Thứ Tư, 23 tháng 2, 2022

VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU PHẢN ĐỘNG CỦA THÁI THANH

 Những năm qua, tình hình tôn giáo ở Việt Nam luôn ổn định, đời sống tôn giáo có những biến đổi sâu sắc cả về số lượng lẫn phạm vi hoạt động, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được tôn trọng và bảo đảm. Ấy vậy mà các thế lực thù địch vẫn luôn lợi dụng vấn đề này để công kích, xuyên tạc, chống phá Đảng và Nhà nước ta. Mới đây trên trang Bureau CTM Media – Âu Châu, Thái Thanh có bài viết “5 vấn đề tôn giáo năm 2021 mà chính quyền không muốn bạn biết”. Trong bài viết, Y vu cáo rằng: “Dù bạn là tín đồ của một tôn giáo được nhà nước công nhận hay một tôn giáo mới thì bạn đều phải đối diện với rủi ro bị chính quyền trấn áp, ngăn chặn…”“Mỗi bước đi của tổ chức tôn giáo đều phải được chính quyền gật đầu”“Các tổ chức tôn giáo đến nay vẫn chưa được phép vận hành hệ thống trường học, bệnh viện…”. Những lời lẽ, câu từ mà Thái Thanh đưa ra trong bài viết đều là những luận điệu sặc mùi phản động, cố tình nói xấu Đảng, nói xấu chế độ tốt đẹp mà Đảng Cộng sản Việt Nam cùng nhân dân Việt Nam đang ra sức xây dựng. Bởi vì:

Thứ nhất, ở Việt Nam quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân luôn được tôn trọng và bảm đảm.

Trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Cụ thể: Ngay sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 234/SL khẳng định: “Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là quyền lợi của nhân dân. Chính phủ luôn tôn trọng và giúp đỡ nhân dân thực hiện, chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo”. Hiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980, năm 1992 và năm 2013 đều nhất quán bảo vệ và tôn trọng quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân. Điều 24, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Thể chế hóa Hiến pháp năm 2013, ngày 18/11/2016, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XIV đã thông qua Luật tín ngưỡng, tôn giáo thay thế Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo. Theo đó, ngày 30/12/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 162/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo, tiếp tục tạo hành lang pháp lý quan trọng cho các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo…

Cùng với đó, Đảng ta luôn quan tâm đến vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Gần đây nhất, trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng đã chỉ rõ: “Quan tâm và tạo điều kiện cho các tôn giáo sinh hoạt theo Hiến chương, Điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước”. Đến Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh: “Thực hiện tốt mục tiêu đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc. Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người theo quy định của pháp luật. Phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo vào giữ gìn và nâng cao đạo đức truyền thống xã hội, xây dựng đời sống văn hóa ở các khu dân cư, góp phần ngăn chặn các tệ nạn xã hội”.

Thứ hai, thượng tôn pháp luật là một thuộc tính không thể thiếu và là yếu tố cốt lõi nhất của các nhà nước pháp quyền.

Thái Thanh và đồng bọn của Y cần hiểu rằng, ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, quyền tự do nói chung và quyền tự do tôn giáo nói riêng đều phải diễn ra trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, chứ không thể có sự tự do vô chính phủ, tự do vô nguyên tắc. Và dĩ nhiên, ở Việt Nam cũng vậy!

Nói về vấn đề này, tại Điều 18, Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, đã nêu rõ: Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác. Điều đó có nghĩa là, quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng hay bất cứ một quyền nào khác trên phương diện pháp lý đều bị giới hạn bởi khuôn khổ luật pháp và phải tuân theo các giới hạn được luật pháp quy định.

Một lần nữa chúng ta khẳng định chắc chắn rằng, ở Việt Nam hoàn toàn không có cái gọi là đàn áp tôn giáo, vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Những luận điệu xuyên tạc, vu cáo chỉ là chiêu trò mà các thế lực thù địch, phản động lợi dụng, sử dụng nhằm thực hiện âm mưu chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam./.

SỰ XUYÊN TẠC BỈ ỔI CỦA NGUYỄN HỮU VINH

 Gần đây, trên mạng internet, Nguyễn Hữu Vinh đã đăng tải bài viết với tựa đề “Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh ngày nay”. Nội dung bài viết là những luận điệu thiếu thiện chí, quy chụp, thiếu khách quan về chính sách cấm đốt pháo, sử dụng vũ y là nói xấu Đảng, Nhà nước, dân tộc. Vậy, sự thật vấn đề này như thế nào?

Trong bài viết của mình, Nguyễn Hữu Vinh đưa ra những luận điệu thiếu khách quan, quy chụp và vu cáo Việt Nam “nghĩ ra mọi cách để hạn chế sức mạnh của người dân”, xuyên tạc chủ trương, quy định cấm sản xuất, tàng trữ và mua bán, sử dụng pháo, chất nổ, vũ khí của Việt Nam. Y suy luận, so sánh một cách thô thiển rằng, việc tịch thu súng đạn, chất nổ, vũ khí, dao búa, công cụ hỗ trợ của những phần tử phản động hiện nay của Nhà nước ta đi ngược với việc trang bị công cụ vũ trang cho nhân dân đứng lên giải phóng dân tộc trước đây. Hắn còn suy diễn “Đảng ta sợ pháo hơn nhiều” nên Chính phủ mới ban hành chỉ thị nghiêm cấm sản xuất, buôn bán và cấm đốt pháo nổ.

 Trước đây, vào mỗi dịp Tết, các gia đình ở Việt Nam đều đốt pháo để chào đón năm mới, tập tục này mang đến sự hân hoan, vui vẻ, phấn khởi trong những ngày lễ Tết. Tuy nhiên, bên cạnh những niềm vui thì sử dụng pháo không an toàn gây ảnh hưởng về sức khỏe, tính mạng con người cũng như ảnh hưởng không tốt đến môi trường. Do đó từ năm 1994, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ thị số 406/CT-TTg về việc cấm sản xuất, buôn bán và đốt pháo, chỉ có những đơn vị được cấp phép mới được quản lý, sử dụng các loại pháo. Đây là chủ trương rất đúng đắn nhằm bảo đảm an toàn về tính mạng cho người dân mỗi dịp tết đến xuân về. Bởi vậy, những luận điệu của Nguyễn Hữu Vinh để cổ súy cho hành động sản xuất, sử dụng pháo nổ, súng đạn, vũ khí trái với quy định của nhà nước là hết sức nguy hiểm cho xã hội .

Bên cạnh đó, Nguyễn Hữu Vinh còn đưa ra những luận điệu phản động về hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng, cờ búa liềm như sự “đâm chém, giết chóc”. Với âm mưu hạ thấp hình ảnh lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc, lá cờ Đảng, y đã gán ghép với những thứ “tà ma”, “ám quỷ”. Có thể thấy rằng, mỗi dịp Tết đến xuân về, ở khắp làng quê của cả nước, ở các làng xóm, thôn bản đều dựng cây nêu trước nhà. Cây nêu thực chất là cây tre hoặc cũng có thể là cây trúc, cây mía được người dân Việt Nam dựng trước sân nhà vào dịp Tết. Dựng cây nêu ngày Tết để xua đuổi ma quỷ, những điều xui rủi không may mắn và nó còn mang ý nghĩa biểu tượng về sự hòa hợp âm dương. Cây nêu là cầu nối giữa bầu trời và mặt đất, ngọn cây nêu vươn cao đón lấy tia nắng đầu ngày, mang sức sống mãnh liệt của mùa xuân đến với mọi nhà. Bên cạnh đó, dịp Tết đến xuân về, mỗi gia đình người Việt còn treo cờ Đảng, cờ Tổ quốc trước nhà thể hiện lòng yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc. Bởi thế những luận điệu xuyên tạc nhằm bôi nhọ hình ảnh thiêng liêng của cờ Đảng, cờ Tổ quốc mà Nguyễn Hữu Vĩnh nêu ra thật bỉ ổi.

Rõ ràng, các quy định cấm sản xuất, buôn bán và đốt pháo nổ, sử dụng trái phép súng đạn, chất nổ, vũ khí của Nhà nước ta, đặc biệt trong dịp Tết đến xuân về là rất đúng đắn nhằm bảo đảm an toàn, bảo vệ tính mạng và sức khỏe của nhân dân. Bên cạnh đó, việc treo dựng cây nêu cùng với lá cờ Đảng, cờ Tổ quốc là thể hiện sự tự hào, tự tôn dân tộc. Đó là điều rất đúng đắn, không có gì phải bàn cãi. Những luận điệu xuyên tạc, nói xấu nhằm chống đối Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta của Nguyễn Hữu Vinh là không thể chấp nhận được./.

LUẬN ĐIỆU PHẢN ĐỘNG CỦA PHẠM TRẦN

 Lợi dụng các hoạt động kỷ niệm 92 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam,  Phạm Trần đã đăng trên trang Vietbao bài viết “Đảng mờ dần sau 92 năm”, nhằm tuyên truyền, bịa đặt, xuyên tạc sự thật, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với mục đích chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

 Phạm Trần đã đưa ra nhận định hết sức phản động là: “ Đảng cộng sản Việt Nam khoe đã có mặt trên đất nước 92 năm, nhưng dân tộc đã mất bao nhiêu triệu con người và đất nước đã tan hoang ra sao sau 30 năm nội chiến… Không đem lại hạnh phúc cho người dân, vì Đảng vẫn độc tài lãnh đạo, độc quyền chính trị và nắm trong tay quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí. Đảng cũng cấm dân không được tự do lập hội, lập đảng chính trị, hội họp và biểu tình chống bất công, đòi công bằng. Thậm chí quyền dân chủ, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, của dân cũng bị kiểm soát theo chủ trương xin – cho …”. Phạm Trần phải hiểu rằng, sau khi lãnh đạo toàn dân tộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đẩy mạnh phát triển kinh tế văn hóa, xã hội, củng cố quốc phòng an ninh, từng bước hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, nhân dân được sống trong tự do, ấm no, hạnh phúc. Từ một nước nghèo, kém phát triển, bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, Việt Nam đã nỗ lực vươn lên trở thành một quốc gia đang phát triển; kinh tế vĩ mô ổn định, tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức khá cao với khoảng 5,9%; quy mô và tiềm lực nền kinh tế tăng lên. Chính trị- xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường. Quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế của đất nước ngày càng sâu rộng, đạt nhiều thành tựu nổi bật. Đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Đặc biệt, năm 2021 trong bối cảnh đại dịch Covid- 19, khi kinh tế thế giới suy thoái thì kinh tế Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng 2,91%, là một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao trên thế giới. Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu “kép”, vừa khống chế, ngăn chặn đại dịch thành công, vừa phục hồi, phát triển kinh tế, bảo đảm đời sống và an toàn cho người dân.

Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển; là trung tâm của các chính sách kinh tế – xã hội. Vì vậy, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững, bảo đảm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thực tiễn cũng đã khẳng định từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công đến nay, Nhà nước Việt nam luôn quan tâm, chăm lo đến việc bảo đảm quyền con người. Điều đó được hiến định trong Hiến pháp và quy định trong hệ thống pháp luật. Điều 14 Hiến pháp 2013 khẳng định “1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Điều này hoàn toàn thống nhất với Bộ luật Nhân quyền quốc tế và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, về các quyền dân sự, chính trị được hệ thống pháp luật Việt Nam quy định bởi 16 quyền; quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa được quy định bởi 10 quyền.  Như vậy có thể thấy Hiến pháp và hệ thống pháp luật Việt Nam bảo đảm quyền con người đồng thời xem quyền con người như là một tiêu chí cơ bản trong xây dựng và sửa đổi pháp luật, những năm qua việc bảo đảm các quyền con người về chính trị, kinh tế, dân sự, xã hội và văn hóa ngày càng tốt hơn. Vì vậy, cộng đồng quốc tế đã tín nhiệm bầu Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc với số phiếu tín nhiệm cao. Theo thống kê chưa đầy đủ, cho đến nay, Việt Nam đã có 858 cơ quan báo in, 105 cơ quan báo điện tử, 66 đài phát thanh, truyền hình. Không chỉ người dân Việt Nam mà cư dân nước ngoài sinh sống, làm việc ở Việt Nam có đầy đủ thông tin từ những hãng thông tấn, báo chí lớn. Hiện ở Việt Nam có tới 75 kênh truyền hình nước ngoài, trong đó có các kênh nổi tiếng như CNN, BBC, TV5, NHK, DW… có tới 20 cơ quan báo chí nước ngoài đã có phóng viên thường trú tại Việt Nam. Sự phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ, đa dạng về loại hình, phong phú về nội dung và các phương tiện thông tin đại chúng là minh chứng về tư do ngôn luận, tự do báo chí và tự do thông tin ở Việt Nam. Ở Việt Nam tôn giáo có quyền và được Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện mở trường, cơ sở đào tạo chức sắc, xuất bản kinh sách, tham gia các hoạt động xã hội. Nhà nước Việt Nam còn đặc biệt coi trọng chính sách dân tộc, bảo đảm quyền bình đẳng giữa các dân tộc, coi đó là một trong những nhân tố quyết định cho sự phát triển bền vững của đất nước. Điều này hoàn toàn trái ngược với những gì mà Phạm Trần nêu ra trong bài viết.

Tóm lại, những vấn đề nêu ra trong bài viết của Phạm Trần đã bộc lộ dã tâm thâm độc, cố tình xuyên tạc sự thật, tuyên truyền, chống phá quan điểm của Đảng, Nhà nước ta, với mục đích gây hoang mang, dao động về tư tưởng trong cán bộ, đảng viên. Do vậy, chúng ta cần hết sức cảnh giác, vạch trần âm mưu, thủ đoạn của Y./.

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM

 Không có bất cứ dẫn chứng dữ liệu gì mới, tính phi lý đã được chứng minh bác bỏ nhiều lần bằng cả lý luận lẫn thực tiễn nhưng vấn đề dân chủ vẫn được các thế lực phản động thường xuyên sử dụng nhằm chống phá Đảng hòng xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, điển hình là mới đây trên trang mạng Quyenduocbiet có đăng bài “Những giá trị Việt Nam cần vươn tới” của đối tượng Nguyên Anh, y đã đưa ra luận điệu cho rằng: “đất nước Việt Nam dưới sự cai trị của Đảng cộng sản hôm nay thì làm gì có dân chủ”.

Có thể khẳng định, đây là luận điệu hoàn toàn sai trái, bịa đặt, xuyên tạc trắng trợn tình hình dân chủ ở Việt Nam. Thực tiễn vấn đề dân chủ và thực hành dân chủ ở Việt Nam đã và đang đạt được nhiều thành tựu to lớn cả về nhận thức và tổ chức hiện, biểu hiện trên những vấn đề sau:

Thứ nhất, về nhận thức, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu phải xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân, điều đó có nghĩa là tất cả quyền lực đều thuộc về nhân dân, “Bao nhiêu lợi ích đều thuộc về nhân dân”. Với Đảng Cộng sản Việt Nam, dân chủ xã hội chủ nghĩa luôn là quan điểm nhất quán và ngày càng được bổ sung phát triển. Ngay sau khi thống nhất đất nước, Đại hội 4 của Đảng (1976) đã khẳng định: “Xây dựng chế độ làm chủ xã hội chủ nghĩa là xây dựng nước ta thành một nước xã hội, trong đó người làm chủ chân chính là cộng đồng xã hội, là tập thể nhân dân lao động có tổ chức”. Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát triển năm 2011), Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển đất nước”, “dân chủ” và “nhân dân làm chủ” là một trong tám đặc trưng của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam xây dựng.

Thứ hai, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đã được bảo đảm thực hiện ở tất cả các cấp, các ngành và trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ở Việt Nam.

Đối với Đảng Cộng sảng Việt Nam, với vai trò là hạt nhân lãnh đạo, Đảng luôn đề cao dân chủ, tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong xây dựng Đảng; việc thực hành dân chủ luôn được thể hiện trong quan điểm chỉ đạo, ở các văn kiện quan trọng của Đảng từ khi thành lập tới nay và trong tất cả các mặt công tác, các hình thức tổ chức sinh hoạt đảng.

Với các cơ quan nhà nước, hệ thống các văn bản pháp luật liên quan tới tổ chức và hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước, được cụ thể hóa và thể chế hóa. Hoạt động của Quốc hội liên tục được đổi mới theo hướng chuyên nghiệp. Hoạt động của Chính phủ được đổi mới theo hướng xây dựng chính phủ điện tử, chính phủ kiến tạo nhằm đẩy mạnh phát huy tốt nhất dân chủ trong thực thi hành chính công. Các cơ quan công quyền đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, hướng tới sự hài lòng của người dân. Vai trò của người dân tham gia giám sát các hoạt động của cơ quan công quyền được đẩy mạnh. Vai trò của cơ quan truyền thông, báo chí được tăng cường.

Việc thực hành dân chủ trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội ngày một tốt hơn. Các quyền cơ bản được cụ thể hóa như quyền được thông tin, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, quyền được thảo luận và giám sát các dự án… Nhà nước tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát huy mọi tiềm năng, tạo môi trường tự do kinh doanh bình đẳng và hành lang pháp lý an toàn.

Từ thực tiễn thực hiện dân chủ ở Việt Nam nêu trên có thể khẳng định, luận điệu cho rằng: “đất nước Việt Nam dưới sự cai trị của Đảng cộng sản hôm nay thì làm gì có dân chủ” là hoàn toàn sai trái, bịa đặt, xuyên tạc trắng trợn tình hình dân chủ ở Việt Nam. Đây là luận điệu không mới và là thủ đoạn quen thuộc của các đối tượng phản động, cơ hội bất mãn về chính trị sử dụng nhằm chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam, hòng xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, chúng ta cần phải cảnh giác và kiên quyết đấu tranh loại bỏ./.

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHÁ HOẠI KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC Ở VIỆT NAM

 Hiện nay, các thế lực chống đối và thù địch thường xuyên đưa ra các quan điểm sai trái, xuyên tạc và phủ nhận về chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng, Nhà nước ta. Cùng với các tài liệu, văn bản phát tán trái phép, chúng đã tận dụng triệt để sự phát triển của các mạng khoa hoạc công nghệ, sử dụng mạng Internet để xuyên tạc, vu cáo, chống phá nước ta. Đặc biệt, chúng tận dụng các trang mạng xã hội để tăng cường xuyên tạc, bóp méo về chính sách đoàn kết dân tộc của Việt Nam.

Có thể nhận diện các luận điệu sai trái xuyên tạc của các thế lực thù địch trên mộ số nội dung sau:

Thứ nhất, các thế lực chống đối và thù địch cho rằng ở Việt Nam không có hòa hợp dân tộc thực sự vì xã hội Việt Nam luôn có sự bất đồng và mâu thuẫn giữa các tộc người với nhau, đặc biệt là mâu thuẫn giữa người Kinh và các dân tộc thiểu số, giữa người Công giáo và phần còn lại của dân tộc...

Đặc điểm chung của các bài viết này là đưa ra những những nhận định, những quan điểm hồ đồ và hết sức phiến diện, kiểu như “Chúng ta cần hòa giải giữa các sắc tộc thiểu số và người Kinh. Chúng ta cần hòa giải giữa người Nam và người Bắc. Chúng ta cần hòa giải giữa người Công giáo và phần còn lại của dân tộc, nhất là với Phật giáo. Chúng ta cần hòa giải giữa cộng đồng người Việt hải ngoại với đất nước...”; “vấn đề hoà giải, hoà hợp vẫn còn nhức nhối”, “có lẽ dân tộc Việt Nam sẽ cần đến 50 năm nữa mới có thể chữa lành”; “hòa giải và hòa hợp dân tộc vẫn chưa thực hiện được tại Việt Nam”… (!?)

Thứ hai, họ cho rằng các chính sách, luật pháp về hòa giải, hòa hợp dân tộc ở Việt Nam hiện nay là “đãi bôi”, “con đường nửa vời”; Đảng và Nhà nước Việt Nam không có thiện chí trong quá trình hòa hợp dân tộc.

Với quan điểm này, họ đưa ra những bài viết cực đoan để phủ nhận chính sách, pháp luật về hòa giải, hòa hợp dân tộc cũng như luôn nghi ngờ về thiện chí của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Ngụy biện hơn, họ rêu rao rằng: “đa số người dân cả trong và ngoài nước đều cho rằng không thể có hòa hợp, hòa giải với chính sách hiện nay của chính phủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản...”(!?).

Thứ ba, lợi dụng tính chất dễ dàng tìm kiếm, dễ truy cập của mạng Internet, các thế lực chống đối và thù địch đã thường xuyên dẫn lại, cố tình chỉnh sửa các thông tin một cách bừa bãi mà không có và không cần nguồn kiểm chứng nhằm phá hoại, xuyên tạc. Theo số liệu thống kê, các thế lực thù địch đã “sử dụng khoảng 50 đài phát thanh, truyền hình, gần 400 tờ báo, tạp chí tiếng Việt, trong đó có khoảng 10 tờ có nội dung rất phản động, 66 nhà xuất bản để tuyên truyền, chống phá cách mạng Việt Nam…”(1)

Những nội dung trên nhằm phủ nhận chính sách của Đảng và Nhà nước trong thực hiện xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động hận thù gây chia rẽ đoàn kết giữa các tầng lớp nhân dân hòng thực hiện mưu đồ “diễn biến hòa bình”. Vì vậy, cần tỉnh táo, cảnh giác trước những âm mưu của các thế lực thù địch khi tiếp cận các bài viết trên các trang mạng xã hội, tránh cổ súy, hùa theo; đồng thời tích cực đấu tranh với các quan điểm thù địch.


KHÔNG THỂ BUÔNG LỎNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH

 


Đảng lãnh đạo Đoàn Thanh niên Cộng sản Việt Nam nói chung, lãnh đạo đại hội đoàn các cấp và Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XII là vấn đề có tính nguyên tắc “bất di, bất dịch”. Việc tổ chức và lãnh đạo Đoàn Thanh niên được Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và Đảng ta đặt ra từ rất sớm. Trong Bài nói tại Lễ kỷ niệm lần thứ 35 ngày thành lập Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam (nay là Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh) ngày 25/3/1966, đăng Báo Nhân dân, số 4372, ngày 26/3/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Năm 1925, Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí thành lập, nhằm chuẩn bị điều kiện để tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngay sau khi thành lập, Hội đã lo đến việc tổ chức và lãnh đạo đoàn thể riêng của thanh niên cách mạng. Hội đã chọn tám em Việt kiều ở Xiêm đưa sang Quảng Châu để bồi dưỡng thành hạt nhân của Đoàn Thanh niên sau này. Trong số các em đó có Lý Tự Trọng, về sau là đoàn viên đầu tiên của Đoàn Thanh niên Cộng sản nước ta, cũng là người cộng sản đã oanh liệt đấu tranh đến hơi thở cuối cùng cho Đảng, cho sự nghiệp cách mạng”Vì vậy, nhiệm vụ cần kíp của cách mạng, ngay sau khi Đảng ta ra đời, từ ngày 20 đến ngày 26 tháng 3 năm 1931, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2, Trung ương Đảng đã giành một phần quan trọng trong chương trình làm việc để bàn về công tác thanh niên và đi đến những quyết định có ý nghĩa đặc biệt, như các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến địa phương phải cử ngay các ủy viên của Đảng phụ trách công tác Đoàn, với ý nghĩa đó, ngày 26 tháng 3 là ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

Thấu triệt và vận dụng đúng đắn tư tưởng Hồ Chí Minh, trong các văn kiện của Đảng, Đảng ta luôn nhất quán nguyên tắc Đảng lãnh đạo trực tiếp và bảo đảm cho sự vững mạnh của Đoàn. Quyết nghị của Ban Bí thư số 25-QN/TW, ngày 19/10/1955 về việc đổi tên Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam thành Đoàn Thanh niên Lao động và kế hoạch xây dựng Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam đã chỉ rõ nguyên tắc: “Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam công tác dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng và Đảng cần coi trọng việc lãnh đạo Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam. Sự lãnh đạo của Đảng là bảo đảm vững chắc nhất để Đoàn Thanh niên Lao động phát triển tổ chức được vững mạnh và công tác được thắng lợi”Chấp hành vô điều kiện sự lãnh đạo đó là trách nhiệm Đoàn là nguyên tắc “bất di bất dịch”: “Đoàn Thanh niên Lao động phải là người chấp hành trung thành và kiên quyết những chỉ thị, nghị quyết của Đảng, đoàn kết, lôi cuốn đông đảo thanh niên để thực hiện nhiệm vụ của Đảng đề ra, Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam là trường học đào tạo, giáo dục thanh niên trở thành nguồn bổ sung lực lượng mới trẻ cho Đảng, cho các tổ chức của giai cấp công nhân và của Nhà nước”.

Bước sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng ta có sự phát triển và hoàn thiện tư duy về công tác thanh niên, về công tác xây dựng Đoàn. Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X), ngày 17/7/2008, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh khẳng định: “Đảng lãnh đạo công tác thanh niên và trực tiếp lãnh đạo Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, coi nhiệm vụ xây dựng Đoàn vững mạnh là bộ phận quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, là xây dựng Đảng trước một bước”. Việc Đảng lãnh đạo Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tiếp tục được quy định tại Điều 44, Chương X, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam như sau: “1. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng, thường xuyên bổ sung lực lượng trẻ cho Đảng, kế tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; là lực lượng nòng cốt trong phong trào thanh niên; là trường học xã hội chủ nghĩa; đại diện quyền lợi của thanh niên; phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh. 2. Cấp uỷ đảng lãnh đạo trực tiếp tổ chức đoàn cùng cấp về phương hướng, nhiệm vụ, tư tưởng, tổ chức, cán bộ”. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Đoàn còn được hiến định ở Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2013).

Đặc biệt, trước thềm đại hội đại hội đoàn các cấp và Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh toàn quốc lần thứ XII, nhiệm kỳ 2022-2027, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 08-CT/TW ngày 20/8/2021 về lãnh đạo đại hội đoàn các cấp và Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh toàn quốc lần thứ XII, nhiệm kỳ 2022-2027, một lần nữa khẳng định không khi nào, chưa bao giờ Đảng buông lỏng sự lãnh đạo đối với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh nói chung, lãnh đạo đại hội đoàn các cấp và Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh toàn quốc lần thứ XII, nhiệm kỳ 2022-2027 nói riêng.

Lịch sử ra đời, cống hiến, trưởng thành và chiến đấu vì mục tiêu lý tưởng của Đảng trong hơn 90 năm qua, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh luôn chấp hành sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng - đây là vấn đề có tính nguyên tắc, là quy luật “sống còn” đối với sự tồn tại và trưởng thành của Đoàn. Theo đó, hơn bao giờ hết và không thể khác, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với đại hội đoàn các cấp và Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XII không chỉ là vấn đề cấp bách trước mắt, còn là vấn đề chiến lược lâu dài./.

HAIVAN

QUÁN TRIỆT, THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO CỦA HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 4 KHÓA XIII

 



Quán triệt và thực hiện quan điểm chỉ đạo của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII về kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, phải thực hiện tốt các giải pháp cơ bản như sau:

Thứ nhất, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Vì bối cảnh thực tiễn đã có nhiều thay đổi, đặt ra nhiều vấn đề mới cần giải quyết nên để tiếp tục kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết cần đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu lớn về những vấn đề cơ bản, nền tảng nhằm tiếp tục khẳng định những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, cần chắt lọc, đề xuất những vấn đề cần bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với thực tiễn nước ta giai đoạn hiện nay.

Đây không phải là “xét lại” chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh như một số học giả phi mácxít đã lợi dụng sự phát triển của thực tiễn để mổ xẻ, phê phán, phủ nhận chủ nghĩa Mác; mà là tiếp thu tinh thần biện chứng của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác. Bản thân các ông không coi học thuyết của mình là chìa khóa vạn năng, nhất thành bất biến mà là một học thuyết mở cần được bổ sung, phát triển, cần được “thêm da thêm thịt” bằng thực tiễn sinh động đúng như Ph.Ăngghen đã từng khẳng định: “Lý luận của chúng tôi là lý luận của sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải học thuộc lòng và lắp lại một cách máy móc”. Do đó, kiên trì nhưng không bảo thủ, giáo điều; bổ sung, phát triển nhưng không xa rời những lý luận nền tảng, những nguyên tắc cơ bản là cách thức cần thiết để kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam giai đoạn hiện nay.  

Thứ hai, kiên quyết đấu tranh chống lại những âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị.

Bên cạnh việc khẳng định, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; cần tiếp tục đấu tranh chống lại những âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch. Trước hết, cần hệ thống hóa các nội dung đang bị các thế lực chống phá, từ đó xây dựng luận cứ đấu tranh phản bác trên từng vấn đề cụ thể. Đồng thời, chuyển trọng tâm của việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên mặt trận tư tưởng, lý luận truyền thống là chủ yếu sang đấu tranh trên internet và mạng xã hội. Đây là một sự chuyển hướng cần thiết nhằm nắm bắt xu thế tất yếu của thời đại. Đó là sự chống phá ngày càng tinh vi, quyết liệt của các thế lực thù địch trên không gian mạng khiến mạng xã hội trở thành không gian tranh chấp chính trên trận tuyến đặc biệt quan trọng này. Điều này cũng được Đảng ta chỉ rõ ở Đại hội XIII như sau: “Chủ động cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, khách quan, đúng định hướng để phòng, chống “diễn biến hòa bình”, thông tin xấu độc trên internet và mạng xã hội”. Ngoài ra, cần áp dụng những quy định của pháp luật để xử lý nghiêm minh những đối tượng có hành vi xuyên tạc, chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh dưới bất kỳ hình thức nào.

Thứ ba, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Tùy theo yêu cầu của mỗi cấp học, bậc học, cần đổi mới nội dung chương trình giảng dạy các môn chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh theo hướng “khoa học, sáng tạo, hiện đại và gắn lý luận với thực tiễn”. Nội dung chương trình cần bố trí hợp lý giữa kiến thức lý luận với những vấn đề thực tiễn, tăng cường bồi dưỡng kỹ năng vận dụng những kiến thức lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII nêu rõ: “Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tham khảo kinh nghiệm quốc tế để xây dựng cơ sở khoa học vững chắc cho việc hoạch định, thực thu chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Ngoài ra, cần đẩy mạnh đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại, áp dụng những phương pháp giảng dạy tích cực, đa dạng hóa các hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, ứng dụng khoa học - công nghệ hiện đại để kiểm tra, giám sát nhằm khắc phục những hạn chế trong công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị ở nước ta thời gian qua: “Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao bản lĩnh chính trị; khắc phục tình trạng ngài học, lười học lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên”.

Thứ tư, mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần tự giác, ý thức trách nhiệm, tính sáng tạo trong việc học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Để tiếp tục kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên cần không ngừng tự học tập, tự nghiên cứu để nâng cao trình độ lý luận chính trị; có ý thức khắc phục triệt để bệnh “lười” học tập lý luận chính trị. Ngoài ra, cần quán triệt quan điểm biện chứng và nguyên lý phát triển khi học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là vừa không ngừng củng cố, nâng cao kiến thức để tăng “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” trước những âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch song cũng vận dụng sáng tạo, không ngừng bổ sung, phát triển những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể; tránh tư duy dập khuôn, máy móc, giáo điều làm xơ cứng, nghèo nàn những quan điểm, tư tưởng của các bậc tiền bối.

Như vậy, kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nguyên tắc quan trọng, có ý nghĩa sống còn trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay. Do đó, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động. Đây tuy là một nhiệm vụ rất quan trọng với nhiều khó khăn, thử thách nhưng với niềm tin sắt son, bằng sự quyết tâm và tinh thần đồng sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị, chúng ta sẽ vẫn tiếp tục vững vàng trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho Đảng ta, dân tộc ta trên chặng đường đổi mới tiếp theo./.

HAIVAN

VẬN MỆNH CỦA ĐẤT NƯỚC KHÔNG PHẢI LÀ TRÒ ĐÙA, KHI NGHỆ SĨ HÀI LÀM CHÍNH TRỊ!

         Những ngày vừa qua tình hình thế giới diễn biến căng thẳng xung quanh vấn đề UKraina, đặc biệt khi TT Nga PUTIN ký sắc lệnh công nhận độc lập cho 2 vùng phía đông của đất nước này.

Trong nước thì chính đảng đối lập lớn nhất yêu cầu TT ZenLensk phải từ chức vì không thực hiện được những cam kết của mình đưa ra. Và nguy cơ mất vĩnh viễn 2 vùng này đang hiện hữu rõ ràng hơn lúc nào hết.

Thật khó cho Ukraina khi mà chính phủ nước này người đứng đầu lại là một nghệ sĩ hài (nổi tiếng) Ông Zelensky nổi tiếng ở Ukraine vì là một nghệ sĩ hài, ông ta có thể làm cho cả nước Ukraine có những trận cười (vỡ bụng)…. Nhưng bản thân ông ta và những người dân Ukraina bầu cho vị này lại không chịu nghĩ rằng chính trị không phải là trò hài kịch, hay nói cách khác không thể dùng tiếng cười để làm chính trị. Lam chính trị phải là những người từng trải, có kinh nghiệm hay nói cách khác phải là có nòi.

Ukraina là một quốc gia được tách ra khỏi liên xô sau những cuộc cách mạng màu, là quốc gia lớn thứ 2 trong liên bang Xô viết, UKraina có đủ khá nhiều yếu tố để trở thành quốc gia hùng mạnh nếu như họ chọn ra cho mình một chính quyền với những chính khách có tầm và có tâm. Một người ngu chính trị như mình nếu được đặt vào vị trí đó thì điều đầu tiên vẫn phải đặt Nga là đối tác cho mình. Chỉ cần không ra nhập NaTo (nhưng vẫn quan hệ tốt với Mỹ và Phương tây) thì chắc cũng không đến nỗi như vậy. Việc muốn ra nhập Nato thể hiện Ukraina quá sợ Nga, hay nói cách khác họ không đủ tầm đủ khôn để đứng trên đôi chân của mình.

(Lợi ích của đất nước và sinh mạng của người Nga là không thể đàm phán) trích lời của TT PUTIN cho thấy ông ta là một vị tổng thống quá từng trải hay nói cách khác là có nòi chính trị. Có nhiều người cho rằng TT Nga là người tham quyền… tuy nhiên nước Nga không thể đưa những kẻ làm hài kịch lên thay được. Thậm trí có nhiều ngừoi nói nước Nga dưới thời ông PUTIN nghèo đói nhưng không hiểu họ nghèo đến thế nào mà một mình họ vẫn đã và đang cân cả Mỹ vài chục nước đồng minh bao nhiêu năm nay chẳng hề hấn gì. Các đòn cấm vận vẫn liên tục giáng xuống nhưng họ vẫn khoẻ. Điều đó cho thấy Nga chưa bao giờ là nghèo cả thậm trí phải là nền kinh tế vững mới có thể duy trì lực lượng quân sự trên 1tr quân và những khí tài quân sự bậc nhất, nhì thế giới.

Tiếc cho Ukrana, tiếc cho 2 anh em họ, những người anh, người em sát cánh bên nhau những lúc khó khăn thì giờ đây lại trở thành kẻ thù của nhau. Chỉ vì không có chính kiến của mình. Cuộc chiến huynh đệ đang sát gần với họ. Và kẻ ngư ông đắc lợi chắc chắn không phải là 1 trong 2 nước này. Khá khen cho những kẻ thứ 3 đã TOẠ SƠN QUAN TRANH HỔ ĐẤU./.

Yêu nước ST.

Đấu tranh với cái nhìn phiến diện, sai lệch về chính sách quốc phòng Việt Nam

 Trong các văn kiện của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước ta đều khẳng định nhất quán chính sách quốc phòng Việt Nam mang tính chất chính nghĩa, hòa bình và tự vệ. Mọi luận điệu xuyên tạc, đi ngược lại lợi ích, nguyện vọng chính đáng của đất nước, nhân dân Việt Nam đều phải bị lên án, bác bỏ.

Điều 4, Luật Quốc phòng chỉ rõ: “…không tham gia lực lượng, liên minh quân sự của bên này chống bên kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của Việt Nam để chống lại nước khác; không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; giải quyết mọi bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi”. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 tiếp tục khẳng định: “Chính sách Quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế,…”. Trên thực tế, Việt Nam luôn nỗ lực thực thi đúng đắn chính sách quốc phòng đã đề ra với đường lối quốc phòng, quân sự độc lập, tự chủ, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc, tạo sức mạnh bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Đồng thời, tích cực thực hiện cam kết trở thành quốc gia thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới. Như vậy, cả lý luận và thực tiễn đều khẳng định nhất quán quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về chính sách quốc phòng phù hợp với lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc, có tính nhân văn sâu sắc; được công khai, minh bạch nhằm tăng cường sự hiểu biết, xây dựng lòng tin của các quốc gia với Việt Nam.

Song, với dã tâm thâm độc, âm mưu nham hiểm, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị không từ thủ đoạn nào để chống phá, xuyên tạc chính sách quốc phòng Việt Nam. Họ sử dụng nhiều hình thức, phương tiện, như: viết tin, bài, bình luận; quay, cắt ghép, phát tán các video clip trên YouTube và livestream trên các trang mạng xã hội; núp bóng dưới chiêu trò cái gọi là “Người yêu nước”, “Chiến sĩ đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền”, phản biện “Sách trắng Quốc phòng”,… để suy diễn, bịa đặt, xuyên tạc chính sách quốc phòng Việt Nam. Chúng cho rằng, chính sách quốc phòng Việt Nam đã lạc hậu, lỗi thời, không phù hợp; chủ trương “không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” là Việt Nam đã “từ bỏ dùng vũ lực trong bảo vệ đất nước”, là “tự trói tay, chân mình”, “ tự cô lập mình”, tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn trong bảo vệ Tổ quốc, không phù hợp với tình hình thực tế, đi ngược lại xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. Họ lợi dụng các điểm mới trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 để đưa ra bình luận, quy chụp thiếu căn cứ về nguyên tắc “bốn không”; đưa ra tư vấn, góp ý, kiến nghị Việt Nam thiết lập, tham gia liên minh quân sự. Xảo trá, trắng trợn hơn, chúng còn quy chụp việc Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh là khơi mào cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực, là để chống lại một nước thứ ba. Đặc biệt, trước những diễn biến phức tạp trên Biển Đông tác động đến nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh biển, đảo, các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc rằng, với chính sách quốc phòng hiện nay thì Việt Nam không thể giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, v.v. Từ đó, hô hào, cổ súy tư tưởng sai trái, kêu gọi dựa vào nước ngoài, nhất là các nước lớn và tham gia liên minh quân sự để bảo vệ chủ quyền biển, đảo, bảo vệ đất nước.

Vậy, sự thật phía sau cái nhìn sai lệch, phiến diện, chống phá quyết liệt chính sách quốc phòng Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động là gì? Trước hết, cần khẳng định rằng, bản chất, mục đích chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động là không hề thay đổi, nhưng âm mưu, thủ đoạn, sách lược ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Thứ hai, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách dẫn dắt, hướng lái Việt Nam tham gia các liên minh quân sự, dần đi sâu vào quỹ đạo lệ thuộc, tiến tới thay đổi chế độ chính trị, xã hội. Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; “phi chính trị hóa” Quân đội, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa, làm thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Thứ tư, kích động, gieo rắc tâm lý hoài nghi trong nhân dân, lừa bịp, dẫn dắt dư luận, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Cảnh giác với thủ đọan ngụy biện lừa đảo của các thế lực thù địch

 Các thế lực thù địch luôn tìm mọi thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước ta, trong đó ngụy biện thổi phồng khuyết điểm, đánh tráo bản chất là một trong những thủ đoạn thường thấy. Chúng triệt để lợi dụng một số sai phạm, tiêu cực trong xã hội để cường điệu hóa nhằm đánh lạc hướng người nghe, người đọc, làm cho họ nhầm tưởng cái khuyết điểm đó là thuộc về bản chất, là rất lớn, rất nghiêm trọng, trái ngược hoàn toàn với thực tiễn. Như mới đây trên trang mạng Bureau CTM Media – Á Châu có đăng bài “Một đất nước kỳ lạ” của một đối tượng có bút danh VietTuSaiGon, đối tượng đã lợi dụng hiện tượng fan cuồng thần tượng ở một số ít giới trẻ Việt Nam hiện nay, cho rằng “một đất nước (chỉ Việt Nam), tuổi trẻ gào khóc, lên đồng tập thể vì kết quả của một trận bóng nhưng đồng loại, đồng bào, đồng tộc chết hơn hai mươi ba ngàn người trong vòng một tháng, chẳng mấy người tuổi trẻ xúc động”; Y còn tạo dựng khuyết điểm khi cho rằng “một đất nước mà ở đó người ta không quan tâm gì nhiều đến giáo dục văn hóa hay quyền con người…”. Tất cả những điều này đều là ngụy biện, lừa đảo bởi lẽ:

Thứ nhất, với sự phát triển của công nghệ thông tin đặc biệt là phương tiện nghe nhìn và nền công nghiệp giải trí thì hiện tượng fan cuồng thần tượng ở một bộ phận giới trẻ là vấn đề của tất cả các quốc gia trên thế giới và Việt Nam cũng không là ngoại lệ, tuy nhiên hiện tượng fan cuồng thần tượng ở Việt Nam hiện nay mới chỉ thuộc về một số ít giới trẻ, mang tính tự phát, rời rạc, ít đội nhóm có tổ chức. Đại bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay đều thể hiện khát vọng và khẳng định bản thân, khát khao cống hiến cho xã hội, điển hình như các đợt dịch Covid-19 ở Việt Nam vừa qua, đã có hàng triệu thanh niên xung phong, tình nguyện tham gia chống dịch, không sợ khó khăn vất vả nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh, họ là những lực lượng nòng cốt xung kích đi đầu góp phần quan trọng ngăn chặn, đẩy lùi sự lây lan của dịch bệnh.

Thứ hai, phát triển văn hóa, giáo dục và quyền con người luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội ở Việt Nam. Tổng kết thành quả đất nước sau 35 năm đổi mới, trên lĩnh vực phát triển văn hóa, con người, được Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Nhận thức về văn hóa, xã hội, con người ngày càng toàn diện, sâu sắc hơn”. Hiện nay, nhiều lĩnh vực, loại hình văn hóa mới ra đời, đáp ứng nhu cầu của đời sống xã hội; nhiều giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp đã được kế thừa, bảo tồn và phát huy; phát triển con người Việt Nam toàn diện – từng bước trở thành trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội; các vấn đề an sinh xã hội được quan tâm và bảo đảm, giảm nghèo bền vững, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao rõ rệt… Đặc biệt, việc phòng, chống đại dịch Covid-19 chính là thử thách để thấy được giá trị văn hóa, con người Việt Nam “tỏa sáng”, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Trong xã hội, tinh thần yêu nước, đoàn kết, nhân ái, yêu thương con người được lan tỏa rộng rãi. Đảng và Nhà nước cũng thể hiện thống nhất quan điểm con người là vốn quý nhất, dù “chống dịch như chống giặc” nhưng quyết tâm “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Những thành tựu trên là minh chứng cho thấy Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị ở Việt Nam luôn quan tâm ưu tiên phát triển văn hóa giáo dục thực hiện phát triển con người Việt Nam toàn diện.

