĩa, chống lại quân xâm lược. Thế nhưng, các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta đã bị dìm trong biển máu. Giai cấp phong kiến và đại diện cho các thế lực tư sản dân tộc đã không thể giải quyết thỏa đáng vấn đề độc lập dân tộc ở Việt Nam đầu thế kỷ XX. 

Chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời, cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi, đã chỉ ra con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, xóa bỏ áp bức, bóc lột, bất công; khẳng định giai cấp công nhân là “người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản”. Nhờ có chủ nghĩa Mác - Lênin soi sáng, dẫn đường, Cách mạng Tháng Mười Nga mở ra thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và tạo ra phản ứng dây chuyền, lan tỏa, làm nảy sinh hàng loạt cuộc đấu tranh giải phóng, trong đó có cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga và sự ra đời của Liên bang Xô viết, tính chất thời đại đã thay đổi căn bản, con đường, mục tiêu, phương pháp và lực lượng cách mạng cũng thay đổi; lịch sử thế giới đã sang trang mới, nhân loại đã được thức tỉnh. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga khẳng định chân lý: phải có độc lập dân tộc thì mới có thể đi lên chủ nghĩa xã hội. Nếu không giải quyết được vấn đề độc lập dân tộc thì chẳng những không thể đi lên chủ nghĩa xã hội mà thân phận của người dân lương thiện mãi mãi “bị áp bức, đọa đầy, chịu bóc lột bất công”. Vì lẽ đó, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là hai nhiệm vụ của cách mạng, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không thể tách rời nhau.

Những diễn biến mang tính bước ngoặc của thời đại đã lan truyền đến Việt Nam, nơi mà sự tàn bạo của thực dân Pháp đã “chuẩn bị sẵn đất rồi”, chủ nghĩa xã hội chỉ còn làm cái việc “gieo hạt giống cách mạng” để giải phóng dân tộc. Chính trong bối cảnh lịch sử ấy, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã từ chủ nghĩa yêu nước đến gặp chủ nghĩa Mác - Lênin, tiếp nhận lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại. Với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã trở thành mục tiêu, lẽ sống của nhân dân ta. Đảng, Bác Hồ đã chỉ ra con đường cách mạng Việt Nam: “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. 

Tuyên bố và lời hiệu triệu của Đảng Cộng sản Việt Nam đã bác bỏ mọi luận điệu sai trái: “Việt Nam phải đi theo con đường tư bản chủ nghĩa mới giải phóng được dân tộc” của các thế lực thù địch. Rõ ràng, lựa chọn mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta là hoàn toàn đúng đắn, là phù hợp với xu thế phát triển của Việt Nam và của thời đại; đáp ứng tâm tư, khát vọng được sống trong hòa bình, độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam. Nó khắc phục được những hạn chế, khuyết điểm của ý thức hệ phong kiến và tư sản trong giải quyết vấn đề độc lập dân tộc. Nhờ đó, nội dung độc lập dân tộc thể hiện sâu sắc ở các khía cạnh: độc lập về chính trị, kinh tế, văn hóa, đối ngoại; khẳng định sự tự do, bình đẳng, công bằng, quyền tự quyết của dân tộc, không có sự can thiệp của nước ngoài; là điều kiện tiên quyết để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người và giải phóng nhân loại. Đây là hệ giá trị phát triển của Việt Nam dưới ngọn cờ bách chiến, bách thắng của Đảng.

Với hệ giá trị này, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta vượt qua muôn ngàn khó khăn, gian khổ, giành những thắng lợi to lớn: Cách mạng Tháng Tám thành công năm 1945, nước Việt Nam dân chủ, cộng hòa ra đời, đưa nước ta bước vào kỷ nguyên mới: độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc. Sau đó, nhân dân ta đã đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và đi lên chủ nghĩa xã hội, tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Sự thật ấy bác bỏ mọi quan điểm sai trái, phản động; khẳng định tính độc lập, tự chủ, tự lực tự cường của dân tộc Việt Nam, từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một quốc gia độc lập, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành chủ nhân xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thành tựu ấy khẳng định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không chỉ là mục tiêu, nhu cầu, là cương lĩnh hành động, là ngọn cờ hiệu triệu, mà còn là niềm tin, động lực thúc đẩy nhân dân Việt Nam tiến lên nhờ gắn kết chặt chẽ hai sức mạnh: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Nhìn lại lịch sử thế giới, chúng ta cảm nhận sâu sắc giá trị, ý nghĩa của độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chia sẻ với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế về nỗi đau thương, mất mát đã diễn ra trên thế giới, nhất là sự sụp đổ của chế độ xã hội theo mô hình Xô viết ở Liên Xô, Đông Âu - nơi đã giành được độc lập dân tộc nhưng mắc mưu “diễn biến hòa bình” và sai lầm về đường lối chính trị nên nền độc lập ấy đã bị đánh cắp bởi sự chia rẽ dân tộc sâu sắc và sự can thiệp từ bên ngoài, sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch.

