Thứ Năm, 2 tháng 6, 2022

Những vấn đề cần chú ý trong xây dựng, hoàn thiện cơ chế để thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng hiện nay

 


Như vậy, để bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng, phải xây dựng và hoàn thiện cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng trên các phương diện chính là: Trong công tác tổ chức; trong hoạt động lãnh đạo trong sinh hoạt đảng và trong các mặt khác của công tác xây dựng Đảng. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng là việc phức tạp, phạm vi phải xây dựng các quy định rất rộng, cần sự kiên trì và sự chỉ đạo tập trung.

Việc hoàn thiện cơ chế để bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng hiện nay cần tập trung vào xây dựng, hoàn thiện các quy định về cách thức thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ sao cho khắc phục được những hạn chế, bất cập trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, như tình trạng dân chủ hình thức; bóp méo dân chủ để phục vụ ý đồ cá nhân; không quy được trách nhiệm cá nhân khi có sai phạm xảy ra; nhân danh nguyên tắc tập trung dân chủ nhưng hành xử gia trưởng, độc đoán... Trong xây dựng, hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng hiện nay, cần lưu ý một số vấn đề sau:

1- Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng, bầu người đứng đầu trong các tổ chức của Đảng.

Cần hoàn thiện các quy định về chế độ bầu cử theo hướng mở rộng bầu cử trực tiếp cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy từ cơ sở đến cấp huyện, tỉnh từ nay đến năm 2030. Để khắc phục tình trạng dân chủ hình thức và bóp méo dân chủ trong bầu cử ở nơi này hay nơi khác, theo tinh thần mở rộng quyền đề cử và tự ứng cử, cần giới thiệu nhiều phương án nhân sự để lựa chọn, quy định bắt buộc có số dư trong giới thiệu ứng cử và bầu cử cấp ủy và cả các chức danh là người đứng đầu. Sự không hài lòng trong dư luận, tính hình thức và nguy cơ làm biến dạng dân chủ do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu ở tình trạng phổ biến là chỉ có một ứng viên cho một chức danh lãnh đạo trong bầu cử hiện nay.

Bên cạnh đó, cũng cần tập trung nghiên cứu thực hiện chế độ để những người tham gia bầu có thể bãi miễn đại biểu do mình bầu ra.

2- Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong Đảng.

Cần hoàn thiện các quy chế làm việc của các cấp ủy, tổ chức đảng, trong đó quy định rõ về thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể lãnh đạo (cấp ủy, ban thường vụ, ban cán sự đảng...) theo hướng chỉ bàn và quyết định những vấn đề lớn, chỉ trực tiếp quản lý cán bộ là người đứng đầu; đồng thời, tăng thẩm quyền, trách nhiệm của cá nhân là thành viên tập thể lãnh đạo, người đứng đầu (nhất là bí thư, các phó bí thư cấp ủy), đi đôi với hoàn thiện các quy định, thiết chế kiểm soát quyền lực bằng chế độ kiểm tra, giám sát, bỏ phiếu bất tín nhiệm...

Hoàn thiện quy định về chế độ tổ chức, làm việc của thường trực cấp ủy, ban cán sự đảng và đảng đoàn vì đây là những cơ cấu tổ chức đặc biệt, được hình thành không do bầu cử trực tiếp, nhưng có trách nhiệm, thẩm quyền rất lớn, dễ vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ nếu thiếu các quy định cụ thể và chế độ kiểm tra, giám sát chặt chẽ. Trong trường hợp bí thư cấp ủy đồng thời làm chủ tịch ủy ban nhân dân, vẫn phải bố trí thường trực cấp ủy đủ ba thành viên lãnh đạo để thực hiện được nguyên tắc tập trung dân chủ.

3- Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong đại hội đảng.

Cần xây dựng, hoàn thiện các quy định bảo đảm Đại hội đại biểu toàn quốc thật sự là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng; đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên là cơ quan lãnh đạo có vị trí, vai trò cao nhất trong tổ chức đảng, khắc phục biểu hiện hình thức của đại hội đảng các cấp. Ngay trong chính đảng mác-xít đầu tiên do C. Mác và Ph. Ăng-ghen sáng lập là Liên đoàn những người cộng sản, Điều lệ của Liên đoàn năm 1847 đã quy định Ban chấp hành trung ương tham dự Đại hội, nhưng không có quyền biểu quyết. Với quy định này, cho thấy C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã rất quan tâm đến ngăn chặn ảnh hưởng của ban chấp hành đối với đại hội đảng và là chỉ dẫn có ý nghĩa đối với vấn đề hạn chế ảnh hưởng quá mức của ban chấp hành đến đại hội đảng.

Cần xây dựng quy định về chế độ thảo luận trong đại hội đảng bảo đảm sự thảo luận, tranh luận thật sự trong đại hội đảng, khắc phục tính hình thức của tham luận tại đại hội.

4- Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện chế độ ra nghị quyết và chấp hành nghị quyết.

Xây dựng, hoàn thiện quy chế ra quyết định của Đảng, bảo đảm phát huy trí tuệ tập thể. Các quy định phải bảo đảm để mọi cán bộ, đảng viên thực hiện được quyền tham gia quyết định công việc của Đảng; quyền được thông tin, thảo luận, tranh luận, nêu ý kiến riêng, bảo lưu ý kiến trong tổ chức; khi Đảng đã có nghị quyết thì phải nói và làm theo nghị quyết. Quy định rõ chế độ lãnh đạo các cấp phải lắng nghe ý kiến của cấp dưới, của đảng viên và nhân dân, hồi đáp các ý kiến góp ý, các kiến nghị.

 Xây dựng, hoàn thiện chế độ thảo luận, tranh luận trong xây dựng nghị quyết bảo đảm khuyến khích mọi đảng viên thảo luận dân chủ tất cả mọi vấn đề trong phạm vi chức năng tổ chức đảng của mình; đồng thời, cấp ủy, tổ chức đảng phải tạo cơ chế để khơi gợi, khuyến khích được đảng viên dân chủ thảo luận, phát huy cao nhất tính sáng tạo và giá trị đóng góp của đảng viên. Bảo đảm tất cả ý kiến của đảng viên phải được tôn trọng, ghi nhận, kể cả có đúng, có sai, dù xuôi chiều hay trái chiều. Không đưa ra các quy định hạn chế ý kiến góp ý, chất vấn, hay đồng nhất việc có ý kiến trái chiều với sự mất đoàn kết trong tổ chức đảng.

Chế độ ra quyết định phải bảo đảm việc ban hành nghị quyết của Đảng đều trên cơ sở được tổ chức thảo luận dân chủ rộng rãi, lấy ý kiến của các tổ chức đảng và đảng viên từ cơ sở trở lên, lấy ý kiến góp ý của nhân dân nếu cần, được cân nhắc nhiều mặt, phân tích thấu đáo, nhất là những vấn đề có ý kiến trái chiều trước khi quyết định. Đối với những vấn đề mới, khó, phức tạp thì cần được tổ chức hội thảo, tọa đàm để tiến hành thảo luận, trao đổi kỹ lưỡng, xin ý kiến chuyên gia trước khi quyết định.

5- Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện quyền và nhiệm vụ của đảng viên.

Cần cụ thể hóa các quy định để thực sự thực hiện được các quyền của đảng viên về: Quyền được thông tin và thảo luận các vấn đề về Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, đường lối, chủ trương của Đảng; biểu quyết công việc của Đảng; quyền ứng cử, đề cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương; quyền phê bình, chất vấn về hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên ở mọi cấp trong phạm vi tổ chức; báo cáo, kiến nghị với các cơ quan có trách nhiệm và yêu cầu được trả lời; quyền trình bày ý kiến khi tổ chức đảng nhận xét, quyết định công tác hoặc thi hành kỷ luật đối với mình. 

6- Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện thẩm quyền của tổ chức đảng các cấp.

Cần xây dựng, hoàn thiện các quy định về việc tổ chức đảng quyết định các vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của mình nhưng không trái với nguyên tắc, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên. Điều này sẽ ngăn ngừa được tình trạng vi phạm thẩm quyền khi ban hành các nghị quyết, dẫn đến việc ban hành các nghị quyết sai trái của một số tổ chức đảng như trong thời gian vừa qua. Thực hiện có nền nếp chế độ kiểm tra, giám sát các quyết định của tổ chức đảng các cấp và xử lý các quyết định trái với nguyên tắc, đường lối của Đảng, nghị quyết của cấp trên và chính sách, pháp luật của Nhà nước.

7- Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện chế độ báo cáo và thông báo hoạt động của cấp ủy.

Quy định rõ về chế độ cấp ủy các cấp báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước đại hội cùng cấp; cấp ủy các cấp báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước cấp dưới, bảo đảm thật sự là một “kênh” kiểm soát quyền lực trong Đảng; chế độ định kỳ thông báo tình hình hoạt động của mình đến các tổ chức đảng trực thuộc, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, thực chất tự phê bình và phê bình.

8- Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ.

Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng người có đức, có tài. Cơ chế phát hiện, tuyển chọn phải bảo đảm phát hiện từ cơ sở để lựa chọn được người có đầy đủ phẩm chất, năng lực, xứng đáng được bầu vào cấp ủy khóa mới; phát hiện người có tài, đức để tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng.

Thực hiện nghiêm và hoàn thiện chế độ ràng buộc trách nhiệm cả về chính trị, tinh thần và kinh tế với người đề cử, tiến cử trong công tác nhân sự nếu việc đề cử, tiến cử vi phạm các quy định, để chống tư tưởng cục bộ, bản vị, địa phương, thân quen, “cánh hẩu”, “lợi ích nhóm”; đồng thời, tránh cách làm giản đơn, tùy tiện, vô nguyên tắc trong công tác cán bộ. Tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát có nền nếp việc chấp hành nghiêm Quy định số 205-QĐ/TW, ngày 23-9-2019, của Bộ Chính trị, “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”. Cần tập trung kiểm tra, giám sát thực hiện quy định về không bố trí những người có quan hệ gia đình (vợ, chồng; bố, mẹ của vợ hoặc chồng; con, anh chị em ruột) cùng đảm nhiệm các chức danh có liên quan như: Bí thư, phó bí thư, trưởng ban tổ chức, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra cùng cấp ủy; chủ tịch ủy ban nhân dân và người đứng đầu cơ quan nội vụ, thanh tra cùng cấp ở một địa phương; thành viên trong cùng ban cán sự đảng, đảng đoàn; người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu trong cùng địa phương, cơ quan, đơn vị. Tăng cường kiểm tra, giám sát để phát hiện, xử lý nghiêm những trường hợp xen ghép ý đồ cá nhân, đề ra tiêu chí, tiêu chuẩn, điều kiện, nhận xét, đánh giá mang tính áp đặt, không đúng bản chất, không đúng sự thật nhằm vụ lợi hoặc có lợi cho nhân sự trong quá trình tham mưu thực hiện quy trình công tác cán bộ; để vợ, chồng, bố, mẹ, con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể, anh chị em ruột lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín của mình để thao túng, can thiệp công tác cán bộ. Cần thực hiện ráo riết các biện pháp trọng tâm như trên để đưa việc chấp hành các quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ đi vào nền nếp, trở thành văn hóa trong Đảng và hệ thống chính trị.

Thường xuyên hoàn thiện cơ chế phát hiện, thay thế kịp thời những cán bộ kém năng lực và kém phẩm chất, có khuyết điểm nghiêm trọng, không còn đủ uy tín. Tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát có nền nếp việc chấp hành Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3-11-2021, của Bộ Chính trị, “Về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ”.

9- Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tư tưởng.

Xây dựng và hoàn thiện chế độ thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác lý luận theo hướng mở rộng dân chủ trong nghiên cứu lý luận, thu hút và phát huy trí tuệ của đông đảo các chuyên gia trên các lĩnh vực cùng tham gia; tạo môi trường cho nghiên cứu dự báo phát triển. Những vấn đề lý luận và thực tiễn mới, khó phải được tổ chức nghiên cứu một cách thấu đáo, chuyên sâu, bài bản.

Cần quy chế hóa trách nhiệm và khuyến khích sự cống hiến của đảng viên làm công tác tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, đồng thời cụ thể hóa các điều cấm đối với đảng viên theo Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về những điều đảng viên không được làm” trong nói, viết, tuyên truyền, để tạo thành chế độ vừa phát huy dân chủ, thúc đẩy sáng tạo, vừa bảo đảm giữ nghiêm kỷ luật trong công tác tư tưởng.

10- Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện chế độ bảo lưu ý kiến thuộc về thiểu số.

Cần xây dựng quy định về chế độ bảo lưu ý kiến thuộc về thiểu số, gồm: Trường hợp được bảo lưu ý kiến thuộc về thiểu số; quy trình và thời gian xử lý bảo lưu ý kiến thuộc về thiểu số; quyền và trách nhiệm của đảng viên có ý kiến được bảo lưu; phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý nghiêm tình trạng bảo lưu mang tính hình thức; ngăn ngừa sự lợi dụng, lạm dụng quyền dân chủ của một số đảng viên.

HAIVAN

Nội dung cụ thể của cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng hiện nay

 

Cơ chế bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng là loại cơ chế chính trị cấp độ cao, bao gồm cả quan điểm chính trị, các quy định, quy chế, quy trình cụ thể trong từng tổ chức, từng công việc của Đảng, để bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong toàn Đảng.

Để xác định nội dung cơ chế thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng, cần nhận thức rõ phạm vi thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Có thể chia ra các lĩnh vực chính trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, như thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tổ chức của Đảng; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động lãnh đạo; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt đảng; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong các mặt công tác xây dựng Đảng khác.

Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tổ chức của Đảng.

