Thứ Tư, 6 tháng 4, 2022

 

Giá trị không thể phủ nhận của Quốc tế Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam

Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) không chỉ có giá trị to lớn đối với phong trào cách mạng ở các nước Đông Âu mà còn tác động, ảnh hưởng sâu sắc đối với cách mạng Việt Nam, cả trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay. Đó là lịch sử, là sự thật, không thể phủ nhận! Mọi luận điệu xuyên tạc chỉ là cái cớ của các thế lực chống cộng, thù địch vì mục đích chính trị mà thôi.

Ngày 02/3/1919, tại Mátxcơva, một tổ chức cách mạng của giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới - Quốc tế Cộng sản - Quốc tế III, đã tiến hành khai mạc Đại hội và chính thức được thành lập. Quốc tế III đã kế tục xứng đáng sự nghiệp của Quốc tế I và những giá trị, truyền thống tốt đẹp của Quốc tế II. Trong gần một phần tư thế kỷ tồn tại, bằng những hoạt động sôi nổi, phong phú và sự phấn đấu không ngừng nghỉ của những người cộng sản, Quốc tế Cộng sản đã để lại những giá trị to lớn, không thể phủ nhận đối với phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế, đối với phong trào cách mạng thế giới cả về chính trị, tư tưởng, lý luận và tổ chức. V.I. Lênin chỉ rõ: “Ý nghĩa lịch sử toàn thế giới của Quốc tế III, Quốc tế Cộng sản, là ở chỗ nó đã bắt đầu thực hiện khẩu hiệu vĩ đại nhất của Mác, khẩu hiệu tổng kết thực tiễn trong một thế kỷ của chủ nghĩa xã hội và của phong trào công nhân, khẩu hiệu biểu hiện bằng khái niệm: chuyên chính của giai cấp vô sản”.

Những giá trị chính trị, tư tưởng, lý luận và tổ chức mà Quốc tế Cộng sản tạo nên đã tác động sâu sắc, ảnh hưởng to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Sự ảnh hưởng đó không chỉ đối với quá trình vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và sự lựa chọn con đường, mục tiêu của cách mạng; mà còn đối với cả quá trình xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực hiện và củng cố sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam, nhất là trong giai đoạn 1930 - 1945, giai đoạn nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đứng lên phá bỏ xiềng gông, làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành chính quyền về tay mình.

Một trăm bảy tư năm qua kể từ khi Tuyên ngôn Cộng sản ra đời, sự công kích, hạ thấp vai trò và phủ định chủ nghĩa Mác – Lênin cả về lý luận và thực tiễn, cũng như các tổ chức của những người Cộng sản là mục tiêu nhất quán, xuyên suốt của các thế lực chống cộng. Đối với Quốc tế Cộng sản, chúng xuyên tạc và cho rằng, đây không phải là tổ chức chân chính của những người Cộng sản và giai cấp công nhân, nên không có vai trò quan trọng nào; họ còn lớn tiếng gán bừa rằng, vì đó là tổ chức của chủ nghĩa Mác – Lênin, nên đã mắc nhiều sai lầm, ảnh hưởng tiêu cực đến phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế, đến phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Họ rêu rao nói xằng, Quốc tế Cộng sản không có vai trò nào quan trọng, thậm chí còn ảnh hưởng tiêu cực đối với cách mạng Việt Nam; rằng, những “sai lầm” về chiến lược và sách lược của Quốc tế Cộng sản là nguyên nhân dẫn đến một số sai lầm của Đảng ta trong hoạch định đường lối và chỉ đạo thực tiễn cách mạng. Luận điệu xuyên tạc này là vô căn cứ, không đúng, cần kiên quyết bác bỏ.

Thực tiễn lịch sử Việt Nam và sự hoạt động của Quốc tế Cộng sản trong những năm 20, 30 của thế kỷ XX cho thấy rõ ảnh hưởng sâu sắc và vai trò quan trọng của Quốc tế Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam. Trong những năm của thập kỷ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, một loạt phong trào yêu nước của nhân dân ta đã nổi lên mạnh mẽ, liên tục chống đế quốc và phong kiến, song đều không giành được thắng lợi và lâm vào bế tắc. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã lâm vào khủng hoảng không chỉ về đường lối, mà là sự khủng hoảng toàn diện trên những vấn đề rất cơ bản: (1) khủng hoảng về hệ tư tưởng dẫn dắt, về “chủ nghĩa cần theo”; (2) khủng hoảng về giai cấp lãnh đạo và lực lượng cách mạng của dân tộc; (3) khủng hoảng về con đường và mục tiêu đi tới, phương hướng phát triển của lịch sử dân tộc.

Cả ba vấn đề khủng hoảng này đều rất bức thiết, quan hệ chặt chẽ với nhau, đòi hỏi đều phải được giải quyết. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là câu trả lời, giải đáp cho các vấn đề khủng hoảng đó. Xem xét sự tác động và ảnh hưởng của Quốc tế Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam cần phải xem xét sự tác động và ảnh hưởng đó trên cả ba vấn đề khủng hoảng của lịch sử Việt Nam trong mối quan hệ thống nhất.

Thứ nhất, Quốc tế Cộng sản có vai trò quan trọng trong giải quyết vấn đề khủng hoảng về hệ tư tưởng, về “chủ nghĩa cần theo” của dân tộc ta. Kể từ khi thành lập năm 1919 đến khi tuyên bố tự giải tán vào năm 1943, trong quá trình hoạt động và chỉ đạo phong trào cách mạng thế giới, Quốc tế Cộng sản đã tạo điều kiện và môi trường rất thuận lợi cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ và sâu rộng vào Việt Nam bằng chủ trương và nhiều hoạt động phong phú, đa dạng của Quốc tế Cộng sản, cũng như hoạt động của những cán bộ của Quốc tế, trong đó có nhiều cán bộ là người Việt Nam. Những tác phẩm rất cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin như “Cộng sản sơ giải”, “Bệnh ấu trĩ tả khuynh”, “Hai sách lược của Đảng Công nhân Nga trong cách mạng dân chủ tư sản”, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”,… đã vượt qua “hàng rào kiểm soát” của thực dân Pháp để vào Việt Nam là nhờ sự nỗ lực và tạo điều kiện của Quốc tế Cộng sản.

Sự thâm nhập sâu rộng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam đã trực tiếp đẩy nhanh và nâng cao chất lượng quá trình giác ngộ giai cấp và giác ngộ cách mạng của giai cấp công nhân và các tầng lớp lao động Việt Nam. Điều đó, đã góp phần rất quan trọng giải quyết căn bản vấn đề “chủ nghĩa cần theo” - chủ nghĩa Mác – Lênin - của lịch sử dân tộc, tạo nền tảng xã hội và tiền đề tư tưởng cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. 

Thứ hai, Quốc tế Cộng sản đã định hướng đúng việc xây dựng lực lượng cách mạng ở nước ta. Trong thực tiễn, Quốc tế Cộng sản đã tích cực giúp đỡ, chuẩn bị các điều kiện thuận lợi cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đào tạo cho cách mạng Việt Nam đội ngũ cán bộ vững vàng, v.v. Đây là những đóng góp to lớn của Quốc tế Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam. Tác động tích cực của Quốc tế Cộng sản đã làm cho giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng giác ngộ, trưởng thành và bước lên vũ đài lịch sử, chính thức trở thành giai cấp lãnh đạo dân tộc từ năm 1930. Việc Đảng Bônsêvích Nga và Quốc tế III, tại Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản năm 1935 công nhận Đảng Cộng sản Đông Dương là một bộ phận chính thức của Quốc tế Cộng sản và đồng chí Lê Hồng Phong được bầu làm Ủy viên chính thức (một trong hai ủy viên là người các dân tộc thuộc địa) là sự khẳng định rõ ràng uy tín quốc tế và vai trò của Đảng Cộng sản Đông Dương với tư cách là lực lượng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng ở các nước Đông Dương nói chung và ở Việt Nam nói riêng.

Dưới tác động của Quốc tế Cộng sản, các hình thức tổ chức lực lượng ở Việt Nam được tổ chức thích hợp với yêu cầu nhiệm vụ mới. Đảng ta đã kịp thời chuyển hướng tổ chức lực lượng sang thời kỳ Mặt trận dân chủ, sáng tạo hình thức tổ chức lực lượng mới ở Đông Dương - Mặt trận dân chủ Đông Dương. Điều đó đánh dấu sự kết hợp chặt chẽ giữa vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc trong điều kiện lịch sử mới của cách mạng Việt Nam, thoát khỏi khuôn khổ mặt trận chống đế quốc thuần túy, giai cấp chống giai cấp nói chung không còn phù hợp. Quốc tế Cộng sản còn tạo điều kiện thuận lợi cho những người Cộng sản Việt Nam nghiên cứu, khảo sát thực tế, học tập kinh nghiệm của các đảng Cộng sản và phong trào cách mạng ở các nước. Đặc biệt, đã đào tạo cho Việt Nam đội ngũ cán bộ cách mạng cần thiết, trong đó có nhiều cán bộ ưu tú trở thành những lãnh tụ chân chính, xuất sắc, nắm giữ các trọng trách cao trong Đảng và quốc tế. Nhiều chiến sĩ cộng sản, như Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí: Trần Phú, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai,... đã trưởng thành, trở thành các lãnh tụ chính trị xuất sắc của Đảng Cộng sản Việt Nam qua việc phân công, đào tạo trong công tác thực tiễn và qua các trường lớp của Quốc tế III. Đội ngũ cán bộ của Đảng ta được đào tạo cơ bản, có hệ thống, có bước trưởng thành vững chắc về tư tưởng lý luận; Đảng ta ngày càng được củng cố về tư tưởng, chính trị và tổ chức.

Thứ ba, Quốc tế Cộng sản tạo tiền đề, điều kiện trong giải quyết vấn đề khủng hoảng về con đường và mục tiêu, phương hướng phát triển của dân tộc Việt Nam. Trong quá trình tìm đường cứu nước, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho nhân dân ta - con đường cách mạng vô sản - “không có con đường nào khác”, thông qua đường lối và chương trình hành động của Quốc tế III, trực tiếp là những tư tưởng của V.I. Lênin. Đặc biệt, tác phẩm “Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” được Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc coi là “chiếc cẩm nang thần kỳ”, là “con đường” giải phóng cho nhân dân ta; chấm dứt tình trạng bế tắc về đường lối cứu nước ở Việt Nam. Quốc tế III không chỉ định hướng con đường cứu nước, giải phóng dân tộc cho nhân dân ta, mà còn có những chỉ đạo kịp thời và giúp đỡ Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng. Cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam sớm trở thành một bộ phận của cách mạng thế giới là nhờ có sự tác động, ảnh hưởng và đóng góp to lớn của Quốc tế III. Việc Quốc tế Cộng sản đánh giá cao và biểu dương kịp thời cách mạng Đông Dương, cũng như cách mạng Việt Nam trên toàn thế giới, đã giúp cho các đảng Cộng sản và công nhân trên thế giới, nhất là ở các nước thuộc địa có thể học tập từ kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam.

Ảnh hưởng và vai trò của Quốc tế Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam là sâu sắc và quan trọng. Đó là lịch sử, là sự thật, không thể xuyên tạc, phủ nhận. Sự ảnh hưởng và vai trò đó không chỉ đối với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, đối với việc giải quyết ba vấn đề khủng hoảng trên, mà còn cả trong quá trình Đảng thực hiện lãnh đạo cách mạng, xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nhất là trong thời kỳ 1930 - 1945. Có nghĩa là, cả ba vấn đề: đường lối, lực lượng và hệ tư tưởng, với sự giúp đỡ và ảnh hưởng của Quốc tế Cộng sản vẫn tiếp tục được củng cố, hoàn thiện sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập năm 1930. Những luận điệu xuyên tạc, phủ định vai trò của Quốc tế Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam là vô căn cứ, phi lịch sử, nhất định bị phá sản./.

 

ỦNG HỘ THẢ TỰ DO CHO CHÂU VĂN KHẢM, NHƯNG THẢ TỪ ĐỘ CAO 1000M!

         Mới đây Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Úc kêu gọi Việt Nam trả tự do cho Châu Văn Khảm. Xin có vài lời như sau:  
Châu Văn Khảm và đồng bọn về Việt Nam để tổ chức, móc nối với đám phản động trong nước nhằm hoạt động khủng bố, chống chính quyền, phá hoại cuộc sống bình yên của nhân dân Việt Nam. Toà án nhân dân Tp. HCM xét xử Châu Văn Khảm với tội danh “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” với bản án12 năm tù giam. 

Quốc có quốc pháp, gia có gia quy; việc làm của hắn ta đã phạm vào điều 113-BLHS, “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân”. Không chỉ Việt Nam mà ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều không thể dung thứ bọn khủng bố. Cụ thể là Hoa Kỳ, Nga và nhiều nước trên thế giới chung tay để diệt trừ khủng bố như bọn IS, Al Qaeda đấy thôi. Có nghĩa là, các thành viên của tổ chức khủng bố Việt Tân, bị xử lý theo đúng pháp luật Việt Nam và tinh thần chung của cộng đồng quốc tế. Chẳng ai cổ súy cho bọn khủng bố ngoại trừ bọn khủng bố tự “động viên nhau”! Vậy người Úc lấy tư cách gì để đòi trả tự do cho Châu Văn Khảm?

Từ cổ chí kim, những kẻ đi ngược với lợi ích chúng của dân tộc đều có cái kết không thể nhục nhã và cay đắng hơn. Châu Văn Khảm và đám tàn dư là những kẻ khi Tây sang thì làm tôi tới cho Tây, khi Mỹ sang thì làm tôi tớ cho Mỹ để chống lại đất nước. Đám tàn dư ở hải ngoại không ngừng kết nối với bọn phản động trong nước để chống phá Việt Nam. Hiện nay vẫn tiếp tục kích động, lừa bịp những “khúc ruột vạn dặm” để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc 

Khẳng định rõ rằng, Châu Văn khảm và đồng bọn là đám khủng bố, vi phạm pháp luật Việt Nam nên mới bị xử lý hình sự, Toà án nhân dân TP. HCM đã xử đúng người, đúng tội. Đó là cái giá phải trả cho những kẻ phản bội tổ quốc. Đừng đánh lận con đen về cái gọi là “nhà hoạt động chánh trị” hay “tù nhân lương tâm”. Bọn chúng là những kẻ “Hoạt động khủng bố” và “tù nhân lương tháng” mới là ngôn từ chuẩn mực, đúng với thực tế khách quan. Ủng hộ thả tự do cho Châu Văn Khảm nhưng là thả rơi tự do từ độ cao 1000m./.
Yêu nước ST.
VỀ ĐẨY MẠNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH Những chuẩn mực “Trung, hiếu, cần, kiệm, liêm, chính”... là những khái niệm thuộc hệ đạo đức Nho giáo, chứa đựng nội dung hạn hẹp, nhưng được Người đưa vào nội dung mới, có ý nghĩa khoa học, cách mạng và nhân văn. “Trung với nước, hiếu với dân” là mối quan hệ thể hiện trách nhiệm hành động, quyết tâm, suốt đời, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; Người đấu tranh với mọi cái ác, cái xấu, tham ô, lãng phí, quan liêu, để hướng đến xây dựng “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”, “thanh khiết từ to đến nhỏ”. Vì vậy, Tổng thống Chile đã trả lời nhà báo về ba phẩm chất của nhà hoạt động chính trị mà ông muốn có là “Nhất quán, nhân đạo, khiêm tốn cao cả của Hồ Chí Minh”. Người luôn căn dặn mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ cần phải rèn luyện đạo đức hằng ngày, tu dưỡng suốt đời, để tránh sa vào chủ nghĩa cá nhân. Dù với cuộc đời nào và sống như thế nào, đạo đức và lối sống của Người vẫn giữ đúng nguyên tắc: lấy khiêm tốn giản dị làm nền, lấy chừng mực điều độ làm chuẩn, lấy trong sạch, thanh cao làm vui, lấy yêu thương con người làm trọng, lấy gắn bó giữa con người với thiên nhiên làm niềm say mê vô tận. Đúng như một nhận xét sâu sắc, tinh tế về Người “là một cuộc đời thanh tao, không gợn chút riêng tư, luôn tôn trọng nguyên tắc, có niềm tin vào sự thật và chính nghĩa”. Đảng ta khẳng định, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đi đến thắng lợi; hơn thế còn dẫn đường cho nhân loại đi đến hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ đâu, nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao”. Để đưa dân tộc ta vững bước tới tương lai, một nhiệm vụ quan trọng đặt ra là phải đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đồng thời kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng tất cả sức mạnh của vũ khí phê phán, làm cho học thuyết khoa học và cách mạng của chúng ta luôn tỏa sáng./.
NGƯỜI PHỤ NỮ THÉP Trong 4 năm đàm phán, bà Nguyễn Thị Bình đi thăm nhiều nước để tranh thủ sự ủng hộ của họ. Tháng 4/1969, thăm Anh, một nước luôn ủng hộ Mỹ. Chuyến thăm tốt đẹp hơn cả mong đợi. Kết thúc buổi đón tiếp long trọng, Madam Bình từ trên đài cao bước xuống, đi diễu hành giữa hai hàng cảnh binh bảo vệ. Giữa quãng trường Trafalgar lớn, rừng người hô vang khẩu hiệu "Đoàn kết với Việt Nam!", "Chấm dứt chiến tranh!". Chuyến thăm Thụy Điển năm 1970, được đích thân Thủ tướng Olof Palme (1927-1986) tiếp và cùng Madam Bình dẫn đầu cuộc biểu tình ủng hộ Việt Nam. Nữ nhà văn Sara Lidman (1923-1976) nổi tiếng ở Bắc Âu, tiếp và nói: "Chị Bình ơi, Việt Nam đang có một nền văn hóa dân tộc vô cùng quý giá…". Cuối tháng 4/1969, bà Bình về Hà Nội nhận chỉ thị mới và thăm cha đang bệnh nặng, và được Bác Hồ dặn phải vận động nhân dân các nước ủng hộ Việt Nam. Không ngờ đó là lần bà gặp cha và Bác cuối cùng. Mặt trận đối ngoại là một chiến trường, có thể nói đấu lý lần nào chúng ta cũng giành thắng lợi. Có nhà báo hỏi: "Có quân đội miền Bắc ở miền Nam không?". Bà Bình trả lời: "Dân tộc Việt Nam là một, người Việt Nam ở Bắc cũng như ở Nam đều có nghĩa vụ chiến đấu chống xâm lược". Nhà báo hỏi: "Vùng giải phóng ở đâu?". Bà Bình trả lời dứt khoát: "Nơi nào Mỹ ném bom, bắn phá thì đó chính là vùng giải phóng của chúng tôi. Nếu không tại sao Mỹ lại phải ném bom?". Giữa năm 1971, truyền hình Pháp tổ chức cuộc họp báo ở hai đầu Paris và Washington, có 20 nhà báo tham gia, 10 người phần lớn là Mỹ bảo vệ lập trường của Mỹ, 10 người, phần lớn là Pháp trung lập. Bà Bình một mình giữa các nhà báo sừng sỏ, dưới ánh đèn sáng chói đã bình tĩnh đối đáp đàng hoàng, mạnh mẽ nhưng hòa nhã, nêu rõ thiện chí muốn tìm giải pháp chính trị chấm dứt chiến tranh. Ông Xuân Thủy gọi điện khen: "Cô rất dũng cảm". Thật khâm phục người Phụ nữ nhỏ bé, một mình đương đầu với cả một dàn Nhà báo Phương Tây sừng sỏ, nhiều thủ đoạn, chiêu trò dồn ép, đổ lỗi cho phía VNDCCH và CPCMLTCHMN Việt Nam phá vỡ Hội Nghị Pari...! Nhưng với bản lĩnh tuyệt vời, ý kiến sắc bén, sát đúng với tình hình đang diễn ra ở cả hai miền Việt Nam. Một mình bà dung dung, tự tại trên Chiến Trường Ngoại giao.

Việc Đảng - “Việc họ”(!)

Từ “Đảng ủy... họ” (!)

Trước thềm Đại hội Đảng bộ xã tôi, vô hồi cuộc họp nhóm, họp tổ, tụm năm túm ba, vô hồi con thoi, ngược xóm Bắc xuôi thôn Nam, hệt như hội họ, hội làng... nhưng dù là hội chính, xem ra còn kém thế. Gặp rồi tan, tan lại gặp, lúc đến vồn vã, âm thầm, lúc về ai cũng hỉ hả, tuồng như trúng mánh (!). Để làm gì? Để xin phiếu bầu, nhờ người giới thiệu hộ... Tất tật chỉ thấy nhẹ nhàng, mơn trớn khác hẳn ngày thường. Người đương chức thì xin người thường. Ấy là trò nịnh... ngược (!), hứa hẹn, giao giá... như lời hứa trẻ con cho nhau quả táo, như giao kèo anh cho tôi, tôi lại cho anh. Một, hai, ba... như đôi ta cùng “ù” trên chiếu… bầu cử (!).

Họ Phạm tôi to trong bốn dòng họ hàng xã. Đảng viên của họ chiếm 40% số đảng viên đảng bộ. Lại thông gia với họ Tạ, to nhì làng bên, nên không ít đảng viên nói: - Đại hội trước cũng như lần này là của hai dòng họ Phạm, Tạ mà thôi(!).

Quả chẳng đơn sai. Họ tôi họp tức thì! Mời họ thông gia làng bên sang liên kết, bàn chuyện. Hai họ đấu vào, bày mưu tính kế! Tôi thấy mà buồn cho việc Đảng đang biến thành việc họ! Ông bác tôi phân công từng chi bộ của họ tôi, giới thiệu ai, gạt bỏ dòng họ khác thế nào. Ông chú đảm nhận vận động hành lang(!). Họ Tạ làng bên, cũng thế. Tính tính toán toán! Cứ thế! Cứ thế! Hai họ cam kết xong, rồi lăn vào mâm rượu dọn chờ sẵn. Hỉ hả. Hít hà. Mấy anh cãi lại, bị mắng, thậm chí bị dọa: - Không nghe chú bác, là hư; không xứng đáng là người họ ta; phải khai trừ ra khỏi... họ(!)

Hỡi ôi!

Thế là Đảng ủy xã đúng ý hai họ. Hai phần ba số ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ xã, rồi Bí thư, Chủ tịch đều là người hai họ. Chắc lắm đảng viên, lắm người hai họ hài lòng lắm lắm(?!).

... tới “Đảng ủy... đồng hương”(!)

Người xưa bảo chẳng sai: “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”! Ấy là lẽ ở trên đời cố kết người với người, vì mục tiêu chung của nhóm nhỏ hay cộng đồng, một cách tốt đẹp.

Ấy thế mà nay, không ít người, ở chẳng ít nơi, theo đó, kéo bè kéo cánh trong việc Đảng, việc nước. Không dừng lại ở đồng hương, họ mở ra cả đồng tâm... mâm nhậu, đồng lòng... rút ruột Nhà nước, đồng mưu... lũng đoạn việc công (!). Cùng quê, cùng sở năng rượu bia, cùng âm mưu tham nhũng... tới mức loạn “cùng”, thế là họ... đồng (!).

Phe này, cánh kia mọc lên như nấm sau mưa. Cơ quan, đơn vị ba bè bảy bối, rối hơn canh hẹ. Ai không theo phe này, nhóm nọ, lập tức bị tẩy chay. Còn ai phe này với người phe kia y như đối thủ (!). Cơ quan lúc nào cũng âm âm u u như là nhà có đám, như là ai cũng giữ thế thủ, trừ những lúc những thứ đồng ấy tao ngộ để mưu tính việc nọ việc kia. Không khí trầm uất bao trùm. Đảng ủy phải ra tay, nhưng như gà mắc tóc, bởi được hình thành những thứ đồng ấy, chả dám cả gan “quân ta đánh quân mình”, nên càng rối rắm, kỷ luật đảng bị họ buông tay. Được thể, mấy anh thuộc đồng ấy càng vênh vác, hoắng lên (!). Khắp đơn vị, ai cũng xao xuyến, buồn rầu, chán nản!

Hỡi ơi!

Nhân nào... quả ấy!

Cho đến một ngày, chỉ hai năm sau đó!

Họ tôi và họ Tạ, cả tới tám đảng ủy viên của “Đảng ủy ... họ” ra tòa, vì tội gạt người họ khác, “cánh” khác ra khỏi Đảng; vì “đồng tâm” biển thủ, gian lận tiền đền bù giải phóng mặt bằng...! Toàn Ban Thường vụ “Đảng ủy... họ” bị kỷ luật. Ban Chấp hành Đảng bộ, theo đó, không cần đụng tới cũng tự nó rã rời!

Rồi, mấy kiểu đồng hương, đồng tộc, đồng lòng, đồng mưu ấy, Nghĩa là “Đảng ủy... tam tứ đồng...” (!), khi bị thanh tra, phát giác đủ thứ tội: cục bộ, kéo bè kéo cánh, trù dập, tham nhũng,.. số phận, không nói cũng biết, chẳng khác “Đảng ủy... họ” quê tôi là bao!

Mọ mẫm về quê, thấy ai cũng than thân trách phận! Chỉ biết lặng im, vì biết nói gì hơn, vì những điều cần nói tôi đã nói cả rồi, lại còn bị mắng: -Anh có tí chữ đã định ti toe khoe tài, dạy khôn! Vài bốn tuổi đảng định lên mặt “lạt non đòi buộc tre già”. Mấy chục năm tuổi đảng như ta làm sao mà sai, không có quyền sai (!). Tôi từng bị Bác tôi “chan canh, đổ mẻ” vào mặt như thế, khi khuyên bác không nên làm chuyện họ, việc Đảng nhập nhằng như thế!

Anh tôi bị kỷ luật nhẹ nhất, tìm tôi, khẽ nói trong ầng ậng nước mắt: - Ừ, chú nói đúng! Việc Đảng chứ đâu phải chuyện họ! Và, anh tôi bưng mặt khóc hu hu. Tôi thầm thĩ vỗ về: - Sai thì sửa. Em sợ nhất không ngộ ra cái sai thôi! Và, anh tôi choàng lên ôm tôi đến nghẹt thở! Lúc ấy, may mà mặt trời chưa đổ sang chiều! 

Nẻo quan: Chẳng tích... cũng dịch nên tuồng(!)

 Có tích mới dịch nên tuồng!

Ấy là trong chuyện của nghệ thuật sân khấu! Đó là sự hữu hạn nhưng làm nên nét tinh hoa, sự thiêng liêng và vô giá của nghệ thuật sân khấu và sân khấu nghệ thuật!

Nhưng trên cái gọi là sân khấu cuộc đời, sự xô bồ, lệch chuẩn, rối bời tới độ vô hạn của cuộc sống đa màu mè, cung bậc; sự nhốn nháo, hỗn độn của đủ hạng người “diễn” đủ vành đủ vẻ... hóa ra lại là nguồn cơn tạo nên thứ cuộc đời sân khấu. Nó đâu cần cái chuyện: Có tích mới dịch nên tuồng, và đâm ra thừa. Vì nhẽ, tuồng đời cứ diễn mãi rồi cũng nên... tích!

Hóa ra tuồng buông mãi cũng thành... tích! Mà tuồng đời thì lại nhan nhản... đó...đây:

Quan bà... bà quan(!)

Ở trên đời, thường thì sau những thành công của những người đàn ông người ta thấy lấp lánh những người phụ nữ! Nhưng, cũng không ít trường hợp, núp bóng người đàn ông, thậm chí nhân danh người đàn ông, vô hình làm cho họ lụn bại và lụn bại chính mình. Đó là các quan bà, bà quan:

Thứ nhất... đi hầu đồng, thứ nhì... lấy chồng quan!

Đó là hai thứ kỳ mãn của không ít phụ nữ. Nhưng, oái oăm ở chỗ, những bà vợ quan lại rắp những mượn uy quan ông (chồng quan) là... quan bà, để “tác yêu tác quái”, “làm gió làm mưa”, theo lối “lệnh ông không bằng cồng bà”, thậm chí sai phái quan ông làm theo ý mình những mưu trục lợi. Đề bạt ai, quan bà gõ “cồng”, quan ông răm rắp. Ai mưu toan gì, cầu cạnh gì quan ông, qua cửa quan bà, vạn sự to tát bé tí thành con kiến... qua miệng bà. Nhưng, miễn sao là phải “biết điều biết nẻo” với bà. Đến mức từ người ngay ngắn nhất tới những người gian manh nhất cũng không hiểu được: Ông làm quan hay là bà làm quan!?

Đàn ông quan tắt thì chầy! Đàn bà quan tắt nửa ngày...lên quan!

Nếu quan bà lấy chồng quan ở trên bỗng dưng thành quan bà, như thế đã là một nhẽ, thì đây là muôn vạn những nẻo đường lên quan lắt léo thời nay của mấy bà quan, lắm bà làm quan... bất thường. Các bà này thì bằng tiền, bằng bợ đỡ, thậm chí bằng... tất cả những gì bà có! Cốt sao thân được tí danh, để vênh vác với đời, khi cần thì dọa nạt những ai yếu bóng vía! Với đồng sự, thì họ hoặc là “đàn bà dễ có mấy tay” hoặc là “mềm nắn rắn buông”! Với cấp trên, thì họ hoặc là “nâng khăn sửa túi” hoặc là “những vật tế thần”... Họ mặc sức “thần tốc”, “đi mây về gió”, “ba tấc lên bà”... nháo nhác chốn quan trường!

Chẳng cần phải nói, ai phúc nhỏ đụng phải những quan bà, bà quan kiểu ấy, đã tự mình chuốc lấy tai vạ chơi với dao, rước họa đùa với lửa rồi! Mà vạ rất to!

“Tam đại... đồng triều”(!)

Việc bổ dụng chức vụ này, ngạch bậc kia trong hệ thống quản trị quốc gia là việc của tổ chức, của Đảng, của Nhà nước. Việc của Đảng đâu phải là việc của họ nhà nào, Bác Hồ từng bảo thế! Nhưng đằng này, không ít nơi và rất lắm người lại rắp mưu mượn “quy trình” ấy để “của người phúc ta” rồi kéo cả họ làm quan, lôi cả làng vào làm ở chốn quan trường, để chiếm đoạt, để sở hữu quyền lực của nhân dân, mới là sự bất thường. Này thì họp Đảng - họp nhà(!). Kia thì anh hùng... nhất khoảnh(!). Nọ thì “con cháu các cụ cả (!,“bố quan, con bố cũng phải... quan”(!). Nữa thì “nhất hậu duệ, nhì quan hệ, ba tiền tệ,... bét trí tuệ”(!). Nọ thì... muôn trạng... dày như mắt lưới!

