Cổ nhân có câu: “Dụng nhân như
dụng mộc”, ngụ ý rằng, việc dùng người không chỉ dừng lại ở việc
bố trí đủ số lượng, đủ chỗ, đủ ghế, mà là cả một nghệ thuật. Có
thể ví việc dùng người là bộ môn “Nghệ thuật sắp đặt” và còn hơn
thế nữa. Việc sử dụng người vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật,
giống như một người thợ mộc giỏi phải biết lựa chọn từng loại gỗ
phù hợp để gia công, chế tác ra sản phẩm của mình, vừa đảm bảo
chất lượng, vừa tiết kiệm nguyên vật liệu và cuối cùng sản phẩm ấy
phải có tính thẩm mỹ và giá trị sử dụng cao. Không ai mang gỗ tạp ra
làm kèo, làm cột và ngược lại không thể dùng gỗ quý hiếm ra làm
chuồng trại, cọc rào. Nếu một người thợ mộc không phân biệt được
các loại gỗ để sử dụng phù hợp thì anh ta khó có thể sống được với
nghề. Và, các nhà quản lý được hiểu như những người làm nghệ thuật chuyên
sâu về lĩnh vực “con người”, là những người luôn am hiểu “thuật dùng người”…
Thời nhà Trần, hào khí Đông-A vang vọng đến hôm nay và
mãi mãi về sau với chiến công 3 lần đại thắng Nguyên - Mông, gắn liền
với sự nghiệp lẫy lừng của Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn,
thường được gọi là Trần Hưng Đạo, sinh năm 1228, mất năm 1300, một vị
anh hùng dân tộc được nhân dân phong Thánh (Đức Thánh Trần). Trần Hưng
Đạo không chỉ là người văn võ song toàn mà còn là một người trung
nghĩa, đức độ. Đối với vua, ông tuyệt đối giữ chữ Trung; đối với
dòng họ Trần, ông giữ mối đoàn kết gắn bó; đối với tướng sỹ, ông
nặng tình cha con; đối với trăm họ, ông lấy khoan dân làm gốc; đối
vận mệnh quốc gia, ông sẵn sàng hy sinh với tinh thần “…Dẫu cho trăm
thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng
vui lòng…” (Hịch tướng sỹ - Trần Quốc Tuấn).
Một trong những điều mà người đương thời và hậu thế tôn
sùng Đức Thánh Trần đó là người biết đại cuộc và luôn lấy đại
cuộc làm trọng, quyết hy sinh lợi ích bản thân, gia đình cho giang sơn
Đại Việt, cho an nguy của trăm họ. Đặc biệt, ở Trần Hưng Đạo luôn
toát lên vẻ bao dung, rộng lượng của một vị tướng đại tài, đứng lên
trên những hiềm khích cá nhân để xây dựng mối đoàn kết nội tộc,
đoàn kết tướng sỹ, để một lòng phò vua giúp nước, dẹp giặc, an dân.
Ai
cũng biết, trong giai đoạn đầu của vương triều nhà Trần, nội bộ
hoàng tộc tồn tại một mối hiềm khích khó có thể hoá giải giữa gia
đình Trần Liễu (cha của Trần Quốc Tuấn) với gia đình Trần Cảnh (em
ruột của Trần Liễu, tức vua Trần Thái Tông, cha ruột Trần Quang
Khải), do đã xảy ra sự việc cưỡng hôn: Trần Thủ Độ đã ép Trần Liễu
nhường vợ là công chúa Lý Thuận Thiên (chị của bà Lý Chiêu Hoàng là
vị vua cuối cùng của triều Lý, là vợ của Trần Cảnh) cho Trần Cảnh.
Mối bất hoà này như đóm than âm ỉ cháy trong nội bộ nhà Trần. Do
đó, trong một thời gian dài, hai chi họ Trần luôn luôn đề phòng lần
nhau, trong đó người mà phía Trần Thái Tông, Trần Quang Khải lo lắng,
bất an nhất không phải ai khác mà chính là Trần Quốc Tuấn.
Sử cũ ghi lại: Giữa Trần Quốc Tuấn và Trần Quang Khải
có hiềm khích từ đời trước, nên hai người không ưa gì nhau. Khi đó,
trong triều Quốc Tuấn và Quang Khải là bậc kỳ, nắm giữ chức vụ và
quyền hành rất lớn, nên mối quan hệ của họ có ảnh hưởng đến sự an
nguy của vương triều và thiên hạ Đại Việt. Bấy giờ, quân Nguyên chuẩn
bị kéo sang xâm chiếm Đại Việt, trước tình hình quân giặc mạnh, thế
nước lâm nguy, Trần Quốc Tuấn đã tự bỏ qua hiềm khích cá nhân, chủ động
giao hoà với Trần Quang Khải để thống nhất ý chí chống giặc. Sử xưa kể
rằng: Một hôm, tại bến Đông, Quốc Tuấn chủ động mời Thái sư Trần Quang Khải
sang thuyền mình trò chuyện, chơi cờ và sai tâm phúc nấu nước thơm, tự mình
tắm rửa cho Quang Khải... Chính hành động này của Quốc Tuấn đã dẹp tan
mối nghi kỵ, bất hoà trong nội bộ vương triều Trần, củng cố sức
mạnh trong nước để dồn sức đánh giặc ngoại xâm.
Nhiều sử gia, học giả khi luận giải nguyên nhân 3 lần
đánh thắng quân Nguyên-Mông của quân dân nhà Trần, đều có chung nhận
định: Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất đưa lại thắng lợi ấy
chính là có sự đoàn kết, đồng lòng của vua tôi nhà Trần; sự tài
trí, mưu lược, quả cảm của tướng sỹ, mà đứng đầu là Trần Quốc
Tuấn, đó là lòng trung thành tuyệt đối của Quốc Tuấn với vương
triều nhà Trần và ý thức xây dựng sự đoàn kết nội bộ để tạo nên
sức mạnh chống giặc.
Từ cách xây dựng và củng cố sự đoàn kết nội bộ của
Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, có thể thấy: Thời nào cũng vậy,
hàm từ việc nhỏ cho đến việc lớn nếu không có sự đồng sức, đồng
lòng thì không thể mang lại thành công. Đoàn kết nội bộ không phải
là ở lời nói và không bao giờ có thể đoàn kết chỉ bằng những lời
nói suông. Đoàn kết chỉ thật sự có khi mọi thành viên trong một tổ
chức, nhất là vai trò của người lãnh đạo, người đứng đầu bằng hành
động tích cực, công tâm, khách quan của mình để xây dựng nên sức mạnh
đoàn kết.
Có
thể khẳng định, dù tồn tại ở bất cứ hình thức nào, từ nhà nước
sơ khai đến nhà nước hiện đại, vấn đề sử dụng con người và sự đoàn
kết trong bộ máy quyền lực nhà nước là một trong những vấn đề trung
tâm và quyết định đế sự thịnh - suy, tồn - vong của mỗi quốc gia, dân
tộc.
Ở nước ta hiện nay, trong khi các nguồn lực để phát
triển đất nước ngày càng khan hiếm, thì nguồn lực con người Việt Nam
với trí tuệ và tài năng sẽ trở nên vô cùng quý giá nếu chung ta
biết khai thác và khai thác một cách hiệu quả. Vấn đề sử dụng và
phát huy nguồn lực con người phải luôn đi đôi với việc xây dựng sự
đoàn kết thống nhất trong nội bộ. Đây có thể được xem là nội dung
căn bản trong công tác xây dựng bộ máy nhà nước hiện đại và hiệu
quả, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong xu thế
hội nhập và phát triển.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét