Đổi mới tư duy đối ngoại Việt Nam là luôn nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ lớn giữa ổn định, đổi mới và phát triển. Đó là quá trình phát triển từng bước vững chắc, luôn được kiểm nghiệm trong thực tiễn và được đúc rút từ nhiều bài học kinh nghiệm, có sự kế thừa, bổ sung và tiếp nối, phù hợp với thế và lực của đất nước và bối cảnh bên ngoài. Để đổi mới và phát triển thì cần dựa trên nền tảng vững chắc. Có thể khái quát quá trình đổi mới tư duy đối ngoại Việt Nam dựa trên ba nền tảng sau:
Thứ nhất, kế thừa những tinh hoa về truyền thống ngoại giao của dân tộc.
Truyền thống ngoại giao Việt Nam là những triết lý ngoại giao được đúc kết xuyên suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của ông cha ta, luôn coi trọng hòa bình, hữu nghị, nhân văn, nhân nghĩa và thủy chung; quan hệ láng giềng thân thiện, “ngoại giao công tâm”, lấy lẽ phải, công lý, chính nghĩa để thuyết phục lòng người. Về đối nội, truyền thống dân tộc là sự chú trọng đồng thuận xã hội, “trong ấm, ngoài êm”, coi trọng “vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, nước nhà chung sức”. Về đối ngoại, ngoại giao của ông cha ta xem trọng việc giữ gìn hòa khí, khiêm nhường với nước lớn, hữu nghị với các nước lân bang, phấn đấu cho sự thái hòa. Trong Binh thư yếu lược, Trần Hưng Đạo đã viết: “Hòa mục là đạo rất hay trong việc trị nước, hành binh. Hòa ở trong nước thì ít phải dùng binh, hòa ở ngoài biên thì không sợ báo động”.
Khi buộc phải chiến đấu chống kẻ thù, nhân dân Việt Nam luôn có ý thức bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, gìn giữ từng tấc đất của tiền nhân để lại. Ông cha ta đã hết sức coi trọng đấu tranh bằng ngọn cờ chính nghĩa, trên cơ sở tiến hành phương pháp “ngoại giao tâm công”, thu phục lòng người bằng lẽ phải, đạo lý, nhân tính, “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, đem chí nhân để thay cường bạo”.
Thứ hai, trên cơ sở vận dụng sáng tạo, linh hoạt chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho đường lối đối ngoại Việt Nam, với phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Đó là lấy cái “bất biến” là lợi ích quốc gia - dân tộc, định hướng xã hội chủ nghĩa để làm căn cứ, điểm xuất phát cho đề xuất các chiến lược, sách lược, đối sách phù hợp với cái “vạn biến” là thực tiễn đang vận động không ngừng. Trong đó, quan trọng nhất là phép biện chứng duy vật cùng quan điểm toàn diện, hệ thống để tiếp cận quốc tế và giải quyết mối quan hệ giữa Việt Nam với thế giới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, chuyển phong trào cách mạng từ tự phát sang tự giác, dẫn dắt dân tộc giành độc lập, thống nhất. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại được hun đúc và kết tinh từ giá trị truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, được hình thành, bổ sung phát triển trong thực tiễn quá trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, tổ chức và lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nguồn gốc tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hóa, truyền thống ngoại giao Việt Nam, kết hợp với tiếp thu tinh hoa nhân loại cũng như kinh nghiệm ngoại giao thế giới.
Thứ ba, kế thừa và phát triển nhận thức qua các kỳ Đại hội Đảng, gắn với thực tiễn trong nước và bối cảnh quốc tế trong từng thời kỳ.
Đối ngoại Việt Nam có đặc điểm riêng và là thế mạnh khác biệt: là nền đối ngoại dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện và thống nhất của Đảng. Đường lối đối ngoại của Việt Nam là thống nhất, liên tục và nhất quán, có sự kế thừa, phát huy và bổ sung qua các giai đoạn phát triển của đất nước.
Trải qua quá trình đó, tư duy, kinh nghiệm và lực lượng của đối ngoại từng bước được trưởng thành, hun đúc nên những bài học kinh nghiệm quý báu. Đó là bài học về kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế; kiên trì về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, kết hợp nhuần nhuyễn, biến hóa, sáng tạo giữa chiến lược và chiến thuật; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm tranh thủ tối đa ngoại lực, tạo sức mạnh cộng hưởng cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Chính vì sự vận dụng sáng tạo và không ngừng đổi mới tư duy đó, lý luận của Đảng ta luôn được kế thừa và phát triển, giữ vững và phát huy giá trị trong thời đại mới trước những biến động nhanh chóng của thế giới./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét