Thứ Ba, 5 tháng 4, 2022

Thêm nhiều nạn nhân mất tiền oan vì đầu tư đa cấp

 

Như Báo CAND đã đưa tin, dù đã được các cơ quan chức năng cảnh báo, song hình thức lừa đảo đầu tư qua mạng vẫn nợ rộ và thêm nhiều nạn nhân tiếp tục dính bẫy.

Mới đây, Báo CAND nhận được đơn tố cáo của ông C.V.H ở Đà Nẵng tố cáo sàn chứng khoán Sea Investing lừa đảo. Theo nội dung tố cáo, cuối tháng 4/2021, ông H. có nhận được cuộc gọi tự xưng là Huyền Trân, nhân viên của sàn chứng khoán Sea Investing ở Hà Nội, liên tục gọi điện, nhắn tin zalo dụ dỗ đầu tư chứng khoán quốc tế, bao lợi nhuận và các mã chứng khoán tiềm năng của sàn Sea Investing từ 3-7%/ngày, chỉ cần nộp tiền và giao dịch theo đúng hướng dẫn của chuyên gia, có kỹ thuật hướng dẫn thời gian đặt lệnh, chốt lệnh.

Dù ban đầu, tỏ thái độ không quan tâm, nhưng với chiến lược “mưa dầm thấm lâu”, liên tục bị gọi điện dụ dỗ, ông H. đã đồng ý mở tài khoản, với thao tác cực kỳ đơn giản chỉ là chụp và gửi ảnh chứng minh nhân dân. Sau khi được mở tài khoản trên phần mềm MetaTrader, ông H. được hướng dẫn nộp vào tài khoản 11,6 triệu đồng.

Sau khi dụ được tiền vào tài khoản, ông H. nhận được cuộc gọi của một người tự xưng là Duy Anh, kỹ thuật viên của  Sea Investing hướng dẫn giao dịch, cài đặt phần mềm Telegram với giải thích phần mền này có tính bảo mật cao hơn zalo. Trong quá trình giao dịch, ông H. hoàn toàn làm theo các hướng dẫn đặt - chốt lệnh của Duy Anh. Có thời điểm, số lãi lên tới hơn 40 triệu đồng.

Lúc này, ông H. có đề nghị rút bớt lãi, thì Huyền Trân và Duy Anh khuyên nên đợi nhận cổ tức của mã CAT (mã của công ty Caterrpilar) rồi rút luôn một thể. Sau đó, Duy Anh đưa cho ông H. rất nhiều lệnh, liên tục lôi kéo, nhồi lệnh để ông H. giao dịch khiến cho tài khoản luôn trong tính trạng âm 90%. Lúc này, lại có một người khác xưng tên là Cường gọi điện yêu cầu ông H. nạp thêm tiền để “khử âm” và giữ tài khoản không bị cháy.

Nghi ngờ có dấu hiệu lừa đảo, ông H. kiên quyết không nạp thêm tiền. Ngay lập tức, tài khoản của ông H. đã bị đánh sập với số tiền cả vốn lẫn lãi đều âm hoàn toàn. Điều đáng nói, không phải chỉ một mình ông H. mà có hàng chục người khách cũng bị “dính bẫy” lừa đảo của sàn chứng khoán nói trên.

Trong đơn kêu cứu của mình, ông H. cho biết đang giữ toàn bộ thông tin về cuộc gọi cũng như tin nhắn, quá trình giao dịch với sàn Sea Investing. Tuy nhiên, khi chúng tôi gọi theo số điện thoại của Huyền Trân và Duy Anh mà ông H. cung cấp thì không thể liên lạc được. Ngay ban thân ông H. cũng cho biết đến giờ, chính ông cũng không thể liên lạc với các số điện thoại nói trên. Cùng với đó, chúng tôi cũng không thể tìm được địa chỉ trụ sở công ty chứng khoán do ông H. cung cấp.

Trao đổi với chúng tôi về trường hợp ông H., các chuyên gia đầu tư đều cho rằng ông H. đã tham gia vào hình thức đầu tư đã cấp forex. Đây là hình thức lừa đảo tài chính nở rộ trên mạng từ vài năm trở lại đây, với hàng trăm nghìn nạn nhân sập bẫy.

Theo chuyên gia kinh tế Phan Dũng Khánh, lừa đảo tài chính vốn là loại lừa đảo đẳng cấp cao nhất trong các loại lừa đảo vì độ phức tạp cũng như hiểu biết luật để lách luật, thậm chí am hiểu tâm lý học giúp đánh giá "con mồi" chính xác để một khi đã ra chiêu thì gần như không ai từ chối được.

Đến nỗi nhiều người bị lừa vẫn không biết mình bị lừa và còn khen ngược lại đối tượng nữa. Nhiều vụ đối tượng đã bỏ trốn biệt tăm, thậm chí thay tên đổi họ để lại đẻ ra dự án khác để đi lừa tiếp. Hệ lụy để lại của nó quá lớn cho nhiều gia đình, xã hội và thậm chí nhiều nạn nhân tìm cách trả thù bằng các hành vi vi phạm luật pháp.

Tìm hiểu thêm về hình thức đầu tư tài chính kinh doanh mạng, nhóm PV Báo CAND được biết có rất nhiều trường hợp như ông H. bị hấp dẫn bởi lợi nhuận, lỡ sa chân vào các dự án kinh doanh này đều bị mất trắng. Giống như trường hợp Sea Investing, một số dự án đầu tư như Skynet iFan, Sky Mining, BBi, Emas Fintech… cũng đã bị nhiều nhà đầu tư tố cáo nhưng tất cả đều rất khó lấy lại tiền.

Bộ Công An và Bộ Công thương cũng đã liên tục đưa ra cảnh báo nhiều loại hình lừa đảo nở rộng trong đợt dịch COVID-19 với nhiều thủ đoạn mới mà nổi bật là các mô hình lừa đảo tài chính, lừa đảo kiểu Ponzi (đa cấp- lấy tiền người sau trả cho người trước) và khuyến khích nạn nhân tố giác. Tuy nhiên, các hình thức kinh doanh này đều không hợp pháp nên nhiều người lỡ bị lừa cũng phải chấp nhận “ngậm bồ hòn làm ngọt”,  không dám tố cáo vì sợ liên lụy. Hiện nay, danh sách nạn nhân của những mô hình lừa đảo này ngày càng dài.

“Đối với những người bị lừa đảo như trường hợp bạn đọc phản ánh đến Báo CAND nói trên, nạn nhân nên gửi đơn tố cáo lên Công an địa phương, nơi diễn ra hành vi lừa đảo, để cơ quan chức năng tập hợp và tìm hướng xử lý. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là người dân phải nâng cao cảnh giác, không để bị “bẫy” vào những hình thức kinh doanh mới trên nền tảng công nghệ mà mình không hiểu biết.

Đặc biệt, phải cảnh giác trước những con số lợi nhuận không tưởng mà các đối tượng môi giới đưa ra, vì không có hình thức kinh doanh nào mang lại siêu lợi nhuận như thế cả”, đại diện Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao khuyến cáo./.

 

Hoạt động và cống hiến của đồng chí Lê Văn Lương trên cương vị Bí thư Thành uỷ Hà Nội (1977-1986)

 - Trọn cuộc đời gắn bó với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, đồng chí Lê Văn Lương đã đem hết trí tuệ, sức lực để cống hiến cho Đảng và cách mạng Việt Nam. Đồng chí đã có những đóng góp quan trọng trên nhiều lĩnh vực công tác của Đảng, Nhà nước cả trong lý luận và chỉ đạo thực tiễn. “Với cương vị Bí thư Thành ủy Hà Nội trong suốt 10 năm từ khi đất nước thống nhất đến năm 1986, đồng chí đã mang hết sức mình cống hiến cho sự nghiệp xây dựng Thủ đô, chăm lo cuộc sống của nhân dân thành phố”(1).

Đất nước hòa bình, thống nhất, xây dựng Hà Nội xứng với tầm vóc, vị trí Thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ cách mạng mới là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, cũng là vinh dự, tự hào của Đảng bộ và nhân dân Hà Nội. Tin tưởng vào phẩm chất, năng lực của người cán bộ xuất sắc, sau Đại hội IV của Đảng, Bộ Chính trị đã phân công đồng chí Lê Văn Lương làm Bí thư Thành ủy Hà Nội (khóa VII). Suốt 10 năm (từ 25-5-1977 đến 23-10-1986), đồng chí liên tục được Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố tín nhiệm bầu làm Bí thư Thành ủy, từ khóa VII đến hết khóa IX.

Những cống hiến của đồng chí Lê Văn Lương cho sự nghiệp xây dựng Thủ đô được thể hiện rõ nét trên các mặt công tác sau:

Thứ nhất, nỗ lực, chủ động tháo gỡ khó khăn, chỉ đạo sâu sát, cụ thể kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội Thủ đô

Ngay từ đầu năm 1977, chuẩn bị cho Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ VII, đồng chí Lê Văn Lương đã nêu ý kiến, phát triển kinh tế Hà Nội theo hướng: Phát triển công nghiệp mà trọng tâm là sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến thực phẩm, vật liệu xây dựng và tiểu thủ công nghiệp, nhằm phát huy nội lực, đáp ứng nhu cầu đời sống nhân dân, đồng thời coi trọng cải tiến phân phối lưu thông. Trong nông nghiệp, chú trọng vào sản xuất thực phẩm, thực hiện chuyên canh và đẩy mạnh thâm canh, tạo nên vành đai thực phẩm cho Thành phố.  

Nắm vững quan điểm, chủ trương của Trung ương và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn Thành phố Hà Nội, đồng chí Lê Văn Lương đề cao quan điểm “phát huy nội lực Thủ đô”, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, tiềm năng và sức sáng tạo to lớn của các tầng lớp nhân dân Hà Nội. Hiểu sâu sắc thế mạnh của Hà Nội là nơi tập trung đội ngũ công nhân và thợ kỹ thuật, thợ thủ công lành nghề, tiềm năng ở trong dân rất lớn, đồng chí đã nêu chủ trương: “Thúc đẩy nền sản xuất, tăng cường nắm nguồn hàng, xây dựng lực lượng dự trữ về lương thực, sản xuất hàng tiêu dùng đến mức cao nhất, hợp tác với các tỉnh miền Bắc, miền Nam và thành phố Hồ Chí Minh, đẩy mạnh hơn nữa công tác ngoại thương của Thành phố; phải kiện toàn các ngành lương thực, thương nghiệp, kiện toàn các phường, quận; tăng cường sự chỉ đạo sát sao của Thành ủy và Ủy ban nhân dân Thành phố. Đây là những việc mà địa phương phải nỗ lực làm, không thể ỷ lại cấp trên làm thay được; có chính sách giữ giá cung cấp gạo cho xã viên hợp tác xã thủ công nghiệp bán sản phẩm cho Nhà nước để khuyến khích xã viên tích cực sản xuất, không nên thả lỏng theo giá kinh doanh thương nghiệp”(2).

Đồng chí Lê Văn Lương luôn xác định rõ nhiệm vụ của Thủ đô trong quan điểm chỉ đạo của mình: “Khi Trung ương xác định nhiệm vụ xây dựng Thủ đô không chỉ là nhiệm vụ của địa phương mà là trách nhiệm của cả Trung ương và Trung ương phải tập trung đầu tư cho Thủ đô, chúng ta vẫn không được ỷ lại. Tôi nghĩ rằng, đặc biệt trong bước đi ban đầu ở nước ta càng phải hết sức phát huy tiềm năng của địa phương, trên cơ sở đó mới tính đúng được phần đầu tư của Trung ương, tuy phần đầu tư này rất to lớn”(3).

Với quan điểm trên, đồng chí đã chỉ đạo các ngành kinh tế nỗ lực, tích cực, chủ động liên kết với các tỉnh, thành phố để khai thác nguyên vật liệu cho sản xuất và tăng nguồn hàng từ nhiều địa phương bổ sung quỹ hàng hóa, giải quyết từng bước những tồn đọng, trì trệ, những tiêu cực phát sinh trong khâu phân phối lưu thông. Một số cơ sở kinh tế mũi nhọn được Thành phố chỉ đạo điểm, đã bắt đầu tự “cởi trói” theo tinh thần nghị quyết Trung ương 6 khóa IV (ngày 20-9-1979) có hiệu quả tốt. Đó là thực tế sinh động, cũng là những căn cứ quan trọng góp phần để Trung ương ban hành Chỉ thị 100-CT/TW (ngày 13-01-1981) “về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp”; Quyết định 25/CP của Hội đồng Chính phủ (ngày 21-1-1981) “về một số chủ trương và biện pháp nhằm phát huy quyền chủ động sản xuất kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính của các xí nghiệp quốc doanh”.

Tiếp nối nhiệm kỳ Thành ủy Hà Nội khóa VII, đồng chí Lê Văn Lương tiếp tục được bầu vào Thành ủy, đảm nhiệm trọng trách Bí thư Thành ủy khóa VIII (1980 - 1983) và khóa IX (1983 - 1986). Đồng chí đã có nhiều đóng góp quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển Thủ đô, lãnh đạo Đảng bộ và nhân dân Thành phố khắc phục và vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, chuẩn bị bước vào thời kỳ đổi mới.

Sau Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ IX, với khí thế mới, quyết tâm mới, đồng chí Lê Văn Lương đã chỉ đạo những công tác cụ thể, để phát huy tốt hơn nữa tiềm năng và thế mạnh của Thành phố, tăng cường hợp tác với các tỉnh, thành phố khác; lập kế hoạch sử dụng tốt vốn vay ngoại tệ, trong đó có việc huy động vốn từ Việt kiều để mở rộng liên kết, làm hàng công nghệ xuất khẩu… nhằm huy động tiềm năng của mọi tầng lớp nhân dân. 

Nhờ từng bước áp dụng cơ chế quản lý mới và kiên quyết tập trung chỉ đạo sửa đổi một số chính sách kinh tế đã lỗi thời nên kinh tế - xã hội Thủ đô qua mỗi giai đoạn đều có sự khởi sắc rõ nét: sản xuất công nghiệp, nông nghiệp có những chuyển biến đáng kể, xuất nhập khẩu và kinh tế đối ngoại bước đầu có tiến bộ; nhà ở, trường học được quan tâm chăm lo đầu tư xây dựng...

Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ X (từ ngày 17 đến ngày 23-10-1986), Bí thư Thành ủy Lê Văn Lương đã nêu rõ phương châm hành động cho toàn Đảng bộ và nhân dân Thủ đô: “Mọi công việc phải lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm mục tiêu; coi trọng tổ chức công tác thực tiễn, kiên quyết chuyển đổi cơ chế quản lý từ tập trung quan liêu, bao cấp sang hạch toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa... nâng cao sức chiến đấu của Đảng, kiên quyết đưa những phần tử cơ hội, thoái hóa biến chất ra khỏi Đảng, làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh”(4).

Đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hóa - giáo dục - khoa học kỹ thuật, đồng chí cũng hết sức quan tâm chỉ đạo: “Thành phố cần thành lập lại Ban Khoa học kỹ thuật. Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Hà Nội được thành lập sớm hơn một số tỉnh, thành phố khác. Để tập hợp và thực hiện công tác lãnh đạo, sự quan tâm đến đội ngũ văn nghệ sỹ Thủ đô và Trung ương đang sinh sống trên địa bàn Thành phố, đồng chí yêu cầu tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quan tâm hơn nữa đến đời sống và sự nghiệp sáng tạo văn hóa - văn nghệ Thủ đô, củng cố Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Thành phố”(5). Đồng chí chỉ đạo Ủy ban nhân dân Thành phố, các sở, ban, ngành “phải có kế hoạch phấn đấu để Thủ đô Hà Nội xứng đáng là trung tâm văn hóa - khoa học kỹ thuật tiêu biểu của cả nước”(6)

Thứ hai, chỉ đạo có hiệu quả công tác quy hoạch và mở rộng đô thị, gắn công tác quản lý đô thị với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chính quyền quản lý ở ba cấp

Ngay khi mới về Hà Nội nhận công tác, để chuẩn bị tốt nội dung của Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ VII, đồng chí Lê Văn Lương đã đề xuất với Thành ủy nghiên cứu quy hoạch, kế hoạch xây dựng và phát triển Thủ đô, rồi thay mặt Thành ủy, trình Bộ Chính trị ý kiến về mở rộng quy hoạch Thành phố. Tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa VI, ngày 29-12-1978, Quốc hội đã phê chuẩn việc mở rộng thành phố Hà Nội lần thứ hai. Hà Nội lúc đó có 4 khu phố nội thành, 11 huyện, 1 thị xã ngoại thành với gần 2.500.000 dân(7). Thành phố được mở rộng, có thêm nhiều thuận lợi về nhân tài, vật lực, nhưng cũng gặp rất nhiều khó khăn trong chăm lo đời sống nhân dân và tổ chức guồng máy quản lý hoạt động có hiệu quả. 

Sau nhiều năm dồn sức cho tiền tuyến, hạ tầng đô thị Hà Nội ít được đầu tư, đã lạc hậu trước yêu cầu xây dựng và phát triển Thủ đô trong thời kỳ mới. Dưới sự chỉ đạo của đồng chí Lê Văn Lương, một số công trình hạ tầng giao thông vận tải đã được mở mang, cải tạo: cầu Thăng Long, cầu Chương Dương, cầu Đuống, cảng Phà Đen, sân bay Nội Bài…; tổ chức ngành vận tải biển pha sông để đưa gạo từ đồng bằng Nam Bộ về thẳng cảng Phà Đen và đưa hàng từ Hà Nội vào đồng bằng Nam Bộ. Các công trình kiến trúc dân sinh được quan tâm, nhiều ngôi nhà cao tầng đã mọc lên ở nội thành và khu vực ngoại ô, đáp ứng một phần nhu cầu nhà ở cho nhân dân.

Để Thành ủy Hà Nội có cơ sở cho việc lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chính quyền phù hợp với tình hình mới, đồng chí  Lê Văn Lương đã chủ động đề nghị Trung ương và trực tiếp đi khảo sát mô hình xây dựng chính quyền cấp quận và phường ở thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, đồng chí đã chỉ đạo thí điểm một số địa bàn chuyển mô hình hành chính từ tiểu khuthành phường - đơn vị hành chính cấp cơ sở có con dấu riêng. Đây là vấn đề mới và khá phức tạp đối với Hà Nội khi bỏ ban đại diện hành chính tiểu khu, thành lập chính quyền phường, và đổi từ mô hình khu phốthành mô hình quận.Từ thí điểm trên, đồng chí Lê Văn Lương đã không nản chí trước khó khăn, quyết tâm đi theo mô hình mới, phù hợp xu thế phát triển mọi mặt của Thành phố, giữ vững vai trò, vị trí là trung tâm đầu não đất nước. Đồng chí đã kiên trì thuyết phục Trung ương chấp thuận chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị và được chấp nhận. Từ thực tiễn trên của Hà Nội đã góp phần quan trọng vào Nghị quyết kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa VI (18-12-1980), đóng góp sửa đổi một số điều của Hiến pháp mới, trong đó ghi rõ bộ máy chính quyền thành phố tổ chức thành ba cấp: thành phố, quận, phường. 

Với mô hình chính quyền mới, việc nâng cao trình độ của cán bộ để đáp ứng yêu cầu của đô thị Hà Nội đã mở rộng càng trở nên cấp bách. Đồng chí chỉ đạo, muốn quản lý đô thị tốt, các cấp quận, phường phải đổi mới công tác cán bộ, đổi mới tư duy, đổi mới phong cách làm việc, cải tiến cách làm kế hoạch, thể hiện tính tích cực, chủ động trong quản lý đô thị. Chính vì vậy, đội ngũ cán bộ cấp quận, phường từ chỗ còn bỡ ngỡ với mô hình quản lý mới đã dần dần đáp ứng yêu cầu quản lý, xây dựng của một đô thị với vị trí đặc biệt là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa của cả nước. 

Thứ ba, chú trọng công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực chỉ đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ để biến nghị quyết Đảng thành hành động cách mạng

Trong những năm tháng trước đổi mới, trước tình trạng khó khăn mọi mặt của đời sống, một số cán bộ, đảng viên đã không giữ được phẩm chất đạo đức của người cộng sản, một số cơ sở đảng chưa thật sự là hạt nhân lãnh đạo mọi mặt công tác. Do đó, đồng chí Lê Văn Lương đã tập trung lãnh đạo khâu trọng yếu nhất của Đảng bộ là công tác xây dựng Đảng. Cuộc vận động xây dựng Đảng vững mạnh và trong sạch cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, nâng cao phẩm chất cộng sản cho cán bộ, đảng viên gắn với công tác phát thẻ đảng viên từ năm 1980 đã được chỉ đạo sát sao. Năm 1981, trong tình hình khó khăn chồng chất, đồng chí nhận thức sâu sắc rằng: điều quyết định để hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ là nâng cao chất lượng lãnh đạo và tăng cường sức chiến đấu của Đảng, khắc phục những nhân tố tiêu cực trong Đảng, làm cho Đảng trong sạch. Đảng phải đi sâu vào mặt trận kinh tế, nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo kinh tế. Đồng chí đã chỉ đạo Thành ủy đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng theo phương pháp: Công tác tư tưởng, tổ chức phải gắn liền với thực tiễn sôi động, nâng cao tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên ở cả nơi sản xuất, công tác và nơi cư trú. Nghiêm túc và thẳng thắn, chỉ ra khuyết điểm của Đảng bộ “chưa tập trung đúng mức vào việc cải tạo và xây dựng Thủ đô; chỉ đạo chưa nhạy bén, quản lý mang nặng tính chất hành chính bao cấp”(8). Đồng chí đề cao vai trò của tổ chức cơ sở đảng và mỗi đảng viên trong cuộc đấu tranh quyết liệt chống quan liêu, bảo thủ hoặc hô hào suông. Để nghị quyết đi vào cuộc sống, đồng chí cho rằng các tổ chức cơ sở đảng và mỗi đảng viên “phải có ý chí chiến đấu kiên cường, nhạy bén với các vấn đề mới do cuộc sống đặt ra, có đủ kiến thức để cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong thực tế, chứ không chỉ ra nghị quyết, nêu khẩu hiệu. Muốn thế, các đảng viên phải có tinh thần hy sinh tận tụy, dũng cảm đấu tranh, bền bỉ học tập để nâng cao trình độ quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Phải loại ra khỏi Đảng những phần tử cơ hội trục lợi, sút kém ý chí chiến đấu, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, không quan tâm đầy đủ đến lợi ích của quần chúng”(9).

Đối với cơ quan Thành ủy và Ủy ban nhân dân Thành phố, để cải tiến lề lối làm việc, đồng chí yêu cầu, trước hết phải đổi mới từ chính lối suy nghĩ “ra nghị quyết là tròn nhiệm vụ”. “Vấn đề cơ bản vẫn là phải biến nghị quyết thành hành động cách mạng thực tiễn của đông đảo quần chúng nhân dân để cải biến tình hình, đưa cách mạng tiến lên. Đó là một vấn đề phải dứt khoát để thanh toán hiện tượng một số nghị quyết không thực hiện được hoặc thực hiện “đầu voi đuôi chuột”(10)

Từ yêu cầu khách quan của nhiệm vụ và để đưa nghị quyết Đảng vào cuộc sống có hiệu quả, chống bệnh thành tích, phô trương, đồng chí Lê Văn Lương cho rằng, cẩm nang hành động để đi đến thắng lợi của người cán bộ lãnh đạo là: “Phải tích cực làm nhiệm vụ đảng viên, trung thực, đoàn kết; lối ra cơ bản trước khó khăn là: gặp bất kỳ khó khăn nào cũng phát huy trí tuệ của tập thể, tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp trên; hết sức phát huy trí sáng tạo của đông đảo quần chúng, nắm vững phương châm: dựa vào quần chúng sẽ giải quyết được mọi việc; định ra chương trình, kế hoạch làm việc tốt. Chọn đúng mắt xích để giải quyết tập trung dứt điểm, phát huy các điển hình tiên tiến trong địa phương”(11).

Thứ tư, quan tâm sâu sát, gắn bó, hết lòng chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Thủ đô

Là một người lãnh đạo có tâm và có trách nhiệm, đồng chí Lê Văn Lương luôn trăn trở để làm sao cho đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân dân Thủ đô không ngừng được cải thiện. Nhân dân Hà Nội còn nhớ mãi những câu chuyện về sự chăm lo của đồng chí Bí thư Thành ủy đối với những vấn đề dù nhỏ nhưng có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nhân dân. Những ngày Thủ đô đối mặt với khó khăn, chưa tìm được nguồn gạo cung cấp cho nhân dân, đồng chí Lê Văn Lương trăn trở nhiều đêm để lo “chạy gạo” cho dân, đến khi xin được gạo từ kho dự trữ quốc gia, đồng chí đôn đốc, sắp xếp kiểm tra xem làm thế nào để phân phối gạo một cách hợp lý và công bằng. Không những vậy, đồng chí còn đến tận các vùng chuyên canh rau ở Nam Hồng, Vân Nội, nông trường nuôi lợn ở Vân Trì, nuôi gà ở Phúc Thịnh (Đông Anh), ở Cầu Diễn, Minh Khai, Tây Tựu (Từ Liêm), nông trường nuôi cá ở Yên Duyên, Yên Sở (Thanh Trì) để kiểm tra việc sản xuất rau, thực phẩm cung cấp cho Thành phố. Các đồng chí trong Ban Thường vụ Thành ủy thời kỳ đó đã quen với hình ảnh đồng chí Bí thư thường xuyên thức khuya để cùng tính toán, cân đối lương thực, thực phẩm từng tuần, từng tháng cho các quận, huyện. Đồng chí nói với mọi người thật giản dị, chân thành: “Dẫu ta vất vả đến mấy nhưng lương thực được đảm bảo cho đồng bào, đấy là hạnh phúc”(12).

Khi nghe dân phản ánh thiếu nước, mất điện nhiều, đồng chí đã xuống ngay nơi cơ sở tìm hiểu nguyên nhân, chỉ đạo bàn cách khắc phục để nhân dân có điện, nước sinh hoạt. “Đến dự sinh hoạt chi bộ cơ sở, thấy đồng chí bí thư chi bộ thường cáo bận, vắng mặt, đồng chí đề nghị Thành uỷ có biện pháp ngay, do đó, ngày sinh hoạt chi bộ đã được quy định vào ngày 03 hàng tháng”(12).

Với phong cách làm việc sâu sát, tỉ mỉ, dù công việc rất bận rộn, đồng chí Lê Văn Lương vẫn dành thời gian lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, ý kiến phản ánh của nhân dân, xem xét đơn thư khiếu kiện… để có những biện pháp giải quyết kịp thời và triệt để. Những việc chưa giải quyết ngay được, đồng chí cũng đều trả lời cho nhân dân biết hoặc giao cho các ngành có liên quan giải quyết và kiểm tra lại. Nhớ về tình cảm của đồng chí Lê Văn Lương với nhân dân Hà Nội, đồng chí Dương Năng, nguyên thư ký đồng chí Lê Văn Lương đã viết: “Nhân dân Hà Nội biết ơn đồng chí lão thành cách mạng có tác phong giản dị, đi sâu sát quần chúng. Trong nhiều năm làm Bí thư Thành ủy đã đem hết tâm huyết lo cho thành phố, lo cho dân vượt qua thời kỳ khó khăn của cả nước nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng, để ngày nay thành phố Hà Nội cùng cả nước tiến lên văn minh, giàu đẹp”(14).

__________________

(1), (12), (14) Lê Văn Lương trọn đời vì sự nghiệp của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2012, tr. 19, 298, 330.

(2), (3)Tài liệu về đồng chí Lê Văn Lương, Tài liệu lưu trữ Văn phòng Thành ủy Hà Nội.

(4) Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ X, Hà Nội, 1986.

(5), (7), (13) Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Đồng chí Lê Văn Lương với cách mạng Việt Nam và quê hương Hưng Yên, Hưng Yên, 2012, tr 52, 53, 55.

(6) Một số ý kiến của đồng chí Lê Văn Lương bổ sung về nhiệm vụ công tác của Thành phố năm 1984, lưu trữ tại Văn phòng Thành ủy Hà Nội.

(8), (9) Bài phát biểu của đồng chí Lê Văn Lương tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng, Lưu trữ tại Văn phòng Thành ủy Hà Nội.

(10) Đề nghị về cải tiến lề lối lãnh đạo của Thành ủy và Ủy ban nhân dân Thành phố, lưu trữ tại Văn phòng Thành ủy Hà Nội. 

(11) Tài liệu về đồng chí Lê Văn Lương, Lưu trữ tại Văn phòng Thành ủy Hà Nội.

TRUYỀN THỐNG VĂN HOÁ ỨNG XỬ NHÂN NGHĨA CỦA CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM!

         Đây là những giá trị tư tưởng, tình cảm còn lưu lại qua các triết lý, lối sống của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Người Việt Nam trong quan hệ, ứng xử luôn coi trọng “tình sâu, nghĩa nặng”, “vì tình vì nghĩa không vì đĩa xôi đầy”. Con người gắn bó, ràng buộc với nhau trước hết không phải bằng lễ giáo thánh hiền răn dạy mà bằng tình người. Trong gia đình, lối sống được coi trọng theo tinh thần nhân văn. Đó là ứng xử trong mối quan hệ con cái - bố mẹ là “công cha, nghĩa mẹ”, trong quan hệ vợ - chồng là “đầu gối, tay ấp”, trong tình anh - em “như thể tay chân”, “máu chảy, ruột mềm”, trong tình xóm giềng là “tắt lửa, tối đèn có nhau”, tình đồng bào “nhiễu điều phủ lấy giá gương”, “thương người như thể thương thân”… Ở cấp độ quốc gia, tư tưởng nhân nghĩa là một giá trị cao đẹp, trở thành lối ứng xử, niềm tự hào của dân tộc. Trong lịch sử, Trần Hưng Đạo chủ trương “nới sức dân để làm kế gốc sâu, rễ chặt”, Lê Lợi khuyên bảo triều thần và dặn dò con cái “khoan dân”, Nguyễn Trãi dạy lấy “nhân nghĩa làm gốc, trí dũng làm cành” và “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, hay “làm lật thuyền mới biết dân như nước”…

Truyền thống ứng xử đoàn kết, nhân nghĩa của dân tộc là một giá trị cao đẹp, là niềm tự hào của nhiều thế hệ. Đó là giá trị ra đời từ chính cuộc sống thích ứng với thiên nhiên, đấu tranh với các thế lực ngoại xâm để sinh tồn và phát triển. Đó là những giá trị được ra đời từ chính nhận thức, tâm lý, tình cảm, tâm hồn cao đẹp, từ sự lựa chọn, tạo dựng một nguyên lý trong ứng xử từ nhận thức, kinh nghiệm đến tình cảm giao tiếp của con người với con người với những cấp độ, thiết chế xã hội khác nhau từ gia đình - dòng họ - làng xã, thôn bản - quốc gia. Các giá trị đó được bồi đắp, hoàn thiện từ trong dòng chảy của lịch sử dân tộc và đã tạo nên một giá trị mang đặc trưng, truyền thống lịch sử đoàn kết, nhân nghĩa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam./.

Yêu nước ST.

Nhiệm vụ trọng tâm trong công tác tuyên truyền biển, đảo năm 2022

Năm 2022, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tiếp tục đẩy mạnh triển khai Nghị quyết Đại biểu toàn quốc lần thức XIII của Đảng. Đối với công tác tuyên truyền biển, đảo sẽ tập trung tuyên truyền, nâng cao nhận thức và đồng thuận của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân về những định hướng chiến lược của Đảng, Nhà nước ta trong công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo; thực hiện tốt các chủ trương, quan điểm về bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong Nghị quyết Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và Nghị quyết số 36-NQ-TW, ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Năm 2022 là năm có nhiều dấu mốc quan trọng trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo của nước ta; là năm đánh dấu 40 năm Công ước về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) ra đời, đóng vai trò là cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động sử dụng và hợp tác về biển ở cấp độ quốc gia, khu vực và thế giới. Đây cũng là năm kỷ niệm 10 năm Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Luật Biển năm 2012, văn bản Luật quy định đầy đủ chế độ pháp lý các vùng biển, đảo thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam theo đúng UNCLOS 1982. Chính vì vậy, trong năm nay, hoạt động tuyên truyên biển, đảo cần tập trung cao điểm vào những dịp kỷ niệm quan trọng nói trên. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền cần nêu bật quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về biển, đảo. Khẳng định quan điểm của đảng ta là “kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường ổn định để phát triển đất nước”; khẳng định tầm quan trọng của duy trì hòa bình, an ninh, an toàn tự do hàng hải, hàng không trên Biển Đông; khơi dậy niềm tự hào dân tộc, tình yêu quê hương đất nước của mọi người dân, tạo sức mạnh nội sinh, động lực bảo vệ và phát triển quê hương, đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Song song với đó là chủ động đấu tranh có hiệu quả với hoạt động của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị âm mưu lợi dụng các vấn đề liên quan đến biển, đảo Việt Nam để hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, làm tổn hại đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc và các mối quan hệ đối ngoại của Việt Nam. Kon Tum là một tỉnh miền núi, tuy nhiên không vì thế mà có sự lơ là, xem nhẹ công tác tuyên truyền biển, đảo. Mỗi cấp ủy, chính quyền và từng cán bộ, đảng viên, đặc biệt là đội ngũ cán bộ tuyên giáo, cán bộ làm công tác tuyên truyền cần nâng cao trách nhiệm, thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo, định hướng tuyên truyền một cách chủ động, tích cực, thường xuyên, liên tục. Công tác tuyên truyền phải làm sao cho mọi người dân, kể cả đồng bào DTTS ở vùng xâu, vùng xa hiểu được vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của biển, đảo và một lòng hướng về biển, đảo; hiểu rằng mỗi người đều có trách nhiệm giữ gìn, bảo vệ biển, đảo - bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Tiếp nối kết quả việc thực hiện chương trình phối hợp giữa Tỉnh ủy Kon Tum và Quân chủng Hải quân của các năm trước, trong năm nay, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy và Quân cảng Sài Gòn sẽ tiếp tục phối hợp tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền biển, đảo kết hợp hoạt động dân vận, đền ơn đáp nghĩa trên địa bàn tỉnh. Để thực hiện tốt chương trình phối hợp giữa Tỉnh ủy Kon Tum và Quân chủng Hải quân và đưa những nội dung tuyên truyền chính xác đến với cán bộ, đảng viên và nhân dân, các ngành, địa phương, đơn vị cần tích cực thông tin, tuyên truyền truyền kết quả công tác phối hợp tổ chức tuyên truyền biển, đảo và hoạt động dân vận, đền ơn đáp nghĩa của Quân cảng Sài Gòn trên địa bàn tỉnh; về các chính sách hậu phương quân đội; khẳng định tình cảm gắn bó giữa nhân dân với cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam; mang hình ảnh về cán bộ, chiến sĩ Hải quân đến với đông đảo người dân. Tình hình dịch bệnh Covid-19 tiếp tục có những diến biến phức tạp, làm ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có công tác tuyên truyền, biển đảo. Để thực hiện tốt các nhiệm vụ của công tác tuyên truyền biển, đảo, phương thức và hình thức tuyên truyền cần có sự đổi mới, cấp ủy các cấp cần tăng cường, đẩy mạnh hơn nữa việc sử dụng các phương tiện truyền thông mới. Trong đó, khai thác hiệu quả các mặt tích cực từ hình thức trực tuyến, mạng xã hội. Các ngành, địa phương cũng cần tiếp tục phát huy thế mạnh của hình thức tuyên truyền trực quan, sinh động qua các ấn phẩm tuyên truyền, tác phẩm văn học, nghệ thuật về đề tài biển, đảo; tích cực tổ chức, hưởng ứng các phong trào, hoạt động hướng về biển, đảo quê hương.

TIẾNG NÓI CỦA DÂN TỘC

 Ở Việt Nam ta, từ xa xưa yêu cầu bảo vệ tiếng nói dân tộc đã được đặt ra như một nội dung quan trọng. Vua Trần Duệ Tông xuống chiếu cho quân dân không được bắt chước tiếng nói dân tộc khác. Nguyễn Trãi nhấn mạnh người nước ta không được bắt chước ngôn ngữ để làm loạn ngôn ngữ nước nhà. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng phê phán căn bệnh nói chữ: “Của mình có mà không dùng lại đi mượn của nước ngoài, đó chẳng phải là đầu óc quen ỷ lại hay sao?”.

Tiếng nói dân tộc chính là người bảo vệ quý báu nhất nền độc lập dân tộc, từ yếu tố quan trọng nhất giúp giải phóng dân tộc khỏi áp bức, giữ vững được tiếng nói là nắm vững chìa khóa giải thoát gông xiềng, nô lệ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: "Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp”.
Trong các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc cùng với chủ trương đường lối lãnh đạo đúng đắn, thời cơ và những điều kiện vật chất khác thì ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa, tình yêu tiếng nói dân tộc sẽ tạo ra một sức mạnh tổng hợp về tinh thần đoàn kết, ý chí quyết chiến, quyết thắng để đấu tranh bảo vệ dân tộc. Vứt bỏ tiếng nói dân tộc, khước từ tiếng nói dân tộc là từ chối bản sắc văn hóa của dân tộc. Một dân tộc thực sự độc lập không chỉ tự do về mặt chủ quyền, lãnh thổ mà hơn hết là giữ vững được bản sắc văn hóa riêng. Văn hóa lại kết tinh trong ngôn ngữ dân tộc. Một khi ngôn ngữ đã bị đồng hóa, bị lai căng mất đi tinh hoa dân tộc thì việc tự đánh mất mình, trở thành kẻ phụ thuộc “ăn nhờ ở đợ" sẽ là điều tất yếu..
Và tôi có nhớ ai đó đã từng nói như này: “Khi một dân tộc rơi vào vòng nô lệ, chừng nào họ vẫn giữ vững tiếng nói của mình thì chẳng khác gì nắm được chìa khóa chốn lao tù”
Tình yêu tiếng Việt của người Việt, của dân tộc Việt là một minh chứng hùng hồn cho chân lý sáng ngời đó. Tiếng Việt của chúng ta có một lịch sử lâu đời. Lịch sử tiếng Việt là lịch sử của đời sống tư tưởng, tâm hồn, tình cảm người Việt, là lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước kiên cường, bất khuất.
Hiểu rõ được điều đó, mỗi người chúng ta phải nhận thức rõ tình yêu đối với tiếng mẹ đẻ. Tình yêu đó không chấp nhận sự pha tạp, lai căng, lạm dụng tiếng nước ngoài, không chấp nhận những cách nói thiếu văn hoá, thiếu lịch sự trong giao tiếp..!
TRÊN THẾ GIỚI CÓ CHỈ CÓ HAI DÂN TỘC BỊ ĐÔ HỘ HƠN 1000 NĂM MÀ VẪN KHÔNG BỊ MẤT ĐI TIẾNG NÓI DÂN TỘC MÌNH LÀ VIỆT NAM VÀ DO THÁI

KHÔNG THỂ ĐÒI LẠI HOÀNG SA BẰNG CÁCH BIỂU TÌNH HAY GÂY CHIẾN TRANH!

         Ngày 20/1/1974, sau 4 ngày tấn công, Trung Quốc đã chiếm toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa. Binh sĩ VNCH thua chạy thoát thân, Thiệu cho phi đội F5 dự định tái chiếm nhưng ông ta buộc phải dừng lại vì người Mỹ ra lệnh "không được tái chiếm Hoàng Sa". Đó là lời của Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam Nguyễn Thành Trung, thời điểm đó ông Trung đang thuộc biên chế của Không lực VNCH. Là người Việt Nam sẽ không ai dám quên nỗi đau mất Hoàng Sa năm 1974. Trường Sa, Hoàng Sa muôn đời là của Việt Nam. Chúng ta có đầy đủ các bằng chứng lịch sử về việc xác lập chủ quyền. Thế nhưng, đây là vấn đề gay go, phức tạp, đòi hỏi phải kiên trì bằng biện pháp hoà bình để đòi lại Hoàng Sa và một số đảo ở Trường Sa bị Trung Quốc chiếm năm 1988; việc biểu tình hay kích động chiến tranh không phải là bước đi khôn ngoan của kẻ cơ trí. Trung Quốc là một nước lớn và mạnh, nếu dùng vũ lực để đòi lại thì chắc chắn chúng ta sẽ thiệt hơn họ rất nhiều. 

 Với những ai am tường về lịch sử của dân tộc có thể nhận thấy một điều rằng cha ông ta đã rất khôn khéo trong việc chung sống hòa bình với người Trung Quốc - người làng giềng phương Bắc khổng lồ! Chung sống hòa bình vì bách tính của Đại Việt chứ không phải là lệ thuộc Bắc phương. Vua Lê, Chúa Trịnh đã rất khéo léo trong mối quan hệ với Trung Quốc và sau đó nhà Thanh đã phải trả lại 120 dặm đất Vị Xuyên cho chúng ta. Nói thế không có nghĩa là chúng ta đòi thì họ sẽ ngay lập tức trả, cái quan trọng nhất trước mắt là giữ vững chủ quyền, không để họ lấn chiếm thêm và hy vọng vào sự quật khởi của các thế hệ tiếp theo. Ta không bao giờ công nhận Hoàng Sa là của Trung Quốc, làm đủ mọi cách để lấy lại hay chí ít cũng để cho thế giới biết rõ là họ đã xâm chiếm biển đảo của tổ quốc ta.

