Thứ Năm, 2 tháng 6, 2022
NÂNG CAO CẢNH GIÁC TRƯỚC SỰ CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỀ CÔNG TÁC QUỐC PHÒNG, AN NINH!
Âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch phủ nhận đường lối quốc phòng toàn dân
Đường lối quốc phòng toàn dân (QPTD) là sự nhận thức nhất quán của Đảng ta nhằm xây dựng nền QPTD vững mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, thời gian
gần đây các phần tử cơ hội chính trị và các thế lực thù địch tung ra những luận
điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD một cách lạc lõng. Vì vậy,
nhận diện, đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường
lối QPTD là nhiệm vụ cấp bách trong tình hình hiện nay.
Mục đích xuyên suốt của các thế lực thù địch là xuyên tạc, phủ nhận
bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc; phủ nhận tính chất
“tự vệ chân chính” trong đường lối QPTD của Đảng ta; hướng lái Việt Nam theo
quỹ đạo của chính sách quốc phòng tư sản.
Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường
lối QPTD trước hết xuất phát từ các thế lực thù địch, phản động nước
ngoài. Chúng vừa trực tiếp tấn công, xuyên tạc, phủ nhận đường
lối QPTD bằng các cơ quan, tổ chức của mình, vừa gián tiếp nuôi
dưỡng, ủng hộ, bảo kê các tổ chức, cá nhân phản động ở trong và ngoài nước.
Thứ hai là các tổ chức, cá nhân phản động
người Việt Nam ở nước ngoài, chủ yếu là số ngụy quân, ngụy quyền. Chúng vừa tập
hợp lực lượng, sử dụng chiêu bài tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận đường
lối QPTD; vừa móc nối, kích động các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị
trong nước cản trở, phá hoại các dự án kinh tế kết hợp quốc phòng. Thứ ba là
đối tượng cơ hội, bất mãn chính trị ở trong nước với bản chất “gió chiều nào
xoay chiều ấy”, khi cách mạng gặp khó khăn, thử thách, họ quay sang chống Đảng
và xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD.
|
Nội dung các luận
điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD thể hiện ở nhiều khía cạnh,
màu sắc, tính chất, mức độ khác nhau. Chúng cho rằng, Đảng ta tuyệt đối hóa
vị trí, vai trò nền QPTD và mâu thuẫn trong chính nhận thức của mình. Chúng
đã viện dẫn Văn kiện Đại hội VIII trước đây: “Trong khi đặt trọng tâm vào nhiệm
vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta không một chút lơi lỏng nhiệm vụ bảo
vệ Tổ quốc, luôn luôn coi trọng quốc phòng, an ninh, coi đó là nhiệm vụ chiến
lược gắn bó chặt chẽ”. Bên cạnh đó, chúng cắt cúp nhận định về xu thế trong
quan hệ quốc tế theo Văn kiện Đại hội XIII: “Hòa bình, hợp tác và phát triển
vẫn là xu thế lớn” là không phù hợp, cho nên không cần khẳng định vị trí của
QPTD nữa (!) |
Chúng xuyên tạc, phủ nhận các đặc trưng cơ bản
nền QPTD, coi chủ trương xây dựng nền QPTD của Việt Nam là “đe
dọa hòa bình các nước trong khu vực”. Ở thái cực khác, chúng “khuyên” Việt Nam
từ bỏ “4 không” trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam. Chúng phủ nhận nền QPTD ở
nước ta “không phải vì dân, của dân và do toàn thể nhân dân tiến hành”, “không
đếm xỉa đến lợi ích chung của dân tộc”, mà “vì lợi ích của Đảng Cộng sản Việt
Nam”(!). Nguy hiểm hơn, chúng phủ nhận sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng
và sự quản lý thống nhất của Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng nền QPTD,
tức là phủ nhận tính chính danh, chính pháp của hoạt động trọng yếu này.
CẦN PHÊ PHÁN CÁC QUAN ĐIỂM XUYÊN TẠC TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM!
“BÉ GÁI” VINH DỰ ĐƯỢC BÁC HỒ ĐEO KHĂN QUÀNG ĐỎ!
CÁC CƠ SỞ ĐOÀN TRONG TOÀN QUÂN TRÁCH NHIỆM CỘNG ĐỒNG-CHUNG TAY PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI, THẢM HOẠ!
Môi Trường ST.
Tọa đàm thanh niên phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân
Ngày 31-5, tại Hà Nội,
Đoàn cơ sở Lữ Đoàn Thông tin 21 BĐBP tổ chức buổi tọa đàm với chủ đề Thanh niên
Lữ đoàn Thông tin 21 BĐBP phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống
chủ nghĩa cá nhân. Trung tá Lê Viết Anh, Phó Chính ủy Lữ đoàn Thông tin 21 BĐBP
chủ trì tọa đàm.
Tại buổi tọa đàm, với tinh thần thẳng thắn, cởi mở, trách nhiệm,
cán bộ, đoàn viên, thanh niên Lữ đoàn Thông tin 21 BĐBP đã phát biểu làm rõ
những nội dung: Những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, nhận diện các biểu hiện
và sự cần thiết phải đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong từng cán bộ, đoàn
viên, thanh niên; thực trạng giữ vững và phát huy phẩm chất "Bộ đội Cụ
Hồ" thời gian qua trong Quân đội, lực lượng, đơn vị; giải pháp phát huy
vai trò tích cực, chủ động, tự giác tu dưỡng, rèn luyện, giữ vững và phát huy
phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" thời kỳ mới cho cán bộ, chiến sĩ; giải pháp
kết hợp giữ vững và phát huy phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" với đẩy mạnh
đấu tranh chống quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch thời kỳ mới; công tác
giáo dục, rèn luyện phát huy phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" kiên quyết đấu
tranh chống chủ nghĩa cá nhân tại đơn vị...
Tọa đàm là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động, giúp cán bộ, chiến sĩ đơn vị hiểu rõ hơn về những đặc trưng cơ bản của phẩm chất, chuẩn mực “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; các tiêu chí học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh của thanh niên Quân đội, thanh niên BĐBP; nhận diện các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân để giữ vững, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới. Từ đó, xây dựng lớp thanh niên Lữ đoàn sống có lý tưởng cách mạng, có đạo đức, lối sống văn hóa, có bản lĩnh, hoài bão, khát khao cống hiến, vươn lên, có tác phong công tác khoa học, hiệu quả, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
50 năm sau tấm ảnh "Em bé Napalm" chấn động thế giới!
Nick Út, tên thật là Huỳnh Công Út, sinh năm 1951 là phóng viên ảnh cho hãng thông tấn Associated Press (AP) của Mỹ. Ở độ tuổi 20, Nick Út là phóng viên ảnh chiến trường của AP tác nghiệp tại chiến tranh Việt Nam.
Năm 1972, Nick Út chụp bức ảnh em bé Phan Thị Kim Phúc (thường được biết đến với tên gọi "Vietnam Napalm Girl" - bé gái Việt Nam bị bom napalm) và những em bé khác gào khóc chạy ra đường dưới trận bom napalm của Mỹ tại Trảng Bàng - Tây Ninh. Ngay hôm sau, bức ảnh được đăng tải trên trang nhất khắp các báo Mỹ, gây chấn động thế giới.
“Em bé Napalm” đã cho cả thế giới thấy sự thật về cuộc chiến mà Mỹ đang thực hiện tại Việt Nam vào thời điểm đó, chiến tranh đã tấn công phụ nữ và trẻ em như thế nào.
“Em bé Napalm” đã mang về cho Nick Út giải Pulitzer. Năm 2010, bức ảnh “Em bé napalm” của ông được tờ New Statesman bình chọn là bức ảnh thời sự ấn tượng nhất mọi thời đại.
Năm 2019, "Em bé Napalm" tiếp tục được bình chọn là bức ảnh có sức lay động nhất thế giới. Cuộc bình chọn được thực hiện bởi kênh truyền hình Anh quốc History để ra mắt loạt phim "Những bức ảnh thay đổi thế giới".
Đằng sau một bức ảnh lịch sử
50 năm sau bức ảnh lịch sử (1972-2022), những câu chuyện phía sau vẫn đầy ám ảnh.

Khi người viết đặt câu hỏi, “Làm thế nào ông vẫn giữ được cái đầu lạnh, chắc tay máy để chụp những bức ảnh giữa bối cảnh tang thương như thế? Khi phụ nữ và trẻ em gào thét vì bỏng do bom Napalm?”.
Nick Út gần như lặng đi, và vẫn nhớ từng chi tiết của khoảnh khắc ấy. “Trước khi em bé Kim Phúc không quần áo gào thét chạy ra đường quốc lộ, bà ngoại của Kim Phúc chạy ra trước đó, trên tay bà bế một em bé khoảng một tuổi, khắp người bị bỏng, da em bé trốc từng mảng.
Nhìn thấy cảnh tượng ghê gớm ấy, tất cả các phóng viên ảnh đều bấm máy lia lịa. Em bé ấy đã chết ngay sau những bức ảnh đầu tiên chụp được. Vì chụp nhiều, nên một số phóng viên đã hết phim, phải gỡ máy thay phim. Vào thời điểm đó, trên người tôi là 4 chiếc máy ảnh.
Tôi vẫn còn phim. Khoảnh khắc Kim Phúc không còn quần áo chạy ra đường quốc lộ cùng một số trẻ em khác, tôi đã may mắn ghi lại được. Tôi phải ghi lại vì đó là khoảnh khắc cả thế giới có thể mường tượng được rõ rệt nhất về sự tàn độc, thảm khốc của cuộc chiến tranh Mỹ thực hiện tại Việt Nam”.
Nick Út cho biết, ông đã khóc khi chụp bức ảnh đó và “ngay cả bây giờ, khi mỗi lần nhìn lại những bức ảnh, tôi vẫn thấy đau đớn”.
Nick Út kể lại, ngay sau khi chụp xong bức hình, ông và một phóng viên ảnh khác đã lấy nước dội lên người Kim Phúc cho em đỡ bỏng.
“Tôi mượn một chiếc áo mưa của một người lính, khoác lên người cho Kim Phúc, rồi tôi bồng em vào xe, đưa đi bệnh viện Củ Chi...”.
50 năm sau bức ảnh lịch sử, ký ức kinh hoàng về cuộc chiến dường như vẫn còn nguyên vẹn với Nick Út.
Nhìn lại bức ảnh lịch sử giữa bối cảnh năm 1972 khi cuộc chiến đang ở giai đoạn khốc liệt nhất, Mỹ thực hiện “Việt Nam hóa chiến tranh”, ném bom dữ dội ở nhiều chiến trường, Nick Út nhớ lại: “Tôi đã có mặt ở rất nhiều nơi, từ Quảng Trị đến Tây Ninh. Tôi bị thương 3 lần, đã đau đớn cùng chiến tranh cho đến tận bây giờ”.
50 năm chữa lành vết thương chiến tranh
Trong một cuộc trả lời phỏng vấn báo chí, em bé Kim Phúc của bức ảnh “Em bé Napalm” lịch sử, bây giờ đã là một phụ nữ trưởng thành kể lại rằng, chiến tranh đã hủy hoại tuổi trẻ và đeo đẳng bà nhiều năm về sau.

Những vết bỏng khắp cơ thể đã khiến Kim Phúc đau đớn trên da thịt, đau đớn khi bị xa lánh, đau đớn dưới ánh nhìn của bạn bè, trong suốt thời gian dài. Trận bom năm 1972 còn cướp đi sinh mạng của 2 người em Kim Phúc (lúc đó chỉ 3 tháng tuổi và 9 tháng tuổi).
Những cuộc điều trị phẫu thuật, cấy ghép da kéo dài triền miên đã giúp cơ thể Kim Phúc dần lành lặn trở lại. Nick Út cũng đã dõi theo, đồng hành cùng “Em bé Napalm” trong nhiều cuộc phẫu thuật, như cách để chính ông và nhân vật của mình cùng nhau chữa lành những vết thương chiến tranh.
50 năm đã trôi qua, Kim Phúc bây giờ đã gần 60 tuổi, có gia đình hạnh phúc với 2 con trai. Chiến tranh chỉ còn trong ký ức rất xa, nhưng vẫn hiện hữu trong vết thương nhức đau khi trái gió.
Với Nick Út, sau 50 năm, ông trở lại Việt Nam, mở triển lãm ảnh. Ông lại đứng bên bức “Em bé Napalm” để nói về hành trình dài sau chiến tranh của mình.
Đi qua một cuộc chiến khốc liệt, tất cả đều vĩnh viễn thay đổi. Trở về sau cuộc chiến, mỗi người sẽ mang theo những ký ức, những vết thương, những ám ảnh, vỡ vụn riêng về cuộc chiến.
Để thấy, sự khốc liệt của một cuộc chiến không chỉ nằm ở chiến trường, còn nằm trong số phận của những người đã vô tình bị cuốn vào cuộc chiến.
Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước và bước ngoặt của cách mạng Việt Nam
Cách đây 111 năm, ngày 5-6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành với ý chí mãnh liệt, lòng yêu thương dân tộc sâu sắc đã quyết tâm ra đi thực hiện hoài bão giải phóng nước nhà khỏi ách nô lệ của thực dân, đế quốc.
Thất bại của các phong trào yêu nước Việt Nam nổ ra từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã làm cho cách mạng Việt Nam khủng hoảng về con đường giải phóng dân tộc. Người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã sớm nhận thấy con đường do những người đi trước mở ra sẽ không giải phóng được dân tộc. Việc không lặp lại thất bại của những người đi trước là một điều khó khăn nhưng tìm ra một con đường mới phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử để dân tộc giành được độc lập, tự do là một điều còn khó khăn hơn nhiều lần.
Ngày 5-6-1911, trên con tàu Amiral Latouche Tréville, từ cảng Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc, bắt đầu cuộc hành trình 30 năm tìm con đường giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước. Vào thời điểm đó, không ai biết rằng vận mệnh của dân tộc Việt Nam đã gắn liền với quyết định ra đi của một con người mà lịch sử đã chứng tỏ là sáng suốt, phi thường ấy.
Với một sự nhạy cảm đặc biệt, Nguyễn Tất Thành không đi sang nước Nhật, không tìm về châu Á mà Người sang nước Pháp, đến tận nơi nước đang cai trị mình, đến tận châu Âu, nơi đang có sự phát triển vượt bậc về kinh tế, về văn hóa, về chính trị để tìm hiểu xem người ta làm như thế nào rồi trở về cứu giúp đồng bào. Bác ra đi, hành trang chỉ là lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, quyết tâm tìm con đường cứu nước, cứu dân.
Sau thời gian ở Pháp, Nguyễn Tất Thành tiếp tục cuộc hành trình đi qua nhiều châu lục khác. Suốt chặng đường bôn ba, cuộc sống đầy gian khổ nhưng không làm Người chùn bước, trái lại, càng tôi luyện, hun đúc lòng yêu nước nồng nàn với mục tiêu giải phóng dân tộc kiên định. Người tranh thủ mọi thời cơ để học hỏi, nghiên cứu các học thuyết cách mạng, hòa mình vào thực tiễn đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản và thuộc địa.
Chính chủ nghĩa yêu nước cùng với những năm tháng tìm tòi không mệt mỏi về lý luận và hoạt động trong phong trào công nhân quốc tế, người thanh niên Việt Nam Nguyễn Tất Thành bất chấp mọi hiểm nguy, đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, trở thành nhà hoạt động quốc tế xuất sắc Nguyễn Ái Quốc.
Sớm nhận thức được xu thế phát triển tất yếu của lịch sử và tính chất của thời đại mới mà Cách mạng tháng Mười mở ra, Người đã khám phá ra chân lý “Chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.
Năm 1917, Nguyễn Ái Quốc trở về Pháp, sống ở Paris, tham gia những hoạt động của Đảng xã hội Pháp, tham gia trong hoạt động của những người yêu nước Việt Nam tại Pháp và đặc biệt, khi tiếp cận được với Luận cương của Lê-nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa thì đích Người cần tìm đã đạt được. Luận cương của Lê-nin đã chỉ ra những điều mà Người đang tìm, tức là chỉ có chủ nghĩa xã hội, chỉ có cách mạng vô sản mới là con đường giải phóng chúng ta.
Sau 30 năm bôn ba, ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng. Người chỉ ra rằng, trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, con đường duy nhất phải theo là con đường cách mạng dân tộc dân chủ do Đảng tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo đánh đổ đế quốc, thực dân, giành độc lập dân tộc, sau đó tiến lên thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là sự vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lê-nin, thể hiện tính quy luật của sự phát triển lịch sử của xã hội Việt Nam, trở thành quan điểm xuyên suốt trong toàn bộ tư tưởng và sự nghiệp cách mạng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Đó chính là "Đường cách mệnh" cho dân tộc ta mà Người đã chọn. Thực tế lịch sử đã chứng minh sự lựa chọn đó là sự lựa chọn lịch sử, sự lựa chọn duy nhất đúng, không thể có sự lựa chọn thứ hai.
Dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh, lớp lớp thế hệ người Việt Nam đã vững bước trên con đường mà Người đã chọn. Đó là con đường của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, con đường mang tầm nhìn vượt thời gian đưa đất nước và dân tộc ta vượt qua biết bao khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, thực hiện công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thoát khỏi nước kém phát triển, từng bước tiến lên “sánh vai với các cường quốc năm châu”, thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Kỷ niệm 133 năm ngày sinh cụ Nguyễn Văn Tố - chủ tịch Quốc hội đầu tiên của nước ta.
Nhân dịp kỷ niệm 133 năm ngày sinh cụ Nguyễn Văn Tố - Trưởng ban Thường trực Quốc hội (5/6/1889 - 5/6/2022) - người cộng sự, người bạn chiến đấu thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là dịp để chúng ta ôn lại cuộc đời, sự nghiệp và tôn vinh những cống hiến to lớn của Cụ đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, với Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam).
Những phẩm chất đạo đức cách mạng cao quý của nhà trí thức yêu nước
Nguyễn Văn Tố, nhất là lòng nhiệt thành cách mạng, không ngại gian khổ hy sinh,
sẵn sàng cống hiến hết mình vì nước, vì dân chính là tấm gương sáng giáo dục
tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc để mỗi
chúng ta soi chiếu và học tập.
Cụ Nguyễn Văn Tố đã đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam với những cống hiến
to lớn cho sự nghiệp khoa học, nhất là khoa học xã hội nhân văn; chống nạn thất
học, nâng cao dân trí. Tên tuổi của cụ Nguyễn Văn Tố gắn liền với sự nghiệp Hội
Truyền bá chữ quốc ngữ, Hội Trí Tri.
Cụ Nguyễn Văn Tố là một điển hình về tự học, là tấm gương mở đường cho
đội ngũ nhân sĩ, trí thức đem tài năng, trí tuệ, sức lực cống hiến cho sự
nghiệp cách mạng của đất nước. Đặc biệt, Cụ đã đóng góp công lao trong việc ký
kết Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946 và Tạm ước 14-9-1946, tạm thời hòa hoãn thực
dân Pháp, giúp Đảng và Chính phủ có thời gian chuẩn bị lực lượng kháng chiến
lâu dài... Ở cụ Nguyễn Văn Tố bộc lộ rõ phẩm chất của một nhà lãnh đạo cần mẫn,
mẫu mực. Trên cương vị công tác nào Cụ cũng mang hết tài năng, tâm huyết và
kinh nghiệm để cống hiến cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng
và kháng chiến kiến quốc. Cụ Nguyễn Văn Tố là tấm gương sáng ngời về lòng dũng
cảm, kiên trung bất khuất trước kẻ thù, hết lòng vì nước, vì dân. Cụ Nguyễn Văn
Tố là một nhân cách lớn, là người hiền tài có đủ nhân - trí - dũng -
liêm.
Cụ Nguyễn Văn Tố (bút hiệu Ứng Hòe) sinh ngày 5/6/1889 trong một gia
đình nhà nho, thuộc làng Đông Thành nay là phố Bát Sứ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Thân phụ là cụ Nguyễn Văn Thịnh một nhà nho yêu nước, thân mẫu là cụ bà Lê Thị
Kim, quê gốc ở Hà Đông. Ngay từ nhỏ, Nguyễn Văn Tố đã thể hiện tư chất thông
minh và học giỏi. Năm mới lên 4 - 5 tuổi, tự học chữ nho tại nhà, Nguyễn Văn Tố
đã đạt ở trình độ Tam tự kinh - bậc khởi đầu của Nho học; rồi sau đó, lần lượt
đạt qua các bậc “Nhất trường”, “Nhị trường” và “Tam trường”.
Lớn lên giữa lúc đất nước đang trải qua nhiều chuyển biến sâu sắc dưới
sự thống trị của thực dân Pháp, nhiều phong trào đấu tranh của nhân dân ta trên
khắp cả nước như: phong trào Duy Tân (1906-1908) do Phan Châu Trinh, Trần Quý
Cáp và Huỳnh Thúc Kháng lãnh đạo; vụ “Hà Thành đầu độc” (1908)... đã ảnh hưởng
đến tình cảm và ý chí của Nguyễn Văn Tố.
Năm 16 tuổi (1905), Nguyễn Văn Tố đỗ đầu cuộc thi ngạch Phán sự - Thông
dịch do Tòa Thống sứ Bắc Kỳ tổ chức. Năm 17 tuổi (1906), Nguyễn Văn Tố được
chính thức vào làm việc tại Học viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) của Pháp tại Hà
Nội và từng bước thăng tiến, giữ chức Chủ sự dưới quyền giám đốc EFEO cho đến
ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công.
Từ tháng 3 năm 1907, Nguyễn Văn Tố tham gia giảng sách tại Hội Trí Tri
bằng tiếng Pháp, tiếng Việt về các đề tài lịch sử, địa lý, văn học, y khoa,
khoa học thủy nông. Vào những năm 1910, Nguyễn Văn Tố đã trở thành một học giả
nổi tiếng, có nhiều sáng tạo kết hợp văn hóa phương Đông và phương Tây; tham
gia giảng dạy tại Hội Trí Tri và được cử là Trưởng ban biên tập Tập san Trí
Tri.
Ngày 16/3/1930, Nguyễn Văn Tố được Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục và Mỹ thuật
Pháp bổ nhiệm là Viên chức Hàn lâm của EFEO.
Năm 1933-1936, Nguyễn Văn Tố được Giám đốc EFEO bổ nhiệm trợ lý hạng 3
và được bầu làm Hội trưởng Hội Trí Tri. Năm 1938, Nguyễn Văn Tố được cử là Hội
trưởng Hội truyền bá học chữ Quốc ngữ Bắc Kỳ. Năm 1940, Nguyễn Văn Tố được
Triều đình nhà Nguyễn sắc phong là “Trung nghĩa đại phu Quang Lộc Tự Khanh”
tương ứng với Tòng Tam phẩm và đến năm 1941, Ông tham gia sáng lập Tạp chí Tri
Tân.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời cụ
Nguyễn Văn Tố làm Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội của Chính phủ lâm thời trong bối
cảnh cấp thiết chống đói, chống dốt cho nhân dân.
Ngày 6/1/1946, trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I của nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), cụ
Nguyễn Văn Tố trúng cử đại biểu Quốc hội, là đại biểu của tỉnh Nam Định. Tại kỳ
họp thứ nhất, Quốc hội khóa I, cụ Nguyễn Văn Tố được bầu là Trưởng ban Thường
trực của Quốc hội (tương đương chức danh Chủ tịch Quốc hội hiện nay).
Từ tháng 11/1946, cụ Nguyễn Văn Tố được cử là Bộ trưởng không bộ.
Ngày 19/12/1946, cụ Nguyễn Văn Tố cùng Chính phủ cách mạng rút lên Việt
Bắc tiếp tục kháng chiến chống Pháp.
Ngày 25/10/1947, trong đợt tiến công của thực dân Pháp lên Việt Bắc, Cụ
bị chúng bắt tại Bắc Kạn khi chưa kịp di chuyển về nơi an toàn. Mặc dù bị tra
tấn dã man, nhưng Cụ vẫn thể hiện tinh thần kiên trung, bất khuất trước kẻ thù
và anh dũng hy sinh.
Ghi nhận và tri ân sâu sắc công lao, cống hiến to lớn của cụ Nguyễn Văn
Tố đối với đất nước, Đảng và Nhà nước đã tổ chức trọng thể truy tặng cụ Nguyễn
Văn Tố Huân chương Sao Vàng - Huân chương cao quý nhất và cùng nhiều phần
thưởng cao quý khác.
BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ CHỈNH ĐỐN ĐẢNG
Từ thực tiễn công cuộc đổi mới, trực tiếp là 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Đại hội XIII đã rút ra 5 bài học kinh nghiệm, và trong mỗi bài học kinh nghiệm, đại hội đều có những nhận thức mới.
Bài học thứ nhất về xây dựng Đảng, Đại hội
xác định: Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được triển khai quyết liệt,
toàn diện, đồng bộ, thường xuyên cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và
cán bộ; kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của
Đảng; thường xuyên củng cố, tăng cường đoàn kết trong Đảng và hệ thống chính
trị; thực hiện nghiêm các nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng, thường xuyên
đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị
trong sạch, vững mạnh, toàn diện; hoàn thiện cơ chế kiểm soát chặt chẽ quyền
lực; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” trong nội bộ; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.
Công tác cán bộ phải thực sự là “then chốt của then chốt”, tập trung xây dựng
đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín,
ngang tầm nhiệm vụ; phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo
phương châm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, nhất là Ủy viên Bộ Chính trị,
Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương.
Điểm mới của bài học này so với các đại hội trước là xác định xây dựng,
chỉnh đốn Đảng toàn diện: Chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nhấn
mạnh xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, toàn diện;
nhấn mạnh hoàn thiện cơ chế kiểm soát chặt chẽ quyền lực; nhấn mạnh yêu cầu xây
dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược.
Bài học thứ hai về dân, Đại hội xác định:
Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc, thực
hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát
huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện nguyên tắc “dân biết, dân
bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung
tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ
trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích
chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào
nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn
đấu, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ
xã hội chủ nghĩa.
Điểm mới của bài học này là phải thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là
gốc”, “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”;
nhấn mạnh lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu.
Bài học thứ ba về lãnh đạo, chỉ đạo, điều
hành, tổ chức thực hiện, Đại hội xác định: Trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành,
tổ chức thực hiện phải có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết
liệt, năng động, sáng tạo, tích cực, có bước đi phù hợp, phát huy mọi nguồn
lực, động lực và tính ưu việt của chế độ xã hội; kịp thời tháo gỡ các điểm
nghẽn; đề cao trách nhiệm người đứng đầu gắn liền với phát huy sức mạnh đồng bộ
của hệ thống chính trị, giữ vững kỷ cương; coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên
cứu lý luận; thực hiện tốt sự phối, kết hợp trong lãnh đạo, quản lý, điều hành;
coi trọng chất lượng và hiệu quả thực tế; tạo đột phá để phát triển.
Điểm mới của bài học này là trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện
phải có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, năng động,
sáng tạo, có bước đi phù hợp; coi trọng chất lượng và hiệu quả thực tế.
Bài học thứ tư về thể chế và giải quyết
các mối quan hệ: tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, bảo đảm
hài hòa giữa kế thừa và đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và
đổi mới chính trị, văn hóa, xã hội; giữa tuân theo các quy luật thị trường và
bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển
văn hóa, con người, giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi
trường; giữa phát triển kinh tế-xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh; giữa
độc lập, tự chủ với tăng cường đối ngoại, hội nhập quốc tế; thực sự coi trọng,
phát huy hiệu quả vai trò của giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ trong
phát triển đất nước.
Điểm mới của bài học này là nhấn mạnh tập trung ưu tiên xây dựng đồng
bộ thể chế phát triển (cả kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an
ninh, đối ngoại).
Bài học thứ năm về quốc phòng, an ninh,
đối ngoại, Đại hội xác định: chủ động nghiên cứu, nắm bắt, dự báo đúng tình
hình, không để bị động, bất ngờ; kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ
quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đi đôi với giữ vững môi
trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; chủ động, tích cực hội nhập
quốc tế toàn diện và sâu rộng trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, tự lực, tự
cường; xử lý đúng đắn, hiệu quả mối quan hệ với các nước lớn và các nước láng
giềng, đánh giá đúng xu thế, nắm bắt trúng thời cơ; phát huy hiệu quả sức mạnh
tổng hợp của đất nước kết hợp với sức mạnh của thời đại; khai thác, sử dụng có
hiệu quả mọi nguồn lực để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, phát triển
đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
GIÁ TRỊ KHOA HỌC CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Sau hơn 35 năm Đảng ta khởi xướng và
lãnh đạo công cuộc đổi mới, phát triển đất nước, Việt Nam từ một trong những
nước nghèo nhất thế giới đã vươn lên trở thành quốc gia có thu nhập trung bình
thấp. Kết quả đó là nhờ sự nỗ lực không mệt mỏi, sự chung sức, đồng lòng của
toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh.
1. Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh cung cấp thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho sự nghiệp đổi
mới của Đảng
2. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng con đường đổi mới
ở Việt Nam hiện nay
Trước bối cảnh trong nước
và quốc tế có những diễn biến phức tạp khó lường, các thế lực thù địch, phản
động đang ra sức tấn công nền tảng tư tưởng của Đảng trên mọi phương diện và
bằng nhiều biện pháp, đã đặt ra cho Đảng, Nhà nước những yêu cầu, nhiệm vụ bức
thiết cần phải tiếp tục khẳng định, bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới. Muốn vậy, cần nhận
thức đúng và chú trọng một số vấn đề cụ thể sau:
Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức, ý thức và
trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, của toàn Đảng, toàn quân và toàn
dân về vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc
đổi mới đất nước hiện nay. Vận dụng sáng tạo, phát triển phù hợp lý luận mác
xít với thực tiễn cách mạng Việt Nam và xu thế của thời đại. Đây là đòi hỏi
khách quan, là yêu cầu có tính nguyên tắc, giữ vai trò nền tảng, then chốt đối
với sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay.
Hai là, tăng cường nghiên cứu lý luận và tổng
kết thực tiễn để vận dụng phù hợp vào tình hình thực tiễn đất nước. Tiếp tục
nghiên cứu các học thuyết xã hội hiện đại, những vấn đề lý luận và thực tiễn
mới của thời đại để tiếp thu tinh hoa văn hóa, trí tuệ của nhân loại, bổ sung
và làm giàu thêm hệ giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin; đồng thời, đấu tranh
không khoan nhượng với mọi quan điểm thù địch, bảo vệ bản chất khoa học, cách
mạng và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin, góp phần thúc đẩy khoa học và thực
tiễn phát triển đúng hướng.
Ba là, đổi mới và nâng cao chất lượng,
hiệu quả công tác giáo dục lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên và Nhân
dân, nhất là đối với thế hệ trẻ. Cần làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống xã
hội, bảo đảm thế hệ trẻ Việt Nam luôn trung thành với mục tiêu, lý tưởng của
Đảng và với chế độ. Việc học tập lý luận chính trị phải được tiến hành thường
xuyên, trở thành nhu cầu, nguyện vọng của mỗi cán bộ, đảng viên trong quá trình
công tác.
Bốn là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, kiên
quyết đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” và các quan điểm sai
trái, thù địch nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Cần phát huy
sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, bằng nhiều hình thức và biện pháp
phù hợp, sáng tạo; đấu tranh trên cơ sở bảo đảm tính khoa học, tính lý luận và
giàu sức thuyết phục. Muốn vậy, phải đào tạo, rèn luyện đội ngũ chuyên gia, cán
bộ có năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra.
NGĂN CHẶN “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” TRONG NỘI BỘ
Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn khá nhiều về suy thoái đạo đức, lối sống.
Người thẳng thắn đấu tranh với mọi biểu hiện cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ,
thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích
tập thể; ganh ghét đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình. Người
gọi đó là các căn bệnh: “Óc hẹp hòi - Ở
trong Đảng thì không biết cất nhắc những người tốt, sợ người ta hơn mình. Ở
ngoài Đảng thì khinh người, cho ai cũng không cách mạng, không khôn khéo bằng
mình. Vì thế mà không biết liên lạc hợp tác với những người có đạo đức tài năng
ở ngoài Đảng. Vì thế mà người ra uất ức và mình thành ra cô độc”23;
và “Bệnh tham lam - Những người mắc phải bệnh
này thì đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc, do đó mà
chỉ “tự tư tự lợi”. Dùng của công làm việc tư. Dựa vào thế lực của Đảng để theo
đuổi mục đích riêng của mình. Sinh hoạt xa hoa, tiêu xài bừa bãi. Tiền bạc đó ở
đâu ra? Không xoay của Đảng thì xoay của đồng bào. Thậm chí làm chợ đen buôn
lậu. Không sợ mất thanh danh của Đảng, không sợ mất danh giá của mình”24.
“Còn có những đồng chí chỉ lo ăn ngon, mặc đẹp, lo phát tài, lo chiếm của
công làm của tư, đạo đức cách mệnh thế nào, dư luận chê bai thế nào cũng mặc”25.
Ngay từ đầu năm 1948, khi nhà nước cách mạng còn hết sức non trẻ,
gặp muôn vàn khó khăn, Người đã chỉ ra cần phải đấu tranh với những vi phạm
nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân
chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc
đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành. Hồ Chí Minh yêu cầu:
“Phải thật sự mở rộng dân chủ trong cơ quan. Phải luôn luôn dùng cách thật thà tự phê bình và thẳng thắn phê bình, nhất là phê
bình từ dưới lên. Phải kiên quyết chống cái thói “cả vú lấp
miệng em” ngăn cản quần chúng phê bình. Một đảng viên ở địa vị càng cao, thì
càng phải giữ đúng kỷ luật của Đảng, càng phải làm gương dân chủ”26.
Người kiên quyết chống “Bệnh hẹp hòi”, vì
“Nhiều thứ bệnh, như chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân,
khuynh hướng tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi, bệnh hủ hóa, .v.v.,
đều do bệnh hẹp hòi mà ra!”27. Người giải thích về “Địa phương chủ
nghĩa”, đó là: “chỉ chăm chú lợi ích của địa phương mình mà không nhìn đến lợi
ích của toàn bộ. Làm việc ở bộ phận nào chỉ biết bênh vực vun đắp cho bộ phận
ấy. Do khuyết điểm đó mà sinh ra những việc, xem qua thì như không quan hệ gì
mấy, kỳ thực rất có hại đến kế hoạch chung”28.
Sau Cách mạng Tháng Tám, mặc dù những biểu hiện “chạy thành tích”,
“chạy khen thưởng”, “chạy danh hiệu” chưa phổ biến, nhưng biểu hiện của bệnh
“thành tích”, háo danh, phô trương, thổi phồng thành tích, “đánh bóng” tên
tuổi; thích được đề cao, ca ngợi, đã bị Người chỉ ra và phê phán, như các bệnh:
“Ham chuộng hình thức: Việc gì không xét đến cái kết quả thiết thực, cần kíp,
chỉ chăm về hình thức bên ngoài, chỉ muốn phô trương cho oai”29. “Bệnh “hữu danh, vô thực” - Làm việc không thiết
thực, không từ chỗ gốc, chỗ chính, không từ dưới làm lên. Làm cho có chuyên,
làm lấy rồi. Làm được ít suýt ra nhiều, để làm một bản báo cáo cho oai, nhưng
xét kỹ lại thì rỗng tuếch”30. “Bệnh kiêu ngạo -
Tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình khen ngợi
mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe
khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình. Không thèm học hỏi quần chúng,
không muốn cho người ta phê bình. Việc gì cũng muốn làm thầy người khác”31.
Người cũng
đấu tranh với các biểu hiện che giấu khuyết điểm: “Báo cáo thì
chậm trễ, làm lấy lệ. Báo cáo dối, giấu cái dở cái xấu, chỉ nêu cái tốt cái
hay. Báo cáo bề bộn – chỉ góp báo cáo các ngành, các cấp dưới, rồi cứ nguyên
văn chép lại gửi lên, v.v.”32.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng sớm chỉ ra các
bệnh có các biểu hiện quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu
kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình:
- “Óc quân phiệt quan liêu. Khi phụ trách ở một vùng nào
thì như một ông vua con ở đấy, tha hồ hách dịch, hoạnh họe. Đối với cấp trên
thì xem thường, đối với cấp dưới cậy quyền lấn áp. Đối với quần chúng ra vẻ
quan cách làm cho quần chúng sợ hãi. Cái đầu óc “ông tướng, bà tướng” ấy đã gây
ra bao ác cảm, bao chia rẽ, làm cho cấp trên xa cấp dưới, đoàn thể xa nhân dân”33.
- “Làm việc lối bàn giấy. Thích làm việc bằng giấy tờ
thật nhiều. Ngồi một nơi chỉ tay năm ngón không chịu xuống địa phương kiểm tra
công tác và để chỉ vạch những kế hoạch thi hành chỉ thị, nghị quyết của đoàn
thể cho chu đáo… Cái lối làm việc như vậy rất có hại. Nó làm cho chúng ta không
đi sát phong trào, không hiểu rõ được hình tình bên dưới, cho nên phần nhiều
chủ trương của chúng ta không thi hành được đến nơi đến chốn”34.
- “Bệnh mệnh lệnh tỏ ra ở chỗ hay dựa vào chính
quyền mà bắt dân làm, ít tuyên truyền giải thích cho dân tự giác, tự động”35.
Người yêu cầu chống các biểu hiện thờ ơ,
vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng
của nhân dân: “Phải chống sự mong muốn làm cho được lòng cấp trên còn ở dưới
nhân dân thế nào cũng mặc, không thể vì lợi ích của Đảng mà chống nhân dân mà
quan liêu, hạ mệnh lệnh”36.
Những biểu hiện gây lãng phí, thất thoát
tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên… cũng được
Người chỉ ra từ rất sớm trong một số cán bộ, đảng viên có những biểu hiện, như:
“Họ tưởng rằng cách mạng là cốt để làm cho họ có địa vị, được hưởng thụ. Do đó
mà họ mắc những sai lầm: kiêu ngạo, chưng diện, hưởng lạc, lãng phí của công,
tự tư tự lợi, không tiết kiệm đồng tiền bát gạo là mồ hôi nước mắt của nhân
dân. Họ quên mất tác phong gian khổ phấn đấu, lạt lẽo với công việc cách mạng,
xa rời Đảng, xa rời quần chúng. Dần dần, họ mất cả tư cách và đạo đức người
cách mạng, sa vào tham ô, hủ bại và biến thành người có tội với Đảng, với Chính
phủ, với nhân dân”37.
Người cũng
kiên quyết đấu tranh chống tham ô, lãng phí, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu
kết với các đối tượng khác để trục lợi. Người chỉ rõ: “Bên cạnh những đồng chí
tốt ấy, còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém.
Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng
nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà
chỉ muốn “mọi người vì mình”. Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn,
sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị
quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc
đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu,
mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến
bộ. Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn
kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp
hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích
của cách mạng, của nhân dân”38.
Ngay từ đầu
năm 1947, Hồ Chí Minh đã nêu và kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện thao
túng trong công tác cán bộ, mà Người gọi là: “Óc bè phái: Ai hẩu với mình thì
dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng. Ai không thân với mình thì
dù họ có tài cũng tìm cách dìm họ xuống, họ nói phải mấy cũng không nghe”39 và
“Kéo bè kéo cánh lại là một bệnh rất nguy hiểm
nữa. Từ bè phái mà đi đến chia rẽ. Ai hợp với mình thì dù người xấu cũng cho là
tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không
hợp với mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng là dở, rồi tìm cách
gièm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống. Bệnh này rất tai hại cho Đảng.
Nó làm hại đến sự thống nhất. Nó làm Đảng bớt mất nhân tài và không thực hành
được đầy đủ chính sách của mình. Nó làm mất sự thân ái, đoàn kết giữa đồng chí.
Nó gây ra những mối nghi ngờ”40.
“Do ít hiểu biết về tình hình trong nước
và ngoài nước, ít nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm thực tiễn cho nên gặp thuận
lợi thì dễ lạc quan, gặp khó khăn thì dễ dao động, bi quan, lập trường cách
mạng không vững vàng, thiếu tinh thần độc lập suy nghĩ và chủ động sáng tạo. Do
đó mà gặp nhiều khó khăn trong công việc, tác dụng lãnh đạo bị hạn chế”41.
Nguyên nhân của những biểu hiện suy thoái
có nhiều, nhưng chủ yếu là do chủ nghĩa cá nhân sinh ra. Theo Hồ Chí Minh “Chủ
nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ
quan, tham ô, lãng phí. Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những
người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho
cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân”.
ĐƯA CHỈ THỊ 05-CT/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VÀO THỰC TIỄN CUỘC SỐNG
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII của Đảng,
Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, trên cơ sở quán triệt Kết luận số 01-KL/TW
ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ
Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí
Minh” theo chủ đề toàn khóa “Phát huy ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát
triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, các cấp công đoàn trong toàn hệ thống cần
triển khai thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau đây:
Một là, coi trọng việc tổ chức tuyên truyền, học tập nội dung
chuyên đề toàn khóa đảm bảo nghiêm túc, sâu rộng đến cán bộ, đoàn viên trong
toàn hệ thống. Phải đưa việc học tập và làm theo Bác trở thành hoạt động thường
xuyên, hành động tự giác trong các cấp Công đoàn; tạo sự chuyển biến rõ rệt về
nhận thức và hành động của các cấp công đoàn, mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên
công đoàn và người lao động; các cấp công đoàn coi đây là giải pháp góp phần
thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Nghị
quyết Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025, các văn bản chỉ đạo của Tổng
Liên đoàn Lao động Việt Nam, của BTV Liên đoàn Lao động tỉnh hàng năm.
Hai là, làm tốt việc lựa chọn nội dung cụ thể để đăng ký việc làm
theo Bác của các tập thể, cá nhân cán bộ lãnh đạo với chủ đề “Phát huy ý chí tự
lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Đưa
việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào Nghị
quyết, chương trình, kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Công đoàn
các cấp nhiệm kỳ 2018 - 2023 và gắn với các phong trào thi đua của tổ
chức Công đoàn. Hướng dẫn các cấp công đoàn tổ chức học tập, sinh hoạt định kỳ, sinh
hoạt chuyên đề bằng các hình thức phù hợp, gắn với việc thực hiện nhiệm vụ
chính trị của cơ quan, đơn vị để tổ chức làm theo; lựa chọn những vấn đề trọng
tâm, những vấn đề đoàn viên, người lao động quan tâm để tập trung giải quyết có
hiệu quả giúp cho việc làm theo Bác mang tính thiết thực, dễ nhớ, dễ
làm, hết sức tránh hình thức.
Ba là, coi trọng việc phát huy việc làm gương của người đứng đầu
các đơn vị trong toàn hệ thống công đoàn toàn tỉnh đối với những nội dung đăng
ký làm theo Bác gắn với thực hiện chức trách, nhiệm vụ với hiệu quả cao nhất.
Tiếp tục chỉ đạo duy trì việc viết tin, bài đăng tải trên chuyên mục “Học tập
và làm theo Bác” trang thông tin điện tử (WEBSITE) của Liên đoàn Lao động tỉnh
đảm bảo kịp thời, thiết thực, hiệu quả. Qua đó, tạo sự lan tỏa và hiệu ứng tích
cực cổ vũ toàn thể cán bộ, đoàn viên, công nhân viên chức, người lao động trên
toàn địa bàn khắc phục mọi khó khăn, thách thức để cùng với các cơ quan, đơn
vị, doanh nghiệp hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu, nhiệm vụ đã đề
ra.
Bốn là, thường xuyên quan tâm làm tốt công tác kiểm tra, giám
sát việc triển khai thực hiện làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí
Minh trong các cấp CĐCS và cán bộ, đoàn viên CNVCLĐ. Kịp thời phát hiện
nhân diện những tập thể, cá nhân tiêu biểu có cách làm sáng tạo, hiệu quả đồng
thời có biện pháp uốn nắn, xử lý những đơn vị thực hiện không nghiêm túc, vi
phạm khuyết điểm.
Năm là, định kỳ tiến hành đánh giá sơ kết, tổng kết rút kinh
nghiệm gắn với việc tổ chức tôn vinh khen thưởng các điển hình tiến tiến trong
học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn hệ
thống nhân dịp chào mừng kỷ niệm Ngày sinh nhật Bác Hồ kính yêu (19/5) hàng năm
đảm bảo theo đúng quy định./.
























