Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2022

 

Giao lưu văn hóa - quan điểm nhất quán, cởi mở và có hệ thống của Đảng ta

 Từ khi ra đời đến nay, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đều có những quan điểm nhất quán, cởi mở và có hệ thống về giao lưu văn hóa với nước ngoài. Đóng cửa, khép kín và kỳ thị văn hóa nước ngoài là những xu hướng xa lạ với Đảng ta.

Ngay từ khi chưa giành được chính quyền, việc Đảng vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam để đề ra đường lối tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa đã là một dấu ấn in đậm giao lưu văn hóa. Hồ Chí Minh coi V.I.Lênin là “hiện thân của tình bác ái”, còn chủ nghĩa Lênin là “Cẩm nang thần kỳ… là mặt trời soi sáng đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng” tức là văn hóa. Giao lưu văn hóa trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa ngày nay đòi hỏi bản lĩnh văn hóa Việt Nam, bởi nó là phẩm chất tự quyết định một cách độc lập thái độ, hành động của chúng ta, không vì áp lực bên ngoài mà thay đổi quan điểm. Bản lĩnh, bản sắc dân tộc là cơ sở của giao lưu văn hóa. Trong mọi hoạt động văn hóa, Đảng ta bao giờ cũng quan tâm đến truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Nhiều nhà hoạt động văn hóa trong những thập niên 20, 30 của thế kỷ trước đã giới thiệu trên báo chí công khai sự nghiệp, sáng tác của M.Gorki, Lỗ Tấn, R.Rôlăng, H,Bácbuytx. Tiểu thuyết Người mẹ được một số nhà chính trị dịch trong nhà tù đế quốc và truyền tay nhau để đọc. Chủ nghĩa duy vật lịch sử và phép biện chứng của chủ nghĩa Mác được truyền bá, được coi là cơ sở lý luận cho các cuộc tranh luận học thuật trên báo chí công khai.v.v..

GIAO LƯU VĂN HÓA LÀ MỘT QUY LUẬT CỦA THỜI ĐẠI

Giao lưu văn hóa là một hiện tượng phổ biến của xã hội loài người, là quy luật vận động, phát triển của mọi nền văn hóa. Giao lưu văn hóa phản ánh sự học hỏi và tiếp nhận tri thức, kinh nghiệm của các quốc gia trên nhiều lĩnh vực, trước hết là những thành tựu về trí tuệ, khoa học, công nghệ, về kinh nghiệm tổ chức, quản lý nhà nước. Lịch sử giao lưu văn hóa quốc tế đưa lại cho nhân loại ánh sáng trí tuệ, những phát minh, những kinh nghiệm trong lao động sáng tạo. Nhờ giao lưu văn hóa đúng hướng mà các nước chậm phát triển có cơ hội trở thành những nước phát triển trong thời gian ngắn.

Do hoàn cảnh lịch sử, việc giao lưu văn hóa với thế giới của Việt Nam bị chậm trễ cả về không gian và thời gian so với nhiều nước. Nhưng bù lại, chúng ta có kinh nghiệm hội nhập văn hóa mà không bị đồng hóa. Trong quá trình tiếp xúc với văn hóa Pháp, khoảng từ năm 1919 trở đi, một phong trào canh tân các loại hình văn hóa - nghệ thuật được dấy lên: từ văn tự, ngôn ngữ, báo chí, giáo dục, văn thơ, hội họa, âm nhạc đến sân khấu, điện ảnh nhằm chuyển tải những giá trị dân tộc, nói lên tâm hồn, lối sống, tập quán, tâm lý, thị hiếu của người Việt Nam vào những thập niên đầu thế kỷ. Trong hàng ngàn năm dưới ách đô hộ của phong kiến Trung Hoa, khi tiếp xúc với văn hóa phương Bắc, các văn nhân, trí sĩ của ta luôn sáng tạo với phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” để hôm nay chúng ta có được một nền văn hóa riêng, độc lập mà không biệt lập, hội nhập mà không hòa tan.

Tuy nhiên, nhiều năm gần đây, những quan niệm về giao lưu văn hóa cũng có chỗ bất cập. Giao lưu văn hóa phải có nhận và cho. Song, cái không cần thiết, thậm chí độc hại thì lại đang có xu hướng “nhận” - nhập vào ồ ạt theo nhiều con đường khác nhau. Điều này đã được nêu lên trong Văn kiện Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII: “Giao lưu văn hóa với nước ngoài chưa tích cực và chủ động, còn nhiều sơ hở. Số văn hóa phẩm độc hại, phản động xâm nhập vào nước ta quá lớn; trong khi đó, số tác phẩm văn hóa có giá trị của nước ta đưa ra bên ngoài còn quá ít”.

Đảng Cộng sản Việt Nam từ Đề cương văn hóa 1943 cho đến những văn kiện Đại hội XIII (năm 2021), ở những mức độ khác nhau và tùy theo điều kiện lịch sử khách quan đã coi giao lưu văn hóa là một nội dung chiến lược quan trọng, bao chứa nhiều quan điểm nhất quán, nhưng với phương châm hành động khác nhau. Trong Đề cương văn hóa 1943, chúng ta chưa thấy xuất hiện thuật ngữ “giao lưu văn hóa”, bởi bấy giờ phương châm chủ yếu của văn hóa Việt Nam là chống. Chống nguy cơ chính sách văn hóa của thực dân Pháp và phát xít Nhật nhằm giết chết văn hóa nước ta; chống việc Âu hóa một cách lố lăng, Nhật hóa một cách xô bồ, việc học Tống Nho một cách mê muội; đấu tranh với các triết thuyết và tông phái văn nghệ trái với chủ nghĩa Mác. Những yếu tố xây như ba nguyên tắc: dân tộc hóa, khoa học hóa, đại chúng hóa, xây dựng văn hóa tân dân chủ Đông Dương, trong đó có Việt Nam… là những yếu tố đặt điều kiện giao lưu văn hóa cho các giai đoạn tiếp theo.

Ngày 24/11/1946, tại Nhà hát lớn Hà Nội, Hội nghị văn hóa toàn quốc khai mạc, Hồ Chủ tịch lên diễn đàn với những kiến giải sâu sắc: “Văn hóa có liên quan mật thiết với chính trị. Văn hóa soi đường cho quốc dân, phải làm thế nào để văn hóa ăn sâu vào tâm lý quốc dân… và phải lấy tự do, độc lập làm gốc”; theo Người: “Có cái gì tốt của Đông phương hay Tây phương ta phải học lấy để tạo nên một nền văn hóa Việt Nam. Lại phải lấy kinh nghiệm tốt của văn hóa xưa và văn hóa nay, trau dồi văn hóa Việt Nam có tinh thần thuần túy Việt Nam, hợp với tinh thần dân chủ”. Như vậy, quy luật giao lưu văn hóa thường mang phương châm biện chứng: học tập cái tốt của văn hóa bên ngoài, học tập cái hay của văn hóa quá khứ là để xây dựng nền văn hóa hiện nay mang bản sắc dân tộc. Đồng thời, nền văn hóa mang bản sắc dân tộc là tiền đề điều kiện, cơ sở để giao lưu thuận lợi với văn hóa nước ngoài.

Tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ ba (năm 1962), Trung ương đã nhắc nhở các nhà văn hóa, văn nghệ sĩ hiểu đúng tính chất dân tộc và nhiệm vụ quốc tế của nền văn hóa nước nhà. Đó là hai vế bổ sung cho nhau, làm phong phú lẫn nhau để xây dựng nền văn nghệ mới. Những tư tưởng hư vô, tâm lý dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa sôvanh, sùng bái quá khứ đều xa lạ với quan điểm của Đảng. Mặt khác, những tư tưởng sùng ngoại, lai căng hoặc bài ngoại đều là những quan điểm thiển cận. Tính chất dân tộc dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là kết tinh những giá trị Chân - Thiện - Mỹ của dân tộc, là bản lĩnh biết tiếp thu, chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu cho văn hóa dân tộc.

Vào đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, trong tiểu luận “Mấy vấn đề văn nghệ Việt Nam hiện nay”, Tổng Bí thư Trường Chinh đặt câu hỏi: “Chúng ta học tập gì ở văn nghệ thế giới?” và trả lời: “...Chúng ta cũng cần học hỏi văn nghệ tiến bộ và cách mạng của các nước phương Tây nữa. Chúng ta nghiên cứu cả kỹ thuật của một số trường phái văn nghệ ở các nước ấy, nhưng nghiên cứu với con mắt phê bình, không thần thánh hóa kỹ thuật đó, cũng không bắt chước một cách nô lệ, mà nghiên cứu để giúp vào việc sáng tạo hình thức nghệ thuật dân tộc...”(5).

Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đánh dấu một cột mốc mới trong lịch sử và văn hóa dân tộc. Đảng đã khởi xướng đường lối đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế. Đó là một luồng gió mới làm thoáng mát và sống động mọi lĩnh vực đời sống. Thành tựu lớn nhất của giai đoạn này là giữ vững ổn định chính trị, tiếp tục mở rộng giao lưu văn hóa.

Từ sau Đại hội VI, các nhiệm kỳ Đại hội của Đảng đã bổ sung và phát triển đường lối đổi mới, trong đó có lĩnh vực giao lưu văn hóa, với những quan điểm cơ bản như: xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con ngườido con người; kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại; chống tư tưởng, văn hóa phản tiến bộ, trái với truyền thống tốt đẹp dân tộc và những giá trị cao quý của loài người; nhấn mạnh những nội dung: nhân đạo, dân chủ, tiến bộ trong đời sống tinh thần xã hội và tính chất nền văn hóa mới; chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa...

Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã đi vào đời sống vào hợp lòng dân. Về vị thế, vai trò, tác dụng của văn hóa và giao lưu văn hóa của Nghị quyết này được các nhiệm kỳ Đại hội Đảng sau đó tiếp thu một cách cơ bản và làm sáng rõ hơn trong điều kiện lịch sử mới của thế kỷ XXI. Đại hội IX của Đảng ghi rõ: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập - tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn sàng làm bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế...; đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học và công nghiệp...; tiếp thu tinh hoa và góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa nhân loại. Đấu tranh chống sự xâm nhập của văn hóa độc hại”.

Kế thừa nội dung trong các nghị quyết, văn kiện, nhất là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Văn kiện Đại hội XII về xây dựng, phát triển văn hóa, con người, trong Văn kiện Đại hội XIII, quan điểm của Đảng về xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam được trình bày trong mối quan hệ thống nhất, biện chứng khi khẳng định: “Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế”.

NHỮNG NGUYÊN LÝ VÀ NỘI DUNG GIAO LƯU VĂN HÓA

Một là, tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ của các dân tộc khác.

Bàn về mối quan hệ giữa các dân tộc và vai trò các thành tựu tinh thần của dân tộc, Mác và Ăngghen đã viết: “Những thành quả hoạt động tinh thần của một dân tộc trở thành sở hữu chung của tất cả các dân tộc khác. Tính chất hẹp hòi, phiến diện dân tộc ngày càng không tồn tại được nữa; và từ những nền văn học dân tộc và địa phương muôn hình muôn vẻ, đang nảy nở một nền văn học chung toàn thế giới... Một nước có thể và phải học hỏi kinh nghiệm lịch sử của một nước khác”.

Trong quá trình tiếp thu cái bên ngoài, đặc biệt là trong bối cảnh, tình hình hiện nay, chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh, bền bỉ tuyên truyền, giáo dục, nhất là trong thế hệ trẻ, đề phòng tâm lý sính ngoại, phục ngoại vô cớ; mặt khác, cũng tránh tâm lý khép kín, coi thường những giá trị các dân tộc. Thái độ đúng đắn nhất để ứng xử mối quan hệ giữa cái bên ngoài và cái bên trong là: Càng đi vào dân tộc sâu sắc bao nhiêu, thì nhanh chóng hiểu biết, dễ tiếp nhận cái hay, cái đẹp của thế giới bấy nhiêu. Thật đúng chỗ khi dẫn ra đây kiến giải của Hồ Chí Minh: “Văn hóa của các dân tộc khác cần phải nghiên cứu toàn diện, chỉ có trong trường hợp đó mới có thể tiếp thu được nhiều hơn cho văn hóa của mình”; “Mỗi một dân tộc cần phải chăm lo đặc tính dân tộc trong nghệ thuật”; “Càng thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, càng phải coi trọng những truyền thống tốt đẹp của cha ông”.

Hai là, giới thiệu lịch sử, đất nước, con người, văn hóa Việt Nam với thế giới.

Các giá trị văn hóa truyền thống của nước ta có rất nhiều. Ở đây chỉ xin nêu 3 bình diện nổi trội, đó là: chủ nghĩa yêu nước Việt Nam; nền văn hóa Việt Nam và con người Việt Nam. Trong đó, chủ nghĩa yêu nước, ý thức tự cường dân tộc là tài sản vô giá của truyền thống văn hóa Việt Nam. Nói dân tộc ta có sức sống trường tồn, không bị đồng hóa trước âm mưu thôn tính của kẻ thù, đồng lòng đứng lên chống ngoại xâm là nói sức mạnh của dân, trách nhiệm của dân và lợi ích của dân. Thời nào cũng vậy, lúc bình cũng như lúc biến, các bậc minh quân đều lấy dân làm gốc, lấy nhân nghĩa làm đức, lấy hòa hiếu để ứng xử bang giao; đối nội thì thuận lòng người, đối ngoại thì mềm dẻo, linh hoạt. Truyền thống hòa hiếu là cơ sở chính cho chính sách ngoại giao đa phương để hội nhập với thế giới trong thời đại Hồ Chí Minh. Tổng Bí thư Lê Duẩn có lần nói: “Phải có một nghìn năm văn hóa trước đó, mới có chuyện Hai Bà Trưng thắng quân Hán... Dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam, không bị đồng hóa là vì sao? Vì sớm có nền văn hóa của mình mà cao nhất là chủ nghĩa yêu nước...”.

Người Việt Nam với những tố chất tích cực như tính cộng đồng cao, ý thức đồng thuận, tính cần cù, cường độ lao động hóa, truyền thống hiếu học.v.v.. đã và sẽ làm được nhiều việc phi thường. Nhưng, trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, cần khắc phục một số nhược điểm: người Việt Nam thông minh, nhưng mới ở từng cá nhân, chưa đến độ thông minh cộng đồng, người có trí tuệ lỗi lạc rất hiếm; não bộ người Việt Nam phát triển, nhưng não sáng tạo ít hơn não thích ứng, thói quen bắt chước rất nhanh.v.v.. Nguyên nhân vì sao? Cho đến nay, về cơ bản, tinh thần cốt lõi của văn hóa Việt Nam vẫn nặng về tư tưởng nông dân, tâm lý tiểu nông, tầm nhìn hạn hẹp, chưa thật sự tôn trọng quyền cá nhân, chấp nhận cá tính, ý thức dân chủ chưa cao, mặc dù Nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp quy của Nhà nước đã ngăn ngừa, phê phán không phải một lần.

Ba là, ngăn ngừa và đấu tranh chống sự xâm nhập các sản phẩm văn hóa độc hại.

Những yếu tố độc hại, suy đồi của các sản phẩm văn hóa ngoại lai (dù có chủ ý của các thế lực thù địch hay “vô tư” “vô tâm” du nhập) đã và đang như những đợt sóng ngầm va đập âm ỉ vào bến bờ của nhiều nước đang phát triển như Việt Nam. Nó có những đặc điểm sau: truyền bá phương châm tiêu dùng, lối sống thực dụng, trước hết là lớp trẻ; dùng các hình thức từ thiện, du lịch, tôn giáo để đạt mục đích chính trị; tuyên truyền sùng bái văn hóa phương Tây - coi đó là mô hình chuẩn; tổ chức và bảo trợ cho một số trí thức, văn nghệ sĩ, biến họ thành những “cái loa”, “chất men” phản kháng, chống sự nghiệp đổi mới của ta. Những chiến dịch ồn ào về đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, “chuyển lửa về quê hương” đã được thay thế bằng “bàn tay bọc nhung” nắm lấy hoạt động từ thiện, du lịch, “giao lưu văn hóa” giả hiệu để giương cao những tuyên ngôn, tuyên cáo về nhân quyền, tự do, dân chủ với mục đích chính trị đen tối.

Bốn là, giao lưu văn hóa trong thời kỳ hội nhập quốc tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH), cần coi trọng hàng đầu các quy luật đặc thù sau:

1) Xây dựng con người Việt Nam phát triển cao về trí tuệ, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, cường tráng về thể chất. Con người không phải là phương tiện của quá trình CNH-HĐH mà là trung tâm, là động lực và mục tiêu của phát triển;

2) Xây dựng môi sinh văn hóa, tức là “thiên nhiên thứ hai” do con người xây dựng trong quá trình CNH-HĐH và đô thị hóa;

3) Đảm bảo điều kiện văn hóa, tức là chính sách, thể chế, pháp lý cần và đủ cho hoạt động văn hóa và xã hội hóa văn hóa;

4) Phát triển, nâng tầm về “chất” đội ngũ quản lý văn hóa.

Giao lưu văn hóa là sự đối thoại giữa các nền văn hóa nhiều khi đóng vai trò quan trọng, thậm chí quyết định cho những cuộc đàm phán về biên giới, lãnh thổ, xung đột sắc tộc. Quá trình giao lưu văn hóa cần tính đến giá trị chunggiá trị nhân loại, đồng thời thừa nhận cái khác biệt của người, để các dân tộc khác thừa nhận cái khác biệt của ta. Lo sợ về “cơn lốc toàn cầu hóa” là có thật, nhưng việc dân chủ hóa công nghệ, dân chủ hóa tài chính, dân chủ hóa thông tin là không thể không chấp nhận. Vấn đề còn lại là bản sắc, bản lĩnh, đạo lý dân tộc./.

Nguồn:TG

 

30/4/1975 SẼ VIẾT CHO NHAU "HẠNH PHÚC LÀ THẾ NÀO" - MÃI MÃI TUỔI 20!

     Ngày 30/4/1971, trong thư hồi âm gửi chị Phạm Như Anh, người lính trẻ Nguyễn Văn Thạc đã viết: 
"Hạnh phúc của Thạc và Như Anh chỉ có thể gắn chặt với niềm vui chung của dân tộc mà thôi. 4 năm nữa, biết bao nhiêu sự kiện đã xảy ra. 30/4/1975, thì Như Anh và Thạc đang ở trong tình trạng nào? Như Anh ơi, hứa với Thạc đi, 30/4/1975, dù chúng ta có thể giận, ghét nhau đến đâu đi nữa, dù thế nào cũng sẽ viết cho nhau những dòng chữ 'Hạnh phúc là thế nào' nhé!”.

Trong nhiều bức thư khác, anh Thạc nói mình mơ ước viết được một tác phẩm để đời, kiểu như “Chiến tranh và Hòa bình”, nhưng anh cũng viết: “Như Anh ngày mai làm tiếp cho Thạc, những điều Thạc còn bỏ dở, Như Anh là ngày mai, là tương lai của Thạc”, anh đã linh cảm mình sẽ không còn sống để trở về...

Lá thư cuối cùng Nguyễn Văn Thạc gửi cho chị Như Anh đề ngày 11/7/1972, như một lời từ biệt: “Chiến tranh đã và sẽ lấy đi nhiều hơn của Thạc. Chả có gì là bi kịch đâu. Trong cuộc sống, cái đổ vỡ, cái bi thảm thường sâu thẳm hơn niềm vui nông nổi”.

Và từ đó, chị Như Anh không nhận được thêm bức thư nào của anh Nguyễn Văn Thạc nữa. Ngày 30/7/1972, anh đã hy sinh, nằm lại nơi Thành cổ Quảng Trị.

Nỗi buồn, bi kịch, bi thảm của những người anh hùng là như vậy. Nhưng 30/4 của những năm gần đây, lại có những kẻ lại nhìn nhận "triệu người vui cũng có triệu người buồn" theo hướng "bên thắng cuộc, bên thua cuộc" mà lại dẫn dắt "phải vượt qua, đừng nói chuyện thắng thua, đừng kỷ niệm 30/4 hoành tráng nữa", vì lo cho nỗi buồn của... những kẻ bán nước! Lại có những kẻ nói "gọi nguỵ quân nguỵ quyền là miệt thị, hạ nhục đồng bào bên kia chiến tuyến"!
Bác Hồ vĩ đại đã dạy "nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một" - tại sao lại có những kẻ ở bên kia chiến tuyến để bây giờ đòi được vinh danh? Chúng là những kẻ nào, tại sao cần phải "vinh danh vì họ theo giặc nhưng cũng yêu nước"?
Yêu nước ST.

 

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bản lĩnh chính trị của Đảng cách mạng - Giá trị vận dụng trong xây dựng Đảng về chính trị hiện nay

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bản lĩnh chính trị của Đảng cách mạng có ý nghĩa sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn đối với công tác xây dựng Đảng về chính trị hiện nay. Trong điều kiện đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng càng phải không ngừng rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Bản lĩnh Hồ Chí Minh - bản lĩnh chính trị của Đảng chân chính cách mạng

Ngay từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX, khi truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị những điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã thể hiện bản lĩnh chính trị với những quan điểm rất riêng và sáng tạo. Khi đó, Quốc tế Cộng sản chưa nhìn nhận đầy đủ vai trò của cách mạng thuộc địa và cho rằng, cách mạng ở các nước thuộc địa chỉ có thể thắng lợi sau khi cách mạng vô sản thắng lợi ở các nước tư bản (chính quốc). Tháng 5-1921, Nguyễn Ái Quốc cho rằng, cách mạng các nước thuộc địa ở châu Á có thể chủ động giành thắng lợi và còn “có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”. Là người hoạt động quốc tế sôi nổi, nhất là trong Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc rất coi trọng tranh thủ sự ủng hộ, đoàn kết, giúp đỡ của đồng chí, bạn bè quốc tế đối với sự nghiệp giải phóng của dân tộc mình. Nhưng Người ý thức rất rõ là phải dựa vào thực lực của chính mình để tự giải phóng, “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”. Ý chí tự lực, tự cường của Người là rất rõ ràng và đã trở thành ý chí của toàn Đảng và toàn dân tộc.

Ở một nước thuộc địa, phong kiến lạc hậu như Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc hiểu rõ chính sách tàn bạo của chủ nghĩa thực dân Pháp; từ đó, Người đã viết “Bản án chế độ thực dân Pháp”. Ở xứ thuộc địa, mâu thuẫn dân tộc là cực kỳ gay gắt; vì vậy, đấu tranh giải phóng dân tộc phải được đặt lên hàng đầu, chứ không phải là đấu tranh giai cấp như ở các nước tư bản phương Tây. Đó là điều rõ ràng trong quan điểm của Nguyễn Ái Quốc. Các giai cấp bóc lột ở Việt Nam (địa chủ, tư sản) đều nhỏ bé, một bộ phận có tinh thần dân tộc và yêu nước ở mức độ nhất định. “Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây”. “Nếu nông dân gần như chẳng có gì thì địa chủ cũng không có tài sản gì lớn; nếu nông dân chỉ sống bằng cái tối thiểu cần thiết thì đời sống của địa chủ cũng chẳng có gì là xa hoa; nếu thợ thuyền không biết mình bị bóc lột bao nhiêu thì chủ lại không hề biết công cụ để bóc lột của họ là máy móc; người thì chẳng có công đoàn, kẻ thì chẳng có tơrớt. Người thì cam chịu số phận của mình, kẻ thì vừa phải trong sự tham lam của mình. Sự xung đột về quyền lợi của họ được giảm thiểu. Điều đó, không thể chối cãi được”. “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”.

Do đặc điểm và mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn giai cấp như thế, nên khi sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 2-1930), trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nêu rõ mục tiêu chiến lược là: Làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập, để đi tới xã hội cộng sản. Đảng chủ trương tranh thủ mọi tầng lớp, giai cấp trong xã hội vào thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Quan điểm đó của Nguyễn Ái Quốc đã không được Quốc tế Cộng sản và một số đồng chí hiểu đúng, thậm chí còn cho là biểu hiện của chủ nghĩa quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, Nguyễn Ái Quốc vẫn kiên trì giữ vững quan điểm nêu cao đấu tranh dân tộc, và phải đến Đại hội VII Quốc tế Cộng sản (tháng 7-1935), một số đồng chí trong Quốc tế Cộng sản mới chia sẻ với quan điểm của Nguyễn Ái Quốc, khi Quốc tế Cộng sản chủ trương các đảng cộng sản phải lập Mặt trận dân tộc, dân chủ chống nguy cơ chủ nghĩa phát-xít, nguy cơ chiến tranh thế giới. Ngày 6-6-1938, Nguyễn Ái Quốc có thư gửi một đồng chí ở Quốc tế Cộng sản nêu rõ mình đã 8 năm trong “tình trạng không hoạt động”, vì thế “Điều tôi muốn đề nghị với đồng chí là đừng để tôi sống quá lâu trong tình trạng không hoạt động và giống như là sống ở bên cạnh, ở bên ngoài của Đảng”.

Năm 1938, Quốc tế Cộng sản đồng ý để Nguyễn Ái Quốc trở về nước để lãnh đạo phong trào cách mạng. Cần nhấn mạnh rằng, thực tiễn cách mạng Việt Nam những năm 30 của thế kỷ XX đã chứng minh quan điểm của Nguyễn Ái Quốc là đúng đắn, sáng tạo, không giáo điều. Hội nghị Trung ương Đảng (tháng 11-1939) do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì, họp ở Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định) đã chủ trương đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc ở Hà Quảng, Cao Bằng. Tại đây, Người đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám (tháng 5-1941). Trung ương Đảng đã hoàn chỉnh đường lối giải phóng dân tộc với mục tiêu giành cho được độc lập, với tinh thần độc lập trên hết, dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết. Vấn đề lợi ích giai cấp phải phục tùng lợi ích dân tộc: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.

Chủ trương đúng đắn đó đã đoàn kết mọi lực lượng có thể và phát huy được sức mạnh toàn dân tộc quyết “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, để làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trên tầm cao nhận thức, giành được độc lập, tự do cho dân tộc đã có lợi ích của bộ phận, giai cấp trong đó. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp đã thể hiện bản lĩnh chính trị và tầm trí tuệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc lại quan điểm phải luôn luôn xuất phát từ thực tiễn của đất nước, không nên “nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”.

Những năm 1945 - 1946, cách mạng Việt Nam phải chống giặc ngoài, thù trong, tình thế “nghìn cân treo sợi tóc”. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng tỏ rõ bản lĩnh và sự nhạy cảm đặc biệt về chính trị, đã quyết tâm bảo vệ nền độc lập và chính quyền cách mạng, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời có những quyết sách khôn khéo, “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Ngày 11-11-1945, Đảng tuyên bố tự giải tán, thực chất là rút vào hoạt động bí mật, bảo toàn lực lượng. “Đảng phải dùng mọi cách để sống còn, hoạt động và phát triển, để lãnh đạo kín đáo và có hiệu quả hơn, và để có thời giờ củng cố dần dần lực lượng của chính quyền nhân dân, củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất. Lúc đó, Đảng không thể do dự. Do dự là hỏng hết, Đảng phải quyết đoán mau chóng, phải dùng những phương pháp - dù là những phương pháp đau đớn - để cứu vãn tình thế”.

