Thứ Ba, 7 tháng 6, 2022

VẬN DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY Ở NƯỚC TA

 


"Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi".

Việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện thực tiễn đất nước hiện nay đang là vấn đề được Đảng ta hết sức quan tâm, coi đó là một trong những nhiệm vụ hàng đầu. Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải đi liền với bổ sung và phát triển dựa trên những vấn đề thực tiễn đặt ra. Sự nghiệp đổi mới đang đi vào chiều sâu, nhiều vấn đề mới như kinh tế thị trường, kinh tế tri thức, nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế... cần được nghiên cứu, giải đáp về lý luận và thực tiễn. Đại hội X của Đảng xác định: tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, làm rõ cơ sở lý luận thực tiễn, hoàn thiện hệ thống các quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Muốn vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta cần phải nắm vững hệ thống các quan điểm tư tưởng của Người, nắm chắc mục tiêu, yêu cầu của từng giai đoạn, gắn chặt với tổng kết thực tiễn. Phải hiểu sâu sắc quá trình hình thành hệ thống quan điểm tư tưởng của Người về cách mạng Việt Nam. Chỉ thông qua quá trình đó, chúng ta mới có thể phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách đúng đắn và khoa học.

 

LỢI DỤNG TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

LỢI DỤNG TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Hiện nay, trên thế giới, khu vực tình trạng ly khai, kết hợp với vấn đề sắc tộc và tôn giáo luôn là thách thức lớn đối với sự ổn định và toàn vẹn lãnh thổ của một số quốc gia. Mặc dù chính phủ các nước đã tiến hành nhiều biện pháp kể cả tiến hành đàm phán hòa bình hoặc sử dụng vũ lực, song chưa thể giải quyết triệt để, bởi các nguyên nhân: mâu thuẫn do lịch sử để lại; tình trạng chênh lệch giầu nghèo và bất mãn của nhân dân đối với chính quyền; sự can thiệp của bên ngoài với nhiều hình thức và lý do, mục đích khác nhau.

Đối với nước ta, kinh tế ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số chậm phát triển, tỷ lệ đói nghòo còn cao so với bình quân chung của cả nước, khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa các vùng, các dân tộc ngày càng tăng, chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp, công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Một số hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan có xu hướng phát triển; hệ thống chính trị ở nhiều vùng dân tộc, miền núi còn yếu, cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể nhân dân nhiều nơi hoạt động chưa hiệu quả, không sát dân, không tập hợp được đồng bào. Ở một số nơi tôn giáo phát triển không bình thường; các thế lực thù địch lợi dụng khó khăn về đời sống, trình độ dân trí thấp của dân tộc thiểu số, tôn giáo và những sai sót của các cấp, các ngành trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước để kích động, lôi kéo đồng bào tham gia bạo loạn ly khai, nhất là trên các địa bàn chiến lược Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ.

Đặc điển này đòi hỏi Quân đội phải nâng cao hiệu quả tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới cho nhân dân vùng dân tộc thiểu số, tôn giáo; tích cực tham gia xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc, nhất là trên các địa bàn chiến lược Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, khu vực biên giới; thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước, đấu tranh có hiệu quả với âm mưu kích động ly khai dân tộc của các thế lực thù địch.

VỮNG TIN VÀO SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC

 


Sau 35 năm đổi mới, công cuộc phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, có ý nghĩa về mặt lịch sử, điều đó một lần nữa khẳng định tính đúng đắn của đường lối sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Chúng ta vui mừng đón nhận những kết quả của quá trình đổi mới dất nước thời gian qua. Một số kết quả cụ thể:

 Kinh tế vĩ mô ổn định, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống nhân dân. Các lĩnh vực văn hoá, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực.

Tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016 - 2019 đạt khá cao, bình quân 6,8%/năm. Năm 2020, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh, nhưng tăng trưởng 9 tháng vẫn đạt 2,12%, cả năm ước đạt 2 - 3%; là một trong những quốc gia tăng trưởng cao nhất trong khu vực và trên thế giới nhờ nội lực, tận dụng tốt các cơ hội và khả năng đa dạng hoá, thích ứng linh hoạt của nền kinh tế.

 Quy mô GDP tăng khoảng 1,4 lần so với năm 2015 (theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế, năm 2020 Việt Nam có thể trở thành nền kinh tế đứng thứ 4 ASEAN); GDP bình quân đầu người năm 2020 ước đạt khoảng 2.750 USD.

 Năng suất lao động được cải thiện rõ nét, bình quân giai đoạn 2016 - 2020 tăng 5,8%/năm, cao hơn giai đoạn 2011 - 2015 (4,3%) và vượt mục tiêu đề ra (5%). Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) bình quân 5 năm đạt khoảng 45,2% (mục tiêu đề ra là 30 - 35%).

 Mô hình tăng trưởng dần chuyển dịch từ chiều rộng sang chiều sâu, giảm dần sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, xuất khẩu thô, lao động giá rẻ, mở rộng tín dụng…, từng bước chuyển sang dựa vào ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Các thành phần kinh tế được khuyến khích phát triển, đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế, đặc biệt trong vấn đề tạo việc làm và cải thiện đời sống của người dân.

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng cao, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội được tập trung nguồn lực đầu tư; nhiều công trình, dự án quan trọng, quy mô lớn đã hoàn thành không chỉ tạo động lực cho phát triển kinh tế mà còn tạo điều kiện cho Nhà nước tập trung đầu tư, phát triển nhiều hơn cho các mục tiêu giáo dục, y tế, xây dựng cơ sở hạ tầng công cộng, phát triển nguồn nhân lực, xóa đói, giảm nghèo, hỗ trợ các vùng khó khăn…

Phát triển văn hoá, xã hội đạt kết quả tích cực, an sinh xã hội cơ bản được bảo đảm, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện. 

Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm từ gần 10% năm 2015 xuống dưới 3% năm 2020. Hệ thống y tế dự phòng và mạng lưới y tế cơ sở được củng cố; năng lực giám sát, dự báo, phát hiện và khống chế dịch bệnh được nâng lên. Tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế tăng từ 76,5% năm 2015 lên 90,7% năm 2020. Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; quan tâm hơn giáo dục vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam có những chuyển biến tích cực; nhiều giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc được phát huy. Các chính sách dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, người cao tuổi, trẻ em, gia đình, bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ được đẩy mạnh. Chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta liên tục được cải thiện, thuộc nhóm các nước có mức phát triển con người trung bình cao của thế giới.

Quốc phòng, an ninh được tăng cường, chủ quyền quốc gia được giữ vững; đối ngoại và hội nhập quốc tế được chủ động đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả quan trọng…

Với những kết quả đã được như hiện nay, chúng ta luôn tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lí, điều hành của nhà nước, với tinh thần đoàn kết, sáng tạo, sự nỗ lực cố gắng của cả hệ thống chính trị và toàn dân, chúng ta sẽ sớm hoàn thành mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, ăn minh”.  

 

CHỦ ĐỘNG PHÒNG NGỪA, KẾT HỢP PHÒNG VÀ CHỐNG BẠO LOẠN LY KHAI

 

CHỦ ĐỘNG PHÒNG NGỪA, KẾT HỢP PHÒNG VÀ CHỐNG BẠO LOẠN LY KHAI

Mục đích phòng chống bạo loạn ly khai nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, để phát triển kinh tế nhanh, bền vững, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, cả hệ thống chính trị đều có trách nhiệm tham gia phòng chống bạo loạn ly khai, trước hết là ở ngay địa phương, khu vực, ngành mình. Các lực lượng tham gia phòng chống bạo loạn ly khai phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành tập trung của Nhà nước.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định: ngăn chặn kịp thời, đấu tranh có hiệu quả với hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ”. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: Chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.

Quan điểm chủ động phòng ngừa, kết hợp giữa phòng và chống chỉ đạo phải giữ vững ổn định chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp; tăng cường hiệu lực quản lý, điều hành thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước và hiệu quả hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội, sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, trong nội bộ nhân dân; giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không để các thế lực thù địch lợi dụng kích động chống phá; đồng thời, tích cực, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động gây bạo loạn ly khai của các thế lực thù địch.

 

MỘT SỐ YÊU CẦU TRONG ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG

 


Bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay gắn liền với cuộc đấu tranh chống những quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận những giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, kịp thời vạch trần những âm mưu, thủ đoạn, cách thức... mà các thế lực thù địch sử dụng chống phá cách mạng nước ta. Trên cơ sở đó, tìm tòi, đề xuất những phương thức, cách thức phù hợp, hiệu quả để đấu tranh chống những quan điểm sai trái, thù địch.

Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, sự phối hợp của các tổ chức, cơ quan chức năng trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đây là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu hiện nay. Theo đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt phải nắm vững nền tảng tư tưởng của Đảng, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nhận diện rõ các quan điểm sai trái, thù địch để có các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo sát, đúng; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh, khắc phục khâu yếu, mặt yếu; không để xảy ra bất ngờ, lúng túng, bị động.

Hai là, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không phải chỉ có bộ phận thường trực mà là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, các ban ngành Trung ương, của cấp ủy, chính quyền địa phương và của toàn dân. Như vậy, mới tạo được sức mạnh tổng thể nhằm đấu tranh có hiệu quả đối với những quan điểm sai trái, thù địch. Thường xuyên duy trì, thực hiện tốt chế độ giao ban phản ánh tình hình, trao đổi thông tin, thống nhất biện pháp phối hợp đấu tranh đối với các quan điểm sai trái, thù địch; ngăn chặn mọi âm mưu và hành động móc nối, tập hợp lực lượng để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ; quản lý và đấu tranh đối với các phần tử cơ hội, bất mãn kích động, chống đối, chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Ba là, cần có các phương thức, hình thức đa dạng, hiệu quả trong cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch. Thực hiện đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch về tư tưởng, không phải thực hiện theo kiểu mệnh lệnh, hành chính, chủ quan, duy ý chí, áp đặt mà là quá trình phân tích, đấu tranh có lý lẽ, có cơ sở lý luận và thực tiễn, khách quan thuyết phục. Nội dung và hình thức thông tin đấu tranh cần đa dạng, phù hợp với trình độ, tâm lý, nguyện vọng, nhu cầu, lợi ích thụ hưởng thông tin của từng đối tượng cụ thể. Trên cơ sở ấy mới có thể quy tụ được lòng người, thống nhất được tư tưởng và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân nhằm loại bỏ, phủ định cái sai trái, khẳng định cái đúng, chân lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Bốn là, sử dụng các biện pháp kỹ thuật, công nghệ và pháp lý để xử lý kịp thời, kiên quyết và có hiệu quả đối với các tổ chức và cá nhân cung cấp thông tin, dịch vụ truyền thông có nội dung xấu, độc hại, sai trái, xuyên tạc, phủ nhận giá trị khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vu khống, xuyên tạc, bôi đen lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước... Kịp thời cung cấp những thông tin chính thống từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm nhằm đi trước định hướng dư luận xã hội, giữ vững niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cũng phải trở thành những chiến sỹ trên mặt trận đấu tranh chống lại những luận điệu sai trái, thù địch. Thực tế đã chứng minh, cho dù các thế lực thù địch có trăm phương, nghìn kế để chống phá mà chúng ta biết dựa vào dân, biết chủ động thông tin, biết định hướng dư luận xã hội một cách khách quan, kịp thời, minh bạch thì chúng cũng nhận lấy thất bại. Cung cấp thông tin chính thống, chính xác, đầy đủ cho cán bộ, đảng viên và người dân chính là chúng ta đang xây dựng một hệ miễn dịch cho mỗi người dân, cho toàn xã hội có sức đề kháng với những thông tin bịa đặt, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động.

Năm là, hệ thống thông tin đại chúng có vai trò quan trọng hàng đầu trong việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình hiện nay. Vì vậy, cần coi trọng việc đảm bảo thông tin khách quan, chân thực, đảm bảo tính tư tưởng, tính chiến đấu của hệ thống thông tin đại chúng. Mỗi cơ quan báo chí, truyền thông và mỗi cán bộ, phóng viên, biên tập viên vừa thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích của cơ quan ngôn luận vừa không ngừng nâng cao  trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm xã hội, trách nhiệm công dân của mình. Cần tăng cường đưa những thông tin tốt, tích cực, những tấm gương người tốt việc tốt, những điển hình tiên tiến, tiêu biểu cho giá trị, mục tiêu mà Đảng ta, Nhân dân ta lựa chọn. Phải có cơ chế để đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của Nhân dân, đặc biệt đối với những thông tin liên quan đến vấn đề hoạch định và thực thi chính sách, nhất là về quy hoạch phát triển, về đất đai, về dân tộc, tôn giáo, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội... Thực hiện nghiêm túc quy hoạch báo chí đã được cấp có thẩm quyền của Đảng, Chính phủ quyết định.

 

KHÔNG GỌI NGỤY THÌ GỌI LÀ GÌ?

     Về bản chất của quân đội ngụy và ngụy quyền tay sai thì Bác Hồ đã nhiều lần đề cập trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ bằng những câu như: “Chúng dựng lên ngụy quân, ngụy quyền dùng làm công cụ phản quốc hại dân.”, “Chúng nuôi dưỡng ngụy quyền, ngụy quân làm công cụ hại dân phản nước.” v.v.
Lưu ý rằng Bác Hồ không nói những người trong hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền là những kẻ phản nước, hại dân, mà Bác nhận định họ đã bị Pháp, Mỹ sử dụng làm công cụ phản nước hại dân. Như vậy, những người tốt nhưng yếu, kém, không có thực lực, bị thời thế đẩy đưa thì vẫn có thể bị giặc lợi dụng làm công cụ hại dân, phản nước. Như vậy việc những cá nhân lính ngụy, sĩ quan ngụy tốt hay xấu, bản thân có yêu nước hay không, là việc không liên quan.
Bác Hồ nổi tiếng về khả năng có thể nói rất lâu mà không nói vấp hay nói hớ 1 chữ, nhận thức sự việc tuyệt đối chính xác, và câu “làm công cụ hại dân phản nước” của Bác cho thấy cách dùng từ của Người rất tỉ mỉ và cực kỳ chính xác.
Bác Hồ nhận định về ngụy quyền – ngụy quân như thế cũng không phải là Bác ghét bỏ, thù hận gì họ, trái lại Bác Hồ vẫn xem họ là đồng bào bình thường, chỉ vì tình thế bắt buộc, bị bắt lính, gia cảnh cơ hàn, cuộc sống khó khăn, hoặc bị giặc tẩy não, nhồi sọ v.v. thì mới đi lính cho giặc.

Theo Từ điển tiếng Việt (NXB Khoa học xã hội Việt Nam. Hà Nội. 1994) thì “Ngụy” là giả tạo. “Ngụy biện” là cố ý dùng những ý lẽ bề ngoài có vẻ đúng nhưng thực ra là sai để rút ra những kết luận sai lệch. “Ngụy tạo” là bày đặt ra cái giả nhằm lừa dối. Ngụy tạo chứng cứ là một ví dụ.
Trong quá khứ, Bác đã viết rất nhiều lá thơ, chuyển vào Nam và giao cho các tổ chức binh vận, ngụy vận, tìm cách đưa những lá thơ này đến tay đồng bào lính ngụy trong vùng tạm chiếm: “Thư gửi các ngụy binh” (thập niên 50), “Vận động ngụy binh” (thập niên 50), “Lời kêu gọi ngụy binh quay về với Tổ quốc” (thập niên 50), “Ngụy binh giác ngộ” (thập niên 60) v.v. Đảng cũng nhiều lần ra Nghị quyết và có nhiều văn kiện yêu cầu đẩy mạnh công tác “ngụy vận”. Xem công tác ngụy vận là một phần của công tác dân vận, chứ không xem là địch, công tác ngụy vận là một phần của công tác binh vận, nhưng lại có khác biệt với công tác địch vận (nhắm vào người Pháp và người Mỹ).

Trong lịch sử thật ra chẳng có ai thật sự muốn bán nước, không có ai nghĩ rằng mình bán nước. Xưa nay chưa hề có một hợp đồng nào kiểu tôi giao cả quốc gia cho anh, anh trả cho tôi bao nhiêu tiền. “Bán nước” chỉ là một cách lên án của dân gian và sự phán xét nghiêm khắc của lịch sử và hậu thế, nhằm giáo dục con em không để lâm vào tình cảnh tương tự. Đó là thuộc văn hóa suy nghĩ, tư duy, tâm tư tình cảm của dân tộc, và đó cũng là nhân sinh quan của dân tộc Việt Nam. Chứ hoàn toàn không có hận thù gì ở đây, người Việt Nam đa số có lòng khoan dung và vị tha.
Người ta kết tội những nhân vật đứng đầu như Kiều Công Tiễn, Trần Ích Tắc, Trần Kiện, Lê Chiêu Thống, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu vào tội danh bán nước là để ghi nhận một tấm gương xấu cho hậu thế rút kinh nghiệm, mang tính chất răn đe cho con cháu đời sau. Chứ người ta không kết tội những quân nhân, tướng lĩnh, sĩ quan cấp dưới. Lịch sử kết tội Lê Chiêu Thống chứ không kết tội Lê Quýnh, Hoàng Phùng Tứ, Trần Quang Châu… Lịch sử kết tội Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu chứ không kết tội Ngô Quang Trưởng, Hoàng Xuân Lãm, Cao Văn Viên, Trần Văn Đôn…
Như vậy cách nhìn đúng đắn là: Ngụy quyền và ngụy quân đúng là do giặc dựng lên để mị dân, hợp thức hóa cuộc xâm lược, và phục vụ cho cuộc xâm lược. Còn riêng những cá nhân trong bộ máy đó, nếu không còn liên quan gì nữa, không còn gây ra gì nữa, và chiến tranh đã qua lâu, xã hội ổn định, không khí thanh bình, thì nên xem họ là những người bình thường.
Lịch sử đã sang trang mới, và thực tế cũng cho thấy những người lính ngụy, sĩ quan ngụy, tướng tá ngụy như các ông Trần Chung Ngọc, Nguyễn Hữu Hạnh, Dương Văn Minh, Nguyễn Cao Kỳ, Đỗ Mậu, và nhiều người khác trong lúc này vẫn đáng tôn trọng hơn những người từng là “Bộ đội cụ Hồ” mà đã thoái hóa, biến chất, đón gió trở cờ, trở thành kẻ phản bội, phản quốc như Hoàng Văn Hoan, Bùi Tín, Dương Thu Hương, Trần Anh Kim theo ngoại bang chống phá đất nước hay những kẻ tha hóa biến chất, trở thành sâu bọ tham nhũng, lũng đoạn, cắn nát đất nước và chế độ.
Tóm lại: Lịch sử thì phải nhận thức đúng. Những cá nhân trong quá khứ thì thông cảm, bỏ qua và tôn trọng như một người bình thường! Đây là cách tiếp cận hợp tình hợp lý. Chúng ta tôn trọng cá nhân các ông Dương Văn Minh, Nguyễn Cao Kỳ, nhưng trong lịch sử chúng ta vẫn phải ghi nhận là hai ông từng làm tướng cho Pháp, Mỹ, trong thời Pháp thuộc hai ông có Pháp tịch, là công dân Pháp và đi lính cho Pháp, đeo huân chương Pháp, được Pháp phong chức, được Pháp rồi Mỹ trả lương. Bỏ qua, gác lại quá khứ, tha thứ … không có nghĩa là quên lãng, từ bỏ. Khép lại quá khứ không có nghĩa là đóng lại, khóa lại quá khứ. Lịch sử và các tiểu sử, trong đó có những giai đoạn lầm lạc của một số nhân vật nên được ghi nhận chính xác. Xem như đó là một bài học lịch sử để răn dạy con cháu đời sau.
Lịch sử luôn được người Việt hàng nghìn năm nay sử dụng như một phương tiện để đề cao, ca ngợi những tấm gương tiết liệt, làm tấm gương sáng cho hậu thế, và răn đe những gương xấu phản dân hại nước, rước giặc vào nhà.
Đó là một cách thức truyền lửa của dân ta nghìn năm nay từ thời mở nước và trong suốt những thời kỳ giữ nước, đời này noi theo gương tốt của đời nọ, thế hệ trước truyền lại ngọn đuốc cho thế hệ sau. Đánh giặc là đúng, chống ngoại xâm là đúng, theo giặc là sai, bán nước là sai. Với tinh thần “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Bất cứ ai “rước voi về giày mả tổ”, “cõng rắn cắn gà nhà” đều bị lịch sử chê trách, lên án.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, những cuộc đụng độ xảy ra giữa quân Việt Nam và quân ngụy là vì lính ngụy bị giặc Mỹ đẩy ra đánh thay họ, chết thay họ, tránh thương vong cho quân đội của họ. Việt Nam chỉ đánh giặc xâm lược Mỹ, không coi ngụy là một nước, không công nhận cái gọi là “nước Việt Nam Cộng hòa” và chưa bao giờ tuyên bố chiến tranh với ngụy. Việt Nam chỉ tiến hành chiến tranh với Mỹ. Đây là cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước chứ không phải là “chống ngụy cứu nước”.
Việt Nam muốn kết thúc chiến tranh thì phải đánh thắng Mỹ, muốn giải quyết chiến tranh thì phải nói chuyện với Mỹ, với người chủ. Trong suốt cuộc chiến này, VN không chú trọng đánh ngụy và chỉ chú trọng đánh Mỹ với cả 3 mũi giáp công: Chính trị, quân sự, ngoại giao. Vì ta biết rõ dù có diệt được ngụy mà Mỹ vẫn còn đó thì họ chỉ việc dựng lên một ngụy quyền khác và bắt thanh niên miền Nam đi lính bằng các đợt cưỡng bách quân dịch quy mô. Không đánh bại được Mỹ thì không diệt được ngụy, chém đầu này sẽ mọc đầu khác. Không thắng được ông chủ thì ông chủ chỉ việc tuyển dụng và đưa lên những tay sai mới. Cho nên muốn chấm dứt chiến tranh thì phải đánh thẳng vào cái gốc, cái rễ, cái nguồn gốc chiến tranh, cái nguồn gây ra chiến tranh, cái nguồn đang tiến hành xâm lược, cái cỗ máy chiến tranh đang điều hành cuộc chiến. Đánh cho “Mỹ cút” rồi mới đến “ngụy nhào” như câu thơ chúc Tết mà Bác Hồ tặng miền Nam đã nói. Bác đã tài tình lồng vào 2 giai đoạn chiến lược “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” vào câu thơ của mình ngay trong lúc Mỹ đang mạnh, chưa cút, và ngụy chưa nhào.
Việt Nam cũng chưa bao giờ đàm phán, nói chuyện với ngụy, vì biết có nói chuyện với ngụy thì cũng vô ích, không giải quyết được gì. VN muốn gì thì tìm Mỹ mà nói, mà đối thoại, mặc cả, giao dịch, trao đổi v.v. Mục tiêu của cuộc kháng chiến là: Quét sách tên giặc xâm lược cuối cùng và tất cả các ngụy quyền của giặc xâm lược ra khỏi miền Nam của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà quân đội Mỹ đang chiếm đóng bất hợp pháp (Miền Nam của Việt Nam DCCH quy định rõ ràng trong hiến pháp 1946, 12 khu hành chính và quân sự tháng 11 năm 1946, bao gồm cả miền Nam Việt Nam, Hiệp định Genève về Đông Dương, Hiến pháp 1959).
Nhìn chung thì cả trong nước và nước ngoài đều không để ý nhiều đến vai trò của ngụy quyền trong cuộc chiến Việt – Mỹ. Người ta đề cập nhiều đến vai trò của Hà Nội và Washington nhiều hơn. Lý do rất đơn giản là vì đây là cuộc đụng độ lịch sử giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, một bên có sức mạnh con người, một bên có sức mạnh khoa học công nghệ. Họ mới là hai nhân vật chính cần đề cập tới. Ngụy Sài Gòn có vai trò mờ nhạt và lãng nhách, không đáng phải đề cập và vì thế người ta thấy không cần nhắc nhiều đến.
Nhìn lại thì thấy quả thật là vai trò của chế độ Sài Gòn, quân đội Sài Gòn rất mờ nhạt trên các phương tiện truyền thông quốc tế. Các tài liệu đa chiều trên thế giới rất ít nói về ngụy Sài Gòn. Họ chú trọng đến vai trò của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (họ gọi là “Việt Cộng”), và phía bên kia là Hoa Kỳ. Không có nhà nghiên cứu, nhà sử học, nhà báo nào tốn nhiều giấy mực, thời gian, công sức để viết về những chư hầu của Mỹ.