Công tác tổ chức là một trong các mặt công tác xây dựng Đảng, nhưng do nguyên tắc tập trung dân chủ trước hết là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng và do tính chất quan trọng của công tác tổ chức, nên cần tách ra thành một lĩnh vực chi phối chính của nguyên tắc tập trung dân chủ. Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tổ chức của Đảng bao gồm: Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thiết kế mô hình tổ chức của Đảng, trong mối quan hệ giữa các tổ chức trong Đảng, giữa đảng viên với tổ chức; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong xây dựng và tuân thủ quy chế làm việc của các cấp ủy, tổ chức đảng; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thành lập tổ chức mới, kiện toàn, đổi mới tổ chức...

Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động lãnh đạo, gồm các khâu: Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong quy trình ban hành nghị quyết, quyết định lãnh đạo; chế độ thảo luận, ra quyết định, bảo lưu ý kiến thiểu số; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong chấp hành nghị quyết, như chế độ chấp hành, chế độ trách nhiệm, chế độ kiểm tra, giám sát; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách...

Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt đảng, gồm các nội dung: Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tự phê bình và phê bình; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong đại hội đảng, trong sinh hoạt cấp ủy, chi bộ; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện quyền và trách nhiệm của đảng viên; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện bầu cử trong Đảng; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện chế độ báo cáo, thông báo trong Đảng...

Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong các mặt công tác xây dựng Đảng, gồm các phương diện: Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác lý luận, như mối quan hệ giữa chấp hành nghị quyết với yêu cầu sáng tạo, đổi mới trong nghiên cứu lý luận; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tuyên truyền, cổ động; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác văn hóa, văn nghệ, trong xử lý mối quan hệ giữa chấp hành nghị quyết, phục vụ đường lối, chủ trương của Đảng với đòi hỏi sự sáng tạo của văn hóa, văn nghệ; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong các khâu của công tác cán bộ, như đánh giá, tuyển chọn, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, kỷ luật, chính sách cán bộ...; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác đảng viên, như kết nạp đảng viên, đánh giá đảng viên, kỷ luật đảng viên...; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác dân vận; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ...

Sự phân chia nêu trên là cần thiết để nhận thức rõ hơn về nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng và có cơ sở để xác định nội dung cơ chế cần xây dựng, hoàn thiện nhằm bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Tuy nhiên, sự phân loại này cũng chỉ mang tính tương đối, vì trong thực hiện các hoạt động lãnh đạo, sinh hoạt nội bộ và các mặt công tác xây dựng Đảng luôn có sự đan xen nhau. 

HAIVAN

Nhận thức về cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng


Trong quá trình đổi mới, Đảng ta đã có bước tiến mới về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt đảng, trong việc chuẩn bị các quyết định của Đảng, bầu cử cấp ủy và đánh giá, đề bạt cán bộ. Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng không ít cá nhân lợi dụng chính nguyên tắc tập trung dân chủ để cố tình thực hiện sai nguyên tắc, lợi dụng yếu tố tập trung để thâu tóm quyền lực; nhiều cán bộ, đảng viên đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ, trong đó có cả đảng viên là cán bộ cấp cao. Nguyên nhân dẫn đến vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ có cả yếu tố chủ quan và khách quan. Một trong những nguyên nhân là do nguyên tắc tập trung dân chủ có nội dung chi phối rất rộng và khá trừu tượng, khó nắm bắt; hơn nữa, mỗi lĩnh vực, mỗi mặt công tác, hoạt động xây dựng Đảng lại có những yêu cầu cụ thể riêng. Mặc dù gần đây, Đảng ta đã có nhiều văn bản quy định, hướng dẫn, trong đó cụ thể hóa cách tiến hành theo nguyên tắc tập trung dân chủ; nhưng vẫn còn không ít lĩnh vực, mặt công tác chưa có được những quy định cụ thể như vậy; hoặc, có quy định nhưng vẫn chưa đủ rõ, tức là chưa có những quy định có tính hệ thống về cách thức thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Thực tế đó cho thấy, để các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; đồng thời, ngăn ngừa, hạn chế tình trạng cán bộ, đảng viên vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, thì rất cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng hiện nay.

Theo cách hiểu thông thường, cơ chế là “cách thức theo đó một quá trình thực hiện”. Khái niệm cơ chế được dùng từ lâu trong khoa học tự nhiên, kỹ thuật, như cơ chế quang hợp của cây xanh, cơ chế hoạt động của máy phát điện... Ngày nay, khái niệm cơ chế được sử dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Có thể thấy, cơ chế là những quy định về cách thức tiến hành hoạt động nào đó trong xã hội, trong tổ chức. Cơ chế do tổ chức, con người đặt ra nhưng lại quy định về hoạt động của tổ chức, con người; do vậy, cơ chế có thể đúng và có thể sai, phù hợp hoặc không phù hợp, tiến bộ hay lạc hậu. Cơ chế có nhiều cấp độ, từ đơn giản đến phức tạp. Ở cấp độ cao, cơ chế còn bao gồm cả quan điểm chính trị - xã hội, các quy phạm pháp luật, các quy định, quy chế, quy tắc, quy trình cụ thể trong từng tổ chức, từng công việc.

Từ nhận thức về khái niệm cơ chế như vậy, cho thấy: Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng là hệ thống những quy định về cách thức thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Vì cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng bao gồm những quy định về cách thức thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; do đó, xây dựng cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng thực chất là xây dựng hệ thống các quy định về cách thức thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Xây dựng tốt cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng tức là xây dựng, hoàn thiện hệ thống các quy định chỉ rõ cách thức thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng, sẽ vừa hướng dẫn cho các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng thực hiện đúng nguyên tắc này, vừa ngăn ngừa tình trạng tùy tiện, lúng túng, cố tình làm sai, bóp méo trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ càng được hoàn thiện, rõ ràng, sẽ càng bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng.

HAIVAN

PHÒNG CHỐNG "TỰ DIỄN BIẾN", "TỰ CHUYỂN HÓA": CHỐNG BỆNH KÊU NGẠO!

     Kiêu ngạo là một tính cách của con người. Thực chất là do họ tự tin thái quá, chủ quan rồi đâm ra dương dương tự đắc, tưởng mình cái gì cũng giỏi hơn người.
Ranh giới giữa sự tự tin và kiêu ngạo rất gần nhau, họ luôn “mặc định” rằng những việc mình làm, những lời mình nói đều đúng và bắt mọi người phải làm theo. Trong cán bộ, đảng viên của chúng ta còn có những người mắc chứng kêu ngạo. Họ không hiểu sức mạnh của Đảng chính là ở sự tập trung thống nhất.
Bác Hồ từng vạch rõ: “Họ không tin ở lực lượng và trí tuệ của tập thể. Họ sống và làm việc thiếu đoàn kết và hợp tác với người khác. Trong tác phẩm “Chớ kiêu ngạo, phải khiêm tốn”, Bác chỉ ra hậu quả khôn lường của nó: “Kiêu ngạo là: Khi công tác có ít nhiều thành tích, ít nhiều thắng lợi, thì lên mặt anh chị, lên mặt công thần. Rồi đối với việc học tập thì lười biếng, không ra sức nâng cao trình độ của mình. Trong công tác thì xem thường nhân dân, xa rời quần chúng. Ở trong Đảng thì không thực hiện chế độ dân chủ tập trung, không tuân theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo. "Phớt" kỷ luật và chính sách của Đảng và của Chính phủ. Khinh rẻ ý kiến của cấp dưới. Xem thường chỉ thị của cấp trên. Không muốn chịu kiểm tra, không muốn nghe phê bình. Thân với những kẻ xu nịnh tâng bốc mình. Xa tránh những người chính trực, nói thẳng... Kết quả của bệnh kiêu ngạo là: Thoái bộ, xuống dốc, rồi đi đến bất mãn, hủ hóa”.
Chống bệnh kiêu ngạo
“Khi có đôi chút hiểu biết, đôi chút thành công thì tự cao, tự đại, vênh vang kiêu ngạo, tự cho mình tài giỏi hơn người. Ở cương vị phụ trách thì tự cho mình có quyền hơn hết thảy, định đoạt mọi việc; Ở ngành nào, địa phương, đơn vị nào thì coi đó như một giang sơn riêng, không biết đến lợi ích toàn cục. Họ coi thường những quyết định của tổ chức, họ là những "ông quan liêu", chỉ thích dùng mệnh lệnh đối với đồng chí và nhân dân”.
Họ ăn diện hàng hiệu, trau chuốt, xúng xính, mượt mà, luôn muốn nổi trội trong đám đông. Họ đi đứng khệnh khạng, vung tay khuềnh khoàng, “mỗi bước đi lại nhún nhảy những cẳng chân, cho ra vẻ là con nhà võ” – giống như Dế Mèn vậy! Họ thích chìa tay hờ hững cho nhiều người khác bắt như sự ban phát ân sủng. Có những vị thủ trưởng biến cơ quan thành như vườn trẻ, xung quanh “vâng, dạ”, “tiền hô hậu ủng”. Họ ăn tiêu xả láng cho ra vẻ có “đẳng cấp”, “tầm cỡ” khác người,... Họ thích xuất hiện với những mệnh lệnh tưởng chừng như “hô phong hoán vũ”,...
Bác Hồ từng phê phán: Họ không nhận thức vì sao họ có địa vị, được hưởng thụ. “Do đó mà họ mắc những sai lầm: Kiêu ngạo, chưng diện, hưởng lạc, lãng phí của công, tự tư tự lợi, không tiết kiệm đồng tiền, bát gạo là mồ hôi, nước mắt của nhân dân”. Lâu nay, ta từng chứng kiến có những “thái tử” – con ông cháu cha, “thăng tiến thần tốc”, tưởng chừng như mình là những “hạt giống đỏ”, sớm chễm chệ quyền cao, chức trọng thì ai cũng nể trọng. Nhưng họ là những “trái chín non” nhờ nhào nặn “thần bí” của quy trình rồi cũng sớm thể hiện là chua chát, rơi rụng.
Lại có những vị từng “vào sinh ra tử”, thậm chí đã nghỉ hưu mà vẫn mang trong mình máu công thần, luôn luôn muốn thiên hạ “có biết tao là ai không?”. Thực tình, nhiều khi nhìn họ mà những người tử tế, những người có hiểu biết rất “ngượng mặt”. Cái người ta cần ở người cán bộ là cần cái chất, cái đức, cái tâm, cái tầm. Người ta cần trong cái đầu bóng lộn kia một bộ óc thông thái, mẫn tiệp, biết suy nghĩ, biết hành động, xứng đáng với niềm tin của muôn dân; người ta cần trong lồng ngực vạm vỡ ấy một trái tim nhân hậu, biết rung động trước thế thái nhân tình, người ta cần cái thiết thực, hiệu quả,...
Sự “hào quang” của dáng vẻ, sự oai vệ, vung vẩy trong mỗi bước đi, sự “chém gió đanh thép” nhưng “nói một đàng, làm một nẻo” thì càng xa rời với quần chúng nhân dân.
“Cần phải tuyệt đối chống bệnh kiêu ngạo, phải luôn luôn khiêm tốn. Mọi công tác phải dựa hẳn vào quần chúng, hoan nghênh quần chúng đôn đốc và kiểm tra. Trong đoàn thể thì phải giữ vững dân chủ tập trung, tập thể lãnh đạo, phải mở rộng tự phê bình và phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên trên… Khiêm tốn là một đạo đức mà mọi người cách mạng phải luôn luôn trau dồi” - Lời dạy ấy của Bác Hồ từ khi chính quyền còn non trẻ, đến nay vẫn còn nguyên giá trị./.

Yêu nước ST.

TIẾP TỤC KHƠI DẬY Ý CHÍ TỰ LỰC, TỰ CƯỜNG, KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC PHỒN VINH, HẠNH PHÚC

 

    Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta bước vào thế kỷ XXI, hội nhập với thế giới hiện đại, thời kỳ công nghệ 4.0 cùng biết bao nhiêu biến động ở trong nước và quốc tế khó lường. Để vượt qua những khó khăn thách thức của thời đại, đưa dân tộc ta phát triển phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc trên thế giới theo tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần tập trung vào những nội dung chính như sau:
Một là, tiếp tục đi sâu học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về ý chí tự lực, tự cường, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Cùng với việc tiếp tục học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh một cách toàn diện, đúng đắn, đầy đủ, nghiêm túc, vấn đề đặt ra có tính chiến lược là đặc biệt nhấn mạnh đi sâu, hiểu kỹ, để suy nghĩ, làm theo, tạo cho mình phong cách, lối sống có ý chí, nghị lực, bản lĩnh thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Thấu hiểu ý chí tự lực, tự cường, khát vọng của Hồ Chí Minh về phát triển đất nước trong suốt chặng đường lịch sử đầy bão táp, mỗi cá nhân sẽ tự xây dựng, bồi dưỡng, hình thành củng cố niềm tin vững chắc cho ý chí tự lực, tự cường, khát vọng cho mình góp phần phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Chỉ có học tập, làm theo một cách tự nguyện, tự giác, chân thành, thực tâm với ý chí tự lực, tự cường, khát vọng của Hồ Chí Minh trong mỗi cá nhân có kết quả, mới tạo sức mạnh vô song đưa đất nước ta đi nhanh, đi mạnh, đi vững chắc trong mỗi bước đường tới phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Kiên quyết khắc phục lối học hình thức, bề ngoài, để có chứng chỉ bằng cấp…
Hai là, phát huy cao độ ý chí tự lực, tự cường, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh hạnh phúc trong bối cảnh hội nhập quốc tế, mở rộng các quan hệ toàn cầu.
Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Người lãnh đạo Đảng và nhân dân ta tiến hành thắng lợi các cuộc cách mạng vĩ đại đều gắn với cách mạng thế giới. Nhưng cốt lõi, sức sống tư tưởng của Người lãnh đạo cách mạng Việt Nam vẫn là “tự ta giải phóng cho ta”; là ý chí tự lực, tự cường; là không cầu viện, dựa dẫm vào bên ngoài mà tự lực cánh sinh là chính.
Ba là, quyết tâm thực hiện có hiệu quả các nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, biến các mục tiêu thành hiện thực, nâng cao đời sống nhân dân.
Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng cũng như các nghị quyết của Quốc hội, của Chính phủ, của các cấp uỷ Đảng đều xác định những phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu cụ thể đưa nước ta tiến lên xây dựng một Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc; một Việt Nam hùng cường, một nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã luôn là khát vọng mãnh liệt của bao thế hệ lãnh đạo và người dân Việt Nam. Khát vọng ấy đã hiệu triệu, khơi dậy lòng yêu nước, hun đúc tinh thần đoàn kết và sưc smạnh của nhân dân toàn dân tộc, làm nên những thắng lợi to lớn có ý nghĩa lịch sử trong quá trình bảo vệ và xây dựng phát triển đất nước.
Thành tựu hơn 35 năm đổi mới là kết quả đáng tự hào nhưng cũng đặt ra những kỳ vọng, những trách nhiệm, những thách thức lớn lao cùng với những đòi hỏi cụ thể trước mắt, lâu dài đối với mỗi người dân Việt Nam. Vì vậy, khát vọng phát triển Việt Nam giàu mạnh hùng cường lại càng mãnh liệt và sục sôi hơn bao giờ hết.
Để biến khát vọng thành hiện thực, chúng ta phải thấm sâu ý chí, khát vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhận rõ con đường phía trước, thấy được những khó khăn, thách thức, thuận lợi, thời cơ để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ chiến lược trong từng giai đoạn 5 năm, 10 năm, 20 năm, 30 năm tiến tới tầm nhìn năm 2045. Đây là sự chỉ đạo của Đảng có ý nghĩa lịch sử, đánh dấu bước phát triển mới của đất nước, định hướng tương lai, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước. Tầm nhìn cũng khẳng định đường lối chiến lược cách mạng, bảo đảm tính kế thừa và phát triển, tính liên tục xã hội ở nước ta; bảo đảm tính khoa học, khả thi và thực tiễn, là tâm huyết, trí tuệ, niềm tin của “ý Đảng, lòng dân”. Chiến lược phát triển tổng thể trong giai đoạn tới là phát triển nhanh, mạnh, bền vững, bảo đảm gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó chú trọng vào bốn trụ cột chính gồm: Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; bảo đảm quốc phòng an ninh là trọng yếu, thường xuyên./.


127


Ý CHÍ, KHÁT VỌNG GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC, XÂY DỰNG TỔ QUỐC VĂN MINH, CƯỜNG THỊNH, HẠNH PHÚC

 

    Tìm thấy con đường cứu nước sau khi tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, Nguyễn Ái Quốc khẳng định con đường cách mạng giải phóng dân tộc chỉ có thể là cuộc cách mạng vô sản. Nguyễn Ái Quốc ra sức tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin bằng nhiều cách: Tổ chức bồi dưỡng cán bộ, viết sách, báo… làm cho các tầng lớp nhân dân nhận thức đúng đắn về trách nhiệm tự giải phóng mình.
Ngày 3/2/1930, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam với cương lĩnh chiến lược: đánh đuổi đế quốc, đánh đổ phong kiến, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, đi lên chủ nghĩa xã hội. Sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trở về Tổ quốc cùng Trung ương Đảng lãnh đạo phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do. Cùng với việc phân tích, nắm vững thời cơ thế giới và trong nước, Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng phát huy vai trò, sức mạnh của nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang, động viên lực lượng của toàn dân. Tháng 8 năm 1945, khi thời cơ cách mạng xuất hiện, Hồ Chí Minh có thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa, Người nêu rõ: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dạy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(2). Hưởng ứng lời kêu gọi non sông của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả nước một lòng cùng nhau đứng dậy làm cuộc cách mạng Tháng Tám lay trời chuyển đất thành công, lập nên nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á do nhân dân làm chủ. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời là thành quả cuộc đấu tranh kiên cường của cả dân tộc Việt Nam do Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Đó là kết quả của ý chí tự lực tự cường, khát vọng độc lập tự do phát triển đất nước của Hồ Chí Minh được cả nước noi theo. Người khát vọng xây dựng đất nước giàu mạnh, độc lập, tự do, hạnh phúc cho tất cả mọi người dân. Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ vừa mới ra đời dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, thử thách, thế nước như ngàn cân treo sợi tóc. Đó là nạn đói, nạn dốt, giặc ngoại xâm… Chủ tịch Hồ Chí Minh lại một lần nữa thể hiện ý chí, nghị lực, bản lĩnh vượt qua những thử thách quyết liệt để thực hiện khát vọng giữ vững độc lập, tự do, hạnh phúc, phồn vinh dân tộc.
“Không có gì quý hơn độc lập tự do”; “Thà hy sinh tất cả chứ quyết không chịu mất nước” là ý chí, khát vọng của Người được hun đúc, bùng dậy từ truyền thống yêu nước hàng nghìn năm cũng như sức mạnh của mọi người dân toàn dân tộc Việt Nam kiên quyết đánh thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lãnh đạo kết hợp chặt chẽ kháng chiến và kiến quốc với ý chí, niềm tin, khát vọng: “Kháng chiến tất thắng, kiến quốc tất thành”.
Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng ta, bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã đuổi sạch bóng quân thù, thực hiện khát vọng Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng phồn vinh hạnh phúc. Từ một nước nông nghiệp, lạc hậu, nghèo nàn lại trải qua cuộc chiến tranh kéo dài, đi lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tư bản chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo Đảng và nhân dân ta tự lực, tự cường, cần cù, sáng tạo, tranh thủ sự hỗ trợ giúp đỡ của bạn bè, các nước đã có hình thức, bước đi thích hợp, vượt qua muôn vàn gian khó trở thành nước tiến bộ, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Tiếp theo việc thực hiện những tư tưởng của Người, Đảng và nhân dân ta tiến hành công cuộc đổi mới suốt hơn 35 năm qua đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Ý CHÍ, KHÁT VỌNG TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC

 

    Với ý chí, khát vọng lớn lao và tư duy sáng tạo, ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước bằng cách “xem người ta làm thế nào để rồi trở về giúp đồng bào mình”. Người đi tìm con đường đúng đắn, phù hợp, không cầu viện, thể hiện ý chí tự lực, tự cường, khát vọng lớn lao, tầm nhìn thời đại. Người ra đi với khát vọng lớn lao: “Tìm tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi”. Sau khi đi qua nhiều nước, thâm nhập cuộc sống, đấu tranh của các dân tộc bị chủ nghĩa đế quốc áp bức, Người rút ra kết luận: Trên thế giới hàng tỷ người này, các dân tộc, màu da khác nhau, ngôn ngữ khác nhau nhưng chỉ có hai hạng người đó là kẻ đi áp bức và người bị áp bức. Nguyễn Ái Quốc đứng về phía những người bị áp bức và bênh vực, bảo vệ họ.
Đi qua Pháp, Mỹ, Anh, rồi lại trở về Pháp, tại Paris, năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội Pháp, tìm hiểu về Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Ngày 18/6/1919, thay mặt những người yêu nước Việt Nam, Người gửi Bản yêu sách 8 điểm tới Hội nghị Versailles ký tên Nguyễn Ái Quốc, đòi những quyền tự quyết dân tộc là sự kiện thức tỉnh tất cả các dân tộc Đông Dương, làm rung động bầu trời đen tối Việt Nam bấy lâu nay.
Suốt mấy chục năm hoạt động sôi nổi, đầy gian khổ ở nước ngoài trong sự kham khổ, thiếu thốn, đe dọa ve vãn, lôi kéo, săn lùng, tù đầy của kẻ thù, Nguyễn Ái Quốc luôn sắt son một ý chí: “Cái tôi cần nhất trên đời là đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập. Người nhiều lần khẳng định: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”… Ý chí, khát vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phải thức tỉnh đồng bào, đánh thức toàn dân tự mình mà giải phóng cho ta; tự mình mà thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu.
Nguyễn Ái Quốc đọc được toàn văn tác phẩm “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin, Người sung sướng nhận thấy: “Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. Cùng với đó là kết quả hành trình trải nghiệm sâu sắc của Nguyễn Ái Quốc trong những hoạt động của Quốc tế Cộng sản, của Đảng Cộng sản Pháp, hâm mộ Cách mạng Tháng Mười Nga và nhiều hoạt động chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã quyết định: “Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: Trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”./.

Một số thủ đoạn hoạt động lợi dụng vấn đề “xã hội dân sự” để chống phá đất nước

 Thời gian gần đây, một số đối tượng cơ hội chính trị lợi dụng việc Đảng ta tiến hành lấy ý kiến đóng góp vào Dự thảo các văn kiện phục vụ Đại hội XIII để đưa ra nhiều quan điểm, ý kiến trái chiều, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc.

Trong đó, các đối tượng tích cực cổ súy, ca ngợi, hình tượng hóa vấn đề “xã hội dân sự”, yêu cầu Đảng ta phải có cơ chế khuyến khích “xã hội dân sự” phát triển, coi đây là một chiêu bài để hiện thực hóa chiến lược “diễn biến hòa bình” tại Việt Nam.

Thực tiễn cách mạng tại Liên Xô, Đông Âu và nhiều nước trên thế giới cũng như tại chính Việt Nam cho thấy các thế lực thù địch, chống đối đã sử dụng chiêu bài “xã hội dân sự” để tiến hành các hoạt động chống phá, tấn công nhằm làm thay đổi tình hình chính trị của quốc gia. Thủ đoạn chống phá dưới chiêu bài “xã hội dân sự” đã tạo ra những hệ quả vô cùng nghiêm trọng, là nguồn gốc thai nghén ra các cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”, bạo loạn lật đổ chính quyền tại không ít nơi.

Khái niệm “xã hội dân sự” (Civil Society) có nguồn gốc từ phương Tây. Một cách đơn giản, “xã hội dân sự” được hiểu là những hoạt động tập thể tự nguyện, được hình thành và vận hành trong không gian công cộng và tư nhân; tồn tại độc lập, dưới hình thức các tổ chức và thiết chế tự quản, nằm ngoài vùng ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố nhà nước, yếu tố thị trường và ngoài khu vực gia đình.

Tại Việt Nam, các tổ chức “xã hội dân sự” đang tồn tại dưới nhiều hình thức như: tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, nhân đạo, từ thiện, hữu nghị; các tổ chức cộng đồng theo dòng tộc, sở thích; các tổ chức dịch vụ công không phải do Nhà nước lập ra… Các tổ chức này hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự bảo đảm kinh phí, phi lợi nhuận, tuân thủ các quy định của pháp luật và tích cực phối hợp hoạt động với Nhà nước.

Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá Việt Nam, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, các thế lực thù địch, chống đối, cơ hội chính trị đang bóp méo, biến tướng vấn đề về “xã hội dân sự”, coi việc hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” là bước đầu để tập hợp lực lượng, thái nghén, sản sinh ra các tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản ngay trong lòng đất nước.

Điều này chúng ta có thể dễ dàng thấy được hoạt động của nhiều hội, nhóm núp bóng “xã hội dân sự” do các cá nhân, tổ chức chống đối, cơ hội chính trị ở trong và ngoài nước thành lập, điều hành, như: “Hội anh em dân chủ”, “Hội bầu bí tương thân”, “Hội nhà báo độc lập”, “Tổ chức xã hội dân sự”, “Viet Liberty” (Việt Nam Tự do), “Nhà xuất bản tự do”, “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam”…

Đặc biệt, các đối tượng chống đối không chỉ đơn thuần thành lập các hội, nhóm dưới bóng “xã hội dân sự” trong lòng Việt Nam, hoạt động một cách độc lập, riêng rẽ, mà đã có sự móc nối, câu kết chặt chẽ với nhiều tổ chức quốc tế thường xuyên có hoạt động chống phá Việt Nam như RSF (Phóng viên không biên giới), AI (Ân xá quốc tế), VOICE (Sáng kiến thể hiện lương tâm người Việt hải ngoại)…

Dưới vỏ bọc “xã hội dân sự”, các đối tượng thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tại Việt Nam; hình thành các hội nhóm, tổ chức để tập hợp lực lượng, tiến hành huấn luyện, đào tạo các phương thức hoạt động; tạo dựng lực lượng chống đối trong lòng đất nước, tiến đến các cuộc bạo loạn lật đổ theo hướng “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”.

Cần phải nhấn mạnh, “dân chủ” chỉ là vỏ bọc để các đối tượng đưa ra nhằm đánh lừa nhận thức của người dân. Mục tiêu của việc thúc đẩy cái gọi là “xã hội dân sự” tại Việt Nam là tạo ra con đường để hình thành các tổ chức, lực lượng chính trị đối lập với Đảng Cộng sản một cách công khai, hợp pháp. Từ đó, các đối tượng đưa Việt Nam đi vào con đường đa nguyên, đa đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản với Nhà nước và xã hội.

Khi tiến hành chống phá dưới chiêu bài “xã hội dân sự”, trước nhất các đối tượng ra sức cổ súy tính ưu việt, sự dân chủ của “xã hội dân sự” để đánh lừa nhận thức của người dân, cũng như hạ bệ vai trò của hệ thống chính quyền. Thời gian vừa qua, trước tình hình mưa lũ diễn ra tại miền Trung, cùng với lực lượng Công an, Quân đội và các cơ quan chức năng, có thể thấy nhiều cá nhân, tổ chức thiện nguyện đã tích cực tiến hành các hoạt động giúp đỡ, cứu trợ, khắc phục hậu quả mà thiên tai đã gây ra cho đồng bào bị ảnh hưởng.

Tuy nhiên, bất chấp việc các cơ quan chức năng đang vào cuộc một cách mạnh mẽ và quyết liệt, một số đối tượng lại phủ nhận sạch trơn vai trò của hệ thống chính quyền. Không ít đối tượng lợi dụng việc làm từ thiện của một số cá nhân, tổ chức trong xã hội để so sánh, đổ lỗi, trách móc chính quyền.

Các đối tượng này cố tình hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị; rêu rao luận điệu cho rằng các tổ chức “xã hội dân sự” hoạt động ưu việt và hiệu quả hơn nhiều so với các cơ quan công quyền. Từ đó, các đối tượng kích động sự hoài nghi, thiếu niềm tin vào Đảng trong một bộ phận quần chúng. Đặc biệt, không ít cá nhân, tổ chức chống đối, cơ hội chính trị cũng triệt để tận dụng vấn đề làm từ thiện trên để đánh bóng tên tuổi.

Đồng thời, các đối tượng tập trung tung ra luận điệu đòi tuyệt đối hóa sự “độc lập” của các tổ chức “xã hội dân sự”, đòi thúc đẩy thoát ly sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức “xã hội dân sự”. Với lý do “bảo vệ sự dân chủ”, các đối tượng cho rằng cần có sự tách bạch một cách tuyệt đối giữa “công” và “tư”, giữa nhà nước và xã hội dân sự. Thậm chí, các đối tượng này còn đưa ra quan điểm cho rằng, các tổ chức “xã hội dân sự” chỉ cần hoạt động theo tôn chỉ, mục đích, thỏa thuận của những người lập ra nó mà không cần tuân thủ theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình tiến hành chống phá, các tổ chức chống đối núp bóng “xã hội dân sự” không chỉ hoạt động đơn lẻ, cá biệt, mà có sự câu kết, móc nối với các cá nhân, tổ chức phản động, chống đối ngoài nước để cùng tiến hành công kích dưới hình thức “nội công, ngoại kích”. Các thế lực thù địch, chống đối, phản động ở nước ngoài trở thành chỗ dựa về tinh thần, nguồn viện trợ về vật chất cho các tổ chức trong nước.

Ngoài ra, các thế lực này dưới nhiều thủ đoạn khác nhau cũng tiến hành gây sức ép, đòi chúng ta thay đổi đường lối, chính sách, pháp luật, tạo điều kiện, nền tảng thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức chống đối trong nước hoạt động. Dưới sự chống lưng giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài, các hội, nhóm trong nước trực tiếp tiến hành các hoạt động chống phá, tấn công chính quyền, trở thành nơi tập hợp những thành phần bất hảo, hình thành lực lượng đối lập, sẵn sàng tiến đến bạo loạn lật đổ theo hình thức “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”.

Thông qua hình thức “xã hội dân sự”, lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do đóng góp ý kiến, các đối tượng thúc đẩy tư tưởng “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, hướng lái người dân hình thành tâm lý chống đối, phản kháng với chính quyền. Dưới danh nghĩa phản biện xã hội, đóng góp ý kiến, không ít đối tượng đã biến nó thành một diễn đàn để công khai các luận điệu xuyên tạc, công kích, chống phá chính quyền, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng.

Chúng ta không kỳ thị, không ngăn cản việc người dân lập hội, tham gia các tổ chức “xã hội dân sự”. Điều 25, Hiến pháp 2013 đã quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Tuy nhiên, tất cả các hội nhóm, đoàn thể đều phải tuân thủ nghiêm các quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam. Mọi hoạt động núp bóng thành lập “xã hội dân sự” để sản sinh ra các hội, nhóm chống đối đều là vi phạm, cần phải chấn chỉnh, loại bỏ.

Cảnh giác với một phương thức hoạt động chống phá nguy hiểm

 Thực tiễn các cuộc “cách mạng màu” ở một số nước không gian hậu Xô viết như: Gruzia (2003), Ucraina (2004), Kưrgưstan (2005)...; “Cách mạng hoa nhài” (“Mùa xuân Ả Rập”) ở một số nước Bắc Phi, Trung Đông cuối năm 2010, đầu năm 2011; “Cách mạng ô dù” ở Hồng Kông năm 2014; các cuộc biểu tình phản đối Dự luật Dẫn độ ở Hồng Kông, Trung Quốc năm 2019… cho thấy vai trò đặc biệt to lớn của “bất bạo động”.

Được sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch bên ngoài, các lực lượng đối lập, phần tử chống đối chính phủ tại các quốc gia này triệt để lợi dụng sự khủng hoảng, tình trạng mất ổn định chính trị, xã hội trong nước, thông qua hô hào sử dụng “bất bạo động” đã kích động, lôi kéo được hàng vạn người dân xuống đường biểu tình, bạo loạn, lật đổ chính phủ cầm quyền tại các nước này.

“Bất bạo động” được hình thành và phát triển mạnh mẽ trong những năm đầu của thế kỷ XX. Trên thế giới, Mahatma Gandhi được xem là người đầu tiên áp dụng phương thức đấu tranh này để giải phóng dân tộc Ấn Độ khỏi sự đô hộ của Anh. Đấu tranh “bất bạo động” cũng được biết đến từ cuộc nổi dậy của sắc dân da đen ở Mỹ đòi quyền bình đẳng, chống lại nạn kỳ thị, phân biệt chủng tộc, được lãnh đạo bởi mục sư Martin Luther King.

Ở nước ta, thuật ngữ “bất bạo động” được xuất hiện vào khoảng thập niên đầu của thế kỷ XX. Những tư tưởng ban đầu của phương pháp đấu tranh “bất bạo động” đã được nhà chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh tiến hành để đấu tranh chống lại thực dân Pháp xâm lược với phong trào Duy Tân. Phương thức hoạt động của phong trào là “bất bạo động”, công khai hoạt động nhằm khai hóa dân tộc, cải cách trên mọi lĩnh vực, khuyến khích giáo dục bỏ lối học từ chương, phát động phong trào học Quốc ngữ, mở mang công thương nghiệp, chấn hưng công nghiệp, bỏ mê tín dị đoan… Khẩu hiệu của phong trào lúc bấy giờ là “chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh”.

Tư tưởng ban đầu là như vậy, tuy nhiên gần đây, đặc biệt là sau khi hàng loạt các cuộc “cách mạng sắc màu” nổ ra tại một số nước không gian hậu Xô viết, với kịch bản được các thế lực thù địch áp dụng nhằm hậu thuẫn cho các lực lượng đối lập lật đổ chính quyền đương nhiệm tại các quốc gia này thì phương thức “bất bạo động” đã và đang được các thế lực thù địch, phản động triệt để sử dụng để chống phá Việt Nam với mục đích cuối cùng là lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta.

Vậy, “bất bạo động” là gì? Có thể hiểu, “bất bạo động” là thuật ngữ dùng để chỉ một phương thức hoạt động chống đối của các thế lực thù địch, phản động không sử dụng vũ khí, súng đạn mà sử dụng các thủ đoạn “bất hợp tác”, “bất phục tùng”, “bất tuân dân sự” kết hợp với sử dụng áp lực của quần chúng để gây áp lực với Đảng, Chính phủ, từ đó làm suy yếu, tiến tới lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền và chính phủ, nhà nước đương nhiệm ở các quốc gia.

