Thứ Ba, 12 tháng 4, 2022

Sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của các bộ, ngành .

 Thực hiện các nghị quyết của Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII), Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17-4-2015 của Bộ Chính trị (khóa XI) về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc quyết liệt với quyết tâm cao. Đến nay, tổ chức bộ máy của các ban, bộ, ngành đã được sắp xếp, tinh gọn, từng bước ổn định; chất lượng, hiệu quả công việc có nhiều chuyển biến rõ rệt, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Những kết quả nổi bật

Để sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị nói chung, các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương nói riêng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng, thể chế hóa, cụ thể hóa 2 nghị quyết khẩn trương, đồng bộ, tạo hành lang pháp lý, điều kiện thuận lợi thực hiện. Theo đó, cơ cấu tổ chức bên trong các ban, bộ, ngành từng bước được sắp xếp, kiện toàn, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; giảm cấp trung gian, đầu mối bên trong, giảm tối đa số phòng trong cục, vụ, cơ bản không chuyển vụ thành cục. Giảm số lượng lãnh đạo cấp phó gắn với tinh giản biên chế, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Giải thể hoặc sắp xếp lại các cơ quan, tổ chức hoạt động không hiệu quả, bảo đảm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng quản lý và tính chất hoạt động. Khắc phục sự trùng lắp, chồng chéo chức năng, nhiệm vụ theo hướng một tổ chức có thể đảm nhiệm nhiều việc, một việc chỉ do một tổ chức chủ trì và chịu trách nhiệm chính. Kết quả, đã giảm 7 tổng cục và tương đương; 81 cục, vụ, 73 đơn vị sự nghiệp thuộc các ban, bộ, ngành Trung ương. Ở các bộ và cơ quan ngang bộ, số lượng cấp phó giảm rõ rệt: Phó vụ trưởng và tương đương giảm 70 đồng chí; phó cục trưởng và tương đương 30; phó tổng cục trưởng và tương đương 7; phó trưởng phòng thuộc vụ 133; phó trưởng phòng thuộc cục 122.

Điển hình trong thực hiện sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy giai đoạn này là Bộ Công an. Thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 15-3-2018 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, lực lượng Công an đã giảm 6 tổng cục, 55 đơn vị cấp cục, 20 sở Cảnh sát Phòng cháy và chữa cháy, 819 đơn vị cấp phòng và trên 2.000 đơn vị cấp đội. Sắp xếp lại tổ chức bộ máy của 63 công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và công an cấp huyện theo hướng giảm đầu mối cấp phòng, cấp đội. Đối với các đơn vị sự nghiệp, Bộ Công an chủ trương sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở đào tạo trực thuộc theo hướng giảm mạnh số lượng đầu mối các trường trung cấp, cao đẳng, văn hóa. Đảng ủy Công an Trung ương và lãnh đạo Bộ Công an ban hành nhiều văn bản để thực hiện tinh giản biên chế theo Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị. Từ năm 2015 đến nay, Bộ Công an đã tinh giản biên chế hơn 6.000 người. Tích cực triển khai việc điều động công an chính quy đảm nhiệm các chức danh công an xã. Hiện 63 địa phương đã bố trí công an chính quy đảm nhiệm các chức danh công an xã tại gần 4.000 xã với tổng số gần 10.000 cán bộ công an chính quy.

Bộ Quốc phòng xây dựng, triển khai thực hiện Đề án về điều chỉnh tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2016-2021 và Đề án cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp quân đội đến năm 2020, bảo đảm không tăng quân số, tinh gọn, mạnh, cơ động nhanh và sức chiến đấu cao. Đến nay, đã tiến hành giải thể 14 lữ đoàn công binh dự bị động viên thuộc các công ty, tổng công ty; giải thể 6 trung tâm dạy nghề và giới thiệu việc làm, 7 trường trung cấp nghề, 61 trường quân sự cấp tỉnh, thành phố; đã xây dựng đề án tiến tới giải thể 15 trường cao đẳng nghề trong Quân đội. Các cơ quan chiến lược cũng được tổ chức lại với tinh thần làm điểm, giảm 10% quân số theo biên chế, điển hình như Cục Quân huấn, Cục Dân quân tự vệ, Cục Tác chiến, Cục Quân lực… Chuyển Trung tâm Gìn giữ hòa bình Việt Nam thành Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam; Phòng Kiểm toán thành Kiểm toán Bộ Quốc phòng; tổ chức lại các cơ sở in trong Quân đội. Bộ cũng đã chỉ đạo điều chuyển các Ban quản lý dự án 678, 98 về Tổng Công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị Bộ Quốc phòng. Các Ban quản lý dự án 46, 47 được rút gọn ở mức hợp lý.

Tại Bộ Tài chính, trong 2 năm toàn Ngành đã cắt giảm 3.708 đầu mối các đơn vị. Giảm trên 3.600 công chức giữ chức danh lãnh đạo. Biên chế hành chính giảm gần 5.000 người. Bộ Công thương đã cắt giảm số đơn vị đầu mối từ 35 đơn vị (30 đơn vị hành chính, 5 đơn vị sự nghiệp) xuống còn 30 đơn vị (26 đơn vị hành chính, 4 đơn vị sự nghiệp); số lượng phòng giảm từ 197 còn 125. Trong quá trình rà soát lại cơ cấu tổ chức của các đơn vị, Bộ Công thương tiếp tục giảm thêm 2 phòng của Thanh tra Bộ; tinh giản biên chế hơn 800 người. Ngân hàng Nhà nước cắt giảm 74 phòng trong toàn hệ thống. Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng giảm từ 11 đầu mối xuống 8; tổ chức phòng thuộc cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng giảm từ 48 còn 30. Trong giai đoạn 2015-2019, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện tinh giản biên chế 385 người.

Các cơ quan đảng Trung ương gương mẫu, đi đầu trong rà soát, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, sắp xếp tổ chức, bộ máy và tinh giản biên chế. Trong đó, Ban Tổ chức Trung ương đã tham mưu Bộ Chính trị ban hành Quyết định số 152-QĐ/TW ngày 26-10-2018 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Ban Tổ chức Trung ương, giảm được 1 đầu mối cấp vụ, gần 20% biên chế, 4 phó trưởng ban chuyên trách. Ban Tuyên giáo Trung ương đã giảm 3 vụ, đơn vị, 20 đầu mối cấp phòng và sắp xếp lại các tạp chí, bản tin. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã sắp xếp 9 đơn vị trực thuộc (giải thể, hợp nhất 3 đơn vị cấp vụ, sáp nhập 6 đơn vị dưới cấp vụ trực thuộc Giám đốc Học viện); số lượng phòng, ban đã giảm từ 134 đơn vị xuống 16. Tại các Học viện trực thuộc, số lượng khoa, phòng, ban giảm từ 123 đơn vị xuống 112. Đến nay, tổ chức bộ máy các đơn vị trực thuộc Học viện đã hoạt động ổn định theo mô hình mới, từng bước xác định vị trí, việc làm của từng cá nhân.

Hạn chế, khó khăn

Một số quy định, hướng dẫn của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện các nghị quyết chưa được ban hành đồng bộ, liên thông, trong đó có các quy định về tiêu chí thành lập tổ chức bộ máy và biên chế... để tạo cơ sở pháp lý cho các bộ, ngành khi sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy. Một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa thật sự quyết liệt, thiếu chủ động, tích cực trong thực hiện.

Việc sắp xếp tổ chức bộ máy ở một số ngành, lĩnh vực còn mang tính cơ học, đầu mối trực thuộc ở một số bộ, ngành chưa thực sự tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa cao. Các bộ, ngành đã chủ động trong việc sắp xếp tổ chức, đẩy mạnh tự chủ và đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập nhưng kết quả còn chậm, số đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi phí hoạt động chưa nhiều. Tinh giản biên chế ở một số bộ, ngành còn mang tính bình quân, chưa thực sự gắn với cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức...

Một số kinh nghiệm

Một là, quá trình đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của các bộ, ngành phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm, nguyên tắc của Đảng về đổi mới tổ chức bộ máy, cải cách thể chế, cải cách hành chính, tư pháp một cách đầy đủ, thống nhất. Đồng thời, thực hiện nghiêm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo xây dựng và quản lý tổ chức bộ máy, biên chế của hệ thống chính trị. Chỉ đạo tổ chức thực hiện quyết liệt, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn của từng đơn vị, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, then chốt, là bước đột phá của cấp ủy các cấp, đồng thời phát huy vai trò, trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị.

Hai là, bám sát yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của các bộ, ngành, đồng thời xử lý đúng đắn, đồng bộ các mối quan hệ: giữa đổi mới cơ cấu tổ chức với hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và phương thức hoạt động của tổ chức; giữa đổi mới tổ chức và đổi mới công tác cán bộ; giữa tinh gọn bộ máy với tăng cường, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; giữa quản lý tập trung thống nhất với tăng cường phân công, phân cấp trên các mặt công tác.

Ba là, việc triển khai đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy, cán bộ là công việc hệ trọng, phức tạp, nhạy cảm, nhất là ở các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương. Vì vậy, cần có quyết tâm cao, tiến hành thận trọng, công phu, kỹ lưỡng, khách quan, khoa học, coi trọng tổng kết thực tiễn theo từng bước chặt chẽ và phát huy dân chủ trong nội bộ. Quá trình triển khai thực hiện, bên cạnh việc lắng nghe, tiếp thu những ý kiến đóng góp xác đáng, cần khẩn trương, mạnh mẽ trong quyết định những vấn đề đã rõ, đã “chín” để bảo đảm yêu cầu tinh gọn.

Bốn là, việc sắp xếp tổ chức bộ máy, bố trí lại đội ngũ cán bộ ở các bộ, ngành có tác động toàn diện đến các mặt công tác, tâm tư, tình cảm của cán bộ, nhất là những cán bộ chịu sự tác động trực tiếp trong quá trình sắp xếp. Vì vậy, cần chú trọng công tác tư tưởng, quan tâm giải quyết hài hòa quyền lợi một cách hợp tình, hợp lý đối với cán bộ. Làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền nhằm tạo sự đồng thuận, ủng hộ tích cực, sự vào cuộc quyết liệt của các cấp, các ngành, dư luận quần chúng đối với chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của các bộ, ngành; đồng thời chủ động phòng, tránh những biểu hiện lợi dụng sắp xếp tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ để trục lợi hoặc vì ý đồ cá nhân.


Tiền đề cho nhiệm kỳ mới ở khu vực phía Bắc.

 Năm 2020 là năm diễn ra đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng, một năm với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là đại dịch COVID-19 đã tác động tiêu cực, ảnh hưởng toàn diện tới đời sống, kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và các tỉnh, thành phố phía Bắc nói riêng. Các tỉnh, thành ủy khu vực phía Bắc đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện mục tiêu kép vừa tích cực phòng, chống dịch COVID-19, vừa phát triển kinh tế - xã hội và tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp. Đây là một minh chứng sinh động thể hiện quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, hiệu quả, trong đó công tác xây dựng Đảng giữ vai trò quyết định.

Những kết quả khả quan...

Nét nổi bật trong công tác xây dựng Đảng các tỉnh, thành phố phía Bắc 5 năm qua là triển khai đồng bộ, toàn diện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Trung ương, nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp. Hướng về cơ sở, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Chủ động trong công tác cán bộ, thực hiện mạnh mẽ công tác luân chuyển cán bộ, thực hiện bí thư cấp ủy tỉnh không là người địa phương. Lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng.

Kết quả đại hội đảng bộ các cấp 28 tỉnh, thành phố phía Bắc là kết tinh thành quả đạt được, ghi nhận sự nỗ lực phấn đấu của cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đại hội đảng bộ các cấp trong khu vực đã đánh giá kỹ, rõ, tìm ra nguyên nhân, bài học kinh nghiệm, từ đó ban hành nghị quyết, xây dựng chương trình hành động. Trong đó đề ra các giải pháp đột phá, quan trọng trong nhiệm kỳ 2020-2025 sát với đặc điểm, tình hình từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Việc xây dựng, ban hành nghị quyết được thực hiện theo quy trình ngày càng dân chủ, chặt chẽ hơn, phát huy được trí tuệ của các tổ chức đảng, đảng viên, bảo đảm tính khoa học, sát thực tiễn. Quy trình công tác cán bộ tiếp tục được đổi mới, bảo đảm dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch, chặt chẽ, đồng thời siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ. Tình trạng chạy chức, chạy quyền bước đầu được ngăn chặn. Việc đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, luân chuyển, phân cấp quản lý cán bộ được bổ sung, hoàn thiện. Công tác nhân sự cấp ủy nhiệm kỳ 2020-2025 được chuẩn bị nghiêm túc, đúng quy trình, dân chủ, khách quan, công tâm. Các cấp ủy đã tiến hành công tác nhân sự theo Hướng dẫn số 26-HD/BTCTW ngày 18-10-2019 của Ban Tổ chức Trung ương, thực hiện nghiêm quy trình 5 bước theo Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ Chính trị. Phương án nhân sự trình đại hội bảo đảm về số lượng, cơ cấu, dân tộc, giới tính, độ tuổi, tiêu chuẩn chính trị. Đại hội đảng bộ các cấp các tỉnh, thành phố phía Bắc đều thành công tốt đẹp, chất lượng cấp ủy, BTV, bí thư, phó bí thư được nâng lên so với nhiệm kỳ trước. Sau đại hội, việc phân công cấp ủy được tiến hành ngay gắn với kiện toàn các chức danh lãnh đạo chính quyền.

Các tỉnh, thành ủy đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ công tác đảng cho cấp ủy viên cơ sở, bí thư cấp ủy; đồng thời, mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo chức danh, bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước, giúp cán bộ cơ sở nâng cao kiến thức và kỹ năng làm việc, năng lực giải quyết các tình huống cụ thể ở cơ sở và thông tin về tình hình của địa phương. Nhiều tỉnh, thành phố đã đầu tư kinh phí mở các lớp đào tạo về chuyên môn, lý luận chính trị tại địa phương để tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ cơ sở nâng cao trình độ; đồng thời, cử cán bộ trẻ đi học đại học chuyên môn, cao cấp, cử nhân chính trị. Đối với các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp, lực lượng vũ trang, cấp ủy các cấp tăng cường đào tạo nghiệp vụ công tác đảng cho cấp ủy cơ sở và chi ủy viên các chi bộ.

Nghị quyết số 18-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII) được các tỉnh, thành ủy triển khai quyết liệt với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, tạo chuyển biến tích cực. Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tiếp tục được sắp xếp tinh gọn, giảm đầu mối, khâu trung gian, giảm cán bộ lãnh đạo cấp trưởng, cấp phó, từng bước nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Một số mô hình tổ chức mới được thực hiện thí điểm, qua thực tiễn đã phát huy hiệu quả như: Sáp nhập ban tổ chức cấp ủy với cơ quan nội vụ; ủy ban kiểm tra cấp ủy với cơ quan thanh tra; trưởng ban dân vận đồng thời là chủ tịch ủy ban Mặt trận Tổ quốc; trưởng ban tuyên giáo đồng thời là giám đốc trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện… Các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và thôn, tổ dân phố đang được hợp nhất, sắp xếp lại phù hợp. Việc bố trí, sử dụng cán bộ được thực hiện công khai, dân chủ, trên cơ sở tiêu chuẩn chức danh, phát huy năng lực, sở trường cán bộ, quan tâm cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ người dân tộc thiểu số. Nhiều nơi thực hiện bổ nhiệm thông qua thi tuyển đối với một số chức danh chủ chốt. Hầu hết các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp nhà nước đã thực hiện chủ trương bố trí bí thư cấp ủy đồng thời là thủ trưởng cơ quan, đơn vị. Thực hiện nghiêm chủ trương bố trí bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch HĐND, chủ tịch UBND cấp xã ở những nơi đủ điều kiện. Mô hình bí thư chi bộ đồng thời là trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố góp phần tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở.

Tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) đã trở thành một nội dung quan trọng trong sinh hoạt chi bộ và kiểm điểm tập thể, cá nhân hằng năm. Chất lượng sinh hoạt chi bộ được nâng lên, nhất là chi bộ thôn, tổ dân phố, đơn vị lực lượng vũ trang, các cơ quan đảng. Nhiều tỉnh ủy, thành ủy ban hành nghị quyết chuyên đề về phát triển và nâng cao chất lượng đảng viên; hướng dẫn nâng cao chất lượng sinh hoạt đối với từng loại hình chi bộ, ban hành tiêu chí cụ thể đánh giá chất lượng sinh hoạt chi bộ. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị đã trở thành nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Nhiều chi bộ đưa việc tự phê bình và phê bình, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào nội dung sinh hoạt hằng tháng. Nhiều nơi sinh hoạt chi bộ đã từng bước đổi mới, khắc phục tình trạng đơn điệu, hình thức. Việc đánh giá, xếp loại chất lượng TCCSĐ, đảng viên hằng năm đã thực chất hơn, tỷ lệ xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phù hợp với kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng Đảng của từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Công tác khen thưởng TCCSĐ, đảng viên được thực hiện kịp thời hơn. Hầu hết cấp ủy viên các cấp được phân công theo dõi, phụ trách các tổ chức đảng trực thuộc, trực tiếp dự sinh hoạt hằng tháng với chi bộ. Nhiều nơi phân công đảng viên theo dõi, phụ trách một số hộ gia đình tạo điều kiện để đảng viên gắn bó với nhân dân hơn, góp phần nắm chắc tình hình, kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc ở cơ sở.

Và 5 nhiệm vụ quan trọng

 Công tác tổ chức, xây dựng Đảng các tỉnh, thành phố phía Bắc vẫn còn một số hạn chế: Việc cụ thể hóa một số nghị quyết của Đảng còn chậm; tổ chức thực hiện còn hạn chế. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng có lúc, có nơi còn bị động, lúng túng, tính thuyết phục và tính chiến đấu chưa cao. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số TCCSĐ còn yếu; chất lượng sinh hoạt chi bộ chuyển biến chậm, nhất là ở vùng sâu, vùng núi cao và ở các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước. Nguyên nhân chủ yếu là do công tác lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa sâu sát, quyết liệt; một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu thiếu gương mẫu, chưa chủ động, sáng tạo, chưa coi trọng công tác kiểm tra, giám sát.

Năm 2021 là năm đầu triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp. Để công tác xây dựng Đảng đạt hiệu quả, cần quan tâm làm tốt một số nội dung chính sau:

Một là, tổ chức nghiên cứu, tuyên truyền và phổ biến sâu rộng kết quả Đại hội XIII của Đảng, nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025. Cấp ủy các cấp hoàn thiện chương trình hành động thực hiện nghị quyết, ban hành quy chế làm việc, chương trình công tác toàn khóa theo quy định; sớm kiện toàn các chức danh lãnh đạo chính quyền địa phương nhiệm kỳ 2016-2021 và tham mưu chuẩn bị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu hội HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.

Hai là, tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác chính trị tư tưởng, nhất là rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thực hiện hiệu quả hơn nữa Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị và các quy định về nêu gương. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái, nói không đi đôi với làm trong cán bộ, đảng viên. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ công tác cán bộ, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, khách quan, đúng người, đúng việc. Tăng cường siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong công tác cán bộ, góp phần đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng chạy chức, chạy quyền và thực hiện kiểm soát chặt chẽ quyền lực.

Ba là, triển khai nhân rộng những mô hình thí điểm có hiệu quả. Khẩn trương hoàn thành việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và nghiên cứu triển khai thực hiện ở cấp tỉnh theo lộ trình phù hợp với quy hoạch tổng thể các đơn vị hành chính các cấp, gắn với tinh giản biên chế, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Thực hiện kiêm nhiệm chức danh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị sau khi sắp xếp. Chỉ đạo tiếp tục thực hiện mô hình bí thư chi bộ đồng thời là trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố.

Bốn là, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ và chất lượng đội ngũ đảng viên, nhất là ở những lĩnh vực, địa bàn khó khăn, đặc thù. Xây dựng TCCSĐ trong sạch, vững mạnh toàn diện; tiếp tục kiện toàn TCCSĐ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng loại hình và phù hợp với thực tiễn sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Nâng cao chất lượng, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, nội dung, hình thức sinh hoạt của chi bộ.

Năm là, tập trung nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo, kỹ năng và nghiệp vụ công tác đảng cho đội ngũ cấp ủy viên cơ sở, nhất là bí thư cấp ủy. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Đổi mới, tăng cường công tác quản lý đảng viên; thực hiện tốt công tác phát triển đảng viên bảo đảm yêu cầu về số lượng, chất lượng, chú trọng tạo nguồn phát triển đảng viên ở vùng sâu, vùng xa, khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tăng cường kiểm tra, giám sát chuyên đề, kịp thời xử lý các chi bộ, đảng viên vi phạm quy định, nguyên tắc sinh hoạt đảng. Chủ động rà soát, sàng lọc và kiên quyết đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng. Nâng cao chất lượng kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên hằng năm bảo đảm thực chất.


DÙ TÁ HAY TƯỚNG ĐỀU PHẢI LO PHỤC VỤ NHÂN DÂN!

         Vào khoảng tháng 7 năm 1944, một máy bay Mỹ bị quân Nhật bắn rơi ở Hòa An, Cao Bằng. Phi công Mỹ nhảy dù rơi xuống cánh rừng đã bị du kích địa phương bắt.
Lúc này, Mỹ ở trong phe Đồng minh chống phátxít. Phi công Mỹ được đưa đến chỗ chúng tôi. Bác gọi tôi đến, chỉ thị:
- Tuy ta còn thiếu thốn, nhưng các chú cố gắng cho anh ta ăn uống tương đối, cư xử tử tế, nhân đạo để họ hiểu ta.
Vâng lệnh Bác, chúng tôi đã làm như vậy. Phi công Mỹ được ăn với khẩu phần còn hơn cả chúng tôi.
Sau đó mấy ngày, Bác cho đưa anh ta đến gặp Bác. Bác hỏi chuyện bằng tiếng Anh. Người phi công vô cùng ngạc nhiên, trố mắt nhìn Bác đầy vẻ kính phục, không sao hiểu nổi ở chốn rừng núi này lại gặp được một ông già gầy guộc, mặc áo chàm với đôi mắt rực sáng lại nói tiếng Anh rất thành thạo, am hiểu phong tục nước Mỹ.
Sao (Shaw) - tên người phi công - tha thiết xin được thả về bộ chỉ huy Mỹ đang đóng trên đất Trung Quốc, dù có phải tốn phí đến bao nhiêu khi về nước cũng xin Chính phủ Mỹ và gia đình lo chịu.
Bác mỉm cười và giải thích thêm:
- Các anh trong quân đội Đồng minh, cùng chung một mục đích chiến đấu chống chủ nghĩa phátxít, bảo vệ hoà bình thế giới. Chúng tôi cư xử với anh như thế này là thể hiện những cam kết thiện chí chứ không phải dùng anh vào mục đích kiếm lợi.
Sao đã hiểu và càng kính phục, tin tưởng Bác. Sau đó, chính anh ta đã được Bác cho theo sang Côn Minh, trao lại cho Bộ Tư lệnh Mỹ.
... Bác ở Trung Quốc về được một thời gian, Bộ Tư lệnh quân đội Mỹ điện cho Bác, xin được cử người sang để hợp tác bằng cách họ sẽ cho người nhảy dù xuống căn cứ Tân Trào.
Tôi lại được Bác giao nhiệm vụ đón 5 người Mỹ này. Chúng tôi đốt lửa làm ám hiệu cho máy bay biết mục tiêu. Khi họ nhảy dù xuống, chúng tôi tập hợp bộ đội hoan hô họ. Họ rất cảm động trước việc làm đó của ta.
Sau khi tiếp nhận 5 nhân viên tình báo quân sự Mỹ, họ đều được Bác giao nhiệm vụ.
Bác chỉ thị thành lập đại đội Việt - Mỹ và chỉ thị tôi làm đại đội trưởng.
Một người Mỹ mang hàm thiếu tá tên là Tômát làm tham mưu trưởng đại đội. Lúc đó, tôi còn nhớ là tôi rất tự hào. Tôi thưa với Bác là nếu thiếu tá làm tham mưu trưởng, thì đại đội trưởng gọi là cấp gì, nào ngờ nét mặt Bác nghiêm lại. Bác bảo:
- Chú phải lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt, dù tá hay tướng, đã là một chiến sỹ cách mạng cũng đều phải lo phục vụ nhân dân cho tốt cả.
Từ bấy đến nay tôi luôn luôn nhớ lời dạy ấy./.
Ảnh: Các phi công Mỹ và Anh tại căn cứ Việt Bắc.
Yêu nước ST.

Quân đôi là lực lượng tiên phong, đi đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng, đồng thời cũng là nền tảng tư tưởng chỉ đạo mọi hoạt động trong Quân đội, đảm bảo cho công tác quân sự, quốc phòng, xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc luôn đi đúng hướng, sát yêu cầu nhiệm vụ, thực sự trở thành công cụ bạo lực sắc bén để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước và Nhân dân, “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Do đó, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội được xác định là nhiệm vụ chính trị trọng yếu hiện nay, nhằm phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, “phi chính trị hóa” Quân đội, làm cho nền tảng tư tưởng của Đảng luôn hiện hữu trong môi trường quân đội; cán bộ, chiến sĩ luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, xác định tốt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, không bị tác động bởi sự chống phá của các thế lực thù địch, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội càng phải được coi trọng, quyết tâm chính trị cao, thể hiện rõ vai trò là một trong những lực lượng tiên phong, đi đầu trong trận chiến không khói súng này.

Trước hếttập trung lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng, đảm bảo cho việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội đạt mục đích, yêu cầu đề ra. Ngay sau khi Bộ Chính trị (khóa XII) ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới và Quyết định số 169-QĐ/TW, ngày 07/01/2019 về thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; Ban Bí thư ra Kế hoạch số 53-KH/TW, ngày 25/3/2019 về thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới,… Thường vụ Quân ủy Trung ương ra Quyết định số 701-QĐ/QUTW, ngày 14/7/2019 về thành lập Ban Chỉ đạo Quân ủy Trung ương về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nhằm chỉ đạo thống nhất trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân. Đồng thời, thành lập Ban Chỉ đạo, bộ phận giúp việc các cấp về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội, xây dựng Quy chế, bảo đảm trang thiết bị hoạt động, hoàn thiện các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, duy trì hoạt động thường xuyên, liên tục. Cấp ủy các cấp trong Đảng bộ Quân đội quán triệt, ra nghị quyết chuyên đề, xây dựng kế hoạch thực hiện; phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng, tạo mạng lưới sâu rộng đấu tranh kiên quyết với mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch. Qua đó, thống nhất về mặt tư tưởng, định hướng hoạt động, xây dựng quyết tâm, chỉ đạo thực tiễn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả”. Định kỳ 6 tháng, 1 năm, Ban Chỉ đạo 35 các cấp tổ chức sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả, khen thưởng, biểu dương những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong lĩnh vực này; đồng thời, chấn chỉnh nơi làm chưa tốt, trách nhiệm chưa cao, còn biểu hiện hình thức, đối phó, chưa mang lại hiệu quả thiết thực. 

Hai làtổ chức nghiên cứu tổng hợp, xử lý thông tin, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ. Tổ chức lực lượng nghiên cứu, thu thập, xử lý, cung cấp thông tin thuộc bộ phận chuyên sâu các cấp; kết hợp khai thác nguồn tin ở đơn vị, địa phương, cơ sở, kịp thời nắm, đánh giá, dự báo tình hình, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Trọng tâm là những thủ đoạn mới, các vấn đề liên quan đến nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; chủ quyền biên giới, biển, đảo; dân tộc, tôn giáo; dân chủ, nhân quyền, môi trường, dân sinh; các thông tin xấu độc trên Internet, mạng xã hội.

Tăng cường công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, tuyên truyền, phổ biến giá trị khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; về đối tượng, đối tác; bản chất, truyền thống lịch sử, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội; âm mưu, thủ đoạn, tính chất nguy hiểm từ những hoạt động chống phá của các thế lực thù địch cùng những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ,... nhằm thống nhất nhận thức, chỉ đạo hành động cho cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân. 

Ba làtổ chức đấu tranh công khai trên báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng, Internet, mạng xã hội. Bám sát nhiệm vụ chính trị, tình hình thực tiễn đơn vị, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan báo, đài Trung ương, địa phương, cộng tác viên trong và ngoài Quân đội, nhằm đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; chú trọng những tấm gương điển hình tiên tiến của đơn vị, … tạo sự đồng thuận trong toàn quân và toàn xã hội, sức “đề kháng”, khả năng “tự miễn dịch” của cán bộ, chiến sĩ trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Tiếp tục duy trì và phát huy các chuyên trang, chuyên mục chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; tăng số lượng các bài viết chuyên sâu theo yêu cầu, nhiệm vụ. Đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet, mạng xã hội. Bám sát các sự kiện chính trị, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch để đặt bài viết chuyên sâu, tài liệu chuyên khảo, thông tin định hướng đấu tranh của chuyên gia, nhà khoa học, tổ công tác, cộng tác viên tích cực trong và ngoài Quân đội làm tài liệu tuyên truyền, định hướng đấu tranh trên Internet, mạng xã hội.

Ban Chỉ đạo đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng các cấp trong Quân đội và các cơ quan báo chí Quân ủy Trung ương, hằng năm tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ viết bài, tuyên truyền đấu tranh cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên, cộng tác viên tích cực, học viên các nhà trường Quân đội; tăng cường phối hợp, trao đổi kinh nghiệm viết bài về đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đưa nội dung tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vào nội dung giáo dục chính trị, thông báo thời sự cho các đối tượng; tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống các quan điểm sai trái, thù địch trong Quân đội. 

Bốn làtăng cường công tác lãnh đạo tư tưởng, quản lý chặt chẽ tình hình nội bộ, không để đột biến xảy ra. Muốn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, trước hết nội bộ các cơ quan, đơn vị phải ổn định, tư tưởng phải thông suốt, có sự đồng thuận từ trên xuống dưới, nâng cao khả năng tự phòng, chống của cán bộ, đảng viên. Bởi vậy, toàn quân cần làm tốt công tác quản lý, lãnh đạo, định hướng tư tưởng, cung cấp thông tin, trao đổi nghiệp vụ, đảm bảo công tác tư tưởng phải đi trước một bước, làm cho bộ đội nắm vững đặc điểm, tình hình, nhiệm vụ của Quân đội, đối tượng, đối tác, mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch. Thường xuyên rà soát nắm chắc tình hình tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ, nhất là trong những thời điểm nhạy cảm, phức tạp; tổ chức trao đổi, đối thoại với những cá nhân có nhận thức khác với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của Quân đội tạo sự nhất trí, đồng thuận, hợp tác trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và chống các quan điểm sai trái, thù địch. Các cơ quan, đơn vị tiến hành rà soát, bổ sung, xây dựng, ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý tình hình nội bộ; nắm chắc những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; xử lý kịp thời, nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội; chủ động nắm, quản lý, đánh giá tình hình tư tưởng, định hướng cho bộ đội, không để bị động, bất ngờ.  

Năm làphát huy sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng  trong Quân đội, việc phối hợp giữa các cơ quan chức năng của Quân đội với cơ quan tuyên giáo, công an, Hội đồng Lý luận Trung ương, cấp ủy, chính quyền địa phương, các phương tiện thông tin đại chúng, đoàn thể chính trị - xã hội có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm trao đổi, cung cấp thông tin, kinh nghiệm hoạt động, xử lý các tình huống khi có những vấn đề phức tạp nảy sinh. Xây dựng chương trình, quy chế hoạt động phù hợp với đặc điểm, chức năng của từng lực lượng và yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Định kỳ trong từng thời gian, tiến hành sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả phối hợp với từng lực lượng, rút kinh nghiệm những vấn đề bất cập nảy sinh, xác định phương phướng phối hợp hoạt động trong thời gian tới, đảm bảo cho việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng mang lại hiệu quả thiết thực. 

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Phát huy vai trò của mình, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn chủ động, tiên phong, đi đầu trên mặt trận này, góp phần làm thất bại mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch, xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xứng đáng với niềm tin, sự kỳ vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân./.

Ngành Tổ chức xây dựng Đảng tham mưu chuẩn bị và tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng.

 Năm 2020, trong tình hình bị ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19, thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn và bão, lũ ở cả 3 miền, nhưng với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, Ngành Tổ chức xây dựng Đảng đã tham mưu chuẩn bị, tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp đạt mục đích, yêu cầu, chất lượng, theo đúng tiến độ, kế hoạch, sớm hơn so với 3 nhiệm kỳ gần đây. Đến ngày 29-10-2020, 100% đảng bộ trực thuộc Trung ương đã hoàn thành đại hội (trước đó đại hội đảng bộ ở cả 2 cấp đã hoàn thành đúng thời gian quy định), bảo đảm tuyệt đối an toàn, tiết kiệm và để lại nhiều dấu ấn, tình cảm sâu sắc, tốt đẹp trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị cán bộ toàn quốc tổng kết công tác tổ chức đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025 đã phát biểu: “Chúng ta có thể mạnh mẽ khẳng định là: Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025 đã thành công tốt đẹp...”.

Nhìn lại những thành công

Việc xây dựng báo cáo chính trị đã được các cấp ủy chú trọng, đầu tư nhiều công sức với cách làm khoa học và thái độ nghiêm túc, tập hợp được trí tuệ của đông đảo cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Trên cơ sở tiếp thu các định hướng lớn, tinh thần đổi mới trong các dự thảo văn kiện Đại hội XIII của Đảng, báo cáo của hầu hết các cấp ủy đã đánh giá khách quan, toàn diện, nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng về những kết quả đạt được cũng như về những hạn chế, khuyết điểm, nguyên nhân; nhất là nguyên nhân chủ quan. Đặc biệt, đã phân tích khá sâu sắc thời cơ và thách thức, điểm mạnh, điểm yếu, tiềm năng, cơ hội nổi trội và lợi thế cạnh tranh của địa phương mình để đề ra phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phù hợp, sát thực tế, có tính khả thi cao cho nhiệm kỳ tới, thậm chí đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Điểm nổi bật của các báo cáo chính trị lần này là đều nhấn mạnh vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng; làm sâu sắc, đầy đủ hơn công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Báo cáo kiểm điểm của các cấp ủy đã thể hiện bản lĩnh chính trị, tính chiến đấu, tinh thần tự phê bình và phê bình, tự soi, tự sửa, ý thức cầu thị, thẳng thắn, khiêm tốn, trung thực, trách nhiệm, hạn chế tình trạng nể nang, né tránh; tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ; cơ bản khắc phục được tình trạng chủ yếu đề cập ưu điểm, ít nói khuyết điểm và nội dung còn trùng lặp với báo cáo chính trị. Việc nghiên cứu, thảo luận, tham gia góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện của cấp trên trực tiếp và văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã thực sự trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, thể hiện sự thống nhất giữa ý Đảng với lòng Dân.

Công tác nhân sự đại hội có nhiều đổi mới, phát huy dân chủ, công tâm, khách quan, công khai, minh bạch, chặt chẽ, đúng nguyên tắc, quy trình, quy định, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng. Nhân sự được chuẩn bị kỹ lưỡng ở tất cả các khâu, góp phần nâng cao chất lượng nhân sự cấp ủy các cấp và chuẩn bị tốt cho nhân sự Trung ương. Những hiện tượng vận động, tranh thủ phiếu bầu cơ bản được khắc phục; tình trạng chạy chức, chạy quyền, cục bộ, địa phương, lợi ích nhóm đã giảm. Yêu cầu về tiêu chuẩn, cơ cấu, số lượng, chất lượng cơ bản được bảo đảm. Tỉ lệ cấp ủy viên là nữ, người dân tộc thiểu số nhìn chung cao hơn so với các nhiệm kỳ trước. Ở đại hội đảng bộ cấp tỉnh, tỷ lệ phiếu trúng cử các chức danh chủ chốt cao, nhiều đồng chí đạt 100%. Cơ cấu, chất lượng cấp ủy nâng lên rõ rệt so với nhiệm kỳ trước. Cấp ủy nữ chiếm 15,7%, cao hơn nhiệm kỳ trước 2,7%; bí thư cấp ủy là nữ 9 đồng chí, đạt tỷ lệ 13,9% (nhiệm kỳ trước 3 đồng chí). Cấp ủy viên người dân tộc thiểu số 11,7%, cao hơn nhiệm kỳ trước 0,7%. Cấp ủy có trình độ thạc sỹ trở lên đạt 66,7%, cao hơn nhiệm kỳ trước 23,2%. Tuổi bình quân của BCH, BTV, bí thư, phó bí thư thấp hơn so với nhiệm kỳ trước; cơ bản bảo đảm 3 độ tuổi trong cấp ủy; 28 đồng chí bí thư từ 50 tuổi trở xuống, đạt tỷ lệ 43,1%. 27 đồng chí bí thư không là người địa phương, đạt tỷ lệ 41,5%, cao hơn nhiệm kỳ trước 23,1%.

Công tác tổ chức đại hội được tổ chức nghiêm túc, trang trọng, có đổi mới, đúng quy định, sát thực tế, thể hiện không khí dân chủ, đoàn kết, phấn khởi, tin tưởng. Các hoạt động chào mừng đại hội được tổ chức theo hướng tiết kiệm, thiết thực, hiệu quả; không phô trương, hình thức, phù hợp với tình hình thực tế phòng, chống đại dịch COVID-19 và khắc phục hậu quả bão, lũ. Không tổ chức liên hoan, giao lưu gây lãng phí trước, trong và sau khi kết thúc đại hội. Nhiều nơi đã kịp thời phát động, tổ chức ủng hộ đồng bào miền Trung bị thiệt hại nặng nề do bão, lũ ngay tại đại hội, thể hiện tinh thần trách nhiệm, đạo lý và truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái tốt đẹp của dân tộc ta.

Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm: Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc công việc của một số cấp ủy chưa thường xuyên, sâu sát; chưa giải quyết kịp thời, dứt điểm những vấn đề phức tạp nảy sinh. Một số nơi vẫn còn dành nhiều công sức, thời gian cho công tác chuẩn bị nhân sự, chưa coi trọng đúng mức công tác xây dựng các văn kiện. Báo cáo chính trị của một số cấp ủy tính khái quát chưa cao, thiếu trọng tâm, trọng điểm, chưa nêu bật vai trò và phương thức lãnh đạo của Đảng hoặc có nêu nhưng ở dạng chung chung, khó triển khai thực hiện. Báo cáo kiểm điểm của một số cấp ủy chưa nhìn thẳng vào sự thật, còn né tránh khuyết điểm, chưa chỉ rõ trách nhiệm của tập thể và cá nhân. Việc đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện cấp trên trực tiếp và dự thảo văn kiện Đại hội XIII của Đảng chưa sâu sắc; cá biệt, có nơi chuẩn bị nhân sự chưa thật kỹ, còn biểu hiện cục bộ địa phương, bố trí người nhà, người thân chưa đủ tiêu chuẩn, điều kiện, uy tín tham gia cấp ủy. Ở nhiều nơi tỉ lệ cán bộ trẻ còn thấp, chưa đạt yêu cầu...

Những nguyên nhân

Trước hết, có sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, sát sao, chặt chẽ, nhất quán của BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt và Thường trực Ban Bí thư. Có sự quyết tâm cao, nỗ lực lớn và chủ động, tích cực của cấp ủy, thường vụ cấp ủy, trước hết là người đứng đầu cấp ủy.

Hệ thống các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn được ban hành kịp thời, đồng bộ, cụ thể, phù hợp, sát thực tế; nội dung rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện. Lần đầu tiên Bộ Chính trị ban hành tiêu chuẩn đại biểu dự Đại hội XIII của Đảng đã góp phần quan trọng trong việc lựa chọn, bầu cử và nâng cao chất lượng đại biểu.

Từ đầu nhiệm kỳ, công tác cán bộ được tiến hành bài bản, chặt chẽ từ việc thể chế hóa các văn bản về công tác xây dựng Đảng, đẩy mạnh phân công, phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ. Việc siết chặt kỷ luật, kỷ cương, chống chạy chức, chạy quyền được lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc. Quy trình công tác cán bộ thực hiện theo 5 bước, bảo đảm dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch.

Sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của các cơ quan tham mưu trong công tác thẩm định nhân sự bảo đảm thận trọng, khách quan, đúng người, đúng việc. Có sự chủ động, tham mưu với Bộ Chính trị, Ban Bí thư xử lý kịp thời, dứt điểm những khó khăn, vướng mắc phát sinh, làm chuyển biến tình hình, tạo nên thành công của đại hội.

Công tác thông tin, tuyên truyền về đại hội có nhiều đổi mới, sáng tạo, phong phú, hiệu quả, thiết thực. Tình hình kinh tế - xã hội ổn định; dịch bệnh được kiểm soát tốt; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; đời sống nhân dân được cải thiện; sự quan tâm, đồng tình, ủng hộ của Nhân dân và sự đồng thuận của xã hội là nền tảng quan trọng góp phần làm nên thành công đại hội đảng bộ các cấp.

Sáu kinh nghiệm

Một là, phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, sát sao của Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong suốt quá trình chuẩn bị, tổ chức đại hội, chỉ đạo ban hành hệ thống văn bản sớm, đồng bộ, đầy đủ, toàn diện. Phát huy tính chủ động, sáng tạo của từng cấp ủy, tổ chức đảng, cá nhân, nhất là người đứng đầu trong quá trình chuẩn bị, tổ chức đại hội; huy động trí tuệ tập thể; bảo đảm dân chủ nhưng tập trung, thống nhất, dân chủ gắn với kỷ luật, kỷ cương, dân chủ nhưng có sự lãnh đạo. Cấp ủy triệu tập đại hội nêu cao tinh thần đoàn kết, cộng đồng trách nhiệm, lãnh đạo, chỉ đạo chuẩn bị đại hội công phu, chu đáo, nghiêm túc, có kế thừa, tham khảo những kinh nghiệm quý, bài học hay của các nhiệm kỳ trước và bổ sung những điểm đổi mới, sáng tạo phù hợp với tình hình thực tiễn của nhiệm kỳ này.

Hai là, báo cáo chính trị làm rõ được vai trò lãnh đạo của Đảng trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị trọng tâm theo hướng: Xây dựng Đảng là then chốt, trong đó, công tác cán bộ là then chốt của then chốt; phát triển kinh tế - xã hội là nhiệm vụ trung tâm; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; tăng cường quốc phòng - an ninh là thường xuyên, trọng yếu; tích cực, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng. Báo cáo kiểm điểm của BCH phải bám sát các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác và quy chế làm việc, tránh trùng lặp với báo cáo chính trị.

Ba là, nắm vững và kịp thời xử lý dứt điểm các vấn đề phức tạp, phát sinh trên địa bàn trước khi đại hội diễn ra. Nắm chắc tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và dư luận liên quan đến nhân sự trước, trong và sau đại hội để kịp thời chỉ đạo giải quyết những vướng mắc, bất cập. Trong công tác nhân sự đại hội, phải tuyệt đối tuân thủ đúng quy trình 5 bước, dân chủ, khách quan, công tâm, công khai, minh bạch, tất cả vì lợi ích quốc gia, dân tộc theo phương châm làm từng bước chặt chẽ, từng việc cụ thể, từng nhóm chức danh từ thấp đến cao, bảo đảm thận trọng, kỹ lưỡng, làm đến đâu chắc đến đó. Chủ động nắm tình hình, kịp thời xử lý các tình huống ngoài dự kiến. Đối với những việc khó, phức tạp, nhạy cảm phải thực hiện nhất quán theo quy định, giữ vững nguyên tắc, phát huy dân chủ, huy động trí tuệ tập thể, công tâm, khách quan và quyết định theo đa số.

Bốn là, thảo luận văn kiện đại hội phải tập trung vào những vấn đề mới, khó, nhạy cảm, những nội dung còn có ý kiến khác nhau và bám sát vào tình hình thực tiễn của cơ quan, đơn vị, địa phương. Gửi nội dung gợi ý thảo luận trước cho các đại biểu dự đại hội để có đủ thời gian nghiên cứu kỹ, chuẩn bị ý kiến có chất lượng, tạo không khí sôi nổi, thảo luận tại đại hội.

Năm là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới, đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng phù hợp với từng đối tượng, đặc điểm, tình hình của địa phương, cơ quan, đơn vị, tạo không khí phấn khởi, tin tưởng, chào mừng đại hội nhưng không phô trương, hình thức.

Sáu là, vừa tổ chức tốt đại hội, vừa phải hoàn thành các nhiệm vụ chính trị tại các địa phương, cơ quan, đơn vị; chủ động tham mưu việc tổ chức đại hội có hiệu quả, vừa bảo đảm an toàn phòng, chống dịch COVID-19.

Những kinh nghiệm, những bài học quý giá rút ra được từ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp; sự nỗ lực, cố gắng, chung sức, đồng lòng của cán bộ, công chức, viên chức toàn Ngành trên cơ sở kế thừa truyền thống tốt đẹp của Ban Tổ chức Trung ương và của Ngành Tổ chức xây dựng Đảng, vận dụng nhuần nhuyễn nguyên tắc tập trung dân chủ, phù hợp với xu thế xã hội và tình hình thực tiễn của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Tất cả đã tạo ra khí thế mới, động lực mới và là cơ sở quan trọng để chuẩn bị, tổ chức thật tốt, góp phần vào thành công Đại hội XIII của Đảng - một sự kiện chính trị trọng đại trong đời sống chính trị của Đảng, của dân tộc, đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới, mở ra triển vọng và tương lai tươi sáng của Tổ quốc ta.

Ngành Tổ chức xây dựng Đảng cần tiếp tục đổi mới phương pháp, lề lối, tác phong làm việc gắn với cải cách hành chính và thực hiện “5 hóa” (hạt nhân hóa lãnh đạo; chuẩn hóa văn bản pháp quy; đơn giản hóa thủ tục hành chính; tự động hóa tổ chức thực hiện; tối ưu hóa kết quả hoạt động). Phát huy tinh thần chủ động, tích cực, đổi mới, sáng tạo, hiệu quả, lấy sản phẩm, chất lượng, hiệu quả công tác làm thước đo chủ yếu để đánh giá cán bộ, công chức. Nâng cao đạo đức nghề nghiệp, văn hóa công sở, tính chuyên nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức xây dựng Đảng “Đoàn kết, trung thành, trung thực, trong sáng, gương mẫu, tinh thông, chuyên nghiệp” đáp ứng yêu cầu cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.


QUân đội là đội quân chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Tổ quốc và Nhân dân

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, đồng thời có tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc; lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Tổ quốc và Nhân dân. Lý tưởng chiến đấu của quân đội ta là vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Đó là lý tưởng chính trị - đạo đức không chỉ mang tính cách mạng và khoa học, mà còn thấm đượm tính nhân văn sâu sắc; không chỉ phản ánh sự vận động, phát triển đúng quy luật của xã hội Việt Nam đương đại, mà còn phản ánh khát vọng thiêng liêng tự giải phóng, giành quyền Độc lập - Tự do - Hạnh phúc và vươn lên làm chủ của các thế hệ người Việt Nam xuyên suốt hành trình lịch sử dân tộc. Lý tưởng chiến đấu đó, thể hiện tình cảm sâu nặng và trách nhiệm chính trị - đạo đức cao cả của Quân đội đối với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân.

Dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, Quân đội không ngừng lớn mạnh, trưởng thành, thể hiện rõ bản lĩnh chính trị của quân đội cách mạng, gắn bó máu thịt với nhân dân, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó. Trong chiến đấu, Quân đội thực hiện xuất sắc vai trò nòng cốt cùng toàn dân đánh giặc, hỗ trợ tích cực cho đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang của quần chúng, chiến đấu ngoan cường, dũng cảm vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Trong lao động sản xuất, Quân đội tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng - an ninh, xung kích đến những vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn, gian khổ để xây dựng khu kinh tế - quốc phòng, công trình có ý nghĩa chiến lược của đất nước. Thực hiện đội quân công tác, cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn đồng cam, cộng khổ cùng nhân dân, tích cực vận động và giúp dân xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống, tham gia xây dựng hệ thống chính trị, đời sống văn hóa ở cơ sở, giữ vững ổn định chính trị - xã hội; luôn xung kích, đi đầu trong thực hiện nhiệm vụ “chiến đấu trong thời bình”, giúp nhân dân phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, xả thân trong hiểm nguy để cứu tính mạng và tài sản của nhân dân, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Đồng thời, là lực lượng tiên phong đấu tranh với chiến lược “Diễn biến hòa bình”, quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. 

Càng trong những khó khăn, thử thách, bước ngoặt của cách mạng, bản chất của Quân đội ta càng thể hiện rõ nét; bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Nhân dân là mệnh lệnh từ trái tim của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Mỗi khi Tổ quốc bị lâm nguy, sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch đối với Đảng, chế độ thì bản lĩnh, lòng trung thành, ý chí, quyết tâm chiến đấu của Quân đội lại trỗi dậy, với tinh thần còn Đảng là còn mình, bảo vệ Đảng là bảo vệ một lý tưởng cao đẹp của thời đại - độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong tình hình hiện nay, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đang trở nên bức thiết; Quân đội nhân dân là một trong những lực lượng tích cực tham gia, tiên phong, đi đầu, đồng thời cũng là lực lượng mà các thế lực thù địch chĩa mũi nhọn tập trung chống phá nhằm thực hiện mưu đồ “phi chính trị hóa”, tách sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội.

Dấu ấn Hồ Chí Minh trong Tổng tuyển cử đầu tiên.

 Sau Cách mạng Tháng Tám, giữa muôn vàn khó khăn thù trong giặc ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã quyết định và khẩn trương thực hiện Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là một sự kiện quan trọng trong lịch sử dân tộc, lần đầu tiên toàn dân được hưởng quyền làm chủ, tự do lựa chọn, bầu ra những người đại diện, xứng đáng thay mặt Nhân dân gánh vác công việc chung của đất nước.

1. Quyết tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc tiến hành Tổng tuyển cử, bảo vệ nền độc lập và xây dựng chế độ mới

Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để bảo vệ độc lập, tự do là phải củng cố và tăng cường chính quyền của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, thực hiện quyền dân chủ của Nhân dân. Ngày 3-9-1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Trước chúng ta đã bị chế độ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do, dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái 18 tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống”(1). Sắc lệnh số 14/SL về việc tổ chức Tổng tuyển cử để bầu Quốc dân đại hội (Quốc hội) ký ngày 8-9-1945 nêu rõ: “Xét trong tình thế hiện giờ sự triệu tập quốc dân đại hội không những có thể thực hiện được mà lại rất cần thiết để cho toàn dân tham gia vào công cuộc củng cố nền độc lập và chống ngoại xâm”(2). Đây là văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đầu tiên chuẩn bị cho Tổng tuyển cử bầu cơ quan quyền lực cao nhất, nhằm bảo vệ vững chắc thành quả của Cách mạng Tháng Tám, từng bước hoàn chỉnh việc xây dựng và củng cố chính quyền, bảo đảm mọi quyền lợi của Nhân dân, nâng cao niềm tin của Nhân dân đối với chế độ mới.

Tuy nhiên, vừa mới ra đời, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lâm vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Nạn đói do phát-xít Nhật gây ra làm hơn hai triệu đồng bào bị chết, tài chính đất nước kiệt quệ. Nạn mù chữ cùng những hủ tục mê tín, lạc hậu, tệ nạn xã hội do chế độ cũ để lại chưa được khắc phục. Nhân dân và chính quyền cách mạng phải đương đầu chống lại những âm mưu, hành động bao vây, câu kết của các thế lực đế quốc, phản động quốc tế nhằm thủ tiêu nền độc lập mà dân tộc Việt Nam vừa giành được. Trong hoàn cảnh ấy, chuẩn bị tiến tới Tổng tuyển cử thực chất là một cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh giai cấp và dân tộc vô cùng cam go, phức tạp. Trong cuộc đấu tranh này, Đảng và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà đứng đầu là Hồ Chí Minh vừa kiên quyết đấu tranh vạch trần và chống lại những hành động phá hoại của các thế lực phản động, vừa thực hiện sách lược nhân nhượng, hòa giải, sáng suốt, mềm dẻo, khéo léo trong cách ứng xử để tiến tới Tổng tuyển cử. Chỉ có Tổng tuyển cử dân chúng mới có dịp thể hiện ý muốn của họ; chỉ có Chính phủ được lập ra bởi Tổng tuyển cử mới là đại diện chân chính và trung thành của toàn thể quốc dân. Chỉ có Tổng tuyển cử mới có thể mang đến cho nước Việt Nam một Hiến pháp mới ấn định rõ ràng quyền lợi của quốc dân và của Chính phủ, phá tan được những nghi ngờ đối với chính quyền nhân dân. Hồ Chí Minh khẳng định: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà… Do Tổng tuyển cử mà bầu ra Quốc hội. Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ. Chính phủ đó thật là Chính phủ của toàn dân.

Vậy nên khẩu hiệu cuộc Tổng tuyển cử thứ nhất của nước Việt Nam ta phải là: Kháng chiến đến cùng để hoàn toàn độc lập!”(3). Chủ trương này đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ quá trình chỉ đạo chuẩn bị và tổ chức Tổng tuyển cử.

2. Hồ Chí Minh - người tạo hành lang pháp lý cho thành công của Tổng tuyển cử

Sau khi quyết định tổ chức Tổng tuyển cử, Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu khẩn trương ban hành gần 10 sắc lệnh về bầu cử. Đó là những quyết sách của Hồ Chí Minh trong quá trình xây dựng Chính phủ, từ lâm thời đến chính thức, thể hiện bản lĩnh về ý thức độc lập dân tộc, trí tuệ và ứng phó chính trị của Người.

Ngày 8-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 14/SL, ghi rõ: “Chiểu theo Nghị quyết của Quốc dân đại biểu Đại hội họp ngày 16, 17-8-1945 tại khu Giải phóng, ấn định rằng nước Việt Nam sẽ theo Chính thể Dân chủ Cộng hòa, và Chính phủ nhân dân toàn quốc sẽ do một quốc dân đại hội bầu theo lối phổ thông đầu phiếu cử lên”(4). Tiếp đó, ngày 26-9-1945, Người ký ban hành Sắc lệnh số 39/SL về thành lập Ủy ban dự thảo thể lệ cuộc Tổng tuyển cử; Sắc lệnh số 51/SL ngày 17-10-1945 ấn định ngày Tổng tuyển cử và thể lệ cuộc Tổng tuyển cử.

Điều 2 của Sắc lệnh 14 và Sắc lệnh 51 quy định tất cả công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên không phân biệt nam nữ đều có quyền bầu cử và ứng cử(5). Đây là nguyên tắc phổ thông đầu phiếu nhằm thu hút tất cả các tầng lớp nhân dân trong nước, miễn là đến độ tuổi trưởng thành đều được tham gia bầu cử. Trong cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên ở Việt Nam, pháp luật không chỉ bảo đảm cho những người đang là công dân Việt Nam mà còn bảo đảm cho cả những người nước ngoài đã sống lâu năm ở Việt Nam, tỏ lòng trung thành với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và có mong muốn được tham gia Tổng tuyển cử cũng được tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để họ thực hiện quyền bầu cử. Điều 4 của Sắc lệnh số 73/SL ngày 7-12-1945 chỉ rõ cách thức xin nhập quốc tịch Việt Nam và Điều 5 của Sắc lệnh 73/SL khẳng định: “Tạm thời, vì sự giao thông khó khăn, những người nào xin nhập quốc tịch Việt Nam mà được Ủy ban nhân dân tỉnh ưng nhận, thì được hưởng ngay quyền bầu cử và ứng cử, không phải chờ Sắc lệnh cho nhập quốc tịch Việt Nam”(6).

Nguyên tắc tự do, bình đẳng trong bầu cử được Hồ Chí Minh giải thích trong Sắc lệnh số 51/SL: Người ứng cử được tự do ứng cử nơi mình chọn nhưng chỉ một nơi (Điều thứ 12) và mỗi cử tri cũng chỉ được đi bầu một nơi (Điều thứ 17); Phiếu bầu sẽ do ban phụ trách cuộc bầu cử phát cho người đi bầu và chỉ phát lúc người đi bầu đã vào phòng bỏ phiếu (Điều thứ 40)(7). Như vậy, không ai có quyền sắp xếp, bố trí các ứng viên vào đơn vị bầu cử này hay đơn vị bầu cử khác và bảo đảm mỗi người chỉ có một nơi bầu và một phiếu bầu như nhau.

Cử tri sẽ trực tiếp bầu ra cơ quan đại diện quyền lực nhà nước ở tất cả các cấp mà không qua tầng nấc trung gian nào. Sắc lệnh số 51/SL nêu rõ: “Mỗi cử tri phải thân hành đi bầu, không được ủy quyền, cũng không được bầu bằng cách gửi thư” (Điều thứ 31)(8); “Đơn vị tuyển cử là tỉnh, nghĩa là dân trong mỗi tỉnh bầu thẳng đại biểu tỉnh mình dự vào quốc dân đại hội” (Điều thứ 7)(9). Nguyên tắc này bảo đảm sự giám sát đối với đại biểu của cấp cơ quan quyền lực đó, bảo đảm tính chịu trách nhiệm trước cử tri. Đồng thời, cũng nhằm chống gian lận và lợi dụng kẽ hở để chống phá của các thế lực phản động, thù địch.

Mỗi cử tri đi bỏ phiếu cần bảo đảm bí mật. Đây là nguyên tắc bỏ phiếu kín nhằm tạo sự an toàn và tự do ý chí của cử tri, bảo đảm cho cử tri được yên tâm thể hiện ý chí của mình mà không phải chịu một áp lực nào. Điều 36 và 38 của Sắc lệnh số 51/SL đã đề cập đến việc cử tri sẽ bầu bằng phiếu kín và giữ bí mật khi viết thay cho cử tri khác nếu họ không biết viết chữ(10). Đây là điểm rất sáng tạo, độc đáo và phù hợp với trình độ dân trí của Việt Nam, nhất là đối với tầng lớp dân nghèo không biết chữ. Vì thế, không khí dân chủ trong bầu cử đã bừng lên ở khắp nơi trong cả nước.

Nhằm tạo điều kiện cho việc chuẩn bị chu đáo, nhất là khi có những nhân sĩ muốn ra ứng cử nhưng không đủ thời gian để nộp đơn và vận động tranh cử, ngày 18-12-1945 Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 76/SL về việc ấn định lại ngày Tổng tuyển cử và hạn nộp đơn ứng cử. Trong đó nêu rõ: “Cuộc Tổng tuyển cử trong toàn cõi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để bầu đại biểu dự vào Quốc dân Đại hội, trước định mở vào ngày 23-12-1945, nay hoãn đến ngày chủ nhật, 6-1-1946”(11). Hành động này thể hiện sự tôn trọng quyền tự do, dân chủ của Nhân dân, tôn trọng người tài, đoàn kết mọi lực lượng yêu nước, thiện tâm, thiện chí vì quyền lợi tối cao của dân tộc.

Việc Hồ Chí Minh đề nghị, chỉ đạo tổ chức Tổng tuyển cử thể hiện quyết định dũng cảm, đúng đắn và quyết liệt, lòng tin tuyệt đối của Người vào Nhân dân. Với việc ban hành các sắc lệnh đầu tiên về bầu cử, Hồ Chí Minh đã tạo cơ sở pháp lý cho sự thành công của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên. Đó chính là nghệ thuật chớp thời cơ, vượt qua tình thế hiểm nghèo của một lãnh tụ thiên tài, có bản lĩnh chính trị sắc bén, nghệ thuật tổ chức linh hoạt, sáng tạo.

3. Hồ Chí Minh vận động Nhân dân thực hiện quyền bầu cử

Trong bài “Ý nghĩa của Tổng tuyển cử”, Người viết: “Hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử. Không chia gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó”(12). Nhằm mục đích nêu rõ giá trị của cuộc Tổng tuyển cử, giải thích thể lệ Tổng tuyển cử cho công dân Việt Nam hiểu về quyền hạn và bổn phận của mình trong khi chọn và cử đại biểu vào Quốc hội, Hồ Chí Minh có nhiều bài viết đăng trên các báo để  tuyên truyền, hướng dẫn Nhân dân các công việc liên quan đến bầu cử.

Hồ Chí Minh động viên Nhân dân trực tiếp đi bầu cử. Người khẳng định: “Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà Nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình… Ngày mai, tất cả các bạn cử tri, đều phải nhớ đi bầu cử. Ngày mai, mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do”(13). Bởi lẽ, “Từ xưa đến nay, toàn quốc chưa bao giờ tuyển cử vì xưa dân chưa bao giờ làm chủ mình, xưa dân phải nghe lời vua quan, sau phải nghe thực dân Pháp, Nhật. Vừa rồi đây ta mới giành được độc lập… Ta đã phải hy sinh nhiều mới có cái quyền cầm lá phiếu ngày nay đó”(14). Với lời lẽ giản dị, xúc động, lời kêu gọi toàn dân đi bầu cử của Hồ Chí Minh đã thấm vào trái tim của từng người Việt Nam, khích lệ, động viên toàn thể quốc dân đồng bào vui vẻ, hứng khởi đi thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân của một dân tộc tự do, độc lập.

Không chỉ thể hiện quan điểm, tư tưởng về một chế độ bầu cử tự do, dân chủ, ngay từ những ngày đầu diễn ra cuộc Tổng tuyển cử, Hồ Chí Minh đã đề ra tiêu chuẩn của người đại biểu Quốc hội. Người viết: “Các Ủy ban nhân dân làng, phủ là hình thức Chính phủ địa phương, phải chọn trong những người có công tâm, trung thành, sốt sắng với quyền lợi dân chúng, có năng lực làm việc, được đông đảo dân làng tín nhiệm. Không thể nhờ tiền tài hay một thế lực gì khác mà chui vào lọt các Ủy ban đó”(15). Vì thế, những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu. Nhân dân phải sử dụng lá phiếu của mình để nó “có sức lực như một viên đạn”(16), để “những người trúng cử, sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào”(17).

Cùng với tuyên truyền để nhân dân hiểu rõ giá trị của bầu cử, Hồ Chí Minh động viên, kêu gọi những người có tài, có đức ra ứng cử, đóng góp sức lực cho đất nước. Người viết: “…Chúng tôi mong rằng đồng bào ta ai có tài năng và sáng kiến… sẵn lòng hăng hái giúp ích nước nhà thì xin gửi kế hoạch rõ ràng cho Chính phủ”(18). Nhờ có quan điểm đúng đắn trong việc tìm kiếm, thu hút và trọng dụng nhân tài, Chính phủ do Hồ Chí Minh đứng đầu đã thu hút được rất nhiều người có tài, có đức tham gia chính quyền để xây dựng và bảo vệ đất nước trong những ngày đầu đầy khó khăn, thử thách.

Ngày 6-1-1946 cuộc Tổng tuyển cử đã diễn ra thắng lợi trong cả nước, bất chấp bom đạn của thực dân Pháp và sự phá hoại của các lực lượng phản động. Với lòng yêu nước nồng nàn, ý chí sắt đá nhằm bảo vệ nền độc lập dân tộc, cuộc Tổng tuyển cử đã thành công rực rỡ. Đây là một sự kiện quan trọng trong lịch sử dân tộc khi lần đầu tiên toàn thể Nhân dân được hưởng quyền làm chủ, độc lập, tự do của mình. Hồ Chí Minh khẳng định, Tổng tuyển cử là “kết quả của sự hy sinh, tranh đấu của tổ tiên ta, nó là kết quả của sự đoàn kết anh dũng phấn đấu của toàn thể đồng bào Việt Nam ta, sự đoàn kết của toàn thể đồng bào không kể già trẻ, lớn bé, gồm tất cả các tôn giáo, tất cả các dân tộc trên bờ cõi Việt Nam đoàn kết chặt chẽ thành một khối hy sinh không sợ nguy hiểm tranh lấy nền độc lập cho Tổ quốc”(19).

Cuộc Tổng tuyển cử đã chứng tỏ ý thức sâu sắc của Hồ Chí Minh về tầm quan trọng của một Chính phủ dân cử hợp pháp và quyết tâm biến nó thành một một chính quyền của Nhân dân vững mạnh. Thực tiễn lịch sử và sự phát triển của cách mạng Việt Nam là bằng chứng sinh động minh chứng bản lĩnh và thiên tài Hồ Chí Minh trên cương vị trọng trách lãnh đạo cao nhất của Đảng và cách mạng Việt Nam. Bản lĩnh ấy thể hiện ý chí của Hồ Chí Minh: tất cả vì độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc của Nhân dân.

-----

(1), (3), (12), (13), (14), (15), (16), (17), (18), (19) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG-ST, H.2011, tập 4, tr.7, tr.153, tr.166-167, tr.168, tr.21, tr.166, tr.114, tr.216. (2), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), (11) Cục văn thư và lưu trữ nhà nước, Trung tâm lưu trữ quốc gia III: Bảo vật quốc gia: Tập sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1945-1946, NXB CTQG-ST, H.2017, tr.25, tr.25,  tr.25 và tr.77, tr.130, tr.79, tr.82. tr.81, tr.78, tr.81-82, tr.133.


Đảng Cộng sản Việt Nam dũng cảm vượt lên chính mình, làm nên lịch sử .

 Năm 1960 tại diễn văn kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng, khi khái quát những thành tựu đã đạt được, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Với tất cả tinh thần khiêm tốn của những người cách mạng chúng ta vẫn có quyền nói Đảng ta thật vĩ đại!

 Những năm 20 của thế kỷ trước, trong thân phận đất nước nô lệ dưới ách thống trị của phong kiến và chủ nghĩa thực dân Pháp, xã hội ta khi ấy rất cần có một cuộc cách mạng giải phóng nhưng vì thiếu đường lối, phương hướng, tổ chức đúng đắn nên chưa thể thực hiện được. Trong bối cảnh lịch sử ấy, năm 1911, Việt Nam xuất hiện một người thanh niên, dũng cảm sang phương Tây để tìm con đường cứu nước khác các bậc cha chú. Đó là Nguyễn Tất Thành, sau này trở thành lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới được UNESCO vinh danh.

Trong những năm 1921-1929, khi Nguyễn Tất Thành còn bôn ba hải ngoại, vừa lao động kiếm sống, vừa học tập và tìm đường giải phóng dân tộc thì trong nước đã có 3 tổ chức cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng (17-6-1929), An Nam Cộng sản Đảng (mùa thu 1929), Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (1-1-1930). 3 tổ chức cùng theo chủ nghĩa cộng sản, cùng có mục đích đấu tranh chống đế quốc phong kiến, giành độc lập cho đất nước, nhưng chia rẽ, không kết thành một khối mà còn tranh giành ảnh hưởng, đả kích lẫn nhau.

Ngày 27-10-1921, Nguyễn Ái Quốc, thành viên tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, hoạt động trong tổ chức cộng sản quốc tế; được Quốc tế cộng sản phái về làm nhiệm vụ tập hợp các tổ chức cộng sản ở Đông Dương thành một đảng thống nhất. Như vậy, để có một đảng cách mạng chân chính thống nhất làm nên sự nghiệp vĩ đại như ngày nay thì ngay từ trong trứng nước, trong phôi thai, những người cộng sản Việt Nam đã phải dũng cảm vượt lên chính mình để khắc phục tệ bè phái, cục bộ.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3-2-1930. Hội nghị hợp nhất 3 tổ chức cộng sản diễn ra từ ngày 3 đến ngày 7-2-1930 tại bán đảo Cửu Long (Hương Cảng, nay là Hồng Kông, Trung Quốc) dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc. Các thành viên hội nghị gồm Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh (đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng), Nguyễn Thiệu, Châu Văn Liêm (đại biểu của An Nam Cộng sản Đảng). Ngày 24-2-1930 Đông Dương Cộng sản Liên đoàn tự nguyện và được chấp nhận tham gia Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là một cột mốc quan trọng của sự trưởng thành, tự vượt qua chính mình, thành một tổ chức thống nhất: Đảng Cộng sản Việt Nam. Lần đầu tiên đảng cách mạng nước ta có một Cương lĩnh, một Sách lược và một bản Điều lệ đúng đắn, ngắn gọn, có tầm nhìn xa, tuy nó chỉ khiêm tốn gọi là những văn bản tóm tắt. Về nhiệm vụ cách mạng, Cương lĩnh nêu rõ chủ trương chiến lược có hai cấp độ, hai bước đi, trước tiên là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng” để làm cơ sở, sau đó mới “đi tới xã hội cộng sản” và nhiệm vụ cách mạng là: Đánh đổ thực dân Pháp và bọn phong kiến làm cho nước Nam độc lập. Sức mạnh của cuộc cách mạng ấy bao gồm một tập hợp tất cả các giai cấp, các dân tộc đa số và thiểu số, các lực lượng tiến bộ, các nhà yêu nước; công nhân, dân cày nghèo, trí thức, tiểu tư sản, trung nông, phú nông, tiểu địa chủ, tư sản dân tộc… Rõ ràng về chiến lược, sách lược, mục tiêu trước mắt và lâu dài, lực lượng cách mạng, quan hệ giai cấp và dân tộc, những vấn đề cốt tử của một đảng chân chính cách mạng ở Việt Nam đã được giải quyết rất đúng đắn, sáng suốt ngay từ buổi đầu mang tầm vóc lớn dẫn đến sự biến đổi cả một dân tộc.

Tháng 10-1930 đồng chí Trần Phú từ Liên Xô về nước, bổ sung vào BCH Trung ương lâm thời, được giao nhiệm vụ, soạn thảo Cương lĩnh mới thay thế các văn bản của Hội nghị thành lập Đảng ngày 3-2, đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Đông Dương.

Sau khi có Cương lĩnh chính trị tháng 10-1930, dưới sự lãnh đạo và hy sinh anh dũng kế tiếp nhau của những người cộng sản, nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra như cao trào Xô-viết Nghệ Tĩnh, khởi nghĩa Nam kỳ… Tuy thất bại, hy sinh to lớn nhưng những tấm gương yêu nước sáng ngời của Đảng đã góp phần thức tỉnh tinh thần và khí phách dân tộc. Trải qua những bước thăng trầm của lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vượt qua nhiều sóng gió, nhiều mất mát to lớn, hy sinh anh dũng, có cả những sai lầm, vấp váp nhưng không bao giờ gục ngã, vượt qua mọi trở lực khách quan và chủ quan để tiến về phía trước!

Tháng 3-1938, sau khi các đồng chí Tổng Bí thư Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập hy sinh thì đồng chí Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng. Năm đó đồng chí mới 26 tuổi. Tác phẩm Tự chỉ trích của đồng chí Nguyễn Văn Cừ là một tác phẩm lý luận nổi tiếng, một sự dũng cảm công khai tự chỉ trích, dám nhận khuyết điểm với một xác tín và quyết tâm sửa chữa để tạo nên sức mạnh vượt lên, tiến về phía trước của những người chiến sĩ tiên phong, quyết tâm lãnh đạo cách mạng giành thắng lợi. Tác phẩm đã chỉ rõ: Người cộng sản có bổn phận nói sự thật với quần chúng, dẫn đường cho quần chúng, không phải theo đuôi họ, hay phỉnh họ… Và dẫu cho có sai lầm, có thất bại thì phải có can đảm nhìn sự thật… Chúng ta không bao giờ có thể đổ lỗi rằng nguyên nhân thất bại là do quân thù đàn áp và cử tri chưa giác ngộ. Chúng ta phải biết nhìn nhận những khuyết điểm về chủ quan mà chính ta gây ra, chính ta phải chịu hoàn toàn trách nhiệm.

Mùa xuân năm 1941, đồng chí Nguyễn Ái Quốc từ nước ngoài về đến Cao Bằng. Từ ngày 10 đến 19-5-1941, Người cùng Quyền Tổng Bí thư Trường Chinh chủ trì Hội nghị BCH Trung ương lần thứ 8. Hội nghị này có tầm vóc lớn như một đại hội. Những vấn đề lý luận cơ bản nhất của cách mạng nước ta thời kỳ này đã được giải quyết sáng tỏ, khắc phục những biểu hiện của bệnh “ấu trĩ tả khuynh” đã mắc phải. Đó là mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp; giữa dân tộc và dân chủ, giữa chiến lược và sách lược… Một luận điểm lớn mà Hội nghị này xác lập đã có giá trị tạo nên sức mạnh làm biến đổi cả các dân tộc Đông Dương là: Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia, dân tộc chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được.

Nghị quyết thể hiện quyết tâm khơi dậy tinh thần dân tộc, truyền thống đoàn kết chống giặc ngoại xâm của tổ tiên ta, tạo thành một mặt trận thống nhất, cả dân tộc cùng nhau xây dựng lực lượng vũ trang tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Từ đó phong trào cách mạng trong nhân dân lên rất cao. Nắm chắc tình hình thế giới và trong nước, Thường vụ Trung ương đã ra Chỉ thị lịch sử “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Chủ trương và quyết định sáng suốt của Thường vụ Trung ương Đảng đã chuẩn bị chu đáo cho cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên của Việt Nam, một thể chế dân chủ đầu tiên của Đông Nam Á.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng tiến hành từ ngày 11 đến ngày 19-2-1951. Đại hội quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai, lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam. Báo cáo “Bàn về cách mạng Việt Nam” của Tổng Bí thư Trường Chinh là một văn kiện lịch sử quan trọng, đã bổ sung, phát triển hoàn chỉnh lý luận về cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân của Đảng ta. Hồ Chí Minh và Đại hội đã gọi đó là Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam.

Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nghĩa là những người thợ thuyền, dân cày và lao động trí óc kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm, tận lực phụng vụ Tổ quốc và Nhân dân. Như vậy, Đảng Lao động Việt Nam phải là một Đảng to lớn, mạnh mẽ, chắc chắn, trong sạch, cách mạng triệt để. Trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là một. Chính vì vậy Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam.

 Đảng lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng. Chính vì thế sau này Hồ Chí Minh đã viết: Chủ nghĩa Mác - Lênin là lực lượng tư tưởng hùng mạnh chỉ đạo Đảng, “làm cho Đảng… trở thành hình thức tổ chức cao nhất của quần chúng lao động, hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc”. Đảng Lao động Việt Nam đã tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi.

Năm 1954, sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền, hòa bình vừa được lập lại trên miền Bắc, trong xây dựng đất nước, Đảng mắc một sai lầm nghiêm trọng trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức. Đúng như tiên lượng thiên tài của C.Mác, những người cách mạng vừa giành được một thắng lợi mới thì do không có kinh nghiệm, ngay lập tức họ lại tự tạo ra một trở lực mới phải vượt qua. Đảng đã lắng nghe phản ứng của Nhân dân, nhận ra sai lầm, kiên quyết sửa chữa, kỷ luật nghiêm khắc, thay đổi Tổng Bí thư và cách chức một số cán bộ cao cấp của Đảng…

Dám nhận ra sai lầm để cố gắng sửa chữa là một sự sáng suốt. Từ trong sự vấp ngã đau đớn lại tìm cách đứng lên đòi hỏi một tầm trí tuệ cao, nắm vững các quy luật khách quan với một sự vượt lên trên những tư duy bình thường. V.I.Lê-nin đã từng nói, người thông minh nào cũng đều có thể phạm sai lầm, nhưng biết nhanh chóng nhận ra sai lầm, tìm nguyên nhân và đề ra chủ trương, biện pháp khắc phục có hiệu quả, người đó là người thông minh. Sự vĩ đại của vĩ nhân và các chính đảng được sản sinh chính từ sự thông minh ấy. Đảng Lao động Việt Nam dũng cảm nhận sai lầm, quyết sửa sai và sửa sai có kết quả bằng một sự thông minh như thế. Từ trong sai lầm, vấp ngã, Đảng đứng dậy và lại được sự lượng thứ, bao dung và ủng hộ của Nhân dân. Đảng với Nhân dân lại kết thành một khối vững chắc.

 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam đã bầu đồng chí Hồ Chí Minh tiếp tục làm Chủ tịch Đảng và bầu đồng chí Lê Duẩn làm Bí thư thứ nhất BCH Trung ương. Đảng lãnh đạo Nhân dân tiếp tục làm cuộc kháng chiến vĩ đại “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Khi non sông vừa mới liền một dải, Đảng lại phải lãnh đạo quân dân cả nước tiếp tục chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây nam và phía Bắc, đánh bại kẻ thù mới vô cùng gian manh và độc ác.

Ngày 2-9-1969 Chủ tịch Hồ Chí Minh vào cõi vĩnh hằng. Người ra đi để lại Bản Di chúc lịch sử như một Cương lĩnh tổng quát xây dựng đất nước sau ngày thống nhất.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Lao động Việt Nam tiến hành từ ngày 14 đến ngày 20-12-1976, đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam, đổi tên nước từ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyết định đường lối chiến lược xây dựng nước Việt Nam tiến nhanh, tiến mạnh, vững chắc đi lên CNXH.

Trải qua 10 năm, hai nhiệm kỳ Đại hội IV tiếp đến giữa nhiệm kỳ Đại hội V của Đảng đều do đồng chí Lê Duẩn làm Tổng Bí thư cho đến khi đồng chí từ trần ngày 10-7-1986. Đồng chí Trường Chinh được cử giữ chức Tổng Bí thư. Dưới sự chủ trì của đồng chí, Đảng đã chỉ rõ do chủ quan, nóng vội, duy ý chí nên Đảng đã mắc phải những sai lầm nghiêm trọng. Đảng Cộng sản Việt Nam lại một lần nữa dũng cảm nhận ra sai lầm và đề xuất Đường lối đổi mới, khẳng định: Đối với nước ta, đổi mới đang là yêu cầu bức thiết, có ý nghĩa sống còn. Từ Đại hội VI (1986) tới Đại hội X (năm 2006), đã qua 5 nhiệm kỳ (lần lượt do các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh làm Tổng Bí thư. Từ Đại hội XI (2011) và Đại hội XII (2016) do đồng chí Nguyễn Phú Trọng làm Tổng Bí thư,

Để khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa hoàn toàn bị đẩy lùi, 2 Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) được ban hành với quyết tâm chính trị rất cao nhằm chỉnh đốn Đảng, khắc phục những sai lầm, khuyết điểm làm suy thoái Đảng, mất lòng tin của Nhân dân, có nguy cơ ảnh hưởng đến sự tồn vong của Đảng và chế độ. 2 nghị quyết ấy đã đi vào cuộc sống, tạo sự chuyển biến tích cực, củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng. Một lần nữa, sự vĩ đại của Đảng chính là ở sự tự chỉ trích, tự phê bình, dũng cảm tẩy rửa khỏi đầu óc và cơ thể mình những sai lầm, thậm chí dũng cảm đưa những cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cấp cao khi phạm sai lầm, có tội ra khỏi Đảng.

91 năm - một chặng đường dài, đã bao lần đứng trước nguy nan, trải nhiều thăng trầm, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn vững vàng tiến bước. Bởi trong mọi tình huống, Đảng luôn bình tĩnh, sáng suốt tiến hành tự chỉ trích, tự chỉnh đốn, tự đổi mới. Từ trong vấp ngã, sai lầm, Đảng tiếp tục tiến lên. Sự vĩ đại của Đảng Cộng sản Việt Nam, sức mạnh để Đảng trở nên vĩ đại chính là như thế!

Không ai khác, chính Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng ta thật vĩ đại”, 8 năm sau (năm 1968), trước khi qua đời một năm, Người tiếp tục khẳng định: Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân. Chống nghĩa cá nhân - kẻ thù bên trong của mỗi cán bộ, đảng viên là cuộc đấu tranh vô cùng gian khổ, nhiều khi đau đớn, nhưng đó chính là nỗi đau để trở thành vĩ đại. Không có gì làm cho ta vĩ đại hơn là cơn đau vĩ đại ấy, cơn đau của sự sinh thành và phát triển.

Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra các chủ trương, chính sách mới với quyết tâm chính trị rất cao. Đảng ta đang quyết tâm vượt qua chính mình để tiếp tục làm nên những thành tựu vĩ đại mới, vì Nhân dân, vì dân tộc!

Hội thảo “Thực hiện thí điểm các mô hình tổ chức mới và kiêm nhiệm chức danh”.

 Chiều 8-4, Ban Tổ chức Trung ương phối hợp với Tỉnh ủy Bạc Liêu tổ chức Hội thảo “Thực hiện thí điểm các mô hình tổ chức mới và kiêm nhiệm chức danh - Thực trạng và kinh nghiệm”. Đồng chủ trì Hội thảo có đồng chí Nguyễn Quang Dương, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương và đồng chí Lữ Văn Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội, Chủ tịch HĐND tỉnh Bạc Liêu. Hội thảo còn có sự tham dự của 18 ban, bộ, ngành Trung ương, lãnh đạo 21 tỉnh, thành khu vực phía Nam cùng các chuyên gia, các nhà khoa học.



Quang cảnh Hội thảo.
Phát biểu khai mạc Hội thảo, đồng chí Nguyễn Quang Dương, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương nhấn mạnh: Trước đó, Hội thảo khu vực phía Bắc được tổ chức tại Bắc Giang, Hội thảo khu vực miền Trung - Tây Nguyên tổ chức tại Quảng Nam, hôm nay Hội thảo được tổ chức tại Bạc Liêu với sự tham gia của 21 tỉnh, thành phía Nam có ý nghĩa rất quan trọng, là diễn đàn để các đồng chí lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương, các địa phương, các chuyên gia, nhà khoa học trao đổi, thảo luận, đánh giá kết quả thực hiện và rút ra một số bài học kinh nghiệm trong quá trình thực hiện thí điểm một số mô hình tổ chức mới và kiêm nhiệm chức danh trong thời gian qua. Đồng thời, Kết quả hội thảo sẽ là cơ sở lý luận và thực tiễn, đặc biệt là việc tổng kết thực tiễn, góp phần cung cấp cơ sở khoa học giúp Ban Tổ chức Trung ương và các cơ quan liên quan tham mưu Bộ Chính trị sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 18, Nghị quyết 19 về thí điểm các mô hình tổ chức mới. Đồng thời, các vấn đề được thảo luận cũng cung cấp những luận cứ quan trọng phục vụ xây dựng Đề án trình Hội nghị lần thứ 6 BCH Trung ương khóa XIII về tổng kết Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị”.
Phát biểu chào mừng Hội thảo, đồng chí Lữ Văn Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bạc Liêu nêu rõ: Với sự nỗ lực và quyết tâm chính trị cao, sau 25 năm tái lập, tỉnh Bạc Liêu từng bước phát triển rõ nét, đặc biệt là năm 2021 Bạc Liêu đã vượt qua đại dịch COVID-19, tăng trưởng kinh tế đứng thứ nhất khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Hôm nay, Bạc Liêu rất vinh dự khi được Ban Tổ chức Trung ương chọn tổ chức hội thảo tại địa phương. Đây là cơ hội để Bạc Liêu trao đổi, rút kinh nghiệm trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị hiệu lực, hiệu quả, nhất là quá trình triển khai thí điểm mô hình tổ chức mới và kiêm nhiệm chức danh thời gian qua.
Tại Hội thảo, các đại biểu đã thảo luận sâu về thực trạng, kinh nghiệm và nêu các giải pháp trong thời gian tới. Theo đó, việc triển khai thí điểm một số mô hình mới và kiêm nhiệm chức danh thời gian qua đã có một số kết quả nhất định, đó là đã góp phần tinh gọn bộ máy, giảm đầu mối, tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ; giảm thủ tục hành chính, tiết kiệm kinh phí. Hoạt động của các mô hình mới đã góp phần khắc phục sự chồng chéo, trùng lắp trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ, giảm được một số quy trình nghiệp vụ. Mô hình tổ chức mới buộc cán bộ phải tự hoàn thiện, cập nhật, bổ sung thêm kiến thức để đáp ứng nhu cầu công việc và là dịp để sàng lọc những vị trí việc làm kém hiệu quả, góp phần tinh giản biên chế. Việc thực hiện mô hình thí điểm mới và kiêm nhiệm chức danh buộc cấp ủy, chính quyền, cán bộ được giao trọng trách phải năng động, sáng tạo trong lãnh đạo, điều hành, thực thi nhiệm vụ.
Bên cạnh kết quả đạt được, các đại biểu cũng cho rằng: Việc thực hiện các mô hình thí điểm mới và kiêm nhiệm chức danh cũng nổi lên một số khó khăn, vướng mắc, bất cập nảy sinh trong thực tiễn như: các văn bản, hướng dẫn của cơ quan thẩm quyền không kịp thời, đồng bộ nên việc triển khai mô hình mới tại các địa phương không thống nhất; bất cập trong quá trình triển khai mô hình hợp nhất giữa các cơ quan thanh tra và kiểm tra; việc triển khai thí điểm không đồng bộ làm ảnh hưởng tới sự liên thông giữa các cấp. Cơ chế vận hành các cơ quan hợp nhất như chế độ thông tin, báo cáo, phối hợp công tác, thể thức văn bản, sử dụng con dấu, tài khoản… vẫn còn một số bất cập; cơ chế quản lý, sử dụng biên chế giữa khối đảng và khối chính quyền thiếu thống nhất… Các đại biểu đề xuất cần rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của Đảng, Nhà nước về tổ chức bộ máy của các cấp, các ngành, các địa phương, bảo đảm đồng bộ, thống nhất. Mạnh dạn thí điểm một số mô hình mới về thu gọn tổ chức bộ máy và kiêm nhiệm chức danh để tinh gọn đầu mối, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động.

Phát biểu kết luận tại Hội thảo, đồng chí Nguyễn Quang Dương, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương (ảnh trên) khẳng định: 42 tham luận của các cơ quan, đơn vị, thành ủy, tỉnh ủy tại Hội thảo đã rút ra rất nhiều kinh nghiệm, làm rõ những thuận lợi, khó khăn và đề xuất kiến nghị liên quan đến việc thí điểm các mô hình. Qua đó cho thấy rất nhiều địa phương hoàn thành rất tốt và vẫn còn một số địa phương vẫn vướng phải những bất cập. Ban Tổ chức Hội thảo sẽ tiếp thu tất cả các ý kiến, kiến nghị cùng 42 bài tham luận để có những kiến nghị với Trung ương.
Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Quang Dương nhấn mạnh: Quan điểm của Đảng về sắp xếp tinh gọn bộ máy luôn gắn với tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, do đó sắp tới Bộ Chính trị sẽ tiếp tục thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy bên trong của các cơ quan, tổ chức theo hướng giảm đầu mối trực thuộc, giảm trung gian, giảm số lượng cấp phó, cấp hàm. Riêng về vấn đề phân cấp, phân quyền mà các đại biểu đã đề cập tại Hội thảo này, đồng chí Nguyễn Quang Dương cho rằng rất quan trọng. Bộ Chính trị cũng đã có những chủ trương mới về đẩy mạnh việc phân cấp, đồng thời sẽ tiến hành sơ kết, tổng kết việc thực hiện thí điểm từng mô hình, đánh giá toàn diện tính hiệu quả của việc thí điểm, đề xuất lộ trình, cách làm phù hợp, có trọng tâm, trọng điểm ở từng ngành, lĩnh vực, địa bàn, báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét quyết định.


Nhân dịp diễn ra Hội thảo, Ban Tổ chức Trung ương đã vận động Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) tặng 10 căn nhà tình nghĩa trị giá 600 triệu đồng cho các gia đình chính sách tỉnh Bạc Liêu (ảnh trên).

Thủ tướng Chính phủ khen thưởng 2 tấm gương dũng cảm cứu người

 

Phó thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh vừa quyết định tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho anh Nguyễn Đức Chính, tỉnh Nam Định và ký Tờ trình đề nghị Chủ tịch nước tặng Huân chương Dũng cảm cho Đại úy Thái Ngô Hiếu.

Quyết định số 449/QĐ-TTg ngày 12-4-2022 tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho anh Nguyễn Đức Chính, thường trú: Tổ Dân phố số 8, thị trấn Thịnh Long, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, đã có hành động dũng cảm cứu người bị nạn trên sông Ninh Cơ, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định vào ngày 9-4-2022.

Phó thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh cũng ký Tờ trình 325/TTr-TTg ngày 12-4-2022 đề nghị Chủ tịch nước tặng Huân chương Dũng cảm cho Đại úy Thái Ngô Hiếu, Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ, Công an tỉnh Đồng Nai, Bộ Công an, đã có hành động dũng cảm cứu người, góp phần vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Thủ tướng Chính phủ khen thưởng 2 tấm gương dũng cảm cứu người

Anh Nguyễn Đức Chính (ảnh trái) và Đại úy Thái Ngô Hiếu là những tấm gương quên mình vì tính mạng của người dân. 

Trước đó, ngày 10-4, trong lúc tắm biển tại bãi tắm khu Resort Zenna thuộc xã Phước Tỉnh, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Trung úy Thái Ngô Hiếu, sinh năm 1989, cán bộ Đội chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ khu vực Trảng Bom, Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Công an tỉnh Đồng Nai nghe có người dân kêu cứu và phát hiện nhóm thanh niên xảy ra đuối nước tập thể tại khu vực nước rất sâu, chảy xiết và sóng biển lớn.

Với tinh thần dũng cảm, ngay lập tức, đồng chí Hiếu đã nhanh chóng bơi ra khu vực bị nạn anh dũng chiến đấu với cơn sóng lớn để cứu người, trực tiếp đưa được nhóm người vào bờ và bằng kỹ năng nghiệp vụ, đồng chí Hiếu đã thực hiện sơ cứu tại chỗ, cứu sống các nạn nhân, sau đó tiếp tục phối hợp với lực lượng chức năng và nhân dân sở tại tổ chức tìm kiếm được thi thể 1 nạn nhân còn lại.

Với những thành tích đã đạt được, đặc biệt là hành động hết sức dũng cảm, không sợ hiểm nguy, gian khổ, xả thân chấp nhận hy sinh đến tính mạng để cứu người dân bị đuối nước, thể hiện tinh thần, trách nhiệm với nhân dân, để lại hình ảnh đẹp về người chiến sĩ Công an trong lòng nhân dân, ngày 11-4-2022, Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an đã ký Quyết định thăng cấp bậc hàm sĩ quan nghiệp vụ từ Trung úy lên Đại úy đối với đồng chí Thái Ngô Hiếu, cán bộ Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Công an tỉnh Đồng Nai.

Ngày 9-4, anh Nguyễn Đức Chính, thường trú tại Tổ dân phố số 8, thị trấn Thịnh Long, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định đã không ngại nguy hiểm nhảy từ cầu Thịnh Long ở độ cao khoảng 30m xuống sông Ninh Cơ để cứu một nữ sinh lớp 8 đang chới với giữa dòng nước chảy xiết, đưa vào bờ an toàn.

Đây thực sự là những hành động dũng cảm, nghĩa hiệp, cao cả được nhân dân cảm phục, trân trọng. Những tấm gương quên mình vì tính mạng của người bị nạn này trong cộng đồng cần được kịp thời lan tỏa để nhiều người có thêm niềm tin vào những điều tốt đẹp trong cuộc sống. 

Nguồn: QĐND.