Thứ Hai, 21 tháng 2, 2022

XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG GẮN VỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH


          Thực tiễn hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, đặc biệt những nhiệm kỳ gần đây của Đảng đã khẳng định: Kết quả của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng góp phần rất quan trọng có tính quyết định vào thành tựu chung của đất nước. Nhờ những kết quả đạt được trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà Đảng ta đoàn kết, thống nhất hơn; TSVM hơn; niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ được củng cố, nâng cao hơn. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là bài học quý báu, là vấn đề then chốt quyết định đến sức mạnh, uy tín của Đảng, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta và chế độ ta. Nhận thức cho đúng đắn, sâu sắc về vị trí, ý nghĩa và nội dung của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là hết sức quan trọng.

          Tạo bước chuyển mới trong nhận thức không chỉ là cơ sở nền tảng mà còn là chìa khóa phát huy tinh thần trách nhiệm, nêu cao ý chí, quyết tâm, kiên quyết, kiên trì, linh hoạt, sáng tạo, đoàn kết vượt khó trong quá trình thực hiện các Nghị quyết, Kết luận, Quy định của Đảng ta. Bước chuyển trong nhận thức chính cũng là cơ sở để nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức, thái độ nghiêm túc tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên. Chính vì thế trong Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của các tổ chức đảng cũng như cá nhân các đảng viên, yêu cầu đầu tiên đặt ra là phải nâng cao nhận thức.

          Một trong những kinh nghiệm mà Đảng ta rút ra qua thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII là tạo sự chuyển biến rõ nét trong nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng và nội dung của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Muốn tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đưa công tác này lên tầm cao mới, gắn với xây dựng hệ thống chính trị TSVM thì trước hết đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên của Đảng phải có nhận thức đúng đắn, đầy đủ và sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng và những nội dung của nhiệm vụ “then chốt” này. Mới đây, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh yêu cầu: “Phải nhận thức thật đầy đủ và sâu sắc mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nội dung của kết luận và quy định, nắm vững những tư tưởng chỉ đạo, những công việc phải làm, trên cơ sở đó có sự thống nhất cao về ý chí, quyết tâm, thấy đầy đủ trách nhiệm của mình để gương mẫu, tự giác thực hiện và chỉ đạo, tổ chức thực hiện”.

          Ý thức rõ sự cần thiết phải tạo được bước chuyển biến mới về nhận thức nên thời gian qua các tổ chức đảng đặc biệt quan tâm đến công tác tuyên truyền giáo dục, phổ biến, quán triệt các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, chủ trương, giải pháp về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

          Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, nhận thức về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng vẫn còn những khoảng trống. Những biểu hiện nhận thức lệch lạc, thiếu đúng đắn, chưa sâu sắc về nhiệm vụ “then chốt” vẫn tồn tại ở một số cấp ủy và cán bộ, đảng viên. Tồn tại đầu tiên trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ ra là: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng”.

          Thực tế tại nhiều địa phương, không phải cán bộ, công chức, đảng viên nào cũng hiểu rõ tính chất quan trọng, cấp bách, cần thiết của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Một nguyên nhân dẫn đến hơn 25.000 đảng viên suy thoái hoặc có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" bị xử lý kỷ luật trong 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đó là nhận thức về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng còn hời hợt, nên tổ chức thực hiện chưa tốt, có biểu hiện xem nhẹ, hình thức.

          Chủ trương tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với xây dựng hệ thống chính trị TSVM mà Đại hội XIII của Đảng đề ra là hoàn toàn đúng đắn và cần thiết. Vậy mà trong một số ít cán bộ, đảng viên xuất hiện những suy nghĩ, tư tưởng, quan điểm sai trái khi cho rằng xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xây dựng hệ thống chính trị là hai công việc khác nhau. Xây dựng hệ thống chính trị là công việc của chính quyền. Đảng gắn hai công việc đó là lạm quyền, khiên cưỡng, không phù hợp. Việc Đảng ta ban hành các quy định cũng có ý kiến cho là chồng chéo, không cần thiết bởi các nội dung ấy điều lệ, pháp luật đã quy định rồi...

          Đây là khoảng trống rất nguy hiểm trong nhận thức của cán bộ, công chức và đảng viên. Đặc biệt, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng khoảng trống này bóp méo, xuyên tạc nhằm chống phá Đảng ta.

          Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta xác định công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải đặc biệt coi trọng và nâng lên một tầm cao mới, gắn liền với xây dựng hệ thống chính trị TSVM. Mấu chốt để thực hiện có hiệu quả công tác “then chốt” này là phải khắc phục cho được những hạn chế trong nhận thức.

          Để làm được điều này, chúng ta cần tiến hành đồng bộ và toàn diện nhiều biện pháp. Trước hết,phải tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục làm cho mọi cán bộ, công chức, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên giữ vai trò chủ trì, chủ chốt, đứng đầu các địa phương, cơ quan, đơn vị nhận thức đúng đắn, sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Thông qua tuyên truyền giáo dục, làm cho mọi cán bộ, đảng viên nhận thức rõ về sự phát triển mới của Đảng ta.