Trong lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng tư duy sáng tạo, phân tích hoàn cảnh cụ thể của đất nước, kết hợp với việc học hỏi kinh nghiệm các nước, nhưng không máy móc, giáo điều. Năm 1956, Người đã nhận thức “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu nước mạnh”). “Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác”. “Còn giai cấp tư sản ở ta thì họ có xu hướng chống đế quốc, có xu hướng yêu nước... cho nên, nếu mình thuyết phục khéo, lãnh đạo khéo, họ có thể hướng theo chủ nghĩa xã hội”. Năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích điều kiện của Việt Nam vừa thoát khỏi ách thực dân, phong kiến, hết sức lạc hậu. “Trong những điều kiện như thế, chúng ta phải dùng những phương pháp gì, hình thức gì, đi theo tốc độ nào để tiến dần lên chủ nghĩa xã hội? Đó là những vấn đề đặt ra trước mắt Đảng ta hiện nay”. Người chỉ rõ: “Chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về chủ nghĩa Mác - Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp chủ nghĩa Mác - Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế, chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng xã hội chủ nghĩa thích hợp với tình hình nước ta”.

Trong quá trình lãnh đạo và cầm quyền, Đảng cũng phạm phải một số sai lầm, khuyết điểm, hoặc trên những vấn đề lớn, hoặc trong phạm vi hẹp hay ở một số đồng chí. Đó là, sai lầm “tả” khuynh trong Chỉ thị thanh Đảng của Xứ ủy Trung Kỳ (năm 1931), Trung ương đã kịp thời phê phán khuyết điểm của một số đồng chí trong hợp tác vô nguyên tắc với các phần tử tơ-rốt-xkít và về công tác tuyên truyền, vận động quần chúng; là việc tồn tại 2 Xứ ủy (Xứ ủy Tiền Phong và Xứ ủy Giải Phóng) ở Nam Kỳ trước Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945. Khi Đảng nắm chính quyền, một số cán bộ đã phạm những lầm lỗi: Trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh kịp thời phê bình và yêu cầu sửa chữa. Khi xảy ra sai lầm trong cải cách ruộng đất (năm 1956), Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tự phê bình trước nhân dân và quyết tâm sửa sai. Tự chỉ trích, tự phê bình khi phạm sai lầm là yêu cầu đối với một đảng chân chính cách mạng. Người nêu rõ: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam. Tư tưởng của Người đã, đang và sẽ mãi mãi soi sáng sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc. Bản lĩnh Hồ Chí Minh chính là bản lĩnh chính trị của Đảng chân chính cách mạng, thể hiện ở những nội dung chủ yếu: Một là, Đảng nêu cao khát vọng độc lập, tự do của Tổ quốc, đồng bào; đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên hàng đầu, đồng thời tuyệt đối trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghĩa, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa; trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng không xa rời những mục tiêu chiến lược căn bản đó. Hai là, độc lập, tự chủ, luôn luôn tinh thần xuất phát từ thực tiễn của cách mạng, đất nước để vận dụng sáng tạo lý luận khoa học Mác - Lê-nin, lựa chọn hình thức, phương pháp đấu tranh thích hợp và phương châm, con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội có hiệu quả. Kiên quyết chống chủ nghĩa xét lại, cơ hội “tả” khuynh, “hữu” khuynh; đồng thời, chống giáo điều, nóng vội, duy ý chí. Ba là, nắm vững nguyên tắc cách mạng, đồng thời linh hoạt, mềm dẻo về sách lược “dĩ bất biến ứng vạn biến”; chủ động, kiên cường vượt qua mọi khó khăn, thách thức, kiên quyết giữ vững nền độc lập, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, không hoang mang, dao động trong hoàn cảnh hiểm nghèo, vững tin ở thắng lợi. Bốn là, thẳng thắn thừa nhận những sai lầm, khuyết điểm với thái độ nghiêm túc, cầu thị và quyết tâm sửa chữa. Những sai lầm, khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo, cầm quyền đều được Đảng sửa chữa có kết quả, từ đó củng cố được niềm tin của nhân dân, tăng cường thống nhất, tinh thần đoàn kết trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội.

Rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị - nội dung quan trọng trong xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh nói chung và xây dựng Đảng về chính trị nói riêng

Rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị có mối quan hệ mật thiết với các nội dung xây dựng Đảng về chính trị và có ảnh hưởng lớn đến cả xây dựng Đảng về tư tưởng, lý luận, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Nâng cao bản lĩnh chính trị là yêu cầu đặt ra với Đảng và cũng là yêu cầu đặt ra với từng cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược.

Báo cáo chính trị, Báo cáo về công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng và Nghị quyết của Đại hội XIII, đều đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Những nội dung cơ bản đó trong xây dựng Đảng có quan hệ mật thiết và quyết định lẫn nhau, để hướng tới mục tiêu chính trị là đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Xét đến cùng, vấn đề xây dựng Đảng về chính trị của một đảng lãnh đạo, cầm quyền như Đảng ta có ý nghĩa quyết định bản chất cách mạng, bản chất giai cấp công nhân, bản chất nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh, tăng cường xây dựng Đảng về chính trị với nội dung căn bản: “Kiên định và không ngừng vận dụng phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kiên định đường lối đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng. Nâng cao bản lĩnh, năng lực dự báo và chất lượng công tác hoạch định đường lối, chính sách phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu hướng phát triển của thời đại. Kịp thời thể chế hóa, cụ thể hóa, triển khai đúng đắn, hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, khắc phục sự yếu kém trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện. Nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trình độ, trí tuệ, tính chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, cán bộ cấp chiến lược. Thực hành dân chủ trong Đảng gắn liền với tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng”.

Từ thực tiễn đổi mới, Đảng ta rút ra nhiều bài học kinh nghiệm. Trong đó, bài học hàng đầu là: “Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”. Kinh nghiệm trước hết trong công tác xây dựng Đảng là: “nâng cao bản lĩnh chính trị; kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng; kịp thời tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận để đổi mới sáng tạo, chống bảo thủ, trì trệ; đấu tranh kiên quyết với những biểu hiện cơ hội chính trị”.

Từ những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ kinh nghiệm, bài học xây dựng Đảng trong thời kỳ đổi mới, nội dung, phương hướng xây dựng Đảng về chính trị hiện nay cần được chú trọng trên những vấn đề lớn:

Thứ nhất, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, không ngừng bổ sung, phát triển đường lối đổi mới, cương lĩnh xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Trong xây dựng Đảng về chính trị, vấn đề hàng đầu là xây dựng, hoàn chỉnh và bảo đảm tính đúng đắn của cương lĩnh, đường lối, chiến lược, sách lược của Đảng. Đó cũng là điều kiện cơ bản cho sự lãnh đạo, cầm quyền thành công của Đảng Cộng sản. Cương lĩnh, đường lối bao giờ cũng là sự kết hợp giữa nguyên lý lý luận, quy luật khách quan với đặc điểm, hoàn cảnh lịch sử của đất nước, của cách mạng ở mỗi thời kỳ và phải luôn xuất phát từ thực tiễn để vận dụng, phát triển lý luận một cách sáng tạo. Nhờ vận dụng đúng đắn, sáng tạo nguyên lý lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về chiến tranh cách mạng mà Đảng đề ra đường lối cách mạng giải phóng và đường lối kháng chiến thích hợp để đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến toàn thắng. Trong đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa trước đổi mới đã có lúc Đảng chưa nhận thức đúng đắn các quy luật, rơi vào nóng vội, chủ quan, duy ý chí nên đã mắc phải những sai lầm, khuyết điểm. Đường lối đổi mới của Đại hội VI (tháng 12-1986) vừa sửa chữa khuyết điểm, vừa đổi mới tư duy lý luận để nhận thức rõ hơn về chủ nghĩa xã hội và quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đường lối đổi mới của Đảng không ngừng được bổ sung, phát triển. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) được bổ sung, phát triển năm 2011 chính là sự tiếp nối tư duy đó. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục phát triển lý luận, tổng kết thực tiễn để làm rõ nhiều vấn đề mới do sự vận động và phát triển của đất nước và thời đại đặt ra.

Đại hội XIII của Đảng cũng nhấn mạnh mối quan hệ giữa trung thành với lý luận Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh với không ngừng phát triển lý luận, đổi mới nhận thức. Trung thành mà không thể phát triển thì sẽ sa vào giáo điều, bảo thủ, trì trệ; phát triển mà không trung thành sẽ có thể mắc vào chủ nghĩa xét lại, cơ hội và chệch hướng. Mối quan hệ giữa kiên định nguyên tắc với đổi mới sáng tạo phải luôn luôn được đặt ra với Đảng, với mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược - đội ngũ có vai trò hoạch định đường lối.

