Thứ Tư, 6 tháng 4, 2022

Để mãi là hình tượng đẹp, biểu trưng văn hóa của dân tộc

 

Để tiếp tục gìn giữ, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong điều kiện mới, một mặt, chúng ta phải tích cực nhận diện, đấu tranh không khoan nhượng với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, chống phá; mặt khác, phải thường xuyên giáo dục tinh thần tự giác học tập và tổ chức rèn luyện để mỗi cán bộ, chiến sĩ đề cao trách nhiệm, tự giác tu dưỡng, làm cho phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ mãi trở thành hình tượng đẹp-biểu trưng văn hóa của dân tộc Việt Nam.

KẺ THÙ CỦA CÁCH MẠNG

 

Chiến thắng của cách mạng đồng thời cũng tạo ra những kẻ thù của cách mạng. Họ là những kẻ đã thất bại trong các cuộc kháng chiến. Sự thất bại luôn đi cùng với mất mát, thiệt hại về sinh mạng, quyền lực chính trị, tinh thần và của cải nên họ rất khó xóa bỏ được tư tưởng thù hận, tham vọng khôi phục những quyền lợi đã mất. Vì vậy, lực lượng này đương nhiên sẽ rất hậm hực khi chứng kiến những thành tựu của công cuộc đổi mới và rất hả hê khi chúng ta gặp khó khăn, thất bại. Mặc dù kẻ thù giai cấp luôn tận dụng, cấu kết với kẻ thù cách mạng để chống phá, nhưng nhìn chung, các quan điểm sai trái, thù địch của lực lượng này thường không sâu sắc, bài bản, hệ thống như kẻ thù giai cấp. Quan điểm chống phá của họ thường nặng về cảm xúc, dễ thay đổi và tính thuyết phục không cao. Lớp người thù hận cũng sẽ dần dần ít đi vì tuổi tác. Tuy nhiên, phần lớn trong số họ là người Việt nên nắm được tâm lý, tâm linh, văn hóa của người Việt Nam. Các quan điểm sai trái, thù địch của họ dễ thông qua con đường tình cảm gia đình, dòng họ để thẩm thấu vào Việt Nam.

Nếu chúng ta biết được nguồn gốc, lịch sử của họ, chúng ta sẽ chỉ cho cán bộ, đảng viên, quần chúng biết họ là ai và lý do vì sao họ lại có quan điểm như vậy, đồng thời chúng ta có thể cảm hóa, lôi kéo họ trở về với dân tộc, đóng góp cho đất nước./.

TMT 07.4

VỮNG TIN VÀ TIẾP BƯỚC CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

          Chúng ta biết, những năm đầu thế kỷ XX, Đảng ta và Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể, tìm ra con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối. Vì thế, ngay khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930), trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định đường lối chiến lược cơ bản của cách mạng Việt Nam là, làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Đây là một định hướng chính trị hết sức quan trọng, phương châm hành động để Đảng ta lãnh đạo nhân dân trong tiến trình cách mạng. Để đường lối đó trở thành hiện thực, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã không quản gian khổ, hy sinh đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, thu giang sơn về một mối, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

          Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới. Như vậy, dù trong điều kiện, hoàn cảnh nào, Đảng và Nhân dân ta dứt khoát lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là sự nghiên cứu, vận dụng trung thành, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội vào điều kiện cụ thể cách mạng Việt Nam.

          Từ ngày ra đời đến nay, nhất là qua 36 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 31 năm thực hiện cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mặc dù các thế lực thù địch ra sức công kích chủ nghĩa xã hội, khuyếch trương cho cái gọi là “lối sống tốt đẹp của phương Tây”, đòi “đa nguyên, đa đảng”, song Đảng và Nhân dân ta vẫn kiên định con đường, mục tiêu đã lựa chọn với quyết tâm chính trị cao; lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Sự nghiệp đổi mới được tiến hành toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, với những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp. Quan điểm lấy “dân làm gốc” và phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” luôn được quán triệt sâu sắc; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được chú trọng; công tác cán bộ thực sự là “then chốt của then chốt”. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chuyển biến mạnh mẽ, đạt kết quả nổi bật, ngày càng đi vào chiều sâu, “xây” đi liền “chống”. Thể chế phát triển được ưu tiên xây dựng đồng bộ, bảo đảm hài hòa giữa kiên định và đổi mới, kế thừa và phát triển; giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, văn hóa, xã hội; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, con người, giải quyết hài hòa các vấn đề xã hội; quốc phòng - an ninh luôn được củng cố, tăng cường; quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và hiệu quả, v.v. Đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện; chế độ an sinh, công bằng xã hội được thực hiện hài hòa với quá trình phát triển; thế và lực của đất nước, sức mạnh tổng hợp, uy tín của quốc gia không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế.

          Trước những diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19, với quan điểm lấy người dân làm trung tâm, cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của Chính phủ đã mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần dập tắt những điểm nóng, kiềm chế sự lây lan của dịch bệnh, đưa mọi hoạt động của xã hội trở lại trạng thái bình thường mới. Điều đó, đã thể hiện rõ bản chất ưu việt của chế độ, được nhân dân tin tưởng, ủng hộ, cộng đồng quốc tế, Tổ chức Y tế thế giới và các tổ chức quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Hình ảnh đất nước Việt Nam nhân văn, bản lĩnh, có trách nhiệm với nhân dân và cộng đồng quốc tế lan tỏa sâu rộng.

          Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đã tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; bản chất ưu việt của chủ nghĩa xã hội ngày càng được thể hiện sinh động, rõ nét trên đất nước Việt Nam. Cả về lý luận và thực tiễn đã minh chứng sự lựa chọn đó là hoàn toàn đúng đắn chứ đâu phải theo một học thuyết “lạc đường” như các thế lực thù địch đang công kích. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng trong chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vững bước trên con đường đi lên xã hội chủ nghĩa./.

 

 

“VỀ LÃNH ĐẠO, CÁN BỘ PHẢI THẬT SỰ ĐOÀN KẾT, NHẤT TRÍ, PHẢI ĐI SÂU ĐI SÁT, PHẢI LÃNH ĐẠO THIẾT THỰC VÀ TOÀN DIỆN”

 

          Lời huấn thị trên được trích trong thông báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nội dung đợt chỉnh huấn cho toàn Đảng, toàn dân, do Trung ương phát động, khi Người về thăm và nói chuyện với đồng bào, cán bộ tỉnh Bắc Giang ngày 6-4-1961.

          Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu đội ngũ cán bộ phải đề cao và thực hành đoàn kết, nhất trí, giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí như giữ gìn con ngươi của mắt mình, phải rèn luyện phong cách lãnh đạo sâu sát, tỉ mỉ, gắn bó với cơ sở, gần dân, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, phải thiết thực và toàn diện, tránh phô trương, hình thức. Theo Bác, sau khi nghị quyết được ban hành, phải tổ chức tốt việc thực hiện nghị quyết, để nghị quyết đi vào cuộc sống. Muốn vậy, đòi hỏi người cán bộ phải sâu sát, tỉ mỉ, phải “đi tận nơi, xem tận chỗ”.

          Thực hiện lời Bác dạy, Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc ý nghĩa to lớn của việc xây dựng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, xem đây là vấn đề quan trọng hàng đầu, là nhiệm vụ sống còn của Đảng, của dân tộc. Đặc biệt, trong thời kỳ mới, Đảng luôn quan tâm lãnh đạo công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất; kiên quyết chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

          Sự nghiệp đổi mới đất nước đã thu được kết quả rất quan trọng, tiếp tục nâng cao vị thế, khẳng định năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Đại bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng đã luôn giữ gìn sự đoàn kết nhất trí, phấn đấu hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Tuy nhiên, cũng còn một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng…

          Để tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng, kiên quyết đấu tranh, khắc phục những hạn chế, yếu kém, mỗi cán bộ, đảng viên trong Đảng nói chung, trong Đảng bộ Quân đội nói riêng, luôn gương mẫu đi đầu thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, hiệu quả, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của địa phương, đơn vị, chức trách, nhiệm vụ được giao. Cán bộ, đảng viên phải có tác phong dân chủ, quần chúng, sâu sát, gần gũi, chân thành lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và thành tâm tiếp thu sự phê bình của quần chúng, luôn đề cao tự phê bình và phê bình.

50 NĂM BỨC ẢNH"EM BÉ NAPALM" CỦA NICK ÚT!

     Trở về Việt Nam những ngày đầu tháng 4-2022, nhiếp ảnh gia Nick Út không khỏi bồi hồi xúc động, nhớ lại khoảnh khắc chụp bức ảnh "Em bé Napalm" ngày 6-8-1972, tại Trảng Bàng, Tây Ninh trong cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Việt Nam.

Đến nay, đã tròn 50 năm bức ảnh "Em bé Napalm"- tác phẩm đã làm quặn đau trái tim bao người dân Việt Nam và thế giới bởi chiến tranh đã để lại đau thương cho đồng bào Việt Nam.

Bức ảnh ghi lại khoảnh khắc cô bé Phan Thị Kim Phúc khi đó mới 9 tuổi, hoảng loạn bỏ chạy cùng một số đứa trẻ khác bởi bị trúng bom Napalm.

Trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Quân đội nhân dân Điện tử, nhiếp ảnh gia Nick Út cho biết: Cô bé Phan Thị Kim Phúc năm xưa giờ đây đã là Đại sứ hòa bình của UNESCO. Người phụ nữ này đã có nhiều hoạt động thiện nguyện, giúp đỡ trẻ em nghèo, bệnh tật trên thế giới.

Giờ đây, chiến tranh đã qua đi nhưng những di chứng của bom đạn hiện vẫn còn trên thân thể nhân vật trong bức ảnh. Những mảng da  bị bỏng ở lưng và cánh tay của chị Phan Thị Kim Phúc đã có nhiều bác sĩ trên thế giới khám và điều trị nhưng không thể chữa khỏi bởi da đã bị cháy khô. Vào những ngày thời tiết thay đổi, nóng quá hoặc lạnh quá thì vết thương chiến tranh năm xưa lại tái phát khiến cho chị vô cùng khó chịu.

“50 năm qua, nhiều lần ngồi một mình nhìn bức ảnh, nước mắt tôi cứ trào ra. Đã từng chứng kiến sự tàn phá khốc liệt và di chứng của chiến tranh, tôi luôn mong ước hòa bình sẽ hiện hữu mãi mãi trên trái đất”, nhiếp ảnh gia Nick Út bày tỏ.

Bức ảnh lịch sử "Cô bé Napalm" của tác giả Nick Út, người Việt Nam đầu tiên trong thế kỷ 20 đã được trao giải ảnh báo chí Pulitzer (Mỹ) năm 1973. Bức ảnh được xếp thứ 41 trong 100 bức ảnh có tầm ảnh hưởng nhất thế kỷ 20 do Đại học Columbia bình chọn./.

Ảnh 1: "Em bé Napalm".
Ảnh2: Nhiếp ảnh gia Nick Út và Phan Thị Kim Phúc hiện nay. 
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU LỊCH SỬ GIÚP BẠN: STALIN VIẾT CHO NGA VÀ UKRAINA HÔM NAY!

         105 trước, 12/1917, Stalin đã từng viết, như tiên đoán những gì đang diễn ra hiện nay:
“Giữa dân tộc Ukraina và dân tộc Nga không có và không thể xảy ra xung đột.

Dân tộc Ukraina và Nga, giống như các dân tộc còn lại của Nga, được tạo nên từ công nhân và nông dân, binh lính và thủy thủ. Tất cả bọn họ đã cùng nhau chiến đấu chống lại Sa hoàng và chính phủ Kerensky, chống lại địa chủ và tư bản, chống lại chiến tranh và chủ nghĩa đế quốc. 

 Họ đã cùng nhau đổ máu vì đất đai và hòa bình, vì tự do và chủ nghĩa xã hội. Trong cuộc chiến chống chủ đất và tư bản, họ là anh em, đồng chí. Trong cuộc đấu tranh vì các lợi ích sát sườn, họ không và không thể có xung đột.

Tất nhiên, kẻ thù của người dân lao động có lợi khi tưởng tượng ra sự xung đột giữa người Nga và người Ukraina, và với sự tưởng tượng đó, dễ nhất là làm cho công nhân và nông dân các dân tộc anh em chống lại nhau trước sự mừng vui của những kẻ áp bức họ. 

Nhưng không có lẽ những người công nhân và nông dân có nhận thức lại không hiểu rằng, những gì có lợi cho chúng lại là điều có hại cho chính dân tộc của họ?” 

(I.V.. Stalin. "Câu trả lời cho các đồng chí Ukraina ở hậu phương và tiền tuyến”(Ответ товарищам украинцам в тылу и на фронте), bài viết ngày 12/12/1917, NXB Chính trị Quốc gia, Moskva, 1947, tập 4, trang 6-14)./.
Yêu nước ST.

ĐÓ LÀ TINH THẦN DÂN TỘC VÀ CHƯA BAO GIỜ DÂN TỘC VIỆT NAM ĐÁNH MẤT ĐI BẢN SẮC RIÊNG CỦA MÌNH CẢ!

         Có một nhà báo Mỹ đã từng hỏi Hồ Chủ tịch: Làm thế nào để Việt Nam có thể duy trì cuộc chiến tranh chống lại người Pháp khi mà Việt Nam không có đủ vũ khí, nhất là vũ khí tối tân, cuộc chiến như vậy là vô vọng? 

Và đây là câu trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
Không, nó không phải là không có hy vọng... Nhân dân Việt Nam sẽ thắng trong cuộc chiến tranh đó. Bởi vì Việt Nam có một thứ vũ khí cũng mạnh như loại pháo hiện đại nhất, đó là TINH THẦN DÂN TỘC...

Nếu người Mỹ có cái thứ gọi là văn hóa Mỹ thì người Việt Nam chúng tôi, dân tộc Việt Nam chúng tôi cũng có cái gọi là ''Văn hóa dân tộc'' nó được biểu trưng bởi cái gọi là tự hào dân tộc, bởi những truyền thống được truyền lại cả nghìn năm tuổi, những truyền thống mà qua khoảng thời gian gấp mấy chục lần cái thời gian mà nước Mỹ lập quốc đến nay vẫn không bao giờ thay đổi, chính cái đó làm nên sức mạnh của chúng tôi.

Người Mỹ luôn tìm câu trả lời cho câu hỏi của chính mình: ''Vì sao chúng ta thua cuộc chiến ở Việt Nam''. Câu trả lời là vì Mỹ chưa bao giờ hiểu về Việt Nam cả. Thực tế, người Mỹ, người Pháp, thậm chí ngay cả người Trung Quốc chưa bao giờ hiểu được văn hóa tinh thần của chúng ta, và thực tế, họ tự chuốc lấy thất bại vì điều đó.

 Họ chẳng thể lý giải nổi tại sao một dân tộc bị đô hộ suốt 1.000 năm mà không bị đồng hóa, một dân tộc nghèo đói, lạc hậu lại chiến thắng những đất nước được coi là mạnh hàng đầu thế giới. Nhưng câu trả lời thì mỗi người Việt ai cũng biết.

 Phương Tây làm việc rất khoa học, họ tin tuyệt đối vào những con số và phân tích, điều đó cũng có những ưu điểm của nó, nhưng họ quên mất một điều, điều quyết định nhất không nằm ở con số mà nằm ở con người. Nếu phân tích và nghiên cứu của phương Tây luôn đúng thì Mỹ sẽ không bao giờ thua ở cuộc chiến tại Việt Nam. 

Văn hóa Việt Nam có thể sẽ thay đổi cho hợp thời thế, sẽ có những thứ mất đi, những thứ thêm vào, như tập tục ăn trầu dần biến mất, và trà đá lại thành một nét văn hóa, tuy nhiên, cái cốt lõi để giúp dân tộc Việt Nam tồn tại trong suốt mấy nghìn năm qua sẽ không biến mất, CHƯA BAO GIỜ, CHƯA BAO GIỜ DÂN TỘC VIỆT NAM ĐÁNH MẤT ĐI BẢN SẮC RIÊNG CỦA MÌNH CẢ.

Sự kiện Bánh Mỳ, và vụ việc phân biệt chủng tộc tại Mỹ với người Việt là ví dụ điển hình, không ai, không một ai có thể chà đạp lên văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên còn nhiều điều mình còn tiếc nuối với văn hóa, văn vật, cổ vật dân tộc mà mình sẽ đề cập ở 1 bài khác...

Mình cũng chẳng thích văn vẻ nhiều hoặc dùng những câu từ giống trong sách giáo khoa hay giáo dục về lòng yêu nước làm gì cả, xin khép lại bài viết bằng 1 câu nói KINH ĐIỂN của Bác như sau:

"Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của dân tộc ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ Quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”./.
Yêu nước ST.

44 NĂM TRƯỚC, CÓ MỘT CUỘC THẢM SÁT 3.157 DÂN THƯỜNG BỊ THẾ GIỚI THỜ Ơ VÀ LÃNG QUÊN...!

         Ba Chúc, nỗi đau này của đất nước và nhân dân Việt Nam: Liên Hiệp Quốc ở đâu? Luật pháp quốc tế ở đâu? Công lý ở đâu? Tòa án Quốc tế ư? Nhân quyền ư ? Những kẻ hay nói đạo lý, rao giảng lương tâm ở đâu?...

Mấy ngày nay, chính trường thế giới dậy sóng về thảm sát Bucha (Ukraine) khiến khoảng 300 người dân thiệt mạng. Đây là một cuộc thảm sát gây tranh cãi về tính xác thực khi các bên đổ lỗi cho nhau. Mặc dù chưa vào cuộc điều tra và cho ra kết quả cuối cùng, phương Tây đã vội đã đưa ra các lệnh trừng phạt mới nhắm vào Nga trên các phương diện kinh tế, chính trị, quân sự và xã hội.

Vào giữa tháng 4 ở 44 năm trước (04/1978) đã diễn thảm sát Ba Chúc - một trong những cuộc thảm sát tập trung lớn nhất thế giới hậu chiến tranh Việt Nam. Thảm sát đã cướp đi tính mạng của hơn 3000 người, tức là gấp 10 lần thảm sát Bucha (nếu thảm sát Bucha có thật).

Đó cuộc thảm sát tập trung tàn bạo nhất tại miền Nam Việt Nam do chế độ Khmer Đỏ gây ra. Nhưng vẫn chỉ là một góc của những gì Khmer Đỏ đã gây ra cho dân thường Việt Nam. Từ 1975 đến 1978, hơn 30 ngàn người Việt ở vùng biên giới đã bị kết thúc cuộc đời một cách dã man, chưa kể hàng chục ngàn người Việt sinh sống tại Campuchia. Vậy, thế giới hay nói đúng hơn là phương Tây có lên án thảm sát Ba Chúc hay những tội ác mà Khmer Đỏ đã gây ra cho người dân Việt Nam? Điều đáng buồn là gói gọn trong ba chữ “không gì cả”.

Vụ việc Ba Chúc đáng nhẽ có thể được đưa ra trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc nhưng lại bị Trung Quốc và Hoa Kỳ ngăn cản. Một số lý do được đưa ra là các bằng chứng của Việt Nam không thực sự thuyết phục, có thể là ngụy tạo, hoặc được lấy từ cuộc chiến Việt Nam trước năm 1975. Phần lớn các quốc gia phương Tây không phản bác thông tin từ Ba Chúc nhưng họ cho rằng Việt Nam “không nên làm phức tạp hóa tình hình” và đánh giá các thông tin về một cuộc thảm sát Ba Chúc có thể “không có thật vì không có một bên thứ ba ghi nhận”. 

Chình vì thái độ có phần dửng dưng này của LHQ, một loạt các vụ việc Thiện Ngôn, Xa Mát, Lò Gò, Thiện Hưng, Hưng Phước… cướp đi tính mạng của hàng ngàn dân Việt Nam vô tội.

Trong cuộc họp Đại hội đồng LHQ diễn ra vào 09/1979, Liên Hợp Quốc thừa nhận một số thành tích tồi tệ về nhân quyền ở Campuchia nhưng từ chối chọn lọc các bằng chứng của phía Việt Nam về các vụ thảm sát Khmer Đỏ - trong đó có thảm sát Ba Chúc. Các quốc gia trong cuộc họp ấy cũng lên án Việt Nam xâm lược Campuchia một cách rất gay gắt. 

Rất nhiều năm sau, Ba Chúc mới được nhìn nhận một cách đúng đắn rằng đây là một cuộc thảm sát có thật, không phải ngụy tạo, càng không phải là một cái cớ được Việt Nam dọn sẵn để đưa quân tiến đánh Khmer Đỏ.

Bộ Quốc phòng Úc ghi lại rằng vào 18/04/1978, Khmer Đỏ đánh phủ đầu bằng cuộc tấn công vào vùng biên giới Việt Nam trong đó có thị trấn Ba Chúc. Khmer đã tận diệt khoảng 3155 người, chỉ còn duy nhất 2 người còn sống. Sau những tội ác gây ra với người Việt và Campuchia, Khmer Đỏ vẫn giữ ghế tại LHQ cho đến năm 1993 vì hành động của thế giới là không đủ lớn và quyết liệt.

Andrew Mertha, nhà nghiên cứu thuộc ĐH Cornell Hoa Kỳ cho biết trong cuốn “Brothers in Arms: Chinese Aid to the Khmer Rouge, 1975-1979” rằng cuộc chiến Việt Nam - Khmer sẽ không diễn ra và hàng triệu người Campuchia có thể sẽ còn sống nếu như phương Tây hành động nhanh, mạnh hơn. Mãi vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước, phương Tây mới nhận ra những sự kiện ở Ba Chúc, Choeung Ek… là có thật, chứ không phải ngụy tạo, bịa đặt như họ đã từng khẳng định.

Nhà nghiên cứu thuộc ĐH Michigan John D. Ciorciari cho biết Trung Quốc và các đối tác (phương Tây) đã làm ngơ cho các đợt thanh trừng 100 ngàn dân ở miền Đông Campuchia và miền Tây Việt Nam nhất là trong giai đoạn Xuân 1978.

Biên niên sử Liên Hợp Quốc ghi rằng quân đội Việt Nam cùng với những người nổi dậy Campuchia đã lật đổ chế độ diệt chủng, chấm dứt cơn ác mộng của người dân Campuchia. Nhưng Khmer Đỏ vẫn tồn tại ở Liên Hợp Quốc bất chấp những tội ác được gây ra với người dân Campuchia và Việt Nam, lý do cho sự việc này nằm ở những hành động ngoại giao đã cản trở các tiến trình bàn giao vị trí đại diện cho Cộng hòa Nhân dân Campuchia.

Sau 44 năm, Ba Chúc đã yên bình và những gì còn lại đã được đặt trong một góc trang trọng của lịch sử. Thời gian đã qua lâu, nhưng bài học từ Ba Chúc về ngoại giao, sự công bằng của các nước lớn thì vẫn còn mãi.

Ảnh: Vết máu của người dân vô tội bị quân Khmer Đỏ thảm sát tại chùa Phi Lai, Ba Chúc, tỉnh An Giang./.
Yêu nước ST.

VIỆT NAM: MUỐN YÊN ỔN NHƯNG VẪN BỊ RÉO TÊN!

         Tờ The Hill, tờ báo chính trị độc lập lớn nhất Hoa Kỳ, đăng tải bài viết: "Ukraine is Putin's Vietnam" - có nghĩa là Ukraine sẽ trở thành Việt Nam của Putin. Nội dung bài viết nói về những sự trùng khớp giữa cuộc chiến ở Ukraine với cuộc chiến ở Việt Nam và cho rằng "Ukraine sẽ không thất bại". 

Với tôi điều giống nhau duy nhất giữa Ukraine hôm nay và Việt Nam của ngày trước đó là sự có mặt của Hoa Kỳ. Chính Hoa Kỳ chứ không phải kẻ nào khác, chúng đang sử dụng chiêu bài dùng người Ukraine trị người Ukraine như khi xưa chúng dùng người Việt trị người Việt. 

 Đầu tiên, chúng dùng tiền bạc, chiêu bài dân chủ mua chuộc những kẻ trong nước, nước ngoài kích động, gây rối, bạo loạn, nếu các lãnh đạo đất nước không vững vàng, nhân dân không đoàn kết đồng lòng với những người đứng đầu đất nước. Đất nước sẽ bị chao đảo, chính phủ sẽ bị lật đổ, điều này đã xảy ra với Ukraine năm 2014. Sau đó chúng sẽ đứng sau lập ra một chính quyền tay sai, phục vụ cho mưu đồ thôn tính đất nước biến Ukraine từ một nước độc lập thành một nước chư hầu, phụ thuộc cả về kinh tế lẫn chính trị, quân sự. ( Hiện tại chúng cũng đang ngấm ngầm vận hành chiêu trò này tại Việt Nam và các nước khác)

Chính phủ Ukraine hiện thời về bản chất tồn tại vận hành chính là phiên bản hiện đại hơn của ngụy quyền VNCH tại Việt Nam trước năm 1975.

Một mặt cái chính phủ tay sai này giúp mẫu quốc Hoa kỳ và đồng minh vơ vét tài nguyên, một mặt bơm tiền, vũ khí cho bọn cầm quyền chúng lập ra đàn áp nhân dân những người dám đứng lên phản kháng, chống lại cái chính phủ tay sai ở nước sở tại, sau đấy những khoản chúng cung cấp cho bọn tay sai ấy chúng tính là nợ vay, vay thì phải trả, trả thì bọn ngụy quyền vô dụng kia lấy gì ra trả nếu không vơ vét, bóc lột của chính nhân dân, những người bị đàn áp, một cổ mấy cái thòng lọng.

Hoa kỳ và đồng minh đã, đang đẩy đất nước Ukraine vào chia cắt, nồi da nấu thịt (8 năm Đông, Tây đánh nhau khiến gần 100.000 người  Ukraine thương, vong), như cái cách mà Hoa Kỳ sử dụng ở Việt Nam trong những năm bọn chúng tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược đất nước chúng ta. 

Đẩy những người cùng chung quốc tịch màu da phải cầm vũ khí chĩa vào nhau, sau đó chúng với chiêu bài hỗ trợ đồng minh là cái chính quyền ngụy chúng lập ra kia, ngang nhiên tiến quân vào và làm gì chúng muốn. 

Đó là những nét tương đồng giữa Ukraine và Việt Nam tôi nhận thấy, bài báo kia của Hoa Kỳ đang cố tình tẩy trắng, đánh tráo khái niệm về bản chất cuộc chiến tranh xâm lược của Hoa Kỳ tại Việt Nam trái ngược hoàn toàn với chiến  dịch quân sự của Nga đang tiến hành tại Ukraine, còn những nét tương đồng giữa cái chính phủ Ukraine ngày nay và Khmer Đỏ những năm cuối 1970 của Campuchia tôi đã đăng tải nhiều bài phân tích về vấn đề này, nên hôm nay xin thôi không nhắc lại. 

Khái quát vài nét giữa Nga của năm 2022 và Việt Nam của năm 1979. Tôi chỉ nói đơn giản thế này, những năm cuối 1970 Hoa kỳ, Trung Quốc cấu kết dùng mọi cách mua chuộc, biến chính quyền Khmer Đỏ từ một chính thể cầm quyền tại Campuchia trở thành  tay sai đắc lực cho chúng gây hấn, khiêu khích Việt Nam nhằm làm cho Việt Nam suy kiệt hoàn toàn, dễ bề cho chúng một lần nữa chia nhau cắn xé, chia chác nước ta.

Từ những năm 1973 Khmer Đỏ tại Campuchia kích động Việt Nam bằng chiêu trò phủ nhận sự giúp đỡ của Việt Nam trong cuộc chiến giúp Khmer Đỏ giành chính quyền năm1963, phản bội lại chế độ Cộng sản, khiêu khích biên giới, tàn sát những người dân Việt Nam sinh sống tại Campuchia hoặc những người dân Việt Nam tại các làng mạc giáp biên giới Campuchia, giúp Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn phân tán lực lượng của Quân đội nhân dân Việt Nam và Mặt trận giải phóng quân miền Nam Việt Nam, chúng ta khi ấy một mặt vừa lo đối phó với quân Mỹ ngụy, mặt khác vừa lo đối phó với quân Khmer Đỏ quấy phá tại các vùng giải phóng của ta giáp biên giới Campuchia.

Sau đó khi Việt Nam giải phóng thống nhất được 2 miền nam, bắc thì ngay sau đó sự  các hoạt động của Khmer Đỏ nhằm vào Việt Nam càng trắng trợn hơn, đỉnh điểm vào những ngày tháng 1975, 1976, 1977, 1978 khi chúng ta vừa giải phóng đang lo ổn định, chúng đã kéo quân sang tàn sát rất nhiều người Việt Nam, giết hại cả chính người dân Campuchia hòng đổ vấy tội ác cho Việt Nam.

Chúng ta đã nhẫn nhịn, dùng mọi cách mềm mỏng, ngoại giao, chính trị nhưng không có kết quả, khi tội ác của Khmer Đỏ với dân thường Việt Nam, với chính nhân dân Campuchia. Những người trong phe đối lập tại Campuchia ngày ấy đã kiến nghị lên Liên Hiệp Quốc, đã cầu cứu các nước...nhưng nhận lại sự im lặng thờ ơ.

 Liên Hiệp Quốc ngày ấy do Hoa kỳ giật dây cùng với Trung Quốc, phương tây và các nước Đông Nam Á làm ngơ trước tội ác tày trời của Khmer Đỏ, hoặc ngấm ngầm cổ vũ, viện trợ( Hoa Kỳ, Trung Quốc). 

Không thể đứng nhìn nhân dân Campuchia của mình bị tàn sát chính thủ tướng Hunssen ngày ấy đã tìm cách chạy sang cầu cứu Việt Nam

Thủ tướng Hun Sen ôn lại diễn biến câu chuyện chạy sang Việt Nam. Hôm đó trời mưa, ông cùng 4 đồng đội đã vượt biên tìm đường sống cho mình và cho đất nước.

Thủ tướng Hun Sen kể: "Tôi không chối bỏ tổ quốc, không chạy đi tìm cuộc sống tốt hơn. Đó là sự chuẩn bị, cho dù có liều lĩnh, tôi cũng phải đi. Cho dù tôi có chết, bị bắt giam hay gì đi chăng nữa, tôi cũng chẳng màng. Tôi chỉ có một mong muốn duy nhất là nói với lãnh đạo Việt Nam rằng ít nhất xin đừng buộc những người Campuchia đã chạy sang Việt Nam về Campuchia để Pol Pot sát hại.

Chúng tôi đến bãi mìn lúc gần nửa đêm và chúng tôi bàn bạc xem nên đi theo đường nào. Không có lựa chọn nào khác ngoài việc phải đi qua bãi mìn, một khu vực giết chóc chiến lược. 

“Tụi tui có chết cũng quyết đưa anh qua biên giới. Không thể đi được thì tôi sẽ cõng”, đó là lời của những người anh em đã cùng tôi chiến đấu. 

Đó là những lời xuất phát từ đáy lòng của 4 người anh em của tôi. Hai người trong số họ bây giờ đã qua đời rồi, chỉ còn những người con tiếp tục sự nghiệp của cha. 

Hai người đồng đội của tôi tính toán và bàn bạc phân công rằng lúc đi qua bãi mìn, hai anh ấy đi trước, tôi đi giữa, còn anh Thon, một trong những đồng đội cùng có mặt hôm nay với tôi, đi cuối cùng. Anh Thon cầm theo một con dao, nếu có phục kích sẽ quyết bảo vệ.

Chúng tôi bắt đầu dò dẫm gỡ mìn, nhưng không thể làm nhanh được. 

Và thế là tôi cùng đồng đội đã mất gần 2 tiếng để đi qua bãi mìn gần 200m. Lúc đó trời tối, tụi tui không biết bên kia có bộ đội Việt Nam hay không.

Thưa bà con, những người đã từng thoát khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot, sẽ biết rằng câu chuyện này không phải đơn giản. Tôi thật sự đã đánh cược với chính tính mạng của mình.

Sau đó, chúng tôi nghỉ ngơi ở một mô đất. Anh Thon không có vợ nhưng lại là người khóc nhiều nhất. Tôi cũng khóc, nhưng tôi không cho các đồng đội thấy bởi tôi sợ họ sẽ càng suy sụp.

Ông Hun Sen kể phía Việt Nam lúc đầu còn chưa tin ông lắm, nhưng sau đó nhiều quan chức cấp cao đã tới gặp ông tại tỉnh Sông Bé. Họ nói ai muốn đi Úc, Nhật Bản, Thái Lan, thậm chí Mỹ hay Canada, Pháp họ sẽ chuẩn bị.

Tôi trả lời ngay: “Tôi tới đây để tìm kiếm sự giúp đỡ từ Việt Nam để cứu đất nước khỏi nạn diệt chủng. Nếu các vị không thể giúp chúng tôi, xin hãy trả lại súng cho tôi. Tôi sẽ quay về Campuchia chiến đấu, cùng chết với nhân dân của tôi”.

Tuy nhiên, ông nói thêm lúc đó, hành trang của ông còn có 12 cây kim. Ông lý giải những cây kim tiêm trong túi quân y đem theo, "cùng lắm tôi sẽ lấy kim đâm thẳng vô cổ để tự sát và tôi tin rằng lãnh đạo Việt Nam ít nhiều sẽ hiểu được thông điệp tự sát của tôi."

Và  phần sau đó chúng ta đã rõ Việt Nam sau bao tháng năm dài chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, đất nước chưa kịp gượng dậy, người dân chưa kịp ổn định cuộc sống, Quân đội chưa kịp phục hồi sức chiến đấu, thì đã lại phải lao vào cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới tây nam chống bọn Polpot Khmer Đỏ phản bội, diệt chủng.

Khi chúng ta tiến hành cuộc tiến công Khmer Đỏ, để hạn chế thấp nhất thương vong cho người dân Việt Nam, chúng ta đã chủ động đẩy mặt trận chính sang đất Campuchia, bộ đội ta vừa tấn công, tiêu diệt Khmer Đỏ vừa phải bảo vệ thường dân Campuchia, vì vậy nhiệm vụ của các chiến sĩ quân tình nguyện Quân đội nhân dân Việt Nam càng khó khăn gấp bội, hi sinh mất mát vô cùng lớn. 

Về phía quốc tế khi đó Liên Hiệp Quốc, Mỹ và các đồng minh phương tây, cả Âu, Á...kịch liệt phản đối Việt Nam, vu khống Việt Nan xâm lược Campuchia. Mỹ đã khơi mào ra lệnh trừng phạt, cấm vận Việt Nam với số phiếu đồng thuận lên tới 180 nước ủng hộ Mỹ. Chỉ có Liên Xô, Cu Ba, Lào ... là ủng hộ Việt Nam
 
Trong khi đó ở phía Bắc, Trung Quốc lộ rõ bộ mặt kẻ xâm lược, khi xua 60 vạn quân tràn sang biên giới nước ta vào ngày 17/2/1979 với tuyên bố:" dạy cho Việt Nam một bài học".

 Vậy là Việt Nam của những năm cuối của 1970 phải cầm súng chống lại 2 quốc gia từng là bạn, chung con đường xã hội chủ nghĩa.

Bây giờ cũng vẫn là Hoa kỳ và đồng minh,  dùng lại chiêu trò kích động ấy với Liên bang Nga khi sử dụng Ukraine cụ thể chính phủ hiện thời của Ukraine và quân đội nước này với những kẻ theo chủ nghĩa phát xít khiêu khích Nga, mở các cuộc tấn công tàn sát vào dân thường, những người trong các phe đối lập, chống lại chính phủ tay sai Ukraine, những người gốc Nga sinh sống tại Ukraine suốt 8 năm qua.

 Nhưng các bạn Nga may mắn hơn Việt Nam ngày đó là kinh tế họ vững hơn, vũ khí hiện đại hơn, họ được chuẩn bị kỹ hơn khi vào chiến dịch.

Quay lại với bài báo của Hoa kỳ hôm nay, chính tờ báo này cũng khẳng định “Việt Nam không thua trước Hoa Kỳ” - không như nhóm nhạc nào đó cho rằng “Việt Nam thất bại còn Hoa Kỳ rút quân”. Nhưng tờ báo này cũng viết rằng “Việt Nam thua ở mọi trận đánh nhưng lại thắng một cuộc chiến” (?). 

Bài báo này cho biết lý do mà Mỹ can thiệp vào Việt Nam là ngụy tạo sự kiện Vịnh Bắc Bộ nhưng nó còn không vô lý bằng cách Nga can thiệp vào Ukraine. 

Dưới bình luận thì người ủng hộ Ukraine cho rằng đừng so sánh, vì người dân Ukraine đang làm tốt hơn Việt Nam. Ví dụ như trong 1 tháng, đã có 700 quân nhân Nga bị bắt, 16000 quân nhân Nga thiệt mạng (theo BQP Ukraine). Trong khi trong 9 năm ở Việt Nam, chỉ có gần 600 quân nhân Hoa Kỳ bị bắt và 58000 lính bị thiệt mạng (tính trung bình khoảng 500 lính thiệt mạng mỗi tháng).

Cần phải nói thêm là cứ cuộc chiến nào xảy ra là người ta cũng lại lôi Việt Nam vào so sánh. Từ Iraq, đến Libya, Syria, Nam Tư, Afghanistan… Trong cuộc chiến tại Ukraine, phải có đến..."n lần" Việt Nam bị nhắc đến, từ thể thao, báo chí, đến các bài cà khịa trên Twitter giữa các nhà ngoại giao và dân mạng... 

Vẫn câu nói cũ, sẽ không có một Việt Nam nào nữa đâu nhỉ? 
Yêu nước ST.

VĨNH BIỆT CỤ HOÀNG THỊ KHÌN - NGƯỜI ĐƯA CƠM CHO BÁC HỒ Ở PẮC BÓ!

         Cụ Hoàng Thị Khìn, 102 tuổi, lão thành cách mạng, người trực tiếp đưa cơm, nuôi giấu Bác Hồ khi Người hoạt động ở Pác Bó, Cao Bằng vừa qua đời.

Sinh thời, căn nhà sàn cuối xóm Pác Bó của cụ Khìn vẫn trở thành nơi tiếp các đoàn khách từ trung ương đến tỉnh, huyện, những phóng viên, nhà báo và cả các cháu thanh, thiếu nhi khắp mọi miền.

Khi đã ngoài 100, tuổi cao, sức yếu nhưng cụ vẫn minh mẫn, vẫn kể vanh vách câu chuyện về những ngày tham gia cách mạng, được đưa cơm cho Bác và còn đủ sức hát bài ca cách mạng bằng tiếng Nùng nữa.

Cụ vẫn nhớ như in, năm 1941, hai chị em cụ được tổ chức phân công vào khu rừng rậm phía đầu nguồn suối Giàng gặp ông Ké. Trong những lần gặp ấy, cụ được nghe ông Ké nói chuyện, rồi ân cần hỏi thăm đời sống của người dân, của làng bản bằng tiếng Nùng, ông Ké còn dặn bà con các dân tộc phải đoàn kết, cùng nhau đánh giặc để mang lại ấm no cho bản làng. Theo lời ông Ké, vợ chồng cụ Khìn và cả bản Pác Bó không sợ hiểm nguy, một lòng theo cách mạng.

“Làm cách mạng khi ấy có các hội như Nhi đồng cứu quốc hội, Phụ nữ cứu quốc hội. Đi theo Bác Hồ, ở lán Khuổi Nậm, nấu cơm cho Bác ăn. Làm cách mạng không phải có một người đâu, một người làm thì không thành công được, nhiều người lắm, hàng trăm người cùng tập đội ngũ, có cả người Hòa An, Hà Quảng… tham gia huấn luyện quân tự vệ đi theo cách mạng. Ở Khuổi Nậm chúng tôi nấu cơm cho Bác, lấy vào ống tre, nấu cháo bẹ, vác trên vai, đưa vào cho tự vệ cùng ăn”.

Cụ Khìn vẫn lấy những lời căn dặn của Bác để khuyên răn con cháu: phải nỗ lực vươn lên, không bỏ đất hoang, không nghe theo kẻ xấu, phải đoàn kết, thương yêu nhau để cùng xây dựng bản Pác Bó giàu đẹp hơn, xứng đáng với danh xưng quê hương cội nguồn cách mạng.

“Tôi nghe mẹ Khìn kể là đi hoạt động cách mạng bí mật, các ông, các bà đã trích máu ăn thề, kiên quyết đi theo Đảng, theo Bác thôi. Bà con Pác Bó vinh dự, tự hào là quê hương thứ hai của Bác, nên bà quyết tâm thực hiện và làm theo gương Bác Hồ”, bà Hoàng Thị Phần, con dâu cụ Hoàng Thị Khìn kể.

Cụ Khìn về với đất mẹ cũng là một nỗi tiếc thương với những người dân xóm Pác Bó. Cụ là tấm gương sáng cho thế hệ con cháu Pác Bó học tập và còn là niềm tự hào, là nhân chứng sống cho lịch sử hào hùng của mảnh đất cách mạng này.

“Cụ Khìn là niềm tự hào của quê hương, cụ luôn tuyên truyền, nhắc nhở con cháu phải theo gương tinh thần cụ Hồ để xây dựng quê hương trở thành quê hương mẫu mực. Lúc còn sống, lúc nào cụ cũng quan tâm đến thế hệ trẻ, nhất là thanh niên, thiếu nhiên và nhi đồng”, ông Nông Thanh Bằng, trưởng xóm Pác Bó, xã Trường Hà nói.

Thắp nén hương thơm tiễn người con của quê hương cách mạng về với đất mẹ, cụ đã về bên núi Các Mác, thảnh thơi nghe dòng suối Lê Nin rì rầm chảy trên quê hương Pác Bó đang đổi thay từng ngày.
Ảnh:  Cụ Hoàng Thị Khìn, người trực tiếp đưa cơm, nuôi giấu Bác Hồ tại Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
Yêu nước ST.

HOA KỲ, CON BUÔN CHÍNH HIỆU!

     Khi Nga đánh Ukraine, Mỹ yêu cầu các nước châu Âu cấm vận Nga, không nhập khẩu dầu từ đất nước có diện tích lớn nhất thế giới. Thế nhưng Mỹ phớt lờ cấm vận, thậm chí là không hề nhắc đến việc ngừng mua xăng dầu từ Nga. Giá xăng dầu, nhiên liệu trên thế giới tăng cao do thiếu hụt nguồn cung từ Nga. Các nước có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới cũng chẳng dại gì mà tuôn hàng ồ ạt, vì thế giới đại đồng. Đây là cơ hội để họ thu lợi khi giá cả tăng cao. Mỹ là nhà cung cấp lớn nhất thế giới, bây giờ họ lại đẩy mạnh mua dầu của Nga, sau đó bán lại cho châu Âu, món lời rất to. 

Mới đây khi trả lời phỏng vấn báo Komsomol, ông Popov cho rằng Mỹ buộc châu Âu áp đặt các biện pháp trừng phạt Nga nhưng vẫn tiếp tục nhập khẩu dầu mỏ từ Nga và còn tăng 43% nhu cầu ‘vàng đen’ trong tuần qua, lên mức 100.000 thùng mỗi ngày. Ông Popov cũng cho biết Washington đã cho phép các công ty Mỹ nhập khẩu phân bón hóa học từ Nga, công nhận đây là mặt hàng thiết yếu. Trong khi đó, Nhà Trắng lại không muốn các nước châu Âu thực hiện chính sách tương tự. Quan chức Nga cho rằng sẽ có nhiều diễn biến "bất ngờ" khác từ phía Mỹ.

Người Mỹ luôn luôn cầm cán trong các cuộc chơi giữa các nước lớn, có cơ đồ như hôm nay là nhờ chiến tranh, lấy chiến tranh để lái súng, bán nhiên liệu và thu lợi từ tài nguyên của các nước. Mỹ cũng sẽ đặt tầm ảnh hưởng lên các quốc gia thông qua chiến tranh. Lịch sử 300 năm của Hoa Kỳ đã chứng minh điều đó. Nhiều nước tham gia trục liên minh với Mỹ chẳng giám trái ý họ. Nếu thoát khỏi trục liên minh thì chủ quyền quốc gia chẳng được đảm bảo, bị cấm vận, thậm chí là gây bạo loạn để lật đổ chính quyền các nước đó. Chấp nhận ngâm bồ hòn làm ngọt. 

Thông qua các lệnh trừng phạt Nga, người Mỹ sẽ kiếm rất nhiều lợi lộc. Họ viện trợ cho Ukraine nhưng đó là số nợ mà các thế hệ tương lai Ukraine phải hoàn trả, không có chuyện cho không. Hơn ai hết, Mỹ muốn Nga và Ukraine đánh nhau kéo dài, Nga sa lầy ở Ukraine. Khi đó thì các điểm nóng khác trên thế giới như Trung Đông, Mỹ Latinh họ sẽ chiếm lợi thế, đặt tầm ảnh hưởng sâu rộng. Nhiều nước lại phải đua nhau mua vũ khí Mỹ, nhiên liệu và các tài nguyên khác của Mỹ với giá cao. Dù thời thế đổi thay nhưng bản chất sen đầm quốc tế và lái buôn thượng hạng của Hoa Kỳ vẫn không thay đổi. Mỹ luôn làm chủ cuộc chơi, làm giàu trên đôi vai của các nước trên thế giới. Đó là thực tế không thể thay đổi. /.
Yêu nước ST.

VÔ ĐẠO, ẮT VÔ PHÚC!

         Đỗ Anh Dũng của Tân Hoàng Minh, tiền chất cao như núi, giàu có vô song. Ông ta bị bắt, bị khởi tố với cáo buộc, lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tiền nhiều nhưng không do lao động mà có mà nó đến từ việc lừa đảo, kiếm tiền trên mồ hồi, nước mắt của những người tin ông ta. Ông Đỗ Anh Dũng từng tuyên bố về phương châm kinh doanh của doanh nghiệp là "một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải có đạo, có phúc". Ông nói rất chí lý, có đạo tất sẽ có phúc, đó là mệnh đề đúng đắn. Vậy nhưng ông đi lừa đảo thiên hạ, thao túng bất động sản, ôm đất đẩy giá rồi bỏ cọc. Nhiều vụ việc gây bức xúc dư luận còn phía trước chứ chẳng đơn thuần là lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

     Có đạo tất có phúc nhưng ông quên rằng vô đạo ắt vô phúc, pháp luật Việt Nam không phân biệt sang hèn. Ông Đỗ Anh Dũng cũng là người từng hất hàm yêu cầu Quốc hội phải xem xét cho đánh bạc và hoạt động mại dâm, theo ông là để kích cầu du lịch. Con người không giữ chữ tín, làm việc vô đạo, bất chấp pháp luật và luân lý, lời nói thì loạn ngữ kiêu ngôn. Không vô phúc mới là lạ. Cách đây khoảng 2.300 năm, Hàn Phi, bậc thầy của pháp gia cho rằng, cách tốt nhất để quản lý xã hội là dùng pháp luật: "Pháp luật không hùa theo người sang... Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôn cũng không từ, kẻ dũng cũng không dám tranh. Trừng trị cái sai không tránh của kẻ đại thần, thưởng cái đúng không bỏ sót của kẻ thất phu".Đỗ Anh Dũng đã bị bắt, những người có liên quan sắp tới cũng chẳng thế thoát khỏi vòng kim cô của pháp luật. Đốt lò để làm trong sạch xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân./.
Yêu nước ST.

ĐOÁN MÒ LÀ BỆNH MÃN TÍNH CỦA LÊ VĂN ĐOÀNH



Chả có luận cứ hay logic nào mà Lê Văn Đoành cũng “nhìn chỉ buộc chân voi” để không chỉ xuyên tạc công tác đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực trong Đảng và hệ thống chính trị mà còn đoán mò rằng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “sẽ chấp nhận chuyển giao quyền lực, rút lui khỏi chính trường” bằng bài viết “Ông Nguyễn Phú Trọng chuẩn bị rút lui khỏi chính trường?” đăng trên baotiengdan.com ngày 21/3/2022.

SINH HOẠT TƯ TƯỞNG: "BỆNH DIỄN" NGUY HIỂM!

     1. Nhiều lần nghe con kể về một thầy giáo không giảng bài mà chủ yếu đọc cho học sinh chép, lại hay nói tục trong giờ học, tôi rất bất bình, định sẽ kiểm tra lại thông tin cho chính xác rồi phản ánh với ban giám hiệu nhà trường...
Thế nhưng hôm con học trực tuyến, chứng kiến thầy dạy online khá hay và nói rất khéo, tôi thắc mắc thì con gái bảo: “Thầy “diễn” đấy bố ạ, vì thầy biết học online thì sẽ có phụ huynh xem. Bọn con gọi thầy K. là “siêu diễn” mà. Hôm nào có ban giám hiệu dự giờ thầy cũng “diễn”. Tôi gọi điện hỏi hai bạn của con thì các cháu đều khẳng định đúng như vậy, thậm chí còn nói thêm: Việc thầy “diễn” giỏi khiến các học sinh càng bức xúc, không tin những điều thầy dạy!

     2. Dịch Covid-19 trên địa bàn đang diễn biến phức tạp, nhưng ông chủ tịch UBND huyện rất hiếm đi cơ sở kiểm tra, chỉ đạo trực tiếp. Hơn một năm từ khi được bầu làm người đứng đầu UBND huyện, hầu như ngày nào ông cũng mặc áo trắng, đeo cà vạt hoặc khoác comple ngồi phòng lạnh, đi tiếp khách; cách ứng xử của ông thì quan cách, hách dịch, khác hẳn với trước đó-lúc đang lo vào ban chấp hành đảng bộ, rồi vào hội đồng nhân dân và
nhất là chức chủ tịch UBND huyện, ông thường xuyên sâu sát cơ sở, thể hiện sự gần gũi, quan tâm đến cán bộ các cấp và nhân dân. Sự thay đổi bất ngờ của ông khiến mọi người ngạc nhiên, nhưng những người tinh đời thì biết thừa là ông đã hoàn thành “vở diễn”. Hết nhiệm kỳ chủ tịch thì đến tuổi nghỉ hưu nên ông hiện nguyên hình... thích hưởng thụ! Giờ ông chỉ “diễn” khi cấp trên về kiểm tra, hay khi nhà báo chĩa máy ảnh, máy quay phim vào mình. Xem những hình ảnh ông “diễn” khác hẳn với những gì hằng ngày được chứng kiến, cán bộ, nhân viên dưới quyền ông thường... cười nhếch mép!

     3. Trong cuộc sống và quá trình công tác, chúng ta gặp khá nhiều người “diễn”. Có những người không hề biết và chẳng hề làm, nhưng trước cấp trên thì “khua môi múa mép” khoe mình tài giỏi, có công (kiểu Lý Thông cướp công Thạch Sanh)! Có những anh rất lười làm và cũng chẳng biết làm nên ít được giao việc, đến cơ quan toàn đi các phòng nói chuyện phiếm, khoe khoang, các đồng nghiệp rất sợ mỗi khi “anh diễn” xuất hiện! Có những chị gặp ai cũng khoe mình có mối quan hệ thân thiết với các sếp lớn, vờ gọi điện nói chuyện với sếp để “cáo mượn oai hùm”, rồi chuyên nghe lỏm, đoán mò mà “phán như đúng rồi”! Chối nữa là trong các cuộc họp, không ít cán bộ làm việc thì láo nháo nhưng báo cáo rất hay, rằng mình đã tích cực, chủ động chỉ đạo, triển khai... song đó chỉ là “bài diễn”! Đặc biệt nhức nhối là có những ông “sống bẩn”, bí mật vơ vét, bớt xén chế độ tiêu chuẩn của nhân viên, thậm chí còn gạ gẫm cấp dưới phải “chạy”, phải cung phụng mình, nếu không thì trù úm, gây khó dễ; thế nhưng trước tập thể thì thản nhiên tuyên bố mình sống đàng hoàng, rao giảng đạo đức, vỗ ngực rằng mình luôn nêu gương và yêu thương cấp dưới... Ông còn “diễn” giỏi đến mức lúc nào cần thì rơm rớm nước mắt, khóc như thật khiến cấp trên và người lần đầu tiếp xúc cũng xúc động; còn nhân viên của ông thì đã “biết tỏng cáo già” và họ cười khẩy, mỉa mai rằng ông không có dây thần kinh xấu hổ!

     Loại người “miệng nam mô, bụng bồ dao găm” mà làm cán bộ hoặc là báo cáo viên, giáo viên chuyên lên lớp dạy dỗ người khác thì vô cùng nguy hiểm. Họ càng giảng, càng “diễn” thì càng khiến người nghe bức xúc, mất niềm tin, không chỉ mất niềm tin vào chính con người “nói một đằng, làm một nẻo” ấy, mà còn mất niềm tin vào đường lối, chủ trương, chính sách, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của tổ chức. Thực tế đã có một số cán bộ hùng hồn tuyên bố kiên quyết chống tham nhũng, kêu gọi mọi người phải tu dưỡng đạo đức... và những quan điểm, “diễn xuất” của họ liên tục xuất hiện trên các phương tiện truyền thông khiến dư luận phấn chấn, tung hô; nhưng chỉ một thời gian ngắn là lộ ra “cáo già ăn vụng” khiến bao người sững sờ, phẫn nộ!

     4. “Bệnh diễn” gây hậu quả vô cùng nghiêm trọng, bởi việc “nói một đằng, làm một nẻo”, “nói zậy mà không phải zậy” chính là kiểu đạo đức giả, lừa dối-một trong những thói xấu mà mọi người khinh ghét nhất. Nếu cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức (những người có trách nhiệm nêu gương về đạo đức) mà “mắc bệnh diễn” thì càng nguy hại, vì sẽ khiến nhân dân mất niềm tin, ảnh hưởng rất tiêu cực tới uy tín của Đảng, Nhà nước. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và là cái cớ để các thế lực thù địch lợi dụng, chống phá cách mạng nước ta. Đặc biệt, người đứng đầu mà dối trá, “nói một đằng, làm một nẻo” thì chắc chắn cấp dưới sẽ khinh thường, tổ chức sẽ suy yếu nghiêm trọng. Vì vậy, có thể khẳng định: “Bệnh diễn” là một trong các bệnh nguy hiểm nhất của các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, cần phải kiên quyết đấu tranh để loại trừ.

     Để phòng, chống “bệnh diễn”, trước tiên cần phải xác định, đây là thói xấu nhất trong các thói xấu, là “kẻ thù” nguy hiểm hàng đầu của cách mạng mà tổ chức Đảng và tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị phải thường xuyên phê phán, đấu tranh; mọi cán bộ, đảng viên, nhân viên, quần chúng cần tích cực, thẳng thắn phê bình, không khoan nhượng.

     Mục đích của việc “diễn” nhằm lừa dối cấp trên và quần chúng để che giấu những tật xấu của mình, quảng bá cá nhân không đúng sự thật nhằm thực hiện những mưu đồ đen tối. Do đó, chúng ta cần tăng cường kiểm tra đột xuất để nắm thực chất con người, công việc, đồng thời đổi mới phương pháp đánh giá cán bộ, đảng viên, nhân viên, chú trọng thực hiện bỏ phiếu kín, lấy phiếu tín nhiệm với các nội dung cụ thể để mọi người trong tổ chức và quần chúng có thể phản ánh, thẳng thắn đánh giá rõ những ưu điểm, khuyết điểm của người được lấy ý kiến, không để đối tượng “diễn” lừa dối tổ chức.

     5. Cuối cùng, tôi xin kể lại chuyện được chứng kiến: Cơ quan nọ tổ chức buổi gặp mặt truyền thống, mời cán bộ, nhân viên qua các thời kỳ tới dự. Lâu ngày mới được hội ngộ, ai cũng tay bắt mặt mừng, hớn hở thăm hỏi, nói cười, cùng nhau chụp ảnh lưu niệm. Riêng có một “sếp cũ” thì như... người thừa vì chẳng ai hỏi han, đến lúc liên hoan mọi người đều lảng tránh ngồi cùng. Ban tổ chức phải thuyết phục, kéo người vào ngồi cùng với vị “sếp cũ” đó, nhưng chỉ được một lát là những người này cầm bát sang mâm khác, mặc “sếp cũ”... một mình một mâm. Nguyên nhân bởi vị “sếp cũ” ấy trước đây rất bẩn tính nhưng “diễn giỏi” nên vẫn được đề bạt. Khi ông đương chức, cấp dưới không phục, xem thường, song phải cố chịu đựng. Nhưng từ khi ông nghỉ hưu thì anh em trong cơ quan chẳng ai quan tâm hỏi han, toàn lấy ông làm ví dụ điển hình về loại người “điêu-diễn”!

     Đặc biệt, ngay cả vợ con cũng không phục ông, thậm chí còn thường xuyên cãi lại (vì biết rõ những “chiêu bài diễn” của ông)! Vậy là, ông như người thừa không chỉ ở trong nhà, suốt ngày tha thẩn, thui thủi, đi đâu cũng chẳng dám ngẩng đầu...

     Ngạn ngữ có câu: “Điều gì xuất phát từ trái tim sẽ đi tới được trái tim” và “cái kim trong bọc có ngày lòi ra”. Những ai chân thành, thật thà thì dù có ứng xử thô vụng, mọi người cũng hiểu và cảm thông, quý mến. Ngược lại, loại người “lươn, chạch”, xấu tính, thì dù “diễn” giỏi đến mấy cũng sẽ bị phát hiện, càng “diễn” càng khiến những người xung quanh khinh thường.

     “Bệnh diễn” còn rất nguy hiểm ở chỗ, người mắc nó rất khó sửa sai, bởi không thể giải thích; muốn thật lòng thay đổi thì mọi người vẫn nghi ngờ “lại diễn”. Phải có thời gian, thực sự tu nhân tích đức, hoặc phải trải qua những va vấp lớn, hậu quả lớn thì mới mong chữa được bệnh này.
Càng ngẫm, càng thấm sự nguy hại của “bệnh diễn”!
Môi Trường ST.

PHÊ PHÁN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN PHỦ NHẬN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM!

         Trong lịch sử phát triển của các quốc gia, dân tộc trên thế giới, dù là nước lớn hay bé, giàu hay nghèo, phát triển hay đang phát triển, đều xây dựng cho mình những chủ thuyết, bao gồm hệ thống các quan điểm, nhận thức, tư tưởng mang tính lý thuyết nhằm định hướng cho sự phát triển của quốc gia.

Ở nước ta, ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhanh chóng nắm ngọn cờ lãnh đạo cách mạng Việt Nam, tiến hành giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, giành độc lập cho dân tộc, xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

1. Những tư tưởng cơ bản của nhà nước pháp quyền đã được V.I.Lênin đề cập và vận dụng vào thực tiễn xây dựng và củng cố nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) đầu tiên trên thế giới-nhà nước kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, bao gồm các vấn đề cơ bản như: Xây dựng một nhà nước hợp hiến, hợp pháp, dân chủ; nhà nước có một hệ thống pháp luật đầy đủ và pháp luật được thực hiện nghiêm minh, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nhà nước là công cụ của nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước pháp quyền và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là quá trình đúc kết, kế thừa có chọn lọc và vận dụng sáng tạo tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại và quan điểm Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật kiểu mới vào thực tiễn xây dựng nhà nước kiểu mới ở nước ta.

 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát triển năm 2011) thông qua tại Đại hội XI của Đảng, đã xác định: “Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

Thực tiễn 35 năm đổi mới đã khẳng định yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng như một xu thế khách quan, tất yếu mang tính quy luật của quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện phát triển nền dân chủ chân chính của nhân dân, xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, hội nhập quốc tế.

Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là nguyên tắc hiến định mang tính giai cấp sâu sắc, bảo đảm thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước thể hiện ở các khía cạnh: Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành hiến pháp, pháp luật, chính sách cụ thể và lãnh đạo tổ chức nhân dân thực thi Hiến pháp, pháp luật, chính sách; Đảng lãnh đạo Nhà nước tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu quả, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức; Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng công tác kiểm tra việc quán triệt, tổ chức thực hiện đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước; củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên trong các cơ quan nhà nước làm tham mưu cho Đảng; phát huy vai trò Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, các tổ chức xã hội và nhân dân trong việc tham gia xây dựng, kiểm tra, giám sát hoạt động của Nhà nước và bảo vệ Nhà nước.

2. Thời gian qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đưa ra nhiều quan điểm, luận điệu hòng bác bỏ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta đối với Nhà nước và xã hội, họ rêu rao rằng, ở Việt Nam không có “pháp trị”, chỉ có “đảng trị”. Đây là thủ đoạn nham hiểm của các lực lượng chống đối Đảng Cộng sản lãnh đạo các nước XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu thập niên 80 của thế kỷ trước. Hiện nay, một số đối tượng vẫn cổ xúy cho thủ đoạn trên mà nếu không đấu tranh thì có thể để lại những hậu quả khôn lường đối với đất nước, đối với xã hội, đối với người dân khi vai trò lãnh đạo của Đảng bị đặt ngoài Hiến pháp. 

Những người có lương tri trên thế giới không thể không nhớ đến sự kiện Đảng Cộng sản Liên Xô tan rã năm 1991, khi mà những người dân chủ cấp tiến hả hê vì vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã bị đặt ngoài hiến pháp, khi Điều 6 Hiến pháp Liên Xô năm 1977 (sửa đổi, bổ sung năm 1988) bị phá bỏ. Trên đất nước đó, sau những biến cố thăng trầm, chính Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin trong cuộc gặp các đảng phái chính trị của Nga tại Điện Kremlin ngày 23-9-2016, cho rằng sự kiện Liên Xô sụp đổ không chỉ là thảm họa địa chính trị lớn nhất trong thế kỷ 20 mà rất có thể là cả trong lịch sử chính trị thế giới, để lại những hậu quả có tính toàn cầu về tư tưởng, văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội và an ninh.

3. Đặc trưng cơ bản nhất của nhà nước pháp quyền là quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng trong từng nước, khi giải quyết các vấn đề tổ chức quyền lực của nhà nước thì xuất phát từ đặc điểm thực tiễn riêng của mỗi nhà nước. Ở một số nhà nước trên thế giới, do xuất phát từ thể chế chính trị, đặc điểm lịch sử hình thành, có nhà nước theo nguyên tắc “tam quyền phân lập”, tức là phân lập các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp với những hình thức và mức độ khác nhau. Về bản chất, dưới khoa học chính trị học, đây thực chất là sự phân chia quyền lực giữa các đảng phái. Tuy vậy, trên thực tế cũng chưa có một nước tư bản nào thực hiện đúng nguyên tắc tam quyền phân lập, mà vẫn phải áp dụng linh hoạt, phù hợp với tình hình của mỗi nước.

Trước đây, khi thảo luận vấn đề cải cách tổ chức và hoạt động của nhà nước ở nước ta, từng có ý kiến cho rằng cần phải xây dựng nhà nước pháp quyền trên cơ sở nguyên tắc tam quyền phân lập dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, Đại hội IX của Đảng đã dứt khoát khẳng định: “Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”(2). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tiếp tục khẳng định vấn đề trên. 

Như vậy, điểm khác nhau cơ bản trong tổ chức quyền lực của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam với các nhà nước tư sản, đó là: Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam không tổ chức theo nguyên tắc tam quyền phân lập mà tổ chức quyền lực theo nguyên tắc “quyền lực nhà nước là thống nhất”, không thể phân quyền theo lối phân chia, cắt khúc, đối chọi lẫn nhau giữa các quyền, mà chỉ có sự phân công trên cơ sở thống nhất và tập trung quyền lực cao nhất ở Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.

Mô hình xây dựng bộ máy nhà nước pháp quyền ở nước ta chưa khi nào và không bao giờ bị coi là bản sao mô hình bộ máy nhà nước pháp quyền giống như một quốc gia nào đó. Các nhà tư tưởng chính trị-pháp lý như Aristoteles đã từng chỉ ra rằng, cần phải làm ra các đạo luật để áp dụng vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia chứ không thể đem các quốc gia vào cho phù hợp với pháp luật đã có sẵn. Trong tác phẩm “Tinh thần của pháp luật”, Montesquieu cũng đã nhắc đến yêu cầu “lấy tinh thần của luật”, từ "tinh thần của nhân dân". “Các đạo luật phải nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với các đặc điểm của dân tộc mà vì dân tộc đó mới cần làm ra những đạo luật này. Và chỉ trong những trường hợp rất đặc biệt luật của dân tộc này mới có thể thích ứng được với dân tộc khác”(3).

Mô hình nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam được xây dựng phù hợp với các quan điểm của Đảng về việc vận dụng một cách sáng tạo và có chọn lọc những kinh nghiệm khác nhau của các dân tộc về cách thức tổ chức nhà nước pháp quyền, ưu tiên những giá trị có tính phổ biến, kết hợp hài hòa với các giá trị truyền thống, những đặc điểm phát triển và lịch sử phát triển đất nước. Do đó, mọi yêu cầu, đòi hỏi hay kiến nghị Việt Nam phải thực hiện mô hình “tam quyền phân lập” là không phù hợp, thậm chí tiếp tay cho các thế lực thù địch, phản động thực hiện âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước ta. 

Quyền lực nhà nước là vấn đề vô cùng quan trọng, nhưng cũng không kém phần phức tạp. Việc nắm giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước có hiệu quả sẽ là điều kiện để thực hiện được những mục đích đã đề ra, mang lại lợi ích cho nhân dân, đất nước. Tuy nhiên, trong quá trình nắm giữ, tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ như tham nhũng, lãng phí, lạm quyền... Vì vậy, vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước là một nhiệm vụ cấp bách, quan trọng trong quản lý nhà nước trên thế giới nói chung, ở nước ta nói riêng. Ở nước ta, thuật ngữ “kiểm soát” được ghi trong văn kiện của Đảng và thể chế hóa quan điểm đó, tại Điều 2 Hiến pháp năm 2013 hiến định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

Kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta bắt nguồn từ nguồn gốc và bản chất của nhà nước pháp quyền XHCN: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta không cần phải áp dụng cơ chế tam quyền phân lập, bởi các nhánh quyền lực của Nhà nước ta không phải nhánh quyền lực của phe nhóm này chống lại phe nhóm kia, vốn là gốc rễ của cơ chế tam quyền phân lập.

Sức mạnh, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta trong những năm qua là minh chứng sinh động về Nhà nước ta đã, đang thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân; do nhân dân xây dựng; hoạt động vì mục tiêu ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Thực tế này sẽ phủ nhận những ý đồ đen tối muốn thay đổi thể chế nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam bằng mô hình nhà nước “tam quyền phân lập” mà thực chất là muốn xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước, tách rời Nhà nước với chính trị rồi làm suy yếu, tan rã Nhà nước./.
Môi Trường ST.

ĐỂ MÃI LÀ HÌNH TƯỢNG ĐẸP, BIỂU TRƯNG VĂN HOÁ CỦA DÂN TỘC!

         Để tiếp tục gìn giữ, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong điều kiện mới, một mặt, chúng ta phải tích cực nhận diện, đấu tranh không khoan nhượng với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, chống phá; mặt khác, phải thường xuyên giáo dục tinh thần tự giác học tập và tổ chức rèn luyện để mỗi cán bộ, chiến sĩ đề cao trách nhiệm, tự giác tu dưỡng, làm cho phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ mãi trở thành hình tượng đẹp-biểu trưng văn hóa của dân tộc Việt Nam.
 
Thực hiện mục tiêu, yêu cầu đó, trong nhiều năm qua, Thường vụ Quân ủy Trung ương chỉ thị toàn quân tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, phấn đấu giữ vững danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ với 5 chuẩn mực: Một là, có bản lĩnh chính trị vững vàng, động cơ trong sáng, trách nhiệm cao; hai là, có đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh; ba là, có văn hóa, tri thức khoa học, trình độ quân sự, năng lực, phương pháp, tác phong công tác và sức khỏe tốt đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; bốn là, đẩy mạnh thực hành dân chủ, kỷ luật tự giác, nghiêm minh; năm là, tích cực chăm lo xây dựng đoàn kết nội bộ tốt, tôn trọng, giúp đỡ, gắn bó máu thịt với nhân dân, có tinh thần quốc tế trong sáng. Đặc biệt, yêu cầu cấp thiết phải bảo vệ, gìn giữ, phát triển các giá trị Bộ đội Cụ Hồ được chỉ rõ hơn, sâu sắc hơn trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới (sau đây gọi là Nghị quyết 847). Theo đó, Quân ủy Trung ương xác định 5 đặc trưng cơ bản phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ mà mỗi cán bộ, chiến sĩ phải phấn đấu xây dựng, hướng tới; đồng thời "điểm mặt" 10 biểu hiện chủ nghĩa cá nhân để mỗi tổ chức, cá nhân nhận diện, đấu tranh, đẩy lùi.

Những chủ trương trên thể hiện tinh thần hết sức nghiêm túc, trách nhiệm trong quán triệt, cụ thể hóa Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị, khóa XII và Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị (khóa XIII) về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong Đảng bộ Quân đội; là cơ sở chính trị, động lực tinh thần, phương châm hành động để cán bộ, chiến sĩ phấn đấu, rèn luyện, cống hiến xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới. Tiếp tục thực hiện tốt cuộc vận động và nghiên cứu, sớm đưa Nghị quyết 847 vào cuộc sống là giải pháp tốt nhất để danh xưng Bộ đội Cụ Hồ, truyền thống của Quân đội ta được lưu danh mãi với thời gian, thấm sâu vào suy nghĩ, hành động của mỗi cán bộ, chiến sĩ, người dân. Đây cũng là phương cách hữu hiệu nhằm tạo đề kháng, sức miễn dịch cho bộ đội trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, xuyên tạc, bôi nhọ của các thế lực thù địch.  

Để cán bộ, chiến sĩ không ngừng phấn đấu xứng danh Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới, trước hết, các cấp cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền rộng rãi trong toàn quân về giá trị, ý nghĩa của Nghị quyết 847 đối với việc lưu giữ và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ-giá trị văn hóa quân sự bền vững được hình thành và phát triển trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta. Việc làm này phải được tiến hành thường xuyên, bằng nhiều biện pháp, hình thức, phương tiện, nhất là hệ thống thông tin đại chúng, phòng truyền thống, nhân chứng lịch sử; gắn công tác tuyên truyền, giáo dục với đẩy mạnh hoạt động thực tiễn, xây dựng môi trường văn hóa quân sự tốt đẹp, phong phú, lành mạnh, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa, bồi dưỡng phẩm chất chính trị, tinh thần lạc quan cách mạng, đạo đức, lối sống trong sáng, lề lối, tác phong khoa học, bám sát cơ sở, địa bàn, gắn bó mật thiết với nhân dân. Từ nhận thức đúng, đề cao ý thức trách nhiệm của các cấp ủy và cán bộ, đảng viên, quần chúng trong phấn đấu, rèn luyện, cống hiến tài năng cho sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc theo phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với âm mưu chống phá của các thế lực thù địch; đồng thời chủ động phát hiện, khắc phục kịp thời mọi biểu hiện tư tưởng lệch lạc, thiếu ý thức trách nhiệm trong công việc, làm việc cầm chừng, vô cảm trước khó khăn, hoạn nạn của nhân dân, “dĩ hòa vi quý”, thấy đúng không bảo vệ, sai không đấu tranh, phê bình, vi phạm kỷ luật quân đội, làm ảnh hưởng đến quan hệ đoàn kết quân-dân...

Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng, bảo đảm cho tinh thần của Nghị quyết 847 đi đúng quỹ đạo đề ra; xác định rõ chỉ tiêu, yêu cầu, nội dung, giải pháp cụ thể với từng cấp, từng đối tượng và loại hình đơn vị; duy trì thường xuyên, liên tục, có kiểm tra, rút kinh nghiệm, đánh giá kết quả, tránh việc "trên nóng, dưới lạnh", “phát mà không động”, “đánh trống bỏ dùi”, làm cho sức sống và giá trị của nghị quyết bị suy giảm, bị "uốn cong" trong quá trình triển khai thực hiện. Đồng thời, phải gắn kết chặt chẽ giữa thực hiện Nghị quyết 847 với Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị, khóa XIII về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Phong trào Thi đua Quyết thắng và các cuộc vận động cách mạng; tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc Hướng dẫn số 202/HD-CT, ngày 3-2-2015 của Tổng cục Chính trị về “Thực hiện nội dung xứng danh Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới”, bảo đảm nghiêm túc, thiết thực, chặt chẽ, gắn với nhiệm vụ chính trị của từng cơ quan, đơn vị và chức trách, nhiệm vụ của mỗi cá nhân. Các tổ chức quần chúng đẩy mạnh hoạt động xung kích, khơi dậy tiềm năng sáng tạo, tinh thần trách nhiệm, ý thức tự giác của cán bộ, hội viên, đoàn viên, bảo đảm cho nội dung xứng danh Bộ đội Cụ Hồ đi vào cuộc sống, hoạt động của các tổ chức, lực lượng, phù hợp với tình hình, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, nhất là những việc mới, việc khó, đòi hỏi ý chí, nghị lực cao. Qua đó, tạo sức mạnh tổng hợp, không khí thi đua sôi nổi làm cho phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, vai trò, vị thế của Quân đội ta ngày càng tỏa sáng, có sức cảm hóa mãnh liệt trong toàn quân và toàn xã hội.

Tăng cường đưa bộ đội vào hoạt động thực tiễn, xử lý các tình huống quân sự, quốc phòng, là giải pháp quan trọng để phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ được phát huy trong điều kiện mới. Cần cụ thể hóa Nghị quyết 847 bằng các phong trào, mô hình cụ thể ở cơ sở, sát với đặc thù từng ngành, từng lĩnh vực. Bởi lẽ, thực tiễn phong trào cách mạng càng phong phú, sinh động, thiết thực thì phẩm chất quân nhân cách mạng-Bộ đội Cụ Hồ càng được rèn giũa và thể hiện sâu sắc. Thông qua hoạt động thực tiễn, đề cao tinh thần tích cực, chủ động, tìm tòi, đổi mới, nâng cao hiệu quả công việc; cống hiến tài năng, sức sáng tạo, khả năng làm chủ vũ khí, trang bị, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao đối với từng cán bộ, chiến sĩ...

Quá trình tổ chức các hoạt động thực tiễn cho bộ đội phải phát huy vai trò nêu gương, mẫu mực của đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ chủ trì các cấp trong phấn đấu, rèn luyện xứng danh Bộ đội Cụ Hồ. Sự mẫu mực, mô phạm, nói đi đôi với làm của cán bộ các cấp là mệnh lệnh không lời, có sức thuyết phục cao đối với bộ đội. Nêu gương và làm gương của người đứng đầu cơ quan, đơn vị sẽ tạo sức lan tỏa mạnh mẽ cho đảng viên, quần chúng noi theo. Bởi vậy, cán bộ, đảng viên luôn phấn đấu để hoàn thiện mình, từ nhận thức đến hành động, từ lời nói đến việc làm phải thật sự chuẩn mực, có sức cảm hóa, thu hút cấp dưới và chiến sĩ làm theo. Cán bộ, đảng viên giữ cương vị càng cao, càng phải nêu gương cho cấp dưới, với tinh thần: “Trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo”; phải thật sự gắn mình với đơn vị, sâu sát, gần gũi với quần chúng, công tâm trong xử lý các công việc, thực sự “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” trong hoạt động; giữ vững sự đoàn kết, thống nhất; quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ. Quá trình thực hiện phải đề cao tính chiến đấu, tự phê bình và phê bình, “tự soi, tự sửa”; kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân và những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Chủ động thông tin tích cực, kịp thời định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Giải quyết tốt các mối quan hệ, tình đoàn kết giữa lãnh đạo với chỉ huy, cấp trên với cấp dưới, cán bộ với chiến sĩ, sự đồng thuận trong các cơ quan, đơn vị, tất cả hướng tới mục tiêu chung là xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện "mẫu mực, tiêu biểu". 

Đấu tranh làm thất bại mưu đồ bôi nhọ phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, tiếp tục phát huy những giá trị cao quý, thiêng liêng của quân nhân cách mạng trong thời kỳ mới là trách nhiệm của mọi cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam. Nếu mỗi cá nhân biết tự tu rèn, đắp bồi nhân cách cho chính mình một cách tích cực sẽ góp phần giữ vững và tỏa sáng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, góp phần xây dựng Quân đội ta vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó./.


Yêu nước ST.