Điều đó khẳng định chỉ có độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mới là hệ giá trị đúng đắn, chính xác và là mục tiêu, lý tưởng cần có, phải giữ vững để nhân dân ta phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta tiếp tục phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, góp phần thực hiện hóa mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sớm đưa đất nước ta trở thành một quốc gia phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa; nhân dân có cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc./.

                                                     

 

 

 

 

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG: ĐẦU XUÂN NÓI VỀ THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ ĐẢNG, HẠI NƯỚC, HẠI DÂN…

92 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu, nhân dân ta đã kiên trì phấn đấu, giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thêm tuổi mới với tinh thần mới, khí thế mới, không có khó khăn nào, thế lực nào có thể ngăn đường, cản bước Đảng ta lãnh đạo toàn dân và toàn quân ta tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc tiến lên giành những thành tựu mới, góp phần xây dựng quốc gia hùng cường, thịnh vượng, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Đảng ta là đạo đức, là văn minh. Là nếp sống tốt đẹp, là hòa bình, tự do. Công ơn Đảng thật là to. 92 năm cả lịch sử Đảng là một pho lịch sử bằng vàng. Sau khi “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, dù phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách nhưng Đảng ta vãn vững tay chèo lái con thuyền cách mạng, đã khởi xướng và lãnh đạo nhân dân ta tiến hành công cuộc đổi mới đất nước thành công, giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đảng đã đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, đời sống vật chất, tình thần của nhân dân ta không ngừng được cải thiện; quốc phòng, an ninh được củng cố và tăng cường; uy tín, vị thế của nước ta ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế; chưa bao giờ nước ta có được cơ ngơi, tiền đồ, uy tín và vị thế quốc tế to lớn như ngày nay.

Phòng, chống “diễn biến hòa bình” – mệnh lệnh của cuộc sống Hương Sen Việt

Thành quả đó là nỗ lực không ngừng sáng tạo của Đảng ta đã được thế giới và ND ta thừa nhận, nhưng các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước đã không chấp nhận sự thật ấy. Chúng cố tình chống đối, gây nhiều khó khăn, trở ngại cho Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Chúng không muốn nhân dân ta có cuộc sống hào bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc. Vì vậy, chúng ra sức xuyên tạc, bóp méo sự thật, cản trở nhân dân ta xây dựng cuộc sống mới, kể cả lợi dụng việc vui Xuân đón Tết Nhâm Dần của nhân dân ta để chống đối Đảng, Nhà nước và chế độ. Chúng run sợ và lo lắng rằng, chừng nào ở nước ta còn có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thì chừng ấy “món nợ từ sự thâm thù chế độ của chúng chưa được trả hết”, giấc mộng lái nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa của chúng không thể thực hiện. Để nuôi hy vọng thực hiện mưu đồ phản trắc, phục thù, chúng đã thay đổi phưng thức chống phá Đảng ta, chuyển từ biện pháp quân sự, dùng bạo lực sang sử dụng biện pháp mới: phi quân sự, chủ yếu sử dụng âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, “dùng người Việt trị người Việt“ với âm mưu, thủ đoạn ngầm, mềm, sâu, tinh vi, thâm độc và xảo quyệt để chống phá Đảng ta, chiến thắng chủ nghĩa xã hội không cần chiến tranh, tiến hành cuộc hiến không có khói súng; chỉ cần “đánh chiếm lòng người, dùng đồng đô la” là thành công… Muốn vậy, bằng mọi cách chúng phải xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng.

Âm mưu, thủ đoạn thâm độc và xảo quyệt của các thế lực thù địch, phản động được thể hiện trước hết là phủ nhận thành quả cách mạng và công lao của Đảng, Bác Hồ là một thủ đoạn nham hiểm trong mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta. Để thực hiện âm mưu đen tối ấy, các thế lực thù địch đã và đang cố tình đổi trắng thay đen, bóp méo sự thật, xóa nhòa lịch sử, gán cho Đảng, Nhà nước và cách mạng Việt Nam những sai trái, tội lỗi mà đến các bậc sinh thành ra chúng cũng thấy “chướng tai gai mắt”, không thể chấp nhận. Sự thật là mọi người dân Việt Nam yêu nước không lạ gì những “điệp khúc” cũ rích: “Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là cái quái thai của lịch sử”, là “sai lầm của Cụ Hồ”, “Người dân Việt Nam không đáng tự hào vì Cách mạng Tháng Tám chẳng qua chỉ là sự thay đổi chế độ “vua quan bù nhìn” bằng “đảng trị”, “đảng độc tài”, đó là “sự ăn may của Đảng vì Nhật thua trong chiến tranh thế giới lần thứ hai”, “Đảng Cộng sản Việt Nam chẳng có tài cán gì”; thậm chí có kẻ còn “loạn ngôn” cho rằng: “Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là nguyên nhân gây ra hai cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam”, “nếu không có cuộc cách mạng này, nước ta đã là con rồng, con hổ ở châu Á từ lâu rồi”, v.v.. Những kẻ tung tin, tuyên truyền những luận điệu sai trái ấy cần phải nghiêm trị, xử phạt thật nặng theo pháp luật của Việt Nam. Ai cũng biết, khi chưa có Đảng, nước ta là nước thuộc địa nửa phong kiến, nghèo nàn, lạc hậu, Nhân dân đói khổ lầm than, cơ cực, phải làm nô lệ cho thực dân Pháp và tay sai. Nỗi đau về thảm họa của dân tộc do nạn đói năm 1945 để lại còn nhắc nhở các thế hệ con cháu chúng ta vì nó đã cướp đi hơn hai triệu người dân, bằng 11% dân số nước ta hồi ấy. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thắng lợi vĩ đại của Nhân dân ta mà trước hết là thắng lợi của sự lựa chọn đúng đắn con đường cách mạng của Đảng, Bác Hồ. Nó đã được chuẩn bị kỹ lưỡng, từ việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, trải nghiệm thực tiễn qua các cao trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939 và 1939-1945. Đó là những cuộc tổng diễn tập và là tiền đề cho Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, thể hiện sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, Bác Hồ kính yêu. Nếu không có sự lãnh đạo của Đảng và thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tất nhiên, chúng ta không thể có cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc ngày nay; cũng không thể có được niềm vui xum họp, vui Tết đoàn viên, chào mừng Xuân Nhâm Dần, khai mở con đường bước vào năm mới 2022, Nhân dân ta phấn khởi thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, vững tin bước vào thời kỳ phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Cuộc chiến tranh chống quân xâm lược của Nhân dân ta là chính nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo để giành lại độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Nó không phải là “nội chiến”, cũng không phải là “cuộc chiến tranh ủy nhiệm” như kẻ nào đó đã và đang rêu rao. Về thực chất, quan điểm sai trái này là sự xuyên tạc bản chất chính nghĩa của cuộc chiến tranh chống quân xâm lược, là xúc phạm danh dự, nhân phẩm, lương tri và giá trị nhân cách con người Việt Nam – những người đã đổ máu, hy sinh vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của Nhân dân, vì cuộc sống hòa bình hôm nay.

Nói về thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội và công cuộc đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Sau hơn 35 năm Đảng lãnh đạo công cuộc đổi mới nhìn lại, chúng ta tự hào về những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà chúng ta đã giành được; đất nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, đã qua thời kỳ lạm phát ba con số (774, 7% năm 1986) và ngày càng phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Song song phát triển kinh tế Đảng ta luôn coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh. Đảng đã quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”…

Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị và phản động lại bộc lộ rõ trong các quan điểm sai trái, chúng tập trung công kích Đảng, Nhà nước ta từ nhiều phía, cho rằng thành quả của cách mạng Việt Nam, nhất là thành tựu của công cuộc đổi mới hơn 35 năm qua không có gì đáng kể, tất cả là do Đảng ta “bịa ra”, “hư cấu”, “tự vẽ nên”, “tự mình khen mình”. Hơn thế, chúng còn cho rằng, giả sử nếu có thành tựu đổi mới gì đó nổi bật thì đó chính là “tham nhũng, tham quan, lãng phí, bóc lột dân”; bởi ở Việt Nam, “dân nghèo vẫn nghèo, dân không có gì, không được hưởng gì”; “đất nước vẫn lạc hậu, thấp kém”; “đạo đức suy đồi, xã hội lộn xộn, mất trật tự, vô kỷ cương”, v.v.. Một số ý kiến còn “lộng ngôn”, cho rằng, “dưới sự lãnh đạo của một đảng độc tài, ở Việt Nam chỉ có đổi mới kinh tế, không hề có đổi mới chính trị”, đến nay “vẫn giữ nguyên bộ máy chuyên quyền, độc tài của Đảng Cộng sản”… Từ đó, chúng cho rằng “ở Việt Nam không có bước tiến nào, thậm chí còn thụt lùi về “dân chủ, nhân quyền”, “tôn giáo và dân tộc”… đây là sự phủ nhận trắng trợn thành quả vĩ đại của cách mạng Việt Nam, phải chăng đây hẳn là những kẻ cố chấp, có bộ óc “thiểu năng”, bệnh hoạn, không có trái tim, không còn tính người; không biết phân biệt thật giả, phải trái, đúng sai. Hay như ngay trong những ngày đầu xuân Nhâm Dần, sau chiến thắng 3-1 của đội tuyển bóng đá nam trước đội tuyển Trung quốc vào ngày 01/02/2022 (mồng Một tết), trong khi cả gần 100 triệu dân VN trong và ngoài nước vui mừng và hạnh phúc, tự hào trong đó có Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cùng hàng vạn khán giả trên sân vận động Mỹ Đình thì Nguyện Lân Thắng lại đăng tải hình ảnh và nội dung cho rằng: “Thủ tướng không nên vui mừng quá mức kẻo Trung Quốc nó cấm biên, cấm thanh long, dưa hấu Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc lại làm khổ người dân”, rùi là “thắng một trận thì lục súc tranh công”. Ngày 07/2/2022 (tức mùng 7 tháng Giêng năm Nhâm Dần) Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tham dự lễ hội Tịch điền Đọi Sơn tại xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam thì trên facebook cá nhân Nguyễn Lân Dũng lại cho rằng “không hiểu ông chủ tịch nghĩ gì mà chịu đứng sau… con trẩu hô… để chúng nó quay phim chụp hình…”. Quan điểm của những người ấy là hư vô lịch sử, không thể chấp nhận, cần phải vạch trần bản chất sai trái, hèn mọn của chúng; cần phải nghiêm trị đích đáng bằng luật pháp Việt Nam.

Nhìn lại quá khứ hào hùng của Đảng, suy xét những diễn biến hiện nay, nhất là trong bối cảnh Đảng ta chào mừng kỷ niệm 92 năm Ngày thành lập và cả nước đón Tết Nhâm Dần, hơn ai hết, mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng cần thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tập trung vào một số nội dung cụ thể:

Một là, nhận diện đúng bản chất, âm mưu, thủ đoạn và tội ác của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động. Từ đó, tăng cường đoàn kết, thống nhất hơn nữa trong Đảng trên cơ sở giữ vững nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh gắn với thực hiện Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XIII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một trong những giải pháp cơ bản để góp phần đánh bại âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; không mắc mưu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Hai là, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội là vấn có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh tình hình mới, cần tăng cường các biện pháp nắm bắt tình hình địch, ta, nhất là ở cơ sở, địa phương, nhất là những địa phương có “điểm nóng”; kịp thời phát hiện các hoạt động chống phá của bọn phản động, sự móc nối của chúng với các phần tử cơ hội chính trị, bất mãn với chế độ ta ở trong và ngoài nước; có biện pháp bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ lúc chưa lâm nguy; không để bị động, bất ngờ.

Ba là, quản lý tốt internét, mạng xã hội và một số hãng thông tin, truyền thông thiếu thiện chí với Việt Nam như RFI, RFA, VOA, BBC, kênh Youtube, Facebooks…, để có biện pháp phân loại quản lý, đấu tranh, ngăn chặn, làm thất bại mọi ý đồ xâm nhập, móc nối, gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng lớp trẻ và đội ngũ chuyên gia thực hiện nhiệm vụ chuyên môn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bốn là, tăng cường xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc cho phù hợp với tình hình mới, thực hiện tốt hơn Quy chế dân chủ ở cơ sở; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch các hoạt động của các tổ chức đảng, chính quyền các cấp theo quy chế, quy định hiện hành của Nhà nước; kiên quyết khắc phục các khuyết điểm, hạn chế; không tạo sơ hở để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Những năm tháng khó khăn nhất trong sự nghiệp đấu tranh chống thực dân, đế quốc xâm lược, thống nhất Tổ quốc và thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã vượt qua và đã giành những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử thì ngày nay, không có khó khăn, thế lực phản động nào có thể cản bước, ngăn đường chúng ta đi tới. Đầu năm Nhâm Dần, với tinh thần đất nước vào Xuân, ra quân quyết thắng, vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nhất định chúng ta sẽ hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra; phấn đấu để nước ta sớm trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, hướng đến chào mừng kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Đảng quang vinh (3/2/1930-3/2/2030)./.