Nhiều vấn đề xây dựng Đảng về chính trị đang đặt ra đối với đường lối, chủ trương lớn, những quyết sách chiến lược của Đảng cần có giải pháp xử lý kịp thời, gắn liền với việc hoàn chỉnh chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh tới mối quan hệ giữa các quy luật của thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa, giữa nhà nước với thị trường và xã hội. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thì chính sách, pháp luật của Nhà nước là sự thể chế hóa đường lối của Đảng và do đó, có quan hệ mật thiết với xây dựng Đảng về chính trị. Chính sách, pháp luật càng hoàn thiện, có hiệu lực, chính là hiện thực hóa có hiệu quả đường lối, Cương lĩnh của Đảng. Đại hội XIII của Đảng bổ sung một mối quan hệ lớn rất quan trọng, đó là quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Đây là vấn đề lớn về chính trị, xã hội của Đảng Cộng sản cầm quyền. Phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” cũng là thuộc phạm trù Đảng lãnh đạo chính trị, xây dựng nền chính trị vì dân và do đó, cũng là yêu cầu xây dựng Đảng về chính trị.

Thứ hai, giữ vững bản chất giai cấp công nhân, nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ, trí tuệ của Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược.

Bản chất giai cấp công nhân của Đảng là sự hy sinh, phấn đấu vì độc lập, tự do của dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, giải phóng triệt để dân tộc, giai cấp, xã hội và con người; là tính tiền phong cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng và khát vọng xây dựng, phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc; là phẩm chất chính trị cao đẹp, đức hy sinh, ý thức tổ chức, tính kỷ luật, phong cách làm việc nghiêm túc, tinh thần tập thể gắn liền với tác phong công nghiệp. Trong thời đại cách mạng khoa học - công nghệ, kinh tế tri thức, trí tuệ nhân tạo ngày càng phát triển mạnh mẽ, thì bản chất giai cấp công nhân còn là trình độ trí tuệ, là nền học vấn hiện đại. Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý phải thật sự tiêu biểu về trí tuệ.

Bản lĩnh chính trị của Đảng cần được nhận thức sâu sắc như điều kiện bảo đảm cho Đảng hoàn thành sứ mệnh của một đảng chân chính cách mạng lãnh đạo đất nước, xã hội. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh, trong điều kiện một thế giới đầy biến động, khó lường, phải nâng cao “năng lực dự báo”, phân tích, đánh giá đúng đắn thực tiễn của đất nước và “xu thế phát triển của thời đại”. Điều đó đòi hỏi Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên cần luôn luôn nâng cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo và có sự nhạy cảm đặc biệt về chính trị. Những quyết sách chính trị của Đảng phải bảo đảm sự đúng đắn, chính xác, không bị động, bất ngờ trên tất cả các lĩnh vực. Bản lĩnh chính trị của Đảng đặt ra yêu cầu mọi tổ chức đảng, cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên, “trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, cán bộ cấp chiến lược” phải nâng cao tính chiến đấu. Kiên quyết phê phán, loại bỏ những sai trái, khuyết điểm, bảo vệ cái đúng, bảo vệ những cán bộ dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; dám đổi mới, sáng tạo, dám vượt qua và có đủ bản lĩnh, năng lực vượt qua mọi khó khăn, thách thức để hoàn thành nhiệm vụ.

Xây dựng Đảng về chính trị luôn luôn hướng tới khả năng hiện thực hóa tốt nhất, có hiệu quả nhất cương lĩnh, đường lối của Đảng, tức là thực hiện mục tiêu chính trị của Đảng, của giai cấp và dân tộc. Sau khi đã có đường lối đúng đắn, thì toàn bộ vấn đề là ở năng lực thực hiện đường lối, là hành động thực tiễn. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục đưa ra nhận định rằng, khâu tổ chức thực hiện vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Cần phải nâng cao hơn nữa khả năng cụ thể hóa, thể chế hóa đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng thời “khắc phục sự yếu kém trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện”.

Thứ ba, xây dựng Đảng về chính trị là thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, đề cao trách nhiệm của Đảng trước đất nước và nhân dân.

Trong công cuộc đổi mới, Đảng kiên định lãnh đạo xây dựng, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn đổi mới đã ngày càng làm sáng tỏ hơn nhận thức về chủ nghĩa xã hội Việt Nam với 8 đặc trưng đã được xác định trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011). Một trong những đặc trưng đó là xây dựng xã hội “do nhân dân làm chủ”; bởi vậy, cần xây dựng và không ngừng hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa trong xã hội là cơ sở rất quan trọng và cũng là yêu cầu khách quan để phát huy và thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh nội dung “Thực hành dân chủ trong Đảng gắn liền với tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng”. Đó là nội dung cần được nhận thức rõ và kiên trì thực hiện. Khi khởi đầu công cuộc đổi mới, Đảng đã nhấn mạnh yêu cầu đổi mới phong cách làm việc, khắc phục tình trạng quan liêu xa rời thực tế, xa rời nhân dân; lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ, trên cơ sở phát huy dân chủ.

Cần nhận thức rõ, nội dung xây dựng Đảng về chính trị được Đại hội XIII nhấn mạnh là khẳng định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kiên định đường lối đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Tính kiên định đó thể hiện trách nhiệm cao của Đảng đối với đất nước và nhân dân trên con đường phát triển, đồng thời cũng là trách nhiệm đối với lịch sử, đối với con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn - sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Mục tiêu chính trị của Đảng, của dân tộc và con đường phát triển đó là duy nhất đúng đắn, không thể là con đường nào khác.

Trách nhiệm chính trị của Đảng đối với sự phát triển của đất nước, lợi ích quốc gia - dân tộc và sự bình yên trong cuộc sống của nhân dân là rất quan trọng. Đó không chỉ là sứ mệnh, là nguyên tắc mà còn là lương tâm, danh dự của Đảng. Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 ghi rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”. Trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu đều được đề cập trong nhiều nghị quyết của Đảng về xây dựng Đảng và Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định điều đó. Thực tế cho thấy, ở ngành nào, lĩnh vực nào, địa phương, đơn vị nào mà trách nhiệm chính trị được đề cao và thực hiện nghiêm túc thì nơi đó đạt được nhiều thành quả trong sự phát triển, niềm tin của nhân dân được củng cố, năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của tổ chức đảng được nâng cao. Mọi biểu hiện thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm đều mang lại hậu quả tiêu cực cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, vì thế mọi tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị cần nghiêm túc, chủ động ngăn chặn, đẩy lùi; góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh để xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân./.

Nguồn: TCCS.

 

Tiếp tục phát huy mạnh mẽ tinh thần đổi mới tư duy đối ngoại

 Đại hội XIII của Đảng là dấu mốc quan trọng, mở ra vận hội mới cũng như định hướng phát triển cho đất nước trên mọi phương diện trong thời gian tới. Văn kiện Đại hội đã thể hiện mạnh mẽ tinh thần đổi mới tư duy, phù hợp với thực tiễn luôn thay đổi không ngừng, tạo nên thế và lực mới của đất nước.

Đại hội XIII chỉ ra rằng sau 35 năm đổi mới, đất nước đã có thế và lực, uy tín và tiềm năng chưa từng có trong lịch sử, trở thành những tiền đề và cơ sở vững chắc để phát triển thuận lợi, phồn vinh, thịnh vượng và vươn xa hơn nữa. Việt Nam có đủ điều kiện để mở ra vận hội mới, gây dựng và tận dụng cơ hội để vượt qua thách thức, vừa hài hòa với thế giới hiện đại, vừa chủ động tham gia vận hành thế giới hiện đại.

Nhận thức về thế giới của Đại hội XIII của Đảng phản ánh khách quan thực tiễn thế giới trong 5 năm qua, với những chuyển biến rất phức tạp, với tính bất ổn, bất định và khó lường. Đại hội đã đánh giá tình hình một cách biện chứng, chỉ ra nhiều thách thức mới, có tác động sâu rộng và phức tạp tới Việt Nam, đồng thời cũng nêu bật những khác biệt về đặc điểm tình hình mới so với giai đoạn trước và các xu thế dòng chảy chính hiện nay. Việc dự báo những nguy cơ tiềm tàng trong Văn kiện Đại hội XIII cho thấy tư duy bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa được thể hiện rõ nét.

Về đường lối đối ngoại, Đại hội XIII của Đảng khẳng định tư tưởng chỉ đạo, đó là: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng”.

Qua đó, Đại hội làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa ba nội dung lớn về độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế. Đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn gia tăng như hiện nay, độc lập, tự chủ và đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ là con đường phù hợp và hiệu quả nhất để Việt Nam bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc. Độc lập, tự chủ là việc Việt Nam kiên định trên con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Độc lập về quyết sách, đường lối, hoạt động, chính sách và nhận định đánh giá tình hình. Tự chủ là tâm thế và khả năng để triển khai những quyết sách, đường lối đó. Đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế là điều kiện để bảo đảm độc lập, tự chủ hiệu quả và bền vững, mở ra những cơ hội phát triển và bảo vệ lợi ích của Việt Nam.

Về định vị đất nước với thế giới, tiếp nối các kỳ Đại hội trước, Đại hội XIII của Đảng đã đề ra phương châm “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Đây là phương châm phù hợp với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa như đã nêu ở trên, đồng thời là sự khẳng định giá trị của đối ngoại Việt Nam là “hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”. Yếu tố “tích cực” là điểm mới, thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, hội nhập quốc tế, sẵn sàng tham gia đóng góp cho cộng đồng quốc tế cũng như giải quyết các vấn đề khu vực và toàn cầu, phản ánh tinh thần của Chỉ thị số 25-CT/TW, ngày 8-8-2018, của Ban Bí thư, “Về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030”.

Về lợi ích quốc gia - dân tộc, Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”. Lợi ích quốc gia - dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là phương châm của đối ngoại. Việc khẳng định điều này ở phần “quan điểm chỉ đạo”, cho thấy sự thống nhất nhận thức cao nhất. Mọi phương hướng, nhiệm vụ trong giai đoạn tới đều vì lợi ích quốc gia - dân tộc và mọi lợi ích khác đều phải phục tùng lợi ích quốc gia - dân tộc. Đồng thời, trong môi trường quốc tế với sự nổi lên của chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa cường quyền, Việt Nam không theo chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, hẹp hòi, mà thúc đẩy lợi ích của mình trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế.

Về vai trò và nhiệm vụ đối ngoại, điểm mới quan trọng trong Văn kiện Đại hội XIII là lần đầu tiên xác định “vai trò tiên phong” của đối ngoại trong tổng thể các nhiệm vụ chung của đất nước. Qua đó, chỉ ra nhiệm vụ thường xuyên của đối ngoại là “tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và thuận lợi cho xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Trong đó, giữ vững hòa bình, ổn định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên; phục vụ phát triển đất nước là nhiệm vụ trung tâm; nâng cao vị thế và uy tín đất nước là nhiệm vụ quan trọng. Có thể thấy, sứ mệnh của đối ngoại là đưa đất nước vào vị trí có lợi nhất trong mọi diễn biến của tình hình thế giới, khu vực cũng như trong dòng chảy của các xu thế quốc tế và tương quan lực lượng chính trị thế giới, nhằm tạo ra bước đột phá mới và mở ra vận hội mới cho đất nước, đi đầu và đóng góp trực tiếp cho việc thực hiện và bảo vệ lợi ích an ninh và phát triển.

Đối ngoại vì thế phải toàn diện và hiện đại, thiết thực và hài hòa giữa tính thời đại với tính định hướng lâu dài. Lần đầu tiên vấn đề xây dựng “nền ngoại giao toàn diện, hiện đại” được đưa vào Văn kiện Đại hội XIII, với ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân. Đó là nền ngoại giao kiên định với lập trường quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, hướng tới mục tiêu triển khai hiệu quả đường lối đối ngoại của Đảng, tạo cục diện đối ngoại thuận lợi nhất, năng động, sáng tạo, thích ứng với mọi chuyển biến của tình hình, ngang tầm khu vực và vươn tầm quốc tế./.

Nền tảng của đổi mới tư duy đối ngoại Việt Nam

 Đổi mới tư duy đối ngoại Việt Nam là luôn nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ lớn giữa ổn định, đổi mới và phát triển. Đó là quá trình phát triển từng bước vững chắc, luôn được kiểm nghiệm trong thực tiễn và được đúc rút từ nhiều bài học kinh nghiệm, có sự kế thừa, bổ sung và tiếp nối, phù hợp với thế và lực của đất nước và bối cảnh bên ngoài. Để đổi mới và phát triển thì cần dựa trên nền tảng vững chắc. Có thể khái quát quá trình đổi mới tư duy đối ngoại Việt Nam dựa trên ba nền tảng sau:

Thứ nhất, kế thừa những tinh hoa về truyền thống ngoại giao của dân tộc.

Truyền thống ngoại giao Việt Nam là những triết lý ngoại giao được đúc kết xuyên suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của ông cha ta, luôn coi trọng hòa bình, hữu nghị, nhân văn, nhân nghĩa và thủy chung; quan hệ láng giềng thân thiện, “ngoại giao công tâm”, lấy lẽ phải, công lý, chính nghĩa để thuyết phục lòng người. Về đối nội, truyền thống dân tộc là sự chú trọng đồng thuận xã hội, “trong ấm, ngoài êm”, coi trọng “vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, nước nhà chung sức”. Về đối ngoại, ngoại giao của ông cha ta xem trọng việc giữ gìn hòa khí, khiêm nhường với nước lớn, hữu nghị với các nước lân bang, phấn đấu cho sự thái hòa. Trong Binh thư yếu lược, Trần Hưng Đạo đã viết: “Hòa mục là đạo rất hay trong việc trị nước, hành binh. Hòa ở trong nước thì ít phải dùng binh, hòa ở ngoài biên thì không sợ báo động”. 

Khi buộc phải chiến đấu chống kẻ thù, nhân dân Việt Nam luôn có ý thức bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, gìn giữ từng tấc đất của tiền nhân để lại. Ông cha ta đã hết sức coi trọng đấu tranh bằng ngọn cờ chính nghĩa, trên cơ sở tiến hành phương pháp “ngoại giao tâm công”, thu phục lòng người bằng lẽ phải, đạo lý, nhân tính, “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, đem chí nhân để thay cường bạo”.

Thứ hai, trên cơ sở vận dụng sáng tạo, linh hoạt chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho đường lối đối ngoại Việt Nam, với phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Đó là lấy cái “bất biến” là lợi ích quốc gia - dân tộc, định hướng xã hội chủ nghĩa để làm căn cứ, điểm xuất phát cho đề xuất các chiến lược, sách lược, đối sách phù hợp với cái “vạn biến” là thực tiễn đang vận động không ngừng. Trong đó, quan trọng nhất là phép biện chứng duy vật cùng quan điểm toàn diện, hệ thống để tiếp cận quốc tế và giải quyết mối quan hệ giữa Việt Nam với thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, chuyển phong trào cách mạng từ tự phát sang tự giác, dẫn dắt dân tộc giành độc lập, thống nhất. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại được hun đúc và kết tinh từ giá trị truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, được hình thành, bổ sung phát triển trong thực tiễn quá trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, tổ chức và lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nguồn gốc tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hóa, truyền thống ngoại giao Việt Nam, kết hợp với tiếp thu tinh hoa nhân loại cũng như kinh nghiệm ngoại giao thế giới.

Thứ ba, kế thừa và phát triển nhận thức qua các kỳ Đại hội Đảng, gắn với thực tiễn trong nước và bối cảnh quốc tế trong từng thời kỳ.

Đối ngoại Việt Nam có đặc điểm riêng và là thế mạnh khác biệt: là nền đối ngoại dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện và thống nhất của Đảng. Đường lối đối ngoại của Việt Nam là thống nhất, liên tục và nhất quán, có sự kế thừa, phát huy và bổ sung qua các giai đoạn phát triển của đất nước.

Trải qua quá trình đó, tư duy, kinh nghiệm và lực lượng của đối ngoại từng bước được trưởng thành, hun đúc nên những bài học kinh nghiệm quý báu. Đó là bài học về kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế; kiên trì về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, kết hợp nhuần nhuyễn, biến hóa, sáng tạo giữa chiến lược và chiến thuật; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm tranh thủ tối đa ngoại lực, tạo sức mạnh cộng hưởng cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bên cạnh đó, tư duy đối ngoại của Việt Nam còn là sự tiếp thu có chọn lọc và phát triển sáng tạo những bài học lý luận và thực tiễn của ngoại giao thế giới, dựa trên thực tiễn tình hình và nhiệm vụ trong nước. Điều này càng được củng cố qua quá trình mở cửa và hội nhập quốc tế. Sự tiếp thu có chọn lọc và phê phán các kinh nghiệm từ bên ngoài giúp Việt Nam hiểu hơn về sự vận động của thế giới, quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia, qua đó đánh giá chính xác hơn về đối tác - đối tượng, hợp tác - đấu tranh, cơ hội - thách thức và xác định rõ hơn vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế để đưa ra những định hướng chính sách phù hợp.

Chính vì sự vận dụng sáng tạo và không ngừng đổi mới tư duy đó, lý luận của Đảng ta luôn được kế thừa và phát triển, giữ vững và phát huy giá trị trong thời đại mới trước những biến động nhanh chóng của thế giới./.

Xây dựng Đảng về chính trị là thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, đề cao trách nhiệm của Đảng trước đất nước và nhân dân.

Trong công cuộc đổi mới, Đảng kiên định lãnh đạo xây dựng, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn đổi mới đã ngày càng làm sáng tỏ hơn nhận thức về chủ nghĩa xã hội Việt Nam với 8 đặc trưng đã được xác định trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011). Một trong những đặc trưng đó là xây dựng xã hội “do nhân dân làm chủ”; bởi vậy, cần xây dựng và không ngừng hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa trong xã hội là cơ sở rất quan trọng và cũng là yêu cầu khách quan để phát huy và thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh nội dung “Thực hành dân chủ trong Đảng gắn liền với tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng”. Đó là nội dung cần được nhận thức rõ và kiên trì thực hiện. Khi khởi đầu công cuộc đổi mới, Đảng đã nhấn mạnh yêu cầu đổi mới phong cách làm việc, khắc phục tình trạng quan liêu xa rời thực tế, xa rời nhân dân; lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ, trên cơ sở phát huy dân chủ.