          Thực tiễn cho thời gian qua cho thấy năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của nhiều tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên còn hạn chế. Hệ thống chính trị ở nước ta chưa thực sự TSVM như mong muốn; không ít cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức, có quyền, làm việc ở những ngành, lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực vẫn thiếu tu dưỡng và rèn luyện, sa vào chủ nghĩa cá nhân, vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bị xử lý kỷ luật và xử lý hình sự;... Tại Đại hội XII, Đảng ta xác định: “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh” nhưng trước thực trạng trên, tại Đại hội XIII, Đảng ta xác định: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”. Như vậy, không chỉ đề cập đến công tác xây dựng Đảng mà song hành Đảng ta xác định phải thường xuyên chỉnh đốn Đảng; tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải gắn với xây dựng hệ thống chính trị TSVM. Sự phát triển này là hoàn toàn đúng đắn, cần thiết và rất quan trọng, đòi hỏi các cấp ủy, từng cán bộ, đảng viên phải nhận thức cho rõ ràng và sâu sắc.

          Mặt khác, công tác tuyên truyền giáo dục cần làm cho cán bộ, công chức, đảng viên hiểu rõ Hiến pháp 2013 và Điều lệ Đảng đã quy định Đảng ta là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Do đó, năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng chi phối tính chất, mục tiêu, nhiệm vụ, hiệu quả xây dựng hệ thống chính trị. Hay nói cách khác, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị chính là thước đo năng lực lãnh đạo, địa vị cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng ta. Cán bộ, công chức, đảng viên cần hiểu rõ những quan điểm, tư tưởng trái chiều như đã nêu là do nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ hoặc kẻ xấu lợi dụng bóp méo, xuyên tạc nhằm động cơ chống phá.

          Do đó cùng với công tác tuyên truyền giáo dục, quán triệt, phổ biến nâng cao nhận thức, đòi hỏi các cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên, nhất là lực lượng chuyên trách phải dũng cảm, kiên quyết đấu tranh với những nhận thức sai lệch, những tư tưởng, quan điểm sai trái nhằm phá hoại công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị TSVM của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Ngăn ngừa, chặn đứng lợi ích nhóm


          Ở nước ta, những ảnh hưởng, hệ lụy từ lợi ích nhóm (hay còn gọi là nhóm lợi ích) không hợp pháp gây ra là vô cùng lớn. Nó làm thất thoát kinh phí của Nhà nước, tài sản nhân dân, gây đấu đá nội bộ, phe nhóm, tranh ghế đoạt quyền, dẫn đến mất đoàn kết, mất niềm tin vào hệ thống pháp luật và sự lãnh đạo của Đảng.

          Nhóm lợi ích không hợp pháp rất đa dạng, bao gồm cả cán bộ, đảng viên các cấp và doanh nghiệp nhà nước câu kết chặt chẽ với doanh nghiệp bên ngoài. Thủ đoạn chính là lợi dụng cơ chế, chính sách, kẽ hở của pháp luật để thực hiện mục đích biến tài sản công thành tài sản tư. Các thành viên trong nhóm lợi ích gắn bó “bền chặt” với nhau bởi lợi ích có thể kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ nên rất khó để phát hiện, xử lý, đặc biệt khi có sự che chắn, bảo kê của cán bộ, đảng viên có chức, có quyền với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, chi phối, ảnh hưởng đến cả các chủ trương, chính sách, quyết định trong Đảng, trong chính quyền.

          Kết luận số 21-KL/TƯ ngày 25-10-2021 của Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã chỉ rõ nguyên nhân của những tiêu cực, lợi ích nhóm là: Không thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, chưa gương mẫu, mất đoàn kết nội bộ, chưa thẳng thắn đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", thậm chí còn cục bộ, lợi ích nhóm, bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất, thờ ơ, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân.

          Trong các sự việc tiêu cực xảy ra gần đây bị cơ quan chức năng phát hiện, khởi tố, nhiều cán bộ cao cấp phải hầu tòa vì có liên quan đến vi phạm tại doanh nghiệp thông qua việc hối lộ và ăn “hoa hồng”. Nổi bật nhất là việc Phan Quốc Việt, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Công nghệ Việt Á bị khởi tố vì “bắt tay” với lãnh đạo trung tâm kiểm soát bệnh tật và sở y tế nhiều địa phương, nâng khống giá bộ xét nghiệm Covid-19 thu lời 500 tỷ đồng sau khi chi "hoa hồng" gần 800 tỷ đồng đã cho thấy hiện tượng lợi ích nhóm là vô cùng nguy hiểm. Trước đó, việc Phan Sào Nam tổ chức đánh bạc qua mạng internet đã khiến nhiều cán bộ cao cấp ngành Công an lĩnh án vì bao che, bảo kê cũng là một dạng điển hình của lợi ích nhóm. Chưa dừng lại, việc tha tù Phan Sào Nam trước thời hạn 22 tháng với những căn cứ ngụy tạo, trái quy định đã khiến nhiều lãnh đạo Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh và Công an tỉnh Phú Thọ “ngã ngựa” cho thấy lợi ích nhóm tồn tại dai dẳng, ở nhiều lĩnh vực. Hay như một số vụ việc khiến nguyên Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung phải hầu tòa nhiều lần trong các vụ án xét xử gần đây đã cho thấy hiện tượng lợi ích nhóm tồn tại trong bộ máy công quyền ở mức độ rất đáng lo ngại, đòi hỏi cần có biện pháp ngăn ngừa, chặn đứng.

          Từ những vụ việc mang màu sắc, tính chất của lợi ích nhóm bị phát hiện đã cho thấy nhận định, đánh giá: “Tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước. Tình hình mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ không chỉ ở cấp cơ sở mà ở cả một số cơ quan trung ương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty” của Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” vẫn mang tính thời sự rất cao.

          Để chống được lợi ích nhóm thì cần nhiều giải pháp và rất tốn thời gian. Trong đó trước hết, cần tập trung đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, rà soát, phát hiện những sự vụ có biểu hiện câu kết, thông đồng để đạt lợi ích nhóm; tìm ra những đối tượng “sâu chúa” lợi dụng chức vụ, quyền hạn bảo kê, che chắn cho các việc làm sai trái nhằm trục lợi để xử lý, cho ra khỏi bộ máy, kể cả xử lý hình sự bằng những bản án nghiêm khắc nhất.

          Ở tầm vĩ mô, cần đẩy mạnh hơn nữa việc đổi mới xây dựng thể chế theo hướng mở rộng dân chủ, kiểm soát chặt chẽ quyền lực của các cơ quan, đơn vị để tránh hiện tượng câu kết nhằm đạt lợi ích nhóm. Một việc quan trọng và cần kíp hiện nay là tiến hành rà soát, tổng kết, đánh giá, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật. Qua đó, kịp thời khắc phục những hạn chế, bất cập, bịt kín những khoảng trống, kẽ hở dễ làm nảy sinh tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực đấu thầu, quản lý tài nguyên - khoáng sản…; bảo đảm công khai, minh bạch, để nhóm lợi ích, “sân sau”, “tư duy nhiệm kỳ” không có cơ hội tác động tiêu cực.

Cần đẩy mạnh thực hiện biện pháp nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ có chức, có quyền trong công tác. Đây là giải pháp quan trọng và cần được các cấp ủy, tổ chức cơ sở Đảng tiến hành thường xuyên, liên tục và chặt chẽ. Đi liền với đó là thúc đẩy vai trò, nâng cao hiệu quả trong giám sát của HĐND và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, kịp thời phát hiện những hành vi, biểu hiện của lợi ích nhóm ngay từ cơ sở.

          Lợi ích nhóm là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hiện tượng lũng đoạn kinh tế, quyền lực, làm nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội bị phân tán, thất thoát, làm mất đi cơ hội phát triển đất nước và khiến niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước bị giảm sút. Do đó, ngăn chặn lợi ích nhóm tiêu cực cần phải được tiến hành kịp thời, quyết liệt, triệt để. Đây cũng là cách tốt nhất để giúp Đảng, Nhà nước, đơn vị, địa phương có được cán bộ lãnh đạo, quản lý thực sự “vì nước, vì dân”.

 

Tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động theo quan điểm Đại hội XIII của Đảng

 Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một thành tố trung tâm của hệ thống chính trị nước ta. Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Đồng thời, tiếp tục xây dựng và đổi mới đồng bộ các thành tố khác của hệ thống chính trị cũng là điều kiện để tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Nhà nước vốn là “một trong những vấn đề phức tạp nhất, khó khăn nhất”(1) nhưng “là một vấn đề rất cơ bản, rất mấu chốt trong toàn bộ chính trị”(2). Vì thế, trong đường lối lãnh đạo của mình ở từng thời kỳ cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt coi trọng việc đề ra đường lối xây dựng và hoàn thiện Nhà nước - yếu tố trung tâm của hệ thống chính trị. Trong những năm sắp tới, Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”(3).

Những thành tựu cơ bản

Trước hết, qua hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, nhận thức về mô hình tổ chức quyền lực nhà nước đã có sự phát triển về chất để chỉ đạo quá trình xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước. Từ Nhà nước hành chính, quan liêu bao cấp, tổ chức và hoạt động theo mô hình tập quyền xã hội chủ nghĩa sang tổ chức quyền lực nhà nước theo mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với những nguyên tắc tổ chức và hoạt động mới, là một bước đột phá về nhận thức tư duy, lý luận để từng bước chỉ đạo quá trình cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đầu tiên, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 đã đề ra một nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước mới là: Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp với sự phân công rành mạch ba quyền. Tuy trong nguyên tắc này chưa có yếu tố kiểm soát quyền lực nhà nước, nhưng là bước đổi mới rất cơ bản trong tư duy để đề ra chủ trương “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” mà Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994) khẳng định. Từ đó, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trở thành một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, có tầm chiến lược, bao gồm toàn bộ tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, là một định hướng cho quá trình cải cách bộ máy nhà nước trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo đó, năm 2001, Nhà nước ta đã tiến hành sửa đổi một số điều của Hiến pháp năm 1992 về tổ chức bộ máy nhà nước để thể chế hóa kịp thời các quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và lần đầu tiên trong Hiến pháp nước ta đã trang trọng ghi nhận: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân... Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”(4). Tiếp theo đó, Đại hội XI của Đảng đề cập đến vấn đề này và khẳng định: “Tiếp tục xây dựng, từng bước hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền”(5), trong đó đề cập đến vấn đề xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp. Có thể coi đây là một nhận thức mới, một sự thay đổi về chất trong tư duy, lý luận để tiến tới vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước mà Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) được ghi nhận thành nguyên tắc: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Và sau đó được Hiến pháp năm 2013 thể chế hóa thành nguyên tắc hiến định và hình thành các cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước (cơ chế nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước, cơ chế kiểm soát quyền lực lẫn nhau giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước theo luật định). Những quy định của Đảng và các quy định của Hiến pháp về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân đã đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước hơn 35 năm qua, đặc biệt là trong 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020. Hiến pháp năm 2013 và nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã nâng cao nhận thức, năng lực, hiệu quả quản lý, điều hành và năng lực kiến tạo phát triển của Nhà nước.

Hai là, qua hơn 35 năm đổi mới, đặc biệt là 10 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có bước phát triển mới, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đã từng bước được đổi mới, phù hợp hơn với yêu cầu phát triển của đất nước và thông lệ quốc tế. Bộ máy nhà nước được sắp xếp ngày càng tinh gọn, gắn với tinh giản biên chế; hoạt động hiệu lực và hiệu quả hơn trước.

Ba là, cải cách hành chính, cải cách tư pháp trên một số lĩnh vực có bước tiến rõ rệt. Nền hành chính quốc gia đã được cải cách theo hướng phục vụ nhân dân, phục vụ doanh nghiệp. Tổ chức bộ máy của các cơ quan tư pháp, như tòa án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, cơ quan bổ trợ tư pháp tiếp tục được kiện toàn, chất lượng hoạt động có tiến bộ, bảo vệ tốt hơn lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân và doanh nghiệp.

Bốn là, nhận thức về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ngày càng đầy đủ, rõ nét, góp phần đấu tranh có hiệu quả với những biểu hiện lạm dụng, tha hóa quyền lực trong bộ máy Đảng và Nhà nước, mà đặc biệt là tình trạng tham nhũng, tiêu cực, được nhân dân và dư luận xã hội đồng tình và ủng hộ. Cơ chế nhân dân kiểm soát quyền lực được hình thành với chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các thành viên của Mặt trận bằng việc thể chế hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 thành hai chương, 11 điều về giám sát và phản biện xã hội trong Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015. Cơ chế giám sát và phản biện xã hội bước đầu phát huy hiệu quả trong việc góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước. Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước bên trong mỗi quyền và giữa các quyền được tăng cường. Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp tăng cường các hoạt động giám sát đối với việc thực hiện các quyền hành pháp và tư pháp. Bên trong mỗi quyền cũng đều tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để sớm phát hiện những biểu hiện tiêu cực, tham nhũng. Có thể nói, từ sau Hiến pháp năm 2013 đến nay, từ nhận thức đến tổ chức thực hiện, kiểm soát quyền lực đã được coi trọng, góp phần làm trong sạch bộ máy của Đảng và Nhà nước.

Năm là, vai trò của pháp luật và thực thi pháp luật ngày càng được chú trọng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Chỉ trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV vừa qua, Quốc hội đã xem xét và thông qua 72 dự án luật và 18 nghị quyết có quy phạm pháp luật, bao quát hầu khắp các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội. Từ việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các thiết chế nhà nước, về công chức, công vụ, về bảo đảm quyền tự do, dân chủ của công dân, về thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giáo dục, đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế, văn hóa và quốc phòng - an ninh đều có bước nâng lên về chất lượng làm cho hệ thống pháp luật của nước ta ngày càng đồng bộ, khả thi, chứa đựng nhiều giá trị trong nước cũng như của nhân loại. Cùng với việc hoàn thiện pháp luật, việc tổ chức thi hành pháp luật cũng được coi trọng. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật được tăng cường; ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức được nâng lên một bước.

Một số hạn chế, bất cập cần khắc phục

Tuy thành tựu đạt được là cơ bản, nhưng công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trong những năm qua cũng còn một số hạn chế, bất cập mà Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng chỉ ra cần phải khắc phục.

Thứ nhất, vấn đề đổi mới đồng bộ, phù hợp giữa kinh tế với chính trị, văn hóa, xã hội, giữa đổi mới kinh tế với đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước có một số mặt còn lúng túng. Ví dụ như, một trong những định hướng đổi mới giáo dục - đào tạo và y tế theo hướng xã hội hóa với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật và tổ chức bộ máy dịch vụ công còn nhiều lúng túng và thiếu đồng bộ.

Thứ hai, cơ chế kiểm soát quyền lực chưa hoàn thiện. Vai trò giám sát của nhân dân chưa được phát huy mạnh mẽ. Theo Hiến pháp năm 2013 thì giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp kiểm soát lẫn nhau trong việc thực hiện quyền lực nhà nước, nhưng mới chỉ coi trọng kiểm soát của quyền lập pháp đối với hành pháp và tư pháp thông qua giám sát tối cao của Quốc hội và giám sát của các cơ quan của Quốc hội. Cơ chế kiểm soát quyền lực bên trong mỗi quyền chưa độc lập và đủ mạnh. Cơ chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp hoạt động chưa thực chất, còn có biểu hiện hình thức.

Thứ ba, hệ thống pháp luật còn có những quy định mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu thống nhất, chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội mà thực tiễn đòi hỏi. Chấp hành pháp luật nhìn chung chưa nghiêm; kỷ cương phép nước có nơi, có lúc còn bị xem nhẹ; xử lý vi phạm pháp luật chưa kịp thời, chế tài xử lý chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển đất nước.

Thứ tư, tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở một số nơi chưa được đổi mới một cách mạnh mẽ; chức năng, nhiệm vụ, phân cấp, phân quyền chưa thật rõ ràng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động còn hạn chế. Số lượng cán bộ cấp xã và đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập vẫn còn quá lớn; phẩm chất, năng lực, uy tín còn hạn chế, thiếu tính chuyên nghiệp, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Định hướng tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động trong thời gian tới

Trước tình hình thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng và có thể còn kéo dài do tác động của đại dịch COVID-19. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là công nghệ số phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia, dân tộc. Ở trong nước, sau hơn 35 năm đổi mới, thế và lực của nước ta ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, vẫn còn một số khó khăn, như nền kinh tế phát triển chưa bền vững, còn nhiều hạn chế, yếu kém, nguy cơ tụt hậu, rơi vào bẫy thu nhập trung bình vẫn còn lớn. Đứng trước bối cảnh tình hình trong nước và thế giới nói trên; đồng thời, để khắc phục những yếu kém, hạn chế, Đại hội XIII của Đảng đã đề ra các định hướng tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong thời gian tới, trong đó có những điểm mới so với trước đây.

Trước hết, Đại hội XIII của Đảng xác định tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Định hướng chung là: “Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước. Xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững”(6). Theo định hướng đó, Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra trong thời gian tới phải: “Tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tạo đột phá trong cải cách hành chính”(7) là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị trong những năm tới.

Có thể nói lần đầu tiên thuật ngữ: “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động” chính thức được sử dụng trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng ta. Đây là sự tiếp tục phát triển và làm sâu sắc hơn bản chất và định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong điều kiện mới. Theo đó, trước hết, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải nâng cao năng lực kiến tạo phát triển tức là năng lực không chỉ nắm bắt và xử lý kịp thời một xã hội tràn ngập thông tin với sự liên kết trên bình diện xã hội rất nhanh chóng và mau lẹ, mà còn phải có khả năng phân tích thông tin, từ đó biết cách sáng tạo và áp dụng các tri thức mới để quản trị quốc gia (tức là năng lực kiến tạo). Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện ngày nay còn là một Nhà nước có một bộ máy quản lý điều hành hướng tới nhu cầu cải tạo môi trường quản lý, bảo đảm sự nhanh nhạy, linh hoạt về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, phương thức hoạt động, vừa kiến tạo bên trong chính mình, vừa kiến tạo môi trường mà nó vận hành. Đó còn là Nhà nước pháp quyền tập trung xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, phục vụ doanh nghiệp; nền hành chính dân chủ, tuân thủ các nguyên tắc pháp quyền lấy thượng tôn pháp luật, công khai, minh bạch, liêm chính, phục vụ nhân dân, phục vụ doanh nghiệp làm nguyên tắc hàng đầu trong xử lý công việc. Đó là một nền hành chính gồm các công chức có năng lực kiến tạo, xác lập được sự kết nối xã hội, tạo dựng sự thống nhất và bình đẳng trong các mối quan hệ giữa các chủ thể khác nhau.

Hai là, Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân theo các nội dung cụ thể sau:

Đối với việc xây dựng và hoàn thiện thiết chế Quốc hội, cần phải: “Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất”(8) theo các định hướng cụ thể và có nhiều điểm mới. Trước hết, hoạt động cơ bản của Quốc hội là hoạt động nghị trường, vì thế đổi mới phương thức hoạt động của Quốc hội, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động nghị trường là nhiệm vụ hàng đầu của đổi mới Quốc hội. Trong đó chủ yếu là phát huy dân chủ và pháp quyền trong việc thực hiện các chức năng lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng lập pháp theo hướng đẩy mạnh tiến độ ban hành các luật trực tiếp triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013. Tập trung xây dựng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân; hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp, cơ chế giám sát, lấy phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội, hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn. Tăng cường công tác giám sát tối cao của Quốc hội và giám sát của các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội. Thiết lập đồng bộ, gắn kết cơ chế giám sát tối cao của Quốc hội với giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội của nhân dân.

- Đối với việc xây dựng và hoàn thiện thiết chế Chính phủ: Định hướng tổng quát xây dựng thiết chế Chính phủ trong những năm tới được Đại hội XIII của Đảng xác định là: “Xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch”(9). Để thực hiện mục tiêu tổng quát đó, nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Chính phủ trong những năm sắp tới là tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, trên cơ sở tổ chức hợp lý các bộ đa ngành, đa lĩnh vực; phát huy đầy đủ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, trong đó tập trung vào quản lý vĩ mô; xây dựng thể chế, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; tăng cường năng lực dự báo, phân tích và đề xuất chính sách dựa trên luận cứ khoa học và thực tiễn trong điều kiện mới. “Nhà nước quản lý, điều hành nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ điều tiết trên cơ sở các quy luật thị trường. Tăng cường công tác giám sát, chủ động điều tiết, giảm các tác động tiêu cực của thị trường, không can thiệp, làm sai lệch các quan hệ thị trường”(10). Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, xác định rõ trách nhiệm giữa Chính phủ với các bộ, ngành; giữa Chính phủ, các bộ, ngành với chính quyền địa phương...; bảo đảm quản lý nhà nước thống nhất. Đồng thời, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo, tinh thần trách nhiệm của từng cấp, từng ngành. Nâng cao chất lượng dịch vụ công, tiếp tục sắp xếp tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tinh gọn, bảo đảm chất lượng, hoạt động hiệu quả. Thúc đẩy xây dựng chính quyền điện tử, tăng cường sự kết nối, trao đổi thông tin thường xuyên giữa cơ quan các cấp; giữa cơ quan, người dân và doanh nghiệp. Tập trung chỉ đạo quyết liệt, đầu tư hợp lý nguồn lực và các điều kiện để thực hiện tốt các nhiệm vụ, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện có hiệu lực, hiệu quả hệ thống pháp luật; thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, kiện toàn tổ chức, tinh giản hợp lý đầu mối, bỏ cấp trung gian. Gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng pháp luật với tổ chức thi hành pháp luật.