 Tất cả những điều đó là những bằng chứng không thể phủ nhận, vạch mặt những kẻ phản động, sử dụng thủ đoạn ngụy biện lừa đảo người khác nhằm làm suy giảm niềm tin và tình cảm của nhân dân Việt Nam và cộng đồng quốc tế giành cho Đảng và nhà nước Việt Nam. Những luận điệu như thế không thể lừa gạt được những người có lương tri, đó chỉ là những tiếng kêu lạc loài, yếu ớt của những kẻ vì lợi ích cá nhân hoặc còn ôm lòng thù hận cá nhân. Những kẻ mà sự ngụy biện đã trở thành thói quen, khiến cho tư duy trở nên sai trái, lệch lạc, không phân biệt được đúng sai./.


 

Cảnh giác với những luận điệu xuyên tạc công tác cán bộ của đảng

 Trong thời gian gần đây, trên các mạng xã hội xuất hiện nhiều thông tin xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt là xuyên tạc công tác quy hoạch cán bộ của Đảng nhằm làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng.

Trên trang Vietnamthoibao, kẻ có tên là Nguyễn Huyền cho rằng: Người được quy hoạch thường lại là những người có tham vọng quyền lực, ít nghĩ đến cống hiến. Nhân danh “quy hoạch”, nhóm quyền lực sẽ củng cố thêm vây cánh? Chúng cho rằng, cả bình và rượu đều như “vắc xin tự gia hạn”. Mất đoàn kết cũng từ đây mà ra…” Từ đó chúng đưa ra lập luận, Đảng ta không phải vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích của nhân dân mà vì lợi ích nhóm.

Vậy sự thật ở đây là gì? Chúng ta đều biết, công tác cán bộ của Đảng, nhất là từ sau Đại hội XII của Đảng đã có nhiều đổi mới. Đảng đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết về công tác cán bộ. Việc đánh giá cán bộ đã gắn chặt với chức trách, nhiệm vụ được giao. Đánh giá về những thành tựu trong công tác cán bộ, Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Công tác cán bộ có nhiều đổi mới, được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, đồng bộ và đạt một số kết quả quan trọng; về tổng thể, đội ngũ cán bộ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, từng bước hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ; xây dựng, bổ sung, sửa đổi và ban hành mới nhiều quy định về công tác cán bộ”.

Hơn nữa, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định “Xây dựng đội ngũ cán bộ đảng viên nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Gắn bó mật thiết với nhân dân….”. Điều đó thể hiện rõ quyết tâm chính trị của Đảng ta trong xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Vì vậy, Quy định số 50-QĐ/TW về công tác quy hoạch cán bộ là bước cụ thể hóa nghị quyết Đại hội XIII. Quy định nêu rõ 5 nguyên tắc, trong đó, bảo đảm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; bảo đảm chặt chẽ, đồng bộ, liên thông, công khai, minh bạch trong công tác quy hoạch cán bộ. Đẩy mạnh việc phân cấp, phân quyền trên cơ sở nêu cao trách nhiệm của các cấp ủy, tăng cường kiểm tra, giám sát trong công tác quy hoạch cán bộ. Coi trọng chất lượng, bảo đảm cân đối, hài hòa, hợp lý, giữa quy hoạch với đào tạo, bồi dưỡng; giữa đánh giá với quy hoạch, điều động, luân chuyển, bổ nhiệm và sử dụng cán bộ, giữa cán bộ quy hoạch với cán bộ đương nhiệm; giữa nguồn cán bộ ở Trung ương với địa phương… Quy hoạch cấp ủy các cấp phải gắn với quy hoạch lãnh đạo, quản lý; lấy quy hoạch các chức danh cấp ủy làm cơ sở để quy hoạch các chức danh lãnh đạo, quản lý; quy hoạch cấp dưới làm cơ sở cho quy hoạch cấp trên; gắn kết chặt chẽ quy hoạch cán bộ của các địa phương, cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị với quy hoạch cán bộ cấp chiến lược.

Đến đây có thể khẳng định: Những luận điệu của Nguyễn Huyền và những kẻ cơ hội chính trị đã và đang tuyên truyền xuyên tạc trắng trợn về công tác cán bộ của Đảng đi ngược lại lợi ích của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Chúng ta cần đề cao cảnh giác, vạch trần để kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động hòng phá hoại công tác cán bộ và sự nghiệp cách mạng của Đảng, nhân dân ta đã lựa chọn./.

Thủ đọan ngụy biện lừa đảo của các thế lực thù địch

 Các thế lực thù địch luôn tìm mọi thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước ta, trong đó ngụy biện thổi phồng khuyết điểm, đánh tráo bản chất là một trong những thủ đoạn thường thấy. Chúng triệt để lợi dụng một số sai phạm, tiêu cực trong xã hội để cường điệu hóa nhằm đánh lạc hướng người nghe, người đọc, làm cho họ nhầm tưởng cái khuyết điểm đó là thuộc về bản chất, là rất lớn, rất nghiêm trọng, trái ngược hoàn toàn với thực tiễn. Như mới đây trên trang mạng Bureau CTM Media – Á Châu có đăng bài “Một đất nước kỳ lạ” của một đối tượng có bút danh VietTuSaiGon, đối tượng đã lợi dụng hiện tượng fan cuồng thần tượng ở một số ít giới trẻ Việt Nam hiện nay, cho rằng “một đất nước (chỉ Việt Nam), tuổi trẻ gào khóc, lên đồng tập thể vì kết quả của một trận bóng nhưng đồng loại, đồng bào, đồng tộc chết hơn hai mươi ba ngàn người trong vòng một tháng, chẳng mấy người tuổi trẻ xúc động”; Y còn tạo dựng khuyết điểm khi cho rằng “một đất nước mà ở đó người ta không quan tâm gì nhiều đến giáo dục văn hóa hay quyền con người…”. Tất cả những điều này đều là ngụy biện, lừa đảo bởi lẽ:

Thứ nhất, với sự phát triển của công nghệ thông tin đặc biệt là phương tiện nghe nhìn và nền công nghiệp giải trí thì hiện tượng fan cuồng thần tượng ở một bộ phận giới trẻ là vấn đề của tất cả các quốc gia trên thế giới và Việt Nam cũng không là ngoại lệ, tuy nhiên hiện tượng fan cuồng thần tượng ở Việt Nam hiện nay mới chỉ thuộc về một số ít giới trẻ, mang tính tự phát, rời rạc, ít đội nhóm có tổ chức. Đại bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay đều thể hiện khát vọng và khẳng định bản thân, khát khao cống hiến cho xã hội, điển hình như các đợt dịch Covid-19 ở Việt Nam vừa qua, đã có hàng triệu thanh niên xung phong, tình nguyện tham gia chống dịch, không sợ khó khăn vất vả nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh, họ là những lực lượng nòng cốt xung kích đi đầu góp phần quan trọng ngăn chặn, đẩy lùi sự lây lan của dịch bệnh.

Thứ hai, phát triển văn hóa, giáo dục và quyền con người luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội ở Việt Nam. Tổng kết thành quả đất nước sau 35 năm đổi mới, trên lĩnh vực phát triển văn hóa, con người, được Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Nhận thức về văn hóa, xã hội, con người ngày càng toàn diện, sâu sắc hơn”. Hiện nay, nhiều lĩnh vực, loại hình văn hóa mới ra đời, đáp ứng nhu cầu của đời sống xã hội; nhiều giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp đã được kế thừa, bảo tồn và phát huy; phát triển con người Việt Nam toàn diện – từng bước trở thành trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội; các vấn đề an sinh xã hội được quan tâm và bảo đảm, giảm nghèo bền vững, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao rõ rệt… Đặc biệt, việc phòng, chống đại dịch Covid-19 chính là thử thách để thấy được giá trị văn hóa, con người Việt Nam “tỏa sáng”, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Trong xã hội, tinh thần yêu nước, đoàn kết, nhân ái, yêu thương con người được lan tỏa rộng rãi. Đảng và Nhà nước cũng thể hiện thống nhất quan điểm con người là vốn quý nhất, dù “chống dịch như chống giặc” nhưng quyết tâm “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Những thành tựu trên là minh chứng cho thấy Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị ở Việt Nam luôn quan tâm ưu tiên phát triển văn hóa giáo dục thực hiện phát triển con người Việt Nam toàn diện.