Cần nhận thức rõ, nội dung xây dựng Đảng về chính trị được Đại hội XIII nhấn mạnh là khẳng định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kiên định đường lối đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Tính kiên định đó thể hiện trách nhiệm cao của Đảng đối với đất nước và nhân dân trên con đường phát triển, đồng thời cũng là trách nhiệm đối với lịch sử, đối với con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn - sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Mục tiêu chính trị của Đảng, của dân tộc và con đường phát triển đó là duy nhất đúng đắn, không thể là con đường nào khác.

Trách nhiệm chính trị của Đảng đối với sự phát triển của đất nước, lợi ích quốc gia - dân tộc và sự bình yên trong cuộc sống của nhân dân là rất quan trọng. Đó không chỉ là sứ mệnh, là nguyên tắc mà còn là lương tâm, danh dự của Đảng. Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 ghi rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”. Trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu đều được đề cập trong nhiều nghị quyết của Đảng về xây dựng Đảng và Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định điều đó. Thực tế cho thấy, ở ngành nào, lĩnh vực nào, địa phương, đơn vị nào mà trách nhiệm chính trị được đề cao và thực hiện nghiêm túc thì nơi đó đạt được nhiều thành quả trong sự phát triển, niềm tin của nhân dân được củng cố, năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của tổ chức đảng được nâng cao. Mọi biểu hiện thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm đều mang lại hậu quả tiêu cực cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, vì thế mọi tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị cần nghiêm túc, chủ động ngăn chặn, đẩy lùi; góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh để xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân./.


Giữ vững bản chất giai cấp công nhân, nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ, trí tuệ của Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược.

Bản chất giai cấp công nhân của Đảng là sự hy sinh, phấn đấu vì độc lập, tự do của dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, giải phóng triệt để dân tộc, giai cấp, xã hội và con người; là tính tiền phong cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng và khát vọng xây dựng, phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc; là phẩm chất chính trị cao đẹp, đức hy sinh, ý thức tổ chức, tính kỷ luật, phong cách làm việc nghiêm túc, tinh thần tập thể gắn liền với tác phong công nghiệp. Trong thời đại cách mạng khoa học - công nghệ, kinh tế tri thức, trí tuệ nhân tạo ngày càng phát triển mạnh mẽ, thì bản chất giai cấp công nhân còn là trình độ trí tuệ, là nền học vấn hiện đại. Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý phải thật sự tiêu biểu về trí tuệ.

Bản lĩnh chính trị của Đảng cần được nhận thức sâu sắc như điều kiện bảo đảm cho Đảng hoàn thành sứ mệnh của một đảng chân chính cách mạng lãnh đạo đất nước, xã hội. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh, trong điều kiện một thế giới đầy biến động, khó lường, phải nâng cao “năng lực dự báo”, phân tích, đánh giá đúng đắn thực tiễn của đất nước và “xu thế phát triển của thời đại”. Điều đó đòi hỏi Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên cần luôn luôn nâng cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo và có sự nhạy cảm đặc biệt về chính trị. Những quyết sách chính trị của Đảng phải bảo đảm sự đúng đắn, chính xác, không bị động, bất ngờ trên tất cả các lĩnh vực. Bản lĩnh chính trị của Đảng đặt ra yêu cầu mọi tổ chức đảng, cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên, “trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, cán bộ cấp chiến lược” phải nâng cao tính chiến đấu. Kiên quyết phê phán, loại bỏ những sai trái, khuyết điểm, bảo vệ cái đúng, bảo vệ những cán bộ dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; dám đổi mới, sáng tạo, dám vượt qua và có đủ bản lĩnh, năng lực vượt qua mọi khó khăn, thách thức để hoàn thành nhiệm vụ.

Xây dựng Đảng về chính trị luôn luôn hướng tới khả năng hiện thực hóa tốt nhất, có hiệu quả nhất cương lĩnh, đường lối của Đảng, tức là thực hiện mục tiêu chính trị của Đảng, của giai cấp và dân tộc. Sau khi đã có đường lối đúng đắn, thì toàn bộ vấn đề là ở năng lực thực hiện đường lối, là hành động thực tiễn. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục đưa ra nhận định rằng, khâu tổ chức thực hiện vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Cần phải nâng cao hơn nữa khả năng cụ thể hóa, thể chế hóa đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng thời “khắc phục sự yếu kém trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện”./.

Thứ Năm, 5 tháng 5, 2022

ĐÓ LÀ TINH THẦN DÂN TỘC VÀ CHƯA BAO GIỜ DÂN TỘC VIỆT NAM ĐÁNH MẤT ĐI BẢN SẮC RIÊNG CỦA MÌNH CẢ.

 

Có một nhà báo Mỹ đã từng hỏi Hồ Chủ tịch: Làm thế nào để Việt Nam có thể duy trì cuộc chiến tranh chống lại người Pháp khi mà Việt Nam không có đủ vũ khí, nhất là vũ khí tối tân, cuộc chiến như vậy là vô vọng? 

Và đây là câu trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh: 

Không, nó không phải là không có hy vọng... Nhân dân Việt Nam sẽ thắng trong cuộc chiến tranh đó. Bởi vì Việt Nam có một thứ vũ khí cũng mạnh như loại pháo hiện đại nhất, đó là TINH THẦN DÂN TỘC...

Nếu người Mỹ có cái thứ gọi là văn hóa Mỹ thì người Việt Nam chúng tôi, dân tộc Việt Nam chúng tôi cũng có cái gọi là ''Văn hóa dân tộc'' nó được biểu trưng bởi cái gọi là tự hào dân tộc, bởi những truyền thống được truyền lại cả nghìn năm tuổi, những truyền thống mà qua khoảng thời gian gấp mấy chục lần cái thời gian mà nước Mỹ lập quốc đến nay vẫn không bao giờ thay đổi, chính cái đó làm nên sức mạnh của chúng tôi.

Người Mỹ luôn tìm câu trả lời cho câu hỏi của chính mình: ''Vì sao chúng ta thua cuộc chiến ở Việt Nam''. Câu trả lời là vì Mỹ chưa bao giờ hiểu về Việt Nam cả. Thực tế, người Mỹ, người Pháp, thậm chí ngay cả người Trung Quốc chưa bao giờ hiểu được văn hóa tinh thần của chúng ta, và thực tế, họ tự chuốc lấy thất bại vì điều đó.

 Họ chẳng thể lý giải nổi tại sao một dân tộc bị đô hộ suốt 1.000 năm mà không bị đồng hóa, một dân tộc nghèo đói, lạc hậu lại chiến thắng những đất nước được coi là mạnh hàng đầu thế giới. Nhưng câu trả lời thì mỗi người Việt ai cũng biết.

 Phương Tây làm việc rất khoa học, họ tin tuyệt đối vào những con số và phân tích, điều đó cũng có những ưu điểm của nó, nhưng họ quên mất một điều, điều quyết định nhất không nằm ở con số mà nằm ở con người. Nếu phân tích và nghiên cứu của phương Tây luôn đúng thì Mỹ sẽ không bao giờ thua ở cuộc chiến tại Việt Nam. 

Văn hóa Việt Nam có thể sẽ thay đổi cho hợp thời thế, sẽ có những thứ mất đi, những thứ thêm vào, như tập tục ăn trầu dần biến mất, và trà đá lại thành một nét văn hóa, tuy nhiên, cái cốt lõi để giúp dân tộc Việt Nam tồn tại trong suốt  mấy nghìn năm qua sẽ không biến mất, CHƯA BAO GIỜ, CHƯA BAO GIỜ DÂN TỘC VIỆT NAM ĐÁNH MẤT ĐI BẢN SẮC RIÊNG CỦA MÌNH CẢ.

Sự kiện Bánh Mỳ, và vụ việc phân biệt chủng tộc tại Mỹ với người Việt là ví dụ điển hình, không ai, không một ai có thể chà đạp lên văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên còn nhiều điều mình còn tiếc nuối với văn hóa, văn vật, cổ vật dân tộc mà mình sẽ đề cập ở 1 bài khác...

Mình cũng chẳng thích văn vẻ nhiều hoặc dùng những câu từ giống trong sách giáo khoa hay giáo dục về lòng yêu nước làm gì cả, xin khép lại bài viết bằng 1 câu nói KINH ĐIỂN của Bác như sau:

"Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của dân tộc ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ Quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” .

NHẬN THỨC ĐÚNG QUAN ĐIỂM, ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời đến nay, mà đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, đã kiên định với lập trường giữ vững “độc lập, tự chủ”, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Đảng đề ra đường lối chủ động tham gia hội nhập quốc tế, phân biệt rõ ràng đối tượng và đối tác. Phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Với chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế… Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế.

