Nhìn chung, dù được tiến hành dưới nhiều hình thức
khác nhau nhưng tựu trung, các quan điểm sai trái đều nhằm mục đích: cố tình
xuyên tạc, bôi nhọ chính sách hòa hợp của Đảng và Nhà nước ta, qua đó hòng kích
động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, thay đổi và phá hoại sự ổn định chính
trị - xã hội và cuối cùng là đòi đa nguyên đa đảng. Cụ thể:
Thứ nhất, sai
lầm khi cho rằng ở Việt Nam không có hòa hợp dân tộc thực sự
Thực tiễn cho thấy, trong suốt chiều dài lịch sử dân
tộc, nhất là từ khi có Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, ở Việt Nam không có sự
bất đồng và mâu thuẫn giữa các tộc người với nhau, đặc biệt là giữa người Kinh
và các dân tộc thiểu số.
Chúng ta biết rằng, mâu thuẫn hoặc xung đột tộc người,
tôn giáo thường bắt nguồn từ sự khác biệt về hệ tư tưởng, lợi ích (kinh tế) và
cả những khác biệt văn hóa… giữa các tộc người, tôn giáo. Tuy nhiên điều này
chỉ đúng ở tầm bao quát chung của nhân loại, hoặc đã và đang diễn ra ở một số
nước, khu vực trên thế giới. còn ở Việt Nam lại hoàn toàn khác. Hiện nay, Việt
Nam có 54 dân tộc anh em cùng chung sống lâu đời, trong đó có 53 dân tộc thiểu
số, với hơn 14 triệu người (chiếm khoảng 14,7% dân số cả nước). Mặc dù người
Kinh là dân tộc chiếm đa số, nhưng thực tế cho thấy dưới sự lãnh đạo, quản lý
của Đảng và Nhà nước, vai trò và tham gia vào bộ máy chính quyền cũng như những
đóng góp vào đời sống xã hội của người dân tộc thiểu số ngày càng được đảm bảo.
Đơn cử như trong Quốc hội, số lượng đại biểu Quốc hội người dân tộc thiểu số ở
Việt Nam đã tăng dần theo các khóa: Khóa I: 10,2%, khóa XIII: 15,6%, khóa XIV:
17,3%, khóa XII: 17,7%, khóa XV: 17,84%.
Trong quan hệ tôn giáo, thực tiễn cũng đã chứng minh
Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo và không có sự mâu thuẫn
hoặc xung đột giữa các tôn giáo, tín ngưỡng; các tôn giáo ở Việt Nam luôn được
tôn trọng, bình đẳng, không bị phân biệt đối xử và được Nhà nước bảo hộ hoạt
động bằng pháp luật; người dân được thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo…
Điều này đã được kiểm chứng, thừa nhận bởi nhiều quốc gia, nhiều tổ chức tôn
giáo lớn trên thế giới. Trong Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế - Việt Nam 2018
của Đại sứ quán và Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Việt Nam đã khẳng định: “Hiến
pháp (của Việt Nam) quy định mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bao
gồm cả quyền tự do không theo một tôn giáo nào. (...) Hiến pháp quy định tất cả
các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật và nhà nước phải tôn trọng và bảo hộ
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Hiến pháp cấm công dân vi phạm tự do tín
ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật” và
“Việt Nam là thành viên của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị”.
