Trong Chính trị học, dân chủ dùng
để mô tả cho một số ít hình thức nhà nước và cũng là một loại triết học chính
trị. Mặc dù chưa có một định nghĩa thống nhất về dân chủ, có hai nguyên tắc mà
bất kỳ một định nghĩa dân chủ nào cũng đưa vào. Nguyên tắc thứ nhất là tất cả mọi
thành viên của xã hội (công dân) đều có quyền tiếp cận đến quyền lực một cách
bình đẳng và thứ hai, tất cả mọi thành viên (công dân) đều được hưởng các quyền
tự do được công nhận rộng rãi. Một số người định nghĩa dân chủ là một “chế độ của
đa số với một số quyền cho thiểu số”. Chủ quyền nhân dân là một triết lý phổ biến
nhưng không phải lúc nào cùng là động lực để hình thành một nền dân chủ. Tại một
số quốc gia, dân chủ dựa trên nguyên tắc triết học về quyền bình đẳng. Nhiều
người sử dụng thuật ngữ “dân chủ” như một cách nói tắt của dân chủ tự do, còn
bao gồm thêm một số yếu tố như đa nguyên chính trị, sự bình đẳng trước pháp luật,
quyền kiến nghị các viên chức được bầu nếu cảm thấy bất bình, quyền tự do ngôn
luận, thủ tục tố tụng, quyền tự do cônmg dân, quỳen con người và những yếu tố của
xã hội dân sự độc lập với nhà nước
+ Dân chủ
được gọi là “hình thức nhà nước cuối cùng” và đã lan rộng tren khắp toàn cầu.
Dân chủ còn có một định nghĩa khác trong lý thuyết hiến pháp, đặc biệt là khi
nghiên cứu về công việc của những “Khai quốc công thần Hoa Kỳ”. Trong cách dùng
này, thì chữ “dân chủ” để riêng chỉ đến
“dân chủ trực tiếp”, trong khi “dân chủ đại biểu” trong đó dân chúng bầu người
thay mặt cai trị theo một hiến pháp thì lại dùng “chữ cộng hòa” (republic).
Theo cách dùng hiện thời thì chữ “công hòa” dùng để chỉ bất cứ một quốc gia nào
có một người quốc trưởng được bầu lên làm việc một thời gian có hạn, khác với hầu
hết các chính phủ quân chủ cha truyền con nối hiện thời đều là các chính phủ
dân biểu và hiến pháp quân chủ nhưng cai trị theo chế độ nghị viện được bầu một
cách dân chủ. Các danh từ cổ này vẫn còn chút thông dụng trong các cuộc tranh
biện giữa phe bảo thủ và Đảng Libertarian tại Hoa Kỳ, tam quyền phân lập được
xem là đặc tính hỗ trợ cho dân chủ, nhưng ở các quốc gia khác như Vương quốc
Anh, triết lý tri phối lại là chủ quyền tối cao của Nghị viện (mặc dù trên thực
tế vẫn duy trì sự độc lập của tòa án). Trong các trường hợp “dân chủ” được dùng
với nghĩa dân chủ trực tieép. Mặc dù thuật ngữ dân chủ thường được dùng trong bối
cảnh chính trị của quốc gia, những nguyên lý này cũng áp dụng cho các tổ chức
cá nhan và các nhóm khác.
Thuật ngữ dân
chủ xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ V đến thế kỷ IV tr.CN tại Hy Lạp. Theo tiếng
Hy Lạp, dân chủ được viết là Demoskratos, trong đó Dẻmos nghĩa là nhân dân và kratos nghĩa là quyền lực. Theo cách diễn đạt này, dân chù trong
tiếng Hy Lạp cổ được hiểu nhân dân cai trị và sau này được các nhà chính trị dịch giản lược
là quyền
lực của nhân dân hay quyền lực thuộc về
nhân dân.
Đến thế kỷ
XVIII, người Anh đã dựa vào ngôn ngữ Hy Lạp cổ để đưa ra thuật ngữ “democracy”,
có nghĩa là “chính thể dân chủ”- thể chế dân chủ, một trong những hình thức
chính quyền với đặc trưng là: chính quyền nhà nước phải thừa nhận quyền tự do
và bình đẳng của công dân. Điều đó có nghĩa là: Dân chủ là chính thể nhà nước
thừa nhận quyền tự do, bình đẳng của nhân dân.
Xem xét các nềp
dân chủ trong lịch sử cho thấy, nội dung trên của khái niệm dân chủ về cơ bản vẫn
giữ nguyên cho đến ngày nay. Điểm khác biệt cơ bản giữa cách hiểu về dân chủ thời
cổ đại và hiện nay là ở tính chất trực tiếp của mối quan hệ sở hữu quyền lực công cộng và
cách hiểu về nội hàm của khái niệm nhân dân.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét