Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2022

 Xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh


Để thực hiện có hiệu quả và thực chất chủ trương xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; một trong những vấn đề mang tính căn cốt là phải xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó nền tảng, tạo sức mạnh nội sinh để mỗi cán bộ, đảng viên đấu tranh chống ảnh hưởng tiêu cực, những thói hư tật xấu, xứng đáng là đạo đức, là văn minh, là người lãnh đạo trung thành và tận tụy của nhân dân.


NHỮNG CHUẨN MỰC CỦA ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG


Chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ được coi là những điều quy định làm căn cứ để đánh giá phẩm chất, nhân cách của người đảng viên, để xem người đó có xứng đáng là thành viên trong đội tiên phong lãnh đạo của giai cấp công nhân, xứng đáng đảm nhận trọng trách với sự nghiệp cách mạng mà Đảng và nhân dân giao phó.


Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những lãnh tụ cách mạng, những nhà tư tưởng quan tâm và bàn luận nhiều nhất vấn đề đạo đức, đặc biệt là đạo đức cách mạng. Trên cơ sở xem xét một cách toàn diện, các lĩnh vực hoạt động của đời sống, trong các mối quan hệ và bản chất của con người, Hồ Chí Minh đã nêu lên chuẩn mực, những giá trị chung nhất, cơ bản nhất mang tính phổ quát của nền đạo đức mới - đạo đức cách mạng.


Người khái quát nội hàm đạo đức cách mạng là: “Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”(1); “Tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân”(2). Người nêu bật những phẩm chất của người cách mạng cần được bồi đắp là: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm và khẳng định: “Đó là đạo đức cách mạng. Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”(3). Như vậy, chuẩn mực đạo đức cách mạng theo Hồ Chí Minh không nằm ngoài những yêu cầu trong các chuẩn mực, hành vi đạo đức thông thường, mà là sự đòi hỏi cao hơn, trách nhiệm hơn đối với cái chung và trách nhiệm xã hội, trách nhiệm với sự nghiệp cách mạng.


Trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, người đảng viên chịu không ít những tác động tiêu cực, trong đó tác động trực tiếp và mạnh nhất đối với cán bộ, đảng viên chính là mặt trái của quyền lực, mặt trái của kinh tế thị trường, của hội nhập quốc tế.Cần đặc biệt lưu ý là mặt trái của quyền lực kết hợp với mặt trái của kinh tế thị trường, đã tạo thành một sự cộng hưởng gây nên những tiêu cực, suy thoái về đạo đức trong cán bộ, đảng viên hết sức nghiêm trọng. Tình hình đó đòi hỏi chuẩn mực đạo đức của người đảng viên cần có sự phát triển phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng. Văn kiện XIII của Đảng nêu yêu cầu phải “Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng theo tinh thần Đảng ta là đạo đức, là văn minh cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc”(4).


PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC TIÊU BIỂU CỦA MỖI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY


Để thực hiện có hiệu quả và thực chất chủ trương xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; một trong những vấn đề mang tính căn cốt là phải xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó nền tảng, tạo sức mạnh nội sinh để mỗi cán bộ, đảng viên đấu tranh chống ảnh hưởng tiêu cực, những thói hư tật xấu, xứng đáng là đạo đức, là văn minh, là người lãnh đạo trung thành và tận tụy của nhân dân. Có thể đề xuất một số phẩm chất đạo đức tiêu biểu của mỗi cán bộ, đảng viên hiện nay như sau:


Thứ nhất, bản lĩnh chính trị.


Đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay là thành viên của một đảng cầm quyền, đảng lãnh đạo giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Sứ mệnh đó đòi hỏi Đảng và mỗi đảng viên phải rất vững vàng, độc lập, sáng tạo trong việc đề ra và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách cũng như xây dựng nội bộ Đảng đoàn kết, vững mạnh; không dao động trước khó khăn, thử thách.Bởi vậy, bản lĩnh chính trị là phẩm chất chính trị tuyệt đối cần thiết đối với Đảng Cộng sản cũng như đối với mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng.


Bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên biểu hiện ở nhiều phương diện, trong đó nổi bật là sự kiên định mục tiêu, lý tưởng của cách mạng xã hội chủ nghĩa; sự trung thành với Tổ quốc, Đảng; sự vững vàng trước mọi tình huống, sự quyết tâm phấn đấu, vượt mọi khó khăn gian khổ để hoàn thành tốt nhiệm vụ, vì lợi ích của Đảng, của giai cấp, dân tộc và nhân dân. Hồ Chí Minh căn dặn mỗi đảng viên “phải giữ chủ nghĩa cho vững”(5), "Những người cộng sản chúng ta không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, cho chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta và trên toàn thế giới"(6). Kiên định mục tiêu, lý tưởng, tức là vô luận lúc nào, vô luận việc gì, cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau, nếu khi "lợi ích chung của Đảng mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân, thì phải kiên quyết hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Đảng"(7). Người phê phán nghiêm khắc những kẻ lợi dụng địa vị để mưu cầu lợi ích cá nhân làm tổn hại đến lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lạo động. “Suốt đời phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân"(8) là phẩm chất cao quý của người cách mạng” - đó là “tính Đảng”, là nguyên tắc cao nhất của Đảng mà mỗi đảng viên phải tuyệt đối chấp hành. Đó cũng là điều kiện tiên quyết hình thành những tình cảm tốt đẹp, cao cả, nhiệt huyết cách mạng, tình cảm và ý chí cách mạng của người đảng viên không ngừng phấn đấu cho sự nghiệp chung, phấn đấu đẩy mạnh công cuộc đổi mới, đóng góp trí tuệ, sức lực, tài năng cho việc xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Bên cạnh đó, Bộ Chính trị (khóa XIII) đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22/9/2021 về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung nhằm tạo cơ chế, góp phần xây dựng và tăng cường bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên.


Thứ hai, ham học hỏi, cầu tiến bộ.


Hồ Chí Minh đã từng lưu ý cán bộ, đảng viên: “Nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được. Không tiến bộ là thoái bộ. Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo. Mình mà không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình”(9). Công cuộc Đổi mới mà Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo thực hiện là một cuộc vận động mang tính cách mạng toàn diện và sâu sắc, diễn ra trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội. Đó là một quá trình khó khăn, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, chưa có mô hình định sẵn. Mặt khác, trong thời đại công nghệ và toàn cầu hóa hiện nay, thế giới đang có nhiều chuyển biến mạnh mẽ, nhiều vấn đề phức tạp mới nảy sinh. Từ đó, đòi hỏi Đảng Cộng sản lãnh đạo sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa phải có tiềm lực tư tưởng, khoa học mạnh mẽ ở trình độ cao của trí tuệ xã hội và thời đại, trong đó đảng viên phải là người có học thức, có năng lực trí tuệ và sáng tạo, có tinh thần ham học hỏi, cầu tiến bộ.


Cầu tiến bộ, ham học hỏi là phẩm chất đạo đức cách mạng rất căn bản, bởi chỉ khi mỗi cán bộ, đảng viên không ngừng học tập, nâng cao trình độ mọi mặt thì Đảng mới không bị lạc hậu, mới đủ sức mạnh trí tuệ để lãnh đạo dân tộc thực hiện mục tiêu, lý tưởng của mình. Phẩm chất này đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải nhanh chóng nắm bắt kiến thức khoa học hiện đại, trước hết là trong lĩnh vực hoạt động của mình, bắt kịp những thành tựu mới trong lĩnh vực chuyên môn mà mình đảm nhiệm. Phẩm chất này đòi hỏi mỗi người phải chống lại thái độ chây lười, ngại học tập, nâng cao trình độ, thoả mãn với vốn kiến thức đã có, coi thường khoa học, lý luận, đề cao kinh nghiệm, chống lại tình trạng cán bộ, công chức, đảng viên mà không thành thạo chuyên môn, chức trách, công việc được giao, làm ảnh hưởng đến việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cũng như sự tin tưởng của nhân dân với cán bộ, đảng viên. Xã hội càng hiện đại càng đòi hỏi trình độ kiến thức cao. Với sự nỗ lực học tập không ngừng, cán bộ, đảng viên mới có đủ khả năng lãnh đạo, quản lý xã hội phát triển.


Thứ ba, giữ vững kỷ luật Đảng và nghiêm chỉnh thực thi pháp luật của Nhà nước.


Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người. Đó là nhờ có kỷ luật”(10). Người yêu cầu “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(11). Là đảng viên cộng sản, thì khi nào và ở đâu cũng phải chịu sự phân công, quản lý của tổ chức Đảng, phải hành động theo phạm vi kỷ luật của tổ chức. Đảng viên chẳng những phải giữ gìn kỷ luật của Đảng mà còn phải giữ gìn kỷ luật của chính quyền, của cơ quan, đoàn thể cách mạng, của nhân dân, bởi “kỷ luật của chính quyền, của đoàn thể, nhân dân và Đảng cũng là một”(12). Đối với cán bộ, đảng viên càng có công thì càng phải khiêm tốn, đảng viên giữ vị trí càng cao, càng phải gương mẫu và nếu mắc sai phạm càng phải chịu kỷ luật nghiêm khắc. Trong bất kỳ trường hợp nào, mọi đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng và bình đẳng về mặt công dân trước pháp luật, không được “tự đặt mình cao hơn tổ chức, tự cho phép mình đứng ngoài kỷ luật”(13). Mọi đảng viên có quyền trình bày ý kiến riêng của mình. Song, khi đã có nghị quyết của tập thể thì phải làm theo nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số, cá nhân phục tùng tổ chức. Phục tùng kỷ luật, đó là “bổn phận”