Thứ Hai, 6 tháng 6, 2022

Tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong quân đội

 Công tác tư tưởng là bộ phận trọng yếu của công tác xây dựng Đảng, quyết định sinh mệnh của Đảng và sự thành bại của cách mạng. Tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội góp phần thống nhất về tư tưởng và hành động cho cán bộ, chiến sĩ, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, luôn là lực lượng trung thành, tin cậy để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, chế độ và nhân dân.
Thường xuyên yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao hiệu quả công tác này. Người chỉ rõ: “Công tác lãnh đạo tư tưởng là quan trọng nhất. Trong Đảng và ngoài Đảng có nhận rõ tình hình mới, hiểu rõ nhiệm vụ mới, thì tư tưởng mới thống nhất, tư tưởng thống nhất thì hành động mới thống nhất. Nếu trong Đảng và ngoài Đảng từ trên xuống dưới, từ trong đến ngoài đều tư tưởng thống nhất và hành động thống nhất thì nhiệm vụ tuy nặng nề, công việc tuy khó khăn phức tạp, ta cũng nhất định thắng lợi”(1). Ngược lại: “Nếu đảng viên tư tưởng và hành động không nhất trí, thì khác nào một mớ cắt rời, “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”; như vậy, thì không thể lãnh đạo quần chúng, không thể làm cách mạng”(2). Vì vậy, “Phải làm cho tư tưởng xã hội chủ nghĩa hoàn toàn thắng, tư tưởng cá nhân hoàn toàn thất bại”(3).

Thấm nhuần và vận dụng sáng tạo quan điểm đó, Đảng ta luôn chú trọng công tác tư tưởng và lãnh đạo công tác tư tưởng qua các giai đoạn cách mạng, nhằm khơi dậy và phát huy sức mạnh tinh thần trong giải quyết các nhiệm vụ chính trị của đất nước. Thông qua công tác tư tưởng nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng qua từng thời kỳ cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; qua đó, làm cho họ giác ngộ về thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản, hình thành niềm tin, lý tưởng, lẽ sống, nguyên tắc đạo đức, tình cảm cách mạng. Đồng thời, góp phần quan trọng vào nhiệm vụ giáo dục, bồi dưỡng, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách; cổ vũ, động viên tính tích cực, tự giác, sáng tạo của nhân dân, củng cố niềm tin, đề cao trách nhiệm cá nhân, sự đoàn kết, thống nhất, đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác tư tưởng là nhiệm vụ của toàn Đảng và hệ thống chính trị được tiến hành trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thấm sâu vào suy nghĩ và hành động của mỗi người dân, tạo hiệu ứng tích cực thúc đẩy sự ổn định và phát triển đất nước.

Công tác tư tưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam là một bộ phận công tác tư tưởng của Đảng, một mặt hoạt động cơ bản của công tác đảng, công tác chính trị, luôn giữ vai trò quan trọng nhằm bồi dưỡng phẩm chất, năng lực, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sĩ, góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Thấm nhuần quan điểm của Đảng, cấp ủy, chỉ huy các cấp luôn xác định công tác tư tưởng phải đi trước một bước, thể hiện vai trò tiên phong, giáo dục, định hướng nhận thức và hành động cho cán bộ, chiến sĩ; được tiến hành trên mọi lĩnh vực hoạt động của Quân đội, bảo đảm ở đâu có bộ đội ở đó có công tác tư tưởng. Tư tưởng thông thì dù khó khăn, gian khổ đến đâu bộ đội cũng quyết tâm vượt qua để hoàn thành nhiệm vụ được giao. 

Tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội góp phần nâng cao hiệu quả công tác quán triệt, giáo dục, động viên cán bộ, chiến sĩ tích cực nghiên cứu, học tập, nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ trong Quân đội, các quy định của đơn vị và yêu cầu đặt ra đối với phẩm chất, nhân cách, lối sống của người quân nhân cách mạng; đấu tranh ngăn chặn tư tưởng tiêu cực và hành động chống phá của các thế lực thù địch. Trên cơ sở đó, hình thành ý thức, văn hóa pháp luật, làm cho cán bộ, chiến sĩ tự giác ghép mình vào khuôn khổ, chấp hành nghiêm chế độ, nền nếp, rèn luyện tư thế, tác phong quân nhân, không vi phạm

Những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị đã lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị trong toàn quân làm tốt công tác lãnh đạo tư tưởng, được tiến hành trên mọi lĩnh vực hoạt động của Quân đội, bảo đảm công tác tư tưởng phải đi trước một bước; ở đâu có bộ đội ở đó có công tác tư tưởng và đạt được kết quả khá toàn diện. Hầu hết cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp có nhận thức đúng vai trò, tầm quan trọng của công tác tư tưởng; có nghị quyết chuyên đề lãnh đạo công tác này, với những chủ trương, giải pháp thiết thực, khả thi, hướng vào các nhiệm vụ trọng tâm, khâu then chốt, thời điểm dễ nảy sinh tư tưởng. Tập trung làm tốt công tác giáo dục chính trị, giáo dục pháp luật, chủ động, thường xuyên, thông qua nhiều tổ chức, lực lượng, kênh thông tin để nắm chắc tình hình đơn vị, diễn biến tư tưởng của bộ đội, kịp thời phát hiện và xử lý những vấn đề tư tưởng nảy sinh ngay từ cơ sở. Tiến hành rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy chế, quy định trên các lĩnh vực công tác, thực hiện nghiêm Quy chế Dân chủ ở cơ sở; kết hợp công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách; giữa giáo dục thuyết phục, cảm hóa với biện pháp hành chính, xử lý kỷ luật nghiêm minh; mở rộng dân chủ, tăng cường đối thoại, trao đổi, đáp ứng tâm tư, yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của cán bộ, chiến sĩ.

Đội ngũ cán bộ các cấp sâu sát đơn vị, cơ sở, nắm tâm tư, tình cảm, nguyện vọng cùng những trăn trở, suy tư của bộ đội để có biện pháp giáo dục, động viên, thuyết phục phù hợp; giải quyết hài hòa các mối quan hệ giữa lãnh đạo với chỉ huy, cấp trên với cấp dưới, cán bộ với chiến sĩ, không để đột biến về tư tưởng xảy ra. Tích cực đưa bộ đội tham gia hoạt động thực tiễn, phong trào Thi đua Quyết thắng và các phong trào, cuộc vận động, nhất là Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới” bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, có tác động tích cực đến nhận thức và hành động của cán bộ, chiến sĩ. Xây dựng môi trường văn hoá tốt đẹp, phong phú, lành mạnh; phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng, cơ quan, đơn vị, gia đình và địa phương cùng làm công tác tư tưởng,... Thực tiễn chỉ ra rằng, ở đâu, nơi nào cấp ủy, chỉ huy quan tâm đúng mức đến công tác lãnh đạo tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ thì nơi đó nội bộ đơn vị ổn định, mọi người “làm việc theo chức trách, hành động theo điều lệnh”, yêu thương, chia sẻ trách nhiệm, trên dưới một lòng, yên tâm xây dựng Quân đội; tỷ lệ vi phạm pháp luật, kỷ luật Quân đội giảm, không có các vụ việc nghiêm trọng, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đặt ra yêu cầu mới rất cao và toàn diện. Quân đội vừa đóng vai trò nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, vừa tích cực tham gia trên tuyến đầu phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ nhân dân; đồng thời, tích cực thực hiện điều chỉnh, tổ chức biên chế theo hướng tinh, gọn, mạnh. Trong khi đó, những yếu tố tiêu cực ngoài xã hội, sự chống phá của các thế lực thù địch hằng ngày, hằng giờ tác động, chi phối đến tình hình tư tưởng trong Quân đội, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chia rẽ tình đoàn kết quân - dân. Tình hình trên đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội, bảo đảm trong bất kỳ tình huống nào, cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn vững vàng về tư tưởng, chuẩn mực về hành động, trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Để tiếp tục tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội

Để tiếp tục tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tập trung thực hiện một số giải pháp trọng tâm sau:

Một là, phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng trong Quân đội.

Quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác tư tưởng, nhất là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X, “Về công tác tư tưởng, lý luận, báo chí trong tình hình mới”; những quan điểm mới về công tác tư tưởng mà Đại hội XIII của Đảng đã xác định; bám sát chức năng, nhiệm vụ, đối tượng quản lý, cấp ủy các cấp đưa nội dung lãnh đạo công tác tư tưởng vào nghị quyết nhiệm kỳ, hằng năm, nghị quyết chuyên đề và cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch cụ thể để tổ chức thực hiện, bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, giải quyết khâu yếu, mặt yếu, không để xảy ra đột biến về tư tưởng. Đồng thời, phân công các cấp ủy viên phụ trách, sâu sát cơ sở, thường xuyên báo cáo và chịu trách nhiệm trước cấp ủy về tình hình tư tưởng trong cơ quan, đơn vị. Phát huy vai trò của cơ quan chính trị, trực tiếp là cơ quan tuyên huấn các cấp trong tham mưu cho cấp ủy, chỉ huy chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng; đồng thời, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị tiến hành công tác tư tưởng theo các tình huống xảy ra trong thực tiễn. Phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp; cấp trên làm gương cho cấp dưới, cán bộ làm gương cho chiến sĩ, cán bộ, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu cả trong lời nói và hành động. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp thường xuyên bám nắm cơ sở, sâu sát thực tiễn, lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của bộ đội, giải quyết thấu tình, đạt lý những vấn đề bộ đội quan tâm, không để những bức xúc xảy ra, tích tụ từ sự việc nhỏ thành sự việc lớn; “xây” đi liền với “chống”, giáo dục đi liền với các biện pháp hành chính. Kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật kém, thoái thác nhiệm vụ, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện công tác lãnh đạo tư tưởng trong các cơ quan, đơn vị.

Hai là, tăng cường công tác giáo dục chính trị, giáo dục pháp luật, định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ.

Trước sự tác động mạnh mẽ của mặt trái nền kinh tế thị trường, truyền thông xã hội và sự tuyên truyền, kích động, chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp, nhất là cấp cơ sở cần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về sự cần thiết phải bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tình hình nhiệm vụ, đối tượng, đối tác, thực trạng về công tác tư tưởng trong tình hình hiện nay. Kết hợp giữa tuyên truyền, giáo dục pháp luật với giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, quán triệt nhiệm vụ, xây dựng động cơ phấn đấu đúng đắn, ý thức tự giác chấp hành pháp luật, kỷ luật của cán bộ, chiến sĩ. Trong quá trình tuyên truyền, giáo dục, chú ý định hướng tư tưởng, dư luận xã hội theo chiều hướng tích cực; phân tích, làm rõ nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm, những vấn đề có tính bản chất, quy luật, hệ thống để bộ đội hiểu rõ đúng sai; tích cực cổ vũ cái đúng, đấu tranh với cái sai, chủ nghĩa cá nhân, tiêu cực, làm cho hệ tư tưởng chủ đạo từng bước thẩm thấu, thống trị trong đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ. Thông qua giáo dục, định hướng tư tưởng hình thành cho cán bộ, chiến sĩ niềm tin, thế giới quan, phương pháp luận khoa học trong nhận định, đánh giá các vấn đề của cuộc sống xã hội, môi trường Quân đội. Từ đó, tự giác ghép mình vào khuôn khổ, tự xử lý những bức xúc cá nhân theo chiều hướng tích cực, hòa mình với tập thể, chấp hành nghiêm các chế độ quy định, không để những vụ việc đáng tiếc xảy ra. 

Ba là, đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp lãnh đạo công tác tư tưởng trong Quân đội.

Xuất phát từ đối tượng quản lý, giáo dục, lãnh đạo công tác tư tưởng phong phú, đa dạng, trên nhiều lĩnh vực của môi trường Quân đội, nên đòi hỏi công tác lãnh đạo tư tưởng, quản lý kỷ luật phải được tiến hành hết sức khoa học, bài bản, chặt chẽ, đồng bộ ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực, theo đúng quy trình các bước, phù hợp với đối tượng, địa bàn, nhiệm vụ của từng lực lượng. Nội dung lãnh đạo công tác tư tưởng phải toàn diện, song phải có trọng tâm, trọng điểm, hướng tới đối tượng đặc thù nhằm đạt được mục tiêu cao nhất là cán bộ, chiến sĩ toàn quân thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động, trên dưới một lòng, tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn, chia ngọt sẻ bùi, phát huy sức mạnh tổng hợp vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Để làm được điều đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tiếp tục nghiên cứu, đổi mới tư duy, hình thức, biện pháp lãnh đạo tư tưởng, quản lý, giáo dục pháp luật của Nhà nước, kỷ luật Quân đội theo hướng thiết thực, hiệu quả; bám sát phương châm “4 không”, “3 có”, “3 nên”(4) và 5 khâu tiến hành công tác tư tưởng: Dự báo, quản lý, định hướng, đấu tranh và xử lý tư tưởng nảy sinh. Thực hiện hiệu quả Đề án đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới; thông báo kịp thời, có chọn lọc các vụ vi phạm pháp luật, kỷ luật Quân đội, trên cơ sở đó định hướng tư tưởng, rút kinh nghiệm cho bộ đội. Kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách, giữa giáo dục thuyết phục với biện pháp hành chính, lấy giáo dục, thuyết phục phòng ngừa vi phạm là chính.

Bốn là, đẩy mạnh xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, môi trường văn hóa phong phú, lành mạnh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội.

Con người là sản phẩm của hoàn cảnh, nhân cách của mỗi cá nhân được hình thành trong các mối liên hệ xã hội, nên muốn có một con người tốt phải tạo ra môi trường, hoàn cảnh tiêu biểu về lối sống có văn hóa, kỷ cương, thân thiện, cùng nỗ lực phấn đấu cho mục tiêu chung. Để tư tưởng bộ đội ổn định vững chắc, cần tiếp tục thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu” gắn với xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, các tổ chức quần chúng vững mạnh. Trong đó, tập trung xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ về bản lĩnh chính trị, ý chí quyết tâm, đạo đức, lối sống, văn hóa, ý thức pháp luật, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tinh thần vượt qua khó khăn, thử thách để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Duy trì nghiêm nền nếp, chế độ công tác, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, thực hành dân chủ; giải quyết hài hòa các mối quan hệ giữa lãnh đạo với chỉ huy, cấp trên với cấp dưới, cán bộ với chiến sĩ, chiến sĩ cũ với chiến sĩ mới, tạo đời sống văn hóa lành mạnh trong các cơ quan, đơn vị. Đẩy mạnh phong trào Thi đua Quyết thắng và các phong trào, các cuộc vận động trong toàn quân, trọng tâm là Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới”, bằng nhiều mô hình sáng tạo, phù hợp, có sức lan tỏa mạnh mẽ, tác động trực tiếp đến nhận thức, hành động của bộ đội. Tích cực xây dựng môi trường văn hóa quân sự phong phú, lành mạnh, thực sự là nơi để bộ đội gửi gắm tình cảm, niềm tin và sự khát khao cống hiến. Thường xuyên chăm lo, bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện tốt chính sách hậu phương Quân đội để bộ đội yên tâm công tác, gắn bó, tâm huyết với môi trường Quân đội.

Năm là, phát huy sức mạnh tổng hợp nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

 Công tác tư tưởng là công tác của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, trực tiếp là của bí thư cấp ủy. Thực tiễn chỉ ra rằng, đồng chí bí thư cấp ủy nào nắm chắc chức trách, nhiệm vụ, vai trò, có phương pháp tiến hành công tác tư tưởng khoa học, phù hợp, biết phát huy sức mạnh tổng hợp trong tiến hành công tác này thì hiệu quả sẽ cao hơn, tình hình tư tưởng trong cơ quan, đơn vị ổn định, không có đột biến xảy ra và ngược lại công tác tư tưởng sẽ không đạt như mong muốn. Trước hết, cần phát huy vai trò của cấp ủy, chỉ huy các cấp thông qua việc xác định chủ trương, biện pháp, kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, tính khả thi cao; “xây” đi liền với “chống”; phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị với gia đình, địa phương để làm công tác tư tưởng; thường xuyên bám sát cơ sở, bộ đội để điều chỉnh cách thức lãnh đạo cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp cơ sở tăng cường bám nắm bộ đội, sâu sát với quần chúng để nắm tâm tư, nguyện vọng, những bức xúc trong cuộc sống để động viên, giải quyết kịp thời, không để đột biến xảy ra. Cùng với đó, cần phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng, Hội đồng quân nhân trong thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở, thực hiện công khai, công bằng trên mọi lĩnh vực hoạt động; đề cao trách nhiệm của các quân nhân, hội viên, đoàn viên trong xây dựng đơn vị, động viên, giúp đỡ lẫn nhau trong công việc cũng như trong cuộc sống. Đồng thời, phải kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, góp phần bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Thực tiễn luôn vận động, phát triển nên công tác lãnh đạo tư tưởng trong quản lý, giáo dục pháp luật của Nhà nước, kỷ luật Quân đội cho cán bộ, chiến sĩ cũng phải có sự điều chỉnh cho phù hợp. Làm tốt công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận đúc rút ra những kinh nghiệm hay, mô hình tiêu biểu tạo sức lan tỏa sâu rộng trong toàn quân, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác lãnh đạo tư tưởng đối với cán bộ, chiến sĩ.  

Tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội là nội dung hết sức quan trọng, quyết định kết quả xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao sức mạnh chiến đấu, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Vì vậy, các cấp cần nhận thức sâu sắc vai trò, tầm quan trọng của công tác này để quán triệt, triển khai thực hiện hiệu quả trong thực tiễn, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống

KTXH tháng 5 năm 2020 tiếp tục khởi sắc và phục hồi mạnh mẽ

 


Thông tin về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 5/2022 sáng cùng ngày (4/6), dưới sự chủ trì của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, các thành viên Chính phủ thống nhất nhận định, tiếp nối đà phục hồi và phát triển của những tháng đầu năm, tình hình KTXH tháng 5 tiếp tục khởi sắc, cho thấy khí thế phục hồi mạnh mẽ trên các lĩnh vực; cả ba khu vực đều tăng trưởng. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát trong bối cảnh chịu nhiều sức ép. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5 tăng 0,38% so với tháng 4, bình quân 5 tháng tăng 2,25% so với cùng kỳ (cao hơn mức tăng của năm 2021 nhưng thấp hơn mức tăng giai đoạn 2017-2020); thị trường tài chính, tiền tệ cơ bản ổn định; các cân đối lớn, an ninh lương thực, năng lượng được bảo đảm.

Thu đủ chi: Thu NSNN ước đạt 57,1% dự toán, tăng 18,7% cho thấy sự cố gắng của chúng ta trong bối cảnh lạm phát, lãi suất, giá dầu và nhiều hàng hóa thiết yếu trên thế giới gia tăng. Xuất đủ nhập. Xuất khẩu 5 tháng tăng 16,3%, nhập khẩu tăng 14,9%, xuất siêu khoảng 516 triệu USD. Làm đủ ăn; an ninh lương thực được bảo đảm; sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản tháng 5 ổn định và có phần tăng trưởng; thị trường tiêu thụ sản phẩm nông sản, lâm sản, thủy sản được khơi thông, mở rộng. An ninh năng lượng được bảo đảm; cung ứng đủ điện cho sản xuất kinh doanh và sinh hoạt của người dân, doanh nghiệp. Cung ứng lao động cơ bản đáp ứng nhu cầu. Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,4% so với tháng trước và tăng 4,4% so cùng kỳ.

- Khởi sự doanh nghiệp tiếp tục nở rộ; trong 5 tháng có gần 100.000  DN thành lập mới và quay trở lại thị trường, gấp 1,4 lần số doanh nghiệp rút rui.  

- Công tác an sinh xã hội được quan tâm; bảo đảm an sinh xã hội cho hàng chục triệu người. Gói hỗ trợ của Chính phủ đạt trên 81 nghìn tỷ đồng cho gần 729.000 lượt người sử dụng lao động và gần 50 triệu lượt người lao động và các đối tượng khác (theo Nghị quyết 68, 126, 116; Quyết định 23, 28). Các hoạt động vui chơi giải trí, văn hóa nghệ thuật từng bước trở lại bình thường. Đặc biệt, SEA Games 31 được tổ chức chu đáo, an toàn, thành công trên nhiều mặt, đoàn Việt Nam dẫn đầu các nước và phá kỷ lục về số lượng huy chương vàng.

- Trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; quốc phòng, an ninh được giữ vững; các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế diễn ra sôi động, hiệu quả với nhiều đề xuất phù hợp, thể hiện chính kiến của Việt Nam đối với các vấn đề quốc tế.

- Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được đẩy mạnh. Các cơ quan vào cuộc tích cực, tăng cường xử lý các vụ án về thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, bất động sản. Cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh được đẩy mạnh; cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đã được kết nối và ứng dụng hiệu quả.

- Việt Nam được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá tích cực về: dự báo tăng trưởng kinh tế; Chỉ số phục hồi COVID-19; chỉ số năng lực phát triển của ngành du lịch; xếp hạng tín nhiệm quốc gia; về chỉ số thu hút đầu tư; chỉ số hài lòng đối với các dịch vụ công...

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính khẳng định, những kết quả đạt được trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm là rất đáng mừng, tạo niềm tin và nền tảng để tiếp tục phục hồi nhanh, phát triển bền vững KTXH. Có được kết quả này là nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, sáng suốt của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị; sự giám sát, đồng hành của Quốc hội; sự điều hành quyết liệt của Chính phủ và chính quyền các cấp; sự đồng tình, ủng hộ và tham gia tích cực của người dân, doanh nghiệp, sự hỗ trợ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế NTM ./.

 

 

Việt Nam đang có vị trí rất tốt, tương lai tươi sáng

 


Ông Yoshiki Takeuchi, Phó Tổng Thư ký Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đánh giá nhờ các chính sách quản lý dịch bệnh rất linh hoạt, Việt Nam là một trong số rất ít quốc gia trên thế giới đã duy trì được tăng trưởng dương năm 2020. 

Năm 2021, do biến chủng mới Delta lây lan rất nhanh, Việt Nam đã buộc phải áp dụng các biện hành chính nghiêm khắc và sau đó chuyển hướng kịp thời về thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh, nhờ chương trình tiêm chủng hết sức hiệu quả và thành công.

Nhắc tới những rủi ro của kinh tế Việt Nam do tác động từ tình hình thế giới, trong khi độ mở của nền kinh tế Việt Nam rất lớn, ông Yoshiki Takeuchi khẳng định OECD sẽ tích cực hỗ trợ Việt Nam quản trị các rủi ro này.

Đánh giá Việt Nam đang tích cực và cơ bản thực hiện hiệu quả các khuyến nghị quản lý rủi ro của OECD, Phó Tổng Thư ký OECD đề cập một số vấn đề như cải cách doanh nghiệp nhà nước, thúc đẩy hơn nữa sự tham gia của người dân vào quá trình xây dựng chính sách… để Việt Nam có thể tiếp tục tăng trưởng kiên cường và bền vững hơn nữa trong thời gian tới. 

Ông Andrew Jeffries, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam nhận định Việt Nam đang có vị trí rất tốt, tương lai tươi sáng, với các chiến lược, mục tiêu, chính sách tốt đã có và việc thực thi là vấn đề mấu chốt. 

Trong đó, Giám đốc ADB tại Việt Nam nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì nợ công ở mức quản lý được và chính sách tài khóa phù hợp để đề phòng các bất trắc có thể xảy ra NTM./.

 

Chính phủ Việt Nam đã thể hiện bản lĩnh kiên cường, năng lực điều hành

 


Theo PGS.TS. Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam đánh giá thế giới đang trải qua một giai đoạn đầy rủi ro, bất trắc, đang cấu trúc lại. Trong bối cảnh đó, những phát biểu của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Hoa Kỳ về nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập thực chất, hiệu quả đã cho thấy nhiều bài học lớn.

Trước hết, ông Trần Đình Thiên nhắc tới bài học về toàn cầu hóa, liên kết để cùng tồn tại, như phát biểu của Thủ tướng là không quốc gia nào còn an toàn khi quốc gia khác còn phải chống dịch, không người dân nào an toàn khi có người khác còn nhiễm bệnh.

Cùng với đó là bài học về "luật chơi", không thể "một mình một chợ" hay tự cô lập trong thế giới toàn cầu hóa; bài học "lợi thế đi sau", tích cực triển khai kinh tế số và công nghệ cao, chuyển đổi số; bài học chuẩn bị năng lực đón đầu xu thế di chuyển các chuỗi sản xuất.

Để Việt Nam trụ hạng trong bối cảnh "giông bão" vừa qua, Chính phủ đã thể hiện bản lĩnh kiên cường, năng lực điều hành linh hoạt, nhạy bén, quyết đoán trong chính sách và quyết liệt hành động. 

Điển hình, PGS.TS .Trần Đình Thiên nhắc tới việc đích thân Thủ tướng đi vào các tâm dịch, các trung tâm kinh tế lớn để hỗ trợ, thúc đẩy kinh tế trong bối cảnh khó khăn. Việc chống dịch nhưng không làm đứt chuỗi nền kinh tế thị trường và mở cửa; tránh phương thức quản lý mệnh lệnh hành chính và cơ chế xin – cho…NTM./.

 

Việt Nam chưa mạnh nhưng có tầm nhìn, khát vọng, năng lực chớp thời cơ, có nền tảng tốt cho phát triển

 


Theo các chuyên gia kinh tế thế giới đánh giá chương trình phục hồi và phát triển mà Chính phủ đang triển khai không chỉ có ý nghĩa sau đại dịch mà còn trong thời điểm Việt Nam có thể tận dụng thời cơ để bứt lên. 

Việt Nam chưa mạnh nhưng có tầm nhìn, khát vọng, năng lực chớp thời cơ, có nền tảng tốt cho phát triển. Nền kinh tế có đà, có thế, có khát vọng để vươn dậy.

"Hoàn cảnh không bình thường thì tư duy và giải pháp phải khác thường", vị chuyên gia kinh tế nói. Khủng hoảng năng lượng, biến đổi khí hậu cũng là cơ hội để Việt Nam thực hiện cuộc chuyển đổi mạnh mẽ về phát triển xanh, chuyển đổi năng lượng.

Bên cạnh đó, chúng ta vẫn phải giải quyết những lo ngại về lạm phát đồng thời với việc bảo đảm tín dụng cho nền kinh tế; thúc đẩy giải ngân hiệu quả đầu tư công…NTM./.

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước về đất đai

 


Hiện đại hoá công tác quản lý đất đai và dịch vụ công về đất đai. Củng cố, hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy quản lý đất đai một cách tập trung, đồng bộ, thống nhất. Nâng cao vai trò và năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan tư pháp trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai.

Đất đai phải được điều tra, đánh giá, thống kê, kiểm kê, lượng hoá, hạch toán đầy đủ trong nền kinh tế; được quy hoạch sử dụng hợp lý, với tầm nhìn dài hạn, hài hoà lợi ích giữa các thế hệ, các vùng, miền, giữa Trung ương và địa phương; giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu; bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Giải quyết tốt những bất cập, vướng mắc trong việc quản lý và sử dụng đất do lịch sử để lại và từ yêu cầu mới đặt ra của thực tiễn.

Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, trên cơ sở thống nhất về nhận thức, quán triệt đầy đủ, sâu sắc những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo nêu trên, Hội nghị Trung ương lần này đã đi sâu phân tích, đánh giá và thống nhất cao về các giải pháp, chủ trương, định hướng tiếp tục đổi mới, hoàn thiện và tổ chức thực hiện tốt hơn nữa luật pháp, chính sách về đất đai, trước hết là sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2013 và các luật pháp có liên quan để khắc phục những hạn chế, yếu kém tồn tại kéo dài lâu nay, đặc biệt là những hạn chế, yếu kém liên quan đến công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất; hỗ trợ, bồi thường, tái định cư, thu hồi đất; chính sách tài chính đất đai và xác định giá đất; chế độ quản lý và sử dụng đất nông nghiệp; đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh, đất dành cho việc thờ tự, tôn giáo, nghĩa trang, nghĩa địa; quản lý nhà nước về đất đai...

Đồng thời, Trung ương nhấn mạnh, trong quá trình tổ chức thực hiện, cần thường xuyên tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và toàn dân để tạo sự đồng thuận, đưa chính sách, pháp luật về đất đai thực sự đi vào cuộc sống NTM./.

 

Trung ương thống nhất cao việc ban hành Nghị quyết mới về quản lý, sử dụng đất đai

 


Trung ương cho rằng, cần phải kế thừa, bổ sung, phát triển Nghị quyết Trung ương 6 khóa XI theo hướng tiếp tục khẳng định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự án phát triển kinh tế - xã hội theo luật định, bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch.

Quản lý và sử dụng đất phải bảo đảm lợi ích chung của toàn dân; nhân dân được tạo điều kiện tiếp cận, sử dụng đất một cách công bằng, hiệu quả và bền vững. Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo lãnh thổ quốc gia, cả về diện tích, chất lượng, giá trị kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, môi trường; phân công hợp lý giữa các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương, đồng thời có sự phân cấp, phân quyền phù hợp, có hiệu quả đối với các địa phương.

Quyền sử dụng đất là quyền sử dụng một loại tài sản và hàng hoá đặc biệt nhưng không phải là quyền sở hữu; quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được pháp luật bảo hộ. Người sử dụng đất có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được Nhà nước giao cho các tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai; không đặt vấn đề điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình, cá nhân; có chính sách để đất nông nghiệp được sử dụng một cách có hiệu quả cao nhất NTM./.

 

 

MƯU ĐỒ THỦ ĐOẠN “BẺ LÁI” NHẬN THỨC VÀ DƯ LUẬN XÃ HỘI VỚI MỤC ĐÍCH XẤU

 

Một trong những thủ đoạn mà chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch tiến hành là “bẻ lái” nhận thức và dư luận xã hội vào ý đồ xấu xa của chúng. Có thể thấy điều đó trong một số bài viết mới đây đăng trên trang “lề trái”. Nói “bẻ lái” vì họ đã cố tình lờ đi sự hiến định của Hiến pháp và các quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp của nước ta.

Họ cho rằng: “Dù Hiến pháp quy định người dân được trực tiếp bầu đại diện cho Quốc hội và các cơ quan nhà nước, nhưng hệ thống pháp luật, thông qua nhiều “chiêu” và “võ” đời thường, cả công khai lẫn bí mật, đã thiết lập nên sự độc tôn về quyền lực chính trị cho Đảng Cộng sản Việt Nam và dàn dựng bằng nhiều cách để giám sát hầu hết mọi sinh hoạt xã hội”(!).

Hiến pháp hiện hành của Việt Nam (Hiến pháp 2013) đã hiến định quyền dân chủ trong bầu cử của công dân tại Ðiều 27: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND”. Như vậy, mọi người Việt Nam không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, vùng miền, nghề nghiệp, địa vị xã hội, giới tính đều có quyền bình đẳng như nhau, được tự do tham gia ứng cử nếu trên 21 tuổi và bầu cử nếu trên 18 tuổi. Chỉ những người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án, người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo, người mất năng lực hành vi dân sự mới không được ghi tên vào danh sách cử tri1.

Vì thế, trong nhiều khóa Quốc hội trở lại đây, các đại biểu tự ứng cử, các đại biểu là người ngoài Đảng trúng cử ngày càng cao và đã có nhiều đóng góp quan trọng cho hoạt động lập pháp của Quốc hội. Thậm chí, có những đại biểu tự ứng cử 3, 4 nhiệm kỳ mà vẫn đạt số phiếu tín nhiệm cao. Đây chính là minh chứng rõ ràng nhất cho tính minh bạch, dân chủ và không cản trở gì người tự ứng cử và người ngoài Đảng ứng cử. Bởi bầu cử ở Việt Nam thực hiện nghiêm bốn nguyên tắc: Phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

Việc thực hiện bốn nguyên tắc bầu cử nói trên là một nét ưu việt của chế độ dân chủ trong bầu cử ở Việt Nam. Vì thế, qua 15 kỳ bầu cử từ năm 1946 đến nay, nhiều người tự ứng cử đã được lựa chọn, đưa vào danh sách chính thức, như: bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII năm 2011 có 82 người tự ứng cử; bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV năm 2016 có 162 người tự ứng cử; bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, số người tự ứng cử gấp đôi số người tự ứng cử khóa XIV và nhiều người đã trúng cử. Thực tiễn trên đã bác bỏ sự “bẻ lái” nhằm mục đích xấu của họ.

Họ còn cho rằng: “Chỉ riêng đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, trong 92 năm tồn tại của mình, chưa hề bị điều chỉnh bởi bất cứ một bộ luật nào, Đảng đứng trên mọi luật pháp” (!). Vậy là họ lại lờ đi vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội đã được hiến định tại khoản 1, Điều 4 Hiến pháp Việt Nam năm 2013: “1. Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.

Đồng thời, họ lờ đi trách nhiệm của Đảng và mỗi đảng viên là hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật, lấy phục vụ nhân dân làm mục đích tối thượng. Điều này cũng được hiến định tại Điều 4 Hiến pháp 2013 ở khoản 2, 3. Cụ thể: “2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”. Và “3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Đảng xác định, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật là một trong những nguyên tắc hoạt động của mình.

Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền nên Đảng xây dựng Nhà nước, tổ chức ra hệ thống chính trị, nhưng không làm thay Nhà nước. Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhà nước ban hành Hiến pháp và pháp luật để quản lý toàn xã hội. Đảng là một tổ chức chính trị trong xã hội, cho nên hoạt động của Đảng phải tuân theo những quy định chung của Hiến pháp và pháp luật. Đảng cũng là một thành viên của hệ thống chính trị, nhưng có vai trò lãnh đạo các tổ chức của hệ thống chính trị, trong đó có Nhà nước.

Đảng lãnh đạo Nhà nước không phải bằng mệnh lệnh hành chính, mà bằng cương lĩnh, quan điểm, đường lối, bằng công tác cán bộ và hoạt động của tổ chức đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong các cơ quan nhà nước. Trong quá trình lãnh đạo, Đảng phải thực hiện nguyên tắc hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Do vậy, tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, dù ở bất kỳ cương vị nào cũng phải gương mẫu, tự giác, nghiêm túc thực hiện các quy định của Hiến pháp, pháp luật; có trách nhiệm vận động quần chúng thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”2. Ấy thế mà họ nói Đảng Cộng sản Việt Nam chưa hề bị điều chỉnh bởi bất cứ một bộ luật nào, Đảng đứng trên mọi luật pháp chẳng phải là sự “bẻ lái” sao!

Họ không thừa nhận Hiến pháp - “văn kiện chính trị pháp lý quan trọng vào bậc nhất sau Cương lĩnh của Đảng”. Bởi họ đã lờ đi khoản 1, Điều 4 Hiến pháp 2013 xác định: Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Với Đảng ta, Cương lĩnh chính trị là cơ sở thống nhất ý chí và hành động của toàn Đảng, là ngọn cờ tập hợp, cổ vũ các lực lượng xã hội phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng, nên Cương lĩnh là văn bản “pháp lý” cao nhất của Đảng.

Quá trình lãnh đạo thực hiện cơ cấu Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ để vừa phân biệt rõ về nội dung, chức năng, nhiệm vụ, vừa có quan hệ hữu cơ với nhau, hợp thành một chỉnh thể thống nhất. Qua đó cho thấy, vị trí của các nhân tố đó không ngang bằng nhau; trong đấy, Đảng giữ vị trí quan trọng nhất - vị trí lãnh đạo, các thành viên khác (trong đó có Nhà nước) phải phục tùng sự lãnh đạo của Đảng.

Như vậy, văn bản pháp lý cao nhất của Nhà nước là Hiến pháp phải phục tùng văn bản pháp lý cao nhất của Đảng là Cương lĩnh. Cho nên nói Hiến pháp - “văn kiện chính trị pháp lý quan trọng vào bậc nhất sau Cương lĩnh của Đảng” là hoàn toàn có cơ sở pháp lý, cơ sở khoa học. Thế mà họ hòng “bẻ lái” nhận thức và dư luận xã hội nhằm mục đích xấu.

Nguyễn Văn – Báo Biên phòng

1. Ðiều 30, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HÐND năm 2015.

2. Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 15, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 611 - 612.


 

Freedom House lại xuyên tạc tình hình dân chủ ở Việt Nam

Vừa qua, tổ chức Freedom House tung ra cái gọi là “Báo cáo bảo vệ nền dân chủ khi sống lưu vong”. Nội dung của báo cáo có nhiều thông tin bịa đặt, sai trái về tình hình thực tế tại Việt Nam.

Có tình trạng lợi dụng dân chủ để chống đối, xuyên tạc gây mất ANTT

Freedom House không còn là cái tên xa lạ. Theo tuyên bố được đưa ra, mục đích hoạt động của Freedom House là ủng hộ sự tiến bộ và thúc đẩy, mở rộng tự do, dân chủ trên toàn thế giới. Hằng năm, tổ chức này xây dựng và công bố các báo cáo như: Báo cáo tự do trên thế giới, báo cáo tự do trên mạng, báo cáo tự do và truyền thông… Tuy nhiên, nhiều năm qua, những thông tin mà tổ chức này nêu ra liên quan đến nhiều nước, trong đó có Việt Nam lại sai lệch thực tế, mang động cơ tiêu cực về chính trị.

Vẫn như thường lệ, nội dung của cái gọi là “Báo cáo bảo vệ nền dân chủ khi sống lưu vong” được Freedom House tung ra hôm 2/6 tiếp tục là những thông tin sai sự thật, vu cáo về tình hình tự do, dân chủ ở Việt Nam. Tổ chức này vu cáo rằng, Việt Nam là một trong số các quốc gia “thực hiện đàn áp xuyên quốc gia nhằm bịt miệng người đấu tranh ngay cả khi họ rời quê hương”; “tiến hành tấn công mạng vào các tổ chức hỗ trợ người Việt tị nạn và thúc đẩy nhân quyền”; “quấy rối, cấm xuất cảnh hoặc bị tịch thu hộ chiếu đối với các “nhà dân chủ” chỉ vì họ báo cáo vi phạm nhân quyền của Chính phủ lên các cơ chế nhân quyền Liên hiệp quốc”?!...

Ngay sau đó, một số trang báo nước ngoài có tư tưởng thù địch hoặc cái nhìn thiếu thiện cảm với Việt Nam cùng các kênh truyền thông do các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị điều hành đã nhanh chóng khai thác, lan truyền những nội dung sai lệch trên để làm nhiễu loạn thông tin, bóp méo sự thật, tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Thực ra, đây là chiêu trò cũ lặp lại của Freedom House. Tổ chức này liên tục xếp Việt Nam vào nhóm các quốc gia không có quyền tự do, dân chủ. Việc đánh giá, xếp hạng của Freedom House không căn cứ vào những tài liệu chính thống, không dựa vào tình hình đời sống thực tế của người dân ở Việt Nam.

Thay vào đó, tổ chức này bắt tay với các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị người Việt Nam ở trong và ngoài nước cùng các cá nhân, tổ chức nước ngoài có định kiến với Việt Nam để tiến hành phỏng vấn, thu thập thông tin, từ đó vu khống Việt Nam xâm phạm các quyền tự do, dân chủ.

Hoạt động của Freedom House thể hiện rõ sự định kiến, thù địch đối với Việt Nam. Tổ chức này luôn luôn đánh đồng, quy chụp rằng trong chế độ chính trị một đảng lãnh đạo là không có tự do, không có dân chủ, không có nhân quyền. Không riêng Việt Nam, nhiều quốc gia khác cũng liên tục bị Freedom House cho vào “tầm ngắm”.

Mục đích của tổ chức này là thông qua chiêu bài dân chủ, nhân quyền để tấn công, can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác. Trong một bài trả lời phỏng vấn VTV, ông Yerlan Baizhanov - Đại sứ Kazakhstan tại Việt Nam đã đánh giá: “Có những tổ chức nhân quyền có tư tưởng rất cứng nhắc, phiến diện. Họ bị chi phối bởi tham vọng chính trị. Họ không chú ý đến sự khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, văn hóa. Khi lập báo cáo, họ thường bị yếu tố chính trị và định kiến chi phối. Chúng ta sống và làm việc không phải để làm hài lòng những tổ chức như Freedom House mà Nhà nước của chúng ta hoạt động để người dân có cuộc sống tốt lên trên thực tế. Đó mới là điều quan trọng nhất”.

Phải khẳng định rõ, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của người dân. Các chính sách phát triển con người được thực hiện một cách đồng bộ và toàn diện, từ xoá đói giảm nghèo đến phát triển giáo dục, y tế, lao động, việc làm.

Đây là cơ sở, nền tảng quan trọng để tất cả mọi người trong xã hội tiếp tục thừa hưởng, thực hiện các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội một cách toàn diện, sâu sắc, có chất lượng, thực chất và hiệu quả hơn. Không chỉ riêng Việt Nam mà với tất cả các nước trên thế giới, nếu muốn đánh giá về sự tự do, dân chủ, nhân quyền thì chắc chắn phải dựa vào ý kiến của đại đa số người dân của đất nước đó.

Việc một số cá nhân, tổ chức như Freedom House không ở Việt Nam, không nhìn nhận bằng các khảo sát khách quan nhưng lại liên tục đưa ra đánh giá, phán xét về Việt Nam với gam màu xám cho thấy rõ chiêu trò quy chụp, và vì thế hiển nhiên không đủ độ tin cậy. 

Hiện nay Việt Nam là 1 trong 20 nước có tỉ lệ sử dụng Internet nhiều nhất thế giới với khoảng 70 triệu người dùng (chiếm gần 70% dân số). Vì vậy, nếu không có tự do, không có dân chủ, không có nhân quyền thì chính người dân Việt Nam sẽ lên tiếng, đấu tranh bảo vệ các quyền của bản thân. Người dân Việt Nam không cần sự “ban phát tự do, nhân quyền” của Freedom House hay bất kỳ cá nhân, tổ chức nào.

Với những cáo buộc của Freedom House khi cho rằng Việt Nam không có tự do, chính quyền đang tiến hành “tấn công mạng”, “đàn áp xuyên biên giới”, rõ ràng đây là những luận điệu phi lý, xuyên tạc một cách trắng trợn. Những dẫn chứng được tổ chức này đưa ra là hết sức kệch cỡm. Trong danh sách “nạn nhân” của “đàn áp xuyên biên giới” được Freedom House lấy làm ví dụ như A Ga và tổ chức VOICE, đây đều là thành phần chống phá đất nước, có nhiều hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia Việt Nam. Về A Ga, đây là đối tượng FULRO lưu vong ở Mỹ, đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai truy nã về tội “Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài”.

Tháng 9/2020, A Ga chính thức thành lập cái gọi là “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên” - một tổ chức phản động đội lốt tôn giáo để tiến hành các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia. Thông tin về tổ chức này đã được Công an tỉnh Đắk Lắk công bố trên mạng Internet. Đối với cái gọi là “Sáng kiến thể hiện lương tâm người Việt hải ngoại” - VOICE, đây thực chất là tổ chức phản động ngoại vi của Việt Tân.

Các cơ quan báo chí đã nhiều lần vạch trần bản chất của tổ chức này. Trong đó có thể kể đến như: bài báo “Về Trịnh Hội và tổ chức VOICE” đăng ngày 27/7/2015 trên Báo Nhân dân; loạt bài “Bản chất của các tổ chức “xã hội dân sự” - tổ chức ngoại vi của Việt Tân” đăng trên Báo CAND tháng 1/2022…

Rõ ràng, Freedom House và các đối tượng chống đối đã diễn một “màn kịch dân chủ” hết sức vụng về nhằm mục đích tấn công chống phá Việt Nam. Các hoạt động của Freedom House ngày càng khẳng định rõ bộ mặt gian trá, lợi dụng danh nghĩa thúc đẩy tự do, dân chủ để tìm cách can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đây là hoạt động lợi dụng dân chủ, vi phạm quy định của pháp luật quốc tế, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích của nhân dân Việt Nam.

Nguồn: CAND.

 

NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC KHẲNG ĐỊNH VỊ THẾ VIỆT NAM TRÊN TRƯỜNG QUỐC TẾ

 

Thực tế cho thấy, hoạt động lợi dụng vấn đề nhân quyền chống Việt Nam đang được các thế lực thù địch cả trong và ngoài nước không ngừng đẩy mạnh với quy mô ngày càng mở rộng, tính chất ngày càng gay gắt, quyết liệt, theo kiểu “mềm, ngầm, sâu, hiểm”, vô cùng tinh vi, xảo quyệt.

Nhận diện chiêu trò chống phá nhân quyền trên một số lĩnh vực

Trong lĩnh vực pháp lý: Các thế lực thù địch không những đưa ra các luận điệu vô lý để phê phán một số điều luật hay văn bản pháp lý cụ thể của Việt Nam, nhất là họ tập trung đả phá Hiến pháp năm 2013 rồi cho đó là lạc hậu, trái với quy định và luật pháp, thông lệ quốc tế, từ đó lên giọng chỉ trích toàn bộ hệ thống pháp luật của Việt Nam, cho là thiếu hụt, khập khiễng, chưa phù hợp. Đồng thời, họ vin vào việc một số cán bộ, nhân viên Nhà nước vi phạm pháp luật để rêu rao cán bộ, nhân viên Nhà nước đứng ngoài pháp luật, kích động, kêu gọi mọi người không tuân thủ và không thi hành pháp luật. Họ lấy cớ số cá nhân lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để chống phá Nhà nước và chế độ bị cơ quan chức năng bắt giữ, khởi tố, xử lý theo pháp luật để vu khống Việt Nam vi phạm nhân quyền trong khi giải quyết các vấn đề cụ thể liên quan đến tự do cá nhân. 

Trong lĩnh vực văn hóa: Họ cố tình cắt xén, diễn giải một chiều theo ý đồ xấu, dựng chuyện Việt Nam không thực hiện đúng tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền như đã cam kết, đặc biệt là Điều 19 về quyền tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến; vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta rẻ rúng, nghi kỵ trí thức, đàn áp văn nghệ sỹ, bóp nghẹt tự do báo chí, tự do văn học nghệ thuật… Thổi phồng, đề cao, cổ súy cho số phần tử lợi dụng văn học nghệ thuật để bôi đen bức tranh hiện thực đất nước, hà hơi, tiếp sức cho những phần tử mà họ gọi là “dũng cảm lột xác” dám nhìn nhận lại bản chất đích thực của cuộc chiến tranh giải phóng của Việt Nam, xóa nhòa ranh giới giữa kẻ xâm lược và bọn tay sai với quân đội và quần chúng cách mạng, biến cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ thành cuộc “nội chiến” do “tham vọng của cộng sản” gây ra; ca ngợi chính quyền Sài Gòn theo kiểu hoài niệm, nhớ lại; cố tình gây chia rẽ, tạo ra tâm lý phân biệt vùng miền, làm giảm sự quyết tâm, đồng lòng của nhân dân cả nước trước những thách thức của thiên tai, dịch bệnh.

Thậm chí, họ còn phô trương bản chất “đạo đức giả” khi dựng lên các chương trình mang tính nhân văn, nhân đạo kêu gọi mọi người chung tay giúp đỡ nhau nhưng kỳ thực là trò lừa bịp. Các thế lực thù địch còn tuyên truyền, vận động dựng lên những “nhân vật tiêu biểu”, những màn kịch “trao giải thưởng quốc tế” cho những người “tiên phong trong cuộc đấu tranh vì tự do, vì dân chủ”, thực ra đó là những đối tượng chống đối, bất mãn; lợi dụng tình hình dịch COVID -19 đăng bài phỏng vấn liên tục các cá nhân “bất đồng chính kiến”, người lao động nghèo, yếu thế để chống phá.

Trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo: Lợi dụng sự việc các cơ quan chức năng bắt, điều tra, xử lý những đối tượng lợi dụng dân tộc và tôn giáo có hành vi chống đối, vi phạm pháp luật… để xuyên tạc và vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền. Một số cá nhân mượn danh nghĩa chức sắc, tín đồ tôn giáo được sự tiếp tay của các thế lực thù địch đã lợi dụng nhân quyền trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo để chống phá chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Các thế lực thù địch vừa tích cực rêu rao, vừa vu cáo Việt Nam không có tự do tín ngưỡng, không cho tự do hành đạo và đàn áp tôn giáo, chia rẽ các tôn giáo, đồng bào lương, giáo để chống lại chính sách đoàn kết, ổn định phát triển kinh tế…

Trong lĩnh vực thực hiện chính sách với tù nhân: Tù nhân là những cá nhân vi phạm pháp luật Việt Nam, phải chấp hành các chế tài theo luật định. Trong số các tù nhân này có người lợi dụng nhân quyền để chống phá lại chế độ, nhà nước ta. Thời gian qua, đây là một trong những điểm nóng, một mối quan tâm thường xuyên và cũng là một “mảnh đất” của các thế lực thù địch nhằm vào để can thiệp, vu cáo Nhà nước Việt Nam. Thông qua cơ chế của Liên hiệp quốc, qua nghị viện một số nước hoặc tổ chức phi chính phủ hoạt động về lĩnh vực này, số tổ chức, cá nhân phản động lưu vong cung cấp những thông tin sai lệch, xuyên tạc, mang tính quy chụp, dựng chuyện gửi các “kiến nghị”, “thư ngỏ” lên các tổ chức quốc tế thiếu thiện chí với Việt Nam để chống phá; đồng thời, cố tình đánh tráo bản chất, gieo rắc tâm lý bất an, gây hiểu nhầm, hiểu sai trong dư luận.

Không ngừng nỗ lực để bảo đảm nhân quyền

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân là mục tiêu phấn đấu”; “Phát triển con người toàn diện và xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”; “…con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng của đất nước”.

Quyền con người được khẳng định trong bản Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1992 và 2013. Hiến pháp năm 2013 có 11 chương, 120 Điều. Trong đó, chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là chương có điều luật nhiều nhất, gồm 36 điều (từ Điều 14 đến Điều 49).

Để có cơ sở pháp lý thúc đẩy và bảo vệ, bảo đảm quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã có những nỗ lực không ngừng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người. Tính từ năm 2014 đến nay, Quốc hội nước ta đã sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hơn 100 văn bản luật, pháp lệnh liên quan đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong số đó có những luật cơ bản, quan trọng như: Bộ luật Hình sự 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015, Luật Trưng cầu dân ý 2015, Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016, Luật Trẻ em 2016, Luật Báo chí 2016, Luật Tiếp cận thông tin 2016, Luật An ninh mạng 2018, Luật Đặc xá 2018… Việc hoàn thiện khung pháp luật về quyền con người, quyền công dân nói trên đã phản ánh đúng bản chất của chế độ ta, đó là xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tăng cường cơ chế dân chủ, công khai để mọi cá nhân trong xã hội đều có thể tham gia xây dựng, quản lý xã hội, giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước, cũng như tạo ra khuôn khổ pháp lý để các cơ quan nhà nước hoạt động tốt hơn, phục vụ tốt hơn nhu cầu của mọi tầng lớp nhân dân.

Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước tích cực, chủ động tham gia vào hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người do Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác ban hành. So với nhiều nước trong khu vực và các nước phát triển, Việt Nam không thua kém về số lượng là thành viên các công ước quốc tế về quyền con người. Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản. Việt Nam đã phê chuẩn hoặc tham gia nhiều điều ước quốc tế về nhân quyền. Việt Nam luôn khẳng định trên thực tế là thành viên nỗ lực tham gia các công ước quốc tế với tinh thần, trách nhiệm cao nhất, được nhiều tổ chức quốc tế, các quốc gia đánh giá cao.

Mặc dù nước ta đang gặp không ít những trở ngại, thách thức do thiên tai, dịch bệnh và từ sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị nhưng vấn đề nhân quyền của Việt Nam luôn được thực thi trên thực tế. Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và vững chắc về nhân quyền. Điều đó không chỉ thể hiện ở những nỗ lực của chúng ta trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, mà còn được thể hiện ở việc bảo đảm quyền còn người, quyền công dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Điển hình như, Việt Nam là một trong sáu quốc gia thành viên Liên hợp quốc đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ trước thời hạn năm 2015 và được xem là tấm gương điển hình của cộng đồng quốc tế trong thực hiện mục tiêu phát triển bao trùm, không ai bị bỏ lại phía sau của Liên hợp quốc. Theo Báo cáo “Phát triển con người năm 2019” được Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công bố ngày 9/12/2019, với chỉ số HDI là 0,63, Việt Nam xếp thứ 118 trong tổng số 189 nước… Với những thành tựu trong việc tôn trọng, bảo đảm về quyền của con người, Việt Nam được tín nhiệm là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016). Tại khóa họp lần thứ 73, tại trụ sở Liên hợp quốc vào ngày 7/6/2019, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bầu Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 với số phiếu gần như tuyệt đối (192/193 phiếu). Gần đây, Việt Nam đã thực hiện tốt vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc với nhiều dấu ấn, đóng góp sáng tạo, thiết thực, trong đó có vấn đề bảo đảm quyền con người trước những thách thức do đại dịch COVID-19 gây ra, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao và làm cho vị thế và uy tín của Việt Nam ngày càng tăng trên trường quốc tế.

Thành tựu đảm bảo nhân quyền tại Việt Nam trên các lĩnh vực đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội, đặc biệt là những thành tựu của Việt Nam trong việc phòng, chống dịch COVID-19 và bảo đảm quyền sống là quyền cao nhất trong đại dịch COVID-19 là những minh chứng rõ nét nhất trong bảo đảm quyền của con người trước những biến cố, đại dịch mà người dân trên toàn thế giới phải trải qua.

Đánh giá về nhân quyền cần phải đảm bảo cách nhìn khách quan, toàn diện, không thể phán theo kiểu “thầy bói xem voi”, không thể lấy một số vụ việc tiêu cực, những hiện tượng sai lệch mà quy chụp thành bản chất. Những thông tin để làm căn cứ đánh giá, báo cáo, xếp loại nhân quyền Việt Nam của một số tổ chức quốc tế thiếu thiện chí đều khai thác từ số đối tượng thù địch, phản động, bất mãn, cơ hội chính trị, số này luôn có những hành động hủy hoại mọi nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong vấn đề nhân quyền. Khi không có bất kỳ các hoạt động khảo sát, trải nghiệm vấn đề nhân quyền của một quốc gia thì mọi đánh giá về nhân quyền của quốc gia đó đều mang tính chủ quan, thiếu tính thực tiễn, sai lệch. Mặt khác, không thể mượn danh nhân quyền để tung hô cho lối sống tự do “vô pháp” để biện minh việc làm sai trái, quay lưng lại Tổ quốc, dân tộc.

Theo Chu Xuân Đại Thắng


SỰ XUYÊN TẠC PHỚT LỜ SỰ THẬT CỦA TỔ CHỨC PHÓNG VIÊN KHÔNG BIÊN GIỚI

 

Xuyên tạc, suy diễn về tình hình tự do báo chí ở nước ta là một chiêu trò luôn được một số tổ chức, đối tượng cực đoan, thiếu thiện chí với Việt Nam sử dụng. Một trong số đó là tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF).

Ngày 3/5/2022, tổ chức RSF công bố cái gọi là “Bảng xếp hạng thường niên về tự do báo chí” xếp hạng tự do báo chí toàn cầu. Chỉ số tự do báo chí thế giới năm 2022 do RSF công bố xếp Việt Nam ở vị trí 174 trên 180 quốc gia và vùng lãnh thổ. Các chỉ số cụ thể của Việt Nam được nêu ra gồm chỉ số chính trị ở hạng 173, chỉ số kinh tế xếp hạng 176, chỉ số lập pháp 172, chỉ số xã hội 170 và chỉ số an ninh 170.

Trong bảng xếp hạng này, RSF đã vu cáo rằng: “các phóng viên và blogger độc lập thường bị bỏ tù”. Tổ chức này còn tỏ vẻ bênh vực, cổ xúy cho một số hội nhóm, cá nhân lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để chống phá Việt Nam như “nhóm Báo sạch”, “Hiệp hội Nhà báo Độc lập Việt Nam”, ca ngợi những đối tượng như Phạm Thị Đoan Trang. Ngay sau khi công bố của RSF được đưa ra, một số tổ chức phản động, đối tượng cơ hội chính trị, những hãng truyền thông hải ngoại vốn định kiến với Việt Nam được dịp trích dẫn, bình luận kiểu “tát nước theo mưa”.

Đây không phải lần đầu tiên RSF đưa ra báo cáo dựa trên những thông tin sai sự thật, không có cơ sở và có dụng ý xấu. Những luận điệu xuyên tạc của RSF thực chất là trò “bổn cũ soạn lại”, mục đính nhằm bôi đen hiện thực, vẽ ra bức tranh tối màu về tình hình tự do báo chí để đả phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, hạ thấp uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Hình thành từ năm 1985, RSF tên tiếng Pháp đầy đủ là “Reporters sans frontières”, có trụ sở quốc tế tại Paris.

Đây là một tổ chức phi chính phủ hoạt động toàn cầu, lấy Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền của Liên hiệp quốc làm cơ sở để hành động. Tôn chỉ hoạt động của tổ chức này đưa ra để bảo vệ tự do báo chí trên thế giới, chống kiểm duyệt và tạo áp lực, giúp đỡ những nhà báo đang bị giam giữ. Hằng năm, vào ngày Nhân quyền thế giới, tổ chức này thường đưa ra bảng xếp hạng về tự do báo chí của các quốc gia, vùng lãnh thổ bằng cách tổng hợp các câu trả lời vào một bảng câu hỏi của RSF. Nhìn vào tôn chỉ hoạt động, cứ ngỡ RSF là một tổ chức chân chính, hoạt động vì sự tiến bộ, thúc đẩy tự do và văn minh của thế giới. Nhưng trái ngược với chủ trương của Liên hiệp quốc, nhiều năm nay, tổ chức này thường xuyên có những luận điệu sai trái, xuyên tạc tình hình tự do báo chí, tự do ngôn luận của một số nước, trong đó có Việt Nam.

Nhiều quốc gia trên thế giới cáo buộc RSF đứng đằng sau những vụ việc phức tạp, gây rối, bất ổn, kích động bạo lực. RSF tồn tại và hoạt động dựa vào một phần nguồn hỗ trợ kinh phí của một số chính giới phương Tây. Chính vì vậy, trong các bảng xếp hạng tự do báo chí hằng năm, RSF thường tuân theo sự sắp đặt một cách có chủ ý của các chính phủ quốc gia tài trợ cho tổ chức này hoạt động. Những yếu tố được tổ chức này sử dụng để đánh giá tự do của một nền báo chí thiếu tính bao trùm, không cân nhắc đến các yếu tố văn hóa, xã hội, nhận thức của từng quốc gia riêng biệt. Phần lớn những thông tin được đưa ra là không khách quan, không có hoạt động khảo sát, kiểm chứng thực chất mà đó là những đánh giá thiếu căn cứ hoặc được suy diễn, phóng đại.

Việc RSF xếp loại tự do báo chí ở Việt Nam thường dựa vào những thông tin do số tổ chức, cá nhân phản động, thù địch, cơ hội chính trị, có các hoạt động vi phạm pháp luật Việt Nam cung cấp. Chính vì vậy, tổ chức này tìm cách bênh vực cho những đối tượng khoác áo, mượn danh nhà báo như “nhóm Báo sạch”, “Hiệp hội Nhà báo Độc lập Việt Nam”... Họ cố ý khoác áo nhà báo, ca ngợi, tán dương cho những kẻ hoạt động chống phá Việt Nam.

Những thông tin mà “Bảng xếp hạng thường niên về tự do báo chí” năm 2022 của RSF là không khách quan, sai thực tế về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam. Việt Nam luôn là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, chúng ta tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và biểu đạt; bao gồm tự do giữ ý kiến mà không bị can thiệp, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận và truyền bá thông tin và tư tưởng bằng bất cứ phương tiện truyền thông nào và không giới hạn về biên giới”.

Chúng ta thấy rõ, quyền con người, quyền công dân trên lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí luôn được Nhà nước ta bảo đảm, phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước và thông lệ quốc tế. Quyền tự do ngôn luận và quyền tiếp cận thông tin là những quyền cơ bản của quyền con người, của mọi công dân. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Để đảm bảo quyền tự do ngôn luận, báo chí và quyền hưởng thụ thông tin của mọi công dân được thực thi trong cuộc sống theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội, Chính phủ Việt Nam đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hoàn toàn tương thích về mặt luật định đối với các văn kiện quốc tế về quyền con người, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Điều 11, Luật Báo chí năm 2016 chỉ rõ quyền của công dân: “Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức và cá nhân”.

Quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận báo chí của công dân bao gồm: Quyền sáng tác tác phẩm báo chí; cung cấp thông tin cho báo chí; phản hồi thông tin trên báo chí; tiếp cận thông tin báo chí; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp ý, phê phán, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức cá nhân khác. Nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện quyền tự do ngôn luận, báo chí cũng được Luật Báo chí 2016 quy định: Không được đăng phát thông tin xuyên tạc, phủ nhận chính quyền nhân dân; bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc; thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân... Như vậy, quyền và nghĩa vụ của công dân luôn song hành, không tách rời nhau; mọi công dân Việt Nam đều có quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận báo chí, đồng thời đều phải có nghĩa vụ thực hiện quyền ấy trong khuôn khổ pháp luật.

Tự do báo chí không thể vượt quá hạn định, không phải là tự do quá trớn, càng không phải muốn nói gì thì nói, viết gì thì viết, làm gì thì làm theo ý muốn chủ quan của chủ thể. Cũng như bất kỳ các quốc gia trên thế giới, một mặt, Nhà nước ta tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình; báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân.

Ở Việt Nam, không ai bị xét xử, bắt giữ chỉ vì bày tỏ chính kiến hay bảo vệ nhân quyền. Chỉ có những đối tượng lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, vi phạm pháp luật như tung tin giả, tin xấu độc, xuyên tạc, vu cáo hòng gây bất ổn tình hình đất nước, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, gây hoang mang dư luận... thì bị xử lý theo pháp luật.

Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, hiện Việt Nam có khoảng 41.000 nhân sự đang tham gia hoạt động trong lĩnh vực báo chí, 779 cơ quan báo chí (trong đó có 142 báo, 612 tạp chí, 25 cơ quan báo chí điện tử), 72 cơ quan được cấp phép hoạt động phát thanh-truyền hình với tổng số 87 kênh phát thanh và 193 kênh truyền hình. Chất lượng truy cập Internet Việt Nam cơ bản đáp ứng tiêu chuẩn, một số thông số cao hơn số liệu công bố bởi các hệ thống quốc tế. Điều này phản ánh nỗ lực của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet tại Việt Nam phục vụ nhu cầu sử dụng Internet. Trong khi đó, sóng của các cơ quan truyền thông quốc tế lớn như CNN, BBC, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg… dễ dàng được tiếp cận tại Việt Nam.

Rõ ràng, nội dung đánh giá của RSF vẫn tiếp tục phớt lờ thực tế về bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Càng ngày, RSF càng lộ rõ bản chất định kiến với Việt Nam, cố tình phủ nhận những nỗ lực, thành tựu đạt được của Đảng, Nhà nước ta trong việc bảo đảm và tôn trọng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.

Chu Xuân Đại Thắng