Những trò ấy, dứt khoát phải bị tiễu trừ, cấp bách phải bị tẩy bỏ! Nếu không thế, nguy cơ biến công thành tư, biến chốn công quyền thành vật sở hữu của riêng vài ba dòng họ;... là chuyện chẳng chóng thì chầy! Tham nhũng quyền lực, liên minh sứ quân... là đây!

Vạ trong tường vách, nước xa không cứu được lửa gần. Lúc ấy, họa sẽ khôn lường!

Những tích muôn nẻo tuồng... quan(!)

Tưởng rằng, những tuồng ấy chẳng có tích. Kỳ thực, lại chẳng phải thế! Mà kỳ hơn, một tích họ dịch... mười tuồng! Nom qua, xin gom sáu tích thường nhìn:

Triết lý cha truyền....con nối(!). Cả nhà (cả họ) làm quan, tập ấm, để nối đời làm quan...(!). Y như sở hữu quyền lực!

Triết lý quyền đẻ ra... quyền. Dùng quyền để đổi quyền, để ban phát, rắp mưu lời lãi càng to bằng vốn quyền lực được ủy quyền, đúng ta là nhân dân cho mượn. Biến quyền sử dụng thành quyền sở hữu.

Triết lý kiểu của... con sên. Đi bằng đầu lưỡi! Buôn bán, chạy chọt quyền kiểu bọn “công công” (quan hoạn) thời xưa.

Triết lý tiền trao... cháo múc(!). Dùng tiền để mua. Nếu tiền không mua được thì mua bằng... rất nhiều tiền. Lạnh lùng trả tiền không tình nghĩa.

Triết lý rừng nào cọp ấy! Vượt trên ngăn chặn, khoanh vùng cát cứ, ngoại bất nhập. Điều động, luân chuyển dứt khoát phải đứng ngoài, hoặc bị bao vây, bị vô hiệu hóa bằng mọi mánh khóe, thủ đoạn!

Triết lý một vốn... vạn lời! Khỏi nói loại tích này! Trăm ngàn đổ một trận cười xót xa!

Bao giờ? Thử hỏi: - Bao giờ?

Suốt dọc ngang Bắc Trung Nam nước nhà có tới ước chừng 15 ngàn ngôi chùa (tự viện). Không ít ngôi, bồ đề rụng lá lấp kín cổng, lá đa rụng đầy khắp kín sân chùa!

Bây giờ, dù muộn...

Đã đến lúc, cần đưa những ông quan, bà quan ấy, mà đáng nhẽ từ rất lâu rồi, phải ra... quét chùa!./.

 KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN CÔNG LAO TO LỚN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Không ai có thể phủ nhận công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam vì chính Người đã làm thay đổi vận mệnh của cả dân tộc ta từ thân phận một dân tộc nô lệ thành một đất nước độc lập, tự do. Với thế giới, Người đã “góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”(1).

Ngay từ khi mới 20 tuổi, do nhận thấy những bế tắc về đường lối và phương pháp cách mạng của các phong trào yêu nước lúc bấy giờ, Nguyễn Ái Quốc đã rời Tổ quốc để ra đi tìm đường cứu nước. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn - con đường cách mạng vô sản. Việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam tự nó chưa nói lên sự trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lênin với cách mạng nước ta. Vấn đề cốt lõi nhất là ở khả năng dẫn đường, hấp dẫn, lôi cuốn của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với cả một đất nước đang vươn lên để giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Sức sống chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ thực sự được tỏa sáng ở Việt Nam khi Hồ Chí Minh đã vận dụng nó để lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, làm nên những thắng lợi vẻ vang ở thế kỷ XX mà không chỉ bạn bè quốc tế ghi nhận mà ngay cả kẻ thù cũng phải nể phục. Do đó, chỉ những kẻ cố tình “nhắm mắt làm ngơ”, “có mặt như mù” mới có thể phủ nhận được công lao to lớn của Người với cách mạng Việt Nam. Vì vậy, “không ai có quyền phỉ báng vào hiện thực lịch sử, quy cho Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là có tội với lịch sử dân tộc bởi chính Nguyễn Ái Quốc là người đầu tiên tiếp nhận và phất cao ngọn cờ giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản”(2).

Không chỉ truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, Người còn trực tiếp lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược, khai sinh và xây dựng Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Điều quan trọng hơn cả là khi vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã không bê nguyên xi lý luận của các bậc tiền bối mà đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo cho phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Người đã biến hệ thống lý luận với những nguyên lý, quy luật, phạm trù mang tính phổ quát của chủ nghĩa Mác - Lênin thành những triết lý giản đơn, dễ hiểu để tuyên truyền, giải thích cho nhân dân, hướng dẫn nhân dân làm theo.

Tư tưởng Hồ Chí Minh có nguồn gốc từ văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lênin. Chủ nghĩa Mác - Lênin chính là nguồn gốc lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh. Về logic, tư tưởng Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển, làm phong phú, sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin; vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể Việt Nam. Vì thế, trong tác phẩm “Đường kách mệnh” (viết năm 1927), ngay ở trang đầu tiên, Hồ Chí Minh đã trích lời của Lênin: Không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động,… chỉ có theo lý luận cách mệnh tiên phong Đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiên phong để nêu bật tầm quan trọng của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với Đảng: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(3). Điều này đã được Người nhấn mạnh lại trong bài trả lời phỏng vấn nhà báo Sác-lơ Phuốc-ni-ô, phóng viên Báo L'humanité (Pháp) ngày 15/7/1969“…chính là do cố gắng vận dụng những lời dạy của Lênin, nhưng vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay, mà chúng tôi đã chiến đấu và giành được những thắng lợi to lớn như đồng chí đã biết. Chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng… chúng tôi giành được những thắng lợi đó trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là Chủ nghĩa Mác - Lênin”(4).

 thể nhận thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với chủ nghĩa Mác - Lênin ở bản chất khoa học và cách mạng, ở lý tưởng và mục tiêu nhân văn vì con người, vì giải phóng giai cấp, dân tộc và nhân loại. Chủ nghĩa Mác - Lênin là khoa học về những quy luật phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy; về cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động chống mọi sự áp bức, bất công; về xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa. Chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời trên mảnh đất hiện thực là thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân - lực lượng xã hội đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến nhất của lịch sử phát triển nền sản xuất vật chất của nhân loại. Đồng thời, là sự tổng hòa từ nhiều nguồn tri thức của loài người, thu nhận tinh túy từ các tư tưởng tiến bộ và không ngừng được bổ sung bằng những kinh nghiệm từ thực tiễn lịch sử được khái quát lên tầm lý luận. Sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời vì mục tiêu cải tạo thế giới, hướng đến giá trị nhân văn cao cả là giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

Như vậy, về bản chất, tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với chủ nghĩa Mác - Lênin chứ không hề có sự khác biệt, đối trọng nhau như các thế lực thù địch vẫn rêu rao. Có được điều đó là do chính Hồ Chí Minh đã tìm đến chủ nghĩa Mác - Lênin, nghiên cứu, kế tục, phát triển nó lên tầm cao mới, vận dụng sát đúng với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lênin nằm trong sự thống nhất hữu cơ; cả hai đều là cấu phần quan trọng trong nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta, nhân dân ta. Chúng ta không thể lấy chủ nghĩa Mác - Lênin thay cho tư tưởng Hồ Chí Minh và ngược lại, cũng như không thể hiểu và quán triệt, vận dụng sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh nếu không nắm vững chủ nghĩa Mác - Lênin.

(1) Chu Đức Tính (chủ biên), Hồ Chí Minh - con người thời đại, Nxb. Văn hóa - Thông tin, H, 2010, tr.16.

(2) Nguyễn Đắc Độ: “Cần hiểu đúng công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam” trong sách Bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, Cục Tuyên huấn, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H,2019, tr.58.

(3) (4) Hồ Chí MinhToàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 28, tr.374.

Không để 'khe hở, mảnh đất trống cho cỏ dại mọc' Thiếu tướng Nguyễn Bá Dương, Bộ phận Chuyên trách 35 Quân ủy Trung ương nhấn mạnh quan điểm, phải đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân bằng sức mạnh tập thể. “Chủ nghĩa cá nhân là “giặc nội xâm” vô cùng nguy hiểm, một loại “vi rút” gây hại cho sự nghiệp cách mạng. Bác Hồ dạy rằng, chừng nào còn tồn tại chủ nghĩa cá nhân thì chừng ấy nó còn “ngăn trở”, “kìm hãm” người cán bộ, đảng viên phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng cách mạng; làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ”. Nhấn mạnh “để ngăn chặn, đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân, nhất thiết phải sử dụng sức mạnh của tập thể”, Thiếu tướng Nguyễn Bá Dương cho rằng, phải không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy các cấp, cơ quan chính trị... để xóa bỏ mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân; không để “khe hở”, “mảnh đất trống cho cỏ dại mọc”. Cùng với đó, thực hiện nghiêm túc pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, quy chế, quy định của cơ quan, đơn vị và các nguyên tắc sinh hoạt Đảng: “Tập trung dân chủ”, “Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, “tự phê bình và phê bình”... Đây là cơ sở vững chắc để tạo ra sức mạnh tập thể, kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin tích cực, định hướng chính trị, thống nhất nhận thức và triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng... tạo sức mạnh của tập thể trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân thể hiện rõ ở việc quyết liệt, toàn tâm, toàn ý thực hiện thống nhất chủ trương, đường lối của Đảng, ý chí và hành động của toàn quân, ý Đảng - lòng dân… Qua đó, nâng cao trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ các cấp, tạo môi trường văn hóa quân sự lành mạnh để đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối lối. Bằng sức mạnh của tập thể, nhất định chúng ta sẽ ngăn chặn, đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân.

Đánh giá cán bộ phải đa chiều, liên tục, lượng hóa, công khai và có khảo sát.

 Trong công tác cán bộ, đánh giá được xem là khâu mở đầu, tạo tiền đề cho các khâu khác. Tạo nguồn - đánh giá để xác định xu hướng phát triển của đối tượng. Tuyển chọn - đánh giá để bố trí vào vị trí thích hợp. Bầu cử, bổ nhiệm - đánh giá để chọn người xứng đáng. Bồi dưỡng, đào tạo - đánh giá để xem năng lực, trình độ cao thấp mà bổ khuyết, nâng cao… Thực tế cho thấy, chỉ có đánh giá cán bộ đúng, khách quan, công tâm, nhận diện rõ ưu, khuyết điểm, mặt mạnh, mặt yếu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, hiệu quả công tác và triển vọng phát triển thì mới có căn cứ chính xác để quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, điều động, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ. Ngược lại, nếu nhận xét, đánh giá chủ quan, thiên lệch, không đúng sẽ dẫn đến bố trí, sử dụng cán bộ sai và dẫn đến hậu quả khôn lường. Người cán bộ được đánh giá không đúng thực chất có thể hoặc sinh ra chủ quan hoặc trái lại, trở nên tự ti, nhụt chí phấn đấu. Đối với tập thể có thể ảnh hưởng đến niềm tin chung và gây ra những phức tạp trong quan hệ nội bộ. 


Để đánh giá đúng cán bộ cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, cấp ủy các cấp nắm chắc, thực hiện tốt nội dung, phương pháp, quy trình đánh giá cán bộ. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nghiêm túc tự kiểm điểm đánh giá bản thân, kiểm điểm phải nêu rõ những ưu, khuyết điểm về tư tưởng, phẩm chất đạo đức, phong cách lối sống, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao, đặc biệt là làm rõ những gợi ý kiểm điểm của cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị, những ý kiến góp ý của nhân dân, đề ra những biện pháp khắc phục, sửa chữa. Đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân được tham gia góp ý kiến đánh giá cán bộ phải có ý thức trách nhiệm, không được coi đây chỉ là nhiệm vụ của cấp ủy, chính quyền mà phải nhận thức là trách nhiệm của mọi người tham gia đánh giá cán bộ. Khắc phục tư tưởng bàng quan, thờ ơ, tham gia được sao hay vậy, hình thức, nể nang, né tránh. Cấp ủy phải chỉ đạo sát sao, gương mẫu làm trước để mọi người noi theo.

Hai là, bảo đảm dân chủ, công khai ở tất cả các khâu: cán bộ tự kiểm điểm đánh giá, cấp ủy và lãnh đạo cơ quan cấp trên quản lý cán bộ, cơ quan tổ chức theo dõi đánh giá, tập thể cơ quan, đơn vị nơi cán bộ công tác đánh giá, cán bộ, nhân dân nơi cán bộ sinh hoạt và cư trú tham gia góp ý kiến đánh giá. Những kênh thông tin trên phải được tổng hợp và thông báo công khai với cán bộ được đánh giá và tập thể cán bộ tham gia đánh giá. Qua đánh giá phát hiện, sử dụng những cán bộ thực sự có năng lực và phẩm chất đạo đức tốt, thay đổi điều chuyển những cán bộ năng lực hạn chế cho phù hợp, đưa ra khỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý những cán bộ cơ hội, tham nhũng, tiêu cực, bị xử lý kỷ luật. Đổi mới cách lấy phiếu đánh giá theo hướng mở rộng đối tượng tham gia đánh giá, nội dung phiếu đánh giá theo đúng hướng dẫn của Trung ương. Thực hiện việc thi tuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý bảo đảm dân chủ, công khai.

Ba là, cấp ủy, chính quyền các cấp, các ngành tăng cường kiểm tra, giám sát công tác đánh giá cán bộ, chấn chỉnh kịp thời những thiếu sót trong chỉ đạo thực hiện. Những cán bộ có khuyết điểm, thiếu sót hoặc có dấu hiệu vi phạm, hoặc có đơn tố giác cần phải được xác minh làm rõ, kịp thời và thông tin trở lại với người phát hiện. Chọn lọc những ý kiến xác đáng, đúng đắn, với ý thức trách nhiệm và tinh thần xây dựng để bổ sung vào nhận xét đánh giá cán bộ. Cần tổ chức hội nghị sơ kết rút kinh nghiệm công tác đánh giá cán bộ, kinh nghiệm chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp, ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, của người tự kiểm điểm; kịp thời biểu dương những đơn vị, địa phương làm tốt, nhất là những nơi có cách làm sáng tạo phát huy vai trò của nhân dân tham gia vào việc đánh giá cán bộ; phê phán, rút kinh nghiệm, chấn chỉnh những địa phương, đơn vị làm chưa tốt, đưa công tác đánh giá cán bộ vào nền nếp, đạt chất lượng, hiệu quả.
Bốn là, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và công tác quản lý đảng viên là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả đánh giá cán bộ, bảo đảm tất cả đảng viên dù ở cương vị công tác nào cũng đều phải dự sinh hoạt chi bộ. Trong sinh hoạt chi bộ phải thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình. Sáu tháng và một năm mỗi đảng viên phải tự kiểm điểm báo cáo với cấp ủy, chi bộ về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao, bỏ phiếu xếp loại hằng năm. Chi bộ phải là nơi phát hiện những dấu hiệu vi phạm của đảng viên để tập trung uốn nắn sửa chữa kịp thời không để đến khi thành khuyết điểm lớn mới kiểm điểm đánh giá. Thực hiện nghiêm túc Hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương về kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với tổ chức đảng, đảng viên và tập thể, cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

Năm là, xây dựng, rà soát điều chỉnh, bổ sung tiêu chuẩn cán bộ phù hợp với thời kỳ mới. Kiên quyết đưa ra khỏi đội ngũ lãnh đạo, quản lý những cán bộ cơ hội, tham nhũng, tiêu cực, vi phạm đạo đức, lối sống, bị xử lý kỷ luật và những cán bộ không đủ tiêu chuẩn. Khi xây dựng và ban hành tiêu chuẩn cán bộ cần phải quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương, bảo đảm dân chủ lấy ý kiến rộng rãi của cán bộ, đảng viên, tránh tình trạng tiêu chuẩn không sát với thực tế công việc của cán bộ.

Sáu là, kết quả đánh giá cán bộ có vai trò quan trọng của cơ quan tham mưu là ban tổ chức cấp ủy. Vì vậy, cần nêu cao vai trò trách nhiệm của ban tổ chức và cán bộ, chuyên viên làm công tác cán bộ. Ban tổ chức cấp ủy các cấp phải tham mưu giúp cấp ủy tổ chức tập huấn hướng dẫn nội dung, quy trình, phương pháp đánh giá cán bộ cho các đơn vị, địa phương, nhất là đối với cơ sở, phối hợp với các ban của Đảng, cơ quan, đơn vị, địa phương tổ chức các buổi tiếp xúc, lắng nghe ý kiến của nhân dân và dư luận về cán bộ. Những ý kiến xác đáng, mang tính xây dựng phải được làm rõ, công khai, minh bạch trả lời nhân dân. Kết quả đánh giá cán bộ phải được tổng hợp, nghiên cứu, đề xuất báo cáo với cấp ủy, chính quyền quản lý cán bộ. Quan tâm chăm lo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, chuyên viên trực tiếp làm công tác cán bộ. Đó phải là những cán bộ có phẩm chất đạo đức, ý thức, trách nhiệm, trung thực, khách quan, khiêm tốn, biết phối hợp với các ban của Đảng, các cấp, các ngành để nắm và đánh giá cán bộ, có khả năng nghiên cứu, tổng hợp, đề xuất, báo cáo trung thực với cấp ủy và lãnh đạo cấp trên về cán bộ.

Việc đánh giá cán bộ nghiêm túc ban đầu chắc chắn sẽ vấp phải những ý kiến khác nhau, trong đó, có thể có những ý kiến chưa đồng thuận, bởi việc làm này đối lập với cách đánh giá cảm tính, bè cánh, xuê xoa, thiếu cơ sở. Song dần dần sẽ quen, sẽ tạo ra bầu không khí mới trong thực hiện nhiệm vụ chung. Điều đó không chỉ giúp cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ, mà còn giúp cán bộ, công chức, viên chức nâng cao tinh thần trách nhiệm.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ.

 Năm 2021 là năm đầu tiên triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ này là xây dựng đội ngũ đảng viên và cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Để hoàn thành nhiệm vụ, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cần đổi mới mạnh mẽ về tư duy và cách thức thực hiện, đề ra giải pháp đồng bộ, xác định rõ công việc cụ thể từng giai đoạn, có lộ trình thực hiện phù hợp thực tiễn.Một số kết quả

Một là, xây dựng Chương trình công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nhiệm kỳ 2021-2026. Lần đầu tiên, Ban Tổ chức Trung ương xây dựng chương trình công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ toàn khóa để thực hiện trong cả nhiệm kỳ gồm 8 đề án và 22 nhiệm vụ cơ bản. Trong đó, nhiều đề án có tính chiến lược về nghiên cứu, đề xuất, tham mưu trình Lãnh đạo Ban, Bộ Chính trị, Ban Bí thư xây dựng, hoàn thiện các quy định, quy chế, hướng dẫn đáp ứng yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của cả hệ thống chính trị.

Hai là, rà soát, bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện cơ chế, chính sách đào tạo lý luận chính trị. Xây dựng 3 đề án trình Ban Bí thư: 1) Tổng kết 3 năm thí điểm giao quyền đào tạo và xác nhận cao cấp lý luận chính trị cho Bộ Quốc phòng, Bộ Công an. 2) Tổng kết Quy định 256-QĐ/TW ngày 16-9-2009 của Ban Bí thư về xác định trình độ lý luận chính trị đối với cán bộ, đảng viên. 3) Xây dựng quy định về đối tượng, tiêu chuẩn và phân cấp đào tạo lý luận chính trị.

Ba là, đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý. Tăng cường đào tạo hệ tập trung, giảm đào tạo hệ không tập trung; thực hiện phân lớp theo nhóm đối tượng học viên có tính tương đồng về chức danh, vị trí việc làm, chuyên môn, ngành, lĩnh vực công tác. Tăng cường tổ chức lớp tại Học viện Chính trị quốc gia (CTQG) Hồ Chí Minh và các học viện chính trị khu vực, hạn chế tổ chức các lớp không tập trung tại các cơ quan, đơn vị, địa phương. Thí điểm một số lớp cao cấp lý luận chính trị hệ tập trung tại các cơ quan, đơn vị, địa phương có đủ điều kiện mở lớp. Năm 2021, do dịch bệnh COVID-19 nên phải chuyển hình thức đào tạo từ trực tiếp sang học trực tuyến, đạt 100% đầu việc theo kế hoạch.

Bốn là, tiếp tục thực hiện chế độ bồi dưỡng, cập nhật kiến thức đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Phối hợp với Học viện CTQG Hồ Chí Minh tổ chức lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho chức danh phó bí thư cấp ủy huyện và tương đương (5 lớp với 160 đồng chí); bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho chức danh trưởng, phó trưởng ban tổ chức cấp ủy huyện và tương đương (16 lớp với hơn 2.200 đồng chí); bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho đối tượng 1 (3 khóa với 185 đồng chí). Chủ trì tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tổ chức xây dựng Đảng bằng hình thức trực tuyến cho các đồng chí là trưởng, phó trưởng phòng và chuyên viên chính của ban tổ chức cấp ủy tỉnh (1 lớp với hơn 700 đồng chí).

Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tổ chức xây dựng Đảng bằng hình thức trực tuyến tại điểm cầu Ban Tổ chức Tỉnh uỷ Nghệ An.

Năm là, xây dựng kế hoạch tổ chức Hội thảo khoa học “Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế” theo Nghị quyết số 26-NQ/TW (khóa XII) về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, làm căn cứ xây dựng 77 nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có đủ năng lực làm việc trong môi trường quốc tế.

Có thể khẳng định, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ năm 2021 đã đạt được một số kết quả quan trọng và tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả. Qua đào tạo, bồi dưỡng, người học được trang bị thêm kiến thức mới, phương pháp tư duy, phương pháp tiếp cận và kỹ năng lãnh đạo, quản lý; nắm chắc các chủ trương, chính sách của Đảng và xử lý tình huống phát sinh.

Tuy nhiên, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ vẫn còn hạn chế. Xác định nhu cầu, xây dựng chương trình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chưa đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở. Công tác bồi dưỡng chức danh chưa được xây dựng toàn diện, đồng bộ, thống nhất, chỉ bồi dưỡng được một số đối tượng. Nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng vẫn nặng về lý thuyết; chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng xử lý tình huống chưa đáp ứng yêu cầu thực tế. Phương pháp dạy và học hiện đại chưa được sử dụng đồng bộ, hiệu quả. Thiếu giảng viên chất lượng cao, nhiều kinh nghiệm thực tiễn. Quản lý đào tạo, bồi dưỡng còn bất cập, nhất là đào tạo, bồi dưỡng bằng hình thức trực tuyến. Sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị quản lý cán bộ và các cơ sở đào tạo chưa chặt chẽ, hiệu quả.

Nhiệm vụ, giải pháp

1. Tiếp tục thực hiện các văn bản chỉ đạo của Trung ương về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn để các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên nhận thức đúng yêu cầu, nhiệm vụ, chủ động, tích cực cụ thể hóa, thực hiện chủ trương, chính sách đào tạo, bồi dưỡng, nhất là những chủ trương, chính sách mới. Phát huy trách nhiệm của các chủ thể tham gia đào tạo, bồi dưỡng. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện.

2. Rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy định, quy chế về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo hướng công khai, minh bạch, cụ thể, tạo hành lang chính trị, pháp lý đầy đủ, khoa học, tạo thuận lợi trong quá trình triển khai thực hiện. Nghiên cứu, tham mưu xây dựng các đề án: Tổng kết 10 năm thực hiện Quy định số 164-QĐ/TW ngày 1-2-2013 của Bộ Chính trị về chế độ bồi dưỡng, cập nhật kiến thức đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp và Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 26-5-2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý; tổng kết Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước (Đề án 165) giai đoạn 2009-2021. Nghiên cứu, đề xuất mô hình và phương thức hoạt động mới về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở nước ngoài phù hợp với điều kiện, tình hình mới.

3. Thực hiện có hiệu quả Quy định 164-QĐ/TW ngày 1-2-2013 của Bộ Chính trị về chế độ bồi dưỡng, cập nhật kiến thức đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Xây dựng kế hoạch, tổ chức các lớp cập nhật thông tin đối với cán bộ cấp cao của Đảng và Nhà nước. Tiếp tục mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, công chức, thực hiện bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tổ chức xây dựng Đảng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt các doanh nghiệp nhà nước…

4. Nâng cao chất lượng nghiên cứu, tham mưu chính sách, chế độ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả giữa Trung ương và địa phương, giữa các cơ quan liên quan với cơ sở đào tạo; kịp thời tháo gỡ, giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện. Bảo đảm khách quan trong tuyển chọn, xét cử cán bộ đi học, đáp ứng yêu cầu, điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định; gắn đào tạo, bồi dưỡng với quy hoạch, bố trí, sử dụng cán bộ.

5. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp, chương trình đào tạo, bồi dưỡng, phát huy tối đa tính chủ động, sáng tạo của người học, đạt được các mục tiêu về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Đa dạng, phong phú các hình thức đào tạo, trang bị những kiến thức về tầm nhìn và tư duy chiến lược, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, kỹ năng xử lý tình huống, quản trị rủi ro, gắn với vị trí việc làm và chức trách của cán bộ.

6. Nêu cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tự học tập, tự tu dưỡng, rèn luyện của người cán bộ, đảng viên đi đôi với giữ gìn kỷ luật, kỷ cương, khắc phục tình trạng học tập hình thức, tình trạng lười học, ngại học lý luận chính trị, học để hoàn thiện bằng cấp, chứng chỉ bảo đảm tiêu chuẩn chức danh.

7. Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên. Các cơ sở đào tạo cần xây dựng chiến lược phát triển giảng viên và mạng lưới báo cáo viên, giảng viên thỉnh giảng là những chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành và cán bộ lãnh đạo, quản lý giàu kinh nghiệm. Đồng thời, các cơ sở đào tạo trong nước cần liên kết với các cơ sở đào tạo, các giảng viên, chuyên gia nước ngoài có uy tín, chất lượng cao để mời họ tham gia vào quá trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.

8. Ứng dụng thành quả của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, đẩy mạnh ứng dụng các phương pháp dạy và học hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Bộ đội Biên phòng tỉnh Nghệ An: Xây dựng, củng cố hệ thống chính trị khu vực biên giới

 Nghệ An là tỉnh có tới 61 xã, phường biên giới, ven biển thuộc 11 huyện, thị xã với dân số khoảng trên 106.800 hộ, trong đó có 22/27 xã biên giới đất liền thuộc vùng đặc biệt khó khăn. Tại đây cũng có tới 61 đảng bộ/749 chi bộ với trên 17.600 đảng viên. Với đặc thù địa lý có đường biên giới dài, địa hình phức tạp, lực lượng Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh Nghệ An được coi là “lá chắn thép” quan trọng trong quản lý, bảo vệ vững chắc biên giới. Đặc biệt, đây cũng là lực lượng nòng cốt, chủ công trong xây dựng, củng cố chính trị ở cơ sở khu vực biên giớTăng cường tham gia cấp uỷ cơ sở

Đầu năm 1999, Tỉnh ủy Nghệ An đã có chủ trương điều động 28 cán bộ BĐBP tăng cường cho các xã biên giới, ven biển (27 xã biên giới đất liền, 1 xã ven biển). Ngày 6-5-1999, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Chỉ thị số 32-CT/TU quy định về mối quan hệ công tác của cán bộ biên phòng tăng cường cho các xã, phường biên giới, ven biển. Sau đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy có chủ trương tăng cường 19/27 cán bộ BĐBP trực tiếp tham gia cấp ủy địa phương, đảm nhiệm chức danh phó bí thư đảng ủy xã biên giới thuộc 3 huyện Tương Dương, Kỳ Sơn, Quế Phong; đồng thời, ban hành Quy định số 23-QĐ/TU ngày 18-11-2002 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của phó bí thư đảng ủy xã phụ trách xây dựng cơ sở chính trị, quốc phòng, an ninh.

Từ đó đến nay, BĐBP tỉnh đã thường xuyên triển khai việc đưa 27 đảng viên là cán bộ BĐBP về tăng cường cho 27 xã biên giới đất liền giữ chức danh phó bí thư (một số đồng chí giữ chức danh bí thư) đảng ủy xã biên giới.

Nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị các xóm khu vực biên giới, địa bàn xung yếu, phức tạp và các địa bàn vùng giáo ven biển, Ban Thường vụ Tỉnh ủy cũng đã ban hành Thông báo số 1002-TB/TU ngày 16-3-2005 và Thông báo số 394-TB/TU ngày 23-8-2007 về việc chuyển đảng viên BĐBP về tham gia sinh hoạt đảng tạm thời tại các chi bộ xóm yếu kém trên tuyến biên giới phía Tây và các chi bộ khối, xóm vùng giáo ven biển. Triển khai thực hiện chủ trương này, BĐBP tỉnh đã chỉ đạo các đồn biên phòng phối hợp với các xã, phường giới thiệu chuyển, duy trì thường xuyên 80 đảng viên sinh hoạt tạm thời tại các chi bộ xóm thuộc địa bàn xung yếu, phức tạp.

Năm 2020, thực hiện Kết luận số 68-KL/TW ngày 5-2-2020 của Ban Bí thư và Hướng dẫn số 31-HD/BTCTW ngày 1-7-2020 của Ban Tổ chức Trung ương về việc tiếp tục phát huy hiệu quả của cán bộ BĐBP tham gia cấp ủy tại các địa phương khu vực biên giới, ngày 18-12-2020, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Thông báo số 80-TB/TU về việc triển khai chủ trương tăng thêm cấp ủy viên là cán bộ BĐBP tham gia cấp ủy cấp huyện, cấp xã biên giới; đồng thời, ban hành Quy định số 02-QĐ/TU về chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của cán bộ đồn biên phòng tham gia cấp ủy cấp huyện, cấp xã biên giới. (Tính đến tháng 9-2021, đã có 4 đồng chí được chỉ định tham gia cấp ủy 4 huyện biên giới; 27 đồng chí tham gia cấp ủy cấp xã giữ chức phó bí thư đảng ủy tại 27 xã biên giới đất liền).

Củng cố tổ chức cơ sở đảng vùng biên

Qua đánh giá sơ bộ, hầu hết các cán bộ BĐBP được tăng cường về cơ sở đã luôn quan tâm củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động cấp ủy, tổ chức đảng ở các xã biên giới đất liền. Điều này đã giúp cấp ủy, tổ chức đảng nghiêm túc thực hiện quy chế làm việc, từng bước nâng cao chất lượng thực hiện chế độ sinh hoạt đảng, chấp hành nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, đổi mới phong cách lãnh đạo, chỉ đạo ở các địa phương, đồng thời duy trì thực hiện có hiệu quả quy chế phối hợp giữa đảng ủy các đồn biên phòng với đảng ủy các xã biên giới trong thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, xây dựng khu vực biên giới, nền biên phòng toàn dân vững mạnh.

Từ năm 2016 đến năm 2020, có 31 lượt đảng bộ các xã biên giới đất liền được xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, 98 lượt hoàn thành tốt nhiệm vụ, 5 lượt hoàn thành nhiệm vụ, 1 lượt đảng bộ không hoàn thành nhiệm vụ; củng cố được 10 chi bộ yếu kém, 57 chi bộ từ xếp loại trung bình lên hoàn thành tốt nhiệm vụ, 40 chi bộ từ hoàn thành tốt lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; củng cố, kiện toàn 156 chi bộ; bồi dưỡng, kết nạp mới được 881 đảng viên, đặc biệt trong đó có 754 đảng viên là người dân tộc thiểu số, 3 đảng viên là người theo tôn giáo.

Thực hiện có hiệu quả Đề án số 01-ĐA/TU ngày 10-8-2016 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XVIII) về "Xây dựng chi bộ, phát triển đảng viên ở các khối, xóm, bản chưa có chi bộ, chưa có đảng viên và khối, xóm, bản có nguy cơ không còn chi bộ giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn tỉnh", các đơn vị thuộc BĐBP tỉnh đã tham mưu bồi dưỡng, kết nạp được 23 đảng viên tại các xóm thuộc phạm vi Đề án (20 đảng viên người dân tộc thiểu số, 3 đảng viên người theo tôn giáo); có 4 chi bộ kết nạp được từ 1 đến 2 đảng viên tại chỗ; 4 chi bộ đã kết nạp được 3 đảng viên tại chỗ trở lên. Điều này đã góp phần giảm 12 xóm địa bàn khu vực biên giới, ven biển có nguy cơ không còn chi bộ.

Hằng năm, Quy chế phối hợp giữa Đảng ủy BĐBP tỉnh với các huyện, thị ủy biên giới, ven biển; giữa đảng ủy các đồn biên phòng với đảng ủy các xã, phường biên giới, ven biển được duy trì và thực hiện có hiệu quả. Đặc biệt, công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, nhân dân khu vực biên giới về trách nhiệm tham gia quản lý, bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia; xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở, phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương được đặc biệt chú trọng và đạt nhiều kết quả tích cực.

Đại diện tiếng nói của nhân dân

Trong thời gian qua, BĐBP tỉnh Nghệ An đã chủ động tham mưu Tỉnh ủy, HĐND tỉnh và phối hợp với các huyện biên giới cơ cấu cán bộ các đồn biên phòng tham gia ứng cử đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã nhiệm kỳ 2016-2021 và 2021-2026. Riêng trong nhiệm kỳ 2016-2021, có 18 đồng chí trúng cử HĐND cấp xã; nhiệm kỳ 2021-2026, có 2 đồng chí trúng cử HĐND cấp huyện, 23 đồng chí trúng cử HĐND cấp xã.

Đội ngũ cán bộ BĐBP tăng cường tham gia HĐND các huyện, xã biên giới đã góp phần quan trọng cùng HĐND quyết định các vấn đề của địa phương theo luật định; giám sát thực hiện các chủ trương, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, nhất là trong xây dựng, quản lý và bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới; thường xuyên giữ mối liên hệ chặt chẽ với cử tri, vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của cử tri khu vực biên giới, kiến nghị cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết kịp thời, góp phần xây dựng chính quyền các cấp vững mạnh.

Tỷ lệ xếp loại hoàn thành xuất sắc, hoàn thành tốt nhiệm vụ hằng năm của HĐND, UBND các xã biên giới ngày càng cao, tỷ lệ hoàn thành nhiệm vụ giảm và không có HĐND, UBND không hoàn thành nhiệm vụ. Công tác tiếp công dân, giải quyết những vấn đề bức xúc, nổi cộm trên địa bàn, nhất là liên quan đến quốc phòng, an ninh được thực hiện tốt, đặc biệt đã phát huy có hiệu quả vai trò một cửa để giải quyết kịp thời những công việc của người dân, duy trì thường xuyên việc tiếp công dân đối với người đứng đầu cấp ủy, HĐND, UBND theo quy định, từ đó nắm bắt tình hình tư tưởng, giải quyết kịp thời những kiến nghị hợp pháp, chính đáng của người dân, không để tồn đọng kéo dài, gây bức xúc trong nhân dân.

BĐBP tỉnh cũng đã triển khai thực hiện có hiệu quả các đề án của UBND tỉnh về xây dựng hệ thống chính trị cơ sở, phát triển kinh tế - xã hội, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn như: Đề án "Nâng cao chất lượng công tác vận động quần chúng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh tuyến biên giới phía Tây Nghệ An, giai đoạn 2012-2015 và những năm tiếp theo"; Đề án "Nâng cao hiệu quả giúp đỡ các hộ gia đình ở khu vực biên giới, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, gắn với bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới trên địa bàn tỉnh Nghệ An, giai đoạn 2020-2025 và những năm tiếp theo"... Tham gia củng cố, kiện toàn ban quản lý các xóm hoạt động có hiệu quả; xây dựng, bổ sung các quy định, hương ước, quy ước phù hợp với tình hình thực tế của địa bàn và thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Xây dựng đội ngũ cán bộ xóm có tâm huyết, năng lực, nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định của địa phương; có kỹ năng lãnh đạo, chỉ đạo và tiến hành công tác dân vận; thường xuyên nắm chắc tình hình địa bàn, tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của Nhân dân để đề xuất các cấp giải quyết.

Lực lượng BĐBP cũng đã phối hợp tham gia tích cực việc củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Năm 2019, BĐBP tỉnh đã chỉ đạo các đồn biên phòng tham mưu phối hợp với Mặt trận Tổ quốc các huyện, xã biên giới giới thiệu 37 cán bộ đồn biên phòng tham gia ủy viên Mặt trận Tổ quốc cấp huyện và cấp xã, nhiệm kỳ 2019-2024 (5 cấp huyện, 32 cấp xã). Đội ngũ này đã tích cực tham mưu cho mặt trận Tổ quốc các cấp trong việc tập hợp quần chúng, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở, tạo sự đồng thuận trong xã hội, nhất là chức năng, nhiệm vụ giám sát, phản biện xã hội, duy trì, đẩy mạnh các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước ở khu vực biên giới. Đã tham gia củng cố, duy trì, nâng cao chất lượng hoạt động của ban công tác Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội các xóm được 376 lượt, đưa 95 tổ chức từ xếp loại yếu kém lên trung bình và khá, 281 tổ chức từ xếp loại trung bình lên khá và tốt. Thường xuyên tham mưu cho các tổ chức chính trị - xã hội vận động, tập hợp đoàn viên, hội viên cho các chi hội, chi đoàn; duy trì và nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức, nhất là tổ chức thanh niên trong điều kiện số đoàn viên, thanh niên có mặt tại địa bàn ngày càng ít. Trong giai đoạn 2016-2020, tỷ lệ tập hợp đoàn viên, hội viên bình quân ở khu vực biên giới đất liền đạt 84,89%, ở các khối, xóm vùng giáo đạt 80,23%.

Tham mưu triển khai có hiệu quả các phong trào thi đua, chương trình, đề án, mô hình, như: Phong trào "Thanh niên khởi nghiệp, lập nghiệp"; "Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc"; "Phụ nữ tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang"; Chương trình "Đồng hành cùng phụ nữ biên cương"; Đề án "Xây dựng cơ sở chăn nuôi lợn nái địa phương sinh sản cung cấp con giống cho nhân dân khu vực biên giới phía Tây tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015-2018"; Phong trào "Nông dân thi đua lao động sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững"; "Nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới"; "Cựu chiến binh gương mẫu, cựu chiến binh giúp nhau giảm nghèo, làm kinh tế giỏi"...

Có thể nhận thấy, trong những năm qua, dưới sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy các cấp, sự vào cuộc của hệ thống chính trị và toàn dân nói chung, lực lượng BĐBP là một trong những nhân tố nòng cốt của tỉnh Nghệ An trong việc phát huy vai trò đoàn kết, tập hợp quần chúng nhân dân thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động ở địa phương, thông qua đó, góp phần củng cố, tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, chính quyền các cấp.i.

Tuổi trẻ Ban Tổ chức Trung ương làm theo lời Bác - Sống đẹp, sống có ích.

 Vào những năm tháng cuối đời, khi trả lời phỏng vấn một nhà báo Cu-ba, Bác Hồ đã nói rằng: “Tôi tự nguyện dâng hiến đời tôi cho nhân dân tôi, dân tộc tôi và cho cả nhân loại”. Đó là câu trả lời bất hủ và rõ ràng: “Cuộc đời Bác là sự hóa thân trọn vẹn trong nhân dân, dân tộc và cho cả nhân loại”. Đời người ai cũng trải qua tuổi trẻ nhưng không phải ai cũng hiểu hết ý nghĩa của tuổi trẻ. Tuổi thanh niên rất ngắn và trôi qua rất nhanh vì vậy chúng ta cần biết tận dụng thời gian mỗi ngày để sống đẹp, sống có ích. Không có gì tốt hơn là mỗi ngày chúng ta học tập Bác Hồ. Bác Hồ là người vượt qua vòng danh lợi, trọn vẹn một cuộc đời quên đi lợi ích của bản thân để sống vì người khác, cả cuộc đời Bác “chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho đất nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áoSống đẹp, sống có ích ở đây thể hiện từ những hành động cư xử nhỏ nhất trong cuộc sống đến nghị lực vươn lên trong mỗi người, đem lại hiệu quả thiết thực cho cá nhân, gia đình cũng như cho cộng đồng, xã hội. Đó là lối sống có mục đích, có ước mơ, có lý tưởng; là lối sống có chí cầu tiến, biết đứng dậy bằng chính đôi chân của mình khi vấp ngã, biết bền lòng và dũng cảm vượt qua những thử thách, khó khăn để vươn lên, chắp cánh cho ước mơ của mình được bay cao, bay xa. Đó còn là biểu hiện của lối sống có văn hóa, biết lịch sự; là một lối sống có tri thức, có tình người. Sống thật với bản thân, biết cách đối nhân xử thế với mọi người, giúp đỡ những người đang gặp hoạn nạn, lắng nghe và chia sẻ với những mảnh đời bất hạnh… Nhưng điều quan trọng hơn cả, sống đẹp, sống có ích còn biểu hiện ở lối sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội, ở tinh thần khát khao cống hiến cho Tổ quốc, hy sinh lợi ích cá nhân vì sự nghiệp “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Thấm nhuần tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người, những năm qua tuổi trẻ Ban Tổ chức Trung ương đã không ngừng ra sức rèn luyện, nỗ lực phấn đấu để xứng đáng là những cán bộ làm việc trong cơ quan trọng yếu của Đảng. Xác định “Thanh niên sống đẹp - Sống có ích” là một trong những hoạt động quan trọng của Đoàn Thanh niên cơ quan trong nhiệm kỳ vừa qua, các chi đoàn luôn bám sát nhiệm vụ chính trị của từng cục, vụ, đơn vị triển khai nhiều hoạt động thiết thực, phù hợp với nguyện vọng của thanh niên; cổ vũ, hỗ trợ thanh niên trong học tập, rèn luyện, công tác, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của đông đảo đoàn viên, thanh niên, giúp thanh niên xây dựng lối sống có lý tưởng, trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội, trở thành nét đẹp văn hóa của thanh niên Ban Tổ chức Trung ương trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. BCH Đoàn Thanh niên cơ quan không ngừng đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII, nỗ lực chuyển tải nội dung đến đoàn viên, thanh niên và đẩy mạnh các giải pháp làm theo lời Bác; các chi đoàn triển khai tổ chức học tập, nghiên cứu tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Qua đó, vận động đoàn viên, thanh niên học và làm theo lời Bác bằng những công trình, phần việc cụ thể, gần gũi với đời sống, công tác hằng ngày. Trong 5 năm qua, tập thể Đoàn Thanh niên cơ quan và 3 cá nhân được Trung ương Đoàn, Đoàn Khối Các cơ quan Trung ương tuyên dương điển hình tiên tiến học tập và làm theo lời Bác. Đoàn Thanh niên cơ quan vinh dự được Đảng bộ cơ quan Ban Tổ chức Trung ương tặng Giấy khen vì đã có nhiều thành tích xuất sắc trong 2 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII.

Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã được BCH Đoàn Thanh niên cơ quan triển khai thường xuyên, liên tục với nhiều hình thức, đặc biệt trên mạng xã hội. Công tác giáo dục truyền thống cách mạng, lòng yêu nước, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc tiếp tục được triển khai sâu rộng, có hiệu quả với nhiều hình thức sáng tạo, gắn với các sự kiện chính trị, các ngày lễ lớn thu hút đông đảo đoàn viên, thanh niên tham gia, tạo hiệu ứng xã hội rõ nét. Công tác giáo dục đạo đức, lối sống văn hóa được chú trọng, đề cao tấm lòng nhân ái, đạo lý uống nước nhớ nguồn, lối sống văn hóa, nghĩa tình, trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Đoàn Thanh niên cơ quan đã phối hợp với một số đơn vị triển khai xây dựng nhiều ngôi nhà tình nghĩa, nhà khăn quàng đỏ, nhà 26-3; tổ chức nhiều đợt tình nguyện với các hoạt động khám bệnh, cấp phát thuốc, tặng bộ dụng cụ y tế; thăm, tặng quà các gia đình chính sách, gia đình có công với cách mạng; tặng học bổng cho học sinh nghèo vượt khó, tặng quà cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn... Mỗi hành động, việc làm ý nghĩa đó như những “bông hoa đẹp” góp thêm hương sắc vào “vườn hoa lớn” phơi phới sắc xuân của tuổi trẻ cả nước.

Đặc biệt, lối sống đẹp, sống có ích đã không chỉ trở thành phong trào, cuộc vận động trong đoàn viên, thanh niên cơ quan mà đã trở thành nhu cầu tự thân của mỗi người. Sống đẹp, sống có ích càng làm sáng hơn, đẹp hơn hình ảnh người cán bộ Ngành Tổ chức xây dựng Đảng “Đoàn kết, Trung thành, Trung thực, Trong sáng, Gương mẫu, Tinh thông, Chuyên nghiệp”. Tuy nhiên để “Sống đẹp - sống có ích” trở thành phương châm sống thực sự của mỗi đoàn viên, thanh niên cơ quan, đòi hỏi BCH Đoàn cơ quan cần tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động nâng cao nhận thức và hành động của đoàn viên, thanh niên về lối sống này; vận động đoàn viên, thanh niên xung kích đi đầu xây dựng nếp sống văn hóa trong cơ quan, gia đình và xã hội. Cùng với đó là xây dựng hình ảnh người thanh niên trong thời kỳ mới có lối sống lành mạnh, có đạo đức, văn hóa, sống có lý tưởng cao đẹp, ra sức rèn đức, luyện tài, sáng tạo trong học, công tác, có bản lĩnh vững vàng, tự tin trong hội nhập quốc tế, sẵn sàng tình nguyện vì cộng đồng, cống hiến cho Tổ quốc.

Những ngày tháng 3 kỷ niệm 91 năm Ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đến gần, trong tim mỗi người trẻ Ban Tổ chức Trung ương lại rộn ràng, xốn xang với câu hát: “Nếu là chim, tôi sẽ là loài bồ câu trắng/ Nếu là hoa, tôi sẽ là một đóa hướng dương/ Nếu là mây, tôi sẽ là một vầng mây ấm/ Là người, tôi sẽ chết cho quê hương” (Tự Nguyện - Trương Quốc Khánh). Tất nhiên, sống trong thời bình, “chết cho quê hương” sẽ được hiểu theo nghĩa khác so với ý mà nhạc sĩ Trương Quốc Khánh viết năm 1968 trong phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe” sục sôi trong chiến trường miền Nam khi ấy. Tuy vậy, trách nhiệm với Tổ quốc thân yêu thì luôn hiện hữu trong tim mỗi người trẻ ở mọi thời kỳ.

Mỗi đoàn viên, thanh niên đều đã rất xúc động với lời phát biểu của đảng viên trẻ Nguyễn Thùy Linh (sinh viên Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội), là đại diện cho hàng triệu thanh niên Việt Nam trong Lễ kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia vào ngày 3-2-2020. Thùy Linh cho biết, bản thân đã bật khóc khi thấy hình ảnh những người chị, người mẹ chiều chiều ra bên bờ Hiền Lương giặt áo để được nhìn sang ngọn cờ đỏ sao vàng bay phấp phới bên kia cầu. Và chắc chắn không chỉ có Nguyễn Thùy Linh mà còn nhiều thanh niên thế hệ hôm nay cũng bật khóc về hình ảnh ấy, một hình ảnh hơn cả triệu triệu lời nói. Chúng tôi, những người trẻ, những người sinh ra trong hòa bình, chưa từng một lần phải nếm trải khổ đau, mất mát, hy sinh của chiến tranh nhưng cũng đủ nhận thức để hiểu về khát vọng hòa bình độc lập thống nhất dân tộc của toàn Đảng, toàn Dân và toàn quân ta.

Nghĩ về tinh thần đó, khí thế đó của lớp lớp thế hệ cha anh đi trước, tuổi trẻ Ban Tổ chức Trung ương càng cố gắng phấn đấu, ra sức học tập, nỗ lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vì sự nghiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh. Năm 2022 và những năm tiếp theo, toàn Đảng, toàn Dân và toàn quân ta quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII mà một trong những mục tiêu cụ thể là khát vọng về một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng vào năm 2045. Sứ mệnh cao cả và vinh quang đó đang chờ đợi những bàn tay, khối óc và tinh thần vì cộng đồng, vì Tổ quốc trong mỗi người đoàn viên, thanh niên nói chung và đoàn viên, thanh niên Ban Tổ chức Trung ương nói riêng. Khát vọng Việt Nam trong mỗi người đoàn viên, thanh niên cần phải được đánh thức từ lối sống đẹp, sống có ích ngay từ bây giờ. mặc, ai cũng được học hành”.

VỀ ĐẨY MẠNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

 

Những chuẩn mực “Trung, hiếu, cần, kiệm, liêm, chính”... là những khái niệm thuộc hệ đạo đức Nho giáo, chứa đựng nội dung hạn hẹp, nhưng được Người đưa vào nội dung mới, có ý nghĩa khoa học, cách mạng và nhân văn. “Trung với nước, hiếu với dân” là mối quan hệ thể hiện trách nhiệm hành động, quyết tâm, suốt đời, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; Người đấu tranh với mọi cái ác, cái xấu, tham ô, lãng phí, quan liêu, để hướng đến xây dựng “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”, “thanh khiết từ to đến nhỏ”. Vì vậy, Tổng thống Chile đã trả lời nhà báo về ba phẩm chất của nhà hoạt động chính trị mà ông muốn có là “Nhất quán, nhân đạo, khiêm tốn cao cả của Hồ Chí Minh”.

Người luôn căn dặn mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ cần phải rèn luyện đạo đức hằng ngày, tu dưỡng suốt đời, để tránh sa vào chủ nghĩa cá nhân. Dù với cuộc đời nào và sống như thế nào, đạo đức và lối sống của Người vẫn giữ đúng nguyên tắc: lấy khiêm tốn giản dị làm nền, lấy chừng mực điều độ làm chuẩn, lấy trong sạch, thanh cao làm vui, lấy yêu thương con người làm trọng, lấy gắn bó giữa con người với thiên nhiên làm niềm say mê vô tận. Đúng như một nhận xét sâu sắc, tinh tế về Người “là một cuộc đời thanh tao, không gợn chút riêng tư, luôn tôn trọng nguyên tắc, có niềm tin vào sự thật và chính nghĩa”. Đảng ta khẳng định, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đi đến thắng lợi; hơn thế còn dẫn đường cho nhân loại đi đến hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ đâu, nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao”.

Để đưa dân tộc ta vững bước tới tương lai, một nhiệm vụ quan trọng đặt ra là phải đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đồng thời kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng tất cả sức mạnh của vũ khí phê phán, làm cho học thuyết khoa học và cách mạng của chúng ta luôn tỏa sáng./.

                                                                                                                   VHT.