Thứ Năm, 14 tháng 4, 2022

BÁC HỒ DẶN CÁN BỘ, CHIẾN SĨ QUÂN ĐỘI PHẢI TIẾN TỚI

 

Là người cha thân yêu của lực lượng vũ trang, Bác Hồ dành tình cảm đặc biệt và sự chăm sóc ân cần, chu đáo cho bộ đội; từ tướng lĩnh chỉ huy đến các chiến sĩ ngoài mặt trận.

Hơn ai hết, Người thấu hiểu những gian nan, vất vả, hy sinh của Quân đội ta trong cuộc chiến giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Từ Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân-tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam, cho đến khi Người viết Di chúc để lại trước lúc đi xa, tình cảm và niềm tin yêu hy vọng của Người dành cho Bộ đội Cụ Hồ với truyền thống bách chiến bách thắng vẫn luôn đằm thắm, ân tình sâu nặng.

Với Quân đội ta, đó thực sự là nguồn động viên, cổ vũ to lớn, là tài sản tinh thần vô giá mà Bác trao gửi. Tình cảm của Bác với quân đội và tình cảm của quân đội với Bác là một mẫu mực hiếm thấy về mối quan hệ giữa lãnh tụ với cán bộ, chiến sĩ quân đội cách mạng, chỉ thấy ở Bác Hồ, ở danh xưng cao quý mà nhân dân trao tặng Bộ đội Cụ Hồ. Mẫu mực ấy còn thể hiện ở hành động dũng cảm của lớp lớp chiến sĩ các thế hệ tiếp nối nhau “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” để tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ.

“Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”- lời khen ngợi của Bác nhân dịp kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1964) đồng thời cũng là một thông điệp lịch sử, mệnh lệnh của Người đối với toàn quân-thiêng liêng mà chan chứa tình thương yêu và niềm tin mãnh liệt. Thời gian càng lùi xa, những lời khen ngợi, căn dặn của Bác đối với cán bộ, chiến sĩ toàn quân càng trở nên thấm thía, có sức lay động, thúc đẩy Quân đội ta tiến tới như Bác hằng mong, Đảng và nhân dân ta tin tưởng.

Vậy Bác đã căn dặn cán bộ, chiến sĩ quân đội phải tiến tới như thế nào? Những căn dặn của Bác vào lúc này, chúng ta cần thấm nhuần và thực hiện ra sao để giữ vững và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong điều kiện và hoàn cảnh mới? Trước hết, phải tiến tới bằng quyết tâm rèn luyện, phấn đấu, tu dưỡng không ngừng tiến bộ và phát triển; còn đối với tất cả mọi người, nhất là cán bộ, đảng viên, phải tiên phong gương mẫu cho quần chúng noi theo.

Phải tiến tới còn với nghĩa là phải hành động, lời nói phải đi đôi với việc làm, đã nói thì phải làm; “không ngại khó, ngại khổ”, “thắng không kiêu, bại không nản”, giữ vững ý chí chiến đấu, ra sức phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm để mỗi người trở nên tốt hơn, mỗi tổ chức, đơn vị trở nên mạnh hơn.

Phải tiến tới là tự vượt lên chính bản thân mình, có dũng khí và bản lĩnh chiến thắng chủ nghĩa cá nhân-thứ “giặc nội xâm” nguy hiểm nhất. Để tiến tới là cần phải tích cực học tập và rèn luyện suốt đời; học văn hóa và kỹ thuật quân sự, học chính trị để trau dồi lập trường tư tưởng vững vàng, học trong thực tiễn cuộc sống. Những việc này không chỉ đòi hỏi sự tự nguyện, tự giác của bản thân mà đòi hỏi còn phải có nghị lực, bản lĩnh, tinh thần nêu cao trách nhiệm, nhất là ở người đứng đầu.

Một vấn đề rất hệ trọng để thực hiện tốt việc tiến tới, cán bộ, chiến sĩ toàn quân phải gắn bó mật thiết, máu thịt với nhân dân, nghĩa là ai ai cũng phải làm tốt công tác dân vận, chú trọng binh vận, địch vận. Bác Hồ chính là tấm gương thực hành mẫu mực, sáng tạo, có tác dụng giáo dục rất lớn đối với cả quân và dân. Người khẳng định và chỉ rõ: “Không có dân thì không có bộ đội”, “Quân với dân phải như cá với nước”, “Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội”, “Quân đội ta là quân đội nhân dân, do dân đẻ ra, vì dân mà chiến đấu, yêu nước, yêu dân, cho nên hy sinh kham khổ”.

Do đó, bộ đội trong toàn quân, từ tướng lĩnh đến các binh sĩ phải luôn gần dân, sát dân, bám dân, giúp đỡ dân và hy sinh để bảo vệ dân. Phải gương mẫu về dân vận, sao cho ''đi dân nhớ, ở dân thương", "dân tin, dân phục, dân yêu...".

Cán bộ, chiến sĩ phải tiến tới theo chỉ dẫn của Bác Hồ đòi hỏi sự nỗ lực, phấn đấu toàn diện về mọi mặt, từ thể lực, trí lực, tâm lực, tức là sức khỏe, trí tuệ sáng suốt, mưu trí, dũng cảm, đoàn kết, nhất trí, thương yêu nhân dân, đó là đạo đức, nói rộng ra là nhân cách, phẩm giá Bộ đội Cụ Hồ, là văn hóa của quân đội, của nền khoa học và nghệ thuật quân sự hiện đại, là bản lĩnh chính trị của quân đội cách mạng.

Những chỉ dẫn của Người giản dị, thiết thực mà vô cùng sâu sắc, có ý nghĩa không chỉ trong thời chiến mà cả trong thời bình. Người nhấn mạnh vào mấy điểm cốt yếu: “Toàn dân đoàn kết. Tướng sĩ dũng cảm. Chính trị vững chắc. Chỉ huy khôn khéo. Bốn điều ấy hợp lại, làm cho kháng chiến nhất định thắng lợi”.

Những điều ấy vừa là chuẩn mực, phẩm chất và điều kiện để quân nhân tiến tới, để quân đội tiến tới chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc thành quả của cách mạng, của công cuộc đổi mới, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Hiện nay, để tiến tới, cán bộ, chiến sĩ toàn quân vừa có nhiều thời cơ thuận lợi, cũng vừa phải đối mặt với những khó khăn, thách thức và cả những nguy cơ hơn bao giờ hết. Đảng, Nhà nước, quân đội đang nêu cao quyết tâm, tín tâm, đồng tâm như chỉ dẫn của Người, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, chống được mọi biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, chống chủ nghĩa cá nhân.

Sâu xa là ra sức nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, đủ sáng suốt, tỉnh táo và bản lĩnh để vượt qua những cám dỗ của vật chất, danh lợi để giữ trọn lòng trung thành với Đảng, với nhân dân “tận trung với Đảng”, “tận hiếu với dân”, xứng đáng là Bộ đội Cụ Hồ.


GS, TS HOÀNG CHÍ BẢO

Quân đội nhân dân Việt Nam kiên quyết, kiên trì đấu tranh để bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc

 

Trước những hành động vi phạm chủ quyền biển, đảo của một số quốc gia đối với nước ta, các thế lực thù địch vẫn rêu rao rằng: “Khi đối đầu với Trung Quốc trên Biển Đông, tại các vùng tranh chấp, Quân đội Việt Nam không dám nổ súng, không dám đấu tranh, để mặc Trung Quốc muốn làm gì thì làm…”. Đó là những luận điệu xuyên tạc sự thật, cố tình kích động gây căng thẳng tình hình với mục đích đẩy chúng ta vào cuộc đối đầu quân sự có thể dẫn đến hậu quả khó lường.

Thực tiễn cho thấy, trong suốt thời gian Trung Quốc vi phạm chủ quyền của Việt Nam trên biển, các lực lượng Hải quân, Biên phòng, Cảnh sát biển của Quân đội Việt Nam đã phối hợp với kiểm ngư và ngư dân, luôn luôn có mặt 24/24h, thực hiện các hoạt động kiên quyết, kiên trì đấu tranh nhằm giữ vững chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

Với tinh thần dân tộc, lòng yêu nước luôn cháy bỏng trong mỗi công dân Việt Nam, hãy đưa đất nước ta ngày càng phát triển, giàu mạnh, tăng cường mọi tiềm lực, sánh vai được với các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới, đấu tranh, phản bác lại các luận điệu xuyên tạc tình hình Biển Đông của các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước. Mỗi người dân yêu nước cần tỉnh táo, bình tĩnh, kiên quyết, kiên trì, nhận thức rõ và kiên quyết đấu tranh làm thất bại các luận điệu xuyên tạc, kích động chống phá của các thế lực thù địch để có hành động đúng, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

                                                                             NQR

 

 


Đảng và Nhà nước ta nhất quán với chính sách “3 không” trong giải quyết tranh chấp trên Biển Đông


Trước diễn biến phức tạp mà Trung Quốc gây ra trên Biển Đông, các thế lực thù địch đã công kích, đòi Việt Nam phải thay đổi chính sách “3 không”, tiến đến hợp tác toàn diện, là đồng minh của Mỹ, Nhật Bản… để chống lại hành động xâm phạm chủ quyền từ phía Trung Quốc. Với chính sách “3 không: không tham gia lực lượng, liên minh quân sự của bên này chống bên kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của Việt Nam để chống lại nước khác; không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, thể hiện quan điểm độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của Đảng, Nhà nước ta về quốc phòng nói chung, công tác đối ngoại quốc phòng nói riêng, mang bản chất chế độ XHCN mà Việt Nam đang xây dựng, hướng đến sự hòa bình, thịnh vượng cho đất nước, khu vực và thế giới.

 Đảng ta luôn nhất quán với chính sách “3 không” đã được quy định trong hiến chương Liên hiệp quốc và có quan điểm biện chứng trong xác định đối tượng và đối tác, có hợp tác và có đấu tranh; giải quyết mọi bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên. Điều đó càng thể hiện quan điểm Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm đối với cộng đồng quốc tế nói chung, trong giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền biển, đảo trên Biển Đông nói riêng. Đồng thời, qua đó thể hiện sự nhất quán chính sách “3 không” trong sự nghiệp bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc.

NQR

Đường lối, chủ trương chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Đảng, Nhà nước ta hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với tình hình thế giới, khu vực và trong nước


Hiện nay, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, cạnh tranh giữa các nước lớn, xung đột, tranh chấp chủ quyền biển, đảo xảy ra ở nhiều nơi, trong đó có khu vực Biển Đông. Những điểm bất đồng giữa các quốc gia, dân tộc đều có xu hướng giải quyết trên nền tảng hòa bình, đối thoại, cùng nhau tìm giải pháp chung và trên nền tảng nguyên tắc nhất định của luật pháp quốc tế.

Đặc biệt, trong bối cảnh Trung Quốc có các hành động vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, Đảng, Nhà nước ta luôn giữ được chủ trương: "Giải quyết mâu thuẫn thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước về Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), nhằm tìm kiếm một giải pháp cơ bản và lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của các bên, tiến tới xây dựng Biển Đông thành vùng biển hòa bình, hợp tác và phát triển". Đảm bảo sự linh hoạt, mềm dẻo và giữ vững nguyên tắc không thể bác bỏ – chủ quyền quốc gia.

Chúng ta luôn kiên trì đấu tranh trên các mặt trận, mọi cấp độ, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các quốc gia trên thế giới, thẳng thắn đấu tranh kiên quyết, trao công hàm, tiếp xúc đại diện, lên tiếng phản đối Trung Quốc, yêu cầu tôn trọng chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Đồng thời, duy trì thường xuyên lực lượng chuyên trách, sử dụng biện pháp đấu tranh “hòa bình” không để xảy ra xung đột vũ trang. Bên cạnh đó, thường xuyên thông tin kịp thời tình hình diễn biến đến nhân dân, quản lý chặt chẽ tình hình an ninh trật tự và làm tốt công tác định hướng tư tưởng cho nhân dân.

Trước tình hình căng thẳng trên Biển Đông, thông qua đường lối đúng đắn, chúng ta vẫn bảo đảm và bảo vệ được lợi ích quốc gia dân tộc. Điều này cho thấy, chủ trương, đường lối, chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Đảng, Nhà nước ta hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế của thời đại.

NQR

Phản bác những luận điệu xuyên tạc về đường lối ngoại giao và hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước ta qua tổ chức những sự kiện đối ngoại lớn tại Việt Nam

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã tổ chức thành công nhiều sự kiện đối ngoại song phương và đa phương quan trọng. Việc hoàn thành xuất sắc vai trò chủ nhà của các sự kiện đối ngoại tổ chức tại Việt Nam có ý nghĩa to lớn trong việc cụ thể hóa và thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, không chỉ góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, mà còn là những bằng chứng sinh động, thuyết phục, phản bác đanh thép những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch về đường lối đối ngoại, hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước ta.

Do vị trí, tầm quan trọng và những thành tựu to lớn của đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta, thời gian gần đây, trước những diễn biến phức tạp của tình hình khu vực và thế giới, các thế lực thù địch gia tăng mũi nhọn tấn công xuyên tạc, chống phá đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa của Việt Nam.

Thủ đoạn của các thế lực là gia tăng cường độ, tần suất và diện bao phủ của các thông tin xuyên tạc về đối ngoại, tập trung vào những nội dung:

1- Thông tin sai lệch việc triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng của Đảng, Nhà nước ta. Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, nền ngoại giao của Việt Nam còn lạc hậu, đường lối bị động, một mặt, hội nhập do thiếu bản sắc nên bị hòa tan, mặt khác, lại cục bộ, “chọn bên” nên chưa có sức ảnh hưởng, thiếu cả độ rộng lẫn chiều sâu, nên đối ngoại chưa đủ sức giữ vị trí tiên phong để bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc (?!).

 2- Các thế lực thù địch tìm cách cản trở Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế, mặt khác, tác động, lôi kéo, mua chuộc các đối tác từ bên ngoài để gây sức ép, tác động vào bên trong đất nước; quốc tế hóa những vấn đề nội bộ của Việt Nam.

3- Lợi dụng các vấn đề đối ngoại để xuyên tạc các lĩnh vực có liên quan, âm mưu “một mũi tên trúng nhiều đích”, nhất là xuyên tạc các vấn đề nhạy cảm về chủ quyền, kinh tế, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo… Đơn cử, các thế lực thù địch bóp méo thông tin liên quan các vấn đề đối ngoại về chủ quyền, nhất là trong mối quan hệ với các nước lớn của ta, lợi dụng lòng yêu nước, tinh thần dân tộc để kích động người dân tạo nên các “phong trào” “bài”, “thoát” hay “thân”, “đồng minh”… với các nước lớn; trong quá trình đàm phán ký kết các hiệp định thương mại song phương, đa phương của ta, các thế lực thù địch thường xuyên thông tin sai lệch tác động lên các đối tác của ta, gây sức ép để quá trình đàm phán bất lợi, hòng đan cài những vấn đề chính trị trong các nội dung kinh tế… 

4- Chống phá trước, trong và sau các hội nghị ngoại giao lớn do Việt Nam tổ chức. Trước khi các hội nghị ngoại giao lớn diễn ra, các thế lực thù địch tung các thông tin sai lệch về tình hình đất nước, về công tác chuẩn bị, về đường lối ngoại giao của ta… gây nhiễu, rối thông tin, làm bất lợi việc tổ chức, kêu gọi “tẩy chay” sự kiện; trong hội nghị tiếp tục gửi các “thư ngỏ”, “kiến nghị” đến các đoàn, cơ quan ngoại giao nước ngoài yêu cầu can thiệp các vấn đề nhân quyền, dân tộc, tôn giáo…; sau hội nghị đưa ra các đánh giá hạ thấp, bôi đen, phủ định thành công của sự kiện, hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Trước những sự chống phá trên, công tác đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch về đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế là yêu cầu cấp thiết, thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó có việc đăng cai và tổ chức thành công những sự kiện, diễn đàn, hội nghị ngoại giao lớn. Thực tiễn cho thấy, thời gian qua, việc tổ chức thành công những sự kiện ngoại giao lớn đã góp phần quan trọng nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế; nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài để củng cố, bồi đắp, gia tăng sức mạnh nội lực, tiềm lực đất nước…, qua đó tự nó là minh chứng sinh động, bằng chứng thuyết phục để bẻ gãy những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch về đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước ta. 