Có thể nhận diện phương thức “bất bạo động” với những đặc trưng cơ bản sau:

Một là, “bất bạo động” là phương thức hoạt động không sử dụng vũ khí, súng, đạn mà sử dụng áp lực của quần chúng, từng bước làm suy yếu, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền và chính phủ, nhà nước đương nhiệm ở các quốc gia. Khác với phương thức bạo lực, vũ trang, “bất bạo động” là phương thức hoạt động chống đối không sử dụng vũ trang mà chủ yếu tập trung vào việc sử dụng sức mạnh của quần chúng để chống đối chính quyền, trên cơ sở hô hào, kích động quần chúng tẩy chay, bất hợp tác với chính quyền; kích động công nhân đình công, bãi công; lôi kéo, lừa bịp, kích động các giai tầng xã hội xuống đường tuần hành, biểu tình, gây áp lực với Đảng, Nhà nước, đòi thực hiện các yêu sách như: đòi Đảng cầm quyền từ bỏ vai trò lãnh đạo; đòi cải cách chính trị; phi chính trị hóa lực lượng vũ trang… từ đó làm suy yếu, tiến tới vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền, chính quyền đương nhiệm, lập nên chính quyền mới thân với các thế lực thù địch nước ngoài.

Hai là, tẩy chay, bất hợp tác với chính quyền, đưa chính quyền vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan” là những nội dung cơ bản của phương thức “bất bạo động”. Thực tiễn các cuộc “cách mạng màu” diễn ra tại một số nước trên thế giới thời gian qua cho thấy, những nội dung chính được các lực lượng đối lập, chống đối sử dụng trong đấu tranh “bất bạo động” là: 1) Bất tuân dân sự: Tức là người tham gia phương thức này có thể từ chối thực hiện những việc mà họ vẫn thường làm, hoặc bắt buộc phải làm theo yêu cầu của luật pháp (tẩy chay bầu cử, biểu tình, đình công, bãi thị, bãi khóa…). 2) Hành động một cách có chủ đích: Tức là người tham gia có thể thực hiện những việc mà họ thường không làm hoặc không được trông đợi sẽ làm, hoặc bị cấm thực hiện (tập hợp lực lượng, rải truyền đơn, kích động quần chúng xuống đường, chiếm trụ sở, bắt giữ cán bộ; tạo sự kiện, lấy cớ cho các tổ chức quốc tế, các nước phương Tây can thiệp...). 3) Thuyết phục và thương lượng: Đưa ra các điều kiện phù hợp với tình hình, từ thấp đến cao, đẩy chính quyền vào thế buộc phải dùng vũ lực, gây đổ máu, tạo cớ bên ngoài can thiệp buộc chính quyền phải nhượng bộ.

Nói cách khác, tẩy chay, bất hợp tác với chính quyền được thực hiện trong phương thức “bất bạo động” chủ yếu là tẩy chay, bất hợp tác về kinh tế (không tuân theo các quy định, luật lệ, pháp luật của nhà nước về kinh tế, công nhân đình công, doanh nghiệp dừng sản xuất, bãi thị đồng loạt, rút tiền khỏi ngân hàng, từ chối trả các lệ phí, từ chối nhận tiền của nhà nước…); bất hợp tác về chính trị (công khai từ chối ủng hộ nhà nước; viết và phát biểu kêu gọi chống đối; tẩy chay bầu cử; ngồi ăn vạ; bất hợp tác về tư pháp, phản ứng; cản trở các hệ thống thông tin và tin tức…); bất hợp tác xã hội (tẩy chay giao tiếp; sinh viên biểu tình, bất phục tùng dân sự, rút lui khỏi các định chế xã hội; ở nhà, tạo khu an toàn, tiêu thổ tập thể...)…

Ba là, đình công, biểu tình, tuần hành chống đối chính quyền là hình thức chủ yếu, đặc trưng chính của “bất bạo động”. Mục tiêu chính của các thế lực thù địch, phản động trong thực hiện phương thức “bất bạo động” là bằng những “chiến thuật” hòa bình trong đấu tranh chính trị để lật đổ chính quyền. Do đó, đình công, biểu tình, tuần hành là hình thức được chúng xác định mang lại hiệu quả cao nhất, ít thiệt hại nhất. Đồng thời, sử dụng các hình thức này, trong trường hợp chính quyền sử dụng vũ lực để đàn áp thì đó sẽ là điều kiện thuận lợi, là “cái cớ” để các thế lực thù địch bên ngoài lợi dụng can thiệp, gây sức ép, thậm chí sử dụng sức mạnh quân sự để tấn công.

Bốn là, “bất bạo động” đến một mức độ nhất định có thể chuyển thành “bạo động” khi có điều kiện, thời cơ. Về hình thức, “bất bạo động” được thể hiện thông qua các biện pháp “ôn hòa”, “dân sự”. Tuy nhiên, có thể thấy rằng, không phải bất cứ lúc nào, trong trường hợp nào “bất bạo động” cũng đều là ôn hòa, phi bạo lực. Khi “bất bạo động” đến một mức độ nhất định có thể chuyển thành “bạo động”. Nói cách khác, ranh giới giữa “bất bạo động” và “bạo động” là khá mong manh, có thể chuyển hóa cho nhau rất nhanh chóng.

Ở Việt Nam, thời gian gần đây được sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch nước ngoài, các tổ chức phản động lưu vong, số đối tượng chống đối cực đoan trong nước đang ra sức hô hào, tuyên truyền rộng rãi về phương thức “bất bạo động” trên các trang mạng xã hội; mở các lớp huấn luyện, đào tạo về “bất bạo động” cho số đối tượng chống đối, phản động; triệt để lợi dụng các vụ việc, sự kiện chính trị, xã hội phức tạp, nhạy cảm để lôi kéo, kích động, thu hút quần chúng tham gia vào các hoạt động trái pháp luật…

Các cuộc biểu tình phản đối Công ty Formosa Hà Tĩnh gây ô nhiễm môi trường xảy ra tại các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình năm 2016, 2017; các cuộc biểu tình phản đối Luật An ninh mạng và dự thảo Luật Đặc khu tại Bình Thuận, Bình Dương, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh… năm 2018… là những vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự mang bóng dáng của “bất bạo động”.

Có thể thấy rằng, “bất bạo động” là một phương thức hoạt động với những thủ đoạn “mềm dẻo” không bộc lộ trực tiếp và lộ liễu tính thách thức về chính trị và sự đối kháng với chính quyền. Điều này không chỉ giúp các đối tượng tránh được sự trấn áp của chính quyền mà còn gây ra nhiều khó khăn đối với công tác phát hiện, đấu tranh của lực lượng chức năng.

Nguy hiểm hơn nữa là nó có khả năng gây ra mơ hồ, ngộ nhận trong một bộ phận quần chúng và sự “ủng hộ” trong dư luận quốc tế và trong nước, dễ lừa bịp, lôi kéo sự tham gia của các tầng lớp xã hội, đặc biệt là đối với thanh niên, sinh viên, trí thức, văn nghệ sĩ, thậm chí kể cả cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị. Vì vậy, việc nhận diện bản chất của “bất bạo động” có ý nghĩa hết sức quan trọng…