Đối với việc xây dựng và hoàn thiện các cơ quan tư pháp: Định hướng tổng quát xây dựng nền tư pháp Việt Nam là: “Tiếp tục xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”(11). Theo đó, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ ra những nhiệm vụ cần phải làm trong những năm tới là “Nghiên cứu, ban hành Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030 định hướng đến năm 2045, trong đó có Chiến lược pháp luật và cải cách tư pháp. Tiếp tục đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động và uy tín của tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án và các cơ quan, tổ chức tham gia vào quá trình tố tụng tư pháp. Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các loại tranh chấp, khiếu kiện theo luật định”(12). Tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật của người dân và doanh nghiệp.

Đối với việc xây dựng và hoàn thiện chính quyền địa phương, định hướng chung là: “Tiếp tục hoàn thiện tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với địa bàn nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính, kinh tế đặc biệt theo luật định”(13). Theo đó, Đại hội XIII của Đảng chỉ ra các việc cần phải làm trong thời gian tới là tổng kết việc thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị nhằm xây dựng và vận hành các mô hình quản lý chính quyền đô thị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Cải cách phân cấp ngân sách nhà nước theo hướng phân định rõ ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương. Gắn kết và đổi mới tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội ở các cấp.

- Về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức: Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có tính chuyên nghiệp cao, có năng lực sáng tạo dựa trên cơ chế cạnh tranh về tuyển dụng, chế độ đãi ngộ và đề bạt; có phẩm chất đạo đức tốt và bản lĩnh chính trị vững vàng”(14). Theo đó, phải làm tốt các công việc: Tăng cường kỷ luật, kỷ cương đi đôi với cải cách tiền lương, chế độ chính sách đãi ngộ, tạo môi trường điều kiện để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, phục vụ phát triển; xây dựng cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài, khuyến khích bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. Có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp./.

(1), (2) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1977, t. 39, tr. 75, 76
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 174
(4) Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 2013, 1992, 1980, 1959, 1946), Nxb. Lao động, Hà Nội, 2014, tr. 67
(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia  Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 247
(6), (7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 174 - 175, 284
(8), (9), (10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 175, 176, 285
(11), (12), (13), (14) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 177, 177 - 178, 178, 288

TÍNH ĐỘC ĐÁO CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ

 

Tính độc đáo trong quan niệm của Hồ Chí Minh về dân chủ, trước hêt được thể hiện ỏ chỗ, với quan niệm dân chủ là dân là chủ và dân làm chủ, Người không chỉ đặt nhân dân lên vị thê chủ thê xã hội - “địa vị cao nhất là dân”, “nhân dân là người chủ”, mà còn nói rõ môi quan hệ mật thiết, không thể tách rời giữa vị thê chủ thể xã hội của nhân dân với hành động làm chủ xã hội của nhân dân - “dân làm chủ”.

Với Hồ Chí Minh, dân chủ tức là dân làm chủ vận mệnh đât nước, quyền lực thuộc về nhân dân, “bao nhiêu quyền hạn đều của dân”. Nhân dân là người đóng vai trò quyết định đích thực đôi với vân mệnh của đất nước. Theo Hồ Chí Minh, việc để cao dân chủ, quan tâm đến việc đáp ứng nhu cầu dân chủ của ngưòi dân là một trong những chủ trương có tác dụng thúc đẩy một cách hiệu quả sự phát triển kinh tế - xã hội, vì dân chủ chính là lợi ích cao nhất mà moi người dân đều quan tâm và đòi hỏi phải được thực hiện. Vối quan điểm này, Người khẳng định: “Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân”, là lợi ích thiết thực của nhân dân, là cái thúc đẩy nhân dân hành động vì đất nước, vì dân tộc. Điều này cho thấy, với Hồ Chí Minh, dân chủ là động lực không chỉ cho những thành công của cách mạng giải phóng dân tộc, mà còn cho những thành công trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta.

 

MỘT SỐ KẾT QUẢ CỦA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN TRONG THỜI GIAN QUA

 


Tiếp tục làm sáng tỏ hơn lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta phù hợp với điều kiện của đất nước, con người, xã hội Việt Nam và thích ứng với những thay đổi của bối cảnh quốc tế trên cơ sở lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống của văn hoá dân tộc, tham khảo nhưng bài học kinh nghiệm của các nước, tống kết một cách sâu sắc, toàn diện và có hệ thống thực tiễn của công cuộc đổi mới đất nước.

