Thứ Hai, 21 tháng 2, 2022

NHỮNG CĂN BỆNH DỄ MẮC

 

          Cần thẳng thắn thừa nhận thực tế là từ khi nước nhà thống nhất cho đến nay có thời gian, có nơi công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa được coi trọng đúng mức. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc...”

          Từ đánh giá đó, Đảng ta đã đi vào “mổ xẻ từng ung nhọt trên cơ thể mình”. Trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, Đảng ta đã chỉ rõ các căn bệnh chính của cán bộ, công chức, đảng viên đó là: Sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, tham nhũng, ham quyền lực, bè phái cục bộ, mất đoàn kết, quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của dân.v.v... Các căn bệnh như đã nêu được Đảng ta quy thành hai nhóm, đó là những hành vi suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và nhóm những việc làm sai trái trong công tác cán bộ mà cụ thể là tình trạng chạy chức, chạy quyền.

          Nguyên nhân cơ bản của những căn bệnh trong Đảng và hệ thống chính trị dù ở nhóm nào cũng từ chủ nghĩa cá nhân (CNCN) mà ra. Đảng ta coi CNCN như một thứ vi trùng vô cùng độc hại gây ra đủ các thứ bệnh rất nguy hiểm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: “Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó”. Từ chỗ coi CNCN là “kẻ thù của cách mạng”, Đảng ta xác định, đấu tranh chống CNCN là một nội dung trọng tâm và cũng là một giải pháp rất quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Có thể nói Đảng ta đã “bắt đúng bệnh”, vấn đề còn lại là tìm “đúng thuốc” để phòng ngừa, chữa trị.

          Những căn bệnh mà cán bộ, công chức, đảng viên dễ mắc phải không khó để nhìn thấy, nhận thấy nhưng khi đi vào mổ xẻ, phân tích để công khai, chỉ tên từng con người cụ thể là việc không hề đơn giản. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra: “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là công việc xây dựng tổ chức, xây dựng con người, là công tác con người, rất dễ đụng chạm đến danh dự, lợi ích, quan hệ của con người, đòi hỏi mỗi chúng ta phải tự phê bình, phân tích, mổ xẻ những ưu, khuyết điểm của chính bản thân mình; phải nhận xét, đánh giá về người khác...”. Mục đích của tự phê bình và phê bình theo đúng nghĩa rất nhân văn và hữu ích. Nhưng với không ít người sau khi đối mặt với phê bình, chỉ trích, danh dự, uy tín bị ảnh hưởng đã sa sút ý chí phấn đấu, giảm sút tinh thần, thậm chí có người tìm cách trả đũa người đã phê bình mình... Nói như thế để thấy cuộc đấu tranh phòng ngừa, điều trị những căn bệnh trong Đảng rất khó khăn, phức tạp.

          Dân gian có câu "Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng". Những lời chỉ trích mạnh mẽ, những hình thức xử lý kỷ luật dù khó chấp nhận, nhưng lại góp phần rất quan trọng vào sự phát triển, thành công của mỗi cán bộ, công chức, đảng viên cũng như từng tập thể, tổ chức trong Đảng và hệ thống chính trị. Trong 5 năm (2016 - 2020), hơn 25.000 cán bộ, đảng viên suy thoái, có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" bị kỷ luật, trong đó hơn 8.200 đảng viên bị xử lý kỷ luật do suy thoái về tư tưởng chính trị, hơn 15.000 cán bộ, đảng viên suy thoái về đạo đức, lối sống; hơn 110 cán bộ diện Trung ương quản lý bị kỷ luật và xử lý hình sự, trong đó có 27 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương và 4 Ủy viên, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị… Những con số biết nói ấy đã phần nào thể hiện rõ tinh thần quyết tâm, tính chất quyết liệt của Đảng ta trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

          Sự dũng cảm, mổ sẻ và kiên quyết chặt bỏ những “cành sâu mọt” ấy không làm Đảng ta yếu đi mà thực sự đã và đang làm cho Đảng ta ngày càng mạnh lên. Nhiều mặt hạn chế, yếu kém mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ ra đã được khắc phục. Bước đầu chúng ta đã ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Những kết quả đã đạt được trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã khẳng định trong xã hội ta công tội rõ ràng, tốt xấu phân minh, trắng đen không thể lẫn lộn. Đảng và Nhà nước ta không thể để những người suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tự tung tự tác làm tổn hại tới thanh danh của Đảng và hệ thống chính trị.

          Có thể khẳng định, những kết quả bước đầu của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã góp phần cảnh báo, răn đe, giáo dục với đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên trong Đảng và hệ thống chính trị; làm cho xã hội trong sạch, lành mạnh hơn; niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ được củng cố và tăng cường. Đây là nguồn động lực to lớn để Đảng ta tiếp tục nêu cao quyết tâm chính trị, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ hơn trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội

 - Trong chủ nghĩa xã hội tôn giáo vẫn tồn tại và sẽ còn tồn tại lâu dài. Nguyên nhân chủ yếu của tình hình đó là:

+ Tôn giáo cũng như các hình thái ý thức xã hội khác đều có tính bảo thủ. Khi những điều kiện kinh tế, xã hội sản sinh ra nó đã thay đổi nhưng bản thân nó biến đổi chậm hơn. Vì vậy, tôn giáo tồn tại với tư cách là một sản phẩm của lịch sử để lại.

+ Bản thân chủ nghĩa xã hội vẫn chưa có khả năng khắc phục triệt để, ngay một lúc các nguồn gốc làm phát sinh và duy trì sự tồn tại của tôn giáo.

+ Giáo lý và hoạt động tôn giáo có một số yếu tố phù hợp với xã hội. Đó là mặt đạo đức, văn hóa của tôn giáo. Tôn giáo vẫn đang đáp ứng nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân.

+ Trong chủ nghĩa xã hội tôn giáo cũng có khả năng tự biến đổi để thích nghi theo xu hướng “đồng hành với dân tộc”, sống “tốt đời, đẹp đạo”,  “sống phúc âm giữa lòng dân tộc”...

- Trong chủ nghĩa xã hội tôn giáo đã có những biến đổi cơ bản. Tín ngưỡng, tôn giáo tách hẳn khỏi nhà nước và nhà trường, chỉ còn là công việc tôn giáo thuần túy. Nhà nước không can thiệp vào công việc nội bộ của các tôn giáo, niềm tin tôn giáo. Nhà nước tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng, đảm bảo quyền bình đẳng giữa các tôn giáo, giữa những người có tín ngưỡng và người không có tín ngưỡng.

Những tác động của tôn giáo trong đời sống xã hội

 - Tôn giáo có vai trò trong việc liên kết, tập hợp cộng đồng.

- Tôn giáo đã đóng góp khá lớn đối với các di sản văn hóa của nhân loại và góp phần chuyển tải các giá trị văn hóa, văn minh trong quá trình giao lưu với nhau trên thế giới.

- Vào buổi bình minh của lịch sử, tôn giáo hình thành như là một nhu cầu khách quan của con người, đáp ứng được những nhu cầu đó và bù đắp (hư ảo) những bất lực hiện thực của họ.

- Trong xã hội có giai cấp trước đây, các giai cấp bóc lột thống trị thường tìm cách lợi dụng các tôn giáo để thực hiện lợi ích của mình.

 Nói chung, nếu gác sự lợi dụng tôn giáo của các thế lực chính trị sang một bên, tôn giáo có tác động hai mặt đối với xã hội.

- Một mặt tôn giáo phản ánh khát vọng của con người, sự trăn trở của họ về một xã hội tốt đẹp hơn. Mặt khác, tôn giáo là sự kìm hãm quá trình hiện thực hóa khát vọng đó bởi nó phản ánh hiện thực một cách hoang đường, hư ảo.

- Một mặt tôn giáo làm tăng sự liên kết xã hội. Mặt khác tôn giáo cũng là nguyên nhân của sự rạn nứt các quan hệ xã hội do sự sùng tín hay tính cục bộ cố hữu của nó.

- Một mặt tôn giáo hướng con người về những giá trị cao cả, đạo đức, hướng thiện.... Mặt khác tôn giáo lại làm tăng tính thụ động của họ theo những giáo điều có sẵn và bất di bất dịch.

-  Một mặt tôn giáo gợi lên những suy tư, tìm tòi, hướng tới xã hội cao đẹp, dù là ở trên trời. Mặt khác tôn giáo lại ngăn cản sự phát triển của khoa học.

-  Một mặt tôn giáo góp phần tạo dựng, tham gia sáng tạo các giá trị văn hóa của dân tộc. Mặt khác tôn giáo lại kìm hãm sự sáng tạo hiện thực của con người ...

Phân biệt giữa tôn giáo và tín ngưỡng

Đây là nội dung trọng tâm của phàn I và cũng là một trong những nội dung trọng tâm của bài.

Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng[1].

Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức[2].

Theo quan điểm truyền thống, người ta có ý thức phân biệt giữa tôn giáo và tín ngưỡng, thường coi tín ngưỡng ở trình độ phát triển thấp hơn so với tôn giáo.

Sự khác nhau giữa tôn giáo và tín ngưỡng thể hiện ở một số điểm như:

Tôn giáo có hệ thống giáo lýkinh điển... được truyền thụ qua giảng dạy và học tập ở các tu việnthánh đườnghọc viện... có hệ thống thần điện, có tổ chức giáo hội, hội đoàn chặt chẽ, có nơi thờ cúng riêng như nhà thờchùathánh đường..., nghi lễ thờ cúng chặt chẽ, có sự tách biệt giữa thế giới thần linh và con người.

Tín ngưỡng thì chưa có hệ thống giáo lý mà chỉ có các huyền thoạithần tíchtruyền thuyết... Tín ngưỡng mang tính chất dân gian, gắn với sinh hoạt văn hóa dân gian. Trong tín ngưỡng có sự hòa nhập giữa thế giới thần linh và con người, nơi thờ cúng và nghi lễ còn phân tán, chưa thành quy ước chặt chẽ...

Hoạt động tín ngưỡng: “là hoạt động thờ cúng tổ tiên, các biểu tượng linh thiêng; tưởng niệm và tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng; các lễ nghi dân gian tiêu biểu cho những giá trị lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội

Chức năng của tôn giáo


a. Chức năng thế giới quan

Mỗi tôn giáo, để trở thành một tôn giáo đích thực đều phải giải đáp câu hỏi:  Thế giới này (kể cả tự nhiên và xã hội) là gì? Do đâu mà có? Vận hành theo những quy luật nào? Đằng sau cái thế giới hữu hình này là gì? Có thể nhận thức được không? V.v...Dù phản ánh hư ảo thế giới khách quan, nhưng tôn giáo luôn có kỳ vọng đáp ứng nhu cầu của con người về nhận thức thế giới: tự nhiên, xã hội và chính con người.

b. Chức năng đền bù hư ảo

Con người trong thế giới đời thường luôn bị sức ép của những sức mạnh tự nhiên cũng như xã hội (sự bóc lột giai cấp) không tìm được lời giải đáp chính xác về nguyên nhân của những bất bình đẳng xã hội và biện pháp khắc phục nó, cũng như bất lực trong cuộc đấu tranh giai cấp, phải sống trong nỗi lo sự khốn cùng, bất hạnh, trong khi chưa được soi sáng bởi một chân lý – chân lý cách mạng – có thể tìm thấy trong tôn giáo những giải đáp làm nguôi ngoai đi những khổ đau và ấp ủ một hi vọng hư ảo. Sự đền bù hư ảo của tôn giáo, nhưng lại có tác dụng hiện thực, bởi nhờ có nó mà con người trong những lúc khổ đau tuyệt vọng nhất vẫn được an ủi và vẫn nuôi hy vọng vượt qua, hạn chế được những hành vi vô nghĩa hoặc tai hại cho đồng loại.

