Thứ Hai, 4 tháng 4, 2022
Kỷ niệm 115 năm ngày sinh đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn: Tóm tắt tiểu sử và sự nghiệp.
Năm 1931, đồng chí là Ủy viên Ban Tuyên huấn Xứ ủy Bắc Kỳ và cũng năm đó, đồng chí bị thực dân Pháp bắt tại Hải Phòng, chúng kết án 20 năm tù cầm cố và giam đồng chí ở các nhà lao Hỏa Lò, Sơn La và Côn Đảo. Tại các nhà tù, đồng chí cùng nhiều đảng viên cộng sản lãnh đạo các cuộc đấu tranh chống chế độ hà khắc của nhà tù và tổ chức học tập, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, giác ngộ lý tưởng cách mạng cho anh em trong lao tù.
Tháng 10 năm 1936, trước phong trào đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân ta và thắng lợi của Mặt trận Bình dân Pháp, thực dân Pháp buộc phải trả tự do cho đồng chí Lê Duẩn và nhiều chiến sĩ cách mạng khác. Vừa ra khỏi nhà tù, đồng chí tham gia ngay vào các hoạt động cách mạng sôi nổi ở các tỉnh miền Trung. Năm 1937, đồng chí Lê Duẩn được cử giữ chức Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ. Tại đây đồng chí đã cùng với tập thể Xứ ủy lãnh đạo phong trào Mặt trận Dân chủ ở miền Trung với nhiều chủ trương và phương pháp sáng tạo.
Năm 1939, đồng chí Lê Duẩn được cử vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng và cuối năm đó đã cùng đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Tổng Bí thư của Đảng, chủ trì Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương (viết tắt là BCHTW), quyết định thành lập Mặt trận Phản đế Đông Dương thay Mặt trận Dân chủ, chuyển hướng cuộc đấu tranh cách mạng sang một thời kỳ mới.
Năm 1940, đồng chí lại bị địch bắt tại Sài Gòn, kết án 10 năm tù và đày đi Côn Đảo lần thứ hai. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, đồng chí được Đảng và Chính phủ đón về đất liền.
Từ năm 1946, đồng chí được ra Hà Nội làm việc bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần cùng Trung ương Đảng chuẩn bị cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Cuối năm đó, đồng chí được Bác Hồ và Trung ương Đảng cử vào lãnh đạo cuộc kháng chiến ở Nam Bộ. Tại Đại hội lần thứ II của Đảng năm 1951, đồng chí được bầu vào BCHTW và Bộ Chính trị. Từ năm 1946 đến năm 1954, với cương vị là Bí thư Xứ ủy, rồi Bí thư Trung ương Cục miền Nam, đồng chí đã lãnh đạo Đảng bộ miền Nam tổ chức cuộc kháng chiến ở Nam Bộ.
Từ năm 1954 đến năm 1957, sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, đồng chí Lê Duẩn ở lại miền Nam để lãnh đạo phong trào cách mạng. Trong những năm tháng vô cùng khó khăn này, đồng chí đã kiên trì bám trụ ở những vùng nông thôn hẻo lánh miền Tây, miền Trung Nam Bộ đến trung tâm thành phố lớn Sài Gòn, Đà Lạt... để củng cố các cơ sở cách mạng, chuẩn bị cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước.
Năm 1957, Trung ương cử đồng chí lãnh đạo công việc chung của Đảng bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh.Tháng 9-1960, tại Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng, đồng chí được bầu vào BCHTW và Bộ Chính trị, đảm nhận trọng trách Bí thư thứ nhất BCHTW Đảng.
Suốt 15 năm trên cương vị này, trong hoàn cảnh đất nước trải qua nhiều khó khăn, thử thách cực kỳ nghiêm trọng và tình hình quốc tế diễn biến phức tạp, đồng chí Lê Duẩn đã cùng Bộ Chính trị và BCHTW Đảng kiên trì đường lối độc lập, tự chủ, tranh thủ sự viện trợ, giúp đỡ và đoàn kết quốc tế, sáng suốt lãnh đạo nhân dân và các lực lượng vũ trang cách mạng cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược và tay sai, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (năm 1976) và lần thứ V (1982) của Đảng, đồng chí Lê Duẩn được bầu lại vào BCHTW, Bộ Chính trị, giữ chức Tổng Bí thư BCHTW Đảng; từ năm 1978 đồng chí là Bí thư Quân uỷ Trung ương.
Hơn 10 năm từ khi đất nước thống nhất, trên cương vị là Tổng Bí thư, đồng chí đã cùng với BCHTW, Bộ Chính trị lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mà Đại hội IV và Đại hội V của Đảng đề ra, giành được những thành tựu quan trọng trong công cuộc khôi phục, cải tạo, phát triển kinh tế, văn hóa theo đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội và tiến hành thắng lợi các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
Đồng chí Lê Duẩn là đại biểu Quốc hội từ khoá II đến khoá VII.
Do những cống hiến to lớn của đồng chí Lê Duẩn, Đảng và Nhà nước ta đã tặng đồng chí Huân chương Sao Vàng. Các nước Liên Xô, Lào, Campuchia, Ba Lan, Bungari, Cu Ba, Cộng hòa Dân chủ Đức, Hunggari, Mông Cổ, Tiệp Khắc đã tặng đồng chí nhiều huân chương cao quý. Ủy ban giải thưởng quốc tế Lênin tặng đồng chí giải thưởng “Vì sự nghiệp củng cố hoà bình giữa các dân tộc”.
phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới đã và đang đặt ra nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp, trong đó sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam giữ vai trò rất quan trọng. Đại hội XIII của Đảng xác định “Phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam”(1). Sức mạnh mềm là sức mạnh nội sinh, có ý nghĩa góp phần quyết định đến tăng cường tiềm lực và sức mạnh tổng hợp của quốc gia.
Chiến lược đúng đắn để thúc đẩy đất nước phát triển
Sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam là khả năng huy động, phát huy những giá trị văn hóa vật chất, tinh thần của dân tộc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; lan tỏa các giá trị văn hóa dân tộc Việt Nam đến các quốc gia trên thế giới, đồng thời tăng cường uy tín, vị thế của dân tộc Việt Nam trong các quan hệ quốc tế. Sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam bao gồm sức mạnh của những giá trị văn hóa tinh thần và sức mạnh của những giá trị văn hóa vật thể. Những giá trị văn hóa tinh thần được thể hiện rất phong phú, đa dạng như lòng yêu nước, truyền thống đoàn kết cộng đồng, sẵn sàng sẻ chia, giúp đỡ lẫn nhau, ý chí quật cường, tinh thần kiên quyết đấu tranh giành độc lập dân tộc, tinh thần yêu chuộng hòa bình, lòng nhân nghĩa, hòa hiếu, khoan dung... Những giá trị văn hóa tinh thần không những tạo nên nét đặc sắc của văn hóa dân tộc, hun đúc nên bản lĩnh Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước. Sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam còn được thể hiện ở những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc, phản ánh những nét độc đáo về giá trị tinh thần của người Việt qua các thời đại. Với bề dày lịch sử, cùng với vị trí địa lý đặc biệt, Việt Nam có nhiều di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh độc đáo, tạo nên một đất nước Việt Nam có nền văn hóa đa dạng, giàu bản sắc và luôn tiếp thu có chọn lọc những giá trị văn hóa chung của nhân loại.
Trong xu thế phát triển hiện nay, ngày càng có nhiều quốc gia coi trọng chiến lược phát huy sức mạnh mềm của văn hóa. Với lợi thế của một nền văn hóa có nhiều nét độc đáo, mang lại nhiều ấn tượng tốt đẹp đối với bạn bè quốc tế, việc phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam là một chiến lược đúng đắn để thực hiện các mục tiêu xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới. Vì vậy, xây dựng, phát triển văn hóa luôn được Đảng xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, là một trong những động lực để phát triển kinh tế-xã hội. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Xây dựng, phát huy yếu tố văn hóa để thực sự là đột phá phát triển kinh tế-xã hội, hội nhập quốc tế”(2). Sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam được coi là một trong những sức mạnh nội tại đặc biệt. Năm 2007, khi Giáo sư Joseph Nye, tác giả của học thuyết “Sức mạnh mềm” đến Việt Nam, đã nhận định rằng, những điểm làm nên sức hấp dẫn nhất của sức mạnh mềm Việt Nam hiện nay là tinh thần tự chủ, độc lập dân tộc, chính sách phát triển kinh tế và nền văn hóa, trong đó văn hóa của Việt Nam luôn hấp dẫn và có sức lôi cuốn các nước phương Tây.
Trong lịch sử, dân tộc Việt Nam phải thường xuyên đương đầu với các cuộc chiến tranh xâm lược của các cường quốc trong khu vực và thế giới. Để giữ vững nền độc lập dân tộc, cha ông ta đã tìm ra nhiều cách thức phù hợp và hiệu quả, trong đó, sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam đã được sử dụng như một “bảo bối” để bảo vệ đất nước, duy trì nền độc lập dân tộc trước sự xâm lăng của các cường quốc.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần tạo ra sức mạnh nội sinh, động lực thúc đẩy đất nước phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Tuy vậy, nhìn nhận một cách nghiêm túc, việc phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam vẫn chưa mang lại hiệu quả như kỳ vọng, chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của văn hóa dân tộc.
Khai thác, phát huy tối đa sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam
Trong những năm tới, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tiếp tục phát triển mạnh mẽ, tác động sâu rộng đến mọi quốc gia, dân tộc. Các quốc gia ngày càng mở rộng quan hệ hợp tác toàn diện, tăng cường khai thác và phát huy tối đa các sức mạnh mềm, nhất là lợi thế về sức mạnh mềm của văn hóa, nhằm tạo ra sức mạnh nội lực, sức lôi cuốn, hấp dẫn đối với các quốc gia khác nhằm đạt được mục tiêu, lợi ích của mình. Sở dĩ nhiều nước phát triển, nhất là một số nước châu Á có nhiều nét lịch sử văn hóa tương đồng với nước ta đã phát triển một cách thần kỳ, ngoạn mục trong những thập niên gần đây như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc..., bởi các quốc gia này luôn coi trọng yếu tố văn hóa, coi văn hóa dân tộc nói chung, ngành công nghiệp văn hóa nói riêng là chiếc cầu nối gần gũi nhất, phương tiện quảng bá sức mạnh, vị thế, hình ảnh dân tộc hữu hiệu đến với bạn bè thế giới.
Văn hóa biểu hiện sức sống, sức sáng tạo, sức mạnh tiềm tàng của quốc gia, dân tộc; đồng thời là cốt cách, vị thế, tầm vóc của cả cộng đồng dân tộc. Để hoàn thành các mục tiêu cả trước mắt và lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng đã xác định, chúng ta cần phải phát huy mạnh mẽ và toàn diện những tiềm năng, lợi thế sẵn có của đất nước, trong đó phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam.
Muốn vậy, giải pháp đầu tiên là cụ thể hóa chủ trương, đường lối, chiến lược về phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn và tiếp thu kinh nghiệm của các nước trên thế giới, tiếp tục hoàn thiện chủ trương, đường lối về phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam phù hợp với các thế mạnh của dân tộc trong bối cảnh mới. Bên cạnh đó, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về văn hóa; rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch, kế hoạch phát triển văn hóa phù hợp với thực tiễn và yêu cầu phát triển đất nước. Trước mắt, chú trọng hoàn thành việc xây dựng hệ giá trị quốc gia, với những giá trị cốt lõi, định hình bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam, phù hợp với thực tiễn mới của thời đại.
Theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tính đến tháng 12-2021, cả nước ta có 166 bảo tàng với hơn 3 triệu hiện vật; 3.486 di tích được xếp hạng quốc gia, trong đó có 105 di tích quốc gia đặc biệt, 288 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, 27 di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Đây là những giá trị văn hóa được kết tinh, lưu truyền từ hàng nghìn năm qua. Do vậy, cần chọn lọc những giá trị văn hóa đặc sắc của Việt Nam để quảng bá ra thế giới, qua đó góp phần nâng cao hình ảnh, vị thế đất nước trên trường quốc tế.
Một việc làm cần thiết hiện nay là chú trọng khôi phục, đẩy mạnh các hoạt động du lịch để truyền thông, quảng bá các giá trị văn hóa Việt Nam ra toàn thế giới, qua đó khẳng định Việt Nam là điểm đến an toàn, thân thiện, hấp dẫn. Cùng với đó, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp, chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa. Tập trung đầu tư phát triển có trọng điểm một số ngành công nghiệp văn hóa mà Việt Nam có lợi thế, nhất là các ngành: Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm, quảng cáo; “phấn đấu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP; mức tăng trưởng giá trị gia tăng hằng năm trung bình đạt 7%” như Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 12-11-2021.
Sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam là một thành tố cốt lõi cấu thành nên sức mạnh tổng hợp quốc gia, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quan hệ quốc tế, trong thời đại toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. Với lợi thế của một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, đa dạng, độc đáo và hấp dẫn, Việt Nam có đủ các điều kiện phát huy sức mạnh mềm của văn hóa, nhằm xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, đủ sức “sánh vai với các cường quốc năm châu” như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn.
TIẾP TỤC ĐẤU TRANH
CHỐNG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN TÁCH RỜI, ĐỐI LẬP TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỚI CHỦ NGHĨA MÁC
- LÊ-NIN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG VÀ PHẦN TỬ CƠ HỘI CHÍNH TRỊ
Lâu nay, để tiến hành
chiến lược “diễn biến hòa bình” - “cuộc chiến tranh không khói súng”, “khâu đột
phá” mà các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị thường sử
dụng là tấn công trên mặt trận tư tưởng. Việc đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với
chủ nghĩa Mác - Lê-nin là một thủ đoạn nhằm phủ định đường lối và vai trò lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kích động bạo loạn lật đổ để thay đổi thể chế
chính trị hiện hành ở nước ta. Chừng nào chưa đạt được mục đích của mình, các
thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị sẽ còn chống phá bằng các
hình thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp hơn. Để bảo vệ nền tảng tư
tưởng của Đảng, chúng ta phải mài sắc vũ khí lý luận để đấu tranh chống lại các
quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị nói chung và âm mưu, thủ đoạn
đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin nói riêng. Theo đó, cần
tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:
Một là, nâng cao nhận thức cho toàn
Đảng, toàn dân về mối quan hệ biện chứng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa
Mác - Lê-nin, về động cơ đen tối của các thế lực thù địch, phản động và phần tử
cơ hội chính trị khi phủ nhận mối quan hệ này. Cần làm cho cán bộ, đảng viên và
nhân dân hiểu rõ rằng, mối quan hệ giữa chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ
Chí Minh là mối quan hệ giữa cội nguồn và phát triển, giữa cái chung và cái đặc
thù nên “tuy hai mà là một, tuy một mà là hai”. Vì thế, không thể tách rời, đối
lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, cũng không thể lấy tư
tưởng Hồ Chí Minh để thay thế cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin và ngược lại. Cho dù
tư tưởng Hồ Chí Minh có nhiều điểm sáng tạo, nhưng lại thống nhất với chủ nghĩa
Mác - Lê-nin ở chiều sâu bản chất, ở lý tưởng giải phóng con người... Việc các
thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị mưu toan tách rời tư
tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, cố tình lờ đi mối quan hệ biện
chứng giữa hai hệ thống tư tưởng, lý luận này không phải là do chưa có đủ thông
tin hay chưa có phương pháp nghiên cứu phù hợp, mà là sự chủ ý xuyên tạc, bịa
đặt và lừa bịp nhằm thực hiện “diễn biến hòa bình” và thúc đẩy “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Hai là, đẩy mạnh công tác giáo dục, bồi dưỡng lý
luận chính trị để cán bộ, đảng viên hiểu rõ nội dung, bản chất khoa học, cách
mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong những
năm tháng đất nước bị chia cắt, kẻ thù đế quốc từng dùng “trăm phương ngàn kế”
để ly gián nhân dân miền Nam với Bác Hồ, với Đảng, với miền Bắc xã hội chủ
nghĩa nhưng đều bị thất bại trước ý chí sắt đá của nhân dân ta: “Dù ai nói ngả,
nói nghiêng/ Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân/ Dù ai rào giậu, ngăn sân/ Lòng
ta vẫn vững là dân Bác Hồ”. Lúc này cũng vậy, nếu cán bộ và nhân dân đều thấu
hiểu, thấu cảm giá trị đích thực, sức sống thời đại của chủ nghĩa Mác - Lê-nin
và tư tưởng Hồ Chí Minh thì mọi sự xuyên tạc sẽ trở nên vô nghĩa. Do đó, cần
tập trung thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9-2-2018, của Ban Bí
thư, “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu,
vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình
hình mới”. Làm tốt công tác giáo dục lý luận chính trị, đẩy lùi căn bệnh lười
học lý luận chính trị ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, tích cực bồi đắp tri
thức khoa học cho cán bộ, đảng viên và nhân dân chính là tạo “vắc-xin” phòng,
chống sự xâm nhập của các luồng thông tin xấu, độc, các quan điểm sai trái, thù
địch.
Ba là, xây dựng đội quân tinh nhuệ tác chiến mặt
trận tư tưởng lý luận là các chuyên gia giỏi, am hiểu về lý luận
chính trị để đấu tranh trực diện với những âm mưu, thủ đoạn, những luận điệu
xuyên tạc của các thế lực thù địch. Các chuyên gia khi tham gia vào trận chiến
trên mặt trận đấu tranh tư tưởng phải có thái độ vừa mạnh mẽ, điềm tĩnh, vừa
kiên quyết, kiên trì; mọi lập luận đưa ra phải đạt tới mức tinh thông, sắc bén
về lý luận, phong phú, sinh động về thực tiễn. Theo đó, cần thường xuyên và kịp
thời cung cấp thông tin cho lực lượng này và tổ chức các buổi tọa đàm, trao đổi
kinh nghiệm với các cơ quan chức năng, lực lượng nòng cốt về đấu tranh trên không
gian mạng để họ trở thành những chiến sĩ thực thụ trên mặt trận đấu tranh tư
tưởng.
Việt Nam hỗ trợ Philippines khắc phục hậu quả bão Rai
Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, chiều 1-4, tại trụ sở Bộ Ngoại giao, Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Minh Hằng đã trao tượng trưng 200 tấn gạo là quà của Chính phủ và nhân dân Việt Nam gửi tặng Chính phủ và nhân dân Philippines để hỗ trợ khắc phục hậu quả bão Rai.
Thủ đô Hà Nội và Thủ đô Viêng Chăn (Lào) đẩy mạnh hợp tác trên nhiều lĩnh vực
Ngày 4-4, trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc tại Cộng hòa Dân chủ nhân dân (CHDCND) Lào từ ngày 3 đến ngày 5-4 theo lời mời của đồng chí Anouphap Tounalom, Bí thư Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND Thủ đô Viêng Chăn (Lào); đoàn đại biểu cấp cao Thủ đô Hà Nội do đồng chí Đinh Tiến Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội thành phố làm trưởng đoàn đã có cuộc hội đàm với đoàn đại biểu cấp cao Thủ đô Viêng Chăn.
Trân quý nét văn hóa Bộ đội Cụ Hồ
Trải qua gần 78 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã xây đắp, kết tinh nên tinh thần yêu nước, thương dân, vì dân, ý chí dũng cảm quật cường để tô thắm những trang lịch sử bằng vàng của dân tộc!
Từ trong hiểm nguy, gian
khổ các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã để lại những biểu
tượng cao đẹp, nét văn hóa độc đáo về hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ bằng những tấm
gương anh dũng, đức hy sinh thông qua những hành động, việc làm ý nghĩa thiết
thực.
Trải qua lịch sử hàng nghìn năm của dân
tộc Việt Nam, ở bất cứ thời kỳ nào thì cái thiêng liêng cao cả nhất vẫn là sự
quyết tâm giữ vững chủ quyền Tổ quốc, là sự hy sinh của người lính để bảo vệ
nhân dân, bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc. Các áng văn chương từ xa xưa tới
nay đã viết rất hay, sâu sắc, thấm thía về đề tài người lính, với những hình
ảnh hiên ngang hy sinh thân mình để vì sự bình yên của Tổ quốc Việt Nam...
Dân tộc Việt Nam vốn đất
không rộng, người không đông lại thường xuyên đối mặt với thiên tai, giặc giã.
Và mỗi khi đất nước bị xâm lăng hay đồng bào gặp thiên tai hỏa hoạn, những
người lính Cụ Hồ luôn sát cánh cùng nhân dân chống kẻ thù chung. Điều này góp
phần tạo ra một nét bản sắc của tâm hồn Việt Nam là giàu yêu thương và rất đỗi
anh hùng.
Ngày nay, hình tượng Bộ đội Cụ Hồ là sự
học tập, kế thừa, kết tinh, phát triển và nâng cao giá trị con người Việt Nam
truyền thống từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Trong những năm tháng
chiến tranh ác liệt, đã có không biết bao chiến sĩ sẵn sàng hy sinh thân mình
để chiến đấu với kẻ thù, bảo vệ Tổ quốc. Sinh ra từ nhân dân, lớn lên từ khói
lửa chiến tranh, thiên tai địch họa, thời nay, Bộ đội Cụ Hồ phát huy cao nhất
lý tưởng “Trung với Đảng, hiếu với dân... Nhiệm vụ nào cũng hoàn
thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” để
luôn là tấm khiên và thanh bảo kiếm bảo vệ Tổ quốc.
Đất nước hòa bình, nhưng
ở nơi biên cương hải đảo có những cột mốc chủ quyền xây dựng bằng bê tông cốt
thép và có cả những cột mốc sống canh giữ từng phút giây yên bình của quê hương
đất nước. Những cột mốc sống ấy là những người lính biên phòng; những chiến sĩ
hải quân không quản khó khăn, hiểm nguy vững chắc tay súng bảo vệ vững chắc chủ
quyền biên cương, biển đảo Tổ quốc. Họ hy sinh tuổi trẻ và hy sinh cả tính mạng
vì sự bình yên Tổ quốc.
Trong cuộc chiến giữa thời bình, đối mặt
với thiên tai dịch bệnh, với tinh thần “Phía trước là nhân dân”, Bộ đội Cụ Hồ
luôn là lực lượng chủ lực trong việc tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, xử lý ô nhiễm
môi trường, phòng, chống dịch bệnh. Bất cứ nơi nào, dù xa xôi, khó khăn nhất,
có lũ cuốn, mưa nguồn, núi lở, rừng cháy... nơi đó bộ đội có mặt sớm nhất để
bảo vệ tính mạng, tài sản cho nhân dân. Nơi đồng bằng mưa bão ngập đồng, bộ đội
dầm mình gặt lúa giúp dân. Nơi vùng sâu, vùng xa, biên cương Tổ quốc, bộ đội
kéo điện sáng, bộ đội làm bác sĩ chữa bệnh, bộ đội làm thầy giáo dạy cho con
trẻ cái chữ, bộ đội tuyên truyền đường lối, chính sách, pháp luật...
Những con đường, những
ruộng lúa, nương ngô ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa nơi có các đơn vị quân
đội, đoàn kinh tế - quốc phòng đứng chân đều mang dấu ấn Bộ đội Cụ Hồ. Ở đâu có
bộ đội, ở đó bà con yên tâm. Bộ đội đã đem lại cuộc đời mới cho người dân nơi
hẻo lánh nhất! Nhiều doanh nghiệp lớn của quân đội tham gia xây dựng các công
trình kinh tế trọng điểm, có đơn vị vươn ra ngoài thế giới, góp phần làm ra của
cải, mang thu nhập về cho đất nước! Tham gia đội quân Gìn giữ hòa bình Liên hợp
quốc là những bác sĩ quân y, sĩ quan hậu cần, sĩ quan chỉ huy tham mưu... Họ
thay mặt đất nước mình tận tụy giúp đỡ, bảo vệ những người dân nghèo khổ nơi
châu Phi xa xôi đang cần sự chia sẻ của tình người...
Hơn 2 năm qua, từ
khi dịch Covid-19 bùng phát, với khẩu hiệu “Chống dịch như chống giặc”, Bộ đội
Cụ Hồ luôn xung kích đi đầu, có mặt tại các điểm nóng tâm dịch, trên tuyến biên
cương mây mù, gió bấc ngăn chặn không để các đối tượng xâm nhập trái phép vào
địa bàn. Trong cuộc chiến chống dịch Covid-19, bộ đội nhường chỗ ở, bộ đội làm
bác sĩ, y tá, hộ lý, bộ đội làm “bà nội trợ” đi chợ thay cho dân. Bộ đội sống
cùng dân, chia sẻ, giúp đỡ những công việc bình thường nhất...
Những hành động, việc
làm cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ đã để lại trong lòng nhân dân những ấn tượng không
bao giờ phai mờ. Đến bây giờ, vượt qua hoạn nạn, rất nhiều người dân luôn xem
bộ đội là ân nhân của mình. Bộ đội làm “bà đỡ” bất đắc dĩ trong các khu cách ly
giúp công dân “vượt cạn”, bộ đội nhường suất ăn cho công dân… Và còn đó, những
tấm gương cán bộ, chiến sĩ quên mình trong tham gia giúp nhân dân phòng, chống
dịch đã trở thành biểu tượng cao đẹp về lòng nhân ái, tinh thần quả cảm của Bộ
đội Cụ Hồ. “Vì nhân dân phục vụ. Vì nhân dân hy sinh!”. Đấy là mệnh lệnh của
trái tim người lính, là lẽ sống, lý tưởng. Đó là văn hóa cao đẹp của Bộ đội Cụ
Hồ!
Thiêng liêng danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ
Hồ, bộ đội của dân, do dân và vì dân. Đó là danh hiệu, danh xưng mà nhân dân
tôn vinh; là giá trị văn hóa độc đáo, sáng tạo, tiêu biểu trong dòng chảy văn
hóa Việt Nam ở thời đại Hồ Chí Minh, gắn liền với truyền thống, chiến công của
Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng./.
Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập sâu rộng, thực chất, hiệu quả
Kết luận phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu bằng mọi biện pháp giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn, quyết liệt thúc đẩy phục hồi nhanh, phát triển bền vững, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập sâu rộng, thực chất, hiệu quả.
Ngày 4/4,
Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3/2022.
Trong buổi sáng, Chính phủ tập trung thảo luận về tình hình triển khai kế hoạch
phát triển kinh tế-xã hội, dự toán ngân sách nhà nước, đầu tư công năm 2022;
tình hình kinh tế-xã hội tháng 3, quý I năm 2022 và những trọng tâm chỉ đạo
trong thời gian tới; báo cáo cập nhật kết quả thực hiện kế hoạch phát triển
kinh tế-xã hội, dự toán ngân sách nhà nước, kế hoạch đầu tư công năm 2021.
Nhiều lĩnh vực tăng trưởng nhanh nhất từ năm 2020 đến
nay
Các ý kiến
tại cuộc họp đánh giá, trong tháng 3 và quý I, bám sát chủ đề năm 2022 là
"Đoàn kết kỷ cương, chủ động thích ứng, an toàn hiệu quả, phục hồi phát
triển", các bộ, ban, ngành, địa phương tích cực triển khai các nhiệm vụ
trọng tâm thực hiện Nghị quyết 01, 02, Nghị quyết 11 về chương trình phục hồi
và phát triển kinh tế-xã hội, Nghị quyết 128 về thích ứng an toàn, linh hoạt,
kiểm soát hiệu quả dịch bệnh.
Trong quý
I/2022, Chính phủ đã tập trung chỉ đạo thực hiện "đa mục tiêu" gồm
tiếp tục kiểm soát dịch bệnh, thực hiện kiểm soát rủi ro, giảm số ca chuyển
nặng, tử vong, không để quá tải hệ thống y tế; thúc đẩy phục hồi nhanh, phát
triển kinh tế-xã hội bền vững, ổn định kinh tế vĩ mô, chăm lo an sinh xã hội;
bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội trước các diễn
biến phức tạp của tình hình thế giới… Lãnh đạo Chính phủ tăng cường công tác
thực tế tại cơ sở, thăm, khảo sát, làm việc nhằm gỡ những nút thắt quan trọng,
đưa ra các giải pháp mang tính đột phá phát triển kinh tế-xã hội địa phương.
Tình hình
kinh tế-xã hội quý I khởi sắc trên hầu hết các lĩnh vực, trong đó nhiều lĩnh
vực đạt mức tăng trưởng nhanh nhất tính từ năm 2020 đến nay, tiệm cận mức tăng
trước đại dịch. Kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì ổn định; lạm phát được kiểm
soát trong bối cảnh chịu nhiều sức ép, chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I
tăng 1,92%; các cân đối lớn, an ninh lương thực, năng lượng được bảo đảm.
Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,37%, tiếp tục là động lực tăng
trưởng của toàn nền kinh tế. Thu ngân sách nhà nước 460,6 nghìn tỷ đồng, đạt
32,6% dự toán, tăng 7,7% so cùng kỳ; chi ngân sách nhà nước 351,3 nghìn tỷ, đạt
23,4% dự toán.
Tăng trưởng
tín dụng của nền kinh tế đạt 4,03% (năm 2021 tăng 1,47%). Doanh nghiệp thành
lập mới, tái gia nhập thị trường quý I đạt kỷ lục 60.000 doanh nghiệp, gấp 3
lần cùng kỳ (riêng tháng 3, số doanh nghiêp thành lập mới tăng 96,3% với số vốn
đăng ký tăng 127,3%).
Vốn đầu tư
thực hiện toàn xã hội đạt kết quả tích cực với 562,2 nghìn tỷ đồng, tăng 8,9%,
là tín hiệu tích cực trong việc huy động và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư ngay từ
những tháng đầu năm. Vốn thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước đạt 76,3 nghìn
tỷ đồng, bằng 14,4% kế hoạch năm và tăng 10,6% so cùng kỳ. Vốn FDI thực hiện
đạt 4,42 tỷ USD, tăng 7,8%, đạt mức cao nhất so với quý I các năm từ 2018 đến
nay.
Sản xuất
nông, lâm nghiệp, thủy sản đạt kết quả tích cực. Năng suất lúa mùa tăng 7,4
tạ/ha. Chăn nuôi phục hồi tốt, sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý I các sản
phẩm chính (trâu, bò, lợn, gia cầm) đều tăng. Sản lượng thủy sản quý I tăng 2%;
nuôi trồng tăng 5,1%, đặc biệt các sản phẩm chủ lực như tôm thẻ chân trắng, cá
tra... được mùa, được giá.
Thương mại,
dịch vụ phục hồi tích cực, đặc biệt sôi động trong tháng 3, tổng mức bán lẻ
hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I tăng 4,4% so với cùng kỳ,
trong đó tháng 3 tăng 9,4%. Chuỗi cung ứng hàng hóa trong và ngoài nước dần
phục hồi. Hoạt động du lịch trên cả nước có dấu hiệu "ấm" trở lại,
khách quốc tế đạt gần 91.000 lượt người, tăng 89,1% so với cùng kỳ.
Hoạt động
xuất nhập khẩu phục hồi mạnh mẽ. Kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng 3 đạt
66,73 tỷ USD (tăng 36,8%); trong đó xuất khẩu tăng 45,5%. Quý I, tổng kim ngạch
xuất khẩu đạt 176,35 tỷ USD (tăng 14,4%), trong đó xuất khẩu tăng 12,9%, từ
nhập siêu 1,96 tỷ USD tính đến hết tháng 2 chuyển sang xuất siêu 809 triệu USD
trong quý I. Nhập khẩu chủ yếu là hàng hóa, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất.
Chúng ta
tiếp tục thúc đẩy mạnh mẽ đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ
số, phát triển các mô hình, hoạt động kinh doanh mới, thương mại điện tử… Việt
Nam cũng triển khai tốt công tác bảo hộ công dân, cơ bản hoàn thành công tác
đưa người Việt Nam từ Ukraine về nước theo nhu cầu.
Chính
phủ điều hành tích cực, quyết liệt, linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả
Kết luận về
nội dung này, Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ, tình hình, diễn biến tháng 3 và quý I có tác động rất
lớn tới việc thực hiện nhiệm vụ, giải pháp, mục tiêu đã đề ra. Tình hình ở
Ukraine ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội, chính trị, quốc phòng, an ninh trên toàn
cầu, tác động đến thị trường năng lượng, tài chính và cung cầu hàng hóa. Cạnh
tranh nước lớn tiếp tục diễn ra gay gắt. Giá nguyên liệu đầu vào trên thế giới,
chi phí logistics và lạm phát ở nhiều nước tăng cao.
Ở trong nước, tình hình dịch bệnh có những diễn biến phức tạp do các
biến chủng mới như Omicron, giá nguyên liệu và lạm phát trên thế giới gây áp
lực lớn. Nhiều vấn đề kinh tế-xã hội tồn đọng, kéo dài. Tình hình thiên tai,
mưa lũ có những diễn biến bất thường do tác động của biến đổi khí hậu. Tình
hình tội phạm kinh tế diễn biến phức tạp,
nhất là liên quan tới trái phiếu, chứng khoán, bất động sản.
Trước những
diễn biến mới phức tạp, đột xuất, bất ngờ, chúng ta vừa phải thực hiện các
nhiệm vụ thường xuyên; vừa phải khắc phục các hạn chế, bất cập trong thời gian
qua; vừa giải quyết các vấn đề tồn đọng, kéo dài liên quan tới các dự án, ngân
hàng yếu kém, các vụ án, kết luận thanh tra, kiểm tra; vừa phải xử lý các vấn
đề phát sinh do tình hình mới.
Chính phủ đã
bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước,
Nghị quyết của Quốc hội, triển khai các nhiệm vụ, giải pháp một cách tích cực,
quyết liệt, linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả. Nhờ đó, hầu hết các lĩnh vực đạt
được những chuyển biến rất tích cực, phục hồi mạnh mẽ.
GDP quý I
tăng 5,03%, cao hơn tốc độ tăng năm 2021 (4,72%) và năm 2020 (3,66%), dần tiệm
cận năm 2019 (6,85%). Trong bối cảnh sức ép lạm phát trong và ngoài nước rất
lớn, kinh tế vĩ mô ổn định; chính sách tài khóa, tiền tệ được phối hợp hài hòa,
hợp lý, hiệu quả; dự trữ ngoại tệ tăng; lãi suất giảm nhưng tín dụng tăng
trưởng; phí và lệ phí giảm nhưng thu ngân sách tăng.
Các cân đối
lớn được bảo đảm (thu đủ chi và vượt dự toán 33%; xuất đủ nhập và xuất siêu 809
triệu USD; cân đối lớn về điện được bảo đảm; lương thực, thực phẩm cơ bản ổn
định và có xuất khẩu tăng trưởng khá; thị trường lao động phục hồi rất nhanh và
đã cơ bản phục hồi).
Công tác an
sinh xã hội được triển khai nhanh, làm ngày càng tốt hơn, độ bao phủ an sinh
ngày càng lớn, bảo đảm không có ai thiếu ăn, thiếu mặc, nhất là trong dịp giáp
hạt, dịp Tết.
Độc lập chủ
quyền, toàn vẹn lãnh thổ, ổn định chính trị, an ninh trật tự an toàn xã hội
được giữ vững; đối ngoại được củng cố và tăng cường, tích cực hội nhập sâu
rộng, thực chất, hiệu quả.
Tình hình
dịch bệnh vẫn được kiểm soát trên phạm vi toàn quốc, số ca mắc mới, chuyển
nặng, tử vong có xu hướng giảm nhanh, giảm sâu từ cuối tháng 3. Chúng ta cũng
làm tương đối tốt việc điều chỉnh các biện pháp phòng chống dịch theo tình
hình, đẩy mạnh kiểm soát dịch bệnh theo rủi ro.
Lòng tin của
người dân và doanh nghiệp với Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các cấp chính quyền
tăng lên; bạn bè, đối tác quốc tế, nhà đầu tư đồng tình, ủng hộ, chia sẻ, đánh
giá tích cực về Việt Nam.
Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ
có ý nghĩa hết sức quan trọng
Thủ tướng
nêu rõ, vượt qua những khó khăn, thách thức, đạt được những kết quả như trên là
nhờ bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng
đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; sự nỗ lực, cố gắng của Chính phủ, các
thành viên Chính phủ, các cấp chính quyền trong tổ chức thực hiện, triển khai
các nhiệm vụ, giải pháp theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; sự phối hợp chặt
chẽ giữa các cơ quan chính quyền và giữa Chính phủ với Quốc hội; sự vào cuộc
của cả hệ thống chính trị, sự đồng tình, ủng hộ của người dân và doanh nghiệp,
bạn bè, đối tác quốc tế.
Cùng với đó,
phải giữ vững đoàn kết, thống nhất, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính,
kiên định các vấn đề mang tính nguyên tắc nhưng linh hoạt, sáng tạo trong chỉ
đạo, điều hành, giải quyết các vấn đề cụ thể. Các bộ, ngành, cơ quan, địa phương,
nhất là người đứng đầu, phải tích cực, chủ động hơn nữa trong thực hiện chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn, bám sát, căn cứ tình hình để xử lý hiệu quả các vấn
đề phát sinh.
Đồng thời,
phải đẩy mạnh hơn nữa công tác cải cách hành chính; giữ vững độc lập, chủ
quyền, toàn vẹn lãnh thổ, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Thủ
tướng yêu cầu tập trung giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô
Dự báo sắp
tới tình hình sẽ tiếp tục có thuận lợi, cơ hội, khó khăn, thách thức đan xen
nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn cơ hội và thuận lợi, cơ bản đồng tình với
các nhiệm vụ, giải pháp được nêu tại phiên họp, Thủ tướng nhấn mạnh thêm một số
nội dung lớn.
Trước hết,
tập trung giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô bằng mọi biện pháp; bám sát tình hình,
diễn biến thị trường trong và ngoài nước để bảo đảm các cân đối lớn, không để
bị động, bất ngờ. Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban Quản lý vốn nhà
nước tại doanh nghiệp, cùng các cơ quan liên quan phải phối hợp chặt chẽ, đồng
bộ để thực hiện mục tiêu này.
Bảo vệ vững
chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ trong bất cứ hoàn cảnh nào, đồng
thời giữ vững ổn định chính trị, trật tự xã hội, an ninh, an toàn, an dân để
người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư yên tâm sinh sống, làm việc, mở rộng sản
xuất kinh doanh.
Củng cố đoàn
kết, thống nhất trong nội bộ; tiếp tục quyết liệt hơn nữa trong giải quyết các
vấn đề tồn đọng, kéo dài; siết chặt kỷ luật kỷ cương hành chính, đẩy mạnh cải
cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh.
Kiên trì,
kiên quyết thực hiện đường lối đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn bè
tốt, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng
đồng quốc tế, hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả và thực chất vì mục tiêu giữ
gìn môi trường hòa bình, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới, tranh
thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ.
Về nhiệm vụ cụ thể, Thủ tướng nêu rõ các bộ trưởng, trưởng ngành, thủ
trưởng cơ quan ngang bộ cần tập trung đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, giải
ngân vốn ODA. Việc này trong quý I vừa qua chưa có cải thiện đáng kể. Tiếp tục
rà soát, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về thể chế, cơ chế, chính sách đầu tư
công. Đầu tư công phải dứt khoát không manh mún, chia cắt, dàn trải, kéo dài,
làm mất thời gian, tăng thủ tục hành chính, giảm hiệu quả đầu tư. Thủ tướng
cũng đề nghị các cơ quan thông tấn, báo chí vào cuộc tích cực, mạnh mẽ hơn về
nội dung này.
Cùng với đó,
chỉ đạo quyết liệt triển khai các chương trình phục hồi nhanh, phát triển bền
vững theo các Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ. Tập trung xây dựng các quy
hoạch theo Luật Quy hoạch, đồng thời khẩn trương rà soát, tổng hợp các vướng
mắc, ách tắc để báo cáo đầy đủ, toàn diện với Quốc hội, đề xuất sửa đổi, bổ
sung.
Các bộ,
ngành theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn phải chuẩn bị sẵn sàng các kịch bản
ứng phó với những ảnh hưởng, tác động bởi xung đột tại Ukraine, báo cáo cấp có
thẩm quyền khi cần thiết.
Hoan nghênh
Bộ Công an vừa qua đã vào cuộc chủ động, mạnh mẽ, Thủ tướng yêu cầu các cấp,
các ngành cần quyết liệt hơn nữa trong đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu
cực, nhất là trong lĩnh vực phát hành trái phiếu, chứng khoán, bất động sản;
đồng thời tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra, ngăn chặn, phát hiện các vi
phạm và vướng mắc về thể chế, cơ chế, chính sách để sửa đổi, bổ sung.
Đánh giá bổ sung năm 2021 với nhiều kết quả tích cực
hơn
Cũng tại
phiên họp, Chính phủ đã thảo luận về báo cáo đánh giá bổ sung kết quả thực hiện
kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, dự toán ngân sách nhà nước, kế hoạch đầu tư
công năm 2021. Tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XV (tháng 10/2021), Chính phủ đã
có báo cáo Quốc hội vấn đề này.
Sau khi có
đầy đủ thông tin của năm 2021, Báo cáo bổ sung, đánh giá lại cho thấy nhiều
điểm tích cực trên các lĩnh vực. Nổi bật là lạm phát được kiểm soát ở mức thấp
(CPI bình quân cả năm chỉ tăng 1,84%, thấp nhất kể từ năm 2016, số đã báo cáo
Quốc hội là dưới 4%); thu ngân sách nhà nước đạt kết quả tích cực (tăng gần
202,9 nghìn tỷ đồng so với số đã báo cáo); xuất siêu đạt hơn 4 tỷ USD (số đã
báo cáo là nhập siêu khoảng 2 tỷ USD); thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) tăng
trưởng cao 25,2% (số đã báo cáo là giảm 0,2-3,4%)... Tuy nhiên, một số chỉ tiêu
giảm so với báo cáo quốc hội như GDP chỉ tăng 2,58% (thấp hơn số đã báo cáo là
3-3,5%)…
Thủ tướng
Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính thừa ủy quyền Thủ
tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội
theo quy định; làm rõ những nội dung, số liệu thay đổi so với đã báo cáo; phân
tích rõ nguyên nhân.
Không thể xuyên tạc hình tượng cao quý
Mặc dù các thế lực thù địch ra sức chống phá, xuyên tạc, bôi nhọ, hạ bệ, nhưng thực tế cho thấy: Bộ đội Cụ Hồ mãi là danh xưng bình dị, gần gũi mà cao quý; giá trị phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ vẫn đặc biệt thiêng liêng, mãi trường tồn theo thời gian.
GÓC CẢNH GIÁC: GIẢ MẠO TÀI KHOẢN ZALO, FACEBOOK ĐỂ LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Hiện nay, xuất hiện các đối tượng sử dụng thông tin cá nhân, tên, hình ảnh của các đồng chí Lãnh đạo huyện, xã, thị trấn … lập Zalo, Facebook mạo danh để kết bạn, nhắn tin vay mượn tiền của bạn bè, người thân, đồng nghiệp, cấp dưới,… rồi thực hiện hành vi chiếm đoạt. Đây là thủ đoạn mới của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng.
VÌ NƯỚC TIẾN CỬ NGƯỜI HIỀN Mượn tích xưa, chuyện hiền nhân chọn người tài để răn chuyện nay...
Chuyện xưa, Đại Việt sử lược ghi lại rằng, khi vua Cao Tông được
7 tuổi, Thái phó Tô Hiến Thành lâm trọng bệnh, mọi việc lúc này dồn lên quan
gián nghị đại phu Trần Trung Tá. Là người tài năng đức độ, lại lo cho công việc
nên Trần Trung Tá ít có thời gian thăm nom Tô Hiến Thành. Trong khi đó, quan
tham tri chính sự Vũ Tán Đường lại ngày đêm túc trực, hầu hạ, cơm nước, thuốc
thang, tỏ ra lo lắng cho bệnh tình của ông.
Nhận thấy Tô Hiến Thành tuổi già sức yếu khó qua khỏi, Đỗ Thái
hậu (mẹ vua Lý Cao Tông) tới thăm và hỏi rằng nếu ông có mệnh hệ gì thì ai có
thể thay ông được. Tô Hiến Thành không chút do dự trả lời: “Người thay thế thần
chỉ có thể là Trần Trung Tá!”
Thái hậu ngạc nhiên, hỏi: “Tán Đường ngày ngày hầu hạ, thuốc
thang cho ông, sao ông không tiến cử? Trần Trung Tá luôn thờ ơ với ông, sao ông
lại ưa chuộng làm vậy?”
Tô Hiến Thành rành rẽ đáp từ: “Nếu Thái hậu hỏi người lo việc
đại sự quốc gia, thần cử Trần Trung Tá. Nếu cần người phục dịch cơm nước, thuốc
thang, thì ngoài Võ Tán Đường, chẳng còn ai hơn được!”.
Từ câu
chuyện nhỏ, sáng rõ hơn đức chính trực, thẳng ngay của Thái phó Tô Hiến Thành,
khi ông chẳng vì vị nể, riêng tư, vì ơn riêng mà chọn kẻ nịnh hót, cơ hội, gạt
đi người đức, người tài.
Mượn
tích xưa, chuyện hiền nhân chọn người tài để răn chuyện nay, khi có nơi, có
chỗ, những người dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm với động cơ
trong sáng, vì lợi ích chung bị “bỏ quên”, hoặc “vô hiệu hóa”; trong khi, không
ít kẻ nịnh hót, cơ hội, ngọt ngon “cửa trước”, nham hiểm “cửa sau” vẫn được
trọng dụng, cất nhắc, tin dùng. Đó đây, ở cơ quan này, đơn vị nọ, công tác cán
bộ có “tiếng” là khâu then chốt, nhưng vì “lợi ích nhóm”, những mối quan hệ
ngoài luồng, thân quen… đã tác động vào các khâu, các bước trong quy trình.
“Con sâu làm rầu nồi canh”, đã có hiện tượng tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, địa
phương cố tình tạo ra cơ chế, chủ trương, chính sách về công tác cán bộ trái
với quy định chung của Đảng, Nhà nước. Từ việc nới lỏng các tiêu chuẩn, điều
kiện bổ nhiệm, đề bạt, nâng lương, chuyển ngạch, điều kiện tiếp nhận đến việc
mở rộng đối tượng luân chuyển, bố trí công tác, đi học, đi đào tạo ở nước
ngoài,…tạo kẽ hở cho người thân quen, “cánh hẩu”, người cùng “chí hướng” có thể
đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn, điều kiện đó, đạt được mục đích. Vì “lợi ích
nhóm”, họ sẵn sàng đưa những cán bộ, đảng viên không đủ tiêu chí vào các vị trí
lãnh đạo; bố trí cán bộ không vì năng lực, vì công việc mà vì thân quen, đến
khi bị phát hiện, hoặc gây hậu quả nghiêm trọng thì “lớn tiếng” ngụy biện rằng:
Tập thể cấp ủy, lãnh đạo đã triển khai “dân chủ”, “đúng quy trình”, “đúng
nguyên tắc”, “minh bạch”, “công khai.v.v.. Điều này đã được Tổng Bí thư, Chủ
tịch nước Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Tại sao có hiện tượng đề bạt, cất nhắc
người nhà, người thân quen mặc dù không đủ tiêu chuẩn? Vì sao cứ nói bổ nhiệm
đúng quy trình, nhưng kết quả thực tế bố trí cán bộ lại sai?”
Ngẫm ra, để công tác cán bộ thực sự là khâu then chốt, để việc
tuyển chọn cán bộ, sử dụng cán bộ thực sự chọn lựa được người tài năng, đức độ
không chỉ cần có một quy trình chặt chẽ, quy củ, bài bản, mà hơn cả, mỗi cá
nhân, nhất là người lãnh đạo, người đứng đầu, cần có tâm trong sáng, đức hy
sinh, không vì tình riêng, cá nhân, “lợi ích nhóm” mà quên đi lợi ích chung của
đất nước, tập thể.
Câu chuyện nhỏ về Thái phó Tô Hiến Thành, nghìn năm sau vẫn vang
lời nhắc nhở hậu thế, rằng “Chí công vô tư” “Vì nước tiến cử người hiền”./.
NGHỆ THUẬT DÙNG NGƯỜI VÀ XÂY DỰNG TÌNH ĐOÀN KẾT CỦA NGƯỜI XƯA
Cổ nhân có câu: “Dụng nhân như
dụng mộc”, ngụ ý rằng, việc dùng người không chỉ dừng lại ở việc
bố trí đủ số lượng, đủ chỗ, đủ ghế, mà là cả một nghệ thuật. Có
thể ví việc dùng người là bộ môn “Nghệ thuật sắp đặt” và còn hơn
thế nữa. Việc sử dụng người vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật,
giống như một người thợ mộc giỏi phải biết lựa chọn từng loại gỗ
phù hợp để gia công, chế tác ra sản phẩm của mình, vừa đảm bảo
chất lượng, vừa tiết kiệm nguyên vật liệu và cuối cùng sản phẩm ấy
phải có tính thẩm mỹ và giá trị sử dụng cao. Không ai mang gỗ tạp ra
làm kèo, làm cột và ngược lại không thể dùng gỗ quý hiếm ra làm
chuồng trại, cọc rào. Nếu một người thợ mộc không phân biệt được
các loại gỗ để sử dụng phù hợp thì anh ta khó có thể sống được với
nghề. Và, các nhà quản lý được hiểu như những người làm nghệ thuật chuyên
sâu về lĩnh vực “con người”, là những người luôn am hiểu “thuật dùng người”…
Thời nhà Trần, hào khí Đông-A vang vọng đến hôm nay và
mãi mãi về sau với chiến công 3 lần đại thắng Nguyên - Mông, gắn liền
với sự nghiệp lẫy lừng của Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn,
thường được gọi là Trần Hưng Đạo, sinh năm 1228, mất năm 1300, một vị
anh hùng dân tộc được nhân dân phong Thánh (Đức Thánh Trần). Trần Hưng
Đạo không chỉ là người văn võ song toàn mà còn là một người trung
nghĩa, đức độ. Đối với vua, ông tuyệt đối giữ chữ Trung; đối với
dòng họ Trần, ông giữ mối đoàn kết gắn bó; đối với tướng sỹ, ông
nặng tình cha con; đối với trăm họ, ông lấy khoan dân làm gốc; đối
vận mệnh quốc gia, ông sẵn sàng hy sinh với tinh thần “…Dẫu cho trăm
thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng
vui lòng…” (Hịch tướng sỹ - Trần Quốc Tuấn).
Một trong những điều mà người đương thời và hậu thế tôn
sùng Đức Thánh Trần đó là người biết đại cuộc và luôn lấy đại
cuộc làm trọng, quyết hy sinh lợi ích bản thân, gia đình cho giang sơn
Đại Việt, cho an nguy của trăm họ. Đặc biệt, ở Trần Hưng Đạo luôn
toát lên vẻ bao dung, rộng lượng của một vị tướng đại tài, đứng lên
trên những hiềm khích cá nhân để xây dựng mối đoàn kết nội tộc,
đoàn kết tướng sỹ, để một lòng phò vua giúp nước, dẹp giặc, an dân.
Ai
cũng biết, trong giai đoạn đầu của vương triều nhà Trần, nội bộ
hoàng tộc tồn tại một mối hiềm khích khó có thể hoá giải giữa gia
đình Trần Liễu (cha của Trần Quốc Tuấn) với gia đình Trần Cảnh (em
ruột của Trần Liễu, tức vua Trần Thái Tông, cha ruột Trần Quang
Khải), do đã xảy ra sự việc cưỡng hôn: Trần Thủ Độ đã ép Trần Liễu
nhường vợ là công chúa Lý Thuận Thiên (chị của bà Lý Chiêu Hoàng là
vị vua cuối cùng của triều Lý, là vợ của Trần Cảnh) cho Trần Cảnh.
Mối bất hoà này như đóm than âm ỉ cháy trong nội bộ nhà Trần. Do
đó, trong một thời gian dài, hai chi họ Trần luôn luôn đề phòng lần
nhau, trong đó người mà phía Trần Thái Tông, Trần Quang Khải lo lắng,
bất an nhất không phải ai khác mà chính là Trần Quốc Tuấn.
Sử cũ ghi lại: Giữa Trần Quốc Tuấn và Trần Quang Khải
có hiềm khích từ đời trước, nên hai người không ưa gì nhau. Khi đó,
trong triều Quốc Tuấn và Quang Khải là bậc kỳ, nắm giữ chức vụ và
quyền hành rất lớn, nên mối quan hệ của họ có ảnh hưởng đến sự an
nguy của vương triều và thiên hạ Đại Việt. Bấy giờ, quân Nguyên chuẩn
bị kéo sang xâm chiếm Đại Việt, trước tình hình quân giặc mạnh, thế
nước lâm nguy, Trần Quốc Tuấn đã tự bỏ qua hiềm khích cá nhân, chủ động
giao hoà với Trần Quang Khải để thống nhất ý chí chống giặc. Sử xưa kể
rằng: Một hôm, tại bến Đông, Quốc Tuấn chủ động mời Thái sư Trần Quang Khải
sang thuyền mình trò chuyện, chơi cờ và sai tâm phúc nấu nước thơm, tự mình
tắm rửa cho Quang Khải... Chính hành động này của Quốc Tuấn đã dẹp tan
mối nghi kỵ, bất hoà trong nội bộ vương triều Trần, củng cố sức
mạnh trong nước để dồn sức đánh giặc ngoại xâm.
Nhiều sử gia, học giả khi luận giải nguyên nhân 3 lần
đánh thắng quân Nguyên-Mông của quân dân nhà Trần, đều có chung nhận
định: Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất đưa lại thắng lợi ấy
chính là có sự đoàn kết, đồng lòng của vua tôi nhà Trần; sự tài
trí, mưu lược, quả cảm của tướng sỹ, mà đứng đầu là Trần Quốc
Tuấn, đó là lòng trung thành tuyệt đối của Quốc Tuấn với vương
triều nhà Trần và ý thức xây dựng sự đoàn kết nội bộ để tạo nên
sức mạnh chống giặc.
Từ cách xây dựng và củng cố sự đoàn kết nội bộ của
Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, có thể thấy: Thời nào cũng vậy,
hàm từ việc nhỏ cho đến việc lớn nếu không có sự đồng sức, đồng
lòng thì không thể mang lại thành công. Đoàn kết nội bộ không phải
là ở lời nói và không bao giờ có thể đoàn kết chỉ bằng những lời
nói suông. Đoàn kết chỉ thật sự có khi mọi thành viên trong một tổ
chức, nhất là vai trò của người lãnh đạo, người đứng đầu bằng hành
động tích cực, công tâm, khách quan của mình để xây dựng nên sức mạnh
đoàn kết.
