Thứ Năm, 14 tháng 4, 2022

NHỮNG KẺ GIẢ DANH VÌ DÂN VÀ “VIÊN ĐẠN BỌC ĐƯỜNG” “Diễn biến hòa bình” là chiến lược của các nước đế quốc và thế lực phản động quốc tế, sử dụng như một phương tiện, công cụ để tấn công các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) và những quốc gia tiến bộ nhằm thay đổi thể chế chính trị-xã hội từ bên trong theo hướng có lợi cho họ, bằng biện pháp phi quân sự là chủ yếu, thực hiện chiến thắng chủ nghĩa xã hội (CNXH) không cần chiến tranh. Chiến lược “diễn biến hòa bình” được Đảng ta xác định là một trong 4 nguy cơ ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ. Thủ đoạn của những kẻ giả danh vì dân, vì nước Trên các diễn đàn, hội nhóm thời gian qua, chúng ta chứng kiến không ít luận điệu rêu rao rằng học thuyết Mác-Lênin là "lạc hậu", là "sai lầm". Họ tỏ ra tiếc nuối, hối hận vì đi theo “con đường CNXH” của Mác và phát đi những tiếng kêu lạc lõng kêu gọi xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng ta là Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Khi đất nước diễn ra các sự kiện quan trọng như đại hội đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp, chúng ta lại thấy “một đội quân bàn phím” tán phát nhiều tài liệu với những luận điệu xuyên tạc, giả danh vì dân, vì nước để đòi: Xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013; đòi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”; đòi “phi chính trị hóa quân đội và công an”... Hay xuyên tạc rằng: “Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội nước ta là không chính danh, chỉ là hội nghị Đảng Cộng sản mở rộng”; “cuộc bầu cử chỉ do Đảng độc diễn, người dân không có vai trò gì”... Thực chất, đây là những thủ đoạn đòi xây dựng một thiết chế bầu cử theo kiểu phương Tây... Ngoài ra, chúng lợi dụng một số sai phạm của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ cấp cao, rồi hồ đồ lớn tiếng vu khống, dựng chuyện. Khi có những sự kiện ở khu vực, thế giới ảnh hưởng đến Việt Nam, chúng lại lên mạng xã hội, tập hợp những phần tử cơ hội, bất đồng chính kiến kêu gọi tuần hành phản đối, gây sức ép đối với hệ thống chính trị các cấp, làm rối loạn trật tự, an toàn xã hội... Những việc làm, thủ đoạn trên của các thế lực thù địch trước hết nhằm tìm mọi cách xóa bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh-nền tảng tư tưởng của Đảng ta để thay thế bằng tư tưởng tư sản. Chúng xác định rõ, chính trị, tư tưởng là mặt trận hàng đầu, là khâu đột phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam trong tình hình hiện nay. Do vậy, đây là mục tiêu nhất quán của chiến lược “diễn biến hòa bình” chống CNXH mà các thế lực thù địch hướng tới. Thứ hai, chúng muốn xóa bỏ vị trí, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm thực hiện “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”. Về thực chất, chúng mưu đồ hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; nhen nhóm lực lượng phản động chống đối để giành quyền thống trị xã hội cho giai cấp tư sản. Ba là, chúng muốn gây mất ổn định về chính trị ở nước ta. Chúng tác động vào những cán bộ, đảng viên thiếu rèn luyện, tu dưỡng, từng bước làm tha hóa họ, dùng “cộng sản diệt cộng sản”, “cộng sản con diệt cộng sản cha”. Chúng không tiếc công sức và tiền bạc để thực hiện những hành vi lén lút, lôi kéo những người có chính kiến bất đồng, chống CNXH, chống sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dùng họ như một “con rối chính trị” trong tay để thực hiện mưu đồ về chính trị. Với quần chúng nhân dân, chúng kích động những vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo”, tạo tâm lý hoài nghi, giảm dần niềm tin vào Đảng và hệ thống chính trị ở nước ta, gây mâu thuẫn nội bộ, làm mất sự đồng thuận xã hội. Bốn là, bằng nhiều thủ đoạn bao vây, cấm vận kinh tế, lợi dụng các tổ chức quốc tế, tác động từng bước, làm suy yếu tiềm lực kinh tế, xâm nhập, chi phối, lũng đoạn kinh tế-tài chính, chuyển hóa nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta chệch hướng theo con đường tư bản chủ nghĩa. Năm là, xóa bỏ nền văn hóa, đạo đức, lối sống của chế độ XHCN, nhường chỗ để văn hóa, đạo đức, lối sống tư sản xâm nhập vào. Từ đó làm tha hóa phẩm chất, đạo đức con người, làm băng hoại nhiều giá trị truyền thống của dân tộc ta, dẫn đến rối loạn an ninh chính trị, trận tự an toàn xã hội. Sáu là, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, mục tiêu là loại bỏ sự lãnh đạo của Đảng ta đối với quân đội và công an, hòng tạo ra sự bất ổn chính trị trong nước và cao hơn là sụp đổ chế độ... Sách “Phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” do Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Bá Dương (chủ biên) nhận định: Thực chất của “diễn biến hòa bình” và chống “diễn biến hòa bình” là cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt giữa giai cấp vô sản và tư sản, được biểu hiện ở sự đối kháng giữa hai hệ thống chính trị thế giới: XHCN và tư bản chủ nghĩa. Chừng nào còn tồn tại hai hình thái kinh tế-xã hội đối lập nhau, còn đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và tư sản thì nhân loại tiến bộ phải phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình"./.
GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ "ĐỐI TÁC" VÀ ĐỐI TƯỢNG TRONG CỤC DIỆN THẾ GIỚI MỚI ------------------- Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế... Cục diện thế giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đa cực, đa trung tâm; các nước lớn hợp tác, thỏa hiệp, nhưng đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau gay gắt hơn. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng trong quan hệ quốc tế gia tăng. Các nước đang phát triển, nhất là các nước nhỏ, đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới... Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó Đông Nam Á có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng, là khu vực cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc, tiềm ẩn nhiều bất ổn”(14). Trên thực tế, tình hình thế giới, nhất là ngay trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á, đã có những diễn biến phức tạp, nguy cơ xung đột vũ trang tăng cao liên quan đến chủ quyền và tranh chấp lãnh thổ, đe dọa đến an ninh khu vực. Không chỉ có vậy, từ khi chiến lược “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở” của Mỹ được thực thi, đến nay, khu vực này đã trở thành trọng tâm điều chỉnh chính sách an ninh và đối ngoại của các nước trong và ngoài khu vực. Một số nước châu Âu như Pháp, Đức, Anh cũng đã đưa ra chiến lược riêng về Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, từng bước gia tăng can dự vào khu vực Biển Đông. Là một quốc gia nằm ở khu vực địa - chính trị đang có sự cạnh tranh gay gắt và với mạng lưới quan hệ đối ngoại sâu rộng có lợi ích đan xen, Việt Nam chịu những ảnh hưởng và tác động nhất định. Trước tình hình đó, cách tiếp cận và hướng giải quyết mối quan hệ “đối tác” và “đối tượng” trong chính sách đối ngoại của Việt Nam cần: Một là, kiên định nguyên tắc và kiên trì những vấn đề mang tính chiến lược, nhưng khôn khéo và linh hoạt trong sách lược và triển khai thực hiện. “Dĩ bất biến ứng vạn biến” cần luôn là phương châm đối ngoại của Việt Nam trong mọi hoàn cảnh, với mọi vấn đề, giữa Việt Nam và các “đối tác”, trong mối quan hệ chuyển hóa giữa “đối tác” và “đối tượng”. Hai là, linh hoạt trong cách nhìn nhận “đối tác” và “đối tượng”. Cần tránh quan điểm “nếu không ủng hộ ta thì là kẻ thù của ta”. Trong thực tiễn hoạt động đối ngoại, một mặt, Việt Nam phải luôn tỉnh táo nhận thức rằng “không có đồng minh vĩnh viễn”; mặt khác, cần biết tranh thủ những mặt xung đột của các “đối tượng” để có lợi cho ta. Trong quan hệ quốc tế, điều căn bản nhất đối với mọi quốc gia chính là bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc. Ba là, “đối tác” và “đối tượng” trong chính sách đối ngoại được Đại hội XIII của Đảng thông qua phản ánh mối quan hệ hữu cơ giữa hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và dựa trên nền tảng của các nghị quyết trước đây, nhất là Nghị quyết số 28-NQ/TW. Tuy nhiên, thực tế luôn vận động và biến đổi, do vậy, Đảng ta đã có kế hoạch tổng kết về chiến lược, trong đó bao gồm cả vấn đề xác định “đối tác” và “đối tượng”. Việc tổng kết này cần được tiến hành trên tinh thần cầu thị, lắng nghe để định hướng chính sách mang tầm chiến lược, tránh những quan điểm lợi dụng nhằm xuyên tạc và cách tiếp cận bị ảnh hưởng bởi quan điểm có tính “phe phái” trong quan hệ quốc tế. Bài học lịch sử cho thấy, dứt khoát không và không ai có thể buộc Việt Nam phải “chọn phe”. Việc ai là “đối tác” sẽ do Việt Nam chủ động thúc đẩy, nhưng đồng thời cũng rộng mở đón nhận thiện chí từ phía muốn Việt Nam là đối tác của họ trên cơ sở lợi ích quốc gia - dân tộc được bảo đảm. Còn về “đối tượng”, trong quá trình cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIII, nên chăng cần sử dụng khái niệm mềm hơn, cách diễn đạt uyển chuyển hơn, phù hợp với “những nhận thức mới và tư duy mới về an ninh quốc gia”(15), nhưng cũng kiên quyết bảo vệ những vấn đề thuộc về nguyên tắc, thuộc về lợi ích căn bản và cốt lõi của Việt Nam. Với cách tiếp cận đó, nên chăng đề xuất cách diễn đạt rõ hơn các nội dung có tính lượng hóa về “đối tượng”, đó là: Tất cả những thách thức phương hại đến an ninh quốc gia; ổn định chính trị, trật tự và an toàn xã hội; sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chế độ xã hội chủ nghĩa, khối đại đoàn kết dân tộc; độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đều là đối tượng cần đấu tranh nhằm bảo đảm lợi ích tối thượng của quốc gia - dân tộc. Những thách thức ở đây bao gồm cả âm mưu, hành động của các “thế lực thù địch”, những diễn biến và nguy cơ xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, những vấn đề an ninh phi truyền thống. Khái niệm “thách thức” ở đây mang tính định lượng, giúp chúng ta có thể minh định rõ ràng “đối tượng” trong ứng xử. Việc xác định rõ “đối tác” và “đối tượng” trong chính sách đối ngoại của Đại hội XIII của Đảng thể hiện sự kết hợp giữa hai nhiệm vụ chiến lược của Đảng là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX và Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI đã nhất quán trong việc xác định “đối tác” và “đối tượng” là cơ sở để thể chế hóa “đối tác” và “đối tượng” trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong tình hình mới. Kết quả của việc thực hiện chính sách đối ngoại “đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế”, sự linh hoạt trong nhận diện và triển khai nguyên tắc “đối tác” và “đối tượng” đã góp phần làm cho đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay./.
Phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam Trong thời gian qua, trước tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là tình trạng tham nhũng vẫn còn khá nghiêm trọng; các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước ra sức tung ra các luận điệu sai trái, xuyên tạc. Những luận điệu đó tập trung chủ yếu vào những vấn đề sau: Thứ nhất, các thế lực thù địch cho rằng tình trạng tham nhũng ở Việt Nam bắt nguồn từ chế độ một đảng duy nhất ở Việt Nam hay tham nhũng là “căn bệnh nan y, kinh niên của chế độ độc đảng cầm quyền”. Do đó, “ĐCSVN không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái thành công vì Đảng cũng suy thoái, tham nhũng”. Từ đó, các thế lực thù địch ra sức bài xích chế độ một đảng của Việt Nam, lên tiếng kêu gọi Việt Nam phải đi theo con đường đa đảng, tam quyền phân lập vì “Chỉ có thể chống tham nhũng khi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập” để kiểm soát quyền lực”. Thực chất của luận điểm này một mặt là để hạ thấp, phủ nhận vai trò của Đảng ta trong việc lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng; mặt khác là nhằm kêu gọi nhân dân ta cổ xúy cho chế độ đa đảng, tam quyền phân lập mà các thế lực thù địch tìm mọi cách tấn công vào Đảng, vào chế độ ta. Thứ hai, từ một số vụ, việc tham nhũng trong thời gian gần đây, nhất là những vụ liên quan đến một số lãnh đạo cấp cao, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị trong và ngoài nước đã quy chụp, cường điệu hóa, suy diễn một cách vô căn cứ, đồng nhất toàn bộ ĐCSVN với một số đảng viên, cán bộ tham nhũng, thoái hóa, biến chất. Họ rêu rao rằng “Đảng không còn là Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng không còn mang bản chất cách mạng của GCCN, của nhân dân lao động, của dân tộc”. Tinh vi hơn, các phần tử cơ hội chính trị đã lấy tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, từ đó chỉ trích Đảng đã “dung túng”, “bao che” cho cán bộ, đảng viên dẫn đến tình trạng cán bộ thoái hóa, biến chất, tham nhũng. Những luận điệu sai trái, thù địch trên các phần tử cơ hội chính trị nhằm phủ nhận quyết tâm của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng nói riêng và trong đấu tranh chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên nói chung. Những luận điệu đó còn nhằm gieo rắc tâm lý hoài nghi, dao động, mất niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng; gây mất đoàn kết nội bộ, kích động xu hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của một bộ phận cán bộ, đảng viên có lập trường tư tưởng không vững vàng, có tâm lý bất mãn. Do đó, cần tỉnh táo nhận diện những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta, cần phải kiên quyết đấu tranh phản bác bằng những lập luận xác thực.
ĐÁNH HỘI ĐỒNG Chẳng phải ai khác chính là Việt Nam của chúng ta đã bị một số nước thuộc phe kẻ thù đánh hội đồng không chỉ một lần. Thôi, bỏ qua chuyện thời chống Pháp, vì khi đó, thế lực đánh chúng ta chỉ có hai – Pháp và Mỹ. Nhưng sau năm 1954 thì nhiều nước thuộc thành phần chư hầu của Mỹ, kẻ trực tiếp, kẻ gián tiếp đã cùng Mỹ đánh chúng ta. Bây giờ kể tên những nước ấy ra, sao thấy ê chề quá. Thôi, đó là một giai đoạn lịch sử, mà đã là lịch sử thì không thay đổi được. Đứng đầu đám thảo khấu là Mỹ, theo sau là quân đội và chính quyền các nước South Korea, Australia, New Zealand, Philippines, Thailand, Singapore… kẻ đưa quân trực tiếp tham chiến, kẻ cho mượn lãnh thổ làm căn cứ của Mỹ tiến đánh Việt Nam. Đến sau năm 1975, cái đám thảo khấu hồi ấy, bây giờ lại có lý do để đánh hội đồng Việt Nam, khi chúng ta mang quân sang theo yêu cầu của nhân dân Campuchia đánh tan bọn diệt chủng Polpot, cứu cả một dân tộc khỏi họa diệt chủng. Lần này, tham gia đánh hội đồng không chỉ có Mỹ và đám thảo khấu trước 1975, còn có người từng là bạn thân thiết với chúng ta và mấy cái tổ chức quốc tế - những tổ chức tay sai của Mỹ như Liên hợp quốc. Cuộc đánh hội đồng bằng kinh tế và ngoại giao lần này dài đúng bằng thời gian 20 năm chúng ta chống Mỹ xâm lược (1975-1995 so với 1954-1975). Trong thời gian này, chẳng những chúng ta phải gồng mình lên mà chống lại cuộc bao vây cấm vận về kinh tế, về ngoại giao mà chúng ta còn phải đối phó với cuộc chiến tranh biên giới (1979) mà “bạn của ta” đã đem quân sang đánh chúng ta, với sự giúp sức của Mỹ (lại là Mỹ!). Ừ nhỉ, thế mà ngày nay những nước ấy lại trở thành bạn bè, thành đối tác toàn diện, thậm chí còn là “đối tác chiến lược toàn diện”. Thế mới biết bạn bè hay kẻ thù cũng chỉ là nhất thời, quyền lợi dân tộc mới là vĩnh cửu. Từ những bài học lịch sử vừa qua đã giúp chúng ta định ra đường lối đối ngoại, đó là không chọn phe, chỉ chọn lẽ phải và sự công bằng. Nghĩ lại một giai đoạn lịch sử thật là ê chề, nhưng hào hùng. Nhưng đâu phải cả thế giới quay mặt với dân tộc ta? Vẫn có những người bạn thủy chung. Đó là Cuba, đó là nước Nga ngày nay và những nước thuộc phe XHCN “ngày đó”, cùng với những dân tộc bị áp bức khác đã giúp đỡ chúng ta, người giúp về vật chất, người giúp về tinh thần. Ngày nay, một trong những người bạn đã từng chung lưng đấu cật với chúng ta từ thời chống Pháp đến thời chống Mỹ, chống Trung quốc năm 1979, nay lại bị đám thảo khấu đứng đầu là Mỹ đánh hội đồng (lại là Mỹ!). Trong cuộc đụng độ giữa Nga và Ukraine hiện nay, có lẽ đa số người dân Ukraine chưa thể quên một thời hào hùng dưới lá cờ chung của Liên Xô, mà chỉ có những kẻ trong bộ máy cầm quyền của Ukraine, cam tâm làm tên lính xung kích, nhận lãnh một cuộc chiến tranh được đám thảo khấu quốc tế ủy nhiệm. Đám này muốn cuộc chiến ở Ukraine không bao giờ chấm dứt. Chỉ có như vậy thì đất nước Ukraine mới tan nát, người Ukraine chết mới nhiều, nước Nga mới rơi vào khủng hoảng. Còn bọn chúng? Bọn thảo khấu ấy đứng ngoài vỗ tay, huýt sáo, xua những tên cầm đầu đất nước Ukraine xông ra như ta xua chó vào bụi rậm. Bọn thảo khấu thu được lợi nhuận do bán được nhiều vũ khí, do giá cả hàng hóa, đặc biệt là các nguồn năng lượng cứ tăng giá lên, những nhà khai thác và kinh doanh dầu khí ở Mỹ càng kiếm được nhiều tiền. Chỉ có dân chúng ở những xứ đó là thua thiệt thôi! Ngày xưa, nước Việt ta nghèo là thế, yếu là thế mà vẫn đánh cho đám thảo khấu ôm đầu máu mà chạy về, thì tôi nghĩ nước Nga ngày nay dù có phải một lúc đương đầu với 27 nước trong khối quân sự NATO, rốt cuộc rồi sẽ làm cho bọn thảo khấu lại nhận thêm một thất bại nữa. Mà không hiểu sao, đám thảo khấu quốc tế càng trừng phạt Nga thì đồng Rup của Nga lại càng mạnh lên. Trước khi đưa quân vào Ukraine, 1 Euro đổi được những trăm mấy Rup mà hôm qua còn có 74 Rup/Euro, thế là “gậy ông đập lưng ông” sao? Nước Nga đã giúp loài người thoát khỏi họa diệt chủng của Đức quốc xã, ngày nay nước Nga đang làm cho những người yêu mến nước Nga thấy rằng, nước Nga hôm nay đã mạnh hơn cách nay hai mươi năm, thấy rằng thế giới ngày nay đã khác xưa nhiều lắm, không phải đám thảo khấu do Mỹ đứng đầu muốn làm gì thì làm mà được đâu./.
ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG THỨ “NGÔN LUẬN TỰ DO” BẤT CHẤP CẢ LUẬT PHÁP VÀ ĐẠO LÝ... TRONG XÃ HỘI VĂN MINH Có thể nhận diện, thống kê rất dễ dàng rằng, các phần tử thù địch, cơ hội chính trị luôn tìm mọi cách để tạo dựng những thứ gọi là “tự do ngôn luận” theo cách hiểu ấu trĩ, hạn hẹp, đầy hằn học với mưu đồ xấu xa. Chúng dã tâm, chủ đích lựa chọn, lợi dụng những vấn đề nhiều người dân quan tâm, dễ gây bức xúc, dễ lan truyền rộng rãi trong xã hội để tạo dựng những kịch bản đen tối, chống phá bằng các bài viết, hình ảnh, video clip,... liên quan đến các vụ khiếu kiện đất đai, ô nhiễm môi trường, phản đối trạm thu phí BOT (xây dựng - vận hành - chuyển giao) giao thông, tụ tập đông người núp dưới cái gọi là “hành động yêu nước”,... nhằm gây rối an ninh, trật tự, “bất tuân dân sự”, phá hoại các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước ta; kích động, kêu gọi bạo động, lật đổ. Lấy ví dụ cụ thể từ các vụ tụ tập phản đối tại các trạm thu phí BOT giao thông trong quý I-2019 tại nhiều địa phương trên cả nước. Trong các vụ này, rất nhiều người, trong đó có những người cầm đầu, cố tình liên tục “tường thuật trực tiếp”, thông qua tính năng livestream của mạng xã hội Facebook và xuyên tạc, nói xấu về hình thức đầu tư BOT, thậm chí cả về những quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước... Điều này gây ra sự phản ứng lan truyền mạnh mẽ trên cộng đồng mạng, khiến nhiều trạm thu phí BOT phải “xả trạm” trong nhiều giờ để bảo đảm giao thông được thông suốt, an ninh, trật tự xã hội không bị rối loạn. Hùa vào góp sức, một số báo mạng nước ngoài, những phần tử chống đối ở hải ngoại, cũng như trong nước dưới vỏ bọc mỹ miều là “chống BOT bẩn” liên tục đăng tải những thông tin xuyên tạc, lệch lạc, sai trái,... nhằm mục đích phá hoại. Khi những đối tượng vi phạm pháp luật bị bắt tạm giam, một số báo mạng điện tử nước ngoài thiếu thiện chí, nhất là những báo có phiên bản tiếng Việt và nhiều trang cá nhân trên mạng xã hội Facebook, YouTube,... đã chớp lấy để bình luận đầy hằn học, ác ý, cố tình hướng lái, lật ngược bản chất vấn đề, vu khống, kích động cộng đồng mạng phá hoại, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, cản trở giao thông cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội, đời sống của người dân... Nhìn rộng hơn, thử điểm lại một số vụ tụ tập đông người kích động, chống đối ở Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bình Thuận, Nghệ An, Hà Tĩnh,... trong những năm gần đây, nhất là liên quan đến sự cố môi trường biển ở bốn tỉnh miền Trung để kêu gọi tụ tập đông người, biểu tình, gây mất an ninh, trật tự, chống đối, phá hoại,... thì thấy càng rõ bộ mặt của tổ chức phản động Việt Tân và những mưu đồ đen tối của chúng. Chúng tuyển mộ, đào tạo, lợi dụng những người thiếu hiểu biết, cả tin, bất mãn, có những khúc mắc trong cuộc sống,... để làm thuê cho chúng, thông qua các việc, như tuyên truyền, lôi kéo, kích động các vụ tụ tập đông người và giăng khẩu hiệu phản đối, dùng loa các loại để gào thét vô lối, gây rối, đập phá trụ sở các cơ quan công quyền, nhà máy,... làm mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội... Tại các vụ, việc, nhiều phần tử cực đoan, chống đối, vi phạm pháp luật đã bị bắt để giáo dục, nhiều trường hợp bị khởi tố và tạm giam, bị kết án nghiêm minh, thích đáng... Đề chống lại việc lợi dụng “tự do ngôn luận” để tùy ý “ngôn luận tự do” nhằm lôi kéo, kích động, gây bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, phản động, tôi xin đề xuất một số giải pháp cơ bản như sau: Thứ nhất, sớm kiện toàn việc xây dựng lực lượng chuyên trách theo hướng tinh gọn, đủ mạnh theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW. Đồng thời, phát huy cao nhất trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, trước hết là của người đứng đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch... Lực lượng chuyên trách là những người chủ lực, tiên phong trong việc thực hiện nhất quán, đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, quan điểm cũng như các nhiệm vụ, giải pháp đã được nêu rõ trong Nghị quyết số 35-NQ/TW, với kế hoạch trước mắt, lâu dài, cùng lộ trình ngắn hạn, trung hạn, dài hạn và những trường hợp đột xuất phù hợp với tình hình thực tiễn một cách linh động, khoa học, sát hợp. Thứ hai, các cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ có trách nhiệm tăng cường công tác tuyên truyền nội dung của Nghị quyết số 35-NQ/TW, Kế hoạch số 14-KH/TW một cách thường xuyên, sáng tạo, khoa học, dễ nhớ, dễ hiểu, tránh khô cứng, sáo mòn, giáo điều, khó đi vào cuộc sống. Cần tuyên truyền sâu rộng, thiết thực 4 nhiệm vụ thường xuyên tại Kế hoạch số 14-KH/TW đã được xác định rõ, đó là: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tăng cường thông tin tích cực; đẩy mạnh công tác nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong tình hình mới; đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức lý luận chính trị; tăng cường quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên, xử lý nghiêm minh những trường hợp vi phạm... Đồng thời, các cấp, các ngành chức năng cần kịp thời cung cấp thông tin chính xác, khách quan để đấu tranh phản bác, định hướng dư luận trước những thông tin trái với chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giúp cấp ủy cơ sở có sự định hướng kịp thời... Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện thể chế chính sách, đặc biệt là về hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế, công bằng xã hội,... để tạo gốc rễ, nền tảng vững chắc góp phần đẩy mạnh công cuộc phát triển đất nước. Có như thế, mới không tạo ra những “kẽ hở”, những “khoảng trống” cho việc hình thành, phát sinh, tồn tại “nhóm lợi ích”, những quan tham, tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực trong xã hội... Bên cạnh đó, cần phát huy những kết quả tích cực đã đạt được trong phát triển kinh tế - xã hội những năm qua, để tạo đà cho những sự bứt phá tiếp theo, với kỳ vọng sẽ đạt được những thành tựu nổi bật hơn nữa trong thúc đẩy đà tăng trưởng, nâng cao đời sống, bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền trong cả nước... Thứ tư, đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực từ Trung ương đến địa phương, tránh tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”. Có thể khẳng định rằng, việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực, lấy lại niềm tin của đông đảo quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước. Rõ ràng, đây là vấn đề hệ trọng, là mối quan tâm lớn của toàn Đảng, toàn dân nên không thể nóng vội, mắc sai lầm. Nhưng cũng vì thế mà không thể “chùng xuống”, không thể thiếu quyết liệt trong chỉ đạo, thực hiện, nhất là việc đẩy nhanh tiến độ xác minh, điều tra, xử lý các vụ, việc, vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, được nhân dân quan tâm. Thứ năm, xây dựng, thiết lập hệ thống các giải pháp tuyên truyền đồng bộ, sát hợp, hiệu quả trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên không gian mạng, góp phần nhận diện, chủ động đấu tranh sớm, kịp thời, hiệu quả trước mọi thủ đoạn tấn công, phá hoại của các thế lực thù địch. Các cơ quan báo chí cần tổ chức thông tin cân bằng hơn, tăng cường thông tin về các mặt tích cực, tốt đẹp trong xã hội, tránh tình trạng mất cân bằng thông tin, khiến các thế lực thù địch, phản động dựa vào đó và nhân danh “tự do ngôn luận” để xuyên tạc, vu khống đất nước bằng những gam màu xám... Các cơ quan báo chí cần tăng cường thời lượng cho các chuyên mục đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tránh chỉ dồn việc cho vài cơ quan báo chí vốn lâu nay chuyên đảm trách vấn đề này... Đồng thời, cần thiết phải hình thành, duy trì hoạt động hiệu quả các trang thông tin trên mạng xã hội, nhất là trên mạng xã hội Facebook được tổ chức khoa học, bài bản, với đội ngũ phụ trách chuyên nghiệp nhằm kịp thời, chủ động nhận diện, đấu tranh bài bản, khoa học, xác đáng, thuyết phục, hiệu quả trước các âm mưu, thủ đoạn, hành động chống phá của các thế lực thù địch, phản động... Có như thế, việc “tự do ngôn luận” ở Việt Nam mới không bị lợi dụng, xuyên tạc, bóp méo, tùy ý chuyển tải thứ “ngôn luận tự do” vô lối nhằm lôi kéo, kích động gây mất an ninh trật tự, phá hoại đất nước, kêu gọi bạo loạn lật đổ... Rồi dần dần, bằng sức đề kháng mạnh mẽ của mọi tầng lớp nhân dân, thứ “ngôn luận tự do” rẻ tiền, hằn học, chống đối đó mới không còn khả năng tồn tại và bị triệt tiêu, trả lại môi trường lành mạnh cho tự do ngôn luận chân chính, vì sự phát triển bền vững của đất nước.
SỰ NGƯỢC CHIỀU LỊCH SỬ CỦA PHẠM PHÚ KHẢI Trên trang Quyenduocbiet xuất hiện bài viết của Phạm Phú Khải với tiêu đề: “Bản chất bộ lạc của chế độ (hậu) Cộng sản”. Bài viết đã lợi dụng quyền tự do ngôn luận để kích động, xuyên tạc nói xấu chế độ khi Y cho rằng: “Chế độ Cộng sản với tư duy còn nghèo nàn, lạc hậu về nhiều mặt, kém văn minh trong hành xử, như kiểu bộ lạc ngày xưa”. Đây là âm mưu của các phần tử phản động, thù địch mượn chiêu bài tự do báo chí, tự do ngôn luận để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chiêu trò này không mới, nhưng là thủ đoạn hết sức nguy hiểm, cố ý bóp méo sự phát triển của lịch sử loài người và sự lựa chọn con đường phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc, qua đó nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”; “tự chuyển hóa”, chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân… Thực tiễn cho thấy, việc lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa (giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản) của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam là phù hợp với quy luật của lịch sử và thực tiễn Việt Nam. Điều này được chính lịch sử dân tộc minh chứng. Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tính mốc thời điểm từ ngày 01/9/1858, giới sử học thống kê đã có hơn 300 cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân nổ ra để phản kháng ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp xâm lược, nhưng cuối cùng tất cả hơn 300 cuộc đấu tranh đó đều thất bại, đều bị thực dân Pháp “dìm trong biển máu”. Chỉ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, dưới sự lãnh đạo tài tình và sáng tạo, cách mạng Việt Nam mới giành được thắng lợi, mở đầu là thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 dẫn tới sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập, tự do, hạnh phúc và đi lên chủ nghĩa xã hội. Từ sau năm 1975 đến nay, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng được củng cố, phát triển toàn diện. Với bản lĩnh, trí tuệ của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân cả nước thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đưa nước ta từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, vượt qua khủng hoảng gay gắt về kinh tế - xã hội, trở thành một nước có trình độ phát triển trung bình. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện; dân chủ xã hội chủ nghĩa được mở rộng; quốc phòng, an ninh được giữ vững; văn hóa, xã hội có nhiều bước phát triển; vị thế, uy tín của Việt Nam không ngừng được nâng cao trong khu vực và quốc tế. Như vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta đang phát triển mạnh mẽ, đạt được những tiêu chí cao nhất trong hoạt động chính trị của một đảng cầm quyền. Những thành tựu đó một lần nữa khẳng định rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ có khả năng lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành đấu tranh giành độc lập dân tộc, mà còn có khả năng lãnh đạo công cuộc xây dựng đất nước trên con đường đi tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, lấy việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân là mục đích cao nhất, ngoài lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác. Như vậy, những luận điệu của Phạm Phú Khải về “bản chất bộ lạc của chế độ (hậu) Cộng sản”, đòi “đa nguyên chính trị”, thực chất là tư tưởng hoàn toàn sai trái phản động, đi ngược lại lợi ích đất nước, lợi ích nhân dân. Mọi người hãy hết sức cảnh giác và kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch, phản động./.
Trong các thời kỳ lịch sử, nhất là sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, với những thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch đã tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam. Trong đó có âm mưu đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi chuyển đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Sự nguy hại khôn lường của âm mưu đòi “đa nguyên, đa đảng” Từ bên ngoài, các thế lực thù địch sử dụng một khối lượng khổng lồ các phương tiện thông tin, truyền thông, nhất là sử dụng các trang mạng xã hội để thực hiện các chiến dịch chống phá tư tưởng quy mô lớn đối với Việt Nam. Các thế lực thù địch đưa ra luận điệu: Các cương lĩnh, đường lối cách mạng của Đảng chứng tỏ sự “chuyên quyền”, “độc đoán”, “đảng trị”. Chúng đổ lỗi cho Đảng trước nguy cơ tụt hậu về kinh tế của đất nước so với những nước trong khu vực; từ đó, chúng cho rằng, trong thời đại ngày nay, nếu tiếp tục đi theo con đường XHCN là sai lầm. Chúng “khuyên” chúng ta đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”, xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013 về hiến định quyền lãnh đạo của Đảng, vì chúng cho rằng “đa nguyên, đa đảng sẽ khơi dậy sự sáng tạo của toàn dân, tốt hơn cho sự phát triển của xã hội”(!). Đây là một luận điệu hết sức nguy hiểm và thâm độc vì họ cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Với những người có nhận thức chính trị không vững vàng có thể dễ dàng bị đánh lừa bởi luận điệu này, từ đó, cổ xúy cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Như vậy, luận điệu “muốn thực sự dân chủ và phát triển”, phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thực chất là đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải “từ bỏ vị thế lãnh đạo”, “chuyển đổi thể chế chính trị”, với mục tiêu thâm độc là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện “đa nguyên chính trị”, chuyển hóa chế độ XHCN sang các chế độ xã hội khác. Kiên trì giữ vững “linh hồn, mạch sống” của Đảng. Trong bối cảnh hiện nay, việc nhận diện và kịp thời đập tan các âm mưu, thủ đoạn tinh vi, nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động đòi đa nguyên, đa đảng chính là vấn đề cốt tử để bảo vệ tính chính danh, bản chất cách mạng, vị thế, sứ mệnh cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam. Trong bối cảnh hiện nay, cần chú trọng nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và toàn xã hội về âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chống phá, bác bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, nâng cao tinh thần cảnh giác của cán bộ, đảng viên và nhân dân để kịp thời phát hiện, tẩy chay, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền thông tin, nhất là trên không gian mạng. Trên cơ sở đó, thống nhất nhận thức trong toàn xã hội về phương châm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng. Trọng tâm của công tác này là tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị lý luận và thực tiễn to lớn của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3-2-1930) và trải qua các thời kỳ lãnh đạo cách mạng, cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng luôn bị các thế lực thù địch về chính trị và ý thức hệ chống phá, xuyên tạc, phủ định. Những năm cuối thập niên 1930, trước sự chống phá của bọn Trotsky, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã viết tác phẩm “Tự chỉ trích”. Năm 1939, trong ý kiến gửi các đồng chí ở trong nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh: “Đối với bọn Trotsky, không thể có thỏa hiệp nào, một nhượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị”. Sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, trước âm mưu phủ định CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, đòi chấm dứt vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập của các thế lực thù địch, phản động, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên quyết, dứt khoát bác bỏ những quan điểm sai trái đó, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên trì con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; hoạch định và không ngừng bổ sung, phát triển đường lối đổi mới và thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”. Thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ, đối với Việt Nam “không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng, đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta”. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng (1930), Luận cương chính trị tháng 10-1930, Chính cương Đảng Lao động Việt Nam và đường lối cách mạng dân tộc dân chủ là ngọn cờ soi sáng bước đường tranh đấu của dân tộc Việt Nam giành độc lập, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bước đầu xây dựng CNXH; thì Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Cương lĩnh 1991 cũng như Cương lĩnh bổ sung, phát triển 2011) và đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình và đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và CNXH, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu trong bài viết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam": “Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có CNXH và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc”. Điều đó là cơ sở để khẳng định, không có lý do gì để Đảng và dân tộc Việt Nam rẽ sang con đường tư bản chủ nghĩa hay một con đường phát triển nào khác, trao quyền quản lý đất nước cho những thế lực cơ hội, phản động. Khẳng định nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Thực tiễn lịch sử 92 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam cho thấy, ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân tin tưởng giao phó trọng trách trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Điều đó không phải là do mong muốn chủ quan của Đảng, mà chính là sự giao phó của lịch sử, của cách mạng Việt Nam thông qua quá trình sàng lọc, lựa chọn một cách đúng đắn. Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, trong thế kỷ 20, Đảng đã lãnh đạo toàn thể dân tộc giành được những thắng lợi vĩ đại: Một là, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-nhà nước dân chủ nhân dân ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc-kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền CNXH. Hai là, thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên CNXH, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Ba là, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới và từng bước đưa đất nước quá độ lên CNXH: “Với những thắng lợi giành được trong thế kỷ 20, nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá”. Với những thành quả đạt được: “Chúng ta tự hào về dân tộc ta-một dân tộc anh hùng, thông minh và sáng tạo; tự hào về Đảng ta-Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện-một lòng một dạ chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân” Đặc biệt, sau hơn 35 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, quy mô nền kinh tế tăng từ 26,88 tỷ USD năm 1986 lên 271,2 tỷ USD năm 2020; thu nhập bình quân đầu người tăng từ 182USD năm 1990 lên 2.779USD năm 2020(6). Sau 25 năm (1995-2020), Việt Nam đã làm được kỳ tích, đưa nền kinh tế tăng gấp 10 lần cả về quy mô và thu nhập bình quân trên đầu người, tăng 21 hạng về quy mô nền kinh tế và tăng 54 hạng về thu nhập đầu người trên bảng xếp hạng các quốc gia. Thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam 92 năm qua đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam. Đồng thời khẳng định một chân lý: “Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác” Như vậy, luận điệu của các thế lực thù địch, phản động cho rằng, đa đảng thì có dân chủ và một đảng thì mất dân chủ, thực ra là một trò “lập lờ đánh lận con đen” nhằm cổ vũ cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Đề cập đến vấn đề này, trả lời câu hỏi của phóng viên báo Express Ấn Độ về việc liệu đã đến lúc chín muồi để Việt Nam có một hệ thống đa đảng, hoặc có các đảng khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam để có thể tính tới các quan điểm của nhiều nhóm sắc tộc, nhiều dân tộc khác nhau, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn, mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, điều quan trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển đi lên không? Đó là tiêu chí quan trọng nhất. Và cũng không nhất thiết cứ kinh tế thị trường thì phải đa đảng và ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan phải có chế độ đa đảng, ít nhất cho đến bây giờ.

Luận điệu suy diễn quy định mới về những điều Đảng viên không được làm

 Ngày 25/10/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quy định số 37-QĐ/TƯ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng quy định “Về những điều đảng viên không được làm” thay thế Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 1/11/2011 trước đây.

Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động xuyên tạc những nội dung trong Quy định số 37, từ đó suy diễn, tự cho mình vai trò “người phát xét” để quy kết, chỉ trích chế độ, chỉ trích vị trí, vai trò của Đảng.

Trên nhiều trang mạng của cá nhân, tổ chức thù địch, phản động, hội đoàn chống cộng hải ngoại xuyên tạc rằng, việc Đảng ban hành quy định mới chứng tỏ sự mục nát, là “vá những lỗ thủng quá nhiều của chế độ”. Các đối tượng vu cáo gốc rễ của tham nhũng là “do lỗi của thể chế chính trị”, lỗi hệ thống tạo ra chứ không phải do biện pháp thực hiện, từ đó quy kết việc Đảng đưa ra hết biện pháp này đến biện pháp khác để chống tham nhũng mà không thay đổi chế độ thì không bao giờ chống tham nhũng được. Đưa ra luận điệu “Đảng đứng trên pháp luật”, các đối tượng suy diễn “Đảng loay hoay, mò mẫm soạn ra các văn bản giấy tờ quy định cấm cho thêm rắc rối, chồng lấn pháp luật, vì những điều ấy pháp luật cũng cấm rồi, đảng viên cũng là công dân, thêm điều cấm là Đảng đứng trên, đứng ngoài pháp luật”!

Trên đài RFA, VOA, BBC… đăng tải nhiều bài xuyên tạc Quy định 37. Họ tự cho mình vai trò “phán xét”, viện dẫn ý kiến của đối tượng vốn có tư tưởng chống đối Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Điển hình như đối tượng Nguyễn Vũ Bình (từng có thời gian công tác tại một tạp chí ở Việt Nam) suy diễn trên RFA rằng: “Chắc chắn là không thể kiểm soát được, những quy định cấm đảng viên người ta đưa ra chỉ là những chiêu bài chứ nó không có hiệu quả trong thực tế”. Hay đối tượng Nguyễn Huy Vũ cũng “tát nước theo mưa”, xuyên tạc: “Mục đích duy nhất hiện nay chỉ vì lợi ích vật chất và địa vị, đã qua rồi cái thời mà người ta tham gia vào Đảng Cộng sản chỉ vì những lý tưởng thơ ngây”. Xuyên tạc những nội dung mới, số này tập trung khoét sâu vào một số quy định như cấm đảng viên nhập quốc tịch nước ngoài, cấm chuyển tài sản hay cấm thực hiện các giao dịch tài sản ở nước ngoài nhằm quy kết, rêu rao là vi phạm Hiến pháp…

Thực chất, đây là những luận điệu hòng hạ thấp mục tiêu, vai trò, ý nghĩa của Quy định mới về những điều đảng viên không được làm, tạo ra diễn biến tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, làm giảm niềm tin đối với công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phủ nhận thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Và cuối cùng là làm suy giảm niềm tin, hạ thấp, thúc đẩy, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.

Trước hết cần khẳng định, quy định về kỷ luật Đảng là công tác hệ trọng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Đây là công việc thường xuyên, liên tục và mang tính kế thừa. Việc bổ sung một số quy định mới để đảm bảo đáp ứng yêu cầu thực tiễn, đảm bảo tính khách quan, khoa học. Từ đó, tổ chức Đảng, đảng viên có cơ sở, căn cứ để rèn luyện, tu dưỡng, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ. Do đó, không thể lợi dụng vào một số quy định mới để xuyên tạc, suy diễn.

Quy định đảng viên không được “Phản bác, phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; không thực hiện trách nhiệm nêu gương; chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi; "tư duy nhiệm kỳ", đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa rời quần chúng” (Điều 3). Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Mỗi người khi vào Đảng đều phải rèn luyện, phấn đầu vì mục đích lý tưởng cách mạng của Đảng, kiên định, trung thành nền tảng tư tưởng, chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng… Việc bổ sung, phát triển quy định như trên là yêu cầu, đòi hỏi khách quan trong công tác xây dựng Đảng về chính trị.