Nghiên cứu làm rõ bản chất của nền kính tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vấn đề đổi mới và tạo lập đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đề xuất giải pháp cho một số lĩnh vực có tính chất quyết định trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, năng lực tham gia vào các định chế tài chính - tiền tệ quốc tế, nghiên cứu con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Nghiên cứu sự biến đổi của cơ cấu xã hội và quản lý sự phát triển xã hội ở nước ta trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Nghiên cứu nhằm đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta, đề xuất giải pháp thực hiện và phát huy dân chủ, củng cố vai trò của Đảng cầm quyền, cải cách bộ máy hành chính Nhà nước, xây dựng Nhà nước pháp quyển XHCN của dân, do dân và vì dân, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho việc tạo lập và phát triển đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Nghiên cứu cơ bản, toàn diện và có hệ thống về tiến trình lịch sử và diện mạo của nền văn hoá Việt Nam với tư cách là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, sáng tạo những giá trị văn hoá mới của Việt Nam, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Nghiên cứu cơ bản lề con người và nguồn nhân lực với tư cách là chủ thể xã hội, có trình độ học vấn, mang đậm tính nhân văn và các giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa của văn hoá nhân loại, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Nghiên cứu bản chất, đặc điểm, nội dung của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện dại và sự phát triển của kinh tế tri thức trong thế kỷ XX, trong đó chú trọng mặt xã hội và sự tác động của cuộc cách mạng này đến tiến trình phát triển của Việt Nam. Kết hợp và phát huy sức mạnh tổng hợp của khoa học xã hội và nhân văn với khoa học tự nhiên và công nghệ trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, bạo động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội và quốc phòng an ninh của đất nước.

Nghiên cứu các xu thế phát triển chủ yếu của thế giới và khu vực những thập niên đầu thế kỷ XXI. Những tác động nhiều mặt của quá trình toàn cầu hoá. Dự báo xu thế phát triển chủ yếu của khu vực và thế giới, tranh thủ tối đa thời cơ và lợi thế, phòng ngừa và tránh được các bất lợi, rủi ro, tập trung mọi nguồn lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tiếp tục nghiên cứu chủ nghĩa tư bản hiện đại trong bối cảnh toàn cầu hoá, sự tác động về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, quân sự của chủ nghĩa tư bản hiện đại, các chủ thể mới trong quan hệ quốc tế... có ảnh hưởng trực tiếp đến chiến lược phát triển của Việt Nam nhằm định rõ vị thế, vai trò, bước đi, chính sách hội nhập kinh tế của Việt Nam vào các thể chế toàn cầu và khu vực.

Tiến hành điều tra cơ bản, tổng hợp liên ngành trên những địa bàn và lĩnh vực kinh tế - xã hội trọng điểm nhằm tổng kết thực tiễn, làm cơ sở cho công tác nghiên cứu lý luận, cung cấp luận cứ khoa học cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và các ngành, vùng trọng điểm.

Nghiên cứu cơ bản, toàn diện và có hệ thống những vấn đề lý thuyết của các chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn. Làm sáng tỏ nội dung những vấn đề cơ bản, những vấn đề có tính quy luật của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nghiên cứu quy luật phát triển của khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam. Tổng kết và đánh giá sự phát triển của khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam trong thế kỷ XXI định hướng phát triển trong thế kỷ XXI nhằm nâng cao năng lực dự báo, khả năng phát hiện và lý giải những vấn đề thực tiễn do đất nước đặt ra, góp phần nâng cao chất lượng và trình độ nghiên cứu lý luận.

Tổ chức biên soạn những công trình trọng điểm mang tầm cỡ quốc gia, thuộc các lĩnh vực lịch sử, văn hoá, văn học, ngôn ngữ, dân tộc, tôn giáo... nhằm phục vụ kịp thời các nhu cầu cấp bách của xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG, TĂNG CƯỜNG “SỨC ĐỀ KHÁNG” CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN, ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI

 

Hiện nay các thế lực thù địch cách mạng Việt Nam đang ráo riết tuyên truyền, phê phán đường lối quan điểm của Đảng, xuyên tác bản chất nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân và vì dân. Để đấu tranh chống các quan điểm phản diện, thù địch chúng ta cần:

Cần chú trọng đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập nghị quyết của Đảng. Thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là cấp Trung ương; nâng cao chất lượng giáo dục chính trị trong hệ thống các cơ sở giáo dục - đào tạo; đổi mới chương trình, nội dung giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo. Tăng cường giáo dục những nguyên lý cơ bản, giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng sáng tạo, phát triển của Đảng. Tuyên truyền sâu rộng những giá trị văn hóa truyền thống, bài học kinh nghiệm lịch sử trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tinh thần yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Đồng thời, làm cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội; xây dựng văn hóa con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; có lập trường, tư tưởng vững vàng, có tri thức, giàu tình cảm, đạo đức cách mạng trong sáng và lối sống lành mạnh; nhận diện rõ ràng âm mưu, thủ đoạn, phương thức hoạt động của các thế lực thù địch tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hiện nay.

 

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC SỐNG MÃI

 

Lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác cũng như lý tưởng và sức sống mãnh liệt của Cách mạng Tháng Mười Nga là những giá trị vĩnh hằng, có sức sống trường tồn cùng nhân loại bởi “cái ngày vĩ đại ấy càng cách xa chúng ta thì ý nghĩa của cuộc CMVS Nga càng trở nên rõ rệt, chúng ta cũng càng suy nghĩ sâu về toàn bộ kinh nghiệm thực tiễn của công tác của chúng ta”(1), thấy rõ hơn giá trị và ý nghĩa hiện thực của Cách mạng Tháng Mười Nga; đặc biệt là những cống hiến vĩ đại của Lênin đối với việc khai mở con đường thực hiện tiến bộ xã hội, đưa các dân tộc thuộc địa thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, trở thành chủ nhân xây dựng cuộc sống mới, sống trong hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc.

Chúng ta nhận thức sâu sắc rằng, phát triển không phải là một đường thẳng mà có lúc sẽ diễn ra quanh co, phức tạp. Sự  ra đời, tồn tại, phát triển và sụp đổ của các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô trong thập kỷ 90 của thế kỷ 20 phần nào đã nói lên sự “dích dắc” đó. Song, không vì thế mà tiến trình lịch sử bị đảo lộn, bị “ngưng đọng”, “thụt lùi”.

Theo quy luật tiến hóa của loài người, lịch sử vẫn tiếp tục vận động và phát triển. Những tổn thất từ sự sụp đổ của một số nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô là đáng tiếc nhưng nó chỉ có thể làm chậm bước tiến của nhân loại trên con đường đi lên CNXH.

ĐẤU TRANH CHỐNG QUAN LIÊU TRONG BỘ MÁY CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

 

Quan liêu là một trong những căn bệnh rất nguy hại trong công tác lãnh đạo. Nó được ví như giặc nội xâm làm suy yếu Đảng và đạo đức cách mạng của Đảng. Quan liêu tiếp tay cho cán bộ yếu kém, thoả hiệp với những kẻ xấu làm tổn hại tới sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nó làm băng hoại đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên. Quan liêu, mệnh lệnh đã trở thành một bức tường ngăn cách, tách rời Đảng, Chính phủ với nhân dân, tách rời lợi ích của nhân dân với chính sách của Đảng và Nhà nước. Quan liêu làm “biến dạng” các tổ chức đảng và cơ quan nhà nước, làm cho những tổ chức này xa dân, đứng trên nhân dân và có những chủ trương, chính sách không sát hợp lòng dân, thậm chí đi ngược lại lợi ích của nhân dân. Kết quả là “quần chúng không tin, không phục, càng không yêu họ. Chung quy là họ không làm nên trò trống gì”, đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ có khi không thấu đến quần chúng hoặc bị thi hành lệch lạc, kết quả là hỏng việc lại mất lòng người. Quan liêu, xa rời quần chúng của một bộ phận cán bộ, đảng viên được Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra là căn bệnh tồn tại khá phổ biến và gây hại trực tiếp đến sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Do vậy, nhận diện căn bệnh này và tìm cách khắc phục nó là một trong những vấn đề có ý nghĩa quan trọng, cấp thiết trong công tác xây dựng Đảng hiện nay.

 

Nhận thức vấn đề “Đối tác” và “đối tượng”hiện nay

 


Đại hội XIII của Đảng đưa ra định hướng hoạt động đối ngoại, đó là: “Đẩy mạnh đối ngoại song phương và nâng tầm đối ngoại đa phương... Coi trọng phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị, truyền thống với các nước láng giềng... Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và đối tác quan trọng khác... Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp của các thế lực thù địch vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước” theo đó: “đối tác”, là tất cả các chủ thể tôn trọng, thừa nhận, ủng hộ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc  theo đường lối, quan điểm của chúng ta, không can thiệp công việc nội bộ , không chống phá công cuộc, sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta. Có thể dễ dàng nhận thấy ngoài hai nước Lào và Cam-pu-chia có quan hệ “láng giềng đặc biệt”, cho đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với 17 nước và đối tác toàn diện với 13 nước. Trong số các đối tác, Việt Nam cũng đặt thứ tự ưu tiên với các nước láng giềng, tiếp đó là các đối tác chiến lược và đối tác toàn diện.Tuy nhiên, quan hệ đối tác của Việt Nam không chỉ dừng lại ở những đối tác truyền thống, đối tác chiến lược và đối tác toàn diện, mà còn bao gồm cả các “đối tác quan trọng khác”. Cho đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 189/193 nước thành viên của Liên hợp quốc, là thành viên của nhiều tổ chức khu vực và quốc tế

Đại hội XIII chỉ rõ đó là những lực lượng có “âm mưu, hành động can thiệp... vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước”( cả những thách thức 1- Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp. 2- Bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định... là những thách thức rất lớn đối với nước ta trong thời gian tới(12).

ĐẤU TRANH CHỐNG QUAN LIÊU TRONG BỘ MÁY CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

 

Quan liêu là một trong những căn bệnh rất nguy hại trong công tác lãnh đạo. Nó được ví như giặc nội xâm làm suy yếu Đảng và đạo đức cách mạng của Đảng. Quan liêu tiếp tay cho cán bộ yếu kém, thoả hiệp với những kẻ xấu làm tổn hại tới sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nó làm băng hoại đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên. Quan liêu, mệnh lệnh đã trở thành một bức tường ngăn cách, tách rời Đảng, Chính phủ với nhân dân, tách rời lợi ích của nhân dân với chính sách của Đảng và Nhà nước. Quan liêu làm “biến dạng” các tổ chức đảng và cơ quan nhà nước, làm cho những tổ chức này xa dân, đứng trên nhân dân và có những chủ trương, chính sách không sát hợp lòng dân, thậm chí đi ngược lại lợi ích của nhân dân. Kết quả là “quần chúng không tin, không phục, càng không yêu họ. Chung quy là họ không làm nên trò trống gì”, đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ có khi không thấu đến quần chúng hoặc bị thi hành lệch lạc, kết quả là hỏng việc lại mất lòng người. Quan liêu, xa rời quần chúng của một bộ phận cán bộ, đảng viên được Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra là căn bệnh tồn tại khá phổ biến và gây hại trực tiếp đến sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Do vậy, nhận diện căn bệnh này và tìm cách khắc phục nó là một trong những vấn đề có ý nghĩa quan trọng, cấp thiết trong công tác xây dựng Đảng hiện nay.