Trong sinh hoạt, vào những ngày lễ lớn của các tôn
giáo ở Việt Nam (Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, Hồi
giáo...), lãnh đạo Đảng và Nhà nước đều tới thăm, chúc mừng và cùng các tôn
giáo hướng tới lẽ sống “tốt đời đẹp đạo”. Đặc biệt, với đặc tính dung hòa sẵn
có của đời sống văn hóa Việt Nam, trong hầu hết các lễ hội tôn giáo, ngoài sự
hiện diện của tín đồ, còn có rất nhiều người dân, thậm chí là tín đồ của các
tôn giáo khác cũng đến xem lễ, tham quan, du lịch, tìm hiểu văn hóa, tín
ngưỡng…
Thứ hai, rất
ấu trĩ khi cho rằng các chính sách, luật pháp về hòa giải, hòa hợp dân tộc ở
Việt Nam hiện nay là “đãi bôi”, “con đường nửa vời”; Đảng và Nhà nước Việt Nam không
có thiện chí trong quá trình hòa hợp dân tộc
Phát huy truyền thống văn hóa dân tộc kết hợp thực
hiện lời dạy của Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc: “Đối với những đồng bào lạc
lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đại
đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc sẽ vẻ vang”, Đảng và Nhà nước ta
đã ban hành các chính sách, luật pháp cùng những hành động thiết thực về hòa
giải, hòa hợp dân tộc, có thể kể đến Nghị quyết số 36-NQ/TW về công tác đối với
người Việt Nam ở nước ngoài, Quy chế miễn thị thực cho người Việt Nam ở nước
ngoài, Chỉ thị 45-CT/TW về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện nghị quyết số
36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước
ngoài trong tình hình mới... Đặc biệt, chính sách đối với người Việt Nam ở nước
ngoài đã được Đảng cụ thể hóa vào các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc, như: “đề
cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập
hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước”, “Hỗ trợ để người Việt
Nam ở nước ngoài có địa vị pháp lý vững chắc, phát triển kinh tế và đời sống,
hòa nhập xã hội nước sở tại”, “Làm tốt công tác bảo hộ công dân Việt Nam ở nước
ngoài và tranh thủ tối đa nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài tham gia đóng
góp phục vụ phát triển đất nước”. Các cơ quan chuyên trách về công tác người
Việt ở nước ngoài (Ủy ban người Việt ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao) cũng đã làm
tốt công tác hòa hợp, hòa giải dân tộc thông qua giúp người Việt Nam ở nước
ngoài ổn định cuộc sống, hội nhập vào xã hội sở tại, hướng về Tổ quốc…
Những lý lẽ nêu trên cho thấy: không hề có cái gọi là
“đãi bôi” hay “con đường nửa vời” trong việc ban hành các chính sách, luật pháp
về hòa giải, hòa hợp dân tộc của Việt Nam. Đảng và Nhà nước ta luôn tỏ rõ thiện
chí trong quá trình hòa hợp dân tộc. Trong đó, việc chủ động chào đón sự trở về
của những kiều bào từng làm việc cho chế độ cũ, từng rời bỏ đất nước... là minh
chứng tiêu biểu nhất. Trường hợp của nguyên Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa
Nguyễn Cao Kỳ là một ví dụ điển hình. Trở về quê hương sau gần 30 năm xa xứ,
ông đã khẳng định: “Đại đoàn kết dân tộc là chính sách đúng đắn của chính phủ
Việt Nam, trong đó xem kiều bào ở nước ngoài là một bộ phận của cộng đồng dân
tộc Việt Nam”. Hoặc như trường hợp của nguyên chuẩn tướng, quyền Tổng tham mưu
trưởng Quân lực Việt Nam Cộng hoà Nguyễn Hữu Hạnh: Từ khi còn nắm giữ quyền lực
trong chế độ cũ cho đến lúc qua đời (2019) tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhân sĩ
Nguyễn Hữu Hạnh đã có những việc làm thiết thực, trở thành “một tấm gương tiêu
biểu của những người Việt Nam chân chính, có tinh thần dân tộc và yêu nước, cho
dù chỗ đứng ở đâu, cương vị thế nào vẫn luôn hướng về đất nước và dân tộc”.
Có thể thấy, để kiều bào quay trở về, ngoài yếu tố
hướng về nguồn cội thì thiện chí cùng với sự đảm bảo về pháp luật của Đảng và
Nhà nước chính là điều kiện quan trọng nhất. Các chính sách tốt đẹp cùng hệ
thống luật pháp nghiêm minh của Đảng và Nhà nước về hòa hợp dân tộc đã trở
thành cơ sở vững chắc để bà con Việt kiều thay đổi định kiến, thay đổi tư duy
và trở về chung sức xây dựng quê hương.
Không chỉ dang tay đón nhận những người con Việt Nam
thiết tha thực tâm trở về với đất mẹ, Đảng và Nhà nước còn có những việc làm
thiết thực, nhân văn để giúp đỡ, bảo hộ công dân đang sinh sống và làm việc ở
nước ngoài. Việc hỗ trợ người bị nạn (bao gồm cộng đồng người Việt) trong cơn
bão Katrina năm 2005 ở Mỹ; việc khuyến cáo và có những hành động kịp thời để
bảo hộ công dân tránh khỏi những tổn thất về người và của trước những xung đột,
biểu tình, đảo chính ở một số nước, khu vực; việc tiến hành đưa người Việt ở
nước ngoài trở về Tổ quốc trước đại dịch COVID-19... đã chứng minh cho thiện
chí hòa hợp và tinh thần “không ai bị bỏ lại phía sau”.
Thứ ba, hoàn
toàn ngộ nhận và sai lầm khi các thế lực thù địch tự nhận mình là “người đại
diện” cho “nguyện vọng của đa số” để tuyên truyền, đề xuất về cái gọi là
“phương cách hòa hợp”
Xét ở góc độ luật pháp, “đại diện” là việc một người,
một cơ quan, tổ chức nhân danh người, cơ quan, tổ chức khác xác lập, thực hiện
hành vi pháp lí trong phạm vi thẩm quyền đại diện. Quyền đại diện được xác lập
theo sự ủy quyền, theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều
lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật… Trong hiến pháp và pháp luật
của hầu hết các quốc gia trên thế giới, “đại diện” là một trong những chế định
quan trọng được ghi nhận. Ví dụ như tại Mục 1, Điều 3 của Hiến pháp Nga: “Nhân
dân Nga đa sắc tộc là đại diện cho chủ quyền và là nguồn duy nhất của quyền lực
ở Liên bang Nga”, hoặc trong Điều 135, Bộ luật Dân sự năm 2015 của Việt Nam,
“quyền đại diện” cũng được quy định rõ: “Quyền đại diện được xác lập theo ủy
quyền giữa người được đại diện và người đại diện; theo quyết định của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật”...
Lấy cơ sở pháp lý làm căn cứ, chúng ta thấy những hoạt động (từ phát ngôn cho
đến các hành động cụ thể) của những người trong Việt Tân, Việt Quốc, Khối 8406,
Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời... chỉ nhân danh cho chính bản thân họ
hoặc cho một nhóm người “cùng chung tham vọng”; việc đưa ra các “tuyên ngôn”
chẳng qua chỉ là chiêu bài lừa mị những người nhẹ dạ cả tin, những người đã lâu
không có điều kiện nắm bắt tình hình trong nước...; các bài viết đăng tải trên
Internet của họ chỉ thể hiện quan điểm cá nhân, nhóm người và hoàn toàn không
phải là quan điểm đại diện cho nhân dân Việt Nam. Đặc biệt, những người này
không có bất kỳ cơ sở pháp lý nào (sự ủy quyền, quyết định của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền, điều lệ pháp nhân, quy định của pháp luật…) để có thể “đại diện”
cho số đông hay “nguyện vọng của đa số”, nhất là khi nguyện vọng của đa số ở
đây không phải là mong ước chính đáng, phù hợp của tất cả các tầng lớp nhân dân
và các tổ chức chính trị - xã hội Việt Nam, mà chỉ là tham vọng của một nhóm người
mang mưu đồ ích kỷ, xấu xa.
Khi đã không có cơ sở pháp lý để “đại diện” cho
“nguyện vọng của đa số” thì cái gọi là “phương cách hòa hợp” cũng chỉ là viển
vông. Đối với những kẻ không có tư cách đại diện, lại thường xuyên sử dụng các
hành động khủng bố thì dĩ nhiên các “phương cách hòa hợp” chỉ đơn thuần là một
cách diễn đạt nhằm đánh tráo khái niệm, và mục đích chính là nhằm lật đổ chế độ
xã hội chủ nghĩa, cuối cùng là đòi đa nguyên đa đảng tại Việt Nam.
Thứ tư, ấu
trĩ và sai lầm khi lợi dụng tính chất dễ dàng tìm kiếm, truy cập của mạng
Internet để dẫn lại, chỉnh sửa (edit) các thông tin một cách bừa bãi, không có
và không cần nguồn kiểm chứng... nhằm xuyên tạc, phá hoại chính sách hòa hợp
dân tộc
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện nay, nhất
là khi nhân loại đã bước vào kỷ nguyên số thì việc dẫn nguồn, biên tập lại một
cách méo mó thông tin sớm muộn cũng sẽ bị phát hiện, tẩy chay. Trong khi đó,
chỉ cần lướt qua trên Internet, người ta rất dễ tìm được những thông tin đã
được kiểm chứng rõ ràng. Ví dụ như các chương trình “Xuân Quê hương”, “Trại hè
dành cho thanh thiếu niên người Việt ở nước ngoài”… mà chúng ta đã và đang tiến
hành đã được rất nhiều hãng thông tấn báo chí, các website trên thế giới thừa
nhận và đăng tải. Mặt khác, tình trạng tin giả hiện nay cũng đã được hầu hết
các tổ chức, quốc gia cảnh báo và bài trừ. Về vấn đề này, xin dẫn lại một
khuyến nghị trên Trang tin tức của Tòa thánh Vatican (Vatican News) trong việc
cảnh báo những tin giả (fake new) âm mưu chia rẽ sự đoàn kết về tôn giáo (trong
đó có Công giáo) ở Việt Nam như sau: “Trong thời đại hiện nay, Internet nói
chung và mạng xã hội nói riêng là mảnh đất tốt để chúng ta có thể thực hiện
việc loan báo Tin Mừng. Tuy nhiên, nó đồng thời cũng là mảnh đất màu mỡ cho
những thông tin “phản - Tin Mừng” phát triển, nhưng lại mạo danh hay núp dưới
danh nghĩa của Giáo hội Công giáo. Trong hoàn cảnh ở Việt Nam, điều này vô cùng
nguy hiểm!”.
