Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2022

Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ

 


V.I.Lênin quan niệm: “Dân chủ là sự thống trị của đa số”1. Do vậy, dân chủ được nhìn nhận như là một hình thức, một hình thái nhà nước, trong đó thừa nhận sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân vào công việc quản lý nhà nước để thực hiện sự thống trị đối với thiểu số những kẻ vi phạm dân chủ của nhân dân. Mức độ, phạm vi tham gia thật sự của quần chúng nhân dân vào công việc quản lý nhà nước phản ánh trinh độ phát triển của nền dân chủ, phản ánh những vấn đề cốt lõi nhất của dân chủ.

Dân chủ là sản phẩm của lịch sử, là thành quả của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh cho văn minh tiến bộ của loài người qua các giai đoạn lịch sử. Mỗi giai đoạn lịch sử đều đã ghi dấu mốc quan trọng trên bước đường phát triển dân chủ và thể hiện sự đấu tranh không khoan nhượng với những yếu tố phi dân chủ (sự độc tài, chuyên chế, phát xít...), thậm chí trong cuộc đấu tranh giành dân chủ, nhân loại đã phải trả giá đắt bằng cả máu, xương của mình.

Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ rõ: Dân chủ không phải là sản phẩm của tự nhiên, cũng không phải là bẩm sinh, càng không phải là tặng phẩm của giới siêu nhân nào đó, mà là kết quả của quá trình đấu tranh trong trường kỳ lịch sử của nhân loại vì sự tiến bộ, văn minh. Do đó, đứng trên quan điểm phát triển biện chứng xem xét thì dân chủ là một giả trị nhân văn, mang tính nhân loại. Mỗi bước tiến của dân chủ phản ánh bước tiến về quyền con người. Dân chủ phát triền càng cao, quyền con người càng được khẳng định; tự do, bình đẳng trong xã hội càng cao. Do vậy, với tính chất là một giá trị nhân văn (giá trị văn hóa) của nhân loại, dân chủ ngày càng trở thành tiêu chí, thước đo của sự tiến bộ xã hội, trình độ văn minh của loài người.

Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng khẳng định, trong quá trình phát triển của xã hội loài người, khi xã hội phân chia thành giai cấp và nhà nước xuất hiện, quyền tự do của mỗi cá nhân đều mang tính giai cấp, phản ánh lợi ích giai cấp (trước hết là giai cấp cầm quyền). Lịch sử đã chứng minh rằng, trong xã hội có giai cấp, cuộc đấu tranh giành dân chủ bao giờ cũng biểu hiện tính giai cấp rõ rệt, đại biểu cho lợi ích giai cấp, là công cụ và thủ đoạn của giai cấp thống trị. Những giá trị dân chủ có tính nhân loại chính là kết quả cuộc đấu tranh giai cấp của những lực lượng xã hội tiến bộ, những giai cấp tiên tiến, giữ vai trò trung tâm của thời đại. Do vậy, dân chủ mang tỉnh giai cấp sâu săc. Không có dân chủ trừu tượng, phi giai cấp, ngoài giai cấp. Bản chât của dân chủ được thể hiện ở tính giai cấp của nó.

V.I.Lênin đã chi rõ: Không có “dân chủ nói chung”, “dân chủ phi giai cấp”. Tính chất giai cấp của phạm trù dân chủ là tiêu chí để phân biệt bản chất khác nhau của các nền dân chủ (dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản, dân chủ vô sản - dân chủ xã hội chủ nghĩa). Theo V.I.Lênin, mỗi chế độ và nhà nước dân chủ đều do một giai cấp thống trị chi phối các lĩnh vực của đời sống xã hội, do đó, tính giai cấp thống trị cũng chi phối tính dân tộc và tính chất của chế độ chính trị, kinh tế, văn hỏa, xã hội... ở mỗi dân tộc cụ thể. Năm 1919, V.I.Lênin viết: "... Quan điểm dân chủ thuần túy hình thức chính là quan điểm của ngưòi dân chủ tư sản, là kẻ không thừa nhận rằng lợi ích của giai cấp vô sản và của cuộc đấu tranh giai cấp của vô sản cao hơn” . Do vậy, V.I.Lênin đã nhắc nhở những người cộng sản rằng, khi xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, không được quên trả lời câu hỏi có tính chất nguyên tắc: dân chủ cho ai và vì cái gì; tự do đối với ai, vì ai và vì cái gì.

Với tư cách là một chế độ xã hội, dân chủ là một phạm trù lịch sử vì nó có sự ra đời, tồn tại và phát triển trong một giai đoạn nhất định và sẽ mất đi khi trong xã hội không còn giai cấp. Tính lịch sử của dân chủ với nghĩa là một chế độ xã hội còn thể hiện qua quá trinh hình thành, phát triển, vận động từ chỗ chưa có dân chủ đến có dân chủ, đến tồn tại, phát triển và tiêu vong. Chủ nghĩa Mác- Lênin nêu rõ quá trình phát triển của dân chủ là “từ chuyên chế đến dân chủ tư sản; từ dân chủ tư sản đến dân chủ vô sản; từ dân chủ vô sản đến không còn dân chủ nữa”2.

Do vậy, hình thức của nền dân chủ là đa dạng vì chính thể của mỗi quốc gia không chỉ chịu sự chi phối của thể chế chính trị mà còn chịu sự kiềm chế của các điều kiện thực tế của các chính thể khác nhau3. Không có mô hình dân chủ và chế độ chính trị chung cho mọi quốc gia, dân tộc.

Từ những tính chất nêu trên, khi xem xét bản chất dân chủ, chế độ dân chủ không chỉ căn cứ vào tính giai cấp mà còn phải đứng trên quan điểm lịch sử và phải có thái độ biện chứng, khoa học đối với những thành tựu dân chủ với tính cách là những giá trị mà loài người đã đạt được trong tiến trình lịch sử. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã nhắc nhở giai cấp công nhân, các đảng cộng sản không nên nhấn mạnh tính giai cấp, tính chính trị mà xem nhẹ tính lịch sử, giá trị nhân văn của dân chủ (hoặc ngược lại); đồng thời, phải đứng trên quan điểm biện chứng để xem xét quá trình phát triển của dân chủ với tư cách là một chế độ... Có như vậy, mới tránh được sự mơ hồ, duy ý chí, nóng vội, thậm chí là sai lầm và đổ vỡ chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa.

DÂN CHỦ ĐƯỢC QUAN NIỆM THEO CHÍNH TRỊ HỌC

 


 Trong Chính trị học, dân chủ dùng để mô tả cho một số ít hình thức nhà nước và cũng là một loại triết học chính trị. Mặc dù chưa có một định nghĩa thống nhất về dân chủ, có hai nguyên tắc mà bất kỳ một định nghĩa dân chủ nào cũng đưa vào. Nguyên tắc thứ nhất là tất cả mọi thành viên của xã hội (công dân) đều có quyền tiếp cận đến quyền lực một cách bình đẳng và thứ hai, tất cả mọi thành viên (công dân) đều được hưởng các quyền tự do được công nhận rộng rãi. Một số người định nghĩa dân chủ là một “chế độ của đa số với một số quyền cho thiểu số”. Chủ quyền nhân dân là một triết lý phổ biến nhưng không phải lúc nào cùng là động lực để hình thành một nền dân chủ. Tại một số quốc gia, dân chủ dựa trên nguyên tắc triết học về quyền bình đẳng. Nhiều người sử dụng thuật ngữ “dân chủ” như một cách nói tắt của dân chủ tự do, còn bao gồm thêm một số yếu tố như đa nguyên chính trị, sự bình đẳng trước pháp luật, quyền kiến nghị các viên chức được bầu nếu cảm thấy bất bình, quyền tự do ngôn luận, thủ tục tố tụng, quyền tự do cônmg dân, quỳen con người và những yếu tố của xã hội dân sự độc lập với nhà nước

+ Dân chủ được gọi là “hình thức nhà nước cuối cùng” và đã lan rộng tren khắp toàn cầu. Dân chủ còn có một định nghĩa khác trong lý thuyết hiến pháp, đặc biệt là khi nghiên cứu về công việc của những “Khai quốc công thần Hoa Kỳ”. Trong cách dùng này, thì chữ “dân chủ” để riêng  chỉ đến “dân chủ trực tiếp”, trong khi “dân chủ đại biểu” trong đó dân chúng bầu người thay mặt cai trị theo một hiến pháp thì lại dùng “chữ cộng hòa” (republic). Theo cách dùng hiện thời thì chữ “công hòa” dùng để chỉ bất cứ một quốc gia nào có một người quốc trưởng được bầu lên làm việc một thời gian có hạn, khác với hầu hết các chính phủ quân chủ cha truyền con nối hiện thời đều là các chính phủ dân biểu và hiến pháp quân chủ nhưng cai trị theo chế độ nghị viện được bầu một cách dân chủ. Các danh từ cổ này vẫn còn chút thông dụng trong các cuộc tranh biện giữa phe bảo thủ và Đảng Libertarian tại Hoa Kỳ, tam quyền phân lập được xem là đặc tính hỗ trợ cho dân chủ, nhưng ở các quốc gia khác như Vương quốc Anh, triết lý tri phối lại là chủ quyền tối cao của Nghị viện (mặc dù trên thực tế vẫn duy trì sự độc lập của tòa án). Trong các trường hợp “dân chủ” được dùng với nghĩa dân chủ trực tieép. Mặc dù thuật ngữ dân chủ thường được dùng trong bối cảnh chính trị của quốc gia, những nguyên lý này cũng áp dụng cho các tổ chức cá nhan và các nhóm khác.

Thuật ngữ dân chủ xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ V đến thế kỷ IV tr.CN tại Hy Lạp. Theo tiếng Hy Lạp, dân chủ được viết là Demoskratos, trong đó Dẻmos nghĩa là nhân dân và kratos nghĩa là quyền lực. Theo cách diễn đạt này, dân chù trong tiếng Hy Lạp cổ được hiểu nhân dân cai trị và sau này được các nhà chính trị dịch giản lược là quyền lực của nhân dân hay quyền lực thuộc về nhân dân.

Đến thế kỷ XVIII, người Anh đã dựa vào ngôn ngữ Hy Lạp cổ để đưa ra thuật ngữ “democracy”, có nghĩa là “chính thể dân chủ”- thể chế dân chủ, một trong những hình thức chính quyền với đặc trưng là: chính quyền nhà nước phải thừa nhận quyền tự do và bình đẳng của công dân. Điều đó có nghĩa là: Dân chủ là chính thể nhà nước thừa nhận quyền tự do, bình đẳng của nhân dân.

Xem xét các nềp dân chủ trong lịch sử cho thấy, nội dung trên của khái niệm dân chủ về cơ bản vẫn giữ nguyên cho đến ngày nay. Điểm khác biệt cơ bản giữa cách hiểu về dân chủ thời cổ đại và hiện nay là ở tính chất trực tiếp của mối quan hệ sở hữu quyền lực công cộng và cách hiểu về nội hàm của khái niệm nhân dân.

 

QUAN NIỆM DÂN CHỦ THEO NGHĨA GỐC

 


 Theo nghĩa gốc (nguyên nghĩa), Dân chủ có nguồn gốc từ Hy Lạp cổ đại. Thuật ngữ này xuất hiện đầu tiên tại Athena, Hy Lạp trong thế kỷ thứ IV trước CN với cụm từ Dimokratina(trợ giúp thông tin) “quyền lực của nhân dân” được gép từ chữ (demos) “nhân dân” và (kratos) “quyền lực” vào khoảng giữa thế kỷ thứ V đến thứ IV trước công nguyên để chỉ hệ thống chính trị tồn tại ở một số thành Bang Hy Lạp, nổi bật nhất là Athen sau cuộc nổi dậy của dân chúng vào năm 508 TCN

+ Tương truyền, hình thức nhà nước này được quốc vương Theseus- vị Vua khai quốc của thành Bang atthen- áp dụng lần đầu tiên trng thời kỳ thượng cổ, chính phủ đó được xem như là hệ thống dân chủ đầu tiên. Tại đó, người dân bầu cho mọi việc. Nhiều người xem hệ thống tại Atthen chỉ diễn tả một phần của nền dân chủ vì chỉ có một thiểu số được bầu cử, trong khi nữ giới và dân nô lệ không được phép bầu.

- Các nền văn hóa khác cũng đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển của dân chủ như Đông Á, Ấn Độ cổ đại, La Mã cổ đại, Châu Âu và nam Bắc Mỹ

+ Tại các nước Đông Á, chịu ảnh hưởng của Khổng Giáo, tuy nhà Vua nắm quyền tối cao nhưng mọi vấn đề quan trọng của quốc gia đều phải được nhà Vua đem ra bàn luận với bá quan văn võ. Sau quá trònh thảo luận, nhà Vua sẽ là người ra quyết định dựa trên ý kiến của các quan. Đó là cơ chế làm việc tương tự như với các nghị viện trong nền dân chủ hiẹn đại chỉ khác nhau ở chỗ nhà Vua có quyền quyết định tối hậu còn nghị viện ban hành luật pháp dựa trên quan điểm số đông. Ngoài ra còn có ngự sử đài có chức năng hặc tấu tất cả mọi việc nhằm can gián những việc không đúng hoặc chưa tốt của Vua và quan lại. Đây cũng là một định chế là tăng tính dân chủ của bộ máy nhà nước quân chủ Đông Á

+ Mọi nền văn minh, nền dân chủ tồn tại trong các cộng đồng dân cư như bộ lạc, thị tộc, công xã, lãng xã…từ thời thượng cổ, ở nhiều nới tiếp tục tồn tại cho đến ngày nay trong đó người đứng đầu cộng đồng sẽ do cộng đồng bầu chọn. Đó là hình thức tổ chức sơ khai nhất của con người trước khi nhà nước xuất hiện. Nghĩa của từ “Dân chủ” đã thay đổi nhiều lần từ thời Hy Lạp cổ đến nay vì từ thế kỷ thứ XVIII đã có nhiều chính phủ tự xưng là “dân chủ”. Trong cách sử dụng ngày nay, từ “dân chủ” chỉ đến một chính phủ được dân lựa chọn, không cần biết một cách trực tiếp hay gián tiếp. Quyền đi bầu khi xưa bắt đầu từ những nhóm nhỏ (như những người giàu có thuộc một nhóm dân tộc nào đó) qua thời gian đã được mở rộng trong nhiều bộ luật, nhưng vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi liên quan đến các lãnh thổ, khu vực bị tranh chấp có nhiều người nhập cư, và các quốc gia không công nhận các nhóm sắc tộc nào đó

Nghe sai sai!


    Thực ra, khi nghe tin Hạnh phải vào viện pháp y tâm thần, rồi đến khi nghe cánh phởn động Hải ngoại tuyên truyền Hạnh có khi bị giam ở Viện pháp y, tôi đã thấy có gì sai sai.

    Sai ở chỗ, khi chưa bị bắt, chị ta chống Nhà nước kinh thế, tuyên truyền chống Nhà nước tinh vi thế, lập quỹ gom tiền từ thiện kinh thế, làm gì có dấu hiệu tâm thần đâu.

    Thế mà nay bước chân vào trại tạm giam lại giở trò “tâm thần”.

    Các anh tưởng chúng tôi thích để Hạnh tâm thần lắm ah, thích cho Hạnh vào viện pháp y lắm ah?

    Làm gì có, chúng tôi chỉ muốn Toà án nhanh chóng xét xử và tuyên cho Hạnh những bản án thích đáng với hành vi chống Nhà nước của mình.

    Vải thưa không qua mắt thánh, chạy trời không khỏi nắng đâu.

    Cứ tưởng giả tâm thần mà được ư???

    Nếu trường hợp này mà tâm thần thì gọi là tâm thần chính trị chăng???



 

THẰNG THỢ VẼ…XỎ LÁ!


    Ngày 7/5, Sở Văn hóa - Thể thao Hà Nội đã yêu cầu tạm dừng Triển lãm Hội hoạ Điện Biện Phủ (dự kiến khai mạc chiều 7/5/2022 tại Hà Nội) để thẩm định một số bức tranh trong triển lãm. Một trong các nội dung thẩm định có liên quan đến bức tranh dưới đây, do có những ý kiến cho rằng bức tranh chính của triển lãm Điện Biên Phủ vẽ "lá cờ bị rách quá" và anh bộ đội không đẹp.

    Sau quyết định trên, một số "nghệ sĩ" cho rằng Sở Văn hoá – Thể thao Hà Nội đã quá cứng nhắc, rập khuôn và không hiểu hết được giá trị nghệ thuật của bức tranh, có anh nhà báo còn phát biểu "thật quá kinh ngạc vì mức độ tối tăm của một số người!".

    Còn phía cá nhân, với tư cách là cựu chiến binh, tôi nghĩ rằng, quyết định của Sở Văn hoá – Thể thao Hà Nội là hợp lý. Trước hết, về hình ảnh người lính trong bức tranh, thần thái toát lên là gì? Có nét nào gợi lên sự bất khuất, kiên định, dũng cảm của người lính không, hay chỉ gây tiếng cười cho người xem (nhiều người so sanh hình ảnh người lính với hình ảnh Zoobie trong phim phương Tây). Tôi nghi ngờ người vẽ cố tình bôi bác hình ảnh anh Bộ Đội cụ Hồ! Kể cả minh tinh điện ảnh thì trong 1 loạt các khoảnh khắc vẫn có những khung hình rất xấu. Nhưng khi đã vẽ ra, thì việc lựa chọn khung hình nào để vẽ sẽ là đại diện thần thái cho cả bức ảnh, huống gì đây là khuôn mặt, thần thái của cả 1 chiến dịch. Người chiến sỹ có thể gầy gò, ốm yếu, nhưng ánh mắt, khuôn mặt phải toát lên thần thái. Đây là điều mà người hoạ sỹ chưa làm được.

    Về hình ảnh lá cờ, đồng ý rằng, trong chiến tranh, lá cờ có thể bị rách nát, bị đạn bắn hay ám đen thuốc súng. Nhưng rách theo kiểu tan nát như thế này thì thực sự là quá lố và phi thực tế rồi. Video cắm cờ trên hầm Đờ Cát là được dàn dựng sau này, nhưng hãy nhìn video cờ quân Giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc lập hay hình ảnh người lính Hồng quân cắm cờ trên nóc toà nhà Quốc hội Đức năm 1945 để xem liệu sự sáng tạo của người nghệ sĩ có quá lố bịch hay không.

    Nghệ thuật có thể sáng tạo, có thể đi theo hướng “hiện thực hoá”. Nhưng không có nghĩa là anh sáng tạo một cách lố lăng, phi thực tế, nhất là những tác phẩm về lịch sử. Chúng ta không tô hồng, không hình tượng hoá lịch sử, nhưng xin hãy TÔN TRỌNG LỊCH SỬ.

BẢN CHẤT CÁCH MẠNG MÀU VÀ NHỮNG NGUY CƠ TIỀM ẨN ĐỐI VỚI VIỆT NAM HIỆN NAY

 


 Việt Nam chúng ta có phải đối diện với nguy cơ của “cách mạng màu” hay không? Đâu là giải pháp để ngăn ngừa âm mưu, thủ đoạn thực hiện “cách mạng màu” ở Việt Nam?

Cách mạng màu với nhiều tên gọi khác nhau như: cách mạng nhung, đường phố, cam, hoa hồng, hoa tulip, hạt dẻ… diễn ra ở một số nước Đông Âu và Trung Đông, Bắc Phi trong thời gian qua và những diễn biến chính trị tại Thái Lan, Campuchia, Mianma, Inđônêxia, Vênêxuêla đã cho thấy bản chất nguy hiểm từ sự can dự của các thế lực vào tình hình nội bộ các nước có chủ quyền, gây ra bất ổn chính trị kéo dài, ly khai dân tộc nhằm tìm mọi cách thay thế chính quyền hiện tại, xây dựng chính quyền thân Mỹ và phương Tây. Câu hỏi đặt ra là: Việt Nam chúng ta có phải đối diện với nguy cơ xảy ra “cách mạng màu” hay không? Đâu là giải pháp để ngăn ngừa âm mưu, thủ đoạn thực hiện “cách mạng màu” ở Việt Nam?

Bản chất của âm mưu, thủ đoạn “cách mạng màu”.

Cách mạng màu (tiếng Anh là colour revolution) là thuật ngữ chỉ các cuộc bạo lực chính trị có tổ chức, chính biến phi vũ trang ở quốc gia có chủ quyền nhằm lật đổ nhà nước đương nhiệm, gây ra khủng hoảng chính trị, đồng thời lập ra bộ máy cầm quyền mới của lực lượng đối lập được Mỹ và phương Tây hậu thuẫn. Đó là chiến lược toàn cầu của Mỹ sử dụng những phương thức, thủ đoạn điển hình là sự phản đối quy mô lớn bằng biện pháp phi bạo lực nhằm mục đích thay đổi chế độ đang tồn tại để thiết lập một chính phủ thân Mỹ và phương Tây kể từ thời kỳ hậu chiến tranh lạnh đến nay.

Các đối tượng của cách mạng màu là đảng phái, lực lượng chính trị đối lập trong nước hình thành từ các trào lưu “dân chủ hóa xã hội” hoặc nảy sinh, phát triển từ sự mâu thuẫn, phân hóa, phân lập của nội bộ đảng, chính phủ cầm quyền. Lãnh tụ phe đối lập thường là những người bất mãn, cơ hội chính trị, bất đồng với đảng, chính phủ cầm quyền được các thế lực nước ngoài hậu thuẫn, thậm chí nuôi dưỡng để thực hiện chính biến khi có thời cơ thuận lợi. Các thế lực bên ngoài là kẻ khởi xướng, định hướng, kích động, thúc đẩy, vạch kế hoạch, huấn luyện, tài trợ vật chất, ủng hộ tinh thần và phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trong nước tổ chức và tiến hành hoạt động cách mạng màu. Thế lực bên ngoài đóng vai trò “đạo diễn”, lực lượng trong nước giữ vai trò” thực thi”. Đây là một hiện tượng chính trị diễn ra thông qua nghị trường, đấu tranh chính trị (mít tinh, biểu tình, tuần hành), dựa trên cơ sở những tiền đề trong một quốc gia, dân tộc có quan điểm, chủ trương trái với lợi ích của Mỹ và phương Tây; được hậu thuẫn bởi lực lượng bên ngoài nước can thiệp một cách thô bạo, trắng trợn vào công việc nội bộ của nước đó nhằm lật đổ chính quyền hay sự cầm quyền của các đảng phái chính trị để thay thế bằng đảng phái đối lập phù hợp với lợi ích Mỹ và phương Tây.

“Cách mạng màu” với nhiều tên gọi khác là cách mạng nhung, đường phố, cam, hoa hồng, hoa tulip, hạt dẻ,… xuất hiện lần đầu tiên với cách mạng Vàng ở Philíppin từ năm 1983, cách mạng Nhung ở Tiệp Khắc năm 1989, cách mạng Đường phố ở Nam Tư năm 2000, cách mạng Nhung ở Grudia năm 2003, cách mạng Cam ở Ucraina năm 2004 và 2014, cách mạng hoa Tulip ở Cưrơgưxtan năm 2005, cách mạng cây Tuyết tùng ở Libăng năm 2005, cách mạng Xanh ở Iran năm 2009, cách mạng hoa Nhài ở Tuynidi từ năm 2010, cách mạng hoa Sen ở Ai Cập từ năm 2011, cách mạng màu ở khu vực Trung Đông - Bắc Phi (còn gọi là Mùa xuân Arập, gồm: Libi, Xyri, Angiêri, Yêmen, Marốc, Gioócđani, Arậpxêút, Ôman, Irắc), cách mạng Ô dù ở Hồng Kông năm 2014,… và những diễn biến chính trị tại Thái Lan, Campuchia, Mianma, Inđônêxia, Vênêxuêla cho thấy bản chất nguy hiểm từ sự can dự của các thế lực phương Tây vào tình hình nội bộ các nước có chủ quyền, gây ra bất ổn chính trị kéo dài, ly khai dân tộc nhằm tìm mọi cách thay thế chính quyền hiện tại.

Bản chất cách mạng màu là phản cách mạng, là phương thức, thủ đoạn theo chủ nghĩa sôvanh nước lớn sử dụng để loại bỏ chính quyền các nước không đi theo quỹ đạo của mình bằng nhóm cầm quyền khác, mà chưa làm thay đổi bản chất bên trong của các nước. Lợi dụng những mâu thuẫn, khó khăn của chính quyền đương nhiệm để tạo ra nguy cơ chính trị, thông qua việc bầu cử tự do và “cách mạng đường phố” để lật đổ chính quyền hợp pháp, dựng lên chính quyền thân Mỹ và phương Tây.

Ở các nước xã hội chủ nghĩa và nước có xu hướng đi lên chủ nghĩa xã hội thì chúng tìm mọi cách lật đổ và xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, lập đảng chính trị cầm quyền mới đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Trong truyền thông phương Tây, cách mạng màu được miêu tả rất hấp dẫn, giàu hứa hẹn như là những cuộc cách mạng dân chủ và nhân quyền phổ biến, trong đó, người dân có quyền đòi hỏi trách nhiệm dân chủ và yêu sách đối việc quản trị của chính quyền sở tại. Thực tế, cách mạng mang tính mị dân, người dân không có quyền lợi gì, thậm chí sau cách mạng là khủng hoảng chính trị, bất ổn xã hội kéo dài, mâu thuẫn giai tầng và dân tộc sâu sắc, kinh tế chậm phát triển, đói nghèo và thương vong gia tăng, đẩy các nước lâm vào hỗn loạn.

“Cách mạng màu” là một bộ phận hợp thành của chiến lược “diễn biến hòa bình” với mục tiêu phá hoại nền độc lập của các quốc gia, dân tộc nhằm củng cố vị trí siêu cường quốc số một thế giới của mình, chi phối, dẫn dắt và truyền bá văn hóa, lối sống, dân chủ và nhân quyền của Mỹ và phương Tây trên thế giới; khống chế hoặc tạo ảnh hưởng mạnh mẽ để thiết lập chính quyền chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Mỹ. Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, mục tiêu là lật độ vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, lập ra đảng phái chính trị đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa do Mỹ và phương Tây định đoạt. Hiện nay, đối tượng của cách mạng màu hết sức đa dạng, có thể diễn ra ở nước có chế độ chính trị khác nhau, trong đó có Việt Nam.

Các hoạt động nhằm thực hiện “cách mạng màu” ở Việt Nam

Sau khi Đông Âu và Liên Xô sụp đổ ngày 25/12/1991, đặc biệt từ khi Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch gia tăng với những phương thức, thủ đoạn ngày càng thâm độc, quy mô lớn, tác động tiêu cực đến đời sống an ninh xã hội. Mục tiêu của chúng là xây dựng lực lượng, nhân tố và điều kiện và tạo ra thời cơ để tiến hành cách mạng màu gây bạo loạn, xúi giục nhân dân biểu tình, kích động chống đối chính quyền, tìm mọi cách lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam và sự lãnh đạo của Đảng.

Hoạt động tuyên truyền phá hoại tư tưởng nhằm tạo tiền đề về tư tưởng, chính trị, xã hội cho cuộc cách mạng màu ở Việt Nam. Đó là những hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò cầm quyền của Đảng.

Những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị, những kẻ thâm thù cộng sản, đối lập và phản bội cách mạng, những người a dua, kiêu ngạo, thậm chí có cán bộ, đảng viên “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sử dụng những thủ đoạn và cách thức đa dạng, phong phú, mà chủ yếu là các bài viết theo lối “bổn cũ soạn lại”, các video, clip cắt ghép, các bloger trên một số báo chí nước ngoài, các trang mạng xã hội có tư tưởng chống phá Việt Nam như: Chantroimoi media, BBC NEWS, VOA tiếng Việt, Dân Báo, RFA,... ra sức đưa ra những luận điệu sai trái, thù địch, bóp méo và phủ nhận hoàn toàn nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đồng thời, tuyên truyền kêu gọi cải cách chính trị để tiến tới một nền dân chủ đa nguyên, đa đảng, thiết lập quyền tự do phát ngôn, ra báo tư nhân, lập đảng, lập hội, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang... Các hoạt động tuyên truyền kích động các hoạt động biểu tình, phá rối an ninh, trật tự xã hội, gây bạo loạn thông qua các sự kiện chính trị lớn của Đảng, Nhà nước, các vấn đề xã hội phức tạp, nhạy cảm như: tranh chấp, khiếu kiện, đình công, vấn đề tôn giáo, dân tộc, tranh chấp biển đảo.

Hoạt động tác động, chuyển hóa nội bộ, hình thành nhân tố chống đối từ bên trong, thúc đẩy “tự diễn biến” nội bộ. Chúng lợi dụng quá trình hợp tác toàn diện với Việt Nam, chúng tăng cường tiếp cận vào những vấn đề chính trị - xã hội nội bộ, thông qua các dự án, chương trình nhằm hiện thực hóa mục tiêu dân chủ hóa chính trị. Chúng sử dụng các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, các tập đoàn kinh tế đầu tư ở Việt Nam, tìm mọi cách tác động làm thay đổi chính sách, pháp luật, cải cách hành chính theo quỹ đạo dân chủ tư sản; tác động vào các cơ quan báo chí truyền thông và đội ngũ phóng viên định hướng theo cách làm báo phương Tây, thúc đẩy phát triển xã hội dân sự; thâm nhập vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo nhằm hình thành “giá trị Mỹ”, tự do phương Tây để chuyển hóa tư tưởng giới trẻ, tạo đà xây dựng lực lượng chính trị và tổ chức đối lập ở Việt Nam. Chúng tác động phân hóa, xâm nhập, cài cắm cơ sở nội gián, in sao và phát tán rộng rãi tài liệu với nội dung sai lệch gây mất niềm tin chế độ, thay đổi lập trường, hình thành lực lượng chống đối từ nội bộ trong hệ thống chính trị.

Hoạt động thúc đẩy hình thành “xã hội dân sự” hướng đến một xã hội đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, tạo tiền đề cho sự ra đời các tổ chức chính trị đối lập ở Việt Nam. Thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng và các hoạt động trao đổi, chuyển giao, hỗ trợ, hợp tác góp phần đẩy mạnh xã hội dân sự theo tiêu chí phương Tây, tạo dựng hành lang pháp lý cho việc hình thành xã hội dân sự ở Việt Nam. Thông qua quan hệ hợp tác, tài trợ cho các tổ chức đoàn thể quần chúng, các thế lực thù địch đẩy mạnh hình thành các tổ chức đối lập (như: công đoàn độc lập), tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam, đồng thời liên kết tạo thành mạng lưới các hiệp hội nhằm tăng cường vị trí, tầm quan trọng của các tổ chức phi chính phủ trong nước phối hợp tổ chức quốc tế để tiến hành cách mạng màu ở Việt Nam khi có thời cơ.

Biện pháp ngăn ngừa nguy cơ “cách mạng màu” ở Việt Nam

Xác định được những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, Đảng và Nhà nước ban hành các chỉ thị, nghị quyết, văn bản pháp lý nhằm tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý đối với công tác phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn nguy cơ cách mạng màu ở Việt Nam. Đặc biệt là chủ trương, chính sách về công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, phòng và chống “diễn biến hòa bình”; công tác lãnh đạo, quản lý báo chí, xuất bản; hoàn thiện hệ thống pháp lý trong đấu tranh với hoạt động thù địch, tăng cường quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài và tổ chức phi chính phủ Việt Nam. Đẩy mạnh các biện pháp ngăn ngừa hoạt động thù địch bên ngoài tạo dựng tổ chức chính trị đối lập gây nguy cơ cách mạng màu ở Việt Nam. Nâng cao chất lượng các tổ chức, cơ quan chức năng thực hiện nhiệm vụ vô hiệu hóa những kế hoạch, phương thức tổ chức huấn luyện, đào tạo lực lượng hậu thuẫn, tài trợ vật chất, móc nối các đối tượng trong nước, tạo ảnh hưởng chính trị của các đối tượng thù địch đối với quần chúng nhân dân và với dư luận xã hội. Phối hợp chặt chẽ các cấp chính quyền, lực lượng vũ trang cơ sở, mạng lưới nhân dân triển khai các biện pháp nghiệp vụ, giám sát chặt chẽ các đối tượng cầm đầu, bao vây, phong tỏa, tước bỏ điều kiện hoạt động của đối tượng thù địch.

Đồng thời, ngăn chặn, bóc gỡ, triệt phá mọi hoạt động hình thành tổ chức đối lập ở trong nước dưới danh nghĩa hợp tác, chương trình, dự án, tài trợ,… nhằm thúc đẩy cho ra đời ồ ạt các tổ chức xã hội dân sự, đảng phái chính trị phản động, tranh giành ảnh hưởng, thu hút quần chúng, gây mất niềm tin của nhân dân với chính quyền, tạo ra mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo và đòi độc lập. Sử dụng các biện pháp nghiệp vụ đấu tranh ngăn chặn các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề chính trị, xã hội phức tạp để kích động thành những làn sóng chống đối cục bộ, biểu tình, bạo loạn, gây áp lực với Đảng và Nhà nước. Tùy từng đối tượng, vụ việc để có các biện pháp kịp thời, hợp lý để tổ chức phòng ngừa, răn đe, đấu tranh, trấn áp và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm pháp luật, không để bị động, bất ngờ. Nâng cao nhận thức, cảnh giác cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về thủ đoạn, âm mưu cách mạng màu, nắm bắt tâm tư, tình cảm của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, kịp thời định hướng, uốn nắn tư tưởng đúng đắn, phê phán những biểu hiện mơ hồ, lệch lạc, a dua, bị lôi kéo, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; tiếp tục quản lý có hiệu quả Luật An ninh mạng, kiểm soát mạng xã hội và định hướng các kênh thông tin đại chúng.

Thực tiễn các cuộc cách mạng màu đã diễn ra trên thế giới và cuộc đấu tranh phòng ngừa nguy cơ ở Việt Nam, vấn đề đặt ra là tiếp tục xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, bảo đảm sự ổn định chính trị vững mạnh từ Trung ương đến địa phương; giữ gìn nền quốc phòng toàn dân, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; nâng cao tinh thần đoàn kết toàn dân; các lực lượng vũ trang luôn chủ động trước những nguy cơ và thách thức; tăng cường vai trò quản lý báo chí, truyền thông, đặc biệt là mạng xã hội trong việc phát tán thông tin, định hướng dư luận.

Có thể khẳng định một điều, không có liều thuốc nào hữu hiệu bằng việc tự đề kháng và ngăn ngừa dịch bệnh từ xa. Loại bỏ tham nhũng tiêu cực, xử lý các cá nhân cán bộ biến chất, suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa là điều chúng ta bắt buộc phải làm. Làm tốt việc này, không những đất nước phát triển giàu mạnh mà niềm tin của nhân dân dành cho Đảng, chính quyền sẽ tăng lên. Khi nhân dân có niềm tin, họ sẽ không dễ bị lôi kéo, kích động. Bài học ở nhiều quốc gia trên thế giới cho chúng ta thấy rõ ràng rằng phải cảnh giác với chúng và cũng cần phải chấn chỉnh lại chính mình./.

Nguồn: TS. Lê Trung Kiên, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh/Báo Đảng cộng sản Việt Nam.

Làm rõ thêm về chiến lược "diễn biến hòa bình"

 

Thuật ngữ “diễn biến hòa bình” xuất hiện lần đầu tiên trong sinh hoạt chính trị quốc tế vào năm 1949. Ngày 20 - 7 - 1949, ngoại trưởng Mỹ lúc đó là Akisơn trong một bức thư gửi Tổng thống Tơruman đã sử dụng khái niệm “diễn biến hòa bình” để chỉ sự chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa thành chế độ tư bản chủ nghĩa. Sau đó khái niệm này đã nhanh chóng trở thành phổ cập trên thế giới.

Bộ trưởng ngoại giao Mỹ A.Đalét là người đầu tiên đề xuất chiến lược “diễn biến hòa bình” vào đầu những năm 1950. Trong bản tường trình trước Quốc hội Mỹ ngày 15 -1 - 1953, ông ta cho rằng: “Muốn giải phóng nhân dân bị nô dịch ở các nước xã hội chủ nghĩa cần phải dùng phương pháp phi chiến tranh”, tức là dùng “thủ đoạn hòa bình để giành thắng lợi” và nhấn mạnh rằng “những ai không tin tưởng vào sức ép tinh thần và sức ép tuyên truyền có thể sản sinh ra hậu quả thì quả thực là người đó không hiểu biết”. Ông ta chủ trương thúc đẩy “những thay đổi theo hướng đi lên” trong các nước xã hội chủ nghĩa, gửi gắm hy vọng vào những người thuộc thế hệ thứ ba, thứ tư ở các nước xã hội chủ nghĩa.

Chiến lược “diễn biến hòa bình” ra đời từ những năm 1950 và đã được chúng đẩy mạnh thực hiện ngay từ thời kỳ đó nhưng trên thực tế cho đến những năm 1980 thì nó vẫn chỉ là một thủ đoạn hỗ trợ cho đòn tiến công quân sự. Khi cải tổ, cải cách, đổi mới ở các nước xã hội chủ nghĩa diễn ra trên quy mô sâu rộng kèm theo không ít những sai lầm thì các nhà chiến lược của chủ nghĩa đế quốc coi đó là thời cơ ra tay thuận lợi để trong một thời gian hai ba chục năm đánh một trận “chiến tranh thế giới mới không có khói súng”.

Năm 1988, trong cuốn Năm 1999 – chiến thắng không cần chiến tranh, Ních xơn, cựu Tổng thống Mỹ, đã tổng kết kinh nghiệm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với các nước xã hội chủ nghĩa, trình bày một cách toàn diện mục tiêu chiến lược và thủ đoạn chiến lược, nhằm thông qua “diễn biến hòa bình” để giành chiến thắng không cần chiến tranh.

Chiến lược “diễn biến hoà bình” là chiến lược cơ bản của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng biện pháp phi quân sự. Mục tiêu cuối cùng của chiến lược “diễn biến hoà bình” là nhằm xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, làm sụp đổ chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa mà không cần phải phát động chiến tranh.

Tính chất phản động của chiến lược “diễn biến hoà bình” được thể hiện ở tiêu điểm mục tiêu xoá bỏ chủ nghĩa xã hội với tư cách là một hình thái kinh tế - xã hội tiên tiến nhất và là xu thế vận động, phát triển của tiến bộ xã hội.

Chống phá các nước xã hội chủ nghĩa một cách toàn diện trên tất cả các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội như chính trị - tư tưởng, kinh tế, văn hoá - xã hội, quốc phòng - an ninh là nội dung bao trùm, xuyên suốt của chiến lược “diễn biến hoà bình”. Các thế lực thù địch đòi dân chủ hoá chính trị, tự do hoá kinh tế, và áp đặt văn hoá, lối sống tư sản; kết hợp răn đe quân sự để phá hoại, làm suy yếu từ bên trong các nước xã hội chủ nghĩa; kích động các mâu thuẫn trong xã hội, tạo ra lực lượng đối lập núp dưới chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, sắc tộc; khuyến khích tư nhân hoá về kinh tế và đa nguyên chính trị; truyền bá mô hình chính trị, kinh tế, văn hoá, lối sống của chủ nghĩa tư bản, làm mơ hồ giai cấp và đấu tranh giai cấp trong nhân dân lao động; làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa ở một bộ phận nhân dân lao động, nhất là tầng lớp thanh niên, học sinh, sinh viên; chúng triệt để khai thác và lợi dụng những khó khăn, thiếu sót của Đảng, Nhà nước xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo nên sức ép, từng bước chuyển hoá và làm thay đổi đường lối chính trị, chế độ xã hội theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.

Chiến lược “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch dùng để chống chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng thế giới, có những đặc trưng cơ bản là:

Tiến hành chiến lược này nhằm từng bước giành ảnh hưởng có lợi và đánh bại chủ nghĩa xã hội, dập tắt phong trào cách mạng thế giới không phải bằng chiến tranh, mà bằng phương thức “hòa bình”. “Diễn biến hòa bình” là cuộc chiến tranh không có xe tăng, đại bác, không có khói thuốc súng nhưng cực kỳ nguy hiểm.

Cuộc chiến tranh này diễn ra thông qua “công cụ mềm”: ngoại giao, kinh tế, văn hóa, tư tưởng rồi đến chính trị, và cuối cùng khi cần mới dùng đến vũ lực. Tuy dùng công cụ mềm, nhưng chúng luôn coi sức mạnh quân sự là phương tiện răn đe, là áp lực hậu thuẫn hữu hiệu nhất. Quan điểm này được R.Ních-xơn, cựu tổng thống Hoa Kỳ nói rất rõ rằng: Một điều kiện tiên quyết để thực hiện diễn biến hòa bình là đòn răn đe về quân sự.

Cuộc chiến tranh dưới nhãn hiệu “diễn biến hòa bình” chủ yếu dùng lực lượng gián tiếp là con người và phương tiện mọi mặt của chính đối phương, đánh phá từ trong nội bộ kết hợp với hỗ trợ bên ngoài làm cho đối phương sụp đổ và tan rã nhanh chóng, nhưng người ta dễ mơ hồ, ngộ nhận rằng chủ nghĩa tư bản đã thay đổi về bản chất, không còn hiếu chiến.

Chiến lược “diễn biến hòa bình” chủ yếu dựa trên các mối quan hệ xã hội để luồn lách sử dụng theo ý đồ của kẻ chủ mưu bằng những thủ đoạn khôn khéo, tinh vi tạo nên sức “hủy diệt” lớn từ bên trong, đẩy đối phương đến trạng thái suy yếu toàn diện dẫn đến rối loạn nội bộ và sụp đổ nhanh, rất nhẹ nhàng êm ả mà kẻ chủ mưu vẫn tạo được vỏ bọc “vô tư”, “trong sạch”, “hữu nghị”, “nhân đạo”, “không can thiệp vào công việc nội bộ” của nước khác.

Phương tiện chủ yếu để đạt mục đích trong thực hiện “diễn biến hòa bình” là sự hấp dẫn về vật chất, biểu hiện qua giá trị của đồng đô la, núp dưới danh nghĩa viện trợ của các tổ chức kinh tế, xã hội, văn hóa…, bằng con đường quan hệ Nhà nước, hoặc phi chính phủ (kể cả dưới danh nghĩa của Liên hợp quốc), được tiến hành rất đa dạng và linh hoạt, làm cho người ta lóa mắt, bập phải mồi câu là mê muội, khó thoát.

Chiến lược “diễn biến hòa bình” mang tính chất toàn cầu, về không gian, thời gian là không có giới hạn. Đặc trưng này phản ánh tính quy mô, không chiến tuyến, dai dẳng của cuộc chiến tranh gậm nhấm lòng người, phá từ trong nội bộ, kết hợp với hỗ trợ tích cực từ bên ngoài, làm tiêu tan ý chí của đối phương.

Nhịp điệu phát triển và kết cục của “diễn biến hòa bình” diễn ra từ từ, không vội vã, ít khốc liệt như chiến tranh vũ lực nhưng hiệu quả thu được lại rất lớn, thậm chí như trong mơ, vượt xa dự đoán và mong đợi khi nó đã chín muồi. Kẻ thua cuộc vì mất cảnh giác phải cay đắng, nuối tiếc cơ đồ hầu như còn nguyên vẹn nhưng đã nằm trong tay người khác, không còn quần chúng đứng về phía mình, do thế cùng mà lực thì chưa tận, đành bất lực chịu “chết đứng”, đẩy đất nước và dân tộc vào cảnh khốn cùng, lệ thuộc.

Chiến lược “diễn biến hòa bình” hướng sự tập trung chủ yếu vào việc xây dựng và sử dụng lực lượng chính trị tại chỗ, tạo dựng ngọn cờ, tập hợp lực lượng ở ngay bên trong nước đối phương để làm nội công, còn kẻ chủ mưu chỉ là lực lượng ngoại kích khi thời cơ cho phép.

Thủ đoạn cơ bản trong thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch tạo dựng và thúc đẩy những nhân tố phản động chống đối ngay trong lòng các nước xã hội chủ nghĩa, đẩy các nước này vào tình trạng khó khăn, khủng hoảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, kinh tế, khoa học kĩ thuật, văn hoá, quân sự, ngoại giao; trong đó lấy tiến công về chính trị, tư tưởng là then chốt, kinh tế là mũi nhọn, quân sự giữ vị trí răn đe, gây áp lực hỗ trợ cho các biện pháp khác; qua đó hòng làm chuyển hoá từng bước các nước xã hội chủ nghĩa theo con đường tư bản chủ nghĩa; hoặc sử dụng lực lượng chống đối ngay trong nước kết hợp với sự hỗ trợ bên ngoài để thực hiện bạo loạn phản cách mạng, lật đổ chính quyền các nước xã hội chủ nghĩa. Trong cuốn sách “1999 - Chiến thắng không cần chiến tranh”, Ních sơn - cựu tổng thống Mỹ cho rằng, phải tạo ra khoảng trống tư tưởng ở các nước xã hội chủ nghĩa để cho tư tưởng tư sản tràn vào. Đặc biệt, cần làm xói mòn tư tưởng, đạo đức và niềm tin cộng sản của thế hệ trẻ để  “tự diễn biến”, tự suy yếu, dẫn đến sụp đổ, tan rã chế độ ở một số nước xã hội chủ nghĩa còn lại

PHAO.

Vị trí vai trò to lớn của dân quân tự vệ

 

        Dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng không thoát ly sản xuất, công tác; là thành phần của lực lượng vũ trang nhân dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; là lực lượng bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước, làm nòng cốt cùng toàn dân đánh giặc ở địa phương, cơ sở khi có chiến tranh. Lực lượng này được tổ chức ở xã, phường, thị trấn gọi là dân quân; được tổ chức ở cơ quan của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế gọi là tự vệ

Ngày 28 tháng 3 hàng năm là ngày truyền thống của lực lượng dân quân tự vệ.

      Dân quân tự vệ là thành phần của lực lượng vũ trang địa phương; là lực lượng nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Hiện nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dân quân là một trong những công cụ để bảo vệ độc lập, chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; là lực lượng nòng cốt trong xây dựng, tác chiến khu vực phòng thủ; phối hợp với các lực lượng khác giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ các công trình quốc phòng; góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện; là lực lượng nòng cốt cho nhân dân phòng, chống chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ở cơ sở; sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu, phục vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống chiến tranh xâm lược của kẻ thù. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân quân tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận địch nhân hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó thì cũng phải tan rã”1.

Dân quân tự vệ có nhiệm vụ:

Chiến đấu, chiến đấu và phục vụ chiến đấu để bảo vệ địa phương, cơ sở; phối hợp với các đơn vị bộ đội biên phòng, hải quân, cảnh sát biển và lực lượng khác bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới, chủ quyền trên các vùng biển Việt Nam.

Phối hợp với các đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và lực lượng khác trên địa bàn tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân, khu vực phòng thủ; giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của nhà nước.

Thực hiện nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm, cứu nạn, bảo vệ và phòng, chống cháy rừng, bảo vệ môi trường và nhiệm vụ phòng thủ dân sự khác.

Quan tâm chăm lo xây dựng Dân quân tự vệ hiện nay có vị trí vai trò hết sức to lớn trong sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang của Đảng.

PHAO


1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.132.

BÁO LÀO: ÔN LẠI CHIẾN THẮNG VĨ ĐẠI ĐIỆN BIÊN PHỦ

 BÁO LÀO: ÔN LẠI CHIẾN THẮNG VĨ ĐẠI ĐIỆN BIÊN PHỦ

Trong mấy ngày qua, các tờ báo lớn của Lào đăng nhiều bài viết về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, về cuộc Cách mạng Tháng Tám, cũng như mối quan hệ đặc biệt giữa Việt Nam và Lào. Các báo nhận định, những sự kiện lịch sử, mốc chiến thắng vĩ đại của nhân dân Việt Nam đã có ảnh hưởng tích cực, cổ vũ, động viên to lớn đến phong trào cách mạng tại Lào.

Nhân dịp kỷ niệm 68 năm chiến thắng Điện Biện Phủ (7/5/1954-7/5/2022), Báo Pasaxon, Cơ quan ngôn luận của Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng (NDCM) Lào đăng bài viết “Ôn lại sự kiện chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ”.

Bài báo viết, khi nói về Chiến dịch Điện Biên Phủ, mọi người sẽ thấy rằng, Chiến dịch Điện Biên Phủ là chiến dịch vĩ đại ở Đông Dương; nhân dân Việt Nam phải hy sinh biết bao xương máu, trí tuệ; nhân dân thế giới khắc ghi chiến công lịch sử vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng như nhân dân Việt Nam, con người dũng cảm, chấp nhận hy sinh tất cả để giành độc lập, tự do cho đất nước. Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, người dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới đều biểu dương, khen ngợi quân đội nhân dân Việt Nam.

Bài báo kết luận, Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng về mặt chính trị-quân sự dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Chiến thắng Điện Biên Phủ trở thành động lực, sức mạnh to lớn cổ vũ cho quân đội, nhân dân Việt Nam tiếp tục giành những thắng lợi vẻ vang, thống nhất đất nước năm 1975; là sự khích lệ to lớn trong việc khôi phục đất nước sau chiến tranh, đưa đất nước Việt Nam phát triển như hiện nay.

