Thứ Năm, 7 tháng 4, 2022

Vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước.

 Sợi chỉ đỏ xuyên suốt tinh thần Đại hội XIII của Đảng là “vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân” trong chiến lược phát triển đất nước. Điều này được thể hiện rõ nét trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... Đây là bước hoàn thiện lý luận đổi mới của Đảng ta về nhân dân là mục tiêu, động lực, nguồn lực, là chủ thể và trung tâm của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc cũng như chiến lược phát triển đất nước. Bài viết tập trung phân tích làm rõ quan điểm Đại hội XIII về “vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân” trong chiến lược phát triển đất nước.

Vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước

Trên cơ sở tổng kết 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, quan điểm của Đại hội XIII về vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước được thể hiện sâu sắc và toàn diện.

Một là, quan điểm “dân là gốc” được Đảng, Nhà nước ta quán triệt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày càng sâu sắc hơn

Trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng do đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trình bày đã rút ra bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu. Đó là “trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”(1).

Bài học này của Đảng không chỉ là sự kế thừa, vận dụng sáng tạo tinh hoa trong quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân vào thực tiễn Việt Nam mà còn là kết quả tổng kết thực tiễn Đảng lãnh đạo nhân dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc XHCN. Trong đó, có những điểm được bổ sung mới thể hiện quan điểm của Đảng ta về vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đã được bổ sung thêm “dân giám sát, dân thụ hưởng”. Vấn đề không phải đơn thuần là thêm sáu chữ mà quan trọng hơn là nhận thức về vai trò chủ thể, vị trí của nhân dân trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng ta sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, phù hợp thực tiễn hơn. Đây vừa là kết quả của tổng kết từ thực tiễn vừa là xuất phát từ yêu cầu thực tiễn. Bởi lẽ, nhân dân là trung tâm thì quan trọng là nhân dân có toàn quyền quyết định. Trong đó có quyền giám sát, quyền thụ hưởng thành quả của công cuộc đổi mới. Điều đó cũng là lẽ đương nhiên vì mục tiêu đổi mới của Đảng xét đến cùng là “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, nghĩa là mang lại hạnh phúc cho nhân dân.

Hai là, phát huy hiệu quả vai trò của nhân dân là động lực và nguồn lực phát triển đất nước

Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ nhân dân có sức mạnh vĩ đại trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc cũng như trong chiến lược phát triển đất nước. Nếu khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh cũng như khát vọng phát triển đất nước của toàn thể nhân dân thì đây sẽ là động lực và nguồn lực to lớn cho sự phát triển đất nước. Chính vì vậy, Đại hội XIII của Đảng đã “Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước”(2). Trên tinh thần quan điểm này, Đảng ta chủ trương phát huy tính tích cực chính trị - xã hội, quyền và trách nhiệm của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, quản lý xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Đại hội XIII chỉ rõ: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ XHCN, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”(3). Trên tinh thần quan điểm này, định hướng thứ tư trong 12 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 của Đại hội XIII chỉ rõ: “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tăng đầu tư cho phát triển sự nghiệp văn hóa. Xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước”(4). Định hướng này xác định, sức mạnh của nhân dân Việt Nam thể hiện ở sức mạnh văn hóa dân tộc, sức mạnh của con người Việt Nam. Đó chính là sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Ba là, vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển kinh tế

Đại hội XIII đề ra nhiệm vụ đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế phải chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên tăng năng suất, tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao(5). Những yếu tố này muốn được phát huy thì phải dựa vào nhân dân.

Khi đề ra nhiệm vụ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng của tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Đại hội XIII xác định phải chú ý “Phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh kết hợp phục vụ dân sinh”(6). Nghĩa là phải quan tâm đến các ngành công nghiệp phục vụ cuộc sống của nhân dân. Đối với xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế nông thôn theo hướng “nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh”(7); “nâng cao, xây dựng đời sống văn hóa, nông thôn mới kiểu mẫu và bảo vệ môi trường sinh thái”(8) để phục vụ nhân dân.

Đề cập nhiệm vụ hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, Đại hội XIII tiếp tục yêu cầu nhận thức về kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế ngoài các đặc trưng hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường thì có đặc trưng quan trọng là “có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”(9). Chính các tiêu chí “có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng XHCN vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” thể hiện rõ nhất nhân dân Việt Nam là chủ thể, là trung tâm, mục tiêu phục vụ của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam.

Bốn là, vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển con người

Đại hội XIII yêu cầu “Chú trọng hơn giáo dục đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc tốt đẹp của người Việt Nam; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(10). Bởi chính nhân dân mới là người sáng tạo ra các giá trị văn hóa dân tộc, chính họ là người trao truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác và cũng chính họ là người nhân lên và phát huy có hiệu quả sức mạnh các giá trị tinh thần này của dân tộc.

Đại hội XIII cũng yêu cầu “tạo tiền đề và bảo đảm điều kiện thuận lợi để mỗi người dân có cơ hội được hưởng thụ công bằng thành quả của nền giáo dục”(11). Quan điểm này vô cùng đúng đắn, bởi lẽ nhân dân phải là người được hưởng lợi từ thành quả của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

Đại hội XIII còn đặt ra yêu cầu “Hoàn thiện cơ chế, chính sách để đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và đào tạo đúng hướng, hiệu quả”(12), nghĩa là phát huy vai trò của nhân dân trong phát triển giáo dục và đào tạo. Đồng thời, Đại hội XIII cũng đặt ra nhiệm vụ “Thực hiện có hiệu quả các chính sách xã hội trong giáo dục và đào tạo”(13), để không người dân nào bị bỏ lại trong giáo dục và đào tạo. Đây là quan điểm đúng đắn của Đảng ta về vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển con người.

Năm là, vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoa học và công nghệ

Đại hội XIII đề ra nhiệm vụ “Phát triển một số ngành khoa học và công nghệ mũi nhọn, trực tiếp góp phần giải quyết các vấn đề cấp bách, phù hợp với điều kiện, nguồn lực của đất nước”(14). Xuất phát từ tình hình thực tế đất nước cũng như tiềm lực, khả năng, yêu cầu mà Đại hội XIII yêu cầu phát triển một số ngành khoa học và công nghệ góp phần giải quyết những vấn đề cấp bách liên quan tới bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và đời sống của nhân dân. Phù hợp với nhiệm vụ này, Đại hội XIII cũng đề ra nhiệm vụ tiếp theo là “Ưu tiên chuyển giao, ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, con người, quốc phòng, an ninh trọng yếu”(15). Nghĩa là, Đại hội XIII vẫn ưu tiên cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, con người, quốc phòng, an ninh - những vấn đề liên quan thiết thực tới đời sống hàng ngày của nhân dân. Nói khác đi, nhân dân vẫn là chủ thể được phục vụ, được hướng tới của chiến lược thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoa học và công nghệ.

Đại hội XIII chủ trương “Phát triển hạ tầng số và bảo đảm an ninh mạng, tạo điều kiện cho người dân và các doanh nghiệp thuận lợi, an toàn tiếp cận nguồn tài nguyên số, xây dựng cơ sở dữ liệu lớn”(16). Nghĩa là trong chiến lược phát triển hạ tầng kỹ thuật số phục vụ cho phát triển kinh tế số, xây dựng dữ liệu lớn thì nhân dân vẫn là chủ thể chính được tạo điều kiện thuận lợi, an toàn tiếp cận tài nguyên số. Quan điểm này thể hiện vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong phát triển kinh tế số của Đảng ta rất rõ ràng, đúng đắn.

Sáu là, vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam

Đại hội XIII yêu cầu tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân; thực hiện các giải pháp đột phá nhằm ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực xã hội. Đồng thời, Đại hội XIII đề ra nhiệm vụ “Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam. Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ. Từng bước vươn lên khắc phục các hạn chế của con người Việt Nam; xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại”(17). Cùng với cải thiện điều kiện hưởng thụ văn hóa của nhân dân, phải “Phát huy ý thức tự giác của toàn dân xây dựng và thực hiện các chế tài, quy định, quy ước xã hội, bảo đảm công bằng về cơ hội và thụ hưởng văn hóa”(18). Như vậy, một lần nữa, Đại hội XIII khẳng định nhân dân là chủ thể tích cực trong xây dựng và thực hiện các chế tài, quy định, quy ước xã hội, bảo đảm công bằng về cơ hội và thụ hưởng văn hóa của chính nhân dân. Nói khác đi, nhân dân vừa là chủ thể vừa là đối tượng của việc tạo dựng thể chế bảo đảm công bằng về cơ hội và hưởng thụ về văn hóa.

Đại hội XIII cũng xác định trong điều kiện hội nhập quốc tế, giao lưu văn hóa sâu rộng như hiện nay thì chính nhân dân là chủ thể tích cực “Tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đồng thời chủ động nâng cao sức đề kháng của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên đối với các văn hóa phẩm ngoại lai độc hại; từng bước đưa văn hóa Việt Nam đến với thế giới”(19).