Lịch sử dân tộc ta chưa bao giờ có khái niệm “sợ Trung Quốc”, có nghĩa là một khi họ dấy can qua, mang sức mạnh để uy hiếp, xâm lược thì các Triều đại phong kiến của ta và nước Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân đứng lên để bảo vệ sơn hà xã tắc; khẳng định với giặc phương bắc chân lý bất diệt “Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư”. Triều Tiền Lê và nhà Lý chống Tống; nhà Trần bình quân Mông Cổ, Lê Lợi, Nguyễn Trãi đánh thắng quân Minh lập nhà Hậu Lê; Vua Quang Trung đại phá quân Thanh, nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đập tan 60 vạn quân Trung Quốc tại biên giới phía Bắc năm 1979. Đó là những trận chiến long trời lở đất của quân và dân ta qua các thời kỳ khác nhau, làm cho giặc phương Bắc “chích luân bất phản, phiến giáp bất hoàn” khẳng định rằng “sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”!

Có một điều chắc chắn đó là, đến hàng triệu năm sau thì dân nước Nam ta và Trung Quốc vẫn sẽ là hàng xóm láng giềng, đó là điều bất biến! So về thế và lực thì chúng ta phải thừa nhận rằng họ mạnh hơn ta trên hầu hết các lĩnh vực ngoại trừ lòng yêu nước! Vậy nên khi đánh thắng chúng rồi, các bậc tiền nhân cấp ngựa xe, thuyền bè, lương thảo cho chúng về nước, cử sứ thần qua hòa hiếu với chúng. Không phải là chúng ta đớn hèn mà đó là vì tiền nhân lấy đại cục làm trọng nên đem đại nghĩa để đối trọng với hung tàn, lấy chí nhân để loại trừ cường bạo. Mục đích cuối cùng là thái bình cho tổ quốc, vì cuộc sống của bách tính nước Việt! Vì sách động binh đao không phải là hồng phúc cho muôn dân trăm họ!

Ta vẫn đang làm tất cả để đòi lại Hoàng Sa (do ngụy Sài Gòn làm mất năm 1974) bằng luật pháp quốc tế chứ không phải là ở bên bờ Đại Tây Dương kêu gào chống Trung Quốc như những kẻ đã làm mất Hoàng Sa. Sách động nhân tâm chống Trung quốc là chiêu bài nham hiểm của bọn lưu vong khi chúng muốn Việt Nam và Trung Quốc đánh nhau đến lưỡng bại câu thương để chúng “tọa sơn quan hổ đấu”, để chúng thừa nước đục thả câu. Lúc đó chúng là kẻ hưởng lợi trên cảnh điêu linh của đồng bào ta! 

Chiến tranh xảy ra thì ngọc đá đều tan, đó không phải là cái phúc của xã tắc nhưng lại là món lợi ngàn năm có một của các thế lực thù địch và bọn phản động trong và ngoài nước vì đó là thời cơ để chúng hòng “lật đổ Đảng Cộng sản Việt Nam và chính quyền nhân dân”, rước ngoại bang vào nhà để thỏa mãn mưu đồ đã trở thành bản chất của chúng là bán nước cho giặc để được “vinh thân, phì gia”, ấm no cho chúng và gia tộc của chúng chứ chẳng bao giờ chúng nghĩ cho nước cho dân đâu! Trái lại, những kẻ ấy càng lợi dụng phá thêm, thậm chí mong muốn “Trung Cộng đánh thẳng vào Hà Nội giết sạch Việt Cộng” năm 1979. Bọn Fulro và bọn khủng bố tiền thân của “Việt Tân” đã nhân cơ hội chiến tranh đó mà “đục nước béo cò” đánh phá vào trong nước, đem tiền giả, ma túy, súng đạn vào khủng bố. Những kinh nghiệm từ lịch sử vẫn còn rành rành.

Đến hôm nay, nếu chiến tranh diễn ra thì cả Trung Quốc và Việt Nam đều chịu thiệt hại. Chúng ta sẽ chịu thiệt hại rất lớn về sức người sức của, kinh tế giảm sút mọi mặt, đời sống người dân sẽ bị ảnh hưởng nếu duy trì cuộc chiến lâu dài, chưa biết thắng thua. Chúng ta nên tranh thủ luật pháp quốc tế, sự ủng hộ của thế giới nhằm bảo vệ chủ quyền biển đảo, giữ gìn hòa bình và sự ổn định trong khu vực. Dù vậy, chúng ta vẫn sẵn sàng cầm súng chiến đấu nếu Trung Quốc nổ súng gây chiến tranh, đe dọa quyền lợi quốc gia và sự tồn vong dân tộc; tuy nhiên đó là biện pháp bất đắc dĩ, biện pháp cuối cùng khi không còn sự lựa chọn nào khác. Chúng ta luôn trân trọng hòa bình. Vì thế, ta không hy sinh và dùng chủ quyền đánh đổi hòa bình phụ thuộc. Những năm tháng chống Trung Quốc (1979-1991) đã cho chúng ta thấy rất rõ sự nhất quán trước sau như một, chúng ta vừa đánh để giành chủ quyền vừa tìm cách giữ cho nó trong sự kiểm soát, không để bất kỳ thế lực thứ ba nào lợi dụng, khoét sâu, kích động để leo thang cuộc chiến, cố gắng vãn hồi hòa bình, cố gắng tránh xung đột quy mô lớn. Đó là bài học lịch sử mà mỗi chúng ta cần nắm rõ để đập tan mưu đồ của bọn phản quốc!

Cổ nhân có câu “làm việc lớn không câu nệ tiểu tiết mà lấy đại cục làm trọng”. Những người Cộng sản Việt Nam luôn lo đến cái lợi lớn nhất của đất nước, cái tổng thể chung, lâu dài, bền vững, không để những tiểu tiết làm hư đại sự, không vì muốn thỏa mãn những cảm tính, tự ái, không để bị kích động nhất thời mà làm hỏng chuyện lớn. Còn những kẻ chống đối, cơ hội chính trị, từng theo chân giặc vẫn luôn miệng tuyên truyền dối trá, nâng quan điểm về những cái gọi là “đại họa mất nước”, “Cộng sản bán nước cho giặc”, “Cộng sản đang bị Hán hóa”, “Việt Nam sẽ bị sát nhập vào Trung Quốc”; "đóng của biên giới với Trung Quốc"; có một điều chắc chắn là nếu nước ta chuyển sang chống Trung Quốc như trong giai đoạn 1979-1992 thì chẳng bao giờ chúng theo ta chống Trung Quốc đâu. Những người vì nhẹ dạ cả tin mà theo chúng, hãy tỉnh ngộ đi! Chúng ta đoàn kết, thống nhất để lật bản mặt xấu xa và đê hèn của các tổ chức phản động lưu vong ở nước người và lũ phản phúc đang làm tay sai cho chúng ở trong nước./.
Yêu nước ST.

VUA QUANG TRUNG ĐẠI PHÁ QUÂN THANH Ở NGỌC HỒI - ĐỐNG ĐA, ĐÁNH CHO SỬ TRI NAM QUỐC ANH HÙNG CHI HỮU CHỦ!

         Vua Càn Long nhà Thanh vốn tự cho mình là đế vương tài ba nhất, tự huyễn hoặc bản thân mình về cái gọi là "thập đại võ công", cổ kim không ai sánh bằng. Càn Long tự hào về việc mang quân chinh phạt các quốc gia nhỏ bé ở phía bắc, phía tây. Gặp lúc Lê Chiêu Thống sang cầu cứu, Càn Long đế sai Tôn Sĩ Nghị mang 29 vạn quân sang xâm lược nước ta. Người Mãn Thanh luôn tự đại và kiêu ngạo. Lúc quân Thanh vừa sang, Ngô Thì Nhậm đã cho quân đội lùi vào phòng thủ ở tuyến Tam Điệp - Biện Sơn. Đây là diệu kế của Ngô Thì Nhậm. Một mặt làm cho giặc chủ quan, khinh thường chúng ta, mặt khác cấp báo về Phú Xuân và đợi hợp binh cùng quân Tây Sơn từ Nam ra.

Nghe tin cấp báo, từ Phú Xuân, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lập đàn tế lễ lên ngôi vua, lấy niên hiệu Quang Trung để có thể hiệu triệu muôn dân cùng đồng lòng tiến quân ra Bắc diệt giặc ngoại xâm. Trong chiếu lên ngôi vua có đoạn:

"Nước Việt ta từ đời Đinh, Lê, Lý, Trần gầy dựng cho đến ngày nay, thánh minh dấy lên không phải là một họ, nhưng thịnh suy, dài ngắn, vận mệnh do trời, không phải sức người tạo ra được. Trước đây Nhà Lê mất triều chính, họ Trịnh và cựu Nguyễn chia bờ cõi. Hơn hai trăm năm nay, kỷ cương rối loạn, vua Lê chỉ là hư vị, cường thần tự ý vun trồng, giềng mối của trời đất một phen rơi xuống không nâng lên được, chưa có lúc nào hư hỏng quá như lúc này vậy. Vả lại mấy năm gần dây, Nam Bắc gây việc binh đao, người dân rơi vào chốn bùn than. Trẫm hai lần gây dựng họ Lê, thế mà tự quân họ Lê không biết giữ xã tắc, bỏ nước đi bôn vong, sĩ dân Bắc Hà không hướng về họ Lê, chỉ trông mong vào trẫm"...

Chiêu mộ binh sĩ, tích trữ quân lương, cắt đặt các đạo binh, vua Quang Trung xuống lịnh tiến quân thần tốc ra Bắc. Đêm 30 Tết từ Tam Điệp, sau khi đã cho quân lính ăn Tết sớm, vua Quang Trung truyền lịnh tấn công và hẹn cùng ba quân sẽ ca khúc khải hoàn tại Thăng Long thành vào mồng Bảy Tết. Hịch của vua Quang Trung vang vọng núi sông "Đánh cho chúng chích luân bất phản, đánh cho chúng phiến giáp bất hoàn, đánh cho để sử tri Nam Quốc anh hùng chi hữu chủ".

Đại binh Tây Sơn chỉ có quân số khoảng 10 vạn quân, ít hơn quân Thanh và quân của Lê Chiêu Thống khoảng 3 lần nhưng lần lượt giành những chiến thắng liệt oanh, từ trận diệt đồn Gián Khẩu, Hà Hồi, Ngọc Hồi cho đến Khương Thượng, tức chiến thắng Đống Đa, buộc tướng Sầm Nghi Đống của quân Thanh phải treo cổ tự vẫn vì thất thủ. Đến Mồng Năm Tết, vua Quang Trung đã vào đến thành Thăng Long, sớm hơn dự định cả hai ngày. Tôn Sĩ Nghị cùng tàn quân phải cuống cuồng, hỗn loạn, cởi bỏ cả ấn tín, tháo chạy về phương Bắc. 

Vua quan nhà Lê cũng tìm đường bôn tẩu, chạy theo về Tàu. Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa ghi thêm vào trang sử Việt về ý chí chống giặc ngoại xâm, bảo vệ giang sơn bờ cõi của những bậc tiền nhân. Voi và hoả khí của Tây Sơn làm cho ngựa chiến và binh lính nhà Thanh khiếp vía, kinh hồn. Nhà thơ nổi tiếng đương thời là Ngô Ngọc Du đã khắc họa khung cảnh tưng bừng, náo nhiệt của Nhân dân kinh thành Thăng Long khi quân Tây Sơn toàn thắng: 
 
Mây tạnh mù tan trời lại sáng
Đầy thành già trẻ mặt như hoa
Chen vai thích cánh cùng nhau nói:
Cố đô vẫn thuộc núi sông ta.

Vua Quang Trung không may mất sớm khi sự nghiệp thống nhất sơn hà còn dở dang. Vua Cảnh Thịnh kế vị còn nhỏ tuổi, lại chỉ tin dùng cậu ruột là Thái sư Bùi Đắc Tuyên. Những kẻ sĩ như Ngô Thì Nhậm, vị quân sư đại tài mà sinh thời Vua Quang Trung rất trọng dụng...lại không được Cảnh Thịnh tin dùng. Các tướng lĩnh của nhà Tây Sơn bất hoà quay ra đánh giết hoặc không ứng cứu lẫn nhau khi lâm trận. Đó là nguồn cơn dẫn đến việc nhà Tây Sơn mất nước vào tay Nguyễn Ánh, kẻ cỏng rắn cắn gà nhà

Vua Quang Trung là nhà chính trị, quân sự đại tài, cổ kim xưa nay hiếm; anh hùng dân tộc ta, người đã đánh cho quân Thanh phải "chích luân bất phản, phiến giáp bất hoàn; đánh cho sử tri Nam quốc Anh hùng chi hữu chủ" bằng chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa năm Kỷ Dậu 1789. Đánh cho quân Xiêm La biết thế nào là uy vũ của cọp Tây Sơn, tiêu diệt chúng ở Rạch Gầm - Xoài Mút năm 1785.

Kỷ niệm 233 năm ngày vua Quang Trung đại phá quân Thanh, nhân dân ta tưởng nhớ đến Vua Quang Trung với lòng thành kính, tri ân, cảm phục và xen lẫn tiếc nuối về một tài năng tuyệt thế, tiếc vì mặt trời không may phải "lặn giữa lúc sáng chói nhất". Nếu ông sống thêm khoảng 10 năm thì có thể lịch sử nước ta bước sang một trang khải hoàn. Xin mượn mấy câu thơ của tướng Võ Văn Dũng, một trong những Tây Sơn thất hùng, viếng vua Quang Trung năm nào để tưởng nhớ đến người Anh hùng của dân tộc ta và cũng để kết thúc bài viết:

"Năm năm dấy nghiệp tự thân nông
Thời trước thời sau khó sánh cùng
Trời để vua ta thêm chục tuổi
Anh hùng Đường, Tống hết khoe hùng"./.
Yêu nước ST.

MỸ, ANH ĐANG DÙNG KẾ LY GIÁN!

         Sau khi Mỹ và đồng minh cấm vận Nga, người Nga cũng rất khó khăn với các lệnh "trừng phạt" về kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực năng lượng. Thế nhưng, cả Hoa Kỳ và Tây Âu cũng thấm đòn bởi chính lệnh mà họ ban ra. Tuần trước Mỹ đã phải xuống nước khi cử phái đoàn sang Venezuela để tìm nguồn cung cấp dầu trong bối cảnh giá xăng dầu liên tiếp tăng cao, do thiếu nguồn cung từ Nga. Hôm qua đến lượt Vương quốc Anh đã cử người sang Iran để thương thảo. Anh chấp nhận trả lại số tiền 400 triệu USD mà Iran đã chuyển cho họ để mua xe tăng, nhưng Anh nhận tiền mà không giao hàng. Lý do là theo đuôi Mỹ để trừng phạt Iran. Rõ mặt dày!

     Với trường hợp của Thổ Nhĩ Kỹ, người Thổ cũng đã hiểu rõ bản chất của Hoa Kỳ và đồng minh. Tình báo Thổ đã phá được mưu ám sát Tổng thống nước này - Ông Recep Tayyip Erdogan trong đêm diễn ra cuộc đảo chính bất thành 15/7/2016. Recep Tayyip Erdogan hiểu rõ ai là bạn, ai là thù. Lúc nguy cấp chính Putin và người Nga đã phối hợp với họ để phơi bày bản chất thật của người Mỹ. Thổ cũng chẳng tha thiết gì về cái gọi là "vì hoà bình quốc tế". Chẳng đời nào Recep Tayyip Erdogan ngây thơ để rước hoạ vào thân. Thổ Nhĩ Kỳ là thành viên NATO nhưng bây giờ họ sống theo cách "gió chiều nào theo chiều đó" chứ không theo Mỹ.

     Mỹ, Anh một mặt nối lại quan hệ với Venezuela, Iran nhằm nỗ lực tìm kiếm giải pháp thay thế nguồn cung xăng dầu từ Nga. Nhưng quan trọng hơn là họ muốn nhân cơ hội này để chia rẽ Nga và các đồng minh thân cận của họ như Venezuela, Iran... Mỹ, Anh muốn nhất tiễn hạ song điêu, vừa cung cấp vũ khí, lương thực, trang thiết bị quân sự để Ukraine kéo dài cuộc chiến với Nga, làm Nga suy yếu để họ dễ bề khống chế và nâng cao tầm ảnh hưởng ở Trung Đông, Nam Mỹ. Một mặt cố ly gián Nga và đồng minh của họ. Chiêu bài hết sức thâm sâu nhưng cả Nga, Venezuela, Iran...đã thừa hiểu bản chất của con ngáo ộp sen đầm quốc tế để không dính đòn.

     Mỹ và NATO luôn xem Iran, Venezuela là cái gai trong mắt, họ cấm vận kinh tế và có chính sách thù địch. Thế nhưng khi Nga và Ukraine bước vào cuộc chiến thì ngay lập tức họ quay lại ve vãn các nước mà họ luôn xem là kẻ thù. Rất đơn giản vì lúc này cái mà Mỹ và NATO cần đó chính là tập trung cô lập Nga và Nga rõ ràng mạnh hơn Venezuela, Iran. Có nhiều cái gai trong mắt, tập trung nhổ cái gai lớn trước. Người Mỹ lâu nay đã dần đánh mất lợi thế ông chủ của thế giới đơn cực. Trục Nga, Trung, Iran, Venezuela, Syria...thách thức và có xu hướng triệt tiêu chủ nghĩa đế quốc đơn cực. Ukraine chỉ là con tốt trên bàn cờ. Cuộc chơi của các nước lớn giờ mới bắt đầu. Đây không đơn thuần là cuộc chiến giữa Ukraine và Nga mà là cuộc chiến vì lợi ích của các nước lớn. Cuộc chiến giữa một bên là Mỹ và NATO, chư hầu hòng duy trì trật tự đơn cực theo quỹ đạo của Hoa Kỳ, một bên là Nga và đồng minh. Hy vọng các đồng minh của Nga không trúng kế ly gián./.

Môi Trường ST.

LÊN LỚP VỀ CHUYỆN NHÂN QUYỀN Ư? XIN LỖI, HOA KỲ KHÔNG ĐỦ TƯ CÁCH!

         Không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn. Vậy nên dù là cựu thù nhưng ngày nay quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ ngày càng trở nên tốt đẹp. Việt Nam, Mỹ ngày càng hợp tác chặt chẽ trên nhiều lĩnh vực. Đó là điều hết sức vui mừng. Gác lại quá khứ, hướng tới tương lai, vì hoà bình và phát triển, vì lợi ích của hai nước. Việt Nam chào đón ông Derek Chollet đến Việt Nam. Thế nhưng nếu Ông vẫn cứ giữ thói quen mà những người tiền nhiệm hay làm, đó là kêu gọi về nhân quyền Việt Nam thì tốt nhất là đừng nên làm. Việc này ảnh hưởng đến mối quan hệ hai nước và vì Hoa Kỳ không đủ tư cách để nói chuyện nhân quyền với Việt Nam. 

Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ các ông đã được long trọng công bố vào ngày 4 tháng 7 năm 1776, là lời tuyên bố các quyền tự do dân chủ. Bản Tuyên ngôn nêu rõ: "Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa đã ban cho họ những quyền không thể tước bỏ. Trong những quyền ấy có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Nghĩa là trong những quyền cơ bản của con người thì quyền được sống là quyền tối thượng. Vậy xin hỏi ai đã tàn sát người da đỏ để cướp lãnh thổ của họ? Người da đỏ có vào khoảng 15 triệu khi người Tây phương bắt đầu xâm lược, chỉ còn lại chưa đầy 250 ngàn vào năm 1890 và hiện nay gần như tuyệt chủng. Ai đã mang quân cướp một nữa lãnh thổ và tàn sát người Mexico? Ai đã ném bom nguyên tử hủy diệt Hiroshima và Nagasaky, khiến 220.000 người chết? Ai đã mang cả nửa triệu quân cùng chư hầu xâm lược Việt Nam và tàn sát người vô tội ở Việt Nam?...

Kể từ năm 1946 đến nay, quân đội Hoa Kỳ đã trực tiếp tấn công 9 quốc gia (Triều Tiên, Việt Nam, Campuchia, Grenada, Afghanistan, Iraq, Nam Tư, Panama, Cuba), các cuộc chiến này gây ra cái chết của 10 tới 15 triệu người. Ngoài ra, Hoa Kỳ cũng gây ra đảo chính hoặc ngầm can dự vào xung đột tại 28 quốc gia khác, gây ra cái chết của 9 tới 14 triệu người. Tổng cộng Hoa Kỳ đã trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra cái chết của khoảng 20 đến 30 triệu người trong các cuộc chiến tranh và xung đột rải rác trên khắp thế giới kể từ năm 1946 đến nay.