Tuần lễ cấp cao APEC-2017 có sự hiện diện của lãnh đạo các nền kinh tế thành viên, trong đó có lãnh đạo các nền kinh tế lớn hàng đầu thế giới, cùng một số lượng kỷ lục doanh nghiệp trong nước và quốc tế tham gia (hơn 4.000 lượt doanh nghiệp). Những chuyến thăm mang tính lịch sử tới Việt Nam trong một sự kiện đối ngoại lớn này của các nhà lãnh đạo hàng đầu thế giới, cùng với việc đạt được nhiều thỏa thuận mang tầm chiến lược; có trên 50 cuộc gặp gỡ, tiếp xúc của lãnh đạo cấp cao của Việt Nam với các đối tác… đã mở ra những trang mới, nâng tầm quan hệ song phương, đa phương giữa Việt Nam với các đối tác, đưa quan hệ của ta với các đối tác lớn đi vào chiều sâu. Việt Nam đã để lại nhiều dấu ấn trong Năm APEC-2017, thông qua hàng loạt sáng kiến, nhằm góp phần nâng tầm hợp tác và xác lập hướng đi chiến lược của APEC trong trung và dài hạn. Nhiều văn kiện quan trọng được thông qua tại Tuần lễ cấp cao APEC-2017, trong đó quan trọng nhất là Tuyên bố cấp cao Đà Nẵng: “Tạo động lực mới, cùng vun đắp tương lai chung”. Vị thế, uy tín của Việt Nam trong APEC lần này là vị thế, uy tín của một nước chủ nhà đã nỗ lực, quyết tâm góp phần rất quan trọng vào thành công của Tuần lễ cấp cao APEC và nhiều sự kiện mang tầm quốc tế khác. Thành công của Năm APEC-2017 được bạn bè quốc tế tôn trọng, ghi nhận và đánh giá cao. Điều đó không những khẳng định vị trí chiến lược của Việt Nam ở khu vực, mà còn nói lên sự quan tâm, tình cảm đặc biệt mà các nền kinh tế thành viên APEC và cá nhân các nhà lãnh đạo APEC dành cho Việt Nam.

Hội nghị Thượng đỉnh Hoa Kỳ - Triều Tiên lần 2 là sự kiện quốc tế quan trọng, chưa có tiền lệ được tổ chức tại Việt Nam, thu hút sự quan tâm đặc biệt của báo chí, dư luận khu vực và thế giới, có số lượng phóng viên nước ngoài vào Việt Nam tác nghiệp đông nhất. Trong 2 ngày sự kiện diễn ra tại Hà Nội, đã có 2.600 phóng viên nước ngoài của 218 hãng báo chí, từ 37 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có 13 phóng viên từ 8 cơ quan báo chí của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ tham dự đưa tin. Những tin tức được truyền đi từ sự kiện không chỉ liên quan đến diễn biến của sự kiện, mà còn là thông tin, hình ảnh về một đất nước Việt Nam đổi mới và phát triển toàn diện, đất nước của khát vọng hòa bình. Đây chính là “cơ hội vàng” để hình ảnh đất nước, con người, thành tựu mọi mặt của Việt Nam đến với thế giới

Năm 2020 đánh dấu mốc lịch sử với đối ngoại, nhất là ngoại giao đa phương khi Việt Nam đồng thời là Chủ tịch ASEAN và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Năm Chủ tịch ASEAN 2020 được coi là cơ hội quan trọng để thể hiện bản lĩnh, khả năng và trí tuệ của đối ngoại Việt Nam trong việc triển khai đường lối đối ngoại đa phương với phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại nhằm tạo đà để Việt Nam vững tin mở rộng, nâng tầm quá trình hội nhập quốc tế của đất nước. Trên cương vị Chủ tịch ASEAN 2020, Việt Nam đã thể hiện và phát huy vai trò dẫn dắt, lãnh đạo ASEAN trong một năm thế giới đầy biến động, thông qua việc đưa ra và thống nhất nhiều sáng kiến và hợp tác nhằm ứng phó dịch bệnh COVID-19; đưa ra tuyên bố ủng hộ quan điểm của ASEAN về Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương (AOIP) cũng như lập trường nguyên tắc của ASEAN về đề cao thượng tôn pháp luật, tăng cường đối thoại, xây dựng lòng tin, kiềm chế, giải quyết hòa bình các tranh chấp, khác biệt trên cơ sở luật pháp quốc tế, mở rộng Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC), ký kết Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)... Qua những minh chứng cụ thể này cho thấy hình ảnh một Việt Nam chủ động, tích cực, có trách nhiệm trong giải quyết các công việc chung của khu vực. Dưới sự lãnh đạo, dẫn dắt khéo léo, linh hoạt, hài hòa, hiệu quả của Việt Nam, ASEAN đã thành công trong việc tiếp tục duy trì sự đoàn kết, thống nhất, giữ vững vai trò trung tâm trong cấu trúc khu vực, tăng cường các mối quan hệ hợp tác của các cường quốc, các đối tác trên thế giới và khẳng định được vị thế, uy tín của Hiệp hội trên trường quốc tế. Những thành công của Năm Chủ tịch ASEAN 2020 dưới sự dẫn dắt của Việt Nam trên cương vị Chủ tịch là một đỉnh cao thắng lợi của đường lối đối ngoại đa phương của Đảng, thể hiện tầm vóc và vị thế quốc tế ngày càng cao của Việt Nam.

Ngoài ra, Việt Nam còn tổ chức thành công nhiều sự kiện đối ngoại lớn, như Hội nghị Diễn đàn Kinh tế thế giới về ASEAN (2018), Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc 2019 (Vesak 2019)… Việc tổ chức các sự kiện ngoại giao lớn giúp Việt Nam đúc rút nhiều bài học kinh nghiệm quý, cả thành công và những mặt còn hạn chế, từ đó tạo cơ sở để chúng ta tự tin có thể tiếp tục tổ chức thành công những sự kiện ngoại giao hàng đầu của thế giới. Với những dấu ấn đó, Việt Nam tự hào vững tin bước tiếp trong hành trình hội nhập và phát triển cùng cộng đồng quốc tế, triển khai hiệu quả đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng đề ra, để vị thế Việt Nam ngày càng lớn mạnh, thể hiện thực lực đất nước và khát vọng phát triển ngày càng lớn mạnh, phồn vinh.

Thành công của việc tổ chức các sự kiện đối ngoại lớn ghi những mốc son mới trong tiến trình hội nhập quốc tế và thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế của Việt Nam, đồng thời cũng là một minh chứng hùng hồn, tự nó phản bác đanh thép lại những thông tin sai lệch, những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về đường lối đối ngoại và uy tín, vị thế quốc tế của Việt Nam.

Để tiếp tục phát huy thành công của các sự kiện đối ngoại được tổ chức ở Việt Nam, qua đó góp phần phản bác lại những thông tin, luận điệu xuyên tạc, sai trái, làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch chống phá đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước ta, cần tập trung thực hiện một số định hướng:

Một là, cấp ủy các cấp quán triệt sâu sắc, nâng cao nhận thức và triển khai thực hiện hiệu quả quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng ta, nhất là những điểm mới về đường lối đối ngoại tại Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, nhấn mạnh nhiệm vụ tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước.  Đổi mới nội dung, phương pháp, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền đối ngoại, góp phần củng cố đồng thuận xã hội, tăng cường sự ủng hộ và niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong triển khai chính sách đối ngoại, trong đó, chú trọng tuyên truyền những thành tựu của Việt Nam trong hội nhập quốc tế; những sáng kiến, đóng góp của Việt Nam trên các diễn đàn đa phương; các hoạt động đối ngoại cấp cao của Việt Nam; vai trò và các đóng góp của Việt Nam đối với ASEAN và Liên hợp quốc nói riêng và trong các vấn đề khu vực cũng như quốc tế nói chung. Qua đó, khẳng định uy tín quốc gia, vị thế đất nước trên trường quốc tế.

Hai là, cần bám sát tình hình thực tiễn, theo dõi sát tình hình quốc tế và trong nước, tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược, xây dựng kịch bản, phương án định hướng, xử lý tình huống trong tổ chức sự kiện đối ngoại. Nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác dự báo tình hình khu vực và thế giới. Xây dựng cơ chế phối hợp xử lý nhanh chóng, chính xác, hiệu quả các vấn đề quan trọng, nhạy cảm, đột xuất trong tổ chức sự kiện đối ngoại để chủ động hơn nữa trong định hướng dư luận và đấu tranh phản bác các thông tin sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, nhất là trong vấn đề Biển Đông, tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền… Chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các đối tượng thù địch. Tận dụng đa dạng các kênh truyền thông, nhất là các phương tiện truyền thông mới, bằng các ngôn ngữ khác nhau để lan tỏa các thông tin đối ngoại; làm chủ việc cung cấp thông tin trong quá trình tổ chức sự kiện đối ngoại.

Ba là, tổ chức sự kiện đối ngoại tại Việt Nam phải được quan tâm, chỉ đạo, đầu tư xứng đáng, cần tăng cường triển khai các sự kiện đối ngoại lớn, có tầm cỡ. Tổ chức sự kiện đối ngoại lớn tại Việt Nam là một phương thức hữu hiệu để nâng tầm uy tín, vị thế của đất nước, do vậy cần được quan tâm, đầu tư thích đáng, ngày càng chuyên nghiệp hóa và nâng tầm công tác tổ chức các sự kiện đối ngoại quốc tế quy mô, tầm vóc lớn. Tránh để xảy ra những sai sót, sơ hở trong các khâu tổ chức, dễ bị các thế lực xấu lợi dụng phản tuyên truyền chống phá.

Bốn là, tổ chức các sự kiện đối ngoại lớn ở Việt Nam cần kết hợp đẩy mạnh thông tin về những thành tựu đạt được, những đóng góp của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế.

Năm là, các cơ quan chỉ đạo, quản lý, các lực lượng thực hiện công tác tổ chức các sự kiện đối ngoại được tổ chức ở Việt Nam cần phát huy vai trò quan trọng của truyền thông quốc tế và vai trò của các phóng viên nước ngoài đến Việt Nam đưa tin, bài về sự kiện. Các tập đoàn, hãng thông tấn, báo chí nước ngoài uy tín giúp lan tỏa thông tin tích cực về Việt Nam với độ phủ thông tin rộng lớn đến dư luận quốc tế, từ đó góp phần phản bác lại những luận điệu sai lệch, xuyên tạc về Việt Nam của các thế lực thù địch một cách khách quan, thuyết phục.

Sáu là, phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái về Việt Nam hiện nay cần có phương thức phù hợp với từng thời điểm, giai đoạn nhất định. Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng không gian mạng, các phương tiện truyền thông xã hội chống phá, xuyên tạc đường lối đối ngoại, hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước ta. Bởi vậy, ngoài hình thức đấu tranh thông tin truyền thống, cần bổ sung những hình thức đấu tranh mới, như đấu tranh trực tiếp, trực diện trên không gian mạng, thông qua các phương tiện truyền thông xã hội; kết hợp giữa lan tỏa thông tin chiều rộng với ngày càng chú trọng công tác thông tin lý luận đối ngoại - đấu tranh có chiều sâu bằng lý luận bẻ gãy những luận điệu xuyên tạc, sai trái từ gốc; tăng cường hợp tác quốc tế, trao đổi thông tin với các tập đoàn, hãng thông lớn của thế giới, cộng hưởng sức mạnh truyền thông trong nước và quốc tế trong thông tin đối ngoại./.


Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về ý nghĩa, tầm quan trọng của xây dựng “thế trận lòng dân” trong tình hình mới

 

Hiện nay và trong những năm tới, trên thế giới, khu vực, xu hướng hợp tác, phát triển vẫn là chủ đạo nhưng cũng còn những yếu tố đe dọa hòa bình, an ninh quốc tế, đó là: chủ nghĩa ly khai, mâu thuẫn tôn giáo, sắc tộc, hoạt động khủng bố quốc tế; tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển đảo, trong đó có Biển Đông; đề cao, tuyệt đối hóa lợi ích quốc gia và chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa dân túy; tội phạm xuyên quốc gia, biến đổi khí hậu, dịch bệnh, nhất là dịch COVID-19… đã và đang tác động sâu sắc, trực tiếp đến quốc phòng, an ninh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nước ta. 

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền”, cùng với những sơ hở, thiếu sót của ta để xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt và ngày càng công khai, trực diện hơn. Trong đó, phá vỡ “thế trận lòng dân” được chúng xác định là một mục tiêu quan trọng cần tập trung chống phá nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tình đoàn kết quân - dân, làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, quân đội.

Xây dựng “thế trận lòng dân” là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, nhưng trước hết Quân đội nhân dân giữ vai trò là lực lượng nòng cốt. Để nâng cao hiệu quả xây dựng “thế trận lòng dân” của Quân đội trong tình hình mới phải thực hiện đồng bộ các giải pháp. Trong đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của xây dựng “thế trận lòng dân” trong tình hình mới. Đây là giải pháp cơ bản quan trọng hàng đầu, xuyên suốt quá trình xây dựng “thế trận lòng dân”, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Để thực hiện tốt giải pháp này, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần tập trung tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nắm chắc các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về công tác quân sự, quốc phòng, nhất là ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng, mục đích, yêu cầu, nội dung của xây dựng “thế trận lòng dân”.

Qua đó, làm cho mọi tổ chức, cơ quan, đơn vị và cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân nhận thức đúng đắn, đầy đủ nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” là chủ trương chiến lược cơ bản, lâu dài, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta; là nội dung cơ bản, vấn đề mấu chốt của việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân và xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân trong điều kiện mới; là nghĩa vụ trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, trực tiếp là của cấp, ủy chính quyền, địa phương, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt.

Đồng thời, làm cho mỗi cán bộ, chiến sĩ thống nhất nhận thức: xây dựng “thế trận lòng dân” là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên và cấp thiết của mọi quân nhân, tổ chức, lực lượng trong toàn quân và không một quân nhân, tổ chức, lực lượng nào được xem nhẹ nhiệm vụ này; đó là yêu cầu khách quan, không phải do ý muốn chủ quan của cá nhân hay tổ chức nào.

Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân về âm mưu, thủ đoạn, phương thức tiến hành “diễn biến hòa bình”, kết hợp với bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; về đối tác, đối tượng của cách mạng Việt Nam, đối tượng tác chiến của quân đội trong điều kiện mới; nhận diện đúng về các tổ chức (hội, nhóm) phản động, các phần tử chống đối Đảng, Nhà nước, Quân đội. Đặc biệt là âm mưu, thủ đoạn lợi dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo”, những vấn đề tiêu cực xã hội để kích động, chia rẽ Đảng, Nhà nước, Quân đội với nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, nhằm phá vỡ “thế trận lòng dân” trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thấy rõ thời cơ và thách thức đang đặt ra đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, trong xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân” nói riêng; phải làm cho “ý Đảng, lòng dân” về “thế trận lòng dân” thấm sâu vào mỗi người dân, trở thành tư tưởng chủ đạo trong xây dựng “thế trận lòng dân” thời kỳ mới.

Các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề Biển Đông để xuyên tạc, kích động chống phá cách mạng Việt Nam

Lợi dụng vấn đề Biển Đông trong thời gian gần đây các thế lực thù địch tăng cường các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam bằng cóc thủ đoạn rất tinh vi và hiểm độc.

Chúng lợi dụng sự phát triển của mạng xã hội để đẩy mạnh xuyên tạc, dựng chuyện, bịa đặt, tác động mạnh vào tâm lý, nhận thức của công chúng và xã hội. Trong những ngày qua dư luận tiến bộ trong nước và quốc tế không khỏi bức xúc khi trên mạng xã hội xuất hiện những thông tin xuyên tạc vấn đề chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam. Chỉ cần suy ngẫm, đối chiếu và nhìn nhận một cách thấu đáo, có thể kết luận đây là luận điệu của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động đang ra sức lợi dụng vấn đề Biển Đông để chống phá Đảng, nhà nước và nhân dân Việt Nam. Trên một vài trang mạng xã hội xuất hiện các diễn đàn tập hợp nhiều phần tử bất mãn, cho rằng: “Đảng, Nhà nước Việt Nam coi trọng việc củng cố xây dựng Đảng hơn vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo”; hoặc cố tình xuyên tạc đường lối, chủ trương, quan điểm đấu tranh giữ vững chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc thông qua những “thuyết âm mưu” nhuốm màu kích động như: "Việt Nam lôi bè kéo cánh, đi với nước này, chống nước kia; và rằng, không đánh nhau thì mất biển, mất đảo... ". Chúng quy chụp lãnh đạo cấp cao Đảng và Nhà nước ta "phản ứng chậm" hoặc "né tránh, không dám đối đầu, đang tâm để chủ quyền lãnh thổ quốc gia bị đe dọa”. Mưu đồ của những luận điệu này là khiến nhân dân mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước đối với bảo vệ chủ quyền biển, đảo ở nước ta. Càng nguy hiểm hơn chúng còn lợi dụng vấn đề chủ quyền lãnh thổ, trong đó có chủ quyền biển, đảo để kích động, kêu gọi người dân "xuống đường biểu tình" thể hiện lòng yêu nước như năm 2015 ở Hà Nội và Bình Dương. Từ đó, gây mất an ninh, trật tự xã hội và kiếm cớ để tiếp tục chống phá.

NQR

Phòng chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”của các thế lực thù địch nhằm phá vỡ “thế trận lòng dân”

 

Để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, trước hết, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần thường xuyên tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn và phương thức tiến hành của các thế lực thù địch hòng phá vỡ “thế trận lòng dân”, chia rẽ, phá hoại mối quan hệ đoàn kết quân dân. Đặc biệt là âm mưu xuyên tạc chức năng, nhiệm vụ, bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội, bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Chủ động vạch trần âm mưu, thủ đoạn thâm độc, tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch lợi dụng những sai phạm, tiêu cực của một số quân nhân để xuyên tạc bản chất, truyền thống quân đội, kích động, gây rối, chia rẽ quân đội với nhân dân và chống phá thành quả cách mạng nước ta.

Tuyền truyền, vận động nhân dân tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng đã lựa chọn. Đồng thời, tăng cường vận động, khích lệ quần chúng nhân dân nêu cao tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quân dân trong các cuộc kháng chiến trước đây, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, đồng tâm hiệp lực cùng Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc vượt qua mọi khó khăn, thử thách, vững bước trên con đường xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.

Tăng cường hơn nữa công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, thông tin, tuyên truyền làm cho cán bộ, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân nhận thức sâu sắc, đầy đủ vai trò, ý nghĩa của mối quan hệ “máu - thịt” quân dân. Đồng thời, phải tiếp tục đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về bản chất, truyền thống vẻ vang của Quân đội ta, nhất là mối quan hệ đoàn kết quân - dân gắn bó, như “cá với nước”.

Qua đó, bồi đắp, xây dựng lòng tự hào, ý thức trách nhiệm cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong vun đắp, giữ gìn, phát huy, phát triển mối quan hệ “máu - thịt” giữa quân với dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Cần thấm nhuần hơn nữa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Quân đội ta là quân đội nhân dân, là con em, ruột thịt của nhân dân; nhân dân là nền tảng sức mạnh, là cha mẹ của bộ đội, chỉ có trên nền tảng vững chắc là nhân dân, thì Quân đội mới hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Theo đó, từng cấp, ngành, cơ quan, đơn vị và mỗi cán bộ, chiến sĩ cần đề cao trách nhiệm trong tổ chức, thực hiện tốt mối quan hệ đoàn kết quân - dân; không ngừng tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội, xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới. Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải thực sự gương mẫu, đi đầu trong việc giúp đỡ nhân dân vượt qua thách thức, khó khăn trong cuộc sống, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư…

Tiếp tục đổi mới hình thức, biện pháp tuyên truyền, vận động nhân dân; kịp thời, nhạy bén nhận diện, phân loại và kiên quyết đấu tranh vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn, những quan điểm sai trái thù địch, những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Thực hiện nhất quán chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước; tuyên truyền, vận động nhân dân không tin, không nghe theo kẻ xấu kích động, gây rối trật tự, an toàn xã hội, để trì trệ sản xuất, kinh doanh, vượt biên trái phép, tham gia “tà đạo, đạo lạ” và các tổ chức bất hợp pháp.

Cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp trong Quân đội cần thường xuyên quan tâm chăm lo xây dựng môi trường văn hóa quân sự trong sạch, lành mạnh; phối hợp chặt chẽ với đảng bộ, chính quyền và nhân dân tiến hành tốt công tác “tuyên truyền đặc biệt” nhằm nắm vững và hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn, hoạt động phá hoại “thế trận lòng dân”, gây chia rẽ giữa nhân dân với Quân đội, từ đó có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi các tệ nạn, tiêu cực ngoài xã hội thẩm thấu, xâm nhập vào các cơ quan, đơn vị.

Mặt khác, phải làm tốt công tác bảo vệ an ninh, chính trị nội bộ, nhất là “tự bảo vệ” của cán bộ, chiến sĩ; chủ động thực hiện tốt công tác dự báo, bám sát, nắm chắc, phân tích đúng, giải quyết tốt tình hình tư tưởng, kỷ luật trong đơn vị. Đây là biện pháp hữu hiệu vừa quản lý tốt đội ngũ cán bộ, vừa chống biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; ngăn ngừa và làm thất bại thủ đoạn khoét sâu vào những hạn chế, khuyết điểm của cán bộ, chiến sĩ để chia rẽ, gây mất đoàn kết giữa nhân dân và Quân đội ta trong tình hình hiện nay.

Tích cực tham gia xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh. Thông qua công tác dân vận, các cơ quan, đơn vị quân đội tích cực giúp đỡ cấp ủy, chính quyền nhân dân địa phương giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; luôn là lực lượng đi đầu ở những nơi khó khăn, gian khổ nhất, kề vai sát cánh cùng nhân dân trong phòng, chống bão lũ, thiên tai, dịch bệnh, xóa đói giảm nghèo, xây dựng kinh tế… góp phần ổn định đời sống của nhân dân.

Các đơn vị quân đội đóng quân hoặc làm nhiệm vụ trên các địa bàn, phải xây dựng và duy trì thường xuyên nền nếp, chế độ nắm tình hình thực hiện mối quan hệ đoàn kết quân dân, phát hiện âm mưu, thủ đoạn chống phá mới của kẻ địch trên địa bàn, có kế hoạch hoạt động phù hợp và xử lý kịp thời những tình huống xảy ra, không để bị động bất ngờ. Thường xuyên thực hiện tự phê bình và lắng nghe ý kiến phê bình của cấp ủy, chính quyền, đoàn thể và nhân dân địa phương về thực hiện đoàn kết giữa đơn vị với nhân dân địa phương; định kỳ thông báo tình hình, rút kinh nghiệm phối hợp hoạt động giữa địa phương và đơn vị. Cùng với địa phương tổ chức tốt sơ kết, tổng kết các hoạt động Quân đội tham gia xây dựng cơ sở chính trị địa phương và địa phương tham gia xây dựng Quân đội, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, xây dựng “thế trận lòng dân” và xây dựng mối quan hệ đoàn kết quân dân trong thời kỳ mới.

Cấp ủy, chỉ huy các đơn vị quân đội phải thường xuyên rà soát và chủ động giải quyết đúng đắn, kịp thời những vấn đề còn tồn đọng từ trước và những vấn đề mới phát sinh trong quan hệ quân dân, có biện pháp khắc phục kịp thời, không để kéo dài, không để sơ hở cho các thế lực thù địch và phần tử xấu lợi dụng kích động quần chúng, gây chia rẽ quân đội với nhân dân, hoặc đẩy những vướng mắc nội bộ giữa quân đội với nhân dân thành mâu thuẫn đối kháng.

Khi tham mưu, phối hợp với cấp ủy, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể địa phương và các lực lượng chức năng trong giải quyết điểm nóng, vụ việc phức tạp như: khiếu kiện đông người, tranh chấp đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng... cần hết sức bình tĩnh, thận trọng, kiên trì, linh hoạt, mềm dẻo, lấy vận động, giáo dục và thuyết phục là chính; tuân thủ đúng pháp luật, đúng nguyên tắc, cơ chế và chức năng, nhiệm vụ được quy định, không để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, vu cáo, bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”.

Cùng với các nội dung, biện pháp trên, toàn quân cần phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, nhất là Ban chỉ đạo 35 và Lực lượng 47 ở các cấp, tăng tần suất, số lượng, chất lượng các bài viết trực tiếp đấu tranh trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên không gian mạng, tạo làn sóng mạnh mẽ vạch trần, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động nhằm vào quân đội, nhất là tổ chức nhiều vệt bài đấu tranh, phản bác trực diện những luận điệu xuyên tạc, hạ thấp, bôi nhọ bản chất, truyền thống đoàn kết quân - dân, góp phần xây dựng mối quan hệ đoàn kết quân dân ngày càng thêm bền chặt.

Phát huy kết quả đạt được, toàn quân tiếp tục đẩy mạnh công tác đối ngoại quốc phòng, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc

 


Là một đất nước đang hội nhập mạnh mẽ vào cộng đồng quốc tế, Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển với chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (tháng 12/2021), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khái quát: dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cơ sở vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa và phát huy truyền thống, bản sắc đối ngoại, ngoại giao và văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới và tư tưởng tiến bộ của thời đại, Việt Nam đã xây dựng nên một trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam. Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh cũng khẳng định: Nhìn tổng thể, đối ngoại đã phối hợp chặt chẽ với các ngành, lĩnh vực dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, tuyệt đối, toàn diện của Đảng và quản lý thống nhất của Nhà nước, phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và hệ thống chính trị, hoàn thành tốt các nhiệm vụ, phát huy vai trò tiên phong trong giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa.
        Đối ngoại quốc phòng là bộ phận của đối ngoại quốc gia, thực hiện quan điểm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ trong thời bình, nỗ lực ngăn ngừa không để xảy ra xung đột, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước.
Thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ, toàn diện công tác đối ngoại quốc phòng, đạt được nhiều kết quả nổi bật. Đó là, đã chủ động, tích cực tham mưu với Đảng, Nhà nước giải quyết các vấn đề chiến lược liên quan đến quốc phòng, an ninh, biên giới lãnh thổ của Tổ quốc, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Xử lý tốt quan hệ quốc phòng với các nước, đặc biệt là với các nước láng giềng, các nước lớn, tạo thế đan xen chiến lược, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc; tích cực củng cố tình hữu nghị, đoàn kết quốc tế, thúc đẩy quan hệ, hợp tác quốc phòng, tăng cường tiềm lực phục vụ nhiệm vụ xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; góp phần củng cố lòng tin chiến lược giữa Việt Nam với các nước, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế.
Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác quốc phòng với hơn 100 nước trên thế giới, trong đó có đầy đủ 05 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và tất cả các nước lớn trên nhiều lĩnh vực, cơ chế hợp tác thực chất, hiệu quả, như: đào tạo, trao đổi đoàn quân sự; hợp tác quân, binh chủng, công nghiệp quốc phòng; gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; đối thoại chính sách quốc phòng và hoạt động giao lưu quốc phòng biên giới, biên cương thắm tình hữu nghị, kết nghĩa đồn, trạm, cụm dân cư hai bên biên giới; diễn tập phòng, chống các thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống (quân y, cứu hộ - cứu nạn, cướp biển, tội phạm xuyên biên giới); tổ chức các hoạt động tuần tra chung trên biên giới, trên biển; tham gia Hội thao Quân sự Quốc tế Army Games, Hội thao Quân sự Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN); hợp tác trong khắc phục hậu quả chiến tranh, xử lý ô nhiễm bom, mìn và chất độc da cam/dioxin; tăng cường đối ngoại phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Trên bình diện đa phương, Quân đội nhân dân Việt Nam đã trở thành thành viên tích cực và trách nhiệm của các cơ chế, diễn đàn hợp tác quốc phòng đa phương ở khu vực và quốc tế, như: Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+), Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN (ARF), Đối thoại Shangri-La, Hội nghị an ninh quốc tế Moscow, Diễn đàn Hương Sơn - Bắc Kinh, Đối thoại Quốc phòng Seoul;… đồng thời, chủ động đóng góp xây dựng, đề xuất nhiều sáng kiến quan trọng tại các diễn đàn, cơ chế hợp tác này. Trong khuôn khổ Liên hợp quốc, nhất là từ năm 2014 đến nay, Việt Nam đã cử hơn 250 lượt cán bộ, nhân viên với 03 lượt bệnh viện dã chiến đến phái bộ Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi và Trụ sở Liên hợp quốc. Hiện tại, chúng ta đang hoàn tất công tác chuẩn bị để triển khai Đội Công binh tới Phái bộ UNISFA tại Sudan với quân số 184 cán bộ. Qua đó, khẳng định trách nhiệm của Việt Nam trong thực hiện các nghĩa vụ của quốc gia thành viên Liên hợp quốc, tích cực đóng góp vào công cuộc gìn giữ và kiến tạo hòa bình trên thế giới.
Những năm tới, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp, khó dự báo. Cạnh tranh chiến lược, xung đột cục bộ có thể diễn ra gay gắt hơn; chủ nghĩa dân túy, dân tộc cực đoan, thực dụng, cường quyền nước lớn trong quan hệ quốc tế gia tăng. Biển Đông vẫn tiềm ẩn nhiều bất trắc, khó lường. Các yếu tố an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, khủng bố, thiên tai, dịch bệnh,… vẫn tiếp diễn phức tạp, tác động đến việc triển khai thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, an ninh, trong đó có công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng.
Trước tình hình đó, đòi hỏi chúng ta phải thường xuyên nắm chắc, đánh giá, kết luận đúng tình hình; có nhiều giải pháp đồng bộ, quyết liệt nhằm tăng cường quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, không để đất nước bị động bất ngờ trong mọi tình huống; trong đó, công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng là một trong những nội dung quan trọng, cấp thiết. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”1. Đây là lần đầu tiên trong Văn kiện Đại hội Đảng xác định cụ thể và sâu sắc vị trí, vai trò của công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế. Điều đó làm sáng rõ hơn nhiệm vụ trọng yếu của công tác đối ngoại là tiên phong trong việc giữ vững môi trường hòa bình, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, thực hiện thắng lợi mục tiêu cao nhất là bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc.
Bám sát chủ trương trên, để phát huy những kết quả đã đạt được và tiếp tục đẩy mạnh công tác đối ngoại quốc phòng trong thời gian tới, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc, toàn quân cần tích cực, chủ động, không ngừng đổi mới, sáng tạo triển khai đồng bộ, quyết liệt các chủ trương, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại quốc phòng; trong đó, tập trung vào một số vấn đề cụ thể sau:
Một là, triển khai hoạt động đối ngoại quốc phòng theo đường lối đối ngoại đã được xác định trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII; Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 10/4/2013  của Bộ Chính trị (khóa XI) về “Hội nhập quốc tế”; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI và Nghị quyết số 806-NQ/QUTW, ngày 31/12/2013 của Quân ủy Trung ương về hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo, v.v. Quá trình triển khai cần bám sát, tuân thủ những vấn đề cốt lõi, có tính nguyên tắc,… đồng thời, có sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong thực tiễn sinh động của hoạt động quân sự, quốc phòng. Trên cơ sở đó, chủ động xây dựng nghị quyết, đề án, kế hoạch, chương trình hành động hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng, bảo đảm chặt chẽ, khoa học, có tính khả thi cao. Đẩy mạnh công tác đối ngoại quốc phòng theo phương châm “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả”; kết hợp giữa triển khai thực hiện với cập nhập bổ sung, điều chỉnh nội dung các chương trình, kế hoạch, đề án về đối ngoại quốc phòng phù hợp với điều kiện mới, nhất là trong tình hình dịch Covid-19.
Hai là, tiếp tục kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; kiên trì thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, gia tăng cơ hội hợp tác, giảm thiểu nguy cơ xung đột, đối đầu, tránh bị cô lập, lệ thuộc hoặc rơi vào thế phải “chọn bên”. Quá trình thực hiện, cần kết hợp chặt chẽ giữa tập trung phát huy nội lực, với tranh thủ sức mạnh của quốc tế và thời đại. Trong đó, việc phát huy nội lực cần chú trọng tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị; củng cố, phát huy thế trận vững chắc quốc phòng - an ninh - đối ngoại dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Ba là, tiếp tục nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, dự báo và tham mưu chiến lược về đối ngoại quốc phòng, nắm chắc các động thái mới ở khu vực và thế giới, cạnh tranh chiến lược, tập hợp lực lượng, can dự của các nước lớn, tình hình Biển Đông; chú trọng đánh giá, phân tích thuận lợi, khó khăn, tác động trực tiếp đến nhiệm vụ đối ngoại quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; trên cơ sở đó, chủ động tham mưu giúp Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng hoạch định kế hoạch, chiến lược đối ngoại phù hợp. Trước mắt, tập trung xây dựng Chiến lược Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo bảo đảm chặt chẽ, khoa học và có tính khả thi cao.
Bốn là, chú trọng đưa quan hệ hợp tác quốc phòng song phương với các đối tác, nhất là với đối tác quan trọng, có vị trí chiến lược; đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả, thiết thực, phù hợp với lợi ích của ta và đối tác. Trong đó, cần chú trọng phát huy đặc trưng, lợi thế của đối ngoại quốc phòng trong xây dựng lòng tin chiến lược với các nước; trên nền tảng đó, đẩy mạnh hợp tác về khoa học kỹ thuật quân sự, thương mại quân sự,… tạo thế đan xen lợi ích, tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài để tăng cường tiềm lực quốc phòng cho đất nước. Tiếp tục ưu tiên quan hệ, hợp tác quốc phòng với các nước láng giềng, các nước lớn, các nước ASEAN và các nước bạn bè truyền thống; đồng thời, mở rộng quan hệ, hợp tác với các đối tác có tiềm năng. Rà soát và triển khai thực hiện có hiệu quả các văn bản đã ký kết với các đối tác.
Năm là, tiếp tục nâng tầm đối ngoại quốc phòng đa phương theo tinh thần Chỉ thị số 25-CT/TW, ngày 08/8/2018 của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030; Chỉ thị số 12-CT/TW, ngày 05/01/2022 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu quả đối ngoại nhân dân trong tình hình mới. Quá trình thực hiện cần theo hướng mở rộng lĩnh vực, địa bàn, quy mô; tích cực, chủ động đưa ra sáng kiến và tham gia có trách nhiệm, hiệu quả vào các cơ chế, diễn đàn an ninh khu vực và quốc tế, nhất là cơ chế hợp tác quốc phòng trong khuôn khổ ASEAN. Tiếp tục đẩy mạnh tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc theo Nghị quyết số 130/2020/QH14, ngày 13/11/2020 của Quốc hội; gắn đối ngoại quốc phòng với các mặt trận đối ngoại, nhất là đối ngoại nhân dân. Phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương và cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài để phục vụ tốt các hoạt động đối ngoại cấp cao của Lãnh đạo Đảng và Nhà nước; phát huy vai trò, hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo Hội nhập quốc tế và Đối ngoại quốc phòng của Bộ Quốc phòng.
Sáu là, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại quốc phòng, làm cho bạn bè quốc tế hiểu rõ chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ của Việt Nam. Trong đó, cần tích cực đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp thông tin, tuyên truyền đối ngoại theo hướng thiết thực, hiệu quả, phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụ đối ngoại quốc phòng Việt Nam và xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế; kết hợp tuyên truyền đối ngoại quốc phòng với quảng bá hình ảnh đất nước, con người và Quân đội nhân dân Việt Nam với các nước, nhằm nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Tiếp tục hoàn thiện, nâng cao chất lượng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến đối ngoại quốc phòng, bảo đảm phù hợp luật pháp, thông lệ quốc tế và đồng bộ, thống nhất với văn bản pháp luật đối ngoại quốc gia, phù hợp với đặc điểm hoạt động đối ngoại quốc phòng, đáp ứng cả yêu cầu trước mắt và lâu dài.
Bảy là, quan tâm xây dựng nguồn nhân lực đối ngoại quốc phòng, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền ngoại giao hiện đại của đất nước. Theo đó, cùng với đẩy mạnh xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại quốc phòng nói chung, cần tập trung nâng cao chất lượng xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại quốc phòng chuyên trách có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Quân đội; có trình độ, năng lực chuyên môn đối ngoại cao; có tư duy đối ngoại tầm chiến dịch, chiến lược; có năng lực tham mưu, quản lý và hướng dẫn hoạt động thực tiễn; nhạy bén, sắc sảo, linh hoạt trong xử lý các tình huống đối ngoại,… đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ quan trọng này. Tiếp tục kiện toàn cơ quan đối ngoại trong toàn quân, trọng tâm là các quân khu, lực lượng trực tiếp thực hiện công tác đối ngoại quốc phòng, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng trong tình hình mới.







Quân đội với xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc

 

Những năm qua, các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền”, cùng với những sơ hở, thiếu sót của ta để xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt và ngày càng công khai, trực diện hơn. Trong đó, phá vỡ “thế trận lòng dân” được chúng xác định là một mục tiêu quan trọng cần tập trung chống phá nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tình đoàn kết quân - dân, làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, quân đội, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội…

Trước tình hình đó, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị đã lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn toàn quân quán triệt, triển khai, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng “thế trận lòng dân”, coi đây là nhiệm vụ chiến lược thường xuyên, lâu dài, liên tục, là một trong những nội dung quan trọng của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam; góp phần quan trọng vào việc quy tụ, tập hợp các tầng lớp nhân dân cùng chung tay, góp sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Các cơ quan, đơn vị của Quân đội đã luôn chủ động phối hợp với cấp ủy, chính quyền, ban, ngành, đoàn thể, địa phương tổ chức tuyên truyền, vận động nhân dân và cán bộ, chiến sĩ phát huy truyền thống yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc thực hiện thắng lợi các nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; Trong phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, bão lũ, cứu hộ, cứu nạn cũng như phòng, chống dịch bệnh… các đơn vị xác định rõ đây vừa là nhiệm vụ chính trị, vừa là nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình của Quân đội, đã luôn chủ động triển khai đồng bộ từ khâu lập kế hoạch, dự kiến phương án, đến việc chuẩn bị đầy đủ lực lượng, phương tiện, sẵn sàng cơ động làm nhiệm vụ khi có lệnh và khi đã xảy ra, các cán bộ, chiến sĩ Quân đội cũng luôn là lực lượng nòng cốt, đi đầu, kịp thời có mặt, vượt qua hiểm nguy, chia ngọt, sẻ bùi cùng nhân dân.. góp phần tạo sự đồng thuận trong xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.  Làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn cả nước. Cùng với đó, đã tích cực tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở địa phương vững mạnh, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, “xóa” thôn, bản “trắng đảng viên”. Chủ động tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng lực lượng vũ trang tại chỗ vững mạnh; thường xuyên xây dựng, bổ sung các phương án, tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ, xử lý các tình huống phức tạp về quốc phòng, an ninh, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Những kết quả đó đã khẳng định nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” của Quân đội đã có bước đổi mới toàn diện cả về nội dung, cách làm, sát chức năng, nhiệm vụ, đối tượng, địa bàn và điều kiện của đơn vị, đạt hiệu quả thiết thực; là cầu nối để tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt quân dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và Quân đội, xây dựng “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc.

Cảnh giác trước âm mưu phá hoại Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch

 

Thời gian qua, lợi dụng các trang mạng xã hội, các thế lực thù địch lại tiếp tục tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước, đặc biệt là Quân đội ta. Âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá Quân đội tuy chưa thể làm ảnh hưởng đến tinh thần, sức chiến đấu của quân đội ta, nhưng sự tồn tại của âm mưu này là hết sức nguy hiểm. Trong các luận điệu của mình, các thế lực thù địch không trực tiếp bàn về vấn đề lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, về bản chất giai cấp công nhân của quân đội, không bàn về “đổi mới xây dựng quân đội”, “nghiên cứu mô hình xây dựng quân đội hiện đại”… mà chúng lại lợi dụng những sơ hở trong sinh hoạt, học tập, huấn luyện của một số đơn vị khi có sự việc nội bộ xảy ra, cố tình tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ nhằm hạ thấp uy tín của Quân đội nhân dân Việt Nam. Chúng mong muốn rằng, dư luận xã hội, dư luận quân nhân về các vấn đề trên ngày một dâng cao, với mục đích tạo áp lực xã hội để thay đổi cách thức lãnh đạo, phương thức xây dựng quân đội. Chúng cũng mong muốn rằng, với nội dung, cách thức tuyên truyền “mập mờ trắng đen”, sẽ hằng ngày hằng giờ lay động nhận thức, thái độ, niềm tin, tạo ra sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong xã hội và trong quân đội.

Nhận thức rõ âm mưu này, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tăng cường quán triệt tới mọi quân nhân, thường xuyên nâng cao bản lĩnh chính trị cho cán bộ chiến sĩ. Bởi vì, bản lĩnh chính trị của bộ đội ta là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu, trình độ sẵn sàng chiến đấu của quân đội và từng đơn vị, giữ vai trò định hướng thúc đẩy hành động và hành vi của bộ đội. Đây là một trong những biện pháp quan trọng, nhằm bảo đảm cho các đơn vị trong quân đội đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống; là biện pháp trực tiếp đánh bại âm mưu thủ đoạn của kẻ thù hòng phá hoại quân đội về tổ chức, làm suy giảm khả năng và vô hiệu hóa sức mạnh chiến đấu của quân đội làm ảnh hưởng trực tiếp đến yếu tố chính trị tư tưởng của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội ta.

Cùng với đó là làm tốt công tác quản lý nội bộ đơn vị. Đây là biện pháp tích cực và hữu hiệu nhằm chống lại có hiệu quả mưu đồ nắm bắt thông tin nội bộ của một số đối tượng. Do đó, nội dung quản lý chính trị nội bộ ở trong từng đơn vị phải toàn diện; đặc biệt, trong nhiệm vụ huấn luyện, học tập, công tác. Trong phòng chống “Diễn biến hòa bình” về chính trị tư tưởng cần tập trung vào quản lý lập trường quan điểm, thái độ chính trị, các mối quan hệ của từng quân nhân. Đồng thời, làm tốt công tác phối hợp với các lực lượng như công an, cấp ủy, chính quyền địa phương ở cơ sở nắm chắc tình hình an ninh chính trị, xử lý kịp thời các tình huống có thể xảy ra.

Phòng chống “Diễn biến hòa bình”, của các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta, bảo vệ quân đội là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách hàng đầu, là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh của dân tộc ta. Kiên định sự lãnh đạo của Đảng, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng, thường xuyên cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cao, nâng cao sức mạnh tổng hợp của quân đội, kịp thời xử lý có hiệu quả các tình huống có thể xảy ra là trực tiếp góp phần đánh bại chiến lược “Diễn biến hòa bình”, của các thế lực thù địch đối với quân đội ta.

                                                                                                                   NQR

 

Luận điệu suy diễn, xuyên tạc quan điểm của Việt Nam về xung đột Nga – Ukraine

 

Mặc dù Việt Nam đã nhiều lần nêu quan điểm chính thức về xung đột Nga - Ukraine, đó là Việt Nam kêu gọi các bên liên quan giảm leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải pháp lâu dài trên cơ sở luật pháp quốc tế, ấy thế nhưng, trên Internet, mạng xã hội, một số người lại đang cố tình đưa ra những luận điệu sai trái, suy diễn xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, danh dự của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Ngày 2/3, tại phiên họp khẩn cấp lần thứ XI, Đại hội đồng Liên hợp quốc (LHQ) đã thông qua nghị quyết kêu gọi Nga rút quân khỏi Ukraine. Sau khi nghị quyết trên được thông qua và thông tin các nước thành viên LHQ thể hiện quan điểm, trên một số diễn đàn Internet, mạng xã hội, một số cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đã đưa ra những luận điệu sai trái, suy diễn rằng quan điểm của Việt Nam là “mơ hồ, không rõ ràng”, Việt Nam đã không đi theo số đông, cố tình tìm cách lựa chọn quan điểm trung lập đối với cuộc xung đột Nga - Ukraine.

Từ việc nêu những câu hỏi mang tính suy diễn chủ quan, nhiều bài viết đưa ra luận điệu quy chụp, cho rằng các quốc gia chọn giữ thái độ trung lập là những quốc gia “phần lớn đổ lỗi cho phương Tây đã kích động các điều kiện dẫn đến cuộc xung đột này”.

Một số người cuốn theo lối suy diễn trên, cũng đưa ra các bình luận tiêu cực, thậm chí kích động tư tưởng chống phá. Có trang mạng dùng thủ đoạn đưa ra thăm dò rồi cho những thành phần trong nhóm click vào lựa chọn theo chủ ý của người đặt bình chọn, từ đó lấy cớ vu cáo “người dân ủng hộ đa số” còn quan điểm của Nhà nước “chỉ là thiểu số”! Cá biệt, có luận điệu xuyên tạc rằng, phải chăng Việt Nam đang ngấm ngầm ủng hộ cho cuộc chiến tranh, quay lưng với hoà bình?

Trong khi đó, trên một số trang báo nước ngoài xuất hiện các luận điệu mang tính chỉ trích, phê phán việc thông tin cuộc xung đột trên báo chí trong nước, từ đó tìm cách hướng lái nhằm cuốn người đọc theo chủ đích, ý đồ của họ. Thậm chí, một số bài viết còn đưa ra những luận điệu theo kiểu lập lờ đánh lận con đen, đưa ra những câu hỏi, nghi vấn mang tính quy chụp, bôi nhọ quan điểm, uy tín Việt Nam trong quan hệ đối ngoại. Nhiều bài viết bằng lối phân tích tỏ ra có trình độ, hiểu biết kiểu “chuyên gia” song thực chất nhận thức rất lệch lạc, lộ rõ ý đồ, động cơ chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Đối với vấn đề xung đột Nga - Ukraine, Việt Nam đã nhiều lần nêu quan điểm chính thức của mình. Ngày 1/3, phát biểu khi Đại hội đồng LHQ tổ chức phiên họp khẩn cấp lần thứ XI thảo luận về tình hình Ukraine, Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng phái Đoàn thường trực Việt Nam tại LHQ đã nhấn mạnh rằng: “Lịch sử của chính dân tộc chúng tôi hứng chịu các cuộc chiến tranh đã nhiều lần chỉ ra rằng, cuộc chiến tranh và xung đột đến tận ngày nay thường bắt nguồn từ các học thuyết lỗi thời đề cao chính trị cường quyền, tham vọng thống trị áp đặt và sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế. Một số xung đột vẫn còn gắn liền với những yếu tố lịch sử, ngộ nhận và hiểu lầm. Với trải nghiệm của chính mình, Việt Nam thấu hiểu rằng chiến tranh và xung đột khi nổ ra chỉ gây ra đau khổ sâu sắc cho người dân và hậu quả nghiêm trọng đối với nhiều khía cạnh trong đời sống của các quốc gia có liên quan trực tiếp cũng như của các quốc gia khác”.

Đại sứ nêu rõ, trong bối cảnh đó, Việt Nam đã nhiều lần nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tôn trọng luật pháp quốc tế và Hiến chương LHQ. Mọi tranh chấp quốc tế cần được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, dựa trên các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương LHQ, bao gồm các nguyên tắc về bình đẳng chủ quyền, độc lập chính trị và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia và không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực. Tất cả các quốc gia lớn hay nhỏ đều phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản này.

Trên cơ sở đó, Đại sứ Đặng Hoàng Giang nhấn mạnh: “Việt Nam kêu gọi các bên liên quan giảm leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải pháp lâu dài có tính đến lợi ích và quan ngại của tất cả các bên, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia. Các giải pháp như vậy sẽ chấm dứt những khổ đau và đóng góp cho hòa bình, an ninh và phát triển ở châu Âu và thế giới nói chung”.

Ngày 3/3, tại họp báo thường kỳ, trả lời báo chí về việc bỏ phiếu của Việt Nam, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng đã khẳng định: “Quan điểm của chúng tôi là Việt Nam luôn theo dõi sát sao và hết sức quan ngại về tình hình Ukraine”. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nhấn mạnh: “Chúng tôi cho rằng, ưu tiên hiện nay là cần kiềm chế tối đa, chấm dứt các hành động sử dụng vũ lực để tránh gây thương vong và tổn thất đối với dân thường, nối lại đàm phán đối thoại trên tất cả các kênh để đạt được các giải pháp lâu dài có tính đến lợi ích chính đáng của tất cả các bên trên cơ sở phù hợp với Hiến chương LHQ và nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế”.

Như vậy, xuyên suốt trong các tuyên bố, phát ngôn, quan điểm nhất quán của Việt Nam là kêu gọi chấm dứt hành động sử dụng vũ lực, nối lại đối thoại và tìm kiếm giải pháp lâu dài cho các bất đồng. Kể từ khi cuộc xung đột Nga - Ukraine nổ ra cho đến thời điểm hiện tại, chưa có bất kỳ phát ngôn và hành động nào của Việt Nam đề cập đến việc ủng hộ việc sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề xung đột giữa Nga và Ukraine và Việt Nam cũng không “thiên vị” hay đứng về bất kỳ một bên nào xoay quanh xung đột giữa Nga và Ukraine. Những luận điệu cho rằng Việt Nam đứng bên này để chống bên kia, “cổ suý chiến tranh” là hoàn toàn sai trái, bịa đặt.

Hiến pháp năm 2013 và Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (sửa đổi, bổ sung năm 2011) của Việt Nam đã nêu rõ chính sách đối ngoại của Việt Nam là thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Về chính sách quốc phòng, Việt Nam đã nhiều lần nêu rõ, Việt Nam giữ vững nguyên tắc 4 không: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Để giành độc lập dân tộc và tự do, bảo vệ nền hòa bình của Tổ quốc, nhân dân Việt Nam đã phải hy sinh biết bao xương máu. Bằng các cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất qua nhiều thế hệ, dân tộc Việt Nam đã khẳng định rằng, quyền thiêng liêng, cơ bản nhất của con người là quyền được sống trong hòa bình, độc lập, tự do, quyền được tự quyết vận mệnh của mình. Bởi vậy, hơn ai hết, nhân dân Việt Nam luôn mong muốn xây dựng một môi trường hòa bình, hiểu biết, đoàn kết và yêu thương nhau, cùng xây dựng thế giới ngày càng tốt đẹp.

Đối với Việt Nam, cả Nga và Ukraine đều là đối tác quan trọng. Do đó, Việt Nam kêu gọi Nga và Ukraine giảm căng thẳng, ngừng bắn, bảo đảm an ninh an toàn, nhu cầu thiết yếu của người dân, bảo đảm an ninh an toàn cho cộng đồng người nước ngoài đang sống tại Ukraine, trong đó có người Việt Nam. Việt Nam luôn khẳng định lập trường không thay đổi, đó là Việt Nam không đứng về bên này chống bên kia hay ngược lại mà luôn đứng về lẽ phải, về công lý, luật pháp quốc tế.

Như vậy, những luận điệu sai trái, xuyên tạc quan điểm của Việt Nam đối với vấn đề xung đột Nga - Ukraine trên Internet, mạng xã hội của một số cá nhân, tổ chức thực chất là nhằm bôi nhọ, hạ thấp danh dự, uy tín của Việt Nam; xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

                                                                                                                   NQR