Tuy nhiên trong thời gian vừa qua trên trang mạng xã hội blog Boxitvn có bài viết lấy tên một tác phẩm của V.I.Lênin là “Làm gì”, với nội dung lẫn lộn trắng đen, có ý đồ chính trị là kích động quần chúng không tin tưởng vào đường lối đổi mới và khả năng lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trang Facebook “Hội những người cầm bút can đảm” đối tượng Nguyễn Huy Vũ đăng bài “Chiến lược hòa bình cho Việt Nam”, cho rằng Viêt Nam cần “bãi bỏ chính sách ngoại giao đu dây, mà thay vào đó là chính sách ngoại giao thực tế”, “trong môt thế gới đang phân chia hai cực”, “phe Âu Mỹ” và phe “Nga và Trung Quốc”, “Việt Nam chỉ có một lựa chọn duy nhất là đứng về phe Âu Mỹ”. Đây là luận điệu sai trái xuyên tạc quan điểm, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước, hòng gieo rắc sự hoài nghi trong dân chúng về tính đúng đắn trong đường lối đối và chính sách ngoại của Đảng và Nhà nước, chia rẽ quan hệ của Việt Nam với các nước trong khu vực và thế giới, từ đó hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Đây là quan điểm sai trái cần phê phán, bác bỏ. 

Thực tế, từ khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Việt Nam luôn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta đã chỉ rõ đường lối đối ngoại của Việt Nam là: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xử lý linh hoạt theo phương châm: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”. Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” tiếp tục kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ.

Với quan điểm, đường lối đối ngoại đúng đắn đó, quan hệ đối ngoại của Việt Nam không ngừng được mở rộng, phát biểu. Đến nay, có quan hệ với 189 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới; là đối tác chiến lược toàn diện với các nước Ân Độ, Trung Quốc và Nga. Đặc biệt, Việt Nam là nước duy nhất trong ASEAN đã thiết lập khuôn khổ Đối tác chiến lược và Đối tác chiến lược toàn diện với toàn bộ 5 nước thành viên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, toàn bộ nhóm nước G7, 13/20 nước G20 và 8/9 nước trong ASEAN. Các đối tác này chiếm 8/10 thị trường xuất khẩu chính, với 60,7% tổng giá trị xuất khẩu; 9/10 thị trường nhập khẩu chính với 74,7% tổng giá trị nhập khẩu, 76,7% tổng lượng khách du lịch; đóng góp 74% tổng vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”.

Sự kiện diễn ra trong ngày 22 tháng 2 năm 2022, Nga tuyên bố sẽ sử dụng sức mạnh quân sự tấn công Ukraina; cũng như các cuộc chiến tranh đã diễn ra trong lịch sử mà do Mỹ và đồng minh sử dụng sức mạnh quân sự tấn công vào Irắc, Afghanistan… là sự kiện ngoài mong muốn của cả nhân loại tiến bộ trên thế giới và nhân dân Việt Nam. Chiến tranh bao giờ cũng mang bản chất không thay đổi là “sự kế tục của chính trị”, thường để lại hậu quả kép là dễ xảy ra hiện tượng “domino” trên toàn thế giới và mà trực tiếp là gây đổ máu, tàn phá cơ sở vật chất của quốc gia bị hại… Cuộc chiến tranh giữa Nga và Ukraina cũng không phải là ngoại lệ đã ảnh hưởng đến nhiều nước trên thế giới, thậm chí có thể sẽ ảnh hưởng đến cục diện thế giới. Để góp phần ngặn chặn cuộc chiến đó, Hội đồng Liên Hợp quốc tổ chức phiên họp khẩn cấp vào ngày 2 tháng 3 năm 2022, thông qua nghị quyết yêu cầu Nga chấm dứt chiến dịch quân sự tại Ukraina. Trong đó, Việt Nam đã nêu rõ quan điểm là: “hai bên cần kiềm chế tối đa, chấm dứt các hành động sử dụng vũ lực để tránh gây thương vong và tổn thất đối với dân thường, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh nhằm đạt được giải pháp lâu dài có tính đến lợi ích chính đáng của tất cả các bên trên cơ sở phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế”. Quan điểm nhất quán của Việt Nam là: “độc lập, tự chủ”, “coi trọng mở rộng hợp tác với các nước không phân biệt nước lớn hay nước nhỏ” trên tinh thần cùng có lợi và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Đồng thời, coi lợi ích quốc gia, dân tộc là tối thượng nếu bất kỳ đối tượng nào, thế lực nào xâm phạm chủ quyền biên giới quốc gia, chống lại chế độ chính trị, lợi ích quốc gia, dân tộc, thì Đảng, Nhà nước và nhân dân ta quyết tâm đấu tranh đến cùng.

Vậy mà, trong bài viết blog “Làm gì” và bài viết của Nguyễn Huy Vũ đã thể hiện những luận điểm sai sự thật là: “Đảng Cộng sản Việt Nam là độc quyền, không dân chủ, không thực hiện chiến lược mới”; “kẻ thù số một của dân tộc Việt Nam hiện nay là những yếu kém, bệnh tật trong Đảng”… Với mục đích là kích động nhân dân hoài nghi về về vai trò, khả năng lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì thế, mỗi người dân Việt Nam hãy cảnh giác, không bị mắc mưu của những luận điểm xuyên tạc và phản động trên không gian mạng. Chúng luôn tỏ vẻ là “người yêu nước”, “vì dân” nhưng thực chất là tay sai cho kẻ thù, phản quốc, hại dân và bài xích vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những bài viết nêu trên đã đi ngược lại đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam, đi ngược lại lợi ích chung của đất nước và Nhân dân. Mỗi chúng ta cần tỉnh táo nhận diện và đấu tranh bác bỏ./.

MÔN LỊCH SỬ NHÌN TỪ THẾ GIỚI


Một trong những lý do để Bộ Giáo dục và đào tạo quyết định đưa môn lịch sử trở thành môn tự chọn trong chương trình giáo dục phổ thông bắt đầu từ năm học 2022 – 2023 là điều này phù hợp với xu hướng giáo dục quốc tế. Vậy quốc tế giáo dục lịch sử như thế nào?

Ở Israel, môn lịch sử được coi trọng, xếp ngang hàng với môn văn học, môn Kinh thánh. Chính nhờ môn lịch sử mà người Do Thái mới không quên được lịch sử dân tộc, đất nước mình.

Ở Mỹ và Canada, lịch sử là môn học bắt buộc ở cấp phổ thông, đại học như các môn Toán, tiếng Anh hay Vật lý.

Ở Trung Quốc, từ năm 2020, môn lịch sử cũng trở thành môn học bắt buộc tại cấp trung học cơ sở chứ không riêng gì cấp trung học phổ thông.

Ở Nam Phi, năm 2018, Bộ giáo dục nước này đã quyết định lịch sử trở thành môn học bắt buộc từ năm 2023.

Ở Hàn Quốc, từ năm 2005 môn lịch sử trở thành môn tự chọn. Và hậu quả là một thế hệ trẻ không rõ về chính lịch sử nước mình, không ý thức được vấn đề chủ quyền quốc gia đặc biệt là lịch sử bị nước ngoài dày xéo, về những vùng đất xâm chiếm đến bây giờ vẫn chưa đòi lại được. Rất nhiều nhà giáo dục đã nhận ra sai lầm. Bài báo: “Lịch sử là môn học bắt buộc, không phải tùy chọn” được đăng trên Chosun vào năm 2013 đã gây chấn động Hàn Quốc. Cuối cùng, Hàn Quốc đưa lịch sử trở lại giáo dục bắt buộc vào năm 2015. 

Không hiểu các vị xây dựng đề án môn lịch sử là môn tự chọn ở Việt Nam học hỏi kinh nghiệm từ nước nào, xu hướng quốc tế ra làm sao nhưng có một điều chắc chắn rằng, có khi các vị đền tiền ngân sách cho những chuyến đi học hỏi kinh nghiệm vô bổ đó. Nhưng có những thứ tiền không thể bù đắp lại được, chính là lỗ hổng kiến thức lịch sử, lỗ hổng về niềm tự hào dân tộc của thế hệ trẻ ngày nay. 

LẬT TẨY CHIÊU TRÒ BÔI NHỌ, KÍCH ĐỘNG

 


Lợi dụng tính đại chúng của mạng xã hội, thành phần bất mãn mượn cớ khoa học hay tự xưng là “người cầm bút chân chính” đăng đàn các nội dung cho rằng, có những sự thật lịch sử, nhân vật lịch sử trong dịp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước cần phải xem xét lại (!). Một số kẻ giở trò “nước mắt cá sấu” để kêu thay, vái đỡ cho nhóm người bất mãn, “bên kia chiến tuyến” với luận điệu "thống

MẠNG ẢO NHƯNG PHÁP LUẬT KHÔNG ẢO!

 


Chiều ngày 14/4/2022, trung tướng Tô Ân Xô - Chánh văn phòng kiêm người phát ngôn Bộ Công an cho biết: “Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an phối hợp với Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao đã bắt khẩn cấp Đặng Như Quỳnh (Phường Mễ Trì, Quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội) để điều tra về hành vi “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân” quy định tại Điều 331 bộ luật Hình sự.

KỸ NĂNG NHẬN DIỆN TIN GIẢ


Trong thế giới hiện nay, với sự bùng nổ của khoa học và internet, mọi người đều thể tiếp cận với lượng thông tin khổng lồ gần như không đáy trên toàn thế giới. Tuy nhiên, bên cạnh những thông tin bổ ích, có giá trị và có tính chính thống, pháp lý được các cơ quan có thẩm quyền đưa ra cũng có rất nhiều