Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2022

TÁC ĐỘNG XẤU TRONG TRUYỀN ĐẠO CỦA CÁC “TÔN GIÁO MỚI”

Một số “tôn giáo mới” trong quá trình tuyên truyền và phát triển đạo đã liên hệ đến mặt trái, tiêu cực trong đời sống xã hội, đặc biệt là vấn đề tham nhũng, tiêu cực lãnh đạo điều hành của chính quyền để gián tiếp phê bình thể chế chính trị của nước ta.

ÂM MƯU XUYÊN TẠC

Những hoạt động của các "hiện tượng tôn giáo mới" đã có tác động không nhỏ đến lĩnh vực văn hoá, đạo đức. Một số “hiện tượng tôn giáo mới” xuyên tạc lịch sử, phá hoại đạo đức và thuần phong mỹ tục văn hoá của dân tộc, chống đối, nói xấu chế độ, tuyên truyền làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Singapore - Người bạn tin cậy trong phát triển và hội nhập của Việt Nam

 

Singapore - Người bạn tin cậy trong phát triển và hội nhập của Việt Nam

Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Singapore Halimah Yacob, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vừa thăm cấp Nhà nước tới Singapore. Đây là chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc cũng như lãnh đạo cấp cao Việt Nam trong năm 2022 nhằm tiếp tục triển khai đường lối đối ngoại nhất quán mà Đại hội Đảng lần thứ XIII đã đề ra, đó là ưu tiên phát triển quan hệ với các nước láng giềng và ASEAN. Đồng thời, đây cũng là lần đầu tiên Singapore đón một nguyên thủ quốc gia thăm cấp Nhà nước kể từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát, thể hiện sự coi trọng của Singapore đối với Việt Nam. Chuyến thăm càng có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh Việt Nam và Singapore đang hướng tới kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và 10 năm quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước vào năm 2023.


Ngược dòng lịch sử gần nửa thế kỷ về trước, Singapore chính là một trong những quốc gia đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam sau khi Hiệp định Paris được ký kết. Đặc biệt, kể từ khi Việt Nam chính thức gia nhập “mái nhà chung” ASEAN vào năm 1995, mối quan hệ Việt Nam-Singapore đã chứng kiến những bước phát triển mạnh mẽ. Đến năm 2013, một chương mới được mở ra trong quan hệ giữa hai nước khi Singapore trở thành một trong những quốc gia thành viên ASEAN đầu tiên thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam.

Có thể khẳng định Singapore luôn là người bạn đồng hành tin cậy, gần gũi trong khu vực, song hành trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Trong bối cảnh đại dịch, quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam-Singapore tiếp tục được thúc đẩy và phát triển sâu rộng. Nếu như hợp tác trên các kênh Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quốc hội không ngừng được mở rộng thì hợp tác kinh tế Việt Nam-Singapore tiếp tục là một trong những điểm sáng tiêu biểu tại khu vực Đông Nam Á. Bất chấp tác động của dịch Covid-19, tổng kim ngạch thương mại giữa hai nước vẫn đạt 8,3 tỷ USD trong năm 2021, tăng 23,3% so với năm 2020. Singapore luôn nằm trong nhóm các nhà đầu tư hàng đầu vào Việt Nam. Các khu công nghiệp Việt Nam-Singapore (VSIP) đã trở thành biểu tượng của hợp tác kinh tế song phương, góp phần quan trọng vào quá trình phục hồi và phát triển kinh tế của Việt Nam.

Cũng không thể phủ nhận sự phối hợp chặt chẽ giữa hai nước trong công tác phòng, chống dịch Covid-19. Ngay từ khi đại dịch bùng phát, Singapore chính là một trong những quốc gia thành viên ASEAN đầu tiên hỗ trợ trang thiết bị, vật tư y tế cho Việt Nam. Song song với đó, Việt Nam và Singapore tiếp tục duy trì và thúc đẩy hợp tác chuyên ngành, từ quốc phòng, an ninh cho đến giao thông vận tải, tài chính-ngân hàng, giáo dục-đào tạo..., đồng thời phối hợp chặt chẽ và ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn đa phương, đóng góp tích cực vào tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN đoàn kết và phát triển.

Cho dù phải trải qua nhiều thăng trầm lịch sử và biến thiên thời cuộc trong gần 50 năm qua, song có thể khẳng định, với tư cách là những đối tác tự nhiên, gắn kết bởi nền tảng văn hóa tương đồng, vị trí địa lý gần gũi cùng các lợi ích song trùng tại khu vực và quốc tế, được sự vun đắp của các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước, quan hệ Việt Nam-Singapore đã và đang không ngừng phát triển ngày càng tốt đẹp. Nhìn lại những thành quả đạt được trong suốt chặng đường gần nửa thế kỷ qua, chúng ta hoàn toàn có niềm tin vào tương lai tươi sáng của quan hệ Việt Nam-Singapore dưới “mái nhà chung” ASEAN. Đây cũng chính là cơ sở để chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng chuyến thăm cấp Nhà nước tới Singapore của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sẽ thành công tốt đẹp, góp phần làm sâu sắc hơn nữa quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước, đưa quan hệ Việt Nam-Singapore ngày càng đi vào thực chất, hiệu quả hơn nữa, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển thịnh vượng ở khu vực.

 

TIẾP TỤC BỔ SUNG, HOÀN THIỆN ĐƯỜNG LỐI CHÍNH TRỊ CỦA ĐẢNG

          Những năm qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị vẫn cho rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam chỉ đổi mới kinh tế mà không đổi mới chính trị. Âm mưu, thủ đoạn của họ là thúc đẩy đổi mới chính trị để xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam.

          Sự thật là thế nào? Đảng đã kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị. Quan điểm của Đảng là lấy nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm và từ thành tựu kinh tế mà từng bước đổi mới hệ thống chính trị. Chính trị là lĩnh vực nhạy cảm, phải đổi mới từng bước, thận trọng, vững chắc, không vội vàng khi chưa có đủ điều kiện cần thiết. Đổi mới hệ thống chính trị trong suốt quá trình đổi mới và hiện nay tập trung vào những nội dung nổi bật.

          Một là, xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN với những đặc trưng cơ bản, hoàn thiện hệ thống pháp luật, thể chế; Nhà nước quản lý xã hội, đất nước, nền kinh tế chủ yếu bằng pháp luật; Nhà nước pháp quyền là một trong 8 đặc trưng của mô hình CNXH Việt Nam.

          Hai là, thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội; phát huy dân chủ XHCN, tập hợp, đoàn kết rộng rãi mọi giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vì lợi ích quốc gia, dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.

          Ba là, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng kết hợp chặt chẽ với xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị, kết hợp đúng đắn xây dựng và chỉnh đốn Đảng, xây dựng và bảo vệ Đảng, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng.

          Thực hiện và bảo vệ 3 vấn đề cốt lõi nêu trên là phát huy tính ưu việt của chế độ và bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh, bền vững về kinh tế-xã hội, vị thế chính trị, văn hóa, con người, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế. Vấn đề bảo đảm an ninh phi truyền thống, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tại, dịch bệnh, nhất là kiểm soát đại dịch Covid-19 có ý nghĩa đặc biệt đối với cuộc sống người dân, không thể xem nhẹ.

          Sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng thông qua việc hoàn thiện, bổ sung Cương lĩnh, đường lối và bảo vệ giá trị khoa học, tính hiện thực của đường lối. Đại hội XIII của Đảng đã cụ thể hóa 12 định hướng chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ 2021-2030. Để thực hiện được các định hướng đó cần tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn: Giữa ổn định, đổi mới và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng XHCN; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất XHCN; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. “Đó là những mối quan hệ lớn, phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới của Đảng ta cần tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện và phát triển phù hợp với thay đổi của thực tiễn; đòi hỏi chúng ta phải nhận thức đúng và đầy đủ, quán triệt sâu sắc và thực hiện thật tốt, có hiệu quả”./.

 

 

 

 

 

 

 

XÂY DỰNG NẾP SỐNG KỶ LUẬT TỰ GIÁC, NGHIÊM MINH

          Kỷ luật tự giác, nghiêm minh; gương mẫu chấp hành pháp luật Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định của quân đội là một trong những đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ được khái quát trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương (Nghị quyết 847).

          Quân đội ta mang bản chất giai cấp công nhân, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, bản chất kỷ luật của Quân đội ta mang bản chất kỷ luật của Đảng và của giai cấp công nhân. Đó là kỷ luật sắt, tự giác, nghiêm minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Kỷ luật của ta là kỷ luật sắt, nghĩa là nghiêm túc và tự giác”. Ngay trong buổi đầu thành lập, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân đã thực hiện tuyên thệ 10 lời thề danh dự-chuẩn mực để quân nhân tự giác chấp hành, thể hiện lòng trung thành với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân.

          Kỷ luật tự giác, nghiêm minh là một phẩm chất cao đẹp trong phẩm chất nhân cách Bộ đội Cụ Hồ, là truyền thống tốt đẹp được hình thành và phát triển cùng với sự ra đời, xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam. Truyền thống đó được thể hiện ở tính tự giác cao trong thực hiện nhiệm vụ, chức trách của mỗi quân nhân; trong chấp hành đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; trong chấp hành chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên ở bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào.

          Thực tiễn hơn 77 năm qua cho thấy, chính nhờ sự đoàn kết, thống nhất, kỷ luật tự giác, nghiêm minh đã tạo thành nguồn sức mạnh nội sinh quan trọng để Quân đội nhân dân Việt Nam chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kỷ luật tự giác, nghiêm minh góp phần làm cho quân đội giữ được trọn vẹn niềm tin yêu của nhân dân, xứng đáng là trường học lớn, lực lượng mẫu mực trong xã hội.

          Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thủ đoạn “bạo loạn lật đổ”, các thế lực thù địch thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chia rẽ nội bộ, gây mất ổn định từ bên trong; âm mưu tách mỗi cá nhân quân nhân ra khỏi tập thể quân nhân, làm mất sức chiến đấu của quân nhân bằng cách cổ vũ lối sống thực dụng, tự do vô kỷ luật, phi chính trị hóa... từ đó hòng gây mất đoàn kết nội bộ, mất sức chiến đấu của quân đội. Mặt khác, hiện tượng thiếu tự giác trong rèn luyện và thực hiện nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, thậm chí vi phạm kỷ luật nghiêm trọng của một số quân nhân xảy ra trong thời gian qua đã làm ảnh hưởng tới uy tín của quân đội, hình ảnh, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Nghị quyết 847 đã chỉ rõ: “Còn một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức chưa sâu sắc, trách nhiệm trong giữ gìn, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ chưa cao; thiếu tự giác, gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, sống thực dụng, băn khoăn dao động trước diễn biến phức tạp của tình hình, phát ngôn thiếu tính xây dựng, nể nang, né tránh, ngại va chạm, làm việc cầm chừng, tính toán thiệt hơn, xa rời thực tiễn; trong đó có cả cán bộ cao cấp, cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm kỷ luật, pháp luật, quy định về những điều đảng viên không được làm, gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước, quân đội, làm ảnh hưởng đến truyền thống, uy tín của quân đội, phẩm chất và hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ”.

          Quá trình giáo dục, rèn luyện Quân đội ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Bộ đội không có kỷ luật, đánh giặc nhất định thua” và “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm. Vì vậy kỷ luật phải nghiêm minh”. Thấm nhuần lời dạy sâu sắc của Người, trong sự nghiệp xây dựng quân đội hiện nay, xây dựng nếp sống kỷ luật tự giác, nghiêm minh cho cán bộ, chiến sĩ là vấn đề hết sức quan trọng.

          Để giữ vững và phát huy, tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, trước hết, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, bồi dưỡng năng lực chấp hành kỷ luật cho cán bộ, chiến sĩ. Đây là việc làm thường xuyên, liên tục, gắn với chức trách, nhiệm vụ của từng người và được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi, trong mọi lĩnh vực, nhất là huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu; làm cho mọi quân nhân có nhận thức sâu sắc về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ của quân đội. Đồng thời, tuyên truyền, giáo dục cho mỗi quân nhân nâng cao nhận thức, quán triệt thực hiện nghiêm 10 lời thề danh dự, 12 điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân; nắm chắc nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ quân đội và của từng đơn vị, hiểu rõ chức trách, nhiệm vụ của mình, có ý thức chấp hành nhanh chóng, chính xác mọi mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, tuân thủ tuyệt đối pháp luật Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, chế độ của quân đội, quy định của đơn vị.

          Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp cần phải đề cao trách nhiệm nêu gương trong duy trì, chấp hành kỷ luật quân đội. Sự gương mẫu của người cán bộ, đảng viên trước hết là sự mẫu mực về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, phương pháp, tác phong lãnh đạo, chỉ huy. Phải mẫu mực chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội, các quy định, chế độ của đơn vị; luôn toàn tâm, toàn ý vì lợi ích chung, vì nhiệm vụ của đơn vị. Người cán bộ, chỉ huy phải thật sự gương mẫu đi đầu, có tác phong nói đi đôi với làm, kiên quyết khắc phục, sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm của bản thân. Sự gương mẫu của người cán bộ còn thể hiện ở việc dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, luôn sâu sát, bám nắm bộ đội, tâm huyết với công việc, thật sự là người anh, người chị và người bạn thân thiết của bộ đội; biết định hướng, hướng dẫn hành động cho cấp dưới.

          Với mỗi quân nhân phải không ngừng tự tu dưỡng, tự rèn luyện, phấn đấu trong chấp hành kỷ luật ở mọi lúc, mọi nơi và trong mọi nhiệm vụ, điều kiện, hoàn cảnh; cần đặt ra kế hoạch tự rèn luyện một cách toàn diện cả về nhận thức, thái độ, hành động, cả ý chí, quyết tâm tu dưỡng, phấn đấu và phải được cụ thể hóa thành yêu cầu, chỉ tiêu phấn đấu sát với cương vị, chức trách của mình; tập trung đi sâu vào nội dung, biện pháp khắc phục những hạn chế, khuyết điểm trong chấp hành kỷ luật và đề ra phương hướng cụ thể phấn đấu trong thời gian tiếp theo.

          Một trong những biện pháp quan trọng bảo đảm cho việc giữ nghiêm kỷ luật trong các đơn vị quân đội hiện nay là xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh. Để thực hiện điều này, đòi hỏi lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần tiếp tục quán triệt sâu sắc Chỉ thị số 917/1999/CT-QP ngày 22-6-1999 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về “Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện”; Hướng dẫn số 1090/QH-KH ngày 29-4-2020 của Cục Quân huấn-Bộ Tổng Tham mưu về “Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu” cho mọi đối tượng trong đơn vị. Có biện pháp quản lý chặt chẽ mọi hoạt động của bộ đội, nhất là ở những nhiệm vụ, lĩnh vực khó khăn, nhạy cảm, hoạt động phân tán, công tác nhỏ lẻ; duy trì kỷ luật luôn gắn chặt với mọi hoạt động của đơn vị và bộ đội.

          Bên cạnh đó, các đơn vị cần kết hợp chặt chẽ Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong quân đội” với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu và các tổ chức vững mạnh để tạo nên sức mạnh tổng hợp xây dựng đơn vị. Duy trì thực hiện năm tiêu chuẩn đơn vị có môi trường văn hóa tốt, làm cho mỗi quân nhân luôn có ý thức và thực hiện “sống theo pháp luật, hành động theo điều lệnh, làm việc theo chức trách”. Đẩy mạnh phong trào thi đua rèn luyện kỷ luật, xây dựng chính quy, nhân rộng các mô hình, cách làm hay, sáng tạo và gương điển hình tiên tiến.

          Cấp ủy, chỉ huy các đơn vị phải quan tâm coi trọng xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp giữa lãnh đạo với chỉ huy, quản lý, điều hành; cấp trên với cấp dưới, cán bộ với chiến sĩ; giữa tổ chức đảng với các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân nhằm xây dựng bầu không khí tâm lý lành mạnh, đoàn kết, phấn khởi trong đơn vị. Phải quan tâm xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị có lòng tự trọng, giữ gìn danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ, có thái độ đúng đắn với bản thân và các mối quan hệ trong quân đội, quan hệ với nhân dân, xã hội và gia đình; xây dựng kỷ cương, trách nhiệm, tình thương yêu đồng chí, đồng đội trong tập thể quân nhân. Đặc biệt, cần coi trọng tạo lập môi trường văn hóa dân chủ, cởi mở trong các mối quan hệ; chống mọi biểu hiện, hành vi, thái độ quân phiệt, gia trưởng, xâm phạm đến nhân cách của cán bộ, chiến sĩ.

          Để xây dựng nếp sống kỷ luật tự giác, nghiêm minh cho cán bộ, chiến sĩ, các đơn vị cần tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động "Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ" thời kỳ mới; tích cực đấu tranh ngăn ngừa những tác động tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường, quá trình hội nhập đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của bộ đội...

TT Nga: NHỮNG BÀI HỌC THÁNG MƯỜI


Không có gì bất biến, đặc biệt là thực tế xã hội và chính trị quốc tế trong giai đoạn hiện nay. Thế nhưng, dù trở thành người đứng đầu nước Nga hơn 20 năm nay, Vladimir Putin vẫn không quên những nhân tố tích cực mà ông đã được thừa hưởng trong chế độ Xô viết. Và Tổng thống Nga đã càng ngày càng cố gắng nhìn nhận, đánh giá thấu đáo hơn những di sản vật chất, tinh thần mà Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 để lại. Ông hy vọng rằng, “những bài học Tháng Mười” sẽ ngày một hữu ích cho con đường phát triển hiện tại của nước Nga.

"ĐIỂM MẶT" THỦ ĐOẠN GÂY RỐI AN NINH CHÍNH TRỊ, TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI

 


Để lôi kéo được nhiều người tham gia, những đối tượng cầm đầu, cốt cán ở trong và ngoài nước đã dùng mọi thủ đoạn từ tuyên truyền xuyên tạc các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đến kích động người dân đấu tranh chống đối chính quyền.


Điển hình như lợi dụng các buổi sinh hoạt chung để mở băng cát sét hay gọi điện thoại để người tin theo trực tiếp nghe đồng tộc lưu vong ở nước ngoài kêu gọi tách ra thành lập các tổ chức tôn giáo riêng của người dân tộc thiểu số; tham gia biểu tình, bạo loạn thành lập “Nhà nước Đề ga”.


Thực tế cho thấy các đối tượng thường kích động, ép buộc người tin theo tẩy chay các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương (như: không đóng thuế, không thực hiện nghĩa vụ quân sự, không đồng ý cho xây dựng các công trình công cộng phục vụ dân sinh ở địa phương, không thực hiện kế hoạch hoá gia đình, không cho trẻ em uống vác xin phòng bệnh, ốm đau không cần đến các cơ sở y tế để khám và chữa trị mà chỉ cần tổ chức cầu nguyện và thực hiện các biện pháp ma thuật, không vay tiền ngân hàng, không nhận nhà tình nghĩa và kinh phí hỗ trợ xây dựng nhà ở,...). 


 Những hoạt động lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng trái phép của các “hiện tượng tôn giáo mới” đã góp phần gây tâm lý hoang mang, nghi kỵ, mất đoàn kết cục bộ trong một bộ phận quần chúng nhân dân của một số dân tộc và giữa các dân tộc, giữa người dân với hệ thống chính trị; hình thành và làm gia tăng các “điểm nóng” về an ninh chính trị, trật tự xã hội liên quan đến biểu tình, bạo loạn, vượt biên gắn với vấn đề ly khai, tự trị của một bộ phận người dân tộc thiểu số…


Một số “hiện tượng tôn giáo mới” còn gây tâm lý hoang mang trong môi trường giáo dục khi gửi thư, tờ rơi tuyên truyền cho học sinh, sinh viên về những nội dung có tính mê tín dị đoan, gây tâm lý lo sợ cho các em và phụ huynh. Nhiều  đối tượng cầm đầu cực đoan, quá khích còn lôi kéo, kích động người tin theo tham gia các hoạt động chống phá chính quyền, gây rối an ninh trật tự và tạo ra mâu thuẫn xã hội; khiếu kiện đòi khôi phục các tổ chức tôn giáo cũ và công nhận những tổ chức tôn giáo mới thành lập trái phép; đòi lại đất đai của tổ tiên và các cơ sở thờ tự cũ; kích động người dân vượt biên trái phép để gây rối nhằm quốc tế hóa và chính trị hóa vấn đề tôn giáo, dân tộc ở Việt Nam; tuyên truyền và phát tán các tài liệu tôn giáo trái phép, tài liệu phản động, tìm cách khống chế, làm mất uy tín cán bộ, đảng viên cốt cán ở địa phương; lợi dụng những biện pháp xử lý của các cơ quan chức năng đối với những hoạt động vi phạm pháp luật của một số “hiện tượng tôn giáo mới” và người tin theo, nhất là người dân tộc thiểu số để xuyên tạc chính sách của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời vu cáo, bôi nhọ chế độ mà trực tiếp là hệ thống chính trị cơ sở và cán bộ địa phương vi phạm nhân quyền, quyền tự do tôn giáo tín ngưỡng nhằm gây nghi kỵ, mất đoàn kết và suy giảm niềm tin của nhân dân vào chế độ ta. 


Ngoài ra, các “hiện tượng tôn giáo mới” bên cạnh việc thành lập ban lãnh đạo của tổ chức các cấp, còn hình thành những hội, nhóm đoàn thể, như: phụ lão, phụ nữ, thanh niên, thiếu niên,... để tuyên truyền, sinh hoạt, liên kết, hỗ trợ nhau trong làm ăn, sinh sống cũng như tập hợp, chỉ đạo quần chúng đi theo phù hợp với từng nhóm; đứng ra hoặc tìm cách tham gia giải quyết các vấn đề nảy sinh trong cộng đồng liên quan đến những đối tượng nói trên,...


Do đó, việc hình thành một hệ thống tổ chức của các “hiện tượng tôn giáo mới” ở buôn làng, nhất là ở khu vực Tây Nguyên vào những thời điểm phát triển, các nhóm, hội, đoàn thể này hoạt động khá hiệu quả so với các đoàn thể của hệ thống chính trị cơ sở và buôn làng trên một số lĩnh vực chung của cộng đồng. Điều đó đã tác động đến nhận thức của người dân về vai trò của hệ thống chính trị cơ sở và đội ngũ cán bộ ở những địa phương có các “hiện tượng tôn giáo mới” phát triển và nhiều người tin theo. Thực tiễn cho thấy, tại một số ít nơi đã nảy sinh hiện tượng vai trò và uy tín của già làng, trưởng thôn buôn, đoàn thể trong hệ thống chính trị cơ sở và buôn làng có sự suy giảm nhất định trong quần chúng ở những nơi “hiện tượng tôn giáo mới” phát triển, trong khi vai trò, uy tín và ảnh hưởng của các tổ chức và một số đối tượng cầm đầu, cốt cán một số “hiện tượng tôn giáo mới” lại tăng lên.


Trong quá trình hình thành và phát triển, các “hiện tôn giáo mới” cực đoan và những đối tượng cầm đầu thường tìm mọi cách làm suy yếu vai trò của hệ thống chính trị cơ sở bằng cách lôi kéo cán bộ, đảng viên, già làng, trưởng họ theo tổ chức, đồng thời tạo dựng ảnh hưởng của “hiện tượng tôn giáo mới” và số đối tượng cầm đầu, cốt cán tại địa phương đối với cộng đồng. Một số đối tượng cầm đầu còn có những hành động mang tính chính trị, gây mâu thuẫn xã hội, như: tuyên truyền các thành quả phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương cũng như những quyền lợi người dân đang được hưởng là do tổ chức của họ đem lại; thành lập các tổ chức hoạt động bất hợp pháp chống đối chính quyền; tổ chức cho người đi theo tập bắn vào bia tượng trưng là cán bộ, đảng viên chủ chốt của địa phương và ngấm ngầm đe dọa tính mạng, phá hoại tài sản gia đình họ... Những hoạt động này đã gây tâm lý hoang mang cho một bộ phận quần chúng và số ít cán bộ, đảng viên ở địa phương. 


Ở một số địa phương, người đứng đầu “hiện tượng tôn giáo mới” cực đoan còn vu cáo cán bộ và chính quyền địa phương vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; tìm cách khoét sâu, phóng đại một số hạn chế của chính quyền và cán bộ địa phương trong thực hiện công tác dân tộc, tôn giáo; vu cáo chính quyền vi phạm dân chủ, nhân quyền, ức hiếp, kỳ thị người dân tộc thiểu số, người có đạo; làm giảm lòng tin của quần chúng đối với chế độ ta, mà trước hết là hệ thống chính trị cơ sở; chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, kích động chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi; gây mâu thuẫn, xung đột cục bộ giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo; kích động tư tưởng bất mãn của người dân tộc thiểu số với người Kinh, của người dân với hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ; tạo cớ cho các thế lực thù địch lợi dụng vu cáo, can thiệp chống phá Nhà nước ta; gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự xã hội, cản trở việc thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ở địa phương


Cùng với đó, một trong những vấn đề nhạy cảm hiện nay ảnh hưởng đến quan hệ trong nội bộ từng dân tộc, giữa các tộc người với nhau và với quốc gia là sự gắn kết của hai vấn đề dân tộc và tôn giáo. Trong đó, việc chuyển đổi từ những tôn giáo chính thống hay tín ngưỡng truyền thống sang các “hiện tượng tôn giáo mới” đã có nhiều ảnh hưởng đa chiều, phức tạp đến xã hội, nhưng quan trọng nhất vẫn là góp phần hình thành các cộng đồng dân cư cùng theo một “hiện tượng tôn giáo mới”.


Tính cố kết của những cộng đồng này không chỉ chủ yếu diễn ra trong số những người tin theo trong một dân tộc và cùng cư trú trên địa bàn, mà một số tổ chức còn phát triển rộng hơn giữa các dân tộc, giữa một số vùng trong nước và các quốc gia khác. Những người theo một “hiện tượng tôn giáo mới” này đều có điểm chung là cùng đức tin, hầu như họ chỉ cố kết giữa những người trong tổ chức với nhau nên tạo ra xu hướng quan hệ bó hẹp trong nội bộ nhóm.


Các “hiện tượng tôn giáo mới” do muốn giữ những người đi theo nên luôn yêu cầu họ phải sống tách biệt với cộng đồng và gia đình, như: không được chào hỏi, tiếp xúc, đi cùng đường với người không cùng niềm tin, kể cả đó là bố mẹ, vợ chồng, con cái, nhất là đối với cán bộ và đoàn công tác địa phương đến tuyên truyền,vận động từ bỏ tổ chức; không được phép kết hôn, làm cùng, ăn cùng, ở cùng những người khác niềm tin; không được phép tham gia các cuộc hội họp và hoạt động chung của cộng đồng, nếu có mặt cũng phải tách thành nhóm riêng và không thể hiện thái độ, chính kiến; không thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương,...


Do không tham gia những hoạt động chung của cộng đồng và hưởng lợi từ các chính sách phát triển của Nhà nước, nên các mối quan hệ của họ chỉ diễn ra trong số những người cùng tin theo một “hiện tượng tôn giáo mới”, tính cố kết cộng đồng truyền thống theo dân tộc và tôn giáo tại địa bàn cư trú trước đây bị phá vỡ, đời sống gia đình tiếp tục gặp nhiều khó khăn hơn trước,... 


Đáng chú ý là hình thức cố kết này ở một vài địa phương của một số “hiện tượng tôn giáo mới” phát triển có biểu hiện lấn át các hình thức cố kết cộng đồng truyền thống theo dòng họ, theo cộng đồng cùng dân tộc trong địa bàn cư trú và trong nội bộ tôn giáo. Thậm chí, tại một vài địa phương có đông người tin theo “hiện tượng tôn giáo mới” thì vào những thời điểm tổ chức này phát triển, những người cầm đầu, cốt cán đôi khi còn có ảnh hưởng lớn hơn một số người có uy tín trong xã hội truyền thống, cán bộ cơ sở và buôn làng trên một số lĩnh vực chung của cộng đồng. Hiện tượng này dẫn đến hệ quả là một số ít chính sách phát triển kinh tế - xã hội, chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo ở vùng có các “hiện tượng tôn giáo mới” hoạt động mạnh bị tác động trực tiếp hay gián tiếp bởi những tổ chức này. 


Sự ra đời của các “hiện tượng tôn giáo mới” thường có xu hướng phá vỡ khỏi sự ràng buộc trong một số luật lệ, những điều cấm kị của tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống nên ở góc độ nhất định nó sẽ có những tác động tiêu cực đến tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống.


Các “hiện tượng tôn giáo mới” đều ít nhiều bài xích các tôn giáo truyền thống, đả kích vào các vị giáo chủ của tôn giáo chính thống. Điều này đã gây bức xúc trong chức sắc, nhà tu hành của các tôn giáo chính thống, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, tiềm ẩn nguy cơ có sự xung đột về tôn giáo bởi những mâu thuẫn phát sinh trong việc lôi kéo, tranh giành tín đồ và bởi giữa sự cởi mở của các “hiện tượng tôn giáo mới” và chặt chẽ trong giáo lý, lễ nghi truyền thống. Hoạt động của các “hiện tượng tôn giáo mới” gây khó khăn trong xã hội về phân biệt mê tín dị đoan với tín ngưỡng, tôn giáo đã được Nhà nước công nhận dẫn đến một bộ phận nhân dân không phân biệt được đâu là tín ngưỡng, tôn giáo chính thống đâu là sự biến dạng, lợi dụng tôn giáo để trục lợi.

Hải Đăng ST

NƯỚC NGA 30 NĂM SAU KHI LIÊN XÔ SỤP ĐỔ: NƯỚC NGA DƯỚI THỜI VLADIMIR PUTIN!

         Putin - Người mở ra kỷ nguyên mới cho nước Nga.

Liên Xô sụp đổ là thảm họa địa-chính trị lớn nhất trong thế kỷ XX. Tổng thống V.Putin là người đưa Liên bang Nga thoát khỏi thảm họa này, tiếp tục phát triển vững chắc và trở thành cường quốc thế giới mới.

Theo Tổng thống Nga V.Putin, Liên Xô sụp đổ là thảm họa địa-chính trị lớn nhất trong thế kỷ XX. Để đưa nước Nga khắc phục hậu quả của thảm họa này, kể từ khi nhậm chức vào ngày 7/5/2000 Tổng thống V.Putin đã đặt lợi ích quốc gia của Nga lên trên hết trong quá trình hoạch định chiến lược và lãnh đạo đất nước phát triển theo con đường mới trong kỷ nguyên hậu Xô Viết trong điều kiện bị Mỹ và phương Tây ra sức chống phá quyết liệt.

Thách thức lớn nhất đối với nước Nga sau khi Liên Xô sụp đổ.

Sau khi Liên Xô sụp đổ, thách thức đối với đại đa số người dân Nga là khó khăn về kinh tế-xã hội, nhưng thách thức lớn nhất và nghiệt ngã nhất đối với nhà nước Nga xuất phát từ mục tiêu chiến lược toàn cầu của Mỹ là tiếp tục làm tan rã Liên bang Nga như một quốc gia có chủ quyền. Mục tiêu này của Mỹ đã từng được xác định trong thời kỳ Chiến tranh lạnh tại Chỉ lệnh của Hội đồng an ninh quốc gia No.SC-20/11 ngày 18/8/1948: “Bất kể thể chế chính trị nào ở nước Nga, sẽ không thể để quốc gia này phát triển tiềm lực kinh tế đủ mạnh có thể trở thành nguy cơ đối với quyền bá chủ thế giới của Mỹ. Nước Nga tương lai chỉ có thể duy trì tiềm lực quân sự hạn chế và phải luôn phụ thuộc vào Mỹ”.

Năm 1995, triển khai Chỉ lệnh No.SC-20/11, Tổng thống Mỹ Bill Clinton phê chuẩn chiến lược ứng xử với Nga. Trong đó, xác định rõ: “Trong thập kỷ tới, chúng ta sẽ tiếp tục làm tan rã nước Nga thành các quốc gia nhỏ bằng cách kích động các cuộc chiến tranh và xung đột sắc tộc, tương tự như quá trình làm tan rã Liên bang Nam Tư, và sẽ thiết lập các thể chế chính trị theo sự sắp đặt của Mỹ tại những quốc gia mới hình thành từ sự tan rã nước Nga”. Năm 1997, trong bài phát biểu tại Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ, nguyên Cố vấn an ninh quốc gia Zbignev Brezinski nhấn mạnh: “Cần tiếp tục làm tan rã nước Nga thành các quốc gia nhỏ hơn với dân số và tiềm lực không đáng kể. Chỉ bằng cách đó, phương Tây mới dễ bề sai khiến họ”.

Xuất phát từ mục tiêu chiến lược toàn cầu của Mỹ đối với Nga, trên thực tế, Chiến tranh lạnh vẫn chưa kết thúc sau khi Liên Xô sụp đổ và vẫn tiếp diễn trong điều kiện mới, được gọi bằng một cái tên khác là là “chiến tranh phức hợp”, bởi Mỹ xác định Nga là nguy cơ chiến lược chủ yếu và là cản trở địa-chính trị lớn nhất đối với trật tự thế giới đơn cực do Washington kiểm soát. Theo nhận định của Andrei Ilnitsky - Cố vấn của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Nga, Mỹ và phương Tây đang tiến hành cuộc chiến tranh thế giới phức hợp nhằm chống phá Nga. Sergey Glazyev – cựu Cố vấn của Tổng thống Nga V.Putin, cho rằng cuộc chiến tranh thế giới phức hợp mà nước Nga đang phải đối mặt là cuộc chiến vô cùng phức tạp, quyết liệt, diễn ra trên nhiều chiến tuyến. Đây là một loại hình chiến tranh kiểu mới, trong đó các bên không sử dụng các phương thức tác chiến truyền thống mà là sử dụng các phương thức hành động phi truyền thống kết hợp đan xen chiến tranh kinh tế, chiến tranh thông tin, chiến tranh ngoại giao, chiến tranh phá hoại ngầm, chiến tranh trong không gian mạng và hoạt động của các lực lượng đối lập trên lãnh thổ đối phương.

Trong bài phát biểu tại Hội nghị an ninh quốc tế lần thứ VII tháng 4/2018 ở Moscow, Tổng Thư ký Tổ chức an ninh và hợp tác châu Âu Thomas Greminger đã từng đề cập tới cuộc chiến tranh thế giới phức hợp này. Trong đó, không còn ranh giới giữa trạng thái hòa bình và chiến tranh; trật tự quan hệ quốc tế dựa trên luật pháp sụp đổ; hoạt động thương mại, làn sóng di cư, thông tin, không gian mạng, chủ nghĩa khủng bố và tội phạm có tổ chức được sử dụng làm vũ khí chiến tranh. Còn những kẻ gây chiến đang lẩn trốn trong bóng tối rất khó xác định. Trong chiến tranh thế giới phức hợp, rất khó phân biệt giữa sự thật và giả dối, giữa ta và địch, trong đối tác có đối tượng, trong đối tượng có đối tác, dẫn đến tính trạng bất định, khó lường, khó kiểm soát, tạo ra tình trạng ngờ vực và mất lòng tin.

V.Putin xác định con đường phát triển của nước Nga trong kỷ nguyên hậu Xô Viết.

Nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhất của Tổng thống V.Putin sau khi nhậm chức vào ngày 7/5/2000 là xác định con đường phát triển của nước Nga trong kỷ nguyên hậu Xô Viết. Hình hài của con đường này đã được V.Putin trên cương vị Thủ tướng Nga phác họa trong bài viết của ông có tựa đề “Nước Nga trước ngưỡng cửa thiên niên kỷ thứ ba “được công bố vào ngày 30/12/1999-nghĩa là chỉ 1 ngày trước khi ông được B.Yeltsin trao Quyền Tổng thống Nga. Theo V.Putin, sau khi Liên Xô sụp đổ, nước Nga phải tìm lời giải cho những câu hỏi bức thiết: cần phải vận dụng cơ chế kinh tế thị trường trong điều kiện nước Nga ra sao để mang lại hiệu quả?Làm thế nào để vượt qua sự chia rẽ sâu sắc về hệ tư tưởng và chính trị trong xã hội khi hệ tư tưởng cộng sản đã bị phá hoại? Nước Nga cần nỗ lực để hướng tới những mục tiêu chiến lược nào? Vị thế của nước Nga sẽ ra sao trên thế giới trong thế kỷ XXI? Thế mạnh và hạn chế của nước Nga trong kỷ nguyên mới là gì? Nước Nga có những nguồn lực vật chất và tinh thần nào? V.Putin nhấn mạnh, nếu không tìm được câu trả lời rõ ràng và dễ hiểu cho người dân trước những câu hỏi này, nước Nga sẽ không thể vững tin tiến lên phía trước để giành lại vị thế xứng đáng của một cường quốc trong kỷ nguyên mới. Theo V.Putin, chỉ có thể hóa giải được những câu hỏi này trên cơ sở những bài học kinh nghiệm rút ra được từ quá khứ.

Bài học thứ nhất là, trong gần ba phần tư thế kỷ qua, nước Nga đã phát triển theo học thuyết chủ nghĩa cộng sản. Sẽ là sai lầm nếu không nhận thấy hoặc phủ nhận những thành tựu hiển nhiên của thời kỳ đó. Nhưng sẽ là sai lầm lớn hơn nếu không nhận ra cái giá quá lớn mà xã hội và con người phải trả trong quá trình áp dụng học thuyết đó trong phát triển kinh tế-xã hội.

Bài học thứ hai là, phải nhận thấy nước Nga đã vượt qua giới hạn tột cùng của các biến động chính trị và kinh tế - xã hội, các trận đại hồng thủy và cuộc cải tổ triệt để, nên không thể tiến hành thêm một cuộc cách mạng nữa.

Bài học thứ ba là, kinh nghiệm cay đắng của những năm 1990 chứng tỏ, không thể đổi mới thực sự thành công nếu áp dụng một cách máy móc và đơn giản các mô hình và đề án trừu tượng trong sách giáo khoa nước ngoài vào điều kiện của nước Nga.

Những bài học kinh nghiệm đó giúp nước Nga hoạch định một chiến lược dài hạn nhằm vượt qua cuộc đại khủng hoảng sau khi Liên Xô sụp đổ, tạo tiền đề cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững. Vì thế, Tổng thống V.Putin cho rằng, để tiếp tục phát triển, nước Nga rất cần có được sự đồng thuận trong xã hội về con đường phát triển hướng đến tương lai tốt đẹp.

V.Putin cho rằng, sự đồng thuận này dựa trên nhiều yếu tố có ý nghĩa như những trụ cột. Một là, những giá trị truyền thống và bản sắc văn hóa Nga, trước hết là chủ nghĩa yêu nước, hình thành qua hàng ngàn năm lịch sử. Một khi đánh mất lòng yêu nước, niềm tự hào và bản sắc văn hóa Nga thì cũng đánh mất chính mình như là một dân tộc có khả năng đạt được những thành tựu vĩ đại. Hai là, tinh thần cường quốc, theo đó Nga đã và sẽ vẫn là một đất nước vĩ đại xuất phát từ các đặc điểm vốn có về địa-chính trị, kinh tế và văn hóa. Ba là, nước Nga cần có một nhà nước mạnh. Trong hàng ngàn năm lịch sử của nước Nga, thể chế và cấu trúc của nhà nước mạnh và bền vững luôn đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với sự tồn vong và phát triển một đất nước rộng lớn với rất nhiều dân tộc cùng chung sống. Bốn là, tinh thần đoàn kết. Lịch sử Nga chứng tỏ, đối với người dân Nga, tinh thần đoàn kết và chủ nghĩa tập thể luôn chiếm ưu thế trước chủ nghĩa cá nhân. Năm là, tính gia trưởng ăn sâu vào xã hội Nga, trong đó đa số người đã quen với ý nghĩ cho rằng vị thế của họ được khẳng định không chỉ bằng nỗ lực, sự tháo vát và sáng kiến của bản thân mà chủ yếu là nhờ sự giúp đỡ và hỗ trợ của nhà nước. Theo Tổng thống V.Putin, sự đồng thuận xã hội ở Nga được hình thành như một kiểu hợp kim, một sự kết hợp hữu cơ giữa các giá trị phổ quát của nhân loại với các giá trị văn hóa truyền thống của Nga đã từng đứng vững trước thử thách của thời gian.

Trên cơ sở những bài học kinh nghiệm đó, Tổng thống V.Putin xác định con đường phát triển của nước Nga.

Về kinh tế, nước Nga xây dựng nền kinh tế thị trường-định hướng xã hội có sự quản lý của nhà nước. Theo đó, Nga xây dựng các tập đoàn kinh tế nhà nước mạnh làm đầu tàu cho sự phát triển kinh tế. Theo mô hình này, trên cơ sở các thành tựu của nền kinh tế thị trường, nước Nga sẽ giải quyết những nhu cầu xã hội bức thiết như xóa đói giảm nghèo, rút ngắn khoảng cách thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, xóa bỏ tình trạng thất nghiệp, áp dụng chế độ giáo dục phổ cập và y tế miễn phí, duy trì tốc độ tăng trưởng dân số v.v.

 Về chính trị, nước Nga chấp nhận chế độ đa nguyên, đa đảng và không coi bất cứ hệ tư tưởng nào là tư tưởng quốc gia. Tổng thống V.Putin kêu gọi, người dân Nga dù đi theo đảng phái chính trị nào, đều phải dựa trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước, hướng tới mục tiêu xây dựng nước Nga phát triển hùng mạnh. Nga tôn trọng tự do tín ngưỡng, chấp nhận và tiếp thu nhiều tôn giáo, nhưng không chấp nhận bất cứ tôn giáo nào làm quốc giáo.

Để ổn định lực lượng cầm quyền, ông Putin quyết định chấm dứt tình trạng “thay đảng như thay áo” của Yeltsin, vì trước đây mỗi khi nhà lãnh đạo này mỗi khi bất đồng với đảng của mình, ông giải tán và thành lập không biết bao nhiêu cái Đảng nữa, nào là Khối Dân chủ Nga (1990 - 1993), Đảng Lựa chọn của Nga (1993–1995), đến Đảng Nhà của chúng tôi - Nga (1995–1999) nhưng chả cái đảng nào hoạt động cầm quyền ổn định và tồn tại được lâu, vì những đảng này hơi mâu thuẫn một tý với ông Tổng thống, thì là ngài ta giải thể bất chấp đúng sai. Nhưng dù thành lập bao nhiêu cái đảng cầm quyền đi nữa thì ông Yeltsin vẫn tiếp tục mất lòng dân vì cải cách cực hữu thân Mỹ của ông này, khi bán hàng nghìn thứ tài nguyên cho doanh nghiệp nước ngoài, tư hữu hóa ồ ạt đất nước, mâu thuẫn sắc tộc gay gắt khiến cho đất nước lâm vào nội chiến với Cộng Hòa Chechnya nhỏ bé, chính trị - kinh tế bị bọn tài phiệt lũng đoạn, các nước Cộng Hòa đua nhau đòi độc lập, nước Nga có nguy cơ tan rã lần thứ hai, hình ảnh nước Nga trên trường quốc tế bị Mỹ và phương tây coi thường, tình cảnh nước Nga quả là bi đát.

Khi lên cầm quyền, ông Putin đã giải tán các đảng cũ của lão già Yeltsin, tập hợp những người cùng lý tưởng thành lập ra Đảng Thống Nhất Nga vào năm 1999, ông cũng “thay đổi tư tưởng” những người ủng hộ này theo ý tưởng thiên tả (hướng về người lao động) của mình, rồi tập hợp thêm một vài đảng trung dung như Đảng Tổ quốc - Toàn nước Nga, cánh tả khác như Đảng Công chính lập ra Đảng Nước Nga Thống Nhất vào năm 2001, từ đó chính trường Nga ổn định không còn cái cảnh “thay Đảng như thay áo” dưới thời Yeltsin, từ đó Putin trở thành một lãnh tụ mới của nước Nga chứ không còn đơn thuần chỉ là một vị Tổng thống, suốt 20 năm qua nước Nga gần như lại “một Đảng” vì chỉ có Đảng của Putin được đa số nhân dân ủng hộ và chi phối chính trường Nga, họ không hề có đối thủ vừa tầm để tranh cử.

 Ngoài ra Putin đưa ra chính sách hạn chế thành lập các đảng phái mới thông qua Luật Chính Đảng Nga theo đó các Đảng phải hoạt động ở 1/2 Bang trên cả nước, có 100 nghìn đảng viên trở lên, có mấy trăm nghìn Rúp thì mới được phép hoạt động, không thì chính quyền không cấp phép cho họ hoạt động, thế là từ 5000 đảng phái chỉ còn 14 đảng, các đảng mang tính dân tộc chủ nghĩa, vùng miền, âm mưu ly khai bị giải tán tất, còn 13 chính đảng đủ sức hoạt động nhưng không đủ sức cạnh tranh với đảng cầm quyền vì ít người ủng hộ, nên nước Nga gần như chỉ có “một đảng” chi phối chính trường và kiểm soát đất nước giống như thời Liên Xô vậy.

Về đối ngoại, Nga chủ trương phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng với tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị-xã hội, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Nga không chấp nhận trật tự thế giới đơn cực chỉ do một siêu cường lãnh đạo và áp đặt các giá trị của họ cho các nước còn lại của thế giới; chủ trương xây dựng trật tự thế giới mới, trong đó tất cả các quốc gia dù lớn hay nhỏ, mạnh hay yếu, giàu hay nghèo, đều phải được tôn trọng.

Về quân sự, lấy chủ nghĩa yêu nước làm nền tảng tư tưởng, Nga xây dựng học thuyết quân sự và chiến lược quân sự mới, phục hồi và phát triển tổ hợp công nghiệp-quân sự hùng mạnh kế thừa từ thời Liên Xô làm cơ sở để xây dựng lực lượng vũ trang mạnh, được trang bị hiện đại, biên chế tinh gọn, thiện chiến, đủ sức bảo vệ vững chắc toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ quốc gia, ngăn chặn và đẩy lùi nguy cơ chiến tranh xâm lược trên mọi quy mô.

Khi tổng thống Vladimir Putin lên cầm quyền, ông đã nỗ lực gấp đôi để trấn áp lực lượng ly khai Chechnya do Mỹ và phương tây hậu thuẫn. Cuộc chiến Chechnya lần 2 bắt đầu vào tháng 12.1999 với chiến lược sốc và kinh hãi của Nga bằng việc bao vây thủ đô Grozny.

Trong hàng tuần, Nga đã không kích và pháo kích tiêu diệt phiến quân trong thành phố. Toàn bộ các khu vực lân cận bị phá hủy và khi những nhóm nổi dậy thể hiện sự kiên cường thì các chiến dịch oanh tạc tăng lên tới một mức độ không thể kháng cự. Máy bay chiến đấu của Nga đã thả những truyền đơn "Các người đã thua! Sẽ không có cuộc đàm phán nào nữa. Mọi người không rời khỏi thành phố sẽ bị tiêu diệt" (theo Gordon năm 1999). Vào tháng 2.2000, các nhóm nổi dậy trốn khỏi thành phố. Rất nhiều kẻ chạy trốn đi vào đường mở dẫn ra thẳng bãi mìn (theo Beehner 2017, trang 84-85). Quân đội Nga tiến vào thành phố vào đầu tháng 2.

Cuộc bao vây Grozny là nền tảng của chiến tranh và là trung tâm của "mô hình Chechnya". Bao vây cho phép bên tấn công giữ thế tấn công trong khi kìm chân kẻ thù, ngăn tiếp viện và bảo toàn tài nguyên cùng nhân lực. Sự vây hãm đặc biệt có lợi nếu "đội quân phía trước không có nhân lực, tài chính hay nguồn lực quân sự có thể nắm và kiểm soát toàn bộ thành phố" (theo Beehner 2017, trang 81).

Với một đội quân thiếu thốn của Nga vào năm 1999, việc bao vây Grozny là một chiến thuật có hiệu quả kinh tế. Cuộc bao vây cũng chứng minh khả năng của Nga. Các nhóm nổi dậy có thể thực hiện những vụ bạo động ở mức độ cao nhưng họ không thể chống lại những nguồn lực của một đất nước đã hạ quyết tâm. Thông qua "việc cô lập, không kích và đội quân áp chế không hạn chế", Nga đã hoàn thành mục tiêu trong vòng một tháng điều mà họ từng không thể làm trong 2 năm vào cuộc chiến lần 1 (Beehner 2017, trang 85).

Với những phiến quân rút lui vào trong núi, Nga có thể giảm thiểu chúng sử dụng phương thức bạo lực COIN để chỉ huy những chiến dịch càn quét. Nhưng Nga còn sử dụng các phương thức bao gồm: đột kích, thanh lọc, cảnh sát chìm và thiết quân luật... Trong thời điểm đó, những dân quân ủng hộ chính phủ lĩnh trách nhiệm từ quân đội Nga (theo Pohl 2007, trang 30-32).

Với quyết tâm của Kremlin về sự ổn định quốc nội, "mô hình Chechnya" dựa vào những chiến thắng quân sự hữu hình (chiếm đóng những thành phố trên các vùng nông thôn) và sự chi phối truyền thông. Trong cuộc chiến Chechnya lần 1, một tờ báo đối lập đã chỉ trích chiến thuật và nhân tố chính trị của Nga. Họ kêu gọi rút quân và làm giảm sút sự ủng hộ của dân chúng với hành động của ông Yeltsin và do lo lắng về cuộc bầu cử, ông đã đề xướng ngừng bắn vào năm 1996.

Với bài học đã có, Kremlin "học được giá trị của việc thi hành một cuộc chiến tuyên truyền trên sóng radio để giữ vững thế tấn công trên mặt đất" (theo cuộc bầu cử tổng thống Nga năm 2000). Thông qua chiến dịch này, sự ủng hộ của công chúng giữ vững ở mức 60% dù Nga có nhiều người thương vong và giới truyền thông đã đưa tin tích cực về sự phát triển của quân đội cũng như khả năng lãnh đạo của ông Putin.

Sau khi chiếm được Grozny, ông Putin đã lên kênh truyền hình quốc gia ORT vào ngày 6.2.2000. Ông tuyên bố trận chiến đã kết thúc và gợi lại bức ảnh nổi tiếng chụp lá cờ Liên Xô tung bay trên nóc tòa nhà Quốc hội Đức năm 1945, tự hào thông báo rằng: "Lá cờ Nga đã được kéo lên trên nóc một tòa nhà hành chính trong quận" (theo Kremlin năm 2000). Một tháng sau, ông Putin đắc cử tổng thống.

Thắng lợi tại Chechnya, được sử sách quân sự Nga ghi chép lại thành "Mô hình Chechnya". Mô hình này đòi hỏi bạo lực lấn át để tấn công bắt khu vực phải phục tùng và mở ra những con đường mới, đôi khi tiến trình này được gọi là "Chechnya hóa" - có sự "chuyển giao quyền lực cho những người Chechnya thân Nga để chống lại sự nổi loạn tại địa phương" (theo Russell 2011, trang 510). Thông qua chiến dịch quân sự thắng lợi, ông Putin đưa Akhmad Kadyrov lên làm tổng thống lâm thời của Cộng hòa Chechnya. Kadyrov là chỉ huy dân quân nổi tiếng trong cuộc chiến Chechnya lần thứ 1.

Và giờ, ông Kadyrov được chọn lên làm đại diện của Moscow và điều này cho phép ông Putin tránh được những chỉ trích quốc tế trong khi bình thường hóa vị trí của Chechnya trong Liên bang Nga (theo Russell 2011 trang 511). Kadyrov đã tạo nên một đội quân để nhổ tận gốc những tay khủng bố còn sót lại đồng thời trả tiền để chấm dứt tình trạng nổi loạn.

Sau khi Kadyrov bị ám sát vào năm 2004, người kế nhiệm thân Moscow Alu Alkhanov đã bổ nhiệm thiếu tướng của quân nổi dậy làm một trong những người đứng đầu chính quyền và những người lính quân nổi dậy được sáp nhập vào trung đoàn quân Chechnya. Chính những người lính này đã thực hiện các chiến dịch chống lại quân phiến loạn tại cùng những khu vực đồi núi họ từng chiếm cứ.

Alkhanov thôi chức năm 2007 khi Ramzan Kadyrov (con trai của Akhmad Kadyrov và là một cựu chỉ huy dân quân độc lập) đủ già dặn để có thể làm tổng thống. Thay vì thiết lập một chính phủ mới, mô hình Chechnya giữ nguyên cấu trúc chính trị cũ với những người có uy tin ủng hộ Kremlin. Các lãnh đạo quân nổi dậy được tin dùng sắp xếp những vị trí trong chính phủ và quân nổi dậy được nhận vào lực lượng an ninh.

Với những phiến quân rút lui vào trong núi, Nga có thể giảm thiểu chúng sử dụng phương thức bạo lực COIN để chỉ huy những chiến dịch càn quét. Nhưng Nga còn sử dụng các phương thức bao gồm: đột kích, thanh lọc, cảnh sát chìm và thiết quân luật... Trong thời điểm đó, những dân quân ủng hộ chính phủ lĩnh trách nhiệm từ quân đội Nga (theo Pohl 2007, trang 30-32).

Năm 2005, lực lượng của Nga cũng đã tâp kích tiêu diệt Aslan Maskhadov thủ lĩnh phiến quân tại Chechnya. Năm 2006, người kế nhiệm của Maskhadov là Abdul-Khalim Sadulaev bị ám sát. Trong khi "mô hình Afghanistan muốn biến đổi những kẻ bất tuân thành đồng minh thông qua cải thiện sự cai trị và những đại diện chính trị thì "mô hình Chechnya" đơn giản là quét sạch sự tồn tại của họ. Đến năm 2009, sau khi các tàn dư cuối cùng bị truy quét, cuộc chiến tranh Chechnya lần hai kết thúc.

Ngày nay  nước Cộng hòa Chechnya thuộc LB Nga là một đất nước bình yên, an ninh - an toàn, người dân đã yên tâm và đã quen với cuộc sống hòa bình. Với người dân Chechnya, nhiệm vụ họ tự đặt ra cho mình giờ đây là phải làm nhiều hơn nữa để làm sao nhanh nhất xây dựng, phát triển nước cộng hòa cho sánh kịp với mặt bằng chung của LB Nga. Chính quyền nước Cộng hòa đang tiếp tục đầu tư xây dựng nhiều công trình dân sinh và khuyến khích các doanh nghiệp Nga, doanh nghiệp nước ngoài vào đầu tư phát triển. Đáng kể nhất là một dự án mang tên “Trung tâm Đào tạo Quốc tế các lực lượng đặc nhiệm”.

Suốt nhiều năm qua, những địa danh Gudecmes, Grozny hay chung nhất là Chechnya khi được nhắc đến đều gợi về miền đất nóng bỏng, gắn liền với xung đột, bạo lực và chiến tranh… Nay trở lại đây, không khí hòa bình đã bao trùm… Người dân đang nỗ lực hết sức mình để xây dựng một cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn./.

Yêu nước ST.

TÌNH HÌNH UKRAINE ĐẾN 4/3 VÀ LẬP TRƯỜNG CỦA VIỆT NAM!

         TẠI UKRAINE, Mỹ và phương Tây đã giành 3 thắng lợi lớn:

1. Buộc Nga phải tham chiến tại Ukraine...

2. Mỹ và phương Tây hoàn toàn chiếm lĩnh truyền thông... (ngay cả fb/tw/yt cũng chặn hết link từ Nga).

3. Thế giới (Mỹ-PT-EU) đã không cần Nga nữa rồi (và Nga có cần thế giới đó không thì... bộ ba hạt nhân chiến lược Nga nạp dữ liệu mục tiêu nào?…)

CÒN NGA thì chỉ có một thắng lợi là: Giải giáp quân đội Ukraine.

Bạn không tin? Chỉ trong 8 ngày quân đội UKraine đã:

1. Không quân biến mất

2. Hải quân biến mất

3. Hệ thống PK biến mất

4. Các căn cứ quân sự Mỹ-Anh xây dựng biến mất. Hơn 65% quân phatxit, có tin đưa hơn 80%, bị “nhốt” mà mạng sống tính bằng ngày.

KẾT QUẢ: Đoàn UKraine đã chịu bắt tay Đoàn Nga tại vòng đàm phán thứ 2 ngày 2-3 (ảnh 2). Ông Vladimir Medinsky - người đứng đầu phái đoàn Nga, cho biết: “Liên bang Nga và Ukraina đã có thể tìm thấy sự hiểu biết lẫn nhau về một số điểm”.


Ở VIỆT NAM 

Một bộ phận metay a sức cào phím hô hào Việt Nam bỏ phiếu lên án Nga xâm lược Ukraine trong phiên họp Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc hôm thứ Tư 02/03.

KẾT QUẢ: Việt Nam bỏ phiếu trắng (*)

BBC giật tít “Sứ quán Ukraine rất thất vọng”, còn anh em metay thì c.âm nín.

Giải thích về điều này, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng, ngắn gọn: “Lập trường của Việt Nam đã được nêu rõ tại phát biểu ngày 25/2 và Phiên họp khẩn cấp đặc biệt của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 1/3".

Cứ đà này thì chả chóng mà chầy, các bên sẽ ký Hiệp định Bê-la, lấy kinh tuyến 30 làm giới tuyến tạm thời (ảnh 1), quân bên nào kéo về bên đó, tiến tới Tổng tuyển cử trên toàn quốc… chấm dứt chiến tranh!

___

(*) Nghị quyết được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua hôm 1/3 với 141 quốc gia trên tổng số 193 quốc gia bỏ phiếu thuận, 35 quốc gia bỏ phiếu trắng và 5 quốc gia bỏ phiếu chống. Việt Nam, Ấn Độ và Trung Quốc nằm trong nhóm bỏ phiếu trắng.

Có 5 nước bỏ phiếu chống gồm Nga, Belarus, Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên, Syria và Eritrea./.

Yêu nước ST.