Cần khẳng định rõ rằng, Việt Nam là đất nước đấu tranh mạnh mẽ nhất trên thế giới này để giành giật quyền con người từng bị cướp đoạt trong tay quân xâm lược, đô hộ. Một đất nước đã dùng cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giành độc lập, tự do, bảo đảm dân chủ, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc và quyền tự quyết vận mệnh dân tộc. Nước Việt do dân Việt làm chủ, chế độ lấy tổ quốc, nhân dân làm trung tâm để phụng sự. Dân tộc đó phải là dân tộc tự do nhất, dân chủ nhất, dân quyền nhất! 

Vừa qua một số đối tượng như Nguyễn Thúy Hạnh, Phạm Đoan Trang, Phạm Chí Dũng, Cấn Thị Thêu, Trương Châu Hữu Danh, Nguyễn Tường Thụy…bị bắt, họ bị bắt để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của pháp luật. Khởi tố về tội theo Điều 117 Bộ luật hình sự “làm, tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu, vật phẩm tuyên truyền chống Nhà nước Việt Nam”. Những kẻ đó không phải là thực hiện quyền tự do dân chủ cũng như cổ súy nhân quyền mà bản chất là hành vi vi phạm pháp luật. Các người cho rằng: “Việt Nam đã bắt giữ, bịt các tiếng nói đối lập” là hoàn toàn không có cơ sở, không đúng bản chất sự việc bởi họ bị bắt là vì vi phạm pháp luật chứ không phải vì tiếng nói đối lập hay trung lập gì cả. Vậy cớ gì Hoa Kỳ lại đi tôn vinh những kẻ như Phạm Đoan Trang?

Quốc có quốc pháp, gia có gia quy. Vi phạm pháp luật thì phải bị xử lý theo quy định của pháp luật. Việt Nam không như Hoa Kỳ hay một số nước Tây Âu, mồm thì ra rả dân chủ nhân quyền nhưng thực chất là những kẻ sát nhân tàn bạo nhất, đúng là những kẻ thiếu thứ gì thì hay rao giảng về thứ đó. Bom đạn Mỹ vẫn nổ khắp nơi trên thế giới, máu tươi tanh tưởi vẫn trào ra, ly tán, chia rẽ và khổ đau mà các nước Trung Đông hay Bắc Phi, Nam Mỹ, Châu Á…vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại. Nhân quyền ở đâu khi mà quyền tối thượng của mỗi con người là quyền được sống vẫn thường xuyên bị các nước lớn uy hiếp, tước bỏ? 

Vi phạm nhân quyền mà làm cho họ từ thân phận nô lệ, tôi đòi mà đứng lên làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của tổ quốc. Vi phạm nhân quyền mà từ chỗ hơn 2 triệu người chết đói do chính sách bạo tàn của người Pháp và đặc biệt là phát xít Nhật gây ra 1945 mà có ngày hôm nay. Người Việt không hề có quyền con người dưới chế độ thực dân, phong kiến mà trở thành những con người có áo đẹp, cơm ngon với đầy đủ các quyền tự do, dân chủ. Vi phạm nhân quyền mà vào sinh ra tử để cứu dân khỏi nước sôi, lửa bỏng, cứu dân khỏi thiên tại lũ lụt, dịch bệnh. Vi phạm nhân quyền mà chỉ sau 30 năm đổi mới, đất nước từ chỗ nghèo đói nhất thế giới, quy mô nền kinh tế 180/195 quốc gia năm 1991 đã vươn lên thành nền kinh tế thứ 31 thế giới, đứng thứ 3 Đông Nam Á và chính thức cạnh tranh sòng phẳng vị trí thứ hai với Thái Lan sao. Người Mỹ nên nhận thức lại khái niệm về nhân quyền. Nói về nhân quyền thì xin lỗi, Hoa Kỳ không đủ tư cách./.
Yêu nước ST.

Thứ Hai, 4 tháng 4, 2022

Quy trình giải quyết thủ tục hành chính một cửa, một cửa liên thôngQuy trình giải quyết thủ tục hành chính một cửa, một cửa liên thông

 

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 61/2018/NĐ-CP quy định về việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính cho tổ chức, cá nhân. Trong đó, Nghị định quy định rõ quy trình giải quyết thủ tục hành chính.

Theo quy định, tại cấp Bộ, Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả tại bộ, cơ quan ngang bộ tiếp nhận hồ sơ thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc liên thông giải quyết của các đơn vị trực thuộc bộ, cơ quan ngang bộ.

Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả tổng cục và tương đương, cục thuộc bộ tiếp nhận hồ sơ thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc liên thông giải quyết của cơ quan, đơn vị mình.

Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả của các cơ quan của trung ương được tổ chức theo hệ thống ngành dọc tại địa phương tiếp nhận hồ sơ thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc liên thông giải quyết của cơ quan, đơn vị mình.

Tại cấp tỉnh, Trung tâm Phục vụ hành chính công tiếp nhận hồ sơ thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc liên thông giải quyết của UBND cấp tỉnh, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, những thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc liên thông giải quyết của các cơ quan được tổ chức theo hệ thống ngành dọc tại địa phương theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, những thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các bộ, ngành, của UBND cấp huyện được giao tiếp nhận tại Trung tâm Phục vụ hành chính công.

Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả của cơ quan chuyên môn cấp tỉnh tiếp nhận thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc liên thông giải quyết của cơ quan mình, thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các bộ, ngành, của UBND cấp huyện được giao tiếp nhận tại cơ quan chuyên môn cấp tỉnh.

Tại cấp huyện, Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả cấp huyện thực hiện tiếp nhận hồ sơ tất cả thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc liên thông giải quyết của UBND cấp huyện, một số thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc liên thông giải quyết của các cơ quan được tổ chức theo hệ thống ngành dọc tại địa phương theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp xã được giao tiếp nhận tại cấp huyện.

Tại cấp xã, Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả cấp xã tiếp nhận hồ sơ thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp xã và những thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp huyện được giao tiếp nhận hồ sơ tại cấp xã.

Cách thức giải quyết

Tổ chức, cá nhân có thể nộp hồ sơ, nhận kết quả giải quyết thủ tục hành chính thông qua các cách thức theo quy định tại văn bản quy phạm pháp luật quy định về thủ tục hành chính gồm: 1- Trực tiếp tại Bộ phận Một cửa; 2- Thông qua dịch vụ bưu chính công ích theo quy định của Thủ tướng Chính phủ, qua thuê dịch vụ của doanh nghiệp, cá nhân hoặc qua ủy quyền theo quy định của pháp luật; 3- Trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công cấp bộ, cấp tỉnh.

Đối với hồ sơ được nhận theo cách thức 1,2 ở trên thì cán bộ, công chức, viên chức tiếp nhận hồ sơ tại Bộ phận Một cửa phải xem xét, kiểm tra tính chính xác, đầy đủ của hồ sơ; quét (scan) và lưu trữ hồ sơ điện tử, cập nhật vào cơ sở dữ liệu của Hệ thống thông tin một cửa điện tử của bộ, ngành, địa phương. Nếu hồ sơ đầy đủ, chính xác theo quy định, cán bộ, công chức, viên chức tiếp nhận hồ sơ và lập Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn ngày trả kết quả.

Đối với hồ sơ được nộp trực tuyến thông qua Cổng Dịch vụ công cấp bộ, cấp tỉnh, cán bộ, công chức, viên chức tiếp nhận hồ sơ tại Bộ phận Một cửa phải xem xét, kiểm tra tính chính xác, đầy đủ của hồ sơ. Nếu hồ sơ của tổ chức, cá nhân đầy đủ, hợp lệ thì cán bộ, công chức, viên chức tại Bộ phận Một cửa tiếp nhận và chuyển cho cơ quan có thẩm quyền để giải quyết theo quy trình quy định tại Điều 18 Nghị định này.

Mỗi hồ sơ thủ tục hành chính sau khi được tiếp nhận sẽ được cấp một Mã số hồ sơ được ghi trong Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả. Tổ chức, cá nhân sử dụng Mã số hồ sơ để tra cứu tình trạng giải quyết thủ tục hành chính tại Cổng Dịch vụ công Quốc gia, Cổng Dịch vụ công cấp bộ, cấp tỉnh.

Ngay sau khi tiếp nhận hồ sơ thủ tục hành chính theo quy định trên, cán bộ, công chức, viên chức tiếp nhận chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền phân công cán bộ, công chức, viên chức xử lý xem xét, thẩm định hồ sơ, trình phê duyệt kết quả giải quyết thủ tục hành chính.

Theo Cổng thông tin điện tử Chính phủ

Lợi dụng diễn biến hai vụ án “nóng” để xuyên tạc, bôi nhọ thể chế

 

Những ngày cuối tháng 3, cơ quan tiến hành tố tụng đã khởi tố, điều tra hai vụ án hình sự liên quan đến những cá nhân nổi tiếng cả về kinh tế và sự ảnh hưởng trong đời sống xã hội, dư luận đặc biệt quan tâm.

Cụ thể, ngày 29/3, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam đối với ông Trịnh Văn Quyết, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty CP Tập đoàn FLC.

Trước đó, ngày 24/3, Cơ quan CSĐT Công an TP Hồ Chí Minh đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”, quy định tại Điều 331, BLHS, đồng thời khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam đối với bà Nguyễn Phương Hằng, SN 1971, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Đại Nam, về hành vi nêu trên.

Đây là hai cá nhân nổi tiếng trước hết đến từ sự giàu có và các hoạt động kinh doanh trên thương trường. Với bị can Trịnh Văn Quyết, ngoài danh tiếng Tập đoàn FLC mà ông với vai trò Chủ tịch HĐQT thì khối tài sản đồ sộ của cá nhân thuộc top đầu cả nước, trong đó đỉnh điểm năm 2016, thị trường chứng khoán Việt Nam diễn ra sự kiện hoán đổi vị trí người giàu nhất Việt Nam và ông Trịnh Văn Quyết vươn lên dẫn đầu (thời điểm đó, khối tài sản của ông Quyết vào khoảng 34.000 tỉ đồng đến từ 289,6 triệu cổ phiếu ROS (tương đương 67,34% cổ phần FLC Faros) và 114,2 triệu cổ phiếu FLC (tương đương 17,9% cổ phần), chưa kể khối tài sản động sản, bất động sản ở các vùng miền.