 Tất cả những điều đó là những bằng chứng không thể phủ nhận, vạch mặt những kẻ phản động, sử dụng thủ đoạn ngụy biện lừa đảo người khác nhằm làm suy giảm niềm tin và tình cảm của nhân dân Việt Nam và cộng đồng quốc tế giành cho Đảng và nhà nước Việt Nam. Những luận điệu như thế không thể lừa gạt được những người có lương tri, đó chỉ là những tiếng kêu lạc loài, yếu ớt của những kẻ vì lợi ích cá nhân hoặc còn ôm lòng thù hận cá nhân. Những kẻ mà sự ngụy biện đã trở thành thói quen, khiến cho tư duy trở nên sai trái, lệch lạc, không phân biệt được đúng sai./.

Chiêu trò “Phủ nhận thành quả cách mạng” của các thế lực thù địch

 Để có được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa sau hơn 35 năm thực hiện đổi mới đất nước, không thể không nhắc đến sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, sự cố gắng to lớn, rất đáng tự hào của toàn dân và toàn quân ta. Tuy nhiên, để bôi nhọ và hạ thấp thành quả cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, các thế lực thù địch đã cố tình đổi trắng, thay đen, xuyên tạc, bóp méo bản chất, tính chất và thành tựu to lớn của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, kháng chiến chống xâm lược của nhân dân ta, nhất là những thành tựu của sự nghiệp đổi mới đất nước. Chúng tập trung công kích, xuyên tạc cái gọi là thành tựu của đổi mới là do Đảng, Nhà nước Việt Nam “tự mình khen mình”, chứ thực chất là không có thật. Chúng còn cho rằng, để đất nước rơi vào tụt hậu như hiện nay là do Đảng ta “lựa chọn con đường chiến tranh”, “thiếu khôn ngoan về một tầm nhìn”, “thiếu đường, hướng xây dựng, phát triển”, những thành tựu đổi mới nếu có là chỉ “chui vào túi của bọn độc tài”, bọn tham nhũng, tham quan; còn đất nước vẫn trong cảnh nghèo nàn, tụt hậu, người dân nghèo thì không được thụ hưởng.

Thực tế lịch sử cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hoàn toàn xứng đáng với sự lựa chọn, giao phó của lịch sử, sự tin cậy của nhân dân. Đảng đã lãnh đạo nhân dân làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Tiếp đó, Đảng đã khởi xướng và lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta đã thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hình thành, phát triển. Chính trị – xã hội ổn định. Quốc phòng, an ninh được tăng cường. Văn hóa – xã hội có bước phát triển. Bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao

Dẫu có xuyên tạc, phủ nhận thành quả cách mạng của Đảng và nhân dân đến đâu thì các thế lực phản động, cơ hội chính trị cũng không thể bẻ cong được sự thật, cả lý luận và thực tiễn đều khẳng định, những thành tựu to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là do sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng. Mỗi người dân Việt Nam cần nêu cao tinh thần cảnh giác với chiêu trò phủ nhận thành quả cách mạng, của các thế lực thù địch./.

GIÁ TRỊ CỦA NHẬN THỨC ĐÚNG ĐẮN VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Về giá trị lý luận: Thời gian tới, yêu cầu cấp thiết tiếp tục đặt ra cho công tác lý luận là đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, cần có những đánh giá khách quan về những thành tựu đã đạt được và những bất cập, hạn chế, khuyết điểm; để có nhận thức ngày càng sáng rõ hơn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đặc biệt, cần tập trung nghiên cứu làm rõ một cách tổng quát lộ trình và những chặng đường của thời kỳ quá độ; nội dung cơ bản của từng chặng đường đó…; những thành tựu đã đạt được và hạn chế trong nhiệm vụ xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ở các chặng đường đã qua của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Về giá trị tư tưởng: Hiện nay, các thế lực thù địch ráo riết đẩy mạnh hoạt động chống phá các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam. Chúng tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình”, với nhiều thủ đoạn chống phá hết sức tinh vi, thâm độc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tư tưởng, lý luận, với mục tiêu nhằm phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng nền tảng tư tưởng của Đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của của Đảng và thành tựu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam trong công cuộc đổi mới. Tính chất thâm độc của các thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch đối với nước ta trong những năm gần đây là triệt để lợi dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội, với các chiêu trò “đổi trắng thay đen”, đưa các thông tin đúng - sai lẫn lộn và xây dựng các “ngọn cờ” chống phá từ bên trong, kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trước tình hình trên, việc làm rõ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam có giá trị tư tưởng quan trọng, là cơ sở phản bác một cách thuyết phục, đanh thép các luận điệu sai trái, thù địch; củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại để vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, từng bước hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Về giá trị thực tiễn: Năng lực, uy tín của một đảng chính trị cầm quyền bao giờ cũng được đánh giá bởi thước đo thực tiễn với nhiều yếu tố, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó, yếu tố quan trọng hàng đầu là có thực hiện đúng mục tiêu, đường lối đề ra và thúc đẩy đất nước phát triển; có nâng cao tiềm lực mọi mặt của đất nước, khắc phục khó khăn và nguy cơ đe dọa đến chủ quyền, an ninh quốc gia và nền độc lập dân tộc không; cải thiện đời sống cho nhân dân lao động đến đâu và được quốc tế đánh giá như thế nào?… Với Việt Nam, những thành tựu mà đất nước đạt được trong 35 năm đổi mới chứng minh rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đảng ta luôn luôn nhất quán, kiên định với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Về giá trị tổ chức và triển khai: Việc làm rõ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam có giá trị dẫn dắt trong tổ chức quán triệt và triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng trong thực tiễn theo chức năng, nhiệm vụ của mỗi tổ chức đảng, mỗi cơ quan, đơn vị, chức trách của mỗi cán bộ, đảng viên. Đường lối đổi mới, tầm nhìn và định hướng phát triển của đất nước đã xác định trong Đại hội XIII của Đảng chỉ trở thành lực lượng vật chất khi được thâm nhập, quán triệt sâu sắc và tổ chức có hiệu quả trong hoạt động thực tiễn ở mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đồng thời, đó là cơ sở để mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên làm tốt công tác tư tưởng, quán triệt, tuyên truyền sâu rộng Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đến quần chúng nhân dân. Với trí tuệ, bản lĩnh chính trị vững vàng, đường lối lãnh đạo đúng đắn, kinh nghiệm lãnh đạo quý báu của Đảng, sự ủng hộ, chung sức, đồng lòng của nhân dân, khát vọng về một đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc và mục tiêu đưa nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ trở thành hiện thực./.

VỀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN THỜI GIAN TỚI

 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặt ra nhiệm vụ đối với toàn Đảng nói chung và đội ngũ làm công tác lý luận nói riêng là tăng cường tổng kết thực tiễn để làm rõ hơn nữa lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, dưới tác động của những biến đổi của các nhân tố thời đại và của thế giới hiện nay. Thời gian tới, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song chúng ta cũng đứng trước nhiều khó khăn, trở ngại. Đó là: Tình hình chính trị, an ninh, kinh tế thế giới có những biến động lớn, nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra phức tạp, quyết liệt; chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa dân túy, cường quyền nước lớn trong quan hệ quốc tế gia tăng. Tiến trình toàn cầu hóa tiếp tục tiến triển nhưng gặp nhiều trở ngại, luật pháp quốc tế và các thể chế đa phương toàn cầu đứng trước những thách thức lớn. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia, dân tộc... Hiện nay, chúng ta đang ở chặng đường “đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” và phấn đấu trở thành “nước phát triển, thu nhập cao”, thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cho chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đó vừa là tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước có điểm xuất phát thấp từ nền sản xuất lạc hậu như Việt Nam. Đảng ta đã khẳng định: “Tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi toàn Đảng phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, có quyết tâm chính trị cao… đưa đất nước vững bước tiến lên, phát triển nhanh và bền vững”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng, điều hết sức quan trọng là phải luôn luôn kiên định và vững vàng trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bám sát thực tiễn của đất nước để làm rõ tính đặc thù của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống./.

CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM LÀ PHÙ HỢP VỚI XU THẾ CỦA THỜI ĐẠI HIỆN NAY

 

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, C. Mác đã cho rằng: “Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”. Theo chiều tiệm tiến thì việc phát triển tuần tự hay bỏ qua một hình thái kinh tế - xã hội đã lỗi thời lạc hậu, xây dựng hình thái kinh tế - xã hội tiến bộ hơn là hợp quy luật phát triển của xã hội loài người. Cả về lý luận và thực tiễn đều cho thấy, chủ nghĩa tư bản không phải là nấc thang phát triển cao nhất của xã hội loài người. Trong thời đại hiện nay, các dân tộc chỉ có hai lựa chọn là, theo con đường phát triển tư bản chủ nghĩa, hay cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội. Sự lựa chọn con đường nào phụ thuộc vào nhận thức và hoàn cảnh lịch sử - cụ thể của mỗi dân tộc. Nhưng, xu hướng phát triển chung là các dân tộc đều đi lên chủ nghĩa xã hội, dù cho con đường đó diễn ra lâu dài, gian khổ và cách thức tiến hành sẽ không giống nhau. Điều ấy được kiểm chứng rõ trong tính đặc thù của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, là từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, sau khi giành được độc lập đã bỏ qua sự phát triển chế độ tư bản chủ nghĩa để đi lên chủ nghĩa xã hội. Nước ta phải trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, khó khăn, đầy gian khổ hy sinh với quyết tâm chống lại ách đô hộ và xâm lược của đế quốc, thực dân, để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của đất nước, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Việt Nam là một tấm gương mẫu mực trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội; đó là cơ sở bảo đảm vững chắc cho nền độc lập, tự do của dân tộc. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là vấn đề cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, là đường lối cơ bản, xuyên suốt và nhất quán của cách mạng Việt Nam. Ngày nay, chủ nghĩa tư bản hiện đại bước sang giai đoạn mới là chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa, có nhiều thành tựu trong giải phóng, phát triển lực lượng sản xuất, phát triển khoa học và công nghệ, nên đã đạt được năng suất lao động cao. Song, chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó; các cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, các tệ nạn xã hội, nhất là khi đại dịch COVID-19 diễn ra lại càng làm bộc lộ rõ bản chất chế độ chính trị - xã hội của các nước này không vì sức khỏe, hạnh phúc của đại đa số nhân dân lao động. Các phong trào đấu tranh phản kháng xã hội đã bùng nổ mạnh mẽ, với những nội dung và hình thức mới ở nhiều nước tư bản phát triển trong thời gian qua, càng làm bộc lộ rõ sự thật về những mâu thuẫn mang tính bản chất không thể hóa giải của chế độ tư bản chủ nghĩa. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ gắn với thực hiện độc lập, tự chủ và hiện đại hóa đất nước. Công cuộc đổi mới, kết hợp phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại cùng các nguồn lực khác, như phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động, tích cực tăng cường hợp tác, mở rộng hội nhập quốc tế đã đem lại những thay đổi to lớn, thành tựu có ý nghĩa lịch sử cho đất nước trong 35 năm thực hiện đường lối đổi mới. Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”… Việt Nam kiên định đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, là một hình mẫu đặc thù của chủ nghĩa xã hội với điểm xuất phát thấp và phải gánh chịu hậu quả chiến tranh nặng nề. Mỗi nhiệm kỳ đại hội của Đảng là một chặng đường, xác định đúng mục tiêu, nhiệm vụ và kết quả đạt được của nhiệm kỳ trước tạo tiền đề phát triển cho nhiệm kỳ sau. Những thành tựu to lớn ấy có được là do sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng - nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng xác định tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước trong những mốc lịch sử quan trọng: Một là, đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, Việt Nam phấn đấu trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đảng ta đã đề ra các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025, trong đó: “Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 5 năm đạt khoảng 6,5 - 7%/năm. Đến năm 2025, GDP bình quân đầu người khoảng 4.700 - 5.000 USD”. Hai là, đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030, Đảng ta xác định 12 định hướng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó về lĩnh vực kinh tế là: “Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng…; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”. Ba là, đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ SỰ NHẤT QUÁN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

Trong bài viết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã luận giải và khẳng định: “Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định: Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam”. Trong thời kỳ đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, có ý kiến lo ngại là “đổi mới” hay “đổi màu”, công cuộc đổi mới có giữ vững được định hướng xã hội chủ nghĩa hay không, phát triển có hợp quy luật không? Vì thế, công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ đất nước giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng ta là một vấn đề lớn, thu hút nhiều sự chú ý ở cả trong nước và nước ngoài trong những năm qua. Kể từ Đại hội VI của Đảng đến nay, đã có những cuộc hội thảo bàn luận khá sôi nổi về khả năng và triển vọng của chủ nghĩa xã hội; trong đó, không ít ý kiến có biểu hiện dao động, hoài nghi về tương lai của chế độ xã hội chủ nghĩa. Vào những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, chủ nghĩa xã hội hiện thực rơi vào khủng hoảng trầm trọng, sụp đổ ở Liên Xô và một số nước Đông Âu; nhưng, với bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn kiên định với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã khẳng định: “Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử” Đến Đại hội XI của Đảng, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là chế độ xã hội ưu việt và vì nhân dân. Bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thể hiện sự nhất quán, khẳng định xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là đem lại tự do, hạnh phúc của nhân dân: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé” vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đảng, Nhà nước luôn luôn thực hiện quan điểm nhất quán là “dân là gốc”, với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”./.

CẦN TẦM NHÌN - BẢN LĨNH - SÁNG TẠO MỚI

 Bên cạnh những thành tựu, mặt tích cực là cơ bản, chúng ta cũng còn không ít khuyết điểm, hạn chế và đang phải đối mặt với những thách thức mới trong quá trình phát triển đất nước. Về kinh tế, chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh còn thấp, thiếu bền vững; kết cấu hạ tầng thiếu đồng bộ; hiệu quả và năng lực của nhiều doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp nhà nước còn hạn chế; môi trường bị ô nhiễm tại nhiều nơi; công tác quản lý, điều tiết thị trường còn nhiều bất cập. Trong khi đó, sự cạnh tranh đang diễn ra ngày càng quyết liệt trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Về xã hội, khoảng cách giàu nghèo gia tăng; chất lượng giáo dục, chăm sóc y tế và nhiều dịch vụ công ích khác còn không ít hạn chế; văn hóa, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp; tội phạm và các tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp. Đặc biệt, tình trạng tham nhũng, lãng phí, suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống vẫn diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Trong khi đó, các thế lực xấu, thù địch lại luôn tìm mọi thủ đoạn để can thiệp, chống phá, gây mất ổn định, thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình" nhằm xóa bỏ CNXH ở Việt Nam. Đảng ta nhận thức rằng hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình xây dựng, quá độ lên CNXH. Trong thời kỳ quá độ, các nhân tố XHCN được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi XHCN, gồm cả các nhân tố tư bản chủ nghĩa trên một số lĩnh vực. Sự đan xen, cạnh tranh này càng phức tạp và quyết liệt trong điều kiện cơ chế thị trường và mở cửa, hội nhập quốc tế. Bên cạnh các mặt thành tựu, tích cực, sẽ luôn có những mặt tiêu cực, thách thức cần được xem xét một cách tỉnh táo và xử lý một cách kịp thời, hiệu quả. Đó là cuộc đấu tranh rất gay go, gian khổ, đòi hỏi phải có tầm nhìn mới, bản lĩnh mới và sức sáng tạo mới. Đi lên theo định hướng XHCN là một quá trình không ngừng củng cố, tăng cường, phát huy các nhân tố XHCN để các nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và chiến thắng. Thành công hay thất bại là phụ thuộc trước hết vào sự đúng đắn của đường lối, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, xây dựng CNXH là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội. Vì vậy, bên cạnh việc xác định chủ trương, đường lối đúng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Nhân dân tiếp nhận, ủng hộ và nhiệt tình tham gia thực hiện đường lối của Đảng vì thấy đường lối đó đáp ứng đúng yêu cầu, nguyện vọng của mình. Sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của thắng lợi, của phát triển. Mặt khác, Đảng lãnh đạo và cầm quyền, trong khi xác định phương hướng chính trị và đề ra quyết sách, không thể chỉ xuất phát từ thực tiễn của đất nước và dân tộc mình, mà còn phải nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm từ thực tiễn của thế giới và thời đại. Trong thế giới toàn cầu hóa như hiện nay, sự phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc không thể biệt lập, đứng bên ngoài những tác động của thế giới và thời đại, của thời cuộc và cục diện của nó. Chính vì vậy, chúng ta phải chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi. Và điều hết sức quan trọng là phải luôn luôn kiên định và vững vàng trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin - học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động. Tính khoa học và cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững, đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Nó sẽ còn tiếp tục phát triển và có sức sống trong thực tiễn cách mạng cũng như trong thực tiễn phát triển của khoa học. Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống. Hiện nay, chúng ta đang tiếp tục đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng chú trọng hơn chất lượng và tăng tính bền vững với các khâu đột phá là: Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; phát triển nguồn nhân lực, trước hết là nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội (Văn kiện Đại hội XIII, tập 2, trang 337 - 338). Về xã hội, chúng ta tiếp tục đẩy mạnh công tác giảm nghèo bền vững, nâng cao chất lượng y tế, giáo dục và các dịch vụ công ích khác, nâng cao hơn nữa đời sống văn hóa cho nhân dân. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang ra sức học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, thực hiện tốt hơn nữa các nguyên tắc tổ chức xây dựng Đảng, nhằm làm cho tổ chức Đảng và bộ máy nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh, giữ vững bản chất cách mạng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.