* Ngày 6/5, Báo Pathetlao Daily (Thông tấn xã Lào) cũng có bài viết “Chung tay xây vận mệnh hai nước Lào-Việt Nam”. Bài báo khẳng định, hai nước có cùng chung đường biên giới từ Bắc tới Nam, cùng dựa lưng vào dãy núi Trường Sơn hùng vĩ. Mối quan hệ giữa người dân hai nước từ xưa đến nay luôn đoàn kết, hòa thuận và ngày càng gắn bó chặt chẽ.

Trải qua nhiều thập kỷ trong công cuộc giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước, mối quan hệ đặc biệt giữa Lào và Việt Nam luôn được người dân hai nước mãi ghi sâu trong trái tim. Nếu không có Lào hay Việt Nam, chúng ta sẽ không thể hưởng những thành quả, hưởng hạnh phúc ngọt ngào của một dân tộc giành được độc lập như ngày nay.

* Cũng trong ngày 6/5, Báo Pasaxon có bài viết của tác giả Sivan với nhan đề “Cách mạng Tháng Tám thắng lợi mở ra kỷ nguyên mới đối với mối quan hệ đặc biệt Lào-Việt Nam, Việt Nam-Lào”. Bài báo viết, tại Việt Nam, khi Cách mạng Tháng Tám thắng lợi thì tại Lào, diễn ra cuộc nổi dậy, giành chính quyền. Hai sự kiện có nhiều diễn biến giống nhau, đã chứng minh sự lãnh đạo đúng đắn, kịp thời và sáng tạo của Đảng Cộng sản Đông Dương. Phản ánh rõ ràng mức độ hiệu quả của mối quan hệ đoàn kết cùng chiến đấu chống kẻ thù chung giữa nhân dân hai nước Lào và Việt Nam.

Bài báo cho biết, trong cuộc mít-tinh ngày 23/8/1945 tại thủ đô Vientiane, Lào, có rất nhiều kiều bào Việt Nam đã tham gia tích cực, đóng góp không nhỏ vào thắng lợi của cuộc mít-tinh, đặc biệt là việc tuần hành, biểu dương lực lượng của các tầng lớp nhân dân yêu nước, yêu chuộng hòa bình cũng như phong trào cách mạng tại Lào.

Tại Việt Nam, sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) được thành lập, ngày 4/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời Hoàng thân Suphanuvong đến Hà Nội để gặp gỡ. Sau cuộc gặp, Hoàng Thân đã quyết định lựa chọn đi theo con đường cách mạng của bản thân và đã có rất nhiều đóng góp cho phong trào cách mạng cũng như sự nghiệp giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước Lào sau này./

CHIẾN THẮNG MANG TẦM VÓC THỜI ĐẠI

 


Ngày 9-5-1945 đã đi vào lịch sử của nhân loại khi đại diện nước Đức quốc xã ký thỏa thuận đầu hàng vô điều kiện Liên Xô và các nước đồng minh.

Chiến thắng phát xít trở thành một trong những thiên anh hùng ca chói lọi được ghi vào lịch sử nhân loại trong thế kỷ 20, trở thành Ngày chiến thắng chung của các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Đó đồng thời cũng là Ngày chiến thắng vinh quang của quân và dân Liên Xô trong cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại (1941-1945).

Cách đây 76 năm, Ngày chiến thắng phát xít được đánh dấu bằng thỏa thuận đầu hàng vô điều kiện của Đức quốc xã với phe đồng minh (Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp) vào lúc 0 giờ 43 phút ngày 9-5-1945 (giờ Moscow). Cuộc chiến tranh đẫm máu nhất trong lịch sử loài người đã khép lại sau khi gây thương đau không kể xiết cho hàng trăm triệu người dân trên thế giới. Tổng kết cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai có thể thấy đây là cuộc chiến bao trùm trên hầu hết các châu lục, đại dương, liên quan đến hơn 70 nước với 1,7 tỷ người, trong đó có tới 110 triệu quân tham chiến. Liên Xô là nước chịu thiệt hại lớn nhất về người và vật chất. Để đi đến Ngày chiến thắng, nhân dân Liên Xô đã phải hứng chịu những hy sinh mất mát to lớn nhất, những tổn thất không thể bù đắp nổi. Chiến tranh đã cướp đi sinh mạng của khoảng 27 triệu người Liên Xô, trong đó gần 9 triệu chiến sĩ Hồng quân đã ngã xuống cho Ngày chiến thắng. Vì vậy, Ngày chiến thắng luôn là ngày lễ thiêng liêng nhất, cao cả nhất đối với các thế hệ người dân Nga nói riêng và nhân loại nói chung.

Chiến thắng phát xít năm 1945 đã làm thay đổi cục diện, tạo tiền đề quan trọng đưa thế giới sang thời kỳ phát triển mới. Hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu được hình thành. Bão táp cách mạng và phong trào giải phóng dân tộc đã làm lung lay, từng bước sụp đổ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, thực dân tại châu Á, châu Phi và Mỹ Latin...

Vươn lên từ đống tro tàn của Chiến tranh thế giới thứ hai, các quốc gia đã chung tay xây dựng một thế giới hòa bình, ổn định và thịnh vượng hơn. Từ những nỗ lực đó, một hệ thống an ninh tập thể dựa trên luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc (LHQ) đã ra đời. Những tôn chỉ, mục đích của Hiến chương LHQ, nhất là các nguyên tắc về bình đẳng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không sử dụng vũ lực và giải quyết hòa bình các tranh chấp đã đóng vai trò chủ đạo trong việc ngăn ngừa một thảm họa chiến tranh toàn cầu và góp phần xây dựng nền hòa bình bền vững.

Với Việt Nam, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đã mang lại cho đất nước một khởi đầu mới. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã đoàn kết một lòng, tận dụng cơ hội chiến lược để tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, làm nên thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Sau gần một thế kỷ dưới chế độ thực dân, Việt Nam đã giành được độc lập. Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời ngày 2-9-1945, mở ra chặng đường lịch sử mới đầy tự hào và vẻ vang cho dân tộc Việt Nam, đó là kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Với đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, nhân dân Việt Nam luôn ghi nhớ và biết ơn những nỗ lực cống hiến và tổn thất hy sinh to lớn của các quốc gia, trong đó có quân đội và nhân dân Liên Xô, đã làm nên chiến thắng vĩ đại chống chủ nghĩa phát xít, cứu loài người khỏi thảm họa diệt vong. Giống như tất cả các dân tộc từng bị áp bức, đau khổ do ngoại xâm, phải chịu nhiều mất mát hy sinh, tổn thất nặng nề bởi chiến tranh, người Việt Nam nhận thức rất rõ ý nghĩa, giá trị của hòa bình và luôn luôn mong muốn hòa bình. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: "Nhân dân nước nào cũng yêu chuộng hòa bình, cũng chán ghét chiến tranh, cũng muốn sống tự do độc lập". Đó là lý do để nhân dân Việt Nam đã, đang và sẽ ra sức phấn đấu, đoàn kết quốc tế cùng các quốc gia và những người yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên toàn thế giới xây dựng một nền hòa bình hữu nghị, phát triển ổn định, bền vững cho nhân loại.

Thế giới của thế kỷ 21 đang chịu nhiều biến động to lớn với hệ lụy và tác động đa chiều, đa lĩnh vực, ở tầm toàn cầu và có thể còn kéo dài trong nhiều năm tới. Kinh tế thế giới rơi vào suy thoái, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn quyết liệt chưa từng có kể từ sau Chiến tranh lạnh. Các trào lưu chống toàn cầu hóa, dân túy, bảo hộ vốn xuất hiện từ trước lại càng có điều kiện phát triển mạnh mẽ. Các xung đột trên biển, thách thức an ninh phi truyền thống gia tăng, gây nguy cơ tiềm ẩn đối với hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới. Nghiêm trọng hơn, đại dịch Covid-19 đang đặt thế giới vào một thách thức lớn nhất kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai. Cuộc chiến “không tiếng súng” này đã cướp đi sinh mạng của hơn 3,28 triệu người trên toàn thế giới và tác động đến mọi mặt đời sống của người dân trên hành tinh và đang có xu hướng làm thay đổi trật tự thế giới, thậm chí mở ra một kỷ nguyên mới-kỷ nguyên hậu Covid-19.

Là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Việt Nam đã, đang nỗ lực hết sức mình trong cuộc chiến chống Covid-19 cũng như góp phần thúc đẩy xây dựng lòng tin và ngăn ngừa, giải quyết xung đột trên thế giới. Với những bài học được rút ra từ cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, chúng ta tin tưởng rằng tinh thần hợp tác, đoàn kết và chia sẻ nguồn lực vào lúc này hết sức thực tế và cần thiết, giúp nhân loại có thể đối phó hiệu quả với các thách thức và mối đe dọa chung, trước hết là trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19.

 

PHÒNG, CHỐNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI LỌT VÀO TRONG QUÂN ĐỘI

 


Thất bại trong chống phá Đại hội XIII của Đảng, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược "diễn biến hòa bình".  Một trong những hướng tấn công mũi nhọn là đòi "phi chính trị hóa" Quân đội trong bối cảnh mới. Đây là thủ đoạn không mới nhưng cực kỳ nguy hiểm.

Chúng nhận thức rất rõ: Chỉ có làm cho quân đội suy yếu, mất phương hướng chính trị, sau đó thông qua "cách mạng màu", "cách mạng hoa", "cách mạng đường phố" mới có thể lật đổ được chế độ XHCN ở Việt Nam. Rõ ràng mục đích là không đổi, nhưng thủ đoạn, cách thức thực hiện có những biểu hiện mới rất tinh vi, thâm độc.

Để thực hiện mục tiêu đó, các thế lực thù địch tập trung phá hoại nền tảng tư tưởng của quân đội. Chúng tiếp tục tung hô, đề cao tính "khoa học" của các luận thuyết tư sản và tuyên bố rằng: Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, cáo chung, là bóng ma ám ảnh thế giới đương đại, không còn vai trò, ý nghĩa gì đối với xã hội.

Chúng tập trung cổ súy cho luận điệu "lực lượng vũ trang phi giai cấp"; "Quân đội nhà nghề". Một số học giả tư sản, cơ hội đã có nhiều bài viết và luận giải mơ hồ rằng: Không cần phân biệt chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa tư bản, không cần chính trị, chỉ cần tiền, cần vũ khí; do đó bỏ Đảng cũng được vì quân đội không thuộc một thể chế chính trị, đảng phái nào...

Chúng xác định: Dù cố gắng đến đâu thì hiện nay cũng chưa thể xóa bỏ ngay được nền tảng tư tưởng của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Vì thế, chúng dùng mọi thủ đoạn để xuyên tạc đường lối của Đảng, Nhà nước, làm cho cán bộ, chiến sĩ mất niềm tin, thấy đúng không kiên quyết bảo vệ, thấy sai không biết đấu tranh. Nguy hiểm hơn, trong điều kiện mở cửa, hội nhập quốc tế, chúng cho rằng quân đội không cần có đối tượng tác chiến, từ đó làm xuất hiện tư tưởng chủ quan, mất cảnh giác.

Đặc biệt, sau Đại hội XIII của Đảng, chúng triệt để lợi dụng cuộc đấu tranh chống tham nhũng đang được Đảng, Nhà nước đẩy mạnh để gây mâu thuẫn giữa lãnh đạo, chỉ huy với cán bộ, chiến sĩ, phá hoại khối đoàn kết thống nhất, kích động hình thành bè phái trong nội bộ các đơn vị quân đội. Chúng cho rằng trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, lấy lợi nhuận làm mục đích, lấy vật chất làm đòn bẩy tinh thần, nên công tác đảng, công tác chính trị không còn phát huy tác dụng; sự can dự của chính trị sẽ phá hoại tính chuyên nghiệp của Quân đội.

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI đã dự báo: "Những năm tới, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo tiếp tục diễn ra căng thẳng, tiềm ẩn nhiều nguy cơ dễ xảy ra xung đột.. Biển Đông, vùng biển Tây Nam và một số địa bàn chiến lược tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định".

Thấm nhuần tư tưởng của V.I.Lênin: "Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta", vì thế, việc xây dựng Quân chủng và từng đơn vị thực sự vững mạnh về chính trị được coi là yếu tố tiên quyết để làm thất bại âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội.

Điều đó đòi hỏi các đơn vị phải giữ vững và tăng cường nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đối với quân đội; tăng cường giáo dục, nâng cao cảnh giác cách mạng, làm cho mọi quân nhân phân biệt chính xác bạn, thù, đối tượng, đối tác; đồng thời cán bộ, chiến sĩ cần nhạy bén, sắc sảo về chính trị, có khả năng "miễn dịch" trước các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Đấu tranh làm thất bại âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội sẽ lâu dài, gian khổ; phải tiến hành thường xuyên, đồng bộ, mọi lúc, mọi nơi. Sức mạnh trong cuộc đấu tranh này phải là sức mạnh tổng hợp của mọi tổ chức, mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng.

Vì vậy, yêu cầu đặt ra là toàn đơn vị phải là một khối đoàn kết, thống nhất tạo thành "hàng rào" chính trị tư tưởng vững chắc, không có kẽ hở và cơ hội cho các quan điểm sai trái lọt vào đơn vị. Trong đó, chủ động, không để bất ngờ về chính trị, tư tưởng chính là kế sách tối ưu để đập tan âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội của các thế lực thù địch trong tình hình mới hiện nay.

KHÔNG NGỪNG LAN TỎA HÌNH ẢNH CAO ĐẸP, PHẨM CHẤT CAO QUÝ

 


Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới (sau đây gọi là Nghị quyết 847) có ý nghĩa rất quan trọng, giúp mỗi cán bộ, chiến sĩ tự mình soi chiếu, từ đó không ngừng rèn luyện, bồi đắp và tô thắm thêm phẩm chất cao quý.

Yêu cầu đặt ra với mỗi cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong toàn quân phải hết sức coi trọng và làm tốt công tác nhân rộng điển hình tiên tiến (ĐHTT), để mỗi điển hình không chỉ là những tấm gương sáng đẹp, tiêu biểu mà còn có sức lôi cuốn, lan tỏa mạnh mẽ.

Nghị quyết 847 đặt ra yêu cầu phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân là trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng trong quân đội, trước hết là đội ngũ cấp ủy viên, cán bộ chủ trì các cấp; đồng thời phải làm cho hình ảnh cao đẹp, phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ không ngừng được củng cố, bồi đắp và lan tỏa trong đời sống chính trị tinh thần của toàn quân thông qua các ĐHTT, gương người tốt-việc tốt. Trong đó, nghị quyết xác định một trong những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân là “khen thưởng, biểu dương, động viên và nhân rộng những mô hình mới, cách làm sáng tạo, các ĐHTT, tấm gương tiêu biểu”.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm, coi trọng việc nêu gương. Người khẳng định: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Vai trò quan trọng của nêu gương theo tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị to lớn trong thực hành đạo đức cách mạng mà còn có ý nghĩa lớn lao trong phong trào thi đua ái quốc. Mỗi ĐHTT trong chiến đấu, trong lao động sản xuất khi được tuyên dương, khen thưởng thực sự là những tấm gương tiêu biểu, có sức mạnh lôi cuốn, cổ vũ toàn quân, toàn dân ta ra sức thi đua, học tập, noi theo gương điển hình và lập nhiều chiến công mới.

Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, tấm gương chiến đấu, hy sinh anh dũng của Anh hùng Nguyễn Viết Xuân với câu nói nổi tiếng “Nhằm thẳng quân thù mà bắn” đã có sức mạnh to lớn, như lời hiệu triệu cổ vũ cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị và toàn quân ra sức thi đua diệt giặc lập công. Hình tượng anh Nguyễn Viết Xuân trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là niềm cảm hứng cho lớp lớp các lứa thanh niên Việt Nam hăng hái xung phong lên đường ra mặt trận “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Hay như với tấm gương chiến đấu, hy sinh của Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, nhà thơ Tố Hữu đã thốt lên những lời đầy cảm thán: “Nguyễn Văn Trỗi!/ Anh đã chết rồi/ Anh còn sống mãi/ Chết như sống, anh hùng, vĩ đại”...

Những tấm gương chiến đấu anh dũng, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc như anh Nguyễn Viết Xuân, anh Nguyễn Văn Trỗi, chị Võ Thị Sáu... không chỉ có sức lan tỏa, lôi cuốn, cổ vũ mạnh mẽ trong một thời điểm, một giai đoạn mà chiến công, khí phách hiên ngang quật cường của các anh, các chị có sức sống mãnh liệt, trường tồn mãi mãi cùng đất nước, cùng dân tộc.

Cũng từ những tấm gương ấy, cả nước đã dấy lên hàng trăm phong trào thi đua ở hai miền Nam-Bắc để học tập, noi gương. Từ các phong trào thi đua đã vun bồi, hình thành và xuất hiện thêm hàng nghìn, hàng vạn gương điển hình là những anh hùng trong chiến đấu, trong lao động sản xuất, làm phong phú và giàu có thêm truyền thống quân đội anh hùng của một dân tộc Việt Nam anh hùng. Đó là giá trị đích thực của những tấm gương điển hình, là minh chứng rõ nét nhất cho lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò, tầm quan trọng của nêu gương.

Trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của thông tin truyền thông, những hình ảnh đẹp về Bộ đội Cụ Hồ dầm mình trong mưa lũ giúp nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai càng được chia sẻ, lan tỏa trong đời sống xã hội. Hay hình ảnh những người lính không quản ngại vất vả, hy sinh sẵn sàng xông pha trên tuyến đầu phòng, chống dịch Covid-19 lan truyền rộng rãi trên các phương tiện truyền thông, mạng xã hội và lan tỏa ra khắp năm châu bốn biển càng làm sáng đẹp, tô thắm thêm phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ.

Có thể khẳng định, thời gian qua, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã phát huy tốt hiệu quả tuyên truyền, thông qua nhiều kênh thông tin, nhất là từ các trang mạng xã hội. Trong đợt dịch Covid-19 vừa qua, có hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ bị nhiễm Covid-19 khi tham gia phòng, chống dịch; hàng chục nghìn cán bộ, chiến sĩ liên tục nhiều tháng liền túc trực trên chốt kiểm soát dịch bệnh ở cả khu vực biên giới và nội địa. Hàng vạn cán bộ, chiến sĩ, lực lượng dân quân tự vệ vì nghĩa lớn mà gác lại niềm riêng, tình nguyện viết đơn vào vùng tâm dịch.

Nhiều đồng chí dù hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, vợ con đau yếu, “cha già, mẹ héo” không thể làm tròn chữ hiếu, chưa thể vẹn nghĩa vợ chồng, tình phụ tử... Những hình ảnh đẹp, hay những câu chuyện làm lay động lòng người như thế được lan tỏa mạnh mẽ trên các phương tiện truyền thông, các fanpage trên mạng xã hội đã thật sự chạm đến trái tim của mỗi người dân đất Việt; qua đó, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội có thêm ánh nhìn thấu tỏ về những cống hiến, hy sinh của Bộ đội Cụ Hồ trong thời bình.

Nghị quyết 847 được Quân ủy Trung ương ban hành trong thời điểm toàn quân đang nỗ lực thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Nghị quyết có ý nghĩa quan trọng giúp cán bộ, chiến sĩ có nhận thức đúng đắn, sâu sắc, toàn diện về phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ; nhận diện rõ ràng, cụ thể hơn những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân. Việc triển khai thực hiện nghị quyết một cách đồng bộ, quyết liệt theo phương châm “trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực noi theo” là bước cụ thể hóa để thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; qua đó góp phần xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ.