Hay quy định đảng viên không được “nhập quốc tịch, chuyển tiền, tài sản ra nước ngoài, mở tài khoản và mua bán tài sản ở nước ngoài trái quy định”. Điều lệ Đảng ghi rõ: “Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân” (Điều 1). Nếu thừa nhận một công dân có 2 quốc tịch là lẽ thường tình, song đối với đảng viên, lý tưởng suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, giai cấp, nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân sẽ phải giải thích thế nào khi một đảng viên nhập quốc tịch nước ngoài, chuyển tiền ra nước ngoài. Vậy trung thành với nhân dân, Tổ quốc thế nào nếu đảng viên có thêm quốc tịch khác? Đảng viên vào Đảng trên tinh thần tự nguyện, phấn đấu, hy sinh vì lý tưởng cộng sản, hạnh phúc của nhân dân. Việc bổ sung nội dung này nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của công cuộc xây dựng chỉnh đốn Đảng, phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong bối cảnh hiện nay.

Không phải bây giờ mà ngay từ khi Đảng mới ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu từng tổ chức Đảng phải duy trì chặt chẽ kỷ luật, giữ nghiêm kỷ cương, nền nếp tổ chức, làm cho Đảng ta ngày càng xứng đáng với vai trò, vị trí và sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng. Hơn 90 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Đảng ta luôn tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đảm bảo chấp hành kỷ cương, kỷ luật. Thực hiện tốt kỷ luật Đảng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đầu, hoàn thành trọng trách của mình.

Trong những năm qua, đứng trước đòi hỏi của thực tiễn, Đảng ta đã tập trung lãnh đạo thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng, quyết tâm siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức; xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tham nhũng, tiêu cực. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được thực hiện quyết liệt, kiên trì, bài bản, nghiêm minh và cũng rất nhân văn. Nhiều vụ việc tham nhũng, tiêu cực được đưa ra ánh sáng. Qua đó, kỷ luật Đảng được thực hiện nghiêm minh; đồng thời cảnh tỉnh, giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên không ngừng tiến bộ, trưởng thành, như khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Giữ nghiêm kỷ cương phép nước để cảnh tỉnh, cảnh báo, giáo dục, răn đe người khác tránh xa vết xe đổ của đồng chí mình”. Việc bổ sung, ban hành Quy định mới về những điều đảng viên không được làm thể hiện quyết tâm cao, đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Mặt khác, việc tăng cường kỷ luật trong Đảng còn góp phần cảnh tỉnh, khắc phục, sửa chữa dứt điểm nhiều hạn chế, khuyết điểm trong mỗi tổ chức và từng đảng viên. Từ đó từng bước ngăn chặn và đẩy lùi tiêu cực, lập lại trật tự, kỷ cương trong Đảng và hệ thống chính trị. Nhiều tổ chức Đảng kịp thời nhận diện, khắc phục được một số hạn chế, khuyết điểm. Đội ngũ cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đã quan tâm, coi trọng việc rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực công tác; chú trọng nâng cao tinh thần trách nhiệm, sửa đổi lề lối, phong cách, tác phong làm việc; nghiêm khắc tu dưỡng, rèn luyện bản thân.

Việc Đảng ta sửa đổi, bổ sung Quy định về những điều đảng viên không được làm không chỉ thể hiện sự quyết tâm của Đảng mà còn tạo niềm tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Lợi dụng diễn biến hai vụ án “nóng” để xuyên tạc, bôi nhọ thể chế

 Những ngày cuối tháng 3, cơ quan tiến hành tố tụng đã khởi tố, điều tra hai vụ án hình sự liên quan đến những cá nhân nổi tiếng cả về kinh tế và sự ảnh hưởng trong đời sống xã hội, dư luận đặc biệt quan tâm.

Cụ thể, ngày 29/3, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam đối với ông Trịnh Văn Quyết, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty CP Tập đoàn FLC.

Trước đó, ngày 24/3, Cơ quan CSĐT Công an TP Hồ Chí Minh đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”, quy định tại Điều 331, BLHS, đồng thời khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam đối với bà Nguyễn Phương Hằng, SN 1971, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Đại Nam, về hành vi nêu trên.

Đây là hai cá nhân nổi tiếng trước hết đến từ sự giàu có và các hoạt động kinh doanh trên thương trường. Với bị can Trịnh Văn Quyết, ngoài danh tiếng Tập đoàn FLC mà ông với vai trò Chủ tịch HĐQT thì khối tài sản đồ sộ của cá nhân thuộc top đầu cả nước, trong đó đỉnh điểm năm 2016, thị trường chứng khoán Việt Nam diễn ra sự kiện hoán đổi vị trí người giàu nhất Việt Nam và ông Trịnh Văn Quyết vươn lên dẫn đầu (thời điểm đó, khối tài sản của ông Quyết vào khoảng 34.000 tỉ đồng đến từ 289,6 triệu cổ phiếu ROS (tương đương 67,34% cổ phần FLC Faros) và 114,2 triệu cổ phiếu FLC (tương đương 17,9% cổ phần), chưa kể khối tài sản động sản, bất động sản ở các vùng miền.

Với bà Nguyễn Phương Hằng, Phó Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc điều hành CTCP Đại Nam cũng sở hữu khối tài sản rất lớn và bà từng tiết lộ qua livestream: “Nếu nói về tài sản thì 500, 700 triệu đô đến 1 tỷ đô tôi có... Mỗi lần tôi xuất hiện sẽ có một bộ trang sức khác. Kim cương của tôi lên đến hàng ký… Tôi đi những chiếc xe 40, 50 chục tỷ, có đến vài chiếc là chuyện bình thường. Tôi ở bao nhiêu căn nhà mặt tiền, sổ đỏ tôi cân ký”…

Sau khi hai cá nhân trên bị khởi tố, bắt tạm giam, trên nhiều trang mạng hải ngoại, các tổ chức và cá nhân chống phá đã đặt ra những câu hỏi nhằm đánh tráo bản chất, hướng lái vụ án sang chiều hướng tiêu cực. Thủ đoạn của các đối tượng là:

Thứ nhất, xuyên tạc việc khởi tố, điều tra các bị can trên là “nhắm vào giới doanh nhân, giới siêu giàu”. Trang Việt Tân rêu rao “Chiến dịch đánh tư sản bắt đầu”, từ đó suy diễn: “Nhiều tỷ phú lần lượt bị bắt giam, một số khác đang được dự đoán sẽ xộ khám trong thời gian tới. Trong bối cảnh kinh tế đất nước đang lâm vào cảnh khánh kiệt, nhiều đồn đoán về chiến dịch đánh tư sản tại Việt Nam”!

Nguy hiểm hơn, bài viết bịa ra chuyện Nhà nước “khánh kiệt” tài sản sau đại dịch COVID-19, nói rằng trong 3 năm tới phải trả 1,2 triệu tỷ nợ công nên “đó là lý do giới nhà giàu lên thớt”! Từ việc đưa ra những lời lẽ trên, bài viết nhắm vào việc thu hút các bình luận chỉ trích Đảng, Nhà nước, cho rằng đang có chủ trương “đánh” vào doanh nhân, tập đoàn, công ty tư nhân để “răn đe” và “cướp vốn”. Đây là kiểu xuyên tạc nguy hiểm, cố tình đánh tráo bản chất vụ án, hướng lái sang vấn đề chính trị, từ đó kích động chống phá.

Thứ hai, các đối tượng bịa ra chuyện “đang có đấu đá quyền lực”, cho rằng những cá nhân bị khởi tố là các quân bài bị đưa ra mổ xẻ. Trong một bài viết có tên “Những con mồi của Đảng không thể bỏ qua” đăng trên trang Việt Tân, người viết đã tráo trở biến việc khởi tố các bị can thành “hai đại gia về bất động sản Nguyễn Phương Hằng và Trịnh Văn Quyết đã trở thành miếng mồi ngon của những thế lực đang đấu đá với nhau”, từ đó miệt thị “sống dưới chế độ độc tài cộng sản hiện nay, những đại gia, tài phiệt hoặc người giàu có tài sản đều là những người nằm trong tầm ngắm của các lãnh đạo Đảng Cộng sản, cho dù họ làm ăn chân chính cũng không thoát khỏi”! Một số bình luận cũng cổ suý cho luận điệu này, quy kết việc khởi tố, bắt tạm giam các bị can là “có ý đồ chính trị” để hướng lái, xuyên tạc vụ án hình sự sang “nghi vấn đấu đá nội bộ”.

Thứ ba, các đối tượng tiếp tục chỉ trích tội danh “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”, quy định tại Điều 331, BLHS, từ đó xuyên tạc rằng việc khởi tố, bắt tạm giam bị can Nguyễn Phương Hằng là tuỳ tiện, bóp nghẹt dân chủ. Một số bài viết xâu chuỗi những vụ án trước đây cùng tội danh này để đưa ra bức tranh xám về tự do, dân chủ ở Việt Nam, cho rằng Điều 331-BLHS “chỉ nhằm phục vụ đảng”, bỏ tù những ai “đảng không thích”.

Thứ tư, từ việc đưa ra những nghi vấn thiếu cơ sở để suy diễn, chỉ trích cơ quan tiến hành tố tụng, chỉ trích Đảng, Nhà nước. Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam đối với bị can Trịnh Văn Quyết về hành vi thao túng thị trường chứng khoán. Theo cơ quan điều tra, ông Quyết bị khởi tố, bắt giam để làm rõ những sai phạm liên quan đến việc bán “chui” 74,8 triệu cổ phiếu FLC trước đó. Cũng liên quan đến vụ bán “chui” cổ phiếu này, ông Quyết đã bị phạt hành chính 1,5 tỷ đồng, đình chỉ hoạt động chứng khoán 5 tháng bởi quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “không báo cáo về giao dịch dự kiến” từ Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN). Về vụ việc này, có người đặt câu hỏi: Vì sao UBCKNN đã ra quyết định xử phạt ông Trịnh Văn Quyết 1,5 tỷ đồng và đình chỉ hoạt động chứng khoán 5 tháng nhưng vẫn bị khởi tố? Từ đó cho rằng, một hành vi vừa xử lý hành chính lại xử lý hình sự là thể hiện sự “lộng quyền”, hình sự hoá vấn đề hành chính. Qua đó, suy diễn vụ án là bị đẩy lên hình sự để phục vụ mục đích, ý đồ khác!

Luận điệu trên có thể khiến những người thiếu hiểu biết bị các đối tượng đánh lạc hướng, cho rằng đang có khuất tất phía sau vụ án, cơ quan CSĐT phạm luật. Thực tế, vấn đề này đã được Cơ quan CSĐT Bộ Công an giải thích rõ. Thiếu tướng Lê Văn Tân, Phó Chánh Văn phòng Cơ quan CSĐT Bộ Công an cho biết, tháng 1/2022, ông Quyết bị xử phạt hành chính về hành vi không báo cáo, không công bố thông tin trước khi thực hiện giao dịch theo Nghị định 128/2020/NĐ-CP về xử phạt trong lĩnh vực chứng khoán.

Sau khi vào cuộc xác minh, điều tra, cơ quan chức năng phát hiện trong vụ việc bán chui cổ phiếu ngày 10/1/2022, ông Quyết đã có nhiều thủ đoạn, mánh khóe tinh vi để tạo cung, cầu giả, đẩy giá cổ phiếu nhằm thu lời bất chính số tiền từ 500 triệu đồng trở lên. Do đó, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã khởi tố về hành vi thao túng thị trường chứng khoán.

“Trong trường hợp cơ quan chức năng đã xử phạt hành chính mà sau đó xác định hành vi vi phạm đủ cấu thành tội phạm, phải xử lý hình sự thì cơ quan điều tra sẽ khởi tố để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. Theo đó, sau khi bị khởi tố, điều tra thì toàn bộ quyết định xử phạt hành chính trước đây đều không có hiệu lực” – Thiếu tướng Lê Văn Tân nêu rõ.

Theo CQĐT, hành vi thao túng thị trường chứng khoán của ông Quyết tác động tiêu cực tới thị trường và gây thiệt hại lớn cho các nhà đầu tư. Ngoài ông Quyết đã bị khởi tố, bắt tạm giam, hiện nay, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đang tích cực điều tra những cá nhân giúp sức tích cực để bị can thực hiện hành vi vi phạm. Trong quá trình xác minh điều tra, cơ quan Công an sẽ xem xét, làm rõ mục đích, vai trò của từng người để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Nếu những người đó thực hiện hành vi dưới danh nghĩa công ty (pháp nhân) nhằm trục lợi bất chính cho đơn vị thì tùy theo mức độ thiệt hại gây ra cho nhà đầu tư và số tiền thu lợi bất chính, pháp nhân này có thể bị phạt tiền từ 2- 10 tỷ đồng.

Trường hợp người thực hiện hành vi dưới danh nghĩa cá nhân, tiếp tay làm lũng đoạn thị trường nhằm tư lợi bất chính, gây thiệt hại cho nhà đầu tư, nếu đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm sẽ bị xử lý hình sự. Ngoài ra, những đối tượng này còn phải bồi thường dân sự cho những nhà đầu tư bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Như vậy, không có chuyện một hành vi “thích thì xử lý hành chính, không thích thì hình sự hoá” và không phải một hành vi bị xử lý cả hành chính lẫn hình sự. Lý giải này đã được Cơ quan CSĐT giải thích rõ nhưng một số đối tượng vẫn tỏ ra “không biết” để tìm cách bôi nhọ, chỉ trích.

Ở đây, chúng ta cần thấy rằng, hai vụ án trên dư luận đặc biệt quan tâm vì chủ thể tội phạm là những cá nhân có vị thế kinh tế giàu có cùng những ảnh hưởng trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, tính chất đó của chủ thể tội phạm không làm thay đổi bản chất vụ án. Việc khởi tố, điều tra là căn cứ các yếu tố cấu thành tội phạm, trong đó có các hành vi phạm vào tội danh quy định trong BLHS, như với ông Quyết là sai phạm về hoạt động chứng khoán, với bà Hằng là sai phạm về lợi dụng quyền tự do, dân chủ để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Sai phạm đó đủ yếu tố cấu thành tội phạm và cơ quan CSĐT khởi tố để điều tra, làm rõ. Không thể viện bất cứ lý do nào để hướng lái vụ án sang vấn đề chính trị, không thể lấy lý do bị can là những doanh nhân giàu có để xuyên tạc thành “chiến dịch đánh tư sản”, “tấn công vào kinh tế tư nhân”. Mọi bị can khi bị khởi tố, điều tra đều căn cứ vào hành vi, khách thể bị xâm hại, các yếu tố lỗi, không có bất cứ lý do nào để ngụy biện thành việc phân biệt kinh tế tư nhân với các thành phần kinh tế khác.

Mọi thành phần kinh tế đều được tạo điều kiện phát triển, trong đó kinh tế tư nhân đã được Đảng ta xác định “thực sự trở thành một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế”. Đây là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng vừa thúc đẩy kinh tế tư nhân tiếp tục phát triển, vừa phát huy vai trò của thành phần kinh tế này trong phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng. Những thành công đạt được của Tập đoàn FLC cũng như vai trò cá nhân của ông Trịnh Văn Quyết có được là nhờ chủ trương nhất quán đó của Đảng, được tạo điều kiện để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển. Tuy nhiên, tất cả đều có hành lang pháp lý điều chỉnh, hành vi nào xâm phạm vào quy định của pháp luật hình sự, gây nguy hiểm cho xã hội thì sẽ bị điều tra, xử lý theo quy định và việc xử lý không phân biệt chủ thể phạm pháp thuộc thành phần kinh tế nào, dù là tỷ phú, triệu phú hay ở các tầng lớp khác. Do đó, không thể bôi nhọ rồi xuyên tạc, đánh lận bản chất vụ án.

Chấn chỉnh công bộc “ngồi tót sỗ sàng”...

 Hơn hai thế kỷ trước, trong “Truyện Kiều”, cụ Nguyễn Du đã phác thảo chân dung một kiểu người gian manh, trịch thượng, bất nhân... đó là Mã Giám Sinh. Đặc điểm nhận dạng kiểu người này là “Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao...”, nhưng văn hóa ứng xử thì “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng...”.

Nhân vật này đã trở thành một điển tích, được người đời sau ẩn dụ nhằm ám chỉ những hành vi kẻ cả, trịch thượng, khả ố... Những biểu hiện phản cảm ấy vẫn đang tồn tại trong văn hóa ứng xử của một bộ phận công bộc, cần phải chấn chỉnh, đấu tranh thẳng thắn để loại bỏ...

Cái “tôi” trịch thượng, xa dân

Một độc giả quen thuộc của Báo Quân đội nhân dân phản ánh với tòa soạn về thái độ tiếp dân của một bộ phận cán bộ ở cơ sở khiến ông và nhiều người rất bức xúc. Chuyện là, ông dẫn đứa cháu đang học trung học cơ sở ra trạm y tế phường xin giấy chứng nhận hết thời gian cách ly để cháu trở lại trường học theo quy định. Cán bộ trực hôm ấy là một người còn trẻ.

“Anh ta chỉ đáng tuổi con tôi. Thế mà khi tôi dẫn cháu vào, anh ta cứ dán mắt vào màn hình điện thoại, chả thèm nhìn tôi, ngả người trên ghế kiểu nửa ngồi nửa nằm, phưỡn cái bụng ra, phẩy tay trả lời cộc lốc rằng, thứ bảy cơ quan không làm việc, muốn xin giấy tờ gì thì thứ hai quay lại. Cán bộ ở cơ sở là bộ phận gần dân, thường xuyên tiếp xúc, làm việc với dân mà phong cách trịch thượng, “ghế trên ngồi tót sỗ sàng” kiểu ấy thì không thể chấp nhận được”, ông nói đầy bức xúc!

Những ví dụ như trên xảy ra không hiếm trong môi trường công sở hiện nay. Sự tác động, ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19 đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế về thái độ, phong cách làm việc, tinh thần trách nhiệm... của một bộ phận cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị các cấp.

Sự bàng quan, thiếu trách nhiệm, ảnh hưởng xấu đến hiệu quả thực hiện nhiệm vụ khiến nhiều cán bộ phải chịu kỷ luật, một số phải điều chuyển công tác. Một bộ phận khác, do hành vi ứng xử thiếu chuẩn mực, có thái độ hách dịch, trịch thượng, kẻ cả... khi giải quyết công việc, giao tiếp với dân, được truyền thông phản ánh, đã cho thấy những mảng tối trong văn hóa công chức, văn hóa công sở.

Đáng tiếc là trong số đó, có cả những người có học hàm, học vị cao, giữ cương vị chủ chốt ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương. Bên cạnh những hành vi phản cảm, kém văn hóa thể hiện khi tiếp xúc với dân, sự trịch thượng, kẻ cả, sỗ sàng... còn biểu hiện cả trong phong cách, phương pháp làm việc ở cơ quan, đơn vị. Một số người khi chưa được bổ nhiệm thì tỏ ra gần gũi, chan hòa với anh em đồng nghiệp để tranh thủ, tận dụng sự ủng hộ nhằm đạt được mục đích cá nhân.

Vậy nhưng khi đã có “ghế trên” rồi thì vội vã “quay xe”, tỏ thái độ “ngồi tót sỗ sàng” với ngay cả những đồng nghiệp đã từng giúp đỡ, nâng đỡ mình. Phong cách này là tác nhân gây mất đoàn kết nội bộ, ảnh hưởng tiêu cực đến văn hóa Đảng, văn hóa công chức, công sở...

Kiểu công bộc này thường tự trang điểm cho chân dung bản thân bằng hình ảnh “mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao”, cố chứng tỏ mình là người đạo mạo, trí tuệ, hơn người. Thực ra, thứ phong cách, hình ảnh họ cố tạo ra là một kiểu “ngụy quân tử”, “ngụy hàn lâm”, sản phẩm của thói hãnh tiến, cửa quyền...

Văn hóa Đảng là một bộ phận tinh hoa của văn hóa dân tộc. Văn hóa Đảng được cấu thành từ chất văn hóa, hành vi văn hóa của mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức đảng và hệ thống chính trị các cấp. Những biểu hiện như trên, dù chỉ diễn ra ở phạm vi hẹp, là trường hợp cá thể, cá biệt của tổ chức đảng và hệ thống chính trị, nhưng mối nguy hại của nó thì khôn lường. Kiểu cán bộ “ngồi tót sỗ sàng” là hiện thân của lối làm việc quan liêu, cửa quyền, xa dân, là của chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, hẹp hòi.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gọi đây là biểu hiện của loại người “lươn, chạch”. Nó là tác nhân của suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống, làm lệch chuẩn văn hóa trong tổ chức đảng. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ rõ: Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở...; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân...

Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường... Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng...

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng đã chỉ rõ: Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”, bệnh lãng phí, vô cảm, bệnh thành tích ở một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi...

Tuyệt đối không buông lỏng vũ khí đấu tranh... 

Đảng ta đã nhận rõ tác hại, nguy cơ của những hạn chế, bất cập nêu trên nên trong tất cả các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định, quy chế... liên quan đến công tác cán bộ, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đều được đề cập, nhấn mạnh, bổ sung, ngày càng hoàn thiện các mục tiêu, giải pháp nhằm khắc phục, chấn chỉnh.

Đại hội XIII của Đảng xác định rõ 3 nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng, Nhà nước trong nhiệm kỳ 2021-2026 là: “Đổi mới mạnh mẽ và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu các cấp đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ...”.

Với phương châm lấy xây để chống, để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trên, bên cạnh chăm lo công tác bồi dưỡng, giáo dục, xây dựng đội ngũ cán bộ vừa hồng vừa chuyên, các cấp ủy đảng phải đặc biệt coi trọng công tác đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, suy thoái trong nội bộ, mà kiểu công bộc “ngồi tót sỗ sàng” là một biểu hiện.

Hành vi cửa quyền, hách dịch, trịch thượng, ngụy hàn lâm... của cán bộ, công chức có thể đó là cái “tôi” của kiểu người “lươn, chạch”, nhưng cũng có thể đó là biểu hiện nhất thời của người đã và đang có sự ngộ nhận, muốn chứng tỏ bản thân.

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là vấn đề mang tính quy luật. Đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, yếu kém nêu trên, vì thế cũng là cuộc đấu tranh mang tính quy luật.

Chính vì vậy, việc đấu tranh bài trừ, loại bỏ những biểu hiện phản văn hóa trong Đảng đòi hỏi phải kiên trì, kiên quyết, khôn khéo, linh hoạt, đặc biệt là phải bám sát các nội dung trong các nghị quyết, quy định, chỉ thị, kết luận, quy chế... Đảng đã ban hành. Nó là cuộc đấu tranh lâu dài giữa cái tốt với cái xấu, cái tích cực với tiêu cực, giữa văn hóa với phản văn hóa... Cuộc đấu tranh ấy diễn ra thường xuyên, liên tục như rửa mặt hằng ngày, diễn ra ở mọi cấp ủy, tổ chức đảng và diễn ra ngay trong mỗi cán bộ, đảng viên, công chức trong hệ thống chính trị.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Không để lọt những người không xứng đáng, không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp...”.

Như vậy, với quy trình quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ qua các bước theo quy định hiện hành và vai trò giám sát của nhân dân, tổ chức đảng, cơ quan chức năng các cấp có đủ điều kiện, căn cứ để sàng lọc, lựa chọn cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực vào bộ máy lãnh đạo, quản lý, loại bỏ những người không đủ tiêu chuẩn ra khỏi quy trình.

Vũ khí đấu tranh đã có sẵn. Quan trọng là những người cầm cân nảy mực và mỗi nhân tố, lá phiếu trong quy trình ấy phải luôn nắm chắc vũ khí đấu tranh, không được buông lỏng, xa rời. Đối với việc đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực ở ngay trong bản thân cán bộ, đảng viên vì sự ngộ nhận, chủ quan, duy ý chí..., chúng ta phải tiếp tục mài sắc vũ khí đấu tranh phê bình, tự phê bình, soi chiếu trong các quy định về trách nhiệm nêu gương, về những điều đảng viên không được nói và làm...

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã nêu rõ: “Hằng năm, người đứng đầu và từng cán bộ, đảng viên có cam kết rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, không suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; các cấp ủy, tổ chức đảng kiểm tra, giám sát việc thực hiện cam kết của cán bộ, đảng viên ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình...”.

Có thể nói, chưa bao giờ công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng lại được Đảng ta coi trọng, triển khai thực hiện quyết liệt và đạt hiệu quả cao như hiện nay. Có được kết quả đó, một phần quan trọng chính là nhờ Đảng đã trang bị đồng bộ vũ khí đấu tranh bằng hệ thống các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định, quy chế... và sử dụng thứ vũ khí ấy theo phong cách nêu gương, từ trên xuống dưới, đặc biệt là từ nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay.

Trong hệ thống các văn bản đó, những điều, mục, nội dung quy định đều rất rõ ràng, vừa bao quát, vừa cụ thể, thể hiện rõ tính hiệu lực, hiệu quả. Tốc độ, hiệu quả của công cuộc chuyển đổi số áp dụng trong quản lý, điều hành, giúp hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị các cấp ngày càng được giám sát chặt chẽ bằng công nghệ thông minh.

Đó chính là tiền đề quan trọng về kỹ thuật, giúp cho công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung, quá trình rèn luyện, trau dồi văn hóa Đảng của cán bộ, đảng viên nói riêng ngày càng thuận lợi. Các cấp ủy đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, tuyệt đối không lơ là, buông lỏng vũ khí đấu tranh, dù ở bất kỳ cương vị nào, hoàn cảnh nào...

Giữ gìn, phát huy tính thống nhất trong quân đội

 

Từ trước tới nay, nói đến tính thống nhất, bất cứ ai cũng phải thừa nhận đó là đặc trưng, là nét đẹp thuộc về phẩm chất, truyền thống của Bộ đội Cụ Hồ.

Việc khẳng định đặc trưng thống nhất trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương là sự kế thừa, phát triển phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ lên tầm cao mới trên cơ sở lý luận và thực tiễn đúc kết qua hơn 77 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

Quân đội đẹp ở sự thống nhất! Để có được sự thống nhất cả về hình thức và nội dung, đòi hỏi phải trải qua quá trình rèn luyện công phu, bền bỉ, bồi đắp cho đặc trưng ấy trở thành vẻ đẹp ngời sáng của Bộ đội Cụ Hồ.

Sự thống nhất trong quân đội vô cùng rộng lớn, bao trùm, nhưng lại hiện hữu ở từng cán bộ, chiến sĩ và từng đơn vị cụ thể. Về mặt hình thức, đặc trưng thống nhất thể hiện trong mang mặc, lễ tiết tác phong; trong xây dựng doanh trại, trang trí khánh tiết đơn vị; trong đội hình huấn luyện, học tập, hành quân, diễu duyệt; trong cách xưng hô, chào hỏi... Đây là những nét bên ngoài ai cũng có thể nhìn thấy, nhận thấy. Nó tạo nên vẻ đẹp của sự thống nhất tổng thể, tác động trực diện vào thị giác mỗi người.

Nét đẹp của sự thống nhất về hình thức bên ngoài chính là biểu hiện của sự thống nhất về nội dung bên trong. Đây là điều cốt lõi, là phẩm chất cao quý của Bộ đội Cụ Hồ. Đó là sự thống nhất ý chí và hành động, thống nhất về nhận thức, tư tưởng, bảo đảm toàn quân một ý chí.

Trong một con người, nhận thức chi phối hành động, nhận thức đúng thì hành động đúng. Từ nhận thức đến hành động, từ suy nghĩ đến việc làm của mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ phải bảo đảm thống nhất, nói đi đôi với làm, không mâu thuẫn bất nhất, không nói một đằng làm một nẻo, gió chiều nào xoay chiều ấy... Sự kiên định, nhất quán hình thành đức tính, thói quen tốt, lâu dần trở thành nét đẹp văn hóa của người quân nhân cách mạng. Chính phẩm chất cao quý này tạo nên uy tín của Bộ đội Cụ Hồ đối với nhân dân và với bạn bè quốc tế.

Trong một tập thể quân nhân, từng chiến sĩ thống nhất để có một tập thể thống nhất. Từ chỉ huy đến chiến sĩ, từ cấp dưới đến cấp trên đều thống nhất ý chí và hành động. Song, để có sự thống nhất này là cả một quá trình, kết hợp nhiều khâu, nhiều bước. Trước hết, trong cơ chế lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam thống nhất lãnh đạo Quân đội nhân dân “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt”. Sự lãnh đạo ấy được thực hiện thống nhất thông qua hệ thống tổ chức đảng từ Quân ủy Trung ương đến các chi bộ. Ở từng đơn vị, sự thống nhất giữa bí thư cấp ủy với người chỉ huy bảo đảm cho đơn vị luôn dân chủ, đoàn kết, không xảy ra độc đoán, chuyên quyền; “làm việc theo chức trách, hành động theo điều lệnh”, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức... Trong giáo dục, tuyên truyền, định hướng tư tưởng thực hiện thống nhất theo hướng dẫn, quy định của Tổng cục Chính trị. Trong chuyên môn, nghiệp vụ quân sự thực hiện thống nhất theo chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu... Nhờ đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ mới có bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thông nghiệp vụ quân sự; mỗi đơn vị mới đạt thành tích vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”; quân đội mới giữ vững kỷ cương, thống nhất.

 Thực tiễn lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta cho thấy, tính thống nhất là đặc trưng hàng đầu và là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Điều này được minh chứng bằng những chiến công vang dội trong suốt chặng đường hơn 77 năm qua. Bắt đầu từ chiến thắng mở màn Phai Khắt, Nà Ngần đến Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, Chiến dịch Điện Biên Phủ và thắng lợi cuối cùng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, thống nhất non sông... Tất cả đều minh chứng rõ nét cho sức mạnh của sự thống nhất. Gần đây là “cuộc chiến” chống dịch Covid-19, hình ảnh những đoàn quân từ các đơn vị ở mọi miền Tổ quốc chi viện cho TP Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Nam Bộ chống dịch với tinh thần “tính mạng, sức khỏe của nhân dân là trên hết, trước hết” làm sống lại khí thế một thời “tất cả vì miền Nam ruột thịt”. Nếu không có sự thống nhất trên dưới một lòng, toàn quân một ý chí, “nhất hô bá ứng”, muôn người như một... thì “cuộc chiến” chống dịch Covid-19 ở TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai... sẽ không thể có được kết quả như ngày hôm nay...

Bởi vậy, chăm lo, củng cố và phát huy đặc trưng thống nhất của quân đội chính là góp phần tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Để làm được điều này cần chú trọng tiến hành song song cả nội dung và hình thức. Về hình thức, cần tập trung xây dựng nền nếp chính quy, trang phục, lễ tiết tác phong, xưng hô, chào hỏi... Đây là trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, của cấp ủy, người chỉ huy các cấp, tùy theo chức năng, nhiệm vụ để chủ động duy trì, triển khai thực hiện sao cho đúng pháp luật, điều lệnh quân đội.

Để thống nhất về nội dung, cần đẩy mạnh nghiên cứu, học tập, đấu tranh bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước. Đây là cơ sở tạo sự thống nhất về tư tưởng, ý chí, từ đó thống nhất về hành động trong đơn vị; phát huy dân chủ, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập thể lãnh đạo đi đôi với phân công cá nhân phụ trách; duy trì nghiêm kỷ luật của quân đội và các quy định của đơn vị... Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tích cực, chủ động đổi mới nội dung, hình thức giáo dục chính trị, trau dồi bản lĩnh cho bộ đội; tăng cường xây dựng và củng cố mối quan hệ đồng chí, đồng đội, thương yêu, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau, kiên quyết ngăn chặn những biểu hiện quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, phân biệt đối xử giữa cán bộ với chiến sĩ và giữa các chiến sĩ với nhau. Đặc biệt, cần nhận diện rõ 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân theo Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương, làm cơ sở giáo dục cho mọi cán bộ, chiến sĩ biết phòng tránh, khắc phục kịp thời khi có dấu hiệu của chủ nghĩa cá nhân trong đơn vị...

Như vậy, xét đến cùng, xây và chống, phát huy và ngăn chặn luôn song hành và là một trong những biện pháp quan trọng góp phần bảo đảm sự thống nhất, chính quy trong quân đội, tiếp tục làm ngời sáng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.

BÁO CHÍ CẦN TẠO CẦU NỐI VÀ NHÂN LÊN NGỌN LỬA CỦA LÒNG NHÂN ÁI

 

Trong khuôn khổ Hội báo toàn quốc 2022, chiều 14-4, tại Bảo tàng Hà Nội, Báo Nhà báo và Công luận phối hợp cùng Nhà văn hóa Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Chuyện nghề: Hai chữ nhân văn”.

Trong những năm qua, nhiều cơ quan báo chí, nhiều nhà báo đã xem yếu tố nhân văn là tiêu chí quan trọng hàng đầu với việc mở các chuyên mục về chuyện tử tế, sống đẹp và nhiều hoạt động xã hội hướng tới giá trị nhân văn.

Điều đó đã có hiệu ứng tích cực với xã hội, lan tỏa sâu rộng và tạo ra được sự thay đổi nhiều số phận con người, nhiều vùng đất và đặc biệt thổi lên những ngọn lửa của lòng nhân ái, lối sống đẹp trong cộng đồng. Không ít nhà báo đã âm thầm nỗ lực làm việc thiện đằng sau con chữ, chung tay, góp sức làm nên những "câu chuyện cổ tích" giữa đời thường...

Tại buổi tọa đàm, các nhà báo, nhân vật trải nghiệm qua các câu chuyện đã nhấn mạnh, giữa cuộc sống xô bồ, người làm báo đang viết nên những nốt nhạc đầy ý nghĩa về lòng tốt của con người. Những việc làm ý nghĩa ấy cứ vang xa, vang mãi, lay động hàng triệu trái tim, thổi bùng lên ngọn lửa thiện nguyện. Đó chính là điều tốt đẹp mà người làm báo “nhận” được khi làm những “chuyện tử tế”.

Xuất phát từ những ý nghĩa đó, với mong muốn lan tỏa sâu rộng những điều tốt đẹp trong cuộc sống, các tác giả muốn thông qua buổi tọa đàm gửi đi thông điệp: Báo chí thổi lên “những ngọn lửa của lòng nhân ái”.

BÁC HỒ DẶN CÁN BỘ, CHIẾN SĨ QUÂN ĐỘI PHẢI TIẾN TỚI

 

Là người cha thân yêu của lực lượng vũ trang, Bác Hồ dành tình cảm đặc biệt và sự chăm sóc ân cần, chu đáo cho bộ đội; từ tướng lĩnh chỉ huy đến các chiến sĩ ngoài mặt trận.

Hơn ai hết, Người thấu hiểu những gian nan, vất vả, hy sinh của Quân đội ta trong cuộc chiến giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Từ Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân-tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam, cho đến khi Người viết Di chúc để lại trước lúc đi xa, tình cảm và niềm tin yêu hy vọng của Người dành cho Bộ đội Cụ Hồ với truyền thống bách chiến bách thắng vẫn luôn đằm thắm, ân tình sâu nặng.

Với Quân đội ta, đó thực sự là nguồn động viên, cổ vũ to lớn, là tài sản tinh thần vô giá mà Bác trao gửi. Tình cảm của Bác với quân đội và tình cảm của quân đội với Bác là một mẫu mực hiếm thấy về mối quan hệ giữa lãnh tụ với cán bộ, chiến sĩ quân đội cách mạng, chỉ thấy ở Bác Hồ, ở danh xưng cao quý mà nhân dân trao tặng Bộ đội Cụ Hồ. Mẫu mực ấy còn thể hiện ở hành động dũng cảm của lớp lớp chiến sĩ các thế hệ tiếp nối nhau “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” để tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ.

“Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”- lời khen ngợi của Bác nhân dịp kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1964) đồng thời cũng là một thông điệp lịch sử, mệnh lệnh của Người đối với toàn quân-thiêng liêng mà chan chứa tình thương yêu và niềm tin mãnh liệt. Thời gian càng lùi xa, những lời khen ngợi, căn dặn của Bác đối với cán bộ, chiến sĩ toàn quân càng trở nên thấm thía, có sức lay động, thúc đẩy Quân đội ta tiến tới như Bác hằng mong, Đảng và nhân dân ta tin tưởng.

Vậy Bác đã căn dặn cán bộ, chiến sĩ quân đội phải tiến tới như thế nào? Những căn dặn của Bác vào lúc này, chúng ta cần thấm nhuần và thực hiện ra sao để giữ vững và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong điều kiện và hoàn cảnh mới? Trước hết, phải tiến tới bằng quyết tâm rèn luyện, phấn đấu, tu dưỡng không ngừng tiến bộ và phát triển; còn đối với tất cả mọi người, nhất là cán bộ, đảng viên, phải tiên phong gương mẫu cho quần chúng noi theo.

Phải tiến tới còn với nghĩa là phải hành động, lời nói phải đi đôi với việc làm, đã nói thì phải làm; “không ngại khó, ngại khổ”, “thắng không kiêu, bại không nản”, giữ vững ý chí chiến đấu, ra sức phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm để mỗi người trở nên tốt hơn, mỗi tổ chức, đơn vị trở nên mạnh hơn.

Phải tiến tới là tự vượt lên chính bản thân mình, có dũng khí và bản lĩnh chiến thắng chủ nghĩa cá nhân-thứ “giặc nội xâm” nguy hiểm nhất. Để tiến tới là cần phải tích cực học tập và rèn luyện suốt đời; học văn hóa và kỹ thuật quân sự, học chính trị để trau dồi lập trường tư tưởng vững vàng, học trong thực tiễn cuộc sống. Những việc này không chỉ đòi hỏi sự tự nguyện, tự giác của bản thân mà đòi hỏi còn phải có nghị lực, bản lĩnh, tinh thần nêu cao trách nhiệm, nhất là ở người đứng đầu.

Một vấn đề rất hệ trọng để thực hiện tốt việc tiến tới, cán bộ, chiến sĩ toàn quân phải gắn bó mật thiết, máu thịt với nhân dân, nghĩa là ai ai cũng phải làm tốt công tác dân vận, chú trọng binh vận, địch vận. Bác Hồ chính là tấm gương thực hành mẫu mực, sáng tạo, có tác dụng giáo dục rất lớn đối với cả quân và dân. Người khẳng định và chỉ rõ: “Không có dân thì không có bộ đội”, “Quân với dân phải như cá với nước”, “Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội”, “Quân đội ta là quân đội nhân dân, do dân đẻ ra, vì dân mà chiến đấu, yêu nước, yêu dân, cho nên hy sinh kham khổ”.

Do đó, bộ đội trong toàn quân, từ tướng lĩnh đến các binh sĩ phải luôn gần dân, sát dân, bám dân, giúp đỡ dân và hy sinh để bảo vệ dân. Phải gương mẫu về dân vận, sao cho ''đi dân nhớ, ở dân thương", "dân tin, dân phục, dân yêu...".

Cán bộ, chiến sĩ phải tiến tới theo chỉ dẫn của Bác Hồ đòi hỏi sự nỗ lực, phấn đấu toàn diện về mọi mặt, từ thể lực, trí lực, tâm lực, tức là sức khỏe, trí tuệ sáng suốt, mưu trí, dũng cảm, đoàn kết, nhất trí, thương yêu nhân dân, đó là đạo đức, nói rộng ra là nhân cách, phẩm giá Bộ đội Cụ Hồ, là văn hóa của quân đội, của nền khoa học và nghệ thuật quân sự hiện đại, là bản lĩnh chính trị của quân đội cách mạng.

Những chỉ dẫn của Người giản dị, thiết thực mà vô cùng sâu sắc, có ý nghĩa không chỉ trong thời chiến mà cả trong thời bình. Người nhấn mạnh vào mấy điểm cốt yếu: “Toàn dân đoàn kết. Tướng sĩ dũng cảm. Chính trị vững chắc. Chỉ huy khôn khéo. Bốn điều ấy hợp lại, làm cho kháng chiến nhất định thắng lợi”.

Những điều ấy vừa là chuẩn mực, phẩm chất và điều kiện để quân nhân tiến tới, để quân đội tiến tới chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc thành quả của cách mạng, của công cuộc đổi mới, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Hiện nay, để tiến tới, cán bộ, chiến sĩ toàn quân vừa có nhiều thời cơ thuận lợi, cũng vừa phải đối mặt với những khó khăn, thách thức và cả những nguy cơ hơn bao giờ hết. Đảng, Nhà nước, quân đội đang nêu cao quyết tâm, tín tâm, đồng tâm như chỉ dẫn của Người, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, chống được mọi biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, chống chủ nghĩa cá nhân.

Sâu xa là ra sức nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, đủ sáng suốt, tỉnh táo và bản lĩnh để vượt qua những cám dỗ của vật chất, danh lợi để giữ trọn lòng trung thành với Đảng, với nhân dân “tận trung với Đảng”, “tận hiếu với dân”, xứng đáng là Bộ đội Cụ Hồ.


GS, TS HOÀNG CHÍ BẢO

Quân đội nhân dân Việt Nam kiên quyết, kiên trì đấu tranh để bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc

 

Trước những hành động vi phạm chủ quyền biển, đảo của một số quốc gia đối với nước ta, các thế lực thù địch vẫn rêu rao rằng: “Khi đối đầu với Trung Quốc trên Biển Đông, tại các vùng tranh chấp, Quân đội Việt Nam không dám nổ súng, không dám đấu tranh, để mặc Trung Quốc muốn làm gì thì làm…”. Đó là những luận điệu xuyên tạc sự thật, cố tình kích động gây căng thẳng tình hình với mục đích đẩy chúng ta vào cuộc đối đầu quân sự có thể dẫn đến hậu quả khó lường.

Thực tiễn cho thấy, trong suốt thời gian Trung Quốc vi phạm chủ quyền của Việt Nam trên biển, các lực lượng Hải quân, Biên phòng, Cảnh sát biển của Quân đội Việt Nam đã phối hợp với kiểm ngư và ngư dân, luôn luôn có mặt 24/24h, thực hiện các hoạt động kiên quyết, kiên trì đấu tranh nhằm giữ vững chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

Với tinh thần dân tộc, lòng yêu nước luôn cháy bỏng trong mỗi công dân Việt Nam, hãy đưa đất nước ta ngày càng phát triển, giàu mạnh, tăng cường mọi tiềm lực, sánh vai được với các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới, đấu tranh, phản bác lại các luận điệu xuyên tạc tình hình Biển Đông của các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước. Mỗi người dân yêu nước cần tỉnh táo, bình tĩnh, kiên quyết, kiên trì, nhận thức rõ và kiên quyết đấu tranh làm thất bại các luận điệu xuyên tạc, kích động chống phá của các thế lực thù địch để có hành động đúng, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

                                                                             NQR