Trong lịch sử ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Giặc ngoại xâm nào vào bờ cõi nước Việt thì cũng tạo ra một đội quân người bản xứ để cho quân ngoại xâm đỡ tốn xương máu, đỡ hao binh tổn tướng. Trong chiến tranh chống Việt Nam cũng vậy, lính Pháp, lính Mỹ đáng lẽ còn hao tổn hơn nhiều nếu không nhờ lực lượng ngụy quân đỡ đạn cho lính Pháp, lính Mỹ, giúp quân đội Pháp – Mỹ giảm thương vong.
Vì sao cuộc chiến chống Mỹ dễ xuyên tạc hơn các cuộc chiến chống xâm lược khác trong Việt sử?
Về kháng chiến chống Pháp, ngoài ông Nguyễn Gia Kiểng (chủ tịch của tổ chức “Tập hợp Dân chủ Đa nguyên”, tai tiếng với cuốn sách “Tổ quốc Ăn năn” chê bai Bác Hồ, vua Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi và nhiều anh hùng dân tộc khác của VN) gọi kháng chiến chống Pháp là cuộc “nội chiến” (giữa Việt Minh và “Quốc gia”) ra thì hầu hết đều thống nhất rằng đây là cuộc chiến chống ngoại xâm của dân tộc. Ngay cả những kẻ chống Cộng cực đoan cũng không thể phủ nhận nổi điều này, ngay cả sách giáo khoa ở miền Nam dưới thời Mỹ cũng phải ghi đây là cuộc chiến giữa “nhân dân Việt Nam” và thực dân Pháp (lờ đi vai trò lãnh đạo của Đảng và Hồ chủ tịch). Sở dĩ kháng chiến chống Pháp khó xuyên tạc là vì thực dân Pháp đã đô hộ, bóc lột, nô dịch dân ta trong suốt gần 1 thế kỷ Pháp thuộc, và khái niệm “trăm năm nô lệ giặc Tây” đã in ấn sâu đậm, khắc cốt ghi tâm trong lòng dân chúng.
Còn kháng chiến chống Mỹ dễ xuyên tạc hơn, do nó là cuộc chiến tranh xâm lược kiểu mới, trong thời đại mới, thông qua ngụy quyền mà nó dựng lên để kiểm soát miền Nam Việt Nam, khống chế khu vực và chiếm đoạt tài nguyên, trên danh nghĩa “tham chiến giúp đỡ đồng minh”. Chứ trên danh nghĩa họ không trực tiếp trắng trợn gọi miền Nam VN là thuộc địa như thực dân Pháp trong thời Pháp thuộc, và cũng không chính thức sát nhập miền Nam VN vào lãnh thổ chính quốc như phong kiến Trung Hoa trong thời Bắc thuộc.
Đây là một hình thức xâm lược “văn minh” và ma giáo. Dân ta lại chưa kinh qua cuộc xâm lược kiểu này trong lịch sử, và trước đó Mỹ cũng chưa xâm lược, chiếm đóng, đô hộ nước ta với hình thức như thực dân Pháp đã làm trong thời Pháp thuộc. Cái gì mà mới mẻ, chưa có kinh nghiệm cho nó thì thường dễ gây nhiễu nhân tâm hơn.
Đó cũng là lý do vì sao mà trong thời Pháp thuộc suốt gần 100 năm, Việt Nam lại có nhiều Việt gian cam tâm làm tay sai đắc lực cho Pháp đến như vậy, nhiều hơn gấp trăm lần so với các cuộc chiến chống xâm lược phương Bắc. Đó là vì hình thức xâm lược của thực dân Pháp khác với hình thức xâm lược, đô hộ kiểu cũ của phong kiến Trung Hoa. Pháp không chính thức sát nhập Đại Nam vào lãnh thổ Pháp, mà sử dụng Đại Nam làm một thuộc địa (colony), làm một nơi để khai thác, vơ vét, bóc lột, trên danh nghĩa “bảo hộ” triều đình An Nam, An Nam vẫn có vua, nhà Nguyễn vẫn còn đó. Trước thời Pháp thuộc thì dân ta lại chưa kinh qua cách thức xâm lược và đô hộ như thế này, nên cũng có nhiều người mơ hồ về việc Pháp xâm lược Đại Nam, họ coi mình là đang phục vụ triều đình, chỉ huy lính Nam triều, chứ không nghĩ mình đang phục vụ cho Pháp, họ cho rằng Pháp đã đem ánh sáng văn minh phương Tây vào Đại Nam, giúp khai hóa dân tộc Việt, giúp Đại Nam có tự do tôn giáo, tự do truyền đạo, bảo hộ và giúp đỡ triều đình và đất nước ta, giúp người Việt chống Trung Hoa (quân Thanh, quân Cờ Đen, quân Cờ Vàng, quân Cờ Trắng v.v.), họ tự lừa dối bản thân, họ cố nghĩ như vậy, nhiều khi cũng chỉ để cho lương tâm không bị cắn rứt, tự an ủi bản thân, tương tự như nhiều người trong thời Mỹ sau này.
Trong lịch sử các nước, phía xâm lược luôn có những chiêu bài chính trị để hợp thức hóa hành động xâm lược, xâm phạm chủ quyền. Chiêu thức dựng lên một “đối tượng để giúp đỡ” là chiêu đã được dùng đi dùng lại từ ngàn xưa. Như nhà Minh “phù Trần diệt Hồ”. Như Mông Cổ “giúp” Trần Ích Tắc làm vua. Quân đội Mãn Thanh “giúp” Lê Chiêu Thống khôi phục cơ nghiệp tổ tông và chống “giặc Tây Sơn” v.v. Nó luôn lặp lại với những hình thức khác nhau, nhưng bản chất thì vẫn vậy, “bình mới rượu cũ”.
Trong lịch sử Việt Nam, mỗi thời kỳ giặc xâm lược đều có những hình thức xâm lược khác nhau, và ngày càng tinh vi hơn. Mục tiêu xâm lược cũng có những khác biệt nhất định. Phong kiến Trung Hoa xâm lược Đại Việt, chiếm đất đai, sát nhập lãnh thổ Đại Việt vào Trung Hoa, biến đất Việt thành đất Trung Hoa, biến Đại Việt thành một quận huyện của họ. Và trong thời gian đô hộ thì không tồn tại triều đình người Việt.
Pháp bắt đầu xâm lược Đại Nam năm 1858, ép nhà Nguyễn ký hiệp ước dâng lên Nam Kỳ Lục tỉnh rồi lần lượt “bảo hộ” Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Họ chiếm hữu và trục lợi ở Việt Nam và Đông Dương như một thuộc địa, nhưng trên danh nghĩa thì vẫn có vương quốc An Nam “độc lập”. Vẫn có triều đình Huế với các “hoàng đế” có ngai nhưng không quyền. Họ trực tiếp quản lý VN bằng Toàn quyền Đông Dương, và dưới trướng có rất nhiều cộng sự người Việt mà dân gian gọi là “chó săn” của Pháp. Họ thiết lập một hệ thống ngụy quyền quy mô, rộng lớn, bao gồm những lực lượng ngụy quân (lính Nam triều, lính khố xanh, khố đỏ, khố vàng) được huấn luyện chu đáo và chuyên nghiệp.
Cho thấy rằng Pháp cũng xâm lược, nhưng hình thức xâm lược, hình thức chiếm đóng, hình thức trục lợi là khác với phong kiến Trung Hoa. Pháp không chủ trương sát nhập Đông Dương vào “nước mẹ Đại Pháp”, mà chỉ muốn xơ múi, khai thác, bóc lột, vơ vét những lợi ích tài nguyên màu mỡ, những nguồn nhân lực, nô lệ, lao công phong phú ở đây. Tóm lại là hút cạn kiệt thuộc địa để làm giàu cho mẫu quốc.
Pháp không cần Việt Nam thành một phần của nước Pháp. Không coi Đông Dương là nước Pháp, mà họ coi Đông Dương và Việt Nam là một vùng thuộc địa (colony) để họ khai thác, họ coi họ là “nước mẹ” của thuộc địa này. Ngụy triều của người Việt được phép tồn tại và làm vật trang trí. Ngụy quân người Việt được xây dựng, trang bị, huấn luyện, và trả lương. Đây gọi là chủ nghĩa thực dân kiểu cũ, khi mà tên giặc không cần sát nhập lãnh thổ, cướp đất đai trên danh nghĩa, thay vào đó, họ mị dân bằng những tuyên bố “bảo hộ” sự “độc lập” của vương quốc An Nam trên danh nghĩa. Họ cho người Pháp vào trực tiếp quản lý, trực tiếp nắm lấy. Và các cộng sự người Việt chỉ là loại thừa hành cấp thấp. Người Pháp chỉ việc tha hồ bóc lột và nô dịch nhân dân bản xứ.
Hoa Kỳ viện trợ và giúp đỡ Pháp tái chiếm Việt Nam thất bại, sau đó trực tiếp nhảy vào rồi từng bước hất cẳng Pháp, thu nhận và nuôi dưỡng ngụy quyền và ngụy quân mà Pháp đã sử dụng và để lại. Thay tên đổi họ lại cho ngụy quân, ngụy quyền, tổ chức lại, xây dựng lại, vá lại, thay đổi tay sai, chỉ giữ “quốc kỳ” và “quốc ca”.
Cách thức xâm lược của giặc ngoại xâm theo tiến trình lịch sử, theo sự tiến hóa của văn minh nhân loại, cũng thay đổi và “nâng cấp” theo thời gian, càng lúc càng mị dân và được ngụy trang tinh vi hơn.
Mỹ xâm lược Việt Nam là xâm lược kiểu thực dân mới. Theo đó, ông chủ đứng ngoài thu lợi, quan sát, kiểm soát. Còn phần quản lý thuộc trách nhiệm của ngụy quyền bản địa, chứ giặc xâm lược không trực tiếp bắt tay vào làm như thực dân cũ. Tương tự như người đạo diễn đứng ngoài điều khiển, chỉ đạo, các diễn viên cứ thế mà diễn tuồng, đóng kịch. Đến khi diễn viên bất tài vô dụng quá mức, không đảm đương nổi vai diễn, vai trò, thì có khi đạo diễn phải nhảy ra sân khấu làm kép chính luôn, và 58 vạn quân Mỹ, trong giai đoạn 1964-1973, đã tiến vào tham chiến trực tiếp như bọn thực dân cũ, như xâm lăng thời phong kiến.
Do đó nếu chỉ nhìn các cuộc chiến tranh trong lịch sử hiện đại và ngày nay bằng cặp mắt phong kiến lạc hậu, chỉ biết đến các hình thức xâm lược của phong kiến từ xa xưa mấy ngàn năm trước, cứ phải có cùng một hình thức thủ đoạn chính trị, quân sự đó thì mới là xâm lược, thì thật là thiếu sót, lạc hậu, kém cập nhật.
“Thắng làm vua, thua làm giặc”?
Một luận điệu lệch lạc, phi thực tế thường xuất hiện sau ngày Việt Nam chiến thắng: “Được làm vua, thua làm giặc”, “lý lẽ và chân lý thuộc về kẻ chiến thắng”. Hai câu này đã có từ lâu và cũng đúng phần nào, tuy nhiên, những kẻ phản động đã lấy 2 câu này của người xưa rồi gán ghép bừa bãi và dùng những câu này để bóp méo bản chất của kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của Việt Nam.
Thực tế mà nói, hai câu trên không tuyệt đối đúng: Triệu Đà chiến thắng và có tuyên truyền thế nào thì An Dương Vương cũng không phải là giặc. Phong kiến Trung Hoa chiến thắng và có tuyên truyền đến thế nào thì Trưng Vương, Bà Triệu, Phùng Hưng, Mai Hắc Đế, Lý Nam Đế cũng không là giặc. Lý Phật Tử đã chiến thắng nhưng Triệu Việt Vương cũng vẫn không phải là giặc.
Nhà Minh chiến thắng và có tuyên truyền đến mức nào thì Hồ Quý Ly, Trần Giản Định, Trần Trùng Quang cũng không phải là giặc. Nhà Nguyễn chiến thắng và có tuyên truyền đến mức nào suốt hơn 100 năm thì người dân vẫn xem nhà Tây Sơn là anh hùng, không phải là giặc. Thực dân Pháp và bọn phản động trong thời Pháp thuộc dù có tuyên truyền đến thế nào thì các nghĩa quân cũng không phải là “giặc phiến loạn”.
Giặc Pháp, giặc Mỹ và tay sai trong suốt hơn 30 năm chiến tranh, thắng bao nhiêu lần, nhưng dù có tuyên truyền đến mức độ nào thì cũng không biến được cuộc kháng chiến chống Mỹ thành cuộc “nội chiến”, “ý thức hệ”, “cuộc chiến quốc tế”, “cuộc chiến ủy nhiệm”. Thực tế lịch sử đã cho thấy: Chân lý không phải lúc nào cũng thuộc về kẻ chiến thắng, mà thuộc về nhân dân, thuộc về chính nghĩa dân tộc.
Chân lý chỉ thuộc về kẻ chiến thắng với điều kiện kẻ chiến thắng đó chính là nhân dân, là dân tộc, và lực lượng quân sự, chính trị mà dân tộc đó, nhân dân đó ủng hộ. Thực tế lịch sử khách quan thì không thể phủ nhận được.
Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Triệu Quang Phục, 11 sứ quân, nhà Hồ, nhà Hậu Trần, nhà Mạc, chúa Nguyễn, chúa Trịnh v.v. đều đã thua nhưng dân tộc Việt Nam không coi họ là giặc, là ngụy.
Còn các triều đình Huế thời Pháp thuộc, ngụy quyền Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu v.v. thì dân ta đã gọi họ là ngụy, là giặc ngay trong lúc chưa chiến thắng, ngay trong lúc giặc chưa thua. Trước 1975, khi Mỹ – Việt chưa biết ai thắng ai thua thì dân miền Nam đã gọi ngụy quyền là “ngụy” rồi.
Quan niệm “thắng làm vua, thua làm giặc” cũng không phải lúc nào, thời nào cũng đúng với thực tế, đúng với lịch sử. Quan điểm này chỉ đúng trong những cuộc chiến nội bộ trong thời phong kiến. Trong lịch sử nước ta, giặc Đông Hán, giặc Minh, giặc Pháp từng chiến thắng nhưng họ vẫn mãi là giặc. Họ vẫn là giặc khi bắt đầu cuộc chiến, trong cuộc chiến và sau cuộc chiến, dù thời điểm nào thì vẫn đều là giặc.
Giặc là giặc, ngụy là ngụy, chính là chính, tà là tà, chính nghĩa là chính nghĩa, phi nghĩa là phi nghĩa, tự vệ là tự vệ, xâm lược là xâm lược, nội chiến là nội chiến, chống ngoại xâm là chống ngoại xâm. Những điều này không phụ thuộc vào sự duy ý chí của con người, cảm tính, cảm nghĩ của cá nhân, niềm tin cá nhân của con người, mà nó phụ thuộc vào thực tế lịch sử khách quan và bản chất của các đối tượng tranh đấu trong cuộc chiến đó. Bạn có nghĩ, tin, tuyên truyền cá đi trên bờ thì con cá vẫn lội dưới nước.
Dĩ nhiên trong trường hợp khoa học lịch sử, thì gọi thế nào ít nhiều có phụ thuộc phần nào đó vào góc độ lợi ích của quốc gia dân tộc liên quan, trong trường hợp của Đại Việt – Việt Nam nghìn năm nay thì đều có những tiêu chí rất rõ ràng, khó nhầm lẫn, để đánh giá, nhận định ai là giặc, ai là ngụy. Không thể chỉ vin vào kết quả thắng – thua hay thực lực yếu – mạnh rồi đánh đồng tất cả, đánh tráo khái niệm, cào bằng giá trị, vàng thau lẫn lộn, thiện ác bất phân.
Như tại miền Nam Việt Nam trong khi cuộc chiến vẫn đang diễn ra thì những cụ già từ thôn quê đến thành phố đã gọi Mỹ-ngụy là giặc, họ gọi thế ngay dưới mạng lưới truyền thông, sách báo, hệ thống tuyên truyền, và bộ máy trấn áp khổng lồ và tinh vi của giặc Mỹ và tay sai. Họ thấy khắp miền Nam đều dày đặc người Mỹ, lính Mỹ, “Tây ba lô” da trắng, mắt xanh mũi lõ. Những kẻ mà họ gọi là “chó săn” kia thì khúm núm trước quan thầy Hoa Kỳ, ai được chụp hình chung với người Mỹ là mặt mày tươi rói, kênh kiệu, vênh váo, sáng rỡ hẳn lên, rồi dựa thế của Mỹ lên mặt với đồng bào, cướp bóc, vơ vét, xách nhiễu, quấy rối, gây khó dễ. Thì họ coi Mỹ-ngụy là giặc là chuyện tất nhiên.
Bà con mình thấy bọn Việt gian chỉ đường và thông ngôn, thông dịch cho quân Mỹ đi càn quét khắp miền quê Nam Bộ, đi càn hết làng này sang thôn khác thì không gọi là giặc thì gọi là gì? Liên quan gì đến kết quả ai thắng, ai bại?
Thực dân Pháp đã từng chiến thắng hàng trăm cuộc chiến trong thời Pháp thuộc, từng tiêu diệt hàng trăm lực lượng nghĩa quân, lê máy chém trên khắp đất Việt chặt đầu hàng chục ngàn thủ lĩnh, lãnh tụ, tướng lĩnh của nghĩa quân. Nhưng thực dân Pháp mãi mãi là giặc, các ngụy triều ở Huế thời Pháp thuộc mãi mãi là ngụy, lính khố xanh, khố đỏ là ngụy, bọn tay sai đắc lực của Pháp như Trần Tiễn Thành, Hoàng Cao Khải, Trần Bá Lộc, Nguyễn Thân v.v. luôn luôn là ngụy, chắc chắn là ngụy. Dù bên nào thắng, bên nào thua thì lịch sử vẫn không thay đổi.
Vậy không gọi là ngụy thì gọi là gì?

Yêu nước ST.

BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG BẠO LOẠN LY KHAI

 

BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG BẠO LOẠN LY KHAI

Phòng chống bạo loạn ly khai là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của tất cả các cấp, các ngành, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Đây là quan điểm cơ bản chỉ đạo việc xây dựng và phát huy sức mạnh tổng hợp của ta đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta bằng nhiều biện pháp, thủ đoạn, trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Nếu không phát huy trách nhiệm phòng chống của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thì sẽ tạo kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng tiến hành các hoạt động chống phá và cũng không tạo được sức mạnh tổng hợp để phòng chống bạo loạn ly khai giành thắng lợi.

Lực lượng tiến hành bạo loạn ly khai, bao gồm cả lực lượng bên trong và bên ngoài. Lực lượng bên trong gồm: Các phần tử lãnh đạo chính trị đối lập; phần tử bị kích động, lôi kéo của các thế lực thù địch; các phần tử thoái hóa biến chất, cơ hội chính trị, có tư tưởng dân tộc, tôn giáo cực đoan hẹp hòi; lực lượng vũ trang bí mật trong các tổ chức dân tộc, tôn giáo phản động; bộ phận quần chúng nhân dân bị lừa gạt lôi kéo, kích động tham gia bạo loạn ly khai. Lực lượng bên ngoài gồm: lực lượng phản động quốc tế; một số tổ chức phi chính phủ; có thể cả lực lượng đặc biệt, lực lượng phản ứng nhanh; các tổ chức tình báo đội lốt cơ quan ngoại giao của các nước thù địch, các tổ chức chính trị, lực lượng phản động từ bên ngoài xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam.

Phòng chống bạo loạn ly khai phải sử dụng sức mạnh tổng hợp của các lực lượng tham gia, trong đó quân đội và công an làm nòng cốt. Các thế lực thù địch, phản động tiến hành hoạt động bạo loạn ly khai bằng cả biện pháp quân sự và phi quân sự, cả công khai và bí mật. Do đó, có phát huy được vai trò nòng cốt của quân đội, công an mới phát huy được sức mạnh toàn dân. Ngược lại, có động viên, tổ chức được toàn dân tham gia phòng chống bạo loạn ly khai thì quân đội, công an mới hoàn thành được vai trò là lực lượng nòng cốt.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 


Thời gian qua, công tác đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã đạt được những kết quả tích cực. Ban chỉ đạo 35 các cấp được thành lập, cùng với cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, lực lượng chuyên sâu, lực lượng tham gia đấu tranh ở từng cấp đã hoạt động hiệu quả, góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Tuy nhiên, trước âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, nham hiểm, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

Một là, chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của các đối tượng để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở Việt Nam hiện nay cần có những nội dung, phương thức phù hợp với từng thời điểm, giai đoạn nhất định. Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức lợi dụng internet, mạng xã hội để chống phá, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, bởi vậy, ngoài hình thức đấu tranh truyền thống, cần bổ sung những hình thức đấu tranh mới, như: đấu tranh trực tiếp, trực diện trên không gian mạng, thông qua các phương tiện truyền thông xã hội; xây dựng đội ngũ thông tin viên rộng rãi, nhất là hội viên các đoàn thể nhân dân…

Hai là, tiếp tục tuyên truyền, làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần ở nước ta. Thực hiện nghiêm, có hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9-2-2018, của Ban Bí thư khóa XII “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tăng cường công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, kịp thời luận giải những vấn đề lý luận mới, khó, còn nhiều ý kiến khác nhau, tạo sự đồng thuận trong nhận thức xã hội. Bằng các hình thức tuyên truyền phù hợp, giúp cán bộ, đảng viên, nhân dân hiểu rõ và nắm vững bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thấy rõ bản chất phản động của những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch…

Ba là, kiên định, vận dụng đúng đắn và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. V.I. Lê-nin đã từng chỉ rõ: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”(6). Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin nghĩa là phải nắm vững bản chất khoa học và cách mạng, vận dụng và phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta, để những nội dung, quan điểm của học thuyết Mác - Lê-nin có thêm sức sống mới, được hiện thực hóa, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay./.

Nắm vững học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác – Lênin, đấu tranh với những quan điểm sai trái

 


Việc phát hiện ra quan niệm duy vật về lịch sử, C.Mác không chỉ loại bỏ được khiếm khuyết căn bản của những lý luận lịch sử trước đó và "lần đầu tiên” giúp chúng ta “nghiên cứu một cách chính xác như khoa lịch sử tự nhiên, những điều kiện xã hội của đời sống quần chúng và những biến đổi của những điều kiện ấy", "mở đường cho việc nghiên cứu rộng rãi và toàn diện quá trình phát sinh, phát triển và suy tàn của các hình thái kinh tế xã hội".

C.Mác đã khám phá ra các quy luật của sự phát triển xã hội, xây dựng nên học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội và quan niệm về sự phát triển xã hội với tư cách một quá trình lịch sử - tự nhiên. C.Mác đã "làm nổi bật riêng lĩnh vực kinh tế" và trong tất cả mọi quan hệ xã hội, "làm nổi bật riêng những quan hệ sản xuất, coi đó là những quan hệ cơ bản, ban đầu và quyết định tất cả mọi quan hệ khác"; đồng thời, "đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất". Bằng cách đó, V.I.Lênin khẳng định, C.Mác đã "có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên".

Trong thời đại ngày nay, trước sự phát triển hết sức đa dạng và vô cùng phức tạp của các dân tộc, các quốc gia thì quan niệm duy vật về lịch sử mà nội dung cốt lõi là lý luận hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác vẫn cứ là công cụ sắc bén nhất giúp chúng ta nhận thức và tìm ra tiến trình vận động và phát triển của xã hội loài người. Và, hơn nữa, với lý luận này của C.Mác, chúng ta vẫn hoàn toàn có thể tin tưởng vững chắc rằng, dẫu lịch sử nhân loại ngày nay có phải trải qua sự vận động và phát triển với những khúc quanh co, phức tạp, kể cả bước thụt lùi, thì xu hướng chung của nó vẫn cứ diễn ra theo con đường lịch sử - tự nhiên là sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội và đi lên chủ nghĩa xã hội vẫn là một tất yếu khách quan, bởi đó là quy luật tiến hóa của lịch sử nhân loại.

Ý nghĩa thời đại và sức sống trường tồn của triết học Mác chính là cơ sở để chúng ta khẳng định xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh mà Đảng ta đã xác định khi lựa chọn con đường đổi mới là hoàn toàn đúng đắn và có cơ sở khoa học. Sự đúng đắn và cơ sở khoa học đó bắt nguồn từ bản chất cách mạng và tính khoa học của triết học Mác. Chúng ta kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin, triết học Mác - Lênin không có nghĩa là áp dụng một cách nguyên xi, máy móc, mà là vận dụng một cách khoa học và sáng tạo những tư tưởng, nguyên lý, quy luật nền tảng của nó trong những điều kiện lịch sử mới và phù hợp với thực tiễn đất nước. Những thành công rất đáng tự hào của 35 năm đổi mới đã chứng minh điều đó./.

ĐẨY MẠNH ĐẤU TRANH CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 


Chủ nghĩa Đế quốc và các thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ âm mưu xóa bỏ CNXH ở nước ta; Vì vậy, hiện nay và trong những năm tới đấu tranh chng “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập;  “phi chính trị hóa” quân đội …vẫn và luôn là mặt trận nóng bỏng, quyết liệt và vô cùng khó khăn, phức tạp.

Để chống phá ta, các thế lực thù địch và cơ hội chính trị đang triệt để lợi dụng các vấn đề môi sinh, môi trường, những bức xúc của người dân một số địa phương trong giải phóng mặt bằng, tai nạn trong huấn luyện quân sự và giao thông..., để xuyên tạc, bóp méo sự thật, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đôi với Đảng, Nhà nước, quân đội ta. Họ kích động tâm lý, tập hợp đông người ký đơn, khiếu kiện tập thể, tổ chức biểu tình, lãn công, bãi công, làm rối loạn trật tự an toàn xã hội, gây mất ôn định chính trị, tạo áp lực lốn lên Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương.

Chúng tiến công, phản bác chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với hy vọng hạ bệ và thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng hệ tư tưởng tư sản. Họ xuyên tạc: Con đưòng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta lựa chọn, đang đi là không phù hợp, chỉ đưa đất nước “luẩn quẩn trong cảnh đói nghèo”...; và cho rằng, cần tiến hành cuộc cách mạng dân chủ theo kiêu phương Tây, tạo ra “cuộc chuyển giao quyền lực êm thâm, không đổ máu”. Họ chống phá Đảng, Nhà nưốc, chế độ ta rất quyết liệt với mọi thủ đoạn nham hiểm, tinh vi, với đa dạng hình thức, biện pháp: sử dụng hệ thống phương tiện truyền thông; không gian mạng, in ấn…sách báo,...truyên truyền, xuyên tạc, kích động…. nhằm làm cho một bộ phận người dân hoài nghi về tính đúng đắn của lý luận Mác - Lênin, tư tưỏng Hồ Chí Minh, dao động, hoang mang vê' tư tưởng, dẫn đến mất phương hướng chính trị, cả về tư tưỗng, lý luận và văn hóa. Đó là cách chúng tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưỏng Hồ Chí Minh, phá võ trận địa tư tưỏng vô sản, thiết lập sự thống trị của hệ tư tưởng tư sản trong xã hội ta.

Chống phá chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Họ xuyên tạc, phê phán các vấn đề cốt lõi trong  học thuyết như phủ nhận lý luận hình thái kinh tế xã hội của Mác; Xuyên tạc học thuyết giá trị thặng dư; phê phán lý luận về thời đại ngày nay, phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, các nguyên lý về Đảng kiểu mới của Lê-nin; bôi nhọ lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác – lênin; cổ súy, ca ngợi chủ nghĩa tư bản, xuyên tạc, bóp méo sự thật, phủ nhận những giá trị khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm đổi mới hiện nay ở nước ta…thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ Đảng viên và nhân dân.

Tình hình đó làm cho cuộc đấu tranh chông “diễn biến hòa bình” càng trở nên khó khăn, phức tạp hơn…..

Bên cạnh sự tiến công toàn diện và quyết liệt của các thê lực thù địch, thì trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những biểu hiện mới, rất phức tạp. Đây thực sự là một nguy cơ đối với vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng.

Vì vậy, đấu tranh với âm mưu DBHB,BLLĐ là nhiệm vụ hết sức quan trọng cần thiết lúc này……….Nếu không chống được thì sẽ bất ổn chính trị…..không tập trung cho phát triển kinh tế….Làm rối loạn xã hội…..

 

CHỦ NGHĨA MÁC –LÊNIN LÀ KIM CHỈ NAM, MẶT TRỜI SOI SÁNG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 


Chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ thống các quan điểm lý luận khoa học và phương pháp luận biện chứng, ra đời từ những năm 40 của thế kỷ XIX là sự kết tinh và là đỉnh cao trí tuệ của loài người, của tinh hoa văn hóa nhân loại. Ngay từ khi ra đời, Chủ nghĩa Mác - Lênin nhanh chóng được truyền bá vào phong trào công nhân, đặc biệt ở các nước tư bản chủ nghĩa Châu Âu, với tính cách mạng và khoa học trở thành thế giới quan và phương pháp luận cách mạng trong nhận thức và cải tạo thế giới là công cụ nhận thức vĩ đại, trở thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của các Đảng Cộng sản trên thế giới và với cách mạng Việt Nam.

Vào giữa những năm 20 của thế kỷ XX, thấm nhuần tính cách mạng và khoa học của học thuyết, Hồ Chí Minh đã truyền bá chủ nghĩa chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam. Lí luận chủ nghĩa Mác - Lênin đã nhanh tróng kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước tạo ra sự chuyển hướng căn bản cho con đường đấu tranh giành tự do và độc lập cho nhân dân và dân tộc Việt Nam, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là mốc quyết định, đánh dấu sự chuyển hướng ấy.

Thực tiễn lịch sử tư tưởng nhân loại, có rất nhiều các học thuyết lý luận mà các nền văn minh của nhân loại đã tạo ra. Nhiều học thuyết lý luận sống mãi với thời gian cho đến tận ngày nay, trong đó chiếm vị trí hàng đầu, nổi bật vẫn là hệ thống lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Bác Hồ đã từng nói : "Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Mác - Lê-nin" vẫn hoàn toàn đúng với chúng ta trong thế giới đương đại.

Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin đã nghiên cứu, giải thích, dự báo sự phát triển mang tính lịch sử - tự nhiên của xã hội loài người nói chung, mỗi dân tộc nói riêng, đó là lịch sử phát triển và thay thế nhau của các hình thái kinh tế - xã hội. Sự phát triển đó, là  sự phát triển của quan hệ sản xuất theo hướng tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất, trên đó xây dựng nên một kiến trúc thượng tầng thích hợp, định hình một hình thái kinh tế xã hội tiến bộ. Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin làm nổi bật lên bản chất, quy luật vận động, những mâu thuẫn của chúng và dự báo sự sụp đổ tất yếu, sự thay thế giữa  các hình thái kinh tế xã hội với nhau hoặc tuần tự hoặc nhảy vọt một cách biện chứng, theo quy luật. Theo đó, học thuyết đã vạch ra sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội là quá trình lịch sử - tự nhiên. Từ chế độ cộng sản nguyên thủy nhân loại bước lên chế độ chiếm hữu nô lệ rồi chế độ phong kiến tới chủ nghĩa tư bản, và sau hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa ấy phải là một hình thái kinh tế - xã hội mới tiến bộ hơn, đó chính là cộng sản chủ nghĩa, mà giai đoạn đầu là xã hội chủ nghĩa. Sự vận động, biến đổi và phát triển đó là một tất yếu lịch sử, hợp quy luật khách quan mà khoa học mácxít đã chỉ ra. Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng đã vạch trần một cách chính xác bản chất bóc lột của chế độ tư bản chủ nghĩa là bóc lột giá trị thặng dư - thủ đoạn, hình thức bóc lột nhân dân lao động rất tinh vi, là  nguồn gốc của áp bức, bất công, chà đạp lên độc lập tự do của các quốc gia, dân tộc, phẩm giá của con người. Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin là cơ sở lí luận khoa học, giúp giải quyết tất cả những vấn đề đặt ra của lịch sử, những yêu cầu tiến bộ của nhân loại cần lao, là một căn cứ quyết định cho các tổ chức cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế, cho các đảng cộng sản chân chính đề ra đường lối chiến lược, sách lược cách mạng của mình, giúp nhân dân các dân tộc thấy con đường cách mạng để tự giải phóng mình, giành độc lập dân tộc, dân quyền và tự do, xóa bỏ áp bức, bất công, giải phóng mình khỏi chủ nghĩa thực dân cũ và mới. ( còn nữa)

 

Bài học rút ra trong chiến sự Nga - Ukraine

 


Khi chiến dịch quân sự của Nga ở Ukraine cán mốc ngày thứ 100, The Telegraph đã nhìn lại những tính toán và bước đi của các chiến thuật quân sự, từ việc sử dụng máy bay không người lái đến xe tăng, để rút ra bài học cho chiến tranh hiện đại.

ĐÁNH CHO SỬ TRI NAM QUỐC ANH HÙNG CHI HỮU CHỦ!”

 

ĐÁNH CHO SỬ TRI NAM QUỐC ANH HÙNG CHI HỮU CHỦ!”

Quang Trung - Nguyễn Huệ, người anh hùng áo vải cờ đào, thủ lĩnh của phong trào khởi nghĩa nông dân Tây Sơn, nhà quân sự thiên tài, vị hoàng đế anh minh với những chiến công vang dội chống thù trong, giặc ngoài ở Quy Nhơn, Phú Yên, Phú Xuân, Rạch Gầm - Xoài Mút, mà đỉnh cao là chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa lịch sử.

Sinh ra và lớn lên giữa thế kỷ XVIII trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt, Đàng Ngoài chúa Trịnh lấn át vua Lê, Đàng Trong chúa Nguyễn suy tàn, gian thần lộng hành, đời sống nhân dân cả nước rơi vào cảnh lầm thân, Nguyễn Huệ cùng với anh em ruột là Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ dựng cờ khởi nghĩa và nhanh chóng trở thành yếu nhân trụ cột, linh hồn của phong trào nông dân Tây Sơn vĩ đại, dẹp yên loạn lạc, chấm dứt những cuộc xâu xé quyền lực của các tập đoàn phong kiến thối nát.

Sau khi đánh tan 5 vạn quân Xiêm xâm lược, ổn định phía Nam, Nguyễn Huệ thân chinh cầm quân ra Bắc diệt Trịnh, sắp xếp cơ đồ giao lại cho nhà Lê. Nguyễn Huệ trở về trấn giữ Phú Xuân chưa được ba lâu thì được tin quân Mãn Thanh xâm lược với âm mưu thôn tính, biến nước ta thành quận huyện của chúng. Thấy rõ dã tâm đen tối của kẻ thù, trước tình thế vận mệnh quốc gia nghìn cân treo trên sợi tóc, Nguyễn Huệ đã “Ứng mệnh  trời, thuận lòng người” lên ngôi hoàng đế để chính danh gánh vác trọng trách của đất nước khỏi họa xâm lăng. Lời hiệu triệu toàn dân đánh giặc của vị hoàng đế trẻ tuổi lay động tận tâm can bao thế hệ, chính là tuyên ngôn của một dân tộc bất khuất: “Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ!”.

Với ý chí mãnh liệt và thiên tài quân sự bẩm sinh, trước kẻ thù có lực lượng và tiềm năng gấp bội, Quang Trung đã tỉnh táo phân tích cục diện, biết địch biết ta, lựa chọn thời cơ, mở cuộc tiến công quyết chiến chiến lược đánh vào trung tâm đầu não chỉ huy của địch. Dưới sự thống soái của Quang Trung, đội quân Tây Sơn được sự hậu thuẫn của cả dân tộc, đã tiến công quyết liệt và chớp nhoáng vào những ngày Tết Nguyên đán, quét sạch quân xâm lược Mãn Thanh ra khỏi bờ cõi, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và nền độc lập tự do của Tổ quốc.

 Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa đánh dấu một mốc son chói ngời trong lịch sử dân tộc. Đó là chiến thắng đỉnh cao của phong trào Tây Sơn được tạo nên bằng sức mạnh quật khởi của những người nông dân tay lấm chân bùn cùng với ý chí độc lập tự chủ của cả dân tộc. Nó minh chứng thiên tài quân sự kiệt xuất và độc đáo của Quang Trung - Nguyễn Huệ, đồng thời phản ánh trình độ phát triển mới của chiến tranh cứu nước và nghệ thuật quân sự của Việt Nam, là niềm tự hào của dân tộc ta trong công cuộc dựng nước và giữ nước.

Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa khép lại một giai đoạn đau thương, đồng thời mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc: Thống nhất đất nước, ổn định chính trị, phát triển ngoại giao, mở mang kinh tế - văn hóa. Nếu như chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa dưới sự chỉ huy của Quang Trung đã tạo thành một kiệt tác trong lịch sử chống xâm lăng của dân tộc thì tinh thần canh tân của triều đại Quang Trung là một sự bứt phá về tinh thần đổi mới vô cùng tiến bộ. Trong “Chiếu lên ngôi”, vị anh hùng dân tộc Quang Trung - Nguyễn Huệ tuyên bố: “Trẫm nay cùng dân canh tân”, “Trẫm nay cùng dân đổi mới”. Với việc thực hiện lời tuyên bố ấy, Người đã thổi vào thời đại của mình một luồng gió mới đầy sinh khí mà ngày nay, sau hơn hai thế kỷ, chúng ta vẫn không khỏi kinh ngạc trước sự mới mẻ của một lối tư duy khoáng đạt, tự tin đầy tính chất khai phá, mở đường của vua Quang Trung. St3547

 

 

ĐANG YÊN, ĐANG LÀNH SAO CON CHÁU CHÚNG NÓ LẠI BỚI RA?

 

ĐANG YÊN, ĐANG LÀNH SAO CON CHÁU CHÚNG NÓ LẠI BỚI RA?

Nhà sử học Nguyễn Phước Vĩnh Khánh, cháu nội 7 đời vua Gia Long, cho biết ông mong muốn nhà nước Việt Nam tổ chức ngày lễ quốc gia mừng vua Gia Long (KẺ RƯỚC VOI VỀ GIÀY MẢ TỔ) lên ngôi, lập ra nhà Nguyễn (một triều đại phong kiến nhu nhược, mạt hạng nhất trong lịch sử Việt Nam). Ngày lễ mang tên Hưng Quốc Khánh Niệm diễn ra ngày 01/6 Dương lịch hàng năm. Theo đó, nhân dân cả nước sẽ được nghỉ học, nghỉ làm để nhớ về công ơn của Thế tổ Gia Long. Vì thế, quy mô của ngày lễ quốc gia này tương đương với Giỗ tổ Hùng Vương.

Ngoài ra, ông Vĩnh Khánh cũng đề nghị đặt tên Gia Long cho một con đường lớn tại Huế để tôn vinh ngài, như dòng họ Nguyễn Phước đã nhiều lần bày tỏ. Năm 1919, vua Khải Định lấy ngày Hưng Quốc Khánh Niệm là ngày Quốc khánh của Việt Nam, vì thế theo ông thì việc tái lập quốc lễ này là hợp tình, hợp lý, hợp lịch sử va vô cùng xứng đáng.

"Thương dân dân lập bàn thờ

Hại dân, dân đái ngập mồ thối xương".

Tự dưng đang yên, đang lành thì con cháu chúng nó lại bới ra cho thiên hạ đào mả tổ Nguyễn Phước lên, đúng là sự quả báo! Bởi vì trong lịch sử dòng họ này toàn là cõng rắn cắn gà:

“Bảo Đại là cháu Gia Long

Là con Khải Định, là dòng Việt gian

Gia Long cõng rắn cắn gà

Giầy mả ông bà, Bảo Đại rước voi

Ai ơi phải nhớ mấy lời

Đừng cho kẻ hại giống nòi mọc lên”

(Ca dao Việt Nam thời Nhà Nguyễn)

Gia Long - Nguyễn Ánh chính là kẻ đã đưa giặc Xiêm, đón giặc Thanh sang đánh phá cướp bóc của dân ta, rước giặc Tây về đô hộ Việt Nam, dâng đất nước cho Pháp làm thuộc địa, bắt Nhân dân ta phải chịu cảnh lầm than, cơ cực với thân phận nô lệ dưới ách cai trị của đế quốc, thực dân đến gần 100 năm...! Những kẻ đã có tội với quốc gia dân tộc, dù ở cương vị nào mãi mãi là tội đồ của dân tộc, thì không thể vinh danh với bất cứ thứ gì./. st3547

Thứ Hai, 6 tháng 6, 2022

Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng

 

Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng

Khi được hỏi rằng phải chăng có "một số lãnh đạo có tâm lý ngại Trung Quốc, muốn dĩ hòa vi quý với họ", Tướng Vịnh đã trả lời rất thẳng thắn như sau:

Thật ra khi có một kẻ đe dọa chủ quyền nước mình thì không ai có thể yên tâm và vui lòng được. Tâm lý nghi ngờ của nhiều người Việt Nam, tôi hiểu, nó rất bình thường. Nhưng điều tôi thấy không bình thường là nhiều người không phân biệt được giữa làm thế nào để giữ chủ quyền với làm gì cho bõ ghét. Việc chúng ta phải làm là giữ nhà, và quan hệ thuận hòa với láng giềng, chứ không phải thoá mạ làm mất mặt họ. Thoá mạ giúp chúng ta sướng miệng, chứ không giữ được nhà, cũng không có yên ổn mà làm ăn.

Tôi khẳng định, không một ai ở đất nước này có suy nghĩ rời bỏ hoặc nhân nhượng về chủ quyền, đặc biệt là những nhà lãnh đạo. Nếu để mất Biển Đông thì quân đội Việt Nam, các nhà lãnh đạo sẽ có tội với đất nước, và cũng sẽ không yên với dân được. Trong quân đội, từ trên xuống dưới, đều coi Biển Đông là sống còn. Chủ quyền lãnh thổ là điều chúng ta tuyệt đối không bao giờ buông tay.

Người Việt Nam cần đặt lòng tin vào Đảng, Nhà nước trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Thêm vào đó, mỗi người chúng ta có thể có những hành động thiết thực hơn để giữ nhà mình, làm sao để đất nước phát triển, thật nhanh, thật vững chắc - đó chính là giải pháp quan trọng nhất để giữ chủ quyền. Tôi muốn chúng ta phải xử lý vấn đề với sự khôn ngoan và tỉnh táo tuyệt đối, đấu tranh giữ chủ quyền, nhưng đừng để mất hòa bình, đừng cản trở sự phát triển của đất nước.

Tôi từng nói: "Nếu thêm cho tôi một dollar xuất khẩu nông sản thì sẽ bớt áp lực đi một dollar để bảo vệ chủ quyền Biển Đông". Đất nước phát triển, biên cương càng vững chắc. Mà phát triển không phải là để đổ tiền mua vũ khí. Trái lại, Trường Sa phải giàu lên để đất nước ngày càng giàu mạnh. Đó chính là giữ nhà. Đừng để những vụ tham ô, tham nhũng bào mòn lòng tin và sức mạnh quốc gia, đó là giữ nhà. Đừng vì yêu ghét mà không nắm bắt, tận dụng cơ hội phát triển của Trung Quốc để Việt Nam cùng phát triển. Đó là giữ nhà. Mỗi người dân hãy cùng đóng góp phát triển, xây dựng kinh tế, để đất nước hùng mạnh. Đó chính là giữ nhà. St3547