Yêu cầu đặt ra với các cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong toàn quân ngoài việc quán triệt, thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả những nội dung cốt lõi của Nghị quyết 847; đồng thời phải hết sức coi trọng và làm tốt công tác nhân rộng ĐHTT, để mỗi điển hình không chỉ là những tấm gương sáng đẹp, tiêu biểu mà còn có sức lôi cuốn, cổ vũ mạnh mẽ mọi người cùng thi đua học tập, noi theo. Chúng ta biết rằng, để giữ gìn, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ không phải điều gì quá cao siêu, xa vời mà được hình thành, củng cố trong công việc và sinh hoạt hằng ngày. Vì thế, những tấm gương cán bộ, chiến sĩ điển hình trong việc học và làm theo Bác, trong giữ gìn và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ cũng sẽ xuất hiện hằng ngày, hằng giờ, ở mọi cơ quan, đơn vị từ những hành động, việc làm tuy có thể nhỏ bé nhưng có sức lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống xã hội.

Để làm tốt việc nhân rộng ĐHTT thì một trong những biện pháp quan trọng đó là phải làm tốt công tác thi đua-khen thưởng. Theo đó, từng cơ quan, đơn vị phải thực hiện nghiêm túc việc sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết. Kịp thời biểu dương, khen thưởng và đẩy mạnh tuyên truyền về các ĐHTT, những cách làm hay, mô hình sáng tạo trong thực hiện nghị quyết; đồng thời sớm xây dựng kế hoạch để nhân rộng mô hình, cách làm. Trong đó chú trọng việc biểu dương, khen thưởng đột xuất với những gương người tốt-việc tốt, qua đó tạo hiệu ứng tích cực, cổ vũ, động viên mọi người cùng thi đua.

Bên cạnh đó, việc xây dựng ĐHTT phải thực chất, sát với đặc điểm nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị; gắn với 5 đặc trưng cơ bản của Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới và 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Tuyệt đối không thể xây dựng điển hình theo kiểu “nuôi gà chọi”, khiến cho điển hình quá cao siêu, kỳ vĩ nên mọi người không thể học tập, noi gương, từ đó khó có thể nhân rộng điển hình. Nên chăng, mỗi cơ quan, đơn vị cần phát động và tổ chức các cuộc thi hiến kế tìm ra những cách làm mới, giải pháp hay để phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, chống chủ nghĩa cá nhân ở cơ quan, đơn vị mình. Đó cũng là biện pháp hữu hiệu để Nghị quyết 847 thực sự thấm sâu vào đời sống chính trị tinh thần của cán bộ, chiến sĩ và chuyển hóa thành hành động cách mạng của các tập thể, cá nhân.

MINH MẠNH - Báo QĐND


Không thể bẻ cong lịch sử

 


Gần 50 năm trôi qua kể từ ngày 30/4/1975, ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tới nay vẫn còn có những ý kiến sai lệch, xuyên tạc lịch sử. Họ cố tình khoét sâu những vết thương chiến tranh, chia rẽ dân tộc, đưa ra các luận điệu bẻ cong lịch sử bởi những động cơ, ý đồ xấu, những mưu đồ lợi ích của bản thân và các nhóm chống đối. Hành động này không chỉ là việc xét lại lịch sử mà còn là sự phá hoại tương lai.

Mỗi dịp tháng tư về, một số cá nhân, nhóm người Việt Nam ở nước ngoài lại đưa ra những cụm từ cũ rích, cố tình tô vẽ lại những quan điểm sai lầm như “tháng tư là tháng “vo gạo bằng nước mắt”, “mùa quốc hận - tháng tư đen”, hoặc đòi vinh danh chế độ tay sai “Việt Nam Cộng hòa”, thậm chí là đòi chia đôi lại đất nước giống như trước 1975. Một số đối tượng đưa lên mạng xã hội những quan điểm sai trái, coi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta “thực chất chỉ là nội chiến, là chiến tranh ủy nhiệm, chiến tranh ý thức hệ nên không có gì đáng tự hào”. Đáng nói, một số người dù đã được nhân dân nuôi dưỡng, trải qua những năm tháng chiến tranh, giờ đây khi đã nghỉ hưu thì tự cho mình là người có quan điểm “cấp tiến”, tùy tiện phán xét quá khứ, cho rằng kỷ niệm ngày chiến thắng không phải là một việc “tử tế”.

Tất cả những việc làm đó hướng đến mục đích làm sai lệch lịch sử, đối tượng hướng đến là giới trẻ, những người sinh ra sau ngày 30/4/1975 vốn không phải trải qua những năm tháng chiến tranh đau thương, mất mát để thấu hiểu ý nghĩa của độc lập, thống nhất và hòa bình.

 Ý đồ những luận điệu sai trái này nhằm mang đến cách nhìn lệch lạc, cho rằng chiến thắng 30/4/1975 và sự nghiệp kháng chiến của dân tộc ta ròng rã mấy thập kỷ là cái giá phải trả quá đắt, là một sai lầm, làm cho dân tộc đau thương, chậm phát triển đất nước. Từ đó, các đối tượng hướng lái vấn đề, quy trách nhiệm cho Đảng ta, con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn. Đây là một nhận thức phi lịch sử, muốn phủ nhận chiến thắng của nhân dân ta, đồng thời phủ nhận cả lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH mà nhân dân Việt Nam đã lựa chọn và kiên trì xây dựng. Cách nhìn của các đối tượng xấu muốn đánh đồng người chiến thắng và kẻ thất bại, xóa nhòa mục đích, tính chất, bản chất sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta.

Thực tế lịch sử đã chỉ rõ, sự sụp đổ của chế độ ngụy quyền Sài Gòn với hình thức chính thể “Việt Nam cộng hòa” trong cơn bão táp cách mạng giải phóng miền Nam 30/4/1975 là bằng chứng rõ ràng về sự phá sản, thất bại của chủ nghĩa thực dân mới, chủ nghĩa đế quốc.

Đó là sự phá sản, thất bại của các thế lực xâm lược bên ngoài hòng áp đặt ách thống trị, nô dịch, áp bức, bóc lột nhân dân ta ở miền Nam, được ngụy trang và biện minh bằng những lời lẽ tốt đẹp, những “học thuyết” và “chính sách” tô vẽ cho dân chủ, tự do, cho tiến bộ và phát triển đầy giả dối theo hệ giá trị của Mỹ.

Đã có rất nhiều tiếng nói từ những người ở phía bên kia chiến tuyến sau này thừa nhận sai lầm của họ và ghi nhận chiến thắng vĩ đại của cả dân tộc Việt Nam cũng như chiến công của những người cộng sản.

Tướng Nguyễn Hữu Có, Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng Việt Nam cộng hòa, sau này trả lời phỏng vấn báo chí đã nói: “Chiến thắng 30/4 rất vĩ đại, là chiến thắng của sức mạnh toàn dân tộc Việt Nam... Không còn chiến tranh, không còn bom rơi đạn nổ trên quê hương mình là điều lớn nhất mà việc kết thúc chiến tranh mang lại”.

Ngay cựu Thủ tướng Việt Nam cộng hòa Nguyễn Cao Kỳ khi nhận xét về việc một số người gọi ngày 30/4 là “quốc hận” và đòi “phục quốc”, ông đã nói rằng: “Thống nhất xứ sở là nhiệm vụ lịch sử của mỗi một người con Việt Nam nhưng chúng tôi đã không làm được. Những người anh em phía bên kia đã làm được, phải chấp nhận đó là lịch sử và đất nước đã được thống nhất rồi. Vậy mà còn quay ra nói phục quốc? Nước Việt Nam có mất cho Tây đâu mà phục quốc?”.

Chiến thắng 30/4/1975 là sự khẳng định với toàn thể thế giới về ý chí, nghị lực, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đấu tranh vì độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất non sông. Khát vọng thống nhất non sông, bảo vệ chủ quyền đất nước là một sức mạnh vô song có thể giúp một dân tộc nhỏ, với tính chính nghĩa làm nên những chiến công hiển hách, vĩ đại.

Quá khứ phải lùi lại, lịch sử sang trang mới. Tuy nhiên, có những sự kiện lịch sử thời gian càng lùi xa càng tỏa sáng, càng nghiền ngẫm càng nhận ra những giá trị mới mẻ, vĩ đại, càng có sức lôi cuốn, là động lực tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong các chặng đường cách mạng tiếp theo. Ngày toàn thắng 30/4/1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là một trong những sự kiện huy hoàng như vậy.

Gần 50 năm đã trôi qua kể từ ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc thống nhất, thời gian càng lùi xa, chiến thắng 30/4/1975 của dân tộc Việt Nam càng nổi bật tầm vóc và ý nghĩa lịch sử. Các thế hệ người Việt Nam càng cảm nhận đầy đủ, sâu sắc hơn giá trị và bài học của chiến công chói lọi này.

Nhân dân Việt Nam luôn thiết tha, yêu chuộng hòa bình, khát vọng độc lập, tự do và hạnh phúc, không bao giờ mong muốn chiến tranh. Nhưng vì sinh mệnh và sự tồn vong của dân tộc, cũng như nghĩa vụ cao cả, thiêng liêng đối với quốc tế mà nhân dân ta, cả hai miền Nam - Bắc, tiền tuyến và hậu phương buộc phải cầm súng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Bao thế hệ ông cha đã ngã xuống vì nền độc lập, tự do, để hôm nay chúng ta được sống trong hòa bình, tự do, mưu cầu hạnh phúc, bạn bè quốc tế đến làm ăn, sinh sống, thăm thú trong thanh bình, cùng chung tay xây dựng một đất nước ngày càng thể hiện cơ đồ, vị thế trên trường quốc tế.

Ai đó, vì bất cứ lý do gì, có tư tưởng lệch lạc, có hành vi gây mất ổn định, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc là có tội với đất nước, với anh linh của hàng triệu đồng bào và chiến sĩ đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Nguồn: Bình Nguyên/Báo Công an nhân dân điện tử