Có
thể khẳng định, dù tồn tại ở bất cứ hình thức nào, từ nhà nước
sơ khai đến nhà nước hiện đại, vấn đề sử dụng con người và sự đoàn
kết trong bộ máy quyền lực nhà nước là một trong những vấn đề trung
tâm và quyết định đế sự thịnh - suy, tồn - vong của mỗi quốc gia, dân
tộc.
Ở nước ta hiện nay, trong khi các nguồn lực để phát
triển đất nước ngày càng khan hiếm, thì nguồn lực con người Việt Nam
với trí tuệ và tài năng sẽ trở nên vô cùng quý giá nếu chung ta
biết khai thác và khai thác một cách hiệu quả. Vấn đề sử dụng và
phát huy nguồn lực con người phải luôn đi đôi với việc xây dựng sự
đoàn kết thống nhất trong nội bộ. Đây có thể được xem là nội dung
căn bản trong công tác xây dựng bộ máy nhà nước hiện đại và hiệu
quả, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong xu thế
hội nhập và phát triển.
PHẨM CHẤT “THỦY CHUNG VỚI BẠN BÈ QUỐC TẾ” - GIÁ TRỊ CAO ĐẸP CỦA BỘ ĐỘI CỤ HỒ
Quân đội nhân dân Việt Nam, ngay từ những ngày đầu thành lập,
đã được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục, rèn luyện tinh
thần đoàn kết quốc tế, hết lòng hết sức vượt mọi gian khổ, hy sinh, anh dũng
chiến đấu chống kẻ thù chung, hoàn thành tốt nhiệm vụ dân tộc và nghĩa vụ quốc
tế. Phẩm chất thủy chung với bạn bè quốc tế của Bộ đội Cụ Hồ đã trở thành giá
trị tốt đẹp, bền vững, phản ánh sâu sắc bản chất giai cấp công nhân, tính nhân
dân và tính dân tộc của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Trong kháng chiến cứu nước, cùng với nhiệm vụ giải phóng
dân tộc mình khỏi kẻ thù xâm lược, Bộ đội Cụ Hồ đã phát huy tinh thần quốc tế
vô sản, là một trong những lực lượng cách mạng đấu tranh ngoan cường với khẩu
chiến lược: “Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại”; nhân dân Việt Nam, Quân đội
nhân dân Việt Nam luôn tâm niệm lời chỉ dạy chí tình, chí nghĩa của Bác Hồ:
“Quan sơn muôn dặm một nhà, bốn phương vô sản đều là anh em”. Bộ đội Cụ Hồ dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã coi “giúp bạn là tự giúp mình”.
Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp, tuy đất nước còn muôn vàn khó khăn, thiếu thốn, nhân dân và Bộ đội Cụ Hồ
đã nhường cơm, sẻ áo, giúp đỡ vũ khí đạn dược, thuốc men cho cán bộ, bộ đội
Trung Quốc tạm lánh sang Việt Nam tránh những trận càn quét ác liệt của quân Quốc
dân Đảng Trung Quốc, vượt qua mọi khó khăn, thiếu thốn về lương thực, trang bị
vũ khí, kiên quyết chấp hành mệnh lệnh của trên, nhanh chóng vượt rừng núi hiểm
trở, mưa nắng thất thường tích cực phối hợp với bạn, đánh nhiều trận, diệt đồn,
phục kích, tập kích… giải phóng vùng đất đai rộng lớn trên đất bạn giáp biên giới
2 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, mở rộng khu căn cứ cách mạng của Trung Quốc.
Đối với hai nước bạn Lào và Campuchia, quân tình nguyện của
Bộ đội Cụ Hồ vượt qua mọi khó khăn, thử thách khốc liệt ban đầu, toàn tâm, toàn
lực, kiên trì giúp đỡ nhân dân, lực lượng vũ trang cách mạng Lào, Campuchia, mở
rộng căn cứ địa kháng chiến, càng đánh càng trưởng thành tạo ra thế và lực mới
cho kháng chiến ba nước cùng nhau đánh bại thực dân Pháp.
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, tình đoàn
kết liên minh chiến đấu đặc biệt giữa nhân dân và lực lượng vũ trang cách mạng
ba nước Đông Dương tiếp tục được phát huy lên tầm cao mới. Ở những tình huống
phức tạp, đầy cam go Quân đội nhân dân Việt Nam đã hết lòng tìm mọi cách giúp đỡ
lực lượng cách mạng Lào luôn ở bên cạnh bạn hoặc bằng hình thức cố vấn chuyên
gia, hoặc bằng các đơn vị thích hợp chi viện, phối hợp cùng với bạn vượt mọi
khó khăn, gian khổ hy sinh, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển của
cách mạng Lào.
Với nước bạn Campuchia, Quân đội nhân dân Việt
Nam cùng với các lực lượng vũ trang của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước
Campuchia đánh tan lực lượng quân sự Pôn Pốt, giải phóng đất nước Campuchia khỏi
họa diệt chủng, giúp hàng triệu người dân Campuchia tiều tụy, đói khát trở về
quê cũ; tổ chức cứu đói, chữa bệnh, khôi phục sản xuất, làm lại nhà cửa, trường
học, chùa chiền, bệnh xá cho nhân dân. Nhân dân Campuchia biết ơn gọi bộ đội Việt
Nam là “Bộ đội nhà Phật” để cảm ơn sự hy sinh quên mình, tận tình giúp đỡ nhân
dân Campuchia vượt mọi khó khăn, khôi phục cuộc sống thanh bình, tuyệt nhiên
không có một hành động trả thù nào, đối xử rất nhân đạo với tù hàng binh.
Ngày nay, trong bối cảnh quốc tế mới, truyền thống đoàn kết
quốc tế trong sáng, thủy chung, chí nghĩa, chí tình của Quân đội nhân dân Việt
Nam vẫn đang tiếp tục được phát triển thông qua các hoạt động đối ngoại, hợp
tác quân sự, quốc phòng, đặc biệt là việc tham gia có hiệu quả vào các hoạt động
của lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp quốc. Đến nay Việt Nam đã cử gần 300 lượt
cán bộ làm nhiệm vụ sĩ quan liên lạc, tham mưu, quan sát viên, sĩ quan hậu cần
và các vị trí khác theo nhu cầu của Liên hợp quốc tại Phái bộ gìn giữ hòa bình
của Liên Hợp quốc ở Nam Xu Đăng và Cộng hòa Trung Phi. Khác với sĩ quan các nước
cùng thực hiện nhiệm vụ, hằng ngày, sau khi hoàn thành nhiệm vụ của phái bộ, sĩ
quan các nước đều trở về làm các công việc cá nhân, nhưng sĩ quan Việt Nam tiếp
tục thực hiện những công việc giúp đỡ người dân bản địa như bổ củi, xách nước,
làm vườn, trồng rau, dạy học… Ngoài ra, các bệnh viện dã chiến cấp 2 của Việt
Nam còn thường xuyên tổ chức các chương trình thiện nguyện để giúp đỡ người dân
đặc biệt là trẻ em tại Nam Sudan. Bằng những việc làm của mình, Bộ đội Cụ Hồ đã
giới thiệu tới bạn bè quốc tế về đất nước, con người Việt Nam, nhất là về lịch
sử truyền thống hào hùng của dân tộc Việt Nam, của Quân đội Nhân dân Việt Nam,
làm lan tỏa phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ. Hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ đội chiếc mũ
nồi xanh của lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp quốc thực sự đã trở thành một
biểu tượng mà Việt Nam muốn gửi tới bạn bè quốc tế: truyền thống, đạo lý yêu
chuộng hòa bình của con người và đất nước Việt Nam; một Việt Nam sẵn sàng chung
tay, góp sức vì một tương lai tốt đẹp hơn cho nhân loại.
Trải qua hơn 77 năm xây dựng chiến đấu và trưởng thành, phẩm
chất “thủy chung với bạn bè quốc tế” của bộ đội Cụ Hồ đã trở thành giá trị tốt
đẹp góp phần làm tỏa sáng phẩm chất bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới, đóng góp
quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa thể hiện rõ việc Việt Nam
là một thành viên có trách nhiệm cộng đồng quốc tế./.