Bảy là, vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược quản lý phát triển xã hội bền vững, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội

Đại hội XIII nhấn mạnh, bảo đảm định hướng XHCN trong các chính sách xã hội, kiểm soát phân tầng xã hội, “xử lý kịp thời, hiệu quả các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Gắn chính sách phát triển kinh tế với chính sách xã hội, quan tâm lĩnh vực công tác xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân”(20). “Phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, tiến tới bao phủ toàn dân với các chính sách phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro cho người dân, bảo đảm trợ giúp cho các nhóm đối tượng yếu thế”(21). Thực thi có hiệu quả chính sách dân số và phát triển, nâng cao chất lượng dân số, nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe, khám, chữa bệnh cho nhân dân(22),v.v.. Rõ ràng, ba định hướng trên mà Đại hội XIII đề ra đã xác định rõ vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược quản lý phát triển xã hội bền vững, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội của Đảng ta.

Tám là, vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN

Kế thừa tinh thần các Đại hội trước, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân(23).

Đại hội XIII đề ra nhiệm vụ “xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân”(24). “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân đối với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc”(25).

Ngoài các chiến lược xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc nêu trên, vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân còn được thể hiện trong chính sách và hoạt động đối ngoại. Đó là quan điểm xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân.  Trong xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, Đại hội XIII nhấn mạnh phải “lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững”(26). Việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, nền hành chính, nền tư pháp Việt Nam đều phải lấy phục vụ nhân dân làm trọng tâm. Với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Đại hội XIII nhấn mạnh phải thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Đặc biệt, Đại hội XIII yêu cầu: “Tổ chức có hiệu quả, thực chất việc nhân dân tham gia giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị; phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên”(27).

Việt Nam đã đạt thỏa thuận về công nhận hộ chiếu vaccine với 19 quốc gia

 

Chiều 7-4, tại họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao, thông tin cập nhật về công nhận hộ chiếu vaccine lẫn nhau, Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng nêu rõ: Tính đến nay, Việt Nam đã đạt được thỏa thuận về công nhận hộ chiếu vaccine lẫn nhau với 19 nước, bao gồm: Nhật Bản, Hoa Kỳ, Anh, Australia, Ấn Độ, Belarus, Campuchia, Philippines, Palestine, Maldives, New Zealand, Sri Lanka, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ, Singapore, Saint Lucia, Hàn Quốc, Iran và Malaysia.

Công tác bảo đảm an ninh quốc gia trong tình hình mới.

 - Hiện nay, Việt Nam đang phải đối diện với nhiều thách thức trong lĩnh vực an ninh quốc gia, trong đó có cả những vấn đề an ninh phi truyền thống bên cạnh an ninh chủ quyền hay an ninh chính trị. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ chống lại các thách thức này, công tác bảo vệ an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo. 

 

Công tác bảo đảm an ninh quốc gia trong tình hình mới

Ảnh minh họa. Nguồn: antv.gov.vn

1. Những thách thức an ninh quốc gia trong bối cảnh mới 

Các quốc gia trên thế giới đều có quan niệm về an ninh quốc gia khác nhau xuất phát từ vị thế và trình độ phát triển của quốc gia đó. Trong một quốc gia thì quan niệm về an ninh quốc gia ở mỗi giai đoạn lịch sử cũng có những nội dung mới phù hợp với thực tiễn tình hình của từng thời điểm khác nhau.

Luật an ninh quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ sáu thông qua ngày 3-12-2004, khẳng định an ninh quốc gia chính là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. An ninh quốc gia có hai mặt cơ bản: 1) Sự ổn định và phát triển bền vững của chế độ và Nhà nước; 2) Sự bất khả xâm phạm về độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Hai yếu tố này có quan hệ hữu cơ với nhau, ảnh hưởng, thậm chí quy định lẫn nhau; giải quyết mặt này sẽ tăng cường củng cố mặt kia và ngược lại. Bảo vệ an ninh quốc gia là phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống lại mọi hoạt động xâm hại an ninh quốc gia; là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân, trong đó công an nhân dân và quân đội nhân dân là những lực lượng nòng cốt.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng ngày nay, Đại hội XIII của Đảng đã xác định: vấn đề an ninh quốc gia cần được hiểu một cách toàn diện hơn, rộng hơn, sâu hơn, không chỉ có các vấn đề an ninh chính trị, quân sự truyền thống, mà còn bao quát cả những vấn đề an ninh phi truyền thống, như: an ninh mạng; khủng bố, tội phạm có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia; an ninh tài chính - tiền tệ; an ninh năng lượng; an ninh lương thực; an ninh môi trường (thảm họa thiên nhiên, biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước...), dịch bệnh; thậm chí cũng cần phải bàn đến “an ninh chính quyền”, “an ninh chế độ”… Đây là, những vấn đề an ninh nổi lên bắt nguồn từ những nguy cơ mới, tác động đa chiều của quá trình hội nhập quốc tế và phát triển. Theo đó, an ninh quốc gia bao gồm: an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh quân sự, an ninh biên giới, biển, đảo, an ninh đối ngoại, an ninh tư tưởng - văn hóa, an ninh xã hội, an ninh thông tin, an ninh kết nối, an ninh mạng, an ninh doanh nghiệp, an ninh tài chính - tiền tệ, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh dân cư, an ninh dân số, an ninh cơ sở dữ liệu, an ninh môi trường, an ninh con người

Ngày nay, vấn đề bảo đảm an ninh quốc gia của Việt Nam phải đối diện với nhiều thách thức nghiêm trọng trong bối cảnh Việt Nam ngày một hội nhập sâu rộng với thế giới cũng như tác động tiêu cực từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư:

Thứ nhất, sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn khiến Việt Nam trở thành tâm điểm dễ bị lôi kéo, từ đó ảnh hưởng lớn đến đảm bảo an ninh quốc gia.

Trỗi dậy của Trung Quốc khiến cho mức độ cạnh tranh giữa Trung Quốc với Mỹ và các cường quốc khác trở nên gay gắt hơn. Sau khi cải cách, mở cửa (năm 1978), Trung Quốc duy trì tốc độ tăng trưởng trên 2 con số trong ba thập niên, trở thành công xưởng sản xuất của thế giới, dự trữ ngoại hối lên tới hàng nghìn tỷ USD, sức mạnh kinh tế vì thế gia tăng nhanh chóng. Cuối năm 2010, quy mô của kinh tế Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản để trở thành nền kinh tế số 2 thế giới. Sự phát triển mạnh mẽ kinh tế của Trung Quốc khiến cho cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt hơn, nhất là quan hệ Trung - Mỹ. Hai nước vừa là bạn hàng thương mại lớn nhất, vừa cạnh tranh nhau trên các lĩnh vực như thương mại, khoa học, công nghệ. Mỹ xem Trung Quốc là nền kinh tế “phi thị trường” khi thao túng đồng nội tệ, hỗ trợ doanh nghiệp nhà nước, trợ giá cho xuất khẩu, tạo rào cản cho doanh nghiệp đầu tư vào Trung Quốc, khiến cho thâm hụt thương mại giữa hai nước ngày càng lớn bất lợi cho Mỹ.

Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn đã vượt ra khỏi lĩnh vực kinh tế vươn sang các lĩnh vực phi kinh tế. Biển Đông là khu vực không chỉ thuần túy tranh chấp lãnh thổ, biển đảo giữa các nước láng giềng mà còn chồng xếp, đan xen các lợi ích của cạnh tranh địa - chiến lược giữ các cường quốc. Mỹ đề ra chính sách xây dựng khu vực “Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương mở và tự do”, nhằm đảm bảo an ninh hàng hải và hàng không ở khu vực này, thách thức các tuyên bố chủ quyền phi lý ở Trung Quốc ở châu Á - Thái Bình Dương. Các nước lớn khác cũng can dự sâu hơn vào tình hình Biển Đông, như Nhật với hành động trợ giúp nâng cao năng lực hàng hải cho các nước có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, Ấn Độ với chính sách Hướng Đông, Australia hợp tác chặt chẽ với Mỹ trong vấn đề kiềm chế Trung Quốc.

Điều đó thúc đẩy cục diện cạnh tranh địa - chiến lược khốc liệt tại châu Á - Thái Bình Dương mà Biển Đông trở thành địa bàn cọ xát giữa các cường quốc với nhiều lớp quan hệ đan xen, chồng xếp: tranh giành lãnh thổ, biển đảo giữa các nước láng giềng; an ninh khu vực (trọng tâm là an ninh, an toàn, tự do hàng hải) và Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn. Cạnh tranh gay gắt hơn về tính chất, sâu rộng hơn về quy mô, phức tạp hơn về đối tượng tham, đa dạng hơn hình thức tiến hành.

Thứ hai, các thế lực thù địch luôn tìm cách đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, tăng cường sử dụng các biện pháp “tấn công mềm”, tập trung làm chuyển biến về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; kích động, chia rẽ, đòi “phi chính trị hóa quân đội”; hạ thấp, phủ nhận vai trò, uy tín lãnh đạo của Đảng nhằm xóa bỏ mục tiêu con đường đi lên CNXH. Đặc biệt thông qua hợp tác để thâm nhập sâu vào nội địa Việt Nam, tác động chuyển hóa bằng phương thức “diễn biến hòa bình”, ngoài việc tăng cường các hoạt động tình báo, gián điệp tuyên truyền phá hoại tư tưởng, phá hoại kinh tế, các thế lực thù địch triệt để tấn công ta trên lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền. Lợi dụng những sơ hở, thiếu sót của Việt Nam trong quá trình đổi mới, hội nhập, các thế lực thù địch gia tăng hoạt động vào việc tác động vào cơ sở hạ tầng nhất là tác động vào việc hình thành một xã hội dân sự đồng thời với việc tác động vào kiến trúc thượng tầng đặc biệt là quá trình xây dựng pháp luật Việt Nam.

Thứ ba, Việt Nam phải đối diện với những thách thức an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu. Dịch bệnh bùng phát ở Trung Quốc đầu năm 2020, và hiện nay đã lan ra toàn cầu với những ảnh hưởng nghiêm trọng về mọi mặt của đời sống con người đã minh chứng cho mức độ ảnh hưởng ghê gớm của các vấn đề an ninh phi truyền thống. Cùng với việc tiếp tục phải phòng chống, chịu ảnh hưởng tiêu cực từ đại dịch Covid-19, Việt Nam được dự báo là một trong số các nước sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu toàn cầu, nước biển dâng và nhiều vấn đề an ninh phi truyền thống khác. Các áp lực về chuyển đổi phương thức phát triển trong bối cảnh khó khăn, thiếu hụt về tài nguyên, năng lượng,… rất có thể sẽ đặt nền kinh tế Việt Nam trước những thách thức, từ đó dẫn đến nguy cơ mất ổn định.

 2. Công tác bảo đảm an ninh quốc gia trong bối cảnh mới

Công tác bảo vệ an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo. Năm 1998, lần đầu tiên Đảng ta ban hành nghị quyết về Chiến lược an ninh quốc gia, lần đầu tiên Đảng ta hệ thống nhận diện những nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia và đề ra các chủ trương, giải pháp cơ bản chỉ đạo về bảo vệ an ninh quốc gia. Trong an ninh quốc gia, an ninh kinh tế được xác định là nền tảng, là nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội. Để tăng cường bảo đảm an ninh kinh tế, Bộ Chính trị lần đầu tiên ban hành Chỉ thị số 12 ngày 05-01-2017 về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm an ninh kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế”.

Đại hội XIII đã bổ sung thêm nhiều điểm mới về an ninh quốc gia cũng như nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia. Triển khai chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo đảm an ninh quốc gia cần thực hiện tốt các yêu cầu sau:

Thứ nhất, luôn bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng. Kiên định và giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với sự nghiệp đảm bảo an ninh quốc gia và nguyên tắc Đảng lãnh đạo Công an nhân dân Việt Nam tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt. Do vậy, phải chú trọng xây dựng các cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu cao, thật sự là hạt nhân lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ. Tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát; tiếp tục hoàn thiện phương thức, cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh. Đồng thời, chú trọng kiện toàn cơ quan, đội ngũ cán bộ làm công tác an ninh ở các bộ, ngành; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về an ninh, động viên, khuyến khích toàn dân tham gia thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

Thứ hai, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân.Chúng ta cần không ngừng chăm lo, củng cố, xây dựng “thế trận lòng dân” tạo ra nền tảng chính trị - tinh thần vững chắc, sức mạnh tổng hợp để bảo vệ an ninh quốc gia. Chăm lo xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng, củng cố mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân; lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; xây dựng sự đồng thuận xã hội. Tăng cường công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức an ninh cho cán bộ, công chức và toàn dân. Chăm lo phát huy quyền làm chủ của nhân dân gắn với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, đẩy mạnh công cuộc phòng, chống tham nhũng, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện “lấy dân làm gốc”, phát huy tinh thần yêu nước, trách nhiệm, sự cống hiến, sức sáng tạo của nhân dân đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia. Sinh thời Bác Hồ đã dạy lực lượng công an nhân dân cần phải biết dựa vào dân thì mới hoàn thành được nhiệm vụ, vì nhân dân là tai mắt của công an để “Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn”(1).

Thứ ba, đẩy mạnh ngoại giao đa phương, tăng cường hợp tác với đối tác và tổ chức quốc tế.Đại hội VII của Đảng (tháng 6-1991) lần đầu tiên đưa ra chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ quốc tế nhằm phá thế bao vây, cấm vận, đưa đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và thế giới. Hiện nay, Việt Nam triển khai đối ngoại đa phương với thế và lực ngày càng vững chắc hơn. Chúng ta có quan hệ ngoại giao với 187 quốc gia, xây dựng quan hệ đối tác chiến lược và toàn diện với 25 nước, trong đó bao gồm cả 5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc... Điều đó thể hiện mối quan hệ ngày càng rộng mở và tin cậy giữa nước ta với các nước bạn bè trên thế giới, đem lại cho Việt Nam nhiều cơ hội phát triển mới. Việt Nam và Trung Quốc đã giải quyết phân chia biên giới trên đất liền và vùng Vịnh Bắc Bộ, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển thương mại giữa hai nước. Trong thời gian gần đây, khi tình hình Biển Đông “nóng lên” với những tuyên bố chủ quyền phi lý của Trung Quốc và những hoạt động ngày càng mạnh mẽ của Mỹ ở khu vực. Quan điểm nhất quán của Việt Nam là giải quyết hòa bình vấn đề tranh chấp này dựa trên Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), không sử dụng vũ lực cũng như đe dọa sử dụng vũ lực. Tư tưởng nhất quán này của Việt Nam được nhiều quốc gia trong và ngoài khu vực ủng hộ mạnh mẽ, điều này góp phần quan trọng vào làm “lạnh” những cái đầu “nóng”, tránh để tình hình khu vực phức tạp thêm.

Có thể nói, trong thời gian qua công tác bảo đảm an ninh quốc gia dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng đã đạt được những thành tựu quan trọng: “Phòng ngừa và ứng phó kịp thời với các mối đe dọa an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống; làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, phản động”(2). Tuy nhiên, với tình hình quốc tế và trong nước ngày càng diễn biến phức tạp, việc bảo đảm an ninh quốc gia là yêu cầu thiết yếu để bảo đảm các yêu cầu, điều kiện hòa bình phát triển đất nước.

Quán triệt quan điểm Đại hội XIII vào giáo dục quốc phòng, an ninh.

 - Tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của cách mạng Việt Nam. Bài viết khái quát nhận thức, tư duy mới trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng về mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN và đề xuất giải pháp tăng cường giáo dục quốc phòng, an ninh. 

Quán triệt quan điểm Đại hội XIII vào giáo dục quốc phòng, an ninh

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì Hội nghị Quân uỷ Trung ương lần thứ ba - Ảnh: baochinhphu.vn

Tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc là nhiệm vụ quan trọng, luôn được đề cập trong văn kiện các Ðại hội Ðảng. Qua mỗi kỳ Ðại hội, quan điểm của Ðảng về tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc luôn có sự bổ sung, phát triển, ngày càng hoàn thiện, phù hợp với tình hình thực tiễn của từng giai đoạn cách mạng, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới. 

Trên cơ sở đánh giá tình hình trong nước, khu vực, quốc tế và xu thế của thời đại, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định, bổ sung, phát triển những quan điểm cơ bản về tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong thời kỳ mới.

1. Về mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc

Đại hội XIII xác định: “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(1)

Như vậy, mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ của quốc phòng an ninh tiếp tục được Đảng ta khẳng định nhất quán, xuyên suốt nhưng có sự bổ sung rõ hơn, toàn diện hơn về nội hàm và phạm vi bảo vệ. 

Đại hội XIII đã chỉ rõ, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc không đơn thuần là để đối phó với chiến tranh, mà vấn đề quan trọng và thiết yếu là tạo ra sức mạnh để giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình nhằm xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng XHCN. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng, là sự vận dụng nhuần nhuyễn lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; bảo vệ phải gắn với xây dựng, xây dựng phải đi đôi với bảo vệ. 

Mục tiêu của bảo vệ là để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho xây dựng và phát triển đất nước; và xây dựng phát triển đất nước tạo cơ sở, tiền đề bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Bảo vệ Tổ quốc về mặt tự nhiên - lịch sử với việc bảo vệ Tổ quốc về mặt chính trị - xã hội là mối quan hệ biện chứng trong tính chỉnh thể thống nhất. Vì vậy, phải gắn chặt việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ với bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và bảo vệ chế độ XHCN. Phải gắn chặt việc giữ vững ổn định chính trị, xã hội với bảo vệ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Đây là quan điểm biện chứng khách quan, cụ thể, lịch sử và phát triển, đáp ứng sự phát triển của tình hình thế giới, khu vực, của đất nước và yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng an ninh trong tình hình mới. 

Điểm mới trong văn kiện lần này là việc khẳng định, bảo đảm an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước. Đây là vấn đề quan trọng trong mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay, phản ánh đúng xu thế và đặc điểm tình hình đất nước. Bởi suy cho cùng, mọi vấn đề đều xuất phát từ con người và tất cả mọi vấn đề lại đều quay trở về với con người. Con người là vấn đề có tính chiến lược, là trung tâm của mọi hoạt động, là mục tiêu và động lực phát triển đất nước, và bản chất chế độ XHCN mà nước ta đang xây dựng đều hướng đến bảo vệ cuộc sống bình yên, đem lại đời sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Vì vậy, trong bối cảnh mới hiện nay, vấn đề bảo đảm an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để mang lại hạnh phúc thực sự cho nhân dân là đặc biệt quan trọng. Xét ở khía cạnh trình bày, nét mới trong văn kiện lần này là các nội dung, vấn đề trong mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng an ninh được đặt trong một tổng thể chung, quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại theo một trục thống nhất, không tách rời. Đây là cơ sở và định hướng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới.

2. Về phương thức và giải pháp tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Đại hội XIII của Đảng tiếp tục có những bước phát triển mới trong tư duy về phương thức và giải pháp bảo vệ Tổ quốc XHCN: “Xác định: “chủ động phòng ngừa” là chính. Ứng phó kịp thời, hiệu quả với các đe doạ an ninh phi truyền thống, nhất là nhiệm vụ cứu nạn, cứu hộ, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh. Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình phù hợp với luật pháp quốc tế”(2). Đây là sự kế thừa, vận dụng sáng tạo bài học kinh nghiệm “giữ nước từ lúc chưa nguy”, phát triển tư tưởng bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” để xác định rõ phương thức, giải pháp “chủ động phòng ngừa” là chính. Bước phát triển này cũng thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng về quốc phòng an ninh trong tình hình mới, nhằm chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi, giải tỏa các điểm nóng, các nguy cơ dẫn đến xung xung đột vũ trang; nhất là việc chủ động ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống đang ngày càng hiện hữu và đe dọa trực tiếp đối với toàn cầu hiện nay. 

Đại hội XIII của Đảng cũng khẳng định: “xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại”(3)

Quan điểm trên vừa thể hiện sự nhất quán với các quan điểm trước đó của Đảng, đồng thời nhấn mạnh việc phát huy mạnh mẽ và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, coi đó là một trong những phương thức hữu hiệu để bảo vệ Tổ quốc.

Điểm mới ở kỳ Đại hội lần này là Đảng ta đã đặt các thành tố kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng an ninh trong một chỉnh thể gắn kết, thống nhất. Đây cũng là bước phát triển, bổ sung mới về phương thức bảo vệ Tổ quốc, làm tăng khả năng phát huy nội lực, tiềm năng, bản sắc và truyền thống của dân tộc Việt Nam trong bảo vệ Tổ quốc cũng như trong xây dựng đất nước hiện nay; phát huy và làm sâu sắc thêm tính chất toàn dân, toàn diện của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc XHCN. 

Xét trong tính tổng thể, các phương thức đấu tranh bảo vệ Tổ quốc được sử dụng một cách tổng hợp, linh hoạt, mềm dẻo, đặt trong mối quan hệ và sự tương tác lẫn nhau để huy động sức mạnh tổng hợp và vai trò của mọi lĩnh vực, mọi lực lượng, mọi người và các tổ chức trên các phương diện của đời sống xã hội để bảo vệ Tổ quốc, thể hiện sâu sắc tính chất toàn dân, toàn diện của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới. 

Một nét mới khác về phương thức và giải pháp tăng cường quốc phòng an ninh, bảo vệ Tổ quốc, đó là việc Đảng xác định rõ: Xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh hiện đại, lưỡng dụng, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng và củng cố các tuyến phòng thủ biên giới, biển, đảo; có cơ chế huy động nguồn lực từ địa phương và nguồn lực xã hội cho xây dựng tiềm lực quốc phòng an ninh. Đó là bước phát triển mới về mặt tư duy trong định hướng phát triển công nghiệp quốc phòng an ninh, phản ánh đúng yêu cầu thực tiễn. Giải quyết tốt vấn đề này sẽ tạo sức mạnh tổng hợp cho cả quốc phòng an ninh và các nhiệm vụ khác, tạo ra nguồn lực lớn cho việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình mới. 

3. Về lực lượng và sức mạnh quốc phòng an ninh bảo vệ Tổ quốc

Đại hội XIII của Đảng khẳng định nhất quán “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”(4). Đặc biệt, trong văn kiện lần này, Đảng đã xác định rõ phương hướng: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại”(5); tiếp tục nhấn mạnh và chỉ rõ việc xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân “vững mạnh về chính trị”. Quan điểm trên thể hiện đúng ý chí, quyết tâm và nỗ lực của Đảng ta trong suốt các nhiệm kỳ Đại hội trước đó, nhằm xây dựng lực lượng vũ trang tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Ở văn kiện lần này, Đảng đã xác định rõ các mốc thời gian cụ thể: Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đây là định hướng đặc biệt quan trọng để phát triển tiềm lực và sức mạnh của Quân đội và Công an đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Để xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh toàn diện, phải lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở, bảo đảm lực lượng vũ trang luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN, gắn bó máu thịt với nhân dân; không mơ hồ, chủ quan, mất cảnh giác; tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang” của các thế lực thù địch. 

Một điểm nhấn quan trọng nữa, đó là Đảng ta đã xác định rõ: “Tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc gia và các chiến lược quốc phòng, an ninh chuyên ngành khác”(6). Trải qua quá trình nghiên cứu và đúc kết từ thực tiễn, chúng ta đã xây dựng được tổng thể và đồng bộ các chiến lược để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trên mọi phương diện. Đây là các chiến lược rất quan trọng và là một thể thống nhất, liên quan mật thiết với nhau, tác động trực tiếp đến việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi phải thực hiện toàn diện và đồng bộ. Các chiến lược đó phản ánh tư duy chiến lược toàn diện của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc, thể hiện quan điểm quốc phòng an ninh toàn diện, tổng hợp của đất nước. Vì vậy, việc triển khai đồng bộ các chiến lược đó sẽ tạo ra thế và lực, lực lượng và sức mạnh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới. 

4. Quán triệt quan điểm Đại hội XIII về quốc phòng an ninh, nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng an ninh

Giáo dục quốc phòng an ninh là một bộ phận quan trọng của nền giáo dục quốc dân, một nội dung cơ bản trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong công tác quốc phòng của Đảng, Nhà nước nhằm bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, khơi dậy lòng yêu nước, niềm tự hào, tự tôn của dân tộc, nâng cao ý thức, trách nhiệm, tự giác thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Quán triệt quan điểm Đại hội XIII về quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN gắn với nâng cao chất lượng giảng dạy, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh, cần chú trọng thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Quán triệt sâu sắc quan điểm mới của Đại hội XIII về quốc phòng an ninh trong tình hình mới là yêu cầu cơ bản, là yếu tố quan trọng, quyết định chất lượng giảng dạy, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh cho học viên trong các nhà trường hiện nay. Đặc biệt, cần tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết Trung ương tám khóa XI “Về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, những điểm mới trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng về nhiệm vụ quốc phòng an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Luật Giáo dục quốc phòng và các thông tư, chỉ thị của Bộ giáo dục và đào tạo, Bộ Quốc phòng về giáo dục quốc phòng an ninh. Nâng cao hơn nữa vai trò của các cấp ủy Đảng, hệ thống chỉ huy các cấp trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, giáo dục, quán triệt nhiệm vụ bồi dưỡng, giáo dục kiến thức quốc phòng an ninh cho các đối tượng. 

Mặt khác, từng cán bộ, giảng viên, học viên cần nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng, giáo dục kiến thức quốc phòng an ninh, trên cơ sở đó nêu cao ý thức, trách nhiệm trong việc học tập, quán triệt nắm vững những kiến thức quốc phòng an ninh, coi đây là trách nhiệm của tập thể và từng cá nhân.

Đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy, giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh. Đây là giải pháp quan trọng để chuyển tải nội dung giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh. Trên cơ sở nội dung, chương trình khung giáo dục quốc phòng an ninh, cần cụ thể hóa chương trình, kế hoạch bồi dưỡng kiến thức quốc phòng sát với từng đối tượng cụ thể. Do tính đặc thù chương trình giáo dục quốc phòng an ninh thường “khô cứng”, người học dễ nhàm chán; bởi vậy, cùng với việc cập nhật kịp thời, bổ sung sự phát triển mới của nhiệm vụ quốc phòng an ninh, bảo vệ Tổ quốc vào nội dung giảng dạy, các nhà trường cần đẩy mạnh đổi mới nội dung, chương trình theo hướng thiết thực, hiệu quả, phù hợp với từng đối tượng và sự phát triển của nhiệm vụ quốc phòng an ninh. Bám sát chương trình theo quy định, mỗi giảng viên cần đề cao trách nhiệm, tích cực, chủ động nghiên cứu cập nhật, bổ sung nội dung từng chuyên đề cho phù hợp với tình hình thực tiễn; trong đó, tập trung cả phần kiến thức quốc phòng an ninh chung và những vấn đề thực tiễn đặt ra về nhiệm vụ quốc phòng - an ninh và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. 

Cùng với đổi mới nội dung, chương trình, cần đẩy mạnh đổi mới phương pháp theo hướng phát huy tính sáng tạo, tích cực của người học. Theo đó, trước hết cần nâng cao chất lượng soạn giáo án, ứng dụng công nghệ thông tin vào nghiên cứu, trao đổi, cập nhật, khai thác thông tin, tư liệu trong biên soạn giáo án điện tử, tạo sự sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn người học. Mặt khác, trong quá trình lên lớp, giảng viên cần sử dụng linh hoạt các phương pháp giảng dạy, huấn luyện, tích hợp các phương pháp dạy - học trong cùng một bài giảng; khắc phục lối truyền thụ một chiều, tăng tính đối thoại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, rèn luyện cho người học năng lực tư duy, vận dụng kiến thức vào thực hành và thông qua thực hành để tiếp thu kiến thức lý thuyết. 

Tăng cường bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới, góp phần nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, giảng viên, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục quốc phòng an ninh. Đây là yếu tố quan trọng, quyết định chất lượng giảng dạy, bồi dưỡng, giáo dục kiến thức quốc phòng an ninh. Đội ngũ giảng viên giữ vai trò quyết định chất lượng giáo dục, đào tạo. Tăng cường hoạt động bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, trao đổi kinh nghiệm, phương pháp giảng dạy, qua đó nâng cao năng lực và phương pháp, kỹ năng sư phạm. Đồng thời, động viên, khuyến khích và tạo điều kiện cho đội ngũ giảng viên học tập, nghiên cứu cập nhật những kiến thức, thông tin mới về quốc phòng an ninh để không ngừng nâng cao trình độ.

Vụ Việt Á và những luận điệu chống phá Đảng, Nhà nước Vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á đã gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với công tác phòng, chống dịch và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (Ban chỉ đạo) đã thống nhất đưa vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á vào diện được Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo. Theo đó, cần xử lý nghiêm minh những tổ chức, cá nhân sai phạm, cảnh báo, răn đe mạnh mẽ hơn nữa, ngăn ngừa tham nhũng, tiêu cực, củng cố niềm tin của nhân dân. Ngày 20/1/2022, khi kết luận cuộc họp Ban Chỉ đạo, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo đã nhấn mạnh: Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả rõ rệt, có mặt cao hơn năm trước, khẳng định quyết tâm mạnh mẽ, không ngừng, không nghỉ, không vì chống dịch mà chùng xuống, không xử lý. Theo đó, Tổng Bí thư yêu cầu Đảng ủy Công an Trung ương, Ban cán sự đảng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan, chỉ đạo các cơ quan chức năng tập trung lực lượng, khẩn trương, quyết liệt, mở rộng điều tra làm rõ bản chất của vụ án, xử lý nghiêm các sai phạm theo quy định của pháp luật; không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không chịu bất kỳ sự can thiệp trái pháp luật của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào. Trước đó, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu Bộ Công an chủ trì, mở rộng vụ án xảy ra tại Công ty cổ phần công nghệ Việt Á, thu hồi tài sản bị chiếm đoạt và thất thoát, sớm đưa các đối tượng ra xét xử. Hiện nay, các cơ quan chức năng đang khẩn trương điều tra, làm rõ vụ án để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật; đồng thời rà soát, thu hồi triệt để tài sản cho Nhà nước. Cùng với đó, Ban Chỉ đạo giao Ủy ban Kiểm tra Trung ương tiến hành kiểm tra dấu hiệu vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên có liên quan để kịp thời xử lý nghiêm theo quy định của Đảng. Các cấp ủy, tổ chức đảng, tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo khẩn trương kiểm tra, thanh tra, điều tra xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng công tác phòng, chống dịch bệnh để tham nhũng, tiêu cực. Giao Ban Nội chính Trung ương - Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo chủ trì phối hợp với các cơ quan chức năng đôn đốc, kiểm tra, tham mưu Thường trực Ban Chỉ đạo để chỉ đạo xử lý kịp thời, nghiêm minh. Như vậy, từ khi vụ việc tại Công ty Việt Á được phát giác đến nay, các cơ quan chức năng đã khẩn trương đẩy nhanh tốc độ, mở rộng điều tra vụ án; ban đầu điều tra các đối tượng của một địa phương, sau đó mở rộng sang các đối tượng của địa phương khác. Điều đó thể hiện những nỗ lực, quyết tâm cao, hành động xuyên suốt, nhất quán. Thời gian qua, đối với những tổ chức, cá nhân có các hành vi tham nhũng chính sách, lợi dụng tình hình dịch bệnh COVID -19 để trục lợi đều bị xử lý nghiêm minh, không có việc Đảng, Nhà nước “tránh trách nhiệm”. Vậy nhưng, trên một số trang mạng xã hội của các tổ chức, hội nhóm ngoài nước, hãng thông tấn như: Việt Tân, RFA, VOA… lợi dụng vụ việc này tung ra những luận điệu bôi xấu chế độ, xuyên tạc bản chất vụ việc. Nhiều bài viết vu cáo Việt Nam chống tham nhũng bằng cách hô hào khẩu hiệu, hướng lái dư luận, đổ lỗi việc để xảy ra những vụ án như vậy là do chế độ, lỗi do Đảng, Nhà nước. RFA viết rằng: “Vụ Việt Á, mọi việc trở nên tồi tệ”, rồi rêu rao, hạ thấp vai trò của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, các cơ quan tiến hành tố tụng. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn phỏng vấn, phát tán các video, hình ảnh, bài viết với nội dung sai trái, cực đoan của những đối tượng gắn mác “chuyên gia”, “học giả”, những cá nhân tự cho mình là những “nhà phản biện” để ra sức bóp méo, đả phá xung quanh vụ việc trên. Tung ra nhiều bài viết cho rằng “Ban Chỉ đạo vào cuộc chỉ để giải quyết hậu quả”; đưa ra luận điệu quy kết vấn nạn tham nhũng “thủng từ gốc”. Từ vụ việc tại Việt Á, các đối tượng xâu chuỗi những vụ án tham nhũng lớn gần đây rồi quy kết, công cuộc chống tham nhũng “chỉ trên khẩu hiệu”, không đạt kết quả đáng kể nào do “chế độ độc đảng”. Với những thông tin mà các hội, nhóm, cá nhân trên đưa ra cho thấy sự suy diễn, thổi phồng, nhiều bài viết bịa đặt, xuyên tạc tình hình tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Về vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á, qua các chiêu trò của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại được nhào nặn, chế biến thành công cụ, phương tiện rất nguy hại nhằm đánh lận hiện tượng để quy kết bản chất. Các đối tượng nhào nặn vụ án rồi suy diễn thành “lỗi hệ thống”, bóp méo chủ trương “kiên quyết, không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta. Từ đó, gây hoài nghi trong nhân dân vào các cấp lãnh đạo, hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ, tạo hoài nghi về quyết tâm chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Đồng thời, phá hoại sự đoàn kết trong Đảng, chia rẽ cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân và sự đồng thuận trong xã hội. Việc xử lý vụ Việt Á, chứng minh chủ trương “kiên quyết, không có vùng cấm, không có ngoại lệ” của Đảng, Nhà nước ta được thực thi trên thực tế chứ không phải “khẩu hiệu suông, mị dân” như luận điệu kẻ xấu. Điều đó cho thấy, chống tham nhũng, tiêu cực phải đi liền với chống lợi ích nhóm, suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thấy rõ sự vào cuộc đồng bộ, mạnh mẽ, quyết tâm cao trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của cả hệ thống chính trị; đồng thời, chúng ta cũng thấy rõ những tác hại của vấn nạn tham nhũng gây ra. Bên cạnh đó, với tính chất phức tạp, khó khăn của cuộc đấu tranh chống “đạn bọc đường” và âm mưu của kẻ địch lợi dụng cuộc đấu tranh đó để chống phá Đảng, Nhà nước, đòi hỏi mỗi người phải luôn nâng cao cảnh giác, đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn, xuyên tạc phá hoại công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, không để bị lôi kéo, kích động, dẫn dắt bởi những luận điệu xuyên tạc.
ĐẠO ĐỨC LÀ CÁI GỐC CỦA NGƯỜI CÁCH MẠNG Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh vấn đề giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Người nói: Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Cách mạng là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ và phức tạp, đòi hỏi người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang. Sau thắng lợi của cách mạng Tháng Tám, Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, người cán bộ, đảng viên thành người có chức, có quyền. Quyền lực là một nhân tố dễ làm tha hóa, biến chất con người. Sớm tiên lượng vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những căn bệnh của người có chức, có quyền và đặt lên hàng đầu việc giáo dục, rèn luyện đạo đức. Người nhắc nhở: Những người ở các công sở, từ làng cho đến Chính phủ trung ương, đều dễ tìm dịp phát tài, hoặc xoay tiền của Chính phủ, hoặc đục khoét nhân dân. Đến khi lộ ra, bị phạt thì mất hết cả danh giá, mà của phi nghĩa đó cũng không được hưởng. Vì vậy, những người trong công sở phải lấy chữ liêm làm đầu. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội chưa phải ở mức sống vật chất cao mà trước hết là ở giá trị đạo đức của nó, ở phẩm chất cao đẹp của những người cộng sản. Hồ Chí Minh thường nêu tấm gương đạo đức của V.I. Lê-nin để nói về ảnh hưởng lớn lao của đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy cách mạng đối với các dân tộc châu á, đã khiến cho trái tim họ hướng về lãnh tụ cách mạng tháng Mười Nga không gì ngăn cản nổi. Ngày nay, nếu cán bộ, đảng viên chúng ta để mất đi những giá trị đó, là nguy cơ đối với Đảng và chế độ, như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng ta đã cảnh báo.
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CẦN CÓ TÁC PHONG CÔNG TÁC KHOA HỌC Trong tình hình hiện nay, để xây dựng bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chính trị có phẩm chất năng lực, có phương pháp tác phong công tác khoa học, cụ thể, tỉ mỉ, sâu sát, dân chủ, Cần thực hiện tốt một số biện pháp sau đây: Phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của đảng đối với quân đội. Đây là biện pháp hàng đầu, có ý nghĩa pháp lý và nguyên tắc về xây dựng và phát huy vai trò người cán bộ chính trị, bảo đảm cho đảng lãnh đạo tuyệt đối trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội. Những vấn để cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo hiện nay là phải tiếp tục nghiên cứu làm rõ hơn nữa chức năng, chức trách phạm vi, quyền hạn của tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo chỉ huy và bộ máy công tác đảng, công tác chính trị cần phải cụ thề hoá hơn nữa nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, nhất là trong công tác cán bộ, trong các quyết định về kinh tế, tài chính, trong quản lý hành chính. Cơ chế lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam là tổng thể cơ cấu tổ chức và các nguyên tắc, chế độ quy định hoạt động của hệ thống ấy để thực hiện sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mội mặt của đảng đối với quân đội trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, tình huống. Đổi mới hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội thực chất là tiến hành những bổ sung, điều chỉnh, thay đổi cần thiết, hợp quy luật để tối ưu hoá việc tổ chức thực hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trên cơ sở nhận thức đầy đủ, đúng đắn các quy luật khách quan và thực tiễn của hoạt động lãnh đạo. Phát hiện ra và khắc phục cho được những bất cập nảy sinh trong quá trình tổ chức thực hiện sự lãnh đạo để giữ vững và tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, tránh chủ quan, bảo thủ, chống ách tắc, trì chệ dẫn đến làm suy giảm hiệu lực lãnh đạo.
NÂNG CAO BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ NĂNG LỰC TOÀN DIỆN CỦA CÁN BỘ QUÂN ĐỘI TRONG TÌNH HÌNH MỚI Nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực toàn diện trước hết là năng lực chính trị và quân sự để cán bộ chính trị thực sự là tri thức quân sự cách mạng. Bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ có tác động và ảnh hưởng rất lớn đến mức độ hoàn thành nhiệm vụ, đặc biệt là những lúc khó khăn, những bước ngoặc của cách mạng hoặc trong chiến tranh gian khổ, ác liệt. Bản lĩnh chính trị hiện nay trước hết thể hiện ở sự trung thành với đường lối đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng ta, trung thành với mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sẵn sàng hy sinh bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Bồi dưỡng bản lĩnh chính trị cho cán bộ, ngoài yêu cầu chung mang tính bản chất, cốt lõi về phẩm chất, nhân cách, quan điểm lập trường cần phải bám sát vào tình hình thực tiễn hiện nay, với từng đối tượng vì vậy, tiếp tục bồi dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ chính trị hiện nay là hết sức cần thiết. Mặt khác cán bộ chính trị trong quân đội là những người chuyên trách công tác xây dựng Đảng, công tác đảng, công tác chính trị. Lĩnh vực đặc thù này đặt ra yêu cầu không những phải giỏi công tác tư tưởng, công tác tổ chức mà phải còn biết thạo công tác chỉ huy tham mưu quân sự. Nếu không có năng lực chính trị, năng lực quân sự, người cán bộ chính trị không thể hoàn thành được nhiệm vụ. Vì vậy quá trình xây dựng bồi dưỡng phải bảo đảm có một khối lượng kiến thức đủ để hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao. Ngoài xây dựng đào tạo ở nhà trường, cần coi trọng đào tạo bồi dưỡng tại đơn vị, cần có giải pháp cụ thể qui định thành chế độ, cụ thể hoá thành kế hoạch hàng năm.Tổ chức Đảng phải coi trọng đó là nhiệm vụ lãnh đạo thường xuyên, hệ thống tổ chức chỉ huy và cơ quan chính trị cần có giải pháp cụ thể kiểm tra, giám sát kết quả học tập của từng cán bộ. Mặt khác, từng cán bộ phải tự giác học tập, căn cứ vào khả năng, trình độ của mình để kịp thời bổ sung những kiến thức còn thiếu, còn yếu với tinh thần học nữa, học mãi.
ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Mục tiêu cách mạng của nước ta là độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hôi, thực hiện một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược đó, điều quyết định nhất là phải phát huy nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực theo tư tưởng Hồ Chí Minh và điều đó đã được tổng kết thành bài học từ thực tiễn lãnh đạo cách mạng của Đảng là phát huy tinh thần tự lực tự cường và tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế. Việc tranh thủ ngoại lực ngày nay có thuận lợi là thế giới đang trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế. Trong quá trình đổi mới, việc hội nhập kinh tế quốc tế theo tinh thần Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế vì hoà bình, hợp tác và phát triển, chúng ta đã tạo lập được vị thế quốc tế đáng tự hào và những điều kiện cần thiết để phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực tốt hơn cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hôi và bảo vệ Tổ quốc. Để đất nước phát triển bền vững về mọi phương diện trong hoàn cảnh mới khi đã trở thành thành viên WTO, với những quy định thị trường tự do trong khuôn khổ của tổ chức này, càng đòi hỏi chúng ta phải kiên định mục tiêu đã chọn. Hơn nữa, cơ hội không phải tự nó đến, mà vẫn đòi hỏi rất cao tính chủ động của Đảng, Nhà nước và toàn dân, toàn quân nắm bắt thời cơ, thuận lợi; ngăn ngừa, khắc phục mọi trở lực, đặc biệt là những yếu tố xâm phạm tớí chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và làm chệch định hướng chủ nghĩa xã hôi; đồng thời đòi hỏi những nỗ lực chủ quan rất lớn mới chuyển được ngoại lực thành nội lực. Theo phương châm “Xây dựng kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc là nền tảng tinh thần của xã hội”, thì xét đến cùng, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, có vai trò quyết định trong việc nhanh chóng đưa nước ta thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển. Hội nhập kinh tế quốc tế, gia nhập WTO là điều kiện cho phép chúng ta tranh thủ ngoại lực để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế tri thức. Nhà nước pháp quyền chủ nghĩa xã hôi của dân, do dân, vì dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là nền tảng tinh thần của xã hội; thực hiện công bằng, tiến bộ xã hội, làm xích lại gần nhau về trình độ phát triển và chất lượng sống giữa các tầng lớp lao động, giữa các dân tộc, giữa thành thị và nông thôn.
TIÊU CHUẨN VỀ CÁN BỘ CÁCH MẠNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI Tiêu chuẩn chung của cán bộ trong thời kỳ mới của sự nghiệp cách mạng, trước hết là, phải có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Có ý thức tổ chức kỷ luật. Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm. Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực và sức khỏe để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Các tiêu chuẩn có quan hệ mật thiết với nhau. Coi trọng cả đức và tài, đức là gốc. Có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng, với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Có năng lực dự báo và định hướng sự phát triển, tổng kết thực tiễn, tham gia xây dựng đường lối, chính sách, pháp luật; thuyết phục và tổ chức nhân dân thực hiện. Có ý thức và khả năng đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Gương mẫu về đạo đức, lối sống. Có tác phong dân chủ, khoa học, có khả năng tập hợp quần chúng, đoàn kết cán bộ. Có kiến thức về khoa học lãnh đạo quản lý. Cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đoàn thể cần học tập có hệ thống ở các trường của Đảng; trải qua hoạt động thực tiễn có hiệu quả. Đảng ta chủ trương quy hoạch cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý phải thể hiện được sự kết hợp chặt chẽ giữa sắp xếp, kiện toàn cán bộ và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Hai mặt này gắn bó khăng khít với nhau. Có tích cực đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nâng cao trình độ kiến thức mọi mặt của cán bộ thì mới có thể sắp xếp, kiện toàn cán bộ đủ sức đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ tổ chức. Trước những nhiệm vụ cách mạng nặng nề, công tác quản lý cán bộ ngày nay đã trở nên vô cùng rộng lớn về quy mô, phong phú về nội dung. Đảng đã vạch rõ nhiệm vụ, phương hướng của công tác cán bộ, góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ cách mạng của nhân dân ta trong giai đoạn mới. Nội dung công tác cán bộ được cụ thể hóa trong những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đang tạo ra động lực to lớn trong xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Nhà nước trong xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc.

 


Đẩy mạnh việc cụ thể hóa, thể chế hóa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng thành những chính sách, pháp luật, quy định cụ thể về đại đoàn kết toàn dân tộc và về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhất là những chính sách, pháp luật, quy định liên quan đến từng giai cấp, tầng lớp, đặc biệt là đối với giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức, doanh nhân, dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam ở nước ngoài… Nhà nước có quy định cụ thể về quyền hạn và trách nhiệm về hoạt động kinh tế, tài chính đối với mỗi tổ chức của mặt trận.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, tôn trọng nguyên tắc hiệp thương dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôn trọng tính tự chủ, ủng hộ mọi hoạt động tự nguyện, tích cực, sáng tạo và chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp của Mặt trận và các đoàn thể; thực hiện tốt vai trò Đảng vừa là người lãnh đạo vừa là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tiếp tục tăng cường tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, khắc phục tình trạng hành chính hoá, phát huy vai trò nòng cốt tập hợp, đoàn kết nhân dân xây dựng cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; thực hiện dân chủ, giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

 


Để đề ra được nội dung và phương thức lãnh đạo phù hợp đối với Mặt trận hiện nay, Đảng cần nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc và phương thức lãnh đạo của Đảng; nắm được vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm của mỗi tổ chức trong Mặt trận; nắm được thực tiễn và quan hệ giữa Đảng với Mặt trận. Đảng tuyệt đối không bao biện, làm thay hoặc buông lỏng, khoán trắng, khắc phục tình trạng can thiệp một cách chủ quan, tùy tiện, hạn chế tính chủ động, sáng tạo của Mặt trận.

Vấn đề cốt lõi trong sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận là định hướng về chính trị, tổ chức, cán bộ và hoạt động của Mặt trận. Trước hết, Đảng định hướng về chính trị, tư tưởng cho Mặt trận. Đó là định hướng về mục tiêu, phương hướng phát triển lâu dài và trước mắt của Mặt trận; về xây dựng Điều lệ; về phương hướng hoạt động trong từng thời kỳ. Đảng định hướng chính trị, tư tưởng cho Mặt trận bằng các phương thức chủ yếu: thông qua việc xây dựng chỉ thị, nghị quyết của Đảng về Mặt trận. Chỉ thị, nghị quyết phải thể hiện được: trách nhiệm của Đảng và cơ quan nhà nước đối với Mặt trận, nhiệm vụ phải thi hành của cán bộ, đảng viên; trách nhiệm của bản thân Mặt trận trong việc xây dựng tổ chức, xây dựng phong trào hành động cách mạng của nhân dân. Thứ hai, Đảng định hướng về tổ chức và cán bộ. Nguyên tắc chung của Đảng là, thống nhất lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ của Mặt trận, đồng thời phát huy tinh thần tự chủ, sáng tạo và trách nhiệm của tổ chức trong việc xây dựng, đổi mới tổ chức và cán bộ cho phù hợp với tình hình nhiệm vụ mới.  Thứ ba, Đảng lãnh đạo bằng việc kiểm tra, giám sát hoạt động của Mặt trận thông qua Đảng đoàn, Mặt trận và thông qua các tổ chức đảng, đảng viên hoạt động trong các cơ quan của Mặt trận; qua đó trao đổi, bàn bạc với Mặt trận cùng nhau giải quyết. Để thực hiện tốt nội dung trên đây, Đảng phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng về các mặt; coi trọng nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng.

Giải pháp chống " Diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng

 


Chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào độc lập dân tộc mang tính toàn cầu, là chiến lược phản cách mạng, phá hoại toàn diện trên các lĩnh vực, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, quân sự, không giới hạn thời gian, không gian, nhằm đẩy đối phương suy yếu, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, rối loạn nội bộ rồi tự sụp đổ. Các thế lực thù địch đã tiến hành các nội dung, biện pháp, thủ đoạn hết sức tinh vi, vô cùng xảo quyệt. Đặc biệt chúng tận dụng triệt để những thay đổi của tình hình thế giới để chống phá. Trong đó, chống phá về chính trị - tư tưởng là trọng tâm; đồng thời, coi trọng và đi sâu chống phá nội bộ Đảng cộng sản, chính quyền, chuyển hóa đội ngũ cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, “phi chính trị hóa quân đội và công an”.

Trong tình hình hiện nay, Âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch, tuy chưa thể làm cho Quân đội ta “biến chất”, mất phương hướng và mục tiêu chính trị, nhưng tác động của nó vô cùng nguy hiểm. Bởi vì, âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch đã và đang ít nhiều có ảnh hưởng tiêu cực đến tiềm lực chính trị - tinh thần của Quân đội ta, đến tư tưởng, đạo đức lối sống của cán bộ, chiến sĩ.

Để phòng chống “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng trong Quân đội ta hiện nay, cần làm tốt những giải pháp cơ bản sau:

Một là: Thường xuyên nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ.

Bản lĩnh chính trị của cán bộ, chiến sĩ là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội và từng đơn vị; đồng thời, giữ vai trò định hướng thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của bộ đội, V.I. Lênin đã từng khẳng định: “Thắng lợi hay thất bại của cuộc chiến tranh phụ thuộc vào tâm trạng của người cầm súng đang đổ máu trên chiến trường”. Do đó, sức mạnh chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta đều bắt nguồn từ một niềm tin vững chắc với bản lĩnh chính trị vững vàng. Đó là niềm tin sắt đá vào con đường xã hội chủ nghĩa do Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn, niềm tin tất thắng vào mục tiêu lý tưởng chiến đấu của quân đội đã tạo nên sức mạnh vĩ đại trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội của Quân đội và Nhân dân ta.

Hơn nữa, vấn đề cốt lõi của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là thực hiện “chiến thắng không cần chiến tranh”. Chúng đã tập trung phá hoại về chính trị, tư tưởng của Quân đội ta. Do đó,  phải nâng cao bản lĩnh chính trị cũng cố và giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng cho mỗi cán bộ, chiến sĩ là tất yếu trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Yêu cầu bản lĩnh chính trị của bộ đội hiện nay là kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội, có niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng xã hội chủ nghĩa và thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Phải luôn nhạy bén về chính trị, ứng xử kịp thời và đúng đắn các vấn đề thực tiễn đặt ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của quân đội và từng đơn vị. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm tư tưởng sai trái và phản động, các biểu hiện mơ hồ, ảo tưởng, hoài nghi, dao động, lơ là mất cảnh giác trong thực hiện nhiệm vụ.

Để nâng cao bản lĩnh chính trị, cũng cố và giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng trong quân đội, trước hết phải tăng cường và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong mọi tình huống, đặc biệt trên lĩnh vực chính trị tư tưởng, nâng cao hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị. Xây dựng bản lĩnh chính trị, cũng cố và giữ vững trận địa chính trị tư tưởng cho bộ đội phải triệt để quán triệt vào trong quá trình giáo dục huấn luyện để nâng cao tri thức và hiểu biết toàn diện cho cán bộ, chiến sĩ; phải gắn chặt thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị và các mặt công tác khác. Trong đó, nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị là vấn đề rất quan trọng. Giải quyết tốt giữa toàn diện và trọng điểm, hết sức coi trọng các khu trọng điểm.