Với bà Nguyễn Phương Hằng, Phó Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc điều hành CTCP Đại Nam cũng sở hữu khối tài sản rất lớn và bà từng tiết lộ qua livestream: “Nếu nói về tài sản thì 500, 700 triệu đô đến 1 tỷ đô tôi có... Mỗi lần tôi xuất hiện sẽ có một bộ trang sức khác. Kim cương của tôi lên đến hàng ký… Tôi đi những chiếc xe 40, 50 chục tỷ, có đến vài chiếc là chuyện bình thường. Tôi ở bao nhiêu căn nhà mặt tiền, sổ đỏ tôi cân ký”…

Sau khi hai cá nhân trên bị khởi tố, bắt tạm giam, trên nhiều trang mạng hải ngoại, các tổ chức và cá nhân chống phá đã đặt ra những câu hỏi nhằm đánh tráo bản chất, hướng lái vụ án sang chiều hướng tiêu cực. Thủ đoạn của các đối tượng là:

Thứ nhất, xuyên tạc việc khởi tố, điều tra các bị can trên là “nhắm vào giới doanh nhân, giới siêu giàu”. Trang Việt Tân rêu rao “Chiến dịch đánh tư sản bắt đầu”, từ đó suy diễn: “Nhiều tỷ phú lần lượt bị bắt giam, một số khác đang được dự đoán sẽ xộ khám trong thời gian tới. Trong bối cảnh kinh tế đất nước đang lâm vào cảnh khánh kiệt, nhiều đồn đoán về chiến dịch đánh tư sản tại Việt Nam”!

Nguy hiểm hơn, bài viết bịa ra chuyện Nhà nước “khánh kiệt” tài sản sau đại dịch COVID-19, nói rằng trong 3 năm tới phải trả 1,2 triệu tỷ nợ công nên “đó là lý do giới nhà giàu lên thớt”! Từ việc đưa ra những lời lẽ trên, bài viết nhắm vào việc thu hút các bình luận chỉ trích Đảng, Nhà nước, cho rằng đang có chủ trương “đánh” vào doanh nhân, tập đoàn, công ty tư nhân để “răn đe” và “cướp vốn”. Đây là kiểu xuyên tạc nguy hiểm, cố tình đánh tráo bản chất vụ án, hướng lái sang vấn đề chính trị, từ đó kích động chống phá.

Thứ hai, các đối tượng bịa ra chuyện “đang có đấu đá quyền lực”, cho rằng những cá nhân bị khởi tố là các quân bài bị đưa ra mổ xẻ. Trong một bài viết có tên “Những con mồi của Đảng không thể bỏ qua” đăng trên trang Việt Tân, người viết đã tráo trở biến việc khởi tố các bị can thành “hai đại gia về bất động sản Nguyễn Phương Hằng và Trịnh Văn Quyết đã trở thành miếng mồi ngon của những thế lực đang đấu đá với nhau”, từ đó miệt thị “sống dưới chế độ độc tài cộng sản hiện nay, những đại gia, tài phiệt hoặc người giàu có tài sản đều là những người nằm trong tầm ngắm của các lãnh đạo Đảng Cộng sản, cho dù họ làm ăn chân chính cũng không thoát khỏi”! Một số bình luận cũng cổ suý cho luận điệu này, quy kết việc khởi tố, bắt tạm giam các bị can là “có ý đồ chính trị” để hướng lái, xuyên tạc vụ án hình sự sang “nghi vấn đấu đá nội bộ”.

Thứ ba, các đối tượng tiếp tục chỉ trích tội danh “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”, quy định tại Điều 331, BLHS, từ đó xuyên tạc rằng việc khởi tố, bắt tạm giam bị can Nguyễn Phương Hằng là tuỳ tiện, bóp nghẹt dân chủ. Một số bài viết xâu chuỗi những vụ án trước đây cùng tội danh này để đưa ra bức tranh xám về tự do, dân chủ ở Việt Nam, cho rằng Điều 331-BLHS “chỉ nhằm phục vụ đảng”, bỏ tù những ai “đảng không thích”.

Thứ tư, từ việc đưa ra những nghi vấn thiếu cơ sở để suy diễn, chỉ trích cơ quan tiến hành tố tụng, chỉ trích Đảng, Nhà nước. Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam đối với bị can Trịnh Văn Quyết về hành vi thao túng thị trường chứng khoán. Theo cơ quan điều tra, ông Quyết bị khởi tố, bắt giam để làm rõ những sai phạm liên quan đến việc bán “chui” 74,8 triệu cổ phiếu FLC trước đó. Cũng liên quan đến vụ bán “chui” cổ phiếu này, ông Quyết đã bị phạt hành chính 1,5 tỷ đồng, đình chỉ hoạt động chứng khoán 5 tháng bởi quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “không báo cáo về giao dịch dự kiến” từ Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN). Về vụ việc này, có người đặt câu hỏi: Vì sao UBCKNN đã ra quyết định xử phạt ông Trịnh Văn Quyết 1,5 tỷ đồng và đình chỉ hoạt động chứng khoán 5 tháng nhưng vẫn bị khởi tố? Từ đó cho rằng, một hành vi vừa xử lý hành chính lại xử lý hình sự là thể hiện sự “lộng quyền”, hình sự hoá vấn đề hành chính. Qua đó, suy diễn vụ án là bị đẩy lên hình sự để phục vụ mục đích, ý đồ khác!

Luận điệu trên có thể khiến những người thiếu hiểu biết bị các đối tượng đánh lạc hướng, cho rằng đang có khuất tất phía sau vụ án, cơ quan CSĐT phạm luật. Thực tế, vấn đề này đã được Cơ quan CSĐT Bộ Công an giải thích rõ. Thiếu tướng Lê Văn Tân, Phó Chánh Văn phòng Cơ quan CSĐT Bộ Công an cho biết, tháng 1/2022, ông Quyết bị xử phạt hành chính về hành vi không báo cáo, không công bố thông tin trước khi thực hiện giao dịch theo Nghị định 128/2020/NĐ-CP về xử phạt trong lĩnh vực chứng khoán.

Sau khi vào cuộc xác minh, điều tra, cơ quan chức năng phát hiện trong vụ việc bán chui cổ phiếu ngày 10/1/2022, ông Quyết đã có nhiều thủ đoạn, mánh khóe tinh vi để tạo cung, cầu giả, đẩy giá cổ phiếu nhằm thu lời bất chính số tiền từ 500 triệu đồng trở lên. Do đó, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã khởi tố về hành vi thao túng thị trường chứng khoán.

“Trong trường hợp cơ quan chức năng đã xử phạt hành chính mà sau đó xác định hành vi vi phạm đủ cấu thành tội phạm, phải xử lý hình sự thì cơ quan điều tra sẽ khởi tố để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. Theo đó, sau khi bị khởi tố, điều tra thì toàn bộ quyết định xử phạt hành chính trước đây đều không có hiệu lực” – Thiếu tướng Lê Văn Tân nêu rõ.

Theo CQĐT, hành vi thao túng thị trường chứng khoán của ông Quyết tác động tiêu cực tới thị trường và gây thiệt hại lớn cho các nhà đầu tư. Ngoài ông Quyết đã bị khởi tố, bắt tạm giam, hiện nay, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đang tích cực điều tra những cá nhân giúp sức tích cực để bị can thực hiện hành vi vi phạm. Trong quá trình xác minh điều tra, cơ quan Công an sẽ xem xét, làm rõ mục đích, vai trò của từng người để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Nếu những người đó thực hiện hành vi dưới danh nghĩa công ty (pháp nhân) nhằm trục lợi bất chính cho đơn vị thì tùy theo mức độ thiệt hại gây ra cho nhà đầu tư và số tiền thu lợi bất chính, pháp nhân này có thể bị phạt tiền từ 2- 10 tỷ đồng.

Trường hợp người thực hiện hành vi dưới danh nghĩa cá nhân, tiếp tay làm lũng đoạn thị trường nhằm tư lợi bất chính, gây thiệt hại cho nhà đầu tư, nếu đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm sẽ bị xử lý hình sự. Ngoài ra, những đối tượng này còn phải bồi thường dân sự cho những nhà đầu tư bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Như vậy, không có chuyện một hành vi “thích thì xử lý hành chính, không thích thì hình sự hoá” và không phải một hành vi bị xử lý cả hành chính lẫn hình sự. Lý giải này đã được Cơ quan CSĐT giải thích rõ nhưng một số đối tượng vẫn tỏ ra “không biết” để tìm cách bôi nhọ, chỉ trích.

Ở đây, chúng ta cần thấy rằng, hai vụ án trên dư luận đặc biệt quan tâm vì chủ thể tội phạm là những cá nhân có vị thế kinh tế giàu có cùng những ảnh hưởng trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, tính chất đó của chủ thể tội phạm không làm thay đổi bản chất vụ án. Việc khởi tố, điều tra là căn cứ các yếu tố cấu thành tội phạm, trong đó có các hành vi phạm vào tội danh quy định trong BLHS, như với ông Quyết là sai phạm về hoạt động chứng khoán, với bà Hằng là sai phạm về lợi dụng quyền tự do, dân chủ để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Sai phạm đó đủ yếu tố cấu thành tội phạm và cơ quan CSĐT khởi tố để điều tra, làm rõ. Không thể viện bất cứ lý do nào để hướng lái vụ án sang vấn đề chính trị, không thể lấy lý do bị can là những doanh nhân giàu có để xuyên tạc thành “chiến dịch đánh tư sản”, “tấn công vào kinh tế tư nhân”. Mọi bị can khi bị khởi tố, điều tra đều căn cứ vào hành vi, khách thể bị xâm hại, các yếu tố lỗi, không có bất cứ lý do nào để ngụy biện thành việc phân biệt kinh tế tư nhân với các thành phần kinh tế khác.

Mọi thành phần kinh tế đều được tạo điều kiện phát triển, trong đó kinh tế tư nhân đã được Đảng ta xác định “thực sự trở thành một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế”. Đây là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng vừa thúc đẩy kinh tế tư nhân tiếp tục phát triển, vừa phát huy vai trò của thành phần kinh tế này trong phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng. Những thành công đạt được của Tập đoàn FLC cũng như vai trò cá nhân của ông Trịnh Văn Quyết có được là nhờ chủ trương nhất quán đó của Đảng, được tạo điều kiện để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển. Tuy nhiên, tất cả đều có hành lang pháp lý điều chỉnh, hành vi nào xâm phạm vào quy định của pháp luật hình sự, gây nguy hiểm cho xã hội thì sẽ bị điều tra, xử lý theo quy định và việc xử lý không phân biệt chủ thể phạm pháp thuộc thành phần kinh tế nào, dù là tỷ phú, triệu phú hay ở các tầng lớp khác. Do đó, không thể bôi nhọ rồi xuyên tạc, đánh lận bản chất vụ án./.