Thứ năm, sai
lầm khi cho rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn còn cấm đoán và hạn chế các
nghiên cứu về văn hóa, văn học miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975 để quy
chụp rằng chưa có sự hòa giải, hòa hợp dân tộc
Thời gian qua, đặc biệt là từ những năm ‘80 của thế kỷ
XX trở lại đây, việc nghiên cứu văn hóa, văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975
đã có nhiều chuyển biến, cởi mở, “quan điểm chính thức được khẳng định hiện nay
là, ủng hộ việc đẩy mạnh nghiên cứu, chọn lọc phổ biến các giá trị đích thực
của văn học nghệ thuật miền Nam trước 1975 trên tinh thần hòa hợp dân tộc để
hàn gắn vết thương, đoàn kết mọi người cùng nhìn về một phía, thực hiện hòa hợp
dân tộc bằng con đường văn hóa văn nghệ.”(13). Đặc biệt, trong nghiên cứu khoa
học chuyên sâu, đã có nhiều luận văn, luận án, chuyên luận lấy văn hóa, văn học
đô thị miền Nam (1954-1975) làm đối tượng nghiên cứu, như: Khảo sát sự du nhập
của phân tâm học và chủ nghĩa hiện sinh vào văn học đô thị miền Nam trước năm
1975 của Nguyễn Phúc (Luận án Tiến sĩ, 1995); Lý luận phê bình văn học ở đô thị
miền Nam 1954-1975 của Trần Hoài Anh (Luận án Tiến sĩ, 2009); Vấn đề thân phận
con người trong tiểu thuyết đô thị miền Nam 1954-1975 của Nguyễn Thị Việt Nga
(Luận án Tiến sĩ, 2012); Con người và những giá trị văn hóa truyền thống trong
văn xuôi đô thị miền Nam giai đoạn 1954-1975 của Nguyễn Thị Thu Trang (Luận án
Tiến sĩ, 2008); Đặc điểm tùy bút ở đô thị miền Nam (1954-1975) của Bùi Tiến Sỹ
(Luận án Tiến sĩ, năm 2017); Toàn cảnh thơ Việt Nam 1945-1975 của Nguyễn Bá
Thành (Nxb. Đại học Quốc gia, 2016); Những nguồn cảm hứng trong văn học của
Huỳnh Như Phương (Nxb. Văn nghệ, 2009); Văn học Sài Gòn 1954-1975: Những chuyện
bên lề của Lê Văn Nghĩa (Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2020)... Ngoài ra,
nhiều tác phẩm văn - sử - triết học cùng các công trình nghiên cứu có giá trị
xuất bản trước 1975 ở miền Nam, nay cũng đã được công nhận và lưu hành... Như
vậy, không có cái gọi là “tồn tại những cấm đoán” trong nghiên cứu khoa học về
miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975, có chăng, chỉ là sự cố tình dựng chuyện
và sự vu khống của các thế lực thù địch.
Khép lại quá khứ, hướng tới tương lai tốt đẹp là quan
điểm hòa hợp, hòa giải nhân văn của bất cứ quốc gia tiến bộ nào trên thế giới.
Với tư cách là một quốc gia có độc lập chủ quyền, có luật pháp và có vị thế
quan trọng trên chính trường quốc tế, Việt Nam đã và đang làm tốt công tác hòa
hợp dân tộc, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Tuy nhiên, hòa hợp
không đồng nghĩa với xuyên tạc lịch sử, với vi phạm pháp luật. Chúng ta dang
rộng vòng tay chào đón mọi người con Việt Nam từ khắp nơi trên thế giới trở về
trong hòa bình, trở về với tâm thế xây dựng đất nước... nhưng chúng ta cũng
cương quyết không chào đón, thậm chí phải loại bỏ những kẻ cơ hội, trở về nhằm
mục đích chia rẽ, phạm pháp và phá hoại đoàn kết dân tộc./.
HAIVAN