Nâng cao hiệu quả và chất lượng của công tác giáo dục, phải coi trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục lý luận chính trị, cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin cho bộ đội. Đồng thời, quản lý chặt chẽ tình hình tư tưởng và các mối quan hệ xã hội của cán bộ, chiến sĩ trong từng đơn vị và giải quyết kịp thời đúng đắn, dứt điểm những diễn biến chính trị, tư tưởng phức tạp, những vấn đề mới nảy sinh, tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Hai là: Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, xây dựng mọi phương án chiến đấu, luyện tập thành thạo các phương án không để bị động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra.

Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, luyện tập và thành thạo các phương án chiến đấu là một trong những nhân tố bảo đảm cho các đơn vị trong quân đội đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống. Đồng thời, đây còn là giải pháp trực tiếp đánh bại âm mưu thủ đoạn của kẻ thù hòng phá hoại quân đội về tổ chức, làm suy giảm khả năng chiến đấu, vô hiệu hóa sức mạnh chiến đấu của quân đội ảnh hưởng trực tiếp đến yếu tố chính trị, tư tưởng của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Gắn chặt nhiệm vụ xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện với xây dựng các tổ chức đảng trong quân đội trong sạch vững mạnh, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở, xây dựng tổ chức đảng là then chốt. Duy trì chặt chẽ đơn vị theo nền nếp chính quy và các chế độ sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm đơn vị luôn nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống.

Ba là: Thường xuyên củng cố và phát huy vai trò các tổ chức, quản lý chặt chẽ đơn vị về mọi mặt thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình”.

Phòng chống “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là nhiệm vụ thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, của cả hệ thống chính trị, trước hết là ở các đơn vị cơ sở trong quân đội. Quá trình thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, phải thường xuyên làm tốt công tác xây dựng địa bàn, trực tiếp tiếp xúc với các thành phần xã hội và tiến hành công tác vận động quần chúng, đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của địch, đồng thời cán bộ, chiến sĩ cũng là những đối tượng mà địch chú ý tác động phá hoại; kẻ địch thường lợi dụng những kẽ hở, khâu yếu, điểm yếu của ta, những địa bàn, đơn vị có những vấn đề phức tạp, bộc lộ những yếu kém để chọn làm điểm đột phá, từ đó phát triển chống phá ta trên phạm vi rộng hơn.

Trước hết, đối với tổ chức đảng, cấp ủy, phải thường xuyên chăm lo xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo đơn vị thực hiện nhiệm vụ, coi đây là yếu tố then chốt quyết định đến thắng lợi của nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình”. Phải thường xuyên quán triệt, giáo dục làm cho mọi tổ chức đảng, đảng viên nhận thức sâu sắc nhiệm vụ, xây dựng tinh thần cảnh giác cách mạng, ý chí quyết tâm làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch.

Thường xuyên kiện toàn cấp ủy, chi bộ, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tăng cường công tác kiểm tra, bảo đảm cho nghị quyết của tổ chức đảng được thực hiện thắng lợi. Chăm lo xây dựng và phát huy vai trò tính tiền phong của đội ngũ đảng viên, thực sự trở thành lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Xây dựng đội ngũ cán bộ, chỉ huy các cấp ở đơn vị cơ sở cả về số lượng và chất lượng, thể hiện ở các khâu từ lựa chọn, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc, phát huy vai trò tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Đặc biệt coi trọng bồi dưỡng nâng cao giác ngộ chính trị, lập trường tư tưởng kiên định, kinh nghiệm tổ chức chỉ huy, nhất là trong lúc khó khăn, gian khổ, phức tạp để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống.

 Phát huy vai trò của tổ chức Đoàn Thanh niên và Hội đồng quân nhân là nơi tập trung mọi cán bộ, chiến sĩ trong các phong trào hành động cách mạng, thực hiện nhiệm vụ, phát huy dân chủ, tinh thần đoàn kết, tính chủ động trong việc ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch.

Bốn là: Phối hợp với địa phương và các đơn vị bạn xây dựng địa bàn vững mạnh, an toàn, kịp thời ngăn chặn và đập tan khi có tình huống bạo loạn xảy ra.

Xây dựng cơ sở vững mạnh là vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong tình hình hiện nay, là nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị. Tham gia xây dựng cơ sở địa phương vững mạnh là một nhiệm vụ của các đơn vị quân đội, là một nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong phòng chống “Diễn biến hòa bình” và trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng đối với Quân đội ta.

Để góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đấu tranh phòng chống “Diễn biến hòa bình” của địch có hiệu quả, thì một trong những biện pháp quan trọng là phải không ngừng tăng cường đẩy mạnh các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, nhằm tạo cơ sở chính trị, tinh thần cho quá trình thực hiện nhiệm vụ, phát huy sức mạnh của mọi tổ chức, mọi lực lượng, mọi người trong và ngoài đơn vị thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch thực hiện chiến lược “Diễn biến hào bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng đối với quân đội bằng nhiều thủ đoạn vô cùng tinh vi, xảo quyệt. Do đó, thực hiện đồng bộ những giải pháp trên sẽ góp phần phòng, chống và làm thất bại âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng trong Quân đội ta, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, thực sự là lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay./.

 

 

Nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho toàn dân, hệ thống chính về sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc

 


Hiện nay, nhận thức và trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân về vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc còn nhiều hạn chế, dẫn đến chưa quan tâm đúng mức đến việc chăm lo khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Vì vậy phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của mọi tầng lớp nhân dân trước vận mệnh đất nước.

Phải coi đại đoàn kết dân tộc và mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân trong lúc này là vấn đề sống còn của Đảng, sự tồn vong của chế độ. Làm cho mọi người dân đất Việt nhận thức rõ tư tưởng của Bác Hồ kính yêu: Đất nước Việt Nam, giang sơn Việt Nam cùng mọi thành quả của nền văn hóa Việt Nam không phải là của riêng ai, của một giai cấp hay đảng phái nào, mà là tài sản chung của mọi người Việt Nam, của cả dân tộc Việt Nam. Vì thế, mọi người Việt Nam đều có trách nhiệm và có quyền được đóng góp vào việc tô điểm cho giang sơn đó, làm giàu thêm và đẹp thêm cho nền văn hóa đó. Làm cho mọi tầng lớp nhân dân thấy được thời cơ cũng như thách thức của cách mạng hiện nay; thấy được nhiệm vụ cách mạng càng khó khăn phức tạp bao nhiêu càng đòi hỏi phải phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong xây dựng khối đoàn kết dân tộc. Từng bước hoàn thiện hệ thống quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng trong xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ mới. Hiện nay, đất nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển nền kinh tế tri thức. Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước càng đi vào chiều sâu, nhiệm vụ càng khó khăn, phức tạp hơn, đòi hỏi phải phát huy cao độ sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Điều đó, đã và đang đặt ra yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, trong đó có nội dung lãnh đạo công tác xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Giữ vững tính định hướng chính trị trong xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Theo đó, phải quán triệt sâu sắc mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, lấy mục tiêu dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng để xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc.

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc theo mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất Tổ quốc

 


Lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các dân tộc, tôn giáo, các tầng lớp nhân dân trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

 Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, các tầng lớp nhân dân ở trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Đây chính là mẫu số chung để kết dính “mọi con dân nước Việt”. Mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là ước vọng ngàn đời của mọi người Việt Nam yêu nước, thương nòi. Yêu nước, đoàn kết cùng nhau xây dựng và bảo vệ đất nước đã trở thành lẽ sống của cả dân tộc, của mọi người mang trong mình dòng máu con Lạc, cháu Hồng. Đây cũng là hoài bão, là ham muốn tột bậc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”[1]. Đây cũng là điều mong muốn cuối cùng của Hồ Chủ tịch được ghi trong Di chúc trước lúc Người đi xa: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”[2].

 Xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung..., để tập hợp mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội.

Nước ta là nước có nhiều dân tộc, nhiều tôn giáo, tín ngưỡng và có một bộ phận không nhỏ người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Nhân dân ta đã từng trải qua hơn một phần ba thế kỷ buộc phải cầm súng chống thực dân, đế quốc. Đất nước cũng đã từng tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Tuy đất  nước đã thống nhất được hơn ba mươi năm, nhưng những mặc cảm, những khoảng cách còn lại ở nơi này, nơi khác thậm chí trong một số gia đình, nhất là ở các tỉnh phía Nam, trong một bộ phận đồng bào có đạo và đồng bào ta định cư ở nước ngoài vẫn còn tồn tại với những mức độ khác nhau. Mặt khác, chấp nhận phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng có nghĩa là chấp nhận thu nhập khác nhau, mức sống, lối sống không như nhau và chấp nhận sự tồn tại những lợi ích khác nhau giữa các giai tầng xã hội. Vì vậy, đại đoàn kết toàn dân tộc phải dưạ trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội.



[1] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG 2002, tập 4, tr 161

[2] Sđd: Tập 12, tr 512