c. Chức năng điều chỉnh

Tôn giáo đã tạo nên hệ thống những chuẩn mực giá trị đạo đức. Qua những điều cấm kỵ, răn dạy đã điều chỉnh hành vi của mỗi tín đồ trong đời sống cộng đồng.

d. Chức năng liên kết

Tôn giáo có khả năng liên kết những con người cùng tín ngưỡng. Họ có chung một niềm tin, cùng bị ràng buộc bới giáo lý, giáo luật, cùng thực hiện một số nghi thức tôn giáo và những điểm tương đồng khác. Sự liên kết giữa các cộng đồng cùng tôn giáo rất chặt chẽ và lâu bền. Tuy nhiên, bên cạnh chức năng liên kết, tôn giáo cũng có khả năng bị phân ly vì sự khác biệt tín ngưỡng.

Tính chất chung của tôn giáo

 a. Tính chất lịch sử

+ Con người sáng tạo ra tôn giáo. Tôn giáo chỉ xuất hiện khi khả năng tư duy trừu tượng của con người đạt tới một mức độ nhất định. Mặc dù tôn giáo còn tồn tại lâu dài, nhưng nó chỉ là một phạm trù lịch sử.

+ Tôn giáo là sản phẩm của lịch sử. Trong từng thời kỳ của lịch sử, tôn giáo có sự biến đổi cho phù hợp với kết cấu chính trị và xã hội của thời đại đó.

+ Đến một giai đoạn lịch sử, khi những nguồn gốc sản sinh ra tôn giáo bị loại bỏ, khoa học và giáo dục giúp cho đại đa số quần chúng nhân dân nhận thức được bản chất của các hiện tượng tự nhiên và xã hội, tôn giáo sẽ dần dần mất đi vị trí của nó trong đời sống xã hội và trong nhận thức, niềm tin của mỗi người.

b. Tính chất quần chúng

- Tính chất quần chúng của tôn giáo thể hiện ở tín đồ các tôn giáo thuộc tất cả các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, chiếm tỉ lệ cao trong dân số thế giới. Nếu chỉ tính các tôn giáo lớn, đã có tới từ 1/3 đến một nửa dân số thế giới chịu ảnh hưởng của tôn giáo.

- Tính chất quần chúng của tôn giáo xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Một mặt, cho đến nay sự phát triển của khoa học, sản xuất và xã hội chưa loại bỏ được những nguồn gốc nảy sinh tôn giáo. Mặt khác, tôn giáo cũng đang đáp ứng phần nào nhu cầu tinh thần của quần chúng, phản ánh khát vọng của những người bị áp bức về một xã hội tự do, bình đẳng...

c. Tính chất chính trị

- Tính chính trị của tôn giáo chỉ xuất hiện khi xã hội đã phân chia giai cấp, có sự khác nhau về lợi ích và các giai cấp bóc lột thống trị lợi dụng tôn giáo phục vụ lợi ích của mình.

- Trong xã hội xã hội chủ nghĩa tôn giáo hoàn toàn tách rời với chính trị. Nhà nước thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, bao gồm quyền tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào; sinh hoạt tôn giáo mang tính chất tôn giáo thuần túy, không gắn với chính trị. Chính sách tôn giáo của nhà nước xã hội chủ nghĩa đã loại bỏ hoàn toàn tính chất chính trị của tôn giáo.

d. Tính chất đối lập với khoa học

- Tôn giáo phản ánh hư ảo thế giới hiện thực vào đầu óc con người, giải thích một cách duy tâm, thần bí những thực tại xã hội mà con người đang gặp phải. Vì vậy, tôn giáo mang tính chất duy tâm, đối lập với chủ nghĩa duy vật biện chứng khoa học.

- Trong thời đại cách mạng công nghệ phát triển nhanh chóng hiện nay, tôn giáo có sử dụng những thành tựu của khoa học để phát triển tôn giáo, đồng thời vẫn tìm cách giải thích sai lệch những tiến bộ khoa học, kỹ thuật, gieo vào đầu óc con người những định mệnh không thể cưỡng lại...

Đẩy mạnh ổn định thị trường cung - cầu xăng dầu trong nước

 


Để đảm bảo nguồn cung ứng xăng dầu trong bối cảnh giá thế giới liên tục tăng, thị trường trong nước có hiện tượng găm hàng, chờ tăng giá, Bộ Công thương đã tổ chức họp khẩn, tìm giải pháp tháo gỡ.

Đáng chú ý là người đứng đầu ngành Công thương có đề nghị Chính phủ cho phép liên Bộ Công thương, Tài chính được linh hoạt điều hành giá xăng dầu trong nước để tiệm cận giá thế giới. Trong điều kiện nguồn cung ở thời điểm nào đó gặp khó khăn thì cho phép được sử dụng quỹ dự trữ xăng dầu quốc gia khi cần thiết. Về lâu dài, kiến nghị Chính phủ xem xét nâng mức dự trữ xăng dầu bằng hiện vật.

Để đảm bảo nguồn cung, Bộ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Hồng Diên yêu cầu Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) chỉ đạo tăng năng lực sản xuất, cung ứng xăng dầu cho thị trường trong nước năng suất cao nhất có thể; PVN tiếp tục đàm phán các bên liên quan để sớm phục hồi hoạt động có hiệu quả của Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn. Đồng thời, làm rõ trách nhiệm của Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn nếu vi phạm các điều khoản cam kết và để đứt gãy chuỗi cung ứng.

“Chiến lược hòa bình” toàn diện

 

Bước vào những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ XX, “diễn biến hòa bình” bước đầu trở thành chiến lược của chủ nghĩa đế quốc với tên gọi “chiến lược hòa bình”.

Kennedy sau khi nhậm chức Tổng thống Mỹ, đã tuyên bố: “Nước Mỹ giống như con đại bàng trên Quốc huy hình lá chắn của tổng thống, chân phải của nó cắp cành ô liu còn chân kia cắp mũi tên, phải coi trọng cả hai chân như nhau”. Theo đó, Kennedy một mặt tiếp tục thực hiện chính sách cứng rắn (bao vây, cấm vận, chống đối), mặt khác vạch kế hoạch "hòa bình" với Liên Xô (6-1961), đề xướng "liên minh vì tiến bộ”, chi 20 tỷ USD viện trợ nhằm khắc phục ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản ở châu Mỹ La-tinh, thành lập "đội hòa bình" ở châu Phi, điều chỉnh chiến lược quân sự "trả đũa ồ ạt" của Eisenhower trước đó thành chiến lược "phản ứng linh hoạt”, tiến hành “chiến tranh đặc biệt" ở Việt Nam.

Thời kỳ chính quyền Richard Nixon, bằng chính sách “cây gậy và củ cà rốt”, đàm phán trên thế mạnh, Mỹ tuy vẫn coi trọng răn đe hạt nhân, nhưng đã điều chỉnh cục diện ôm đồm, giảm bớt lực lượng quân sự ở nước ngoài; tạo thế cân bằng giữa các nước lớn; tăng cường tiếp xúc hòa bình với các nước xã hội chủ nghĩa, lấy hòa hoãn thay dần cho “chiến tranh lạnh”, qua đó để thẩm thấu tư tưởng và văn hóa, tác động vào kinh tế, phá hoại quốc phòng, an ninh, gieo rắc hạt giống chống phá từ bên trong…  

Sang thập kỷ 80 của thế kỷ XX, Mỹ khôi phục kinh tế, quân sự và vị thế quốc tế, tăng cường sức mạnh trên một số mặt. Các nước tư bản khác cũng vượt qua khủng hoảng, sản xuất bắt đầu phát triển. Lợi dụng các nước xã hội chủ nghĩa cải tổ, cải cách, mở cửa Mỹ đề ra dự án "dân chủ toàn cầu” nhằm ủng hộ sự xuất hiện của lực lượng "dân chủ” ở các nước cộng sản, tìm cách đả kích hệ tư tưởng Mác-xít, đề cao "dân chủ", "tự do” phương Tây, thúc đẩy sự hòa nhập kinh tế thế giới để lái cải cách đi chệch khỏi quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội. Mỹ ngầm đánh vào bên trong các nước xã hội chủ nghĩa, đồng thời nghi binh chiến lược, tích cực tuyên truyền chạy đua vũ trang, thu hút Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa cái gọi là "chương trình SDI", kéo quân đội Liên Xô ra ngoài, chạy theo đối phó với "nguy cơ một cuộc chiến tranh hạt nhân tổng lực, toàn cầu,” loại được công cụ sắc bén của Đảng Cộng sản Liên Xô, đặc biệt là loại được lực lượng KGB ra khỏi cuộc chiến tranh ngầm” đang diễn ra gay gắt ngay trong lòng chế độ xã hội chủ nghĩa.

Sau khi nhậm chức Tổng thống Mỹ (1-1989), G.Bush đưa ra chiến lược “vượt trên ngăn chặn", trong đó linh hồn là “diễn biến hòa bình”, nhằm đưa cuộc đấu tranh vào trong lòng các nước xã hội chủ nghĩa (bằng lực lượng phản động), làm cho các nước xã hội chủ nghĩa bị xô đẩy tới chỗ sụp đổ.  

Đến đây, "diễn biến hòa bình" từ vị trí là thủ đoạn của chiến lược "ngăn chặn", "vượt trên ngăn chặn" đã trở thành một chiến lược chống cộng toàn diện. Sử dụng chiến lược này, Mỹ và các thế lực phản động đã thu được kết quả, thúc đẩy sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu.

Diễn biến hòa bình: Sự điều chỉnh chiến lược của Mỹ sau chính biến ở Liên Xô và Đông Âu

 

Ở thời kỳ này, Mỹ tiếp tục theo đuổi chiến lược "can dự” nhưng có sự điều chỉnh nhất định, tăng cường "dính líu" vào các nước nhưng bằng các biện pháp "cứng rắn” hơn, trong đó coi trọng "đòn phủ đầu” để thực hiện cái gọi là "chủ nghĩa quốc tế riêng của Mỹ”. Ngoại trưởng Mỹ Colin Powell trong một cuộc điều trần ngày 17-1-2001, tuyên bố: "Chủ nghĩa quốc tế riêng của Mỹ sẽ không có bất kể sự nhún nhường nào khiến cho Mỹ phải rút lui khỏi thế giới, co về pháo đài của chủ nghĩa bảo hộ hoặc về một hòn đảo biệt lập”.

Sau sự kiện ngày 11-9, Mỹ ra sức lợi dụng cuộc chiến "chống khủng bố”, lấy cớ "kiểm soát việc sản xuất, tàng trữ vũ khí giết người hàng loạt" để tính toán, điều chỉnh chiến lược. Đặc biệt, sau khi lôi kéo đồng minh vào cuộc chiến “chống khủng bố” và một số nước lớn ngả theo mình, Mỹ đơn phương tuyên bố rút khỏi Hiệp ước cấm tên lửa đạn đạo (ABM), đẩy nhanh việc thử nghiệm Hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia (NMD), thành lập Bộ tư lệnh Bắc Mỹ, tăng chi phí quân sự nhằm châm ngòi một cuộc chạy đua vũ trang mới, tăng cường khả năng răn đe để thực hiện ý đồ "xây dựng thế giới một siêu cường” do Mỹ đứng đầu. Mỹ trực tiếp can thiệp (cả bằng quân sự) vào nhiều nước để mở rộng ảnh hưởng của mình ở khu vực Trung Đông và châu Á - Thái Bình Dương, thông qua chiêu bài "dân chủ, nhân quyền” để can dự sâu hơn, nhằm "diễn biến hòa bình” đối với các nước, hoặc gây áp lực nhằm hướng lái các nước theo “quỹ đạo” của Mỹ.

Nga: Những tuyên bố cực rắn tại cuộc họp Hội đồng an ninh LB Nga đang diễn ra

 


Thủ tướng Nga: Nếu không có tiến bộ trong việc giải quyết khủng hoảng, chúng tôi nên công nhận sự độc lập của 2 nước cộng hòa tự xưng DPR, LPR.

Nữ chủ tịnh Hội đồng Liên bang Nga: Các đe dọa trừng phạt là đau đớn, nhưng giờ là lúc phải ra quyết định, chúng ta không thể trì hoãn thêm nữa.

Phó chủ tịch Hội đồng An ninh Liên bang Nga Medvedev: Phương Tây muốn vẽ lại bản đồ thế giới, áp sát biên giời Nga.

Khoảng 800.000 công dân Nga đang sống ở DPR, LPR, chúng ta không thể phớt lờ thực tế này.

Covid, rét hại, lạm phát - thách thức quá lớn với người nghèo

 

         Trong dịch bệnh hoành hành, thời tiết khắc nghiệt những ngày này, nếu chúng ta để ý đến xung quanh sẽ cảm nhận rất rõ "mùi vị" sự cực nhọc của người lao động nghèo.

        

          Nhà bố mẹ tôi nằm trong một khu chợ dân sinh tương đối tấp nập và nhộn nhịp. Đợt này về nhà thăm bố mẹ, tôi vẫn giữ thói quen thức dậy trước 5h. Nhiệt độ ngoài trời ước chừng tầm chỉ 8-9 độ. Ngay cả khi ở trong nhà thì việc mở máy và gõ bàn phím cũng phải "đấu tranh tư tưởng" ghê lắm, nhưng ngoài kia, tiếng xe thùng đẩy hàng vẫn leng keng.

          Tiểu thương trong khu chợ này, mùa đông hay mùa hè, có Covid-19 hay không có, họ vẫn đều đặn đi làm từ lúc tinh mơ, miễn là chợ họp. Có người với chiếc xe máy cà tàng phải chạy một chặng đường hơn 60km để đưa rau củ từ huyện vào thành phố bán và tất cả vốn liếng có khi chỉ là một sạp hàng nhỏ trị giá vài ba triệu đồng. Một ngày làm việc kéo dài từ tinh mơ sáng đến tận tối, nếu bán tốt thì lãi khoảng mấy trăm nghìn đồng, còn ế ẩm thì không đủ tiền xăng đi lại.

            Dạo này, khắp các phường, xã, đâu đâu cũng có nhiều f0, đã vậy, rét mướt kéo dài nhiều ngày liền khiến lượng khách tới chợ ngày một thưa thớt. Thế nhưng, với những tiểu thương này họ vẫn cảm thấy bản thân may mắn khi còn có kế sinh nhai, ít nhất là không còn phong tỏa như trước.

Covid, rét hại, lạm phát - thách thức quá lớn với người nghèo - 1

Phút nghỉ ngơi của những người lao động đang chật vật mưu sinh trong giá rét (Ảnh Đỗ Quân).

         Trong điều kiện dịch bệnh hoành hành, thời tiết khắc nghiệt những ngày này, nếu chúng ta để ý đến xung quanh sẽ cảm nhận rất rõ "mùi vị" của sự khốn khó và cực nhọc trong cuộc sống mưu sinh của những người dân nghèo, những lao động thu nhập thấp.

          Ở thành phố, dù không có lệnh giãn cách nhưng nhiều hàng quán phải tự nguyện đóng cửa do không có khách, do lo ngại lây nhiễm dịch bệnh, có khi là còn là do không còn đủ kinh phí để trả tiền thuê mặt bằng. Trường tư thục cũng chưa thể mở cửa đón học sinh. Thế rồi, tình trạng kéo theo chính là… thất nghiệp. Đến cả những công việc như phụ hồ, xe ôm, shipper… cũng không hề sẵn.

          Người mất việc ở phố về quê, nhưng ở cuộc sống tại các làng quê vùng nông thôn cũng bộn bề khó khăn, vất vả. Làm nông chưa bao giờ là công việc dễ dàng. Người đã li hương, li nông giờ trở về sẽ bắt đầu làm nông ra sao?! Còn nông dân bám trụ lại với làng, qua mùa dịch lại đến mùa rét, nhiệt độ xuống thấp chỉ lo chống đỡ làm sao cho trâu bò không ngã khụyu.

         "Cuộc sống bấp bênh quá, kiếm hôm nay đã lo ngày mai. Rồi lỡ như mắc Covid, lỡ như đổ bệnh rồi lại gánh nợ nần" - người bán rau đầu ngõ chợ vừa hôm nào trải lòng với tôi thì nay cũng đã trở thành F0 rồi.

          Nhưng sự bùng lên theo cấp số nhân của Covid hay những ngày rét đỉnh điểm chưa phải là tất cả khó khăn với người dân lao động. Còn một nỗi ám ảnh khác chính là lạm phát. Dù cho Chính phủ đang nỗ lực điều hành để kiềm chế lạm phát thì việc xăng dầu tăng giá kỷ lục vẫn tạo áp lực lớn lên giá cả các hàng hóa khác, từ lương thực, thực phẩm đến các vật dụng hàng ngày. 

          Điều ấm lòng là giữa khó khăn chung, tôi vẫn thấy tình người lan tỏa, ít nhiều đã xua đi cái lạnh lẽo của tiết trời khắc nghiệt. Nhiều hoàn cảnh được đồng nghiệp tôi ghi lại và đăng tải trên Dân trí đã nhận được sự hỗ trợ quý báu, đầy nhiệt tình của các mạnh thường quân.

Dẫu vậy, quan tâm đến người nghèo, chăm lo cho đời sống người lao động là việc rất lớn, cần sự chung tay của cả nước, của toàn xã hội. Đây là chiến lược lâu dài, thể hiện tính nhân văn của xã hội và lại càng cấp thiết ở thời điểm hiện tại.

Ngày 30/1, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội và triển khai Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ chương trình. Tổng gói hỗ trợ quy mô 350.000 tỷ đồng được kỳ vọng là "chất kích hoạt" giúp phục hồi tăng trưởng kinh tế trong thời gian ngắn hạn, tạo đà phát triển dài hạn và đảm bảo an sinh cho những người yếu thế.

Đáng chú ý, Bộ LĐTB&XH đang xây dựng dự thảo chương trình hành động, triển khai gói hỗ trợ tiền thuê nhà trọ cho người lao động trị giá khoảng 6.600 tỷ đồng, một phần nội dung của Nghị quyết 11.

Tôi thực sự xúc động khi đọc những dòng chia sẻ của ông Nguyễn Tiến Thuận - Giám đốc công ty Thiên An (TPHCM): "Sau Tết, công nhân, người lao động tại các khu trọ đã tiêu hết sạch tiền rồi. Tôi gặp nhiều công nhân chỉ ăn mì gói cho qua ngày, thực sự rất thương tâm. Khi nghe thông tin có gói hỗ trợ tiền nhà trọ họ mừng lắm, họ mong muốn được nhận sớm để đỡ gánh nặng mưu sinh".

Hơn lúc nào khác, họ - những người yếu thế, dễ tổn thương - cần được hỗ trợ kịp thời để vượt lên hoàn cảnh. Ngoài công nhân thì nông dân, người lao động tự do, người thất nghiệp… họ còn cần cả những chiếc "cần câu" để sống được bằng sức lao động trong lâu dài.

Nguồn: Dân trí.

Cảnh báo thuốc kháng virus 'xách tay'


          PGS.TS Nguyễn Lân Hiếu, Giám đốc Bệnh viện Ðại học Y Hà Nội cho biết, thời gian gần đây ông nhận được nhiều tin nhắn hỏi về các hộp thuốc xanh đỏ chữ tiếng Nga loằng ngoằng được cho là có tác dụng điều trị COVID-19. Ông khuyến cáo người dân không tự ý dùng vì là thuốc xách tay không rõ nguồn gốc.

          "Thuốc của Nga nếu thực sự tốt chắc tỉ lệ tử vong của Nga không ở mức hàng đầu thế giới. Tỉ lệ bệnh tự khỏi của chủng Omicron trên người đã được tiêm chủng rất cao nên thuốc gì uống vào đều khỏi. Do đó người dân đừng lãng phí tiền bạc và tiếp tay cho nhóm buôn lậu thuốc công khai bán trên mạng xã hội”, PGS.TS Nguyễn Lân Hiếu nhấn mạnh.

        Thuốc “xách tay” của Nga được rao bán tràn lan trên mạng xã hội

          Về những loại thuốc này, dược sĩ Hà Quang Tuyến, Trưởng khoa Dược, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội cho biết: “Thuốc xanh, thuốc đỏ hay Arbidol (Umifenovir) là thuốc kháng virus phổ rộng được cấp phép sử dụng để dự phòng và điều trị cúm mùa tại Trung Quốc và Nga từ năm 2006.

          Thử nghiệm tiền lâm sàng cho thấy thuốc Arbidol có hoạt tính kháng virus đối với một số virus đường hô hấp ở người như virus cúm A, B, C, adenovirus, rhinovirus… Tại Trung Quốc, Umifenovir được thử nghiệm trên bệnh nhân COVID-19 ngay giai đoạn đầu bùng phát dịch, tuy nhiên hiệu quả của Umifenovir là không đồng nhất giữa các nghiên cứu”.

          Dược sĩ Tuyến thông tin thêm, một nghiên cứu tổng quan hệ thống và phân tích gộp về hiệu quả và an toàn của Arbidol trên bệnh nhân COVID-19 đã được thực hiện bởi B. Amani và các cộng sự (năm 2021) dựa trên các dữ liệu nghiên cứu trên Pubmed, Cochrane, Embase và medRixv. Tổng quan đã cho thấy không có sự khác biệt về hiệu quả giữa việc dùng Arbidol và không dùng Arbidol ở bệnh nhân COVID-19. Sử dụng Arbidol có nguy cơ cao gặp tác dụng phụ hơn. Các tác dụng phụ hay gặp phải là rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy, nôn.

          “Umifenovir cũng như nhiều thuốc khác Hydroxycloroquin, Ribavirin, Sofosbuvir, Lopinavir… là một trong số các thử nghiệm lâm sàng trong giai đoạn ban đầu của đại dịch để tìm hướng tiếp cận điều trị COVID-19 trên thế giới. Có nhiều nghiên cứu đã tạm dừng do hiệu quả không cao hoặc nguy cơ, tác dụng không mong muốn lớn hơn nhiều so với hiệu quả”, dược sĩ Tuyến nói.

Theo PGS.TS Nguyễn Lân Hiếu, mỗi thuốc kháng virus có chỉ định trên một số đối tượng bệnh nhân COVID-19 nhất định. Do đó việc dùng các thuốc kháng virus này cần đúng chỉ định của bác sĩ. Bên cạnh đó, các thuốc trị COVID-19 này có khá nhiều chống chỉ định, đòi hỏi phải tuân thủ chặt chẽ, đồng thời trong quá trình sử dụng cần giám sát cẩn thận tác dụng phụ để tránh xảy ra rủi ro.

          “Hiện nay, thuốc Arbidol và Areplivir đều chưa được cấp phép lưu hành và nhập khẩu chính thức tại Việt Nam. Các sản phẩm do các trang mạng xã hội, các nhóm diễn đàn bán đều là hàng trôi nổi, không rõ nguồn gốc xuất xứ, tiêu chuẩn chất lượng. Việc mua bán và sử dụng các thuốc kể trên đều là vi phạm nghiêm trọng Luật Dược, giảm hiệu quả phòng chống dịch, tạo cơ hội cho những cá nhân lợi dụng buôn bán thuốc giả thuốc kém chất lượng, thuốc nhập lậu để trục lợi cá nhân”, Trưởng khoa Dược cảnh báo.

Đi lên chủ nghioax xã hội ở Việt Nam, con đường duy nhất

 Cần khẳng định ngay, các ý kiến trên là nhằm phủ nhận tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN); hòng gây hoang mang trong nhận thức và dư luận xã hội về con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Đây cũng là thủ đoạn tinh vi, thâm độc nhằm nói xấu, hạ bệ vai trò, sự đóng góp của cá nhân Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Dễ nhận thấy, không phải đến tận bây giờ, kẻ thù mới hướng mũi chống phá vào việc phủ nhận CNXH, mà thực chất, đây là mục tiêu xuyên suốt, bao trùm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Cái cách mà chúng đã thành công ở Liên Xô và các nước Đông Âu 3 thập kỷ trước. Theo đó, mỗi khi có cơ hội, kiếm tìm được cái cớ về sự kiện, hiện tượng ở xã hội Việt Nam, chúng lại réo lên những thông tin phản nghịch, đậm chất ngụy biện, bịa đặt, hòng gây xáo trộn nhận thức, lung lay niềm tin về mục tiêu lý tưởng của Đảng. Và lần này, cũng không loại trừ những âm mưu bẩn thỉu ấy.

Lịch sử cho thấy: Từ những năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, trong khi nhiều khuynh hướng cách mạng lâm vào khủng hoảng trầm trọng, bế tắc thì chỉ có con đường cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng lãnh đạo, đi theo CNXH là phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử và đưa cách mạng Việt Nam đi tới thành công. Trải qua các giai đoạn lịch sử cách mạng khác nhau, với những thắng lợi trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, cũng như thành công trong lãnh đạo đất nước đẩy mạnh công cuộc đổi mới, chính là minh chứng hùng hồn cho sự đúng đắn đó.Chúng ta biết rằng, suốt quá trình cách mạng, Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân tộc Việt Nam luôn tuyệt đối trung thành, vững tin lựa chọn và quyết tâm đi lên theo con đường CNXH. Đây không chỉ là sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, mà còn là nguyện vọng chính đáng của dân tộc Việt Nam. Đây cũng là con đường duy nhất đúng, hợp với quy luật cách mạng, được thực tiễn kiểm nghiệm, khẳng định tính đúng đắn.

Đặc biệt, trong hệ thống lý luận và nhận thức của Đảng ta, luôn nhất quán, khẳng định mục tiêu cách mạng của Đảng, là: Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không còn lợi ích gì khác! Minh chứng là, trong cuộc đối đầu với "giặc Covid-19" vừa qua, toàn Đảng và cả hệ thống chính trị đã chung sức đồng lòng, trực tiếp dấn thân vào nơi gian khó, hiểm nguy, khu tâm dịch... để linh hoạt, sáng tạo lãnh đạo, tổ chức phòng, chống dịch hiệu quả. Với tinh thần "chống dịch như chống giặc", “không bỏ ai lại phía sau”, “vừa chống dịch, vừa phát triển kinh tế”, "mỗi người dân là một chiến sĩ"... toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã chủ động khắc phục khó khăn, từng bước đẩy lùi dịch bệnh, đưa đất nước phát triển trong điều kiện bình thường mới. Những thành quả tốt đẹp đó cũng chính cách thức hiện thực hóa mục tiêu, con đường cách mạng, hướng đến các đặc trưng của CNXH; khẳng định tính ưu việt của chế độ XHCN ở Việt Nam.

 Trên lĩnh vực kinh tế, đất nước ta đã đạt được những kết quả toàn diện trên mọi mặt đời sống xã hội. Sau hơn 35 năm đổi mới, trải qua nhiều thời khắc khó khăn, kinh tế nước nhà đã có bước tiến rất dài, khác về chất. Đặc biệt, thời gian qua, khi bóng đêm kinh tế bao trùm nhân loại thì nền kinh tế Việt Nam vẫn giữ vững ổn định, phục hồi nhanh và phát triển bền vững; tiềm lực kinh tế, sức mạnh tổng hợp được tăng cường; các chế độ chính sách, an sinh xã hội vì người dân được đảm bảo. Đại hội XIII của Đảng, đánh giá: "Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới... Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như hiện nay".

Việt Nam - điểm đến và điển hình chưa có trong tiền lệ


Có thể thấy, với những thành quả cách mạng to lớn và khẳng định rõ tính ưu việt của chế độ XHCN, Việt Nam luôn là “điểm đến của hòa bình”, là quốc gia tổ chức nhiều sự kiện quốc tế, khu vực nhằm mục tiêu giải quyết các vấn đề của toàn nhân loại, hoặc các mục tiêu thiên niên kỷ. Tiêu biểu như: Tuần lễ Cấp cao Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) 2017; Hội nghị Diễn đàn Kinh tế thế giới về ASEAN năm 2018 (WEF ASEAN 2018); Hội nghị Thượng đỉnh Hoa Kỳ-Triều Tiên năm 2019... Điều đó cho thấy, Việt Nam không chỉ có đủ năng lực, điều kiện tổ chức các sự kiện quan trọng mang tầm quốc tế; mà quan trọng hơn là khẳng định được sự tin cậy cao của các nước dành cho Việt Nam.

Đặc biệt, từ năm 2014, việc Việt Nam chính thức tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc đã khẳng định chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta cả trong đối ngoại và hợp tác quốc tế, phù hợp với khát vọng và truyền thống ngàn đời của dân tộc ta, thể hiện trách nhiệm với thế giới trong giải quyết những vấn đề nóng bỏng, phức tạp, vì nền hòa bình của toàn nhân loại.

Từ thành quả cách mạng Việt Nam khi đi theo con đường CNXH, nhiều quốc gia trên thế giới đã chủ động bắt tay, hợp tác trên nhiều phương diện với Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 189 nước thuộc tất cả các châu lục và có quan hệ tốt đẹp với tất cả nước lớn, các ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược với 17 quốc gia (trong đó có 3 đối tác chiến lược toàn diện), 13 đối tác toàn diện. Đáng nói hơn là uy tín, vị thế của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng được nâng cao trên trường quốc tế. Khi các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta thực hiện các chuyến công du, thăm ngoại giao đến các nước, kể cả những cường quốc trên thế giới, luôn nhận được sự tiếp đón trọng thị, nồng nhiệt, cởi mở của các nhà lãnh đạo cao nhất. Đặc biệt, lãnh đạo các đảng phái trên thế giới (dù khác nhau về chế độ, thể chế) nhưng đã chủ động bắt tay hợp tác, ký kết nhiều nội dung phối hợp trên nhiều lĩnh vực. Những năm gần đây, bạn bè quốc tế, các tổ chức lớn trên thế giới, cùng nhiều quốc gia phát triển mời Việt Nam tham dự nhiều Hội nghị Thượng đỉnh nhóm các nền kinh tế phát triển trên thế giới; dự các hội nghị chia sẻ kinh nghiệm lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước ở Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam cũng cử đại biểu dự nhiều hội thảo khoa học, hội nghị trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm lãnh đạo giữa các đảng cộng sản, hoặc giữa các chính đảng với nhau.

Dẫn chứng như vậy để thấy rằng, hầu hết các quốc gia, các đảng phái trên thế giới đều ghi nhận, tôn trọng sự lựa chọn con đường tiến lên CNXH của Việt Nam; ghi nhận những nỗ lực xây dựng, phát triển chế độ, xem đó là điển hình chưa có trong tiền lệ, tạo niềm tin cho bạn bè quốc tế về sự lựa chọn mô hình XHCN về mục đích mà chúng ta đang tiến đến đó là nhân văn, nhân ái, hòa bình, về đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hòa hiếu. Cho nên, mọi suy diễn, chủ ý phủ nhận bước phát triển lý luận trong cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ là những ý kiến của một bộ phận hiềm khích, đã và đang cố tình chống phá cách mạng Việt Nam, bôi nhọ các nhà lãnh đạo và dã tâm phủ nhận tính ưu việt của chế độ XHCN ở Việt Nam.

Chính trong cuốn sách, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tổng kết, khái quát những thành quả cách mạng to lớn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta; đúc rút nên nhiều bài học quý báu dẫn đến thành công, trong đó bài học đầu tiên là việc xác định đúng con đường đi lên CNXH. CNXH là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và toàn thể nhân dân Việt Nam; đi lên CNXH là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu-con đường duy nhất đúng của cách mạng Việt Nam. Đó cũng chính là luận cứ sắc bén phủ định tất cả những mưu hèn, kế bẩn của những kẻ cố tình bôi nhọ, xuyên tạc, chống phá Việt Nam.

Những vấn đề lý luận mà Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói riêng đúc rút (cả trước đây và hiện nay), từng được các quốc gia, các chính đảng, tổ chức quốc tế tìm đến trao đổi, học tập kinh nghiệm, bày tỏ ấn tượng và sự ghi nhận đặc biệt. Thậm chí, nhiều chính đảng và nhiều tờ báo trên thế giới đã cho đăng tải các bài viết của Tổng Bí thư, phân tích các luận điểm của Tổng Bí thư và xem đây là tư liệu có giá trị tham khảo lớn, cung cấp câu trả lời cho nhiều nhà nghiên cứu thế giới đang trăn trở. Mặt khác, cũng từ đây, bạn bè quốc tế có thêm cơ sở củng cố niềm tin vào thành công của Việt Nam, tăng thêm sự ủng hộ công cuộc xây dựng đất nước của Việt Nam trên con đường đi lên CNXH.

Với cuốn sách xuất bản lần này, thêm một lần nữa minh chứng cho đánh giá của Đảng Cộng sản Liên bang Nga được ghi trong Nghị quyết (ngày 14-4-2020) về việc trao tặng Giải thưởng Lênin, một giải thưởng lớn tôn vinh những tập thể, cá nhân có công đóng góp xuất sắc trong hoạt động xã hội và có nhiều đóng góp làm phong phú thêm lý luận và thực tiễn của Chủ nghĩa Mác-Lênin... Đối với Tổng Bí thư Đảng ta, nghị quyết ghi “đã có những đóng góp cá nhân to lớn vào thực tiễn xây dựng CNXH và phát triển phong trào cộng sản trong giai đoạn hiện nay...”.

 Vậy nên, không cần bàn cãi gì thêm: Đi lên CNXH là con đường duy nhất đúng của cách mạng Việt Nam. Thực tế ở thời điểm hiện tại cho thấy: Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nỗ lực, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, vững tin đi theo con đường cách mạng. Sự thật ấy là gáo nước lạnh hắt thẳng vào mặt những kẻ hiềm khích, cố tình chống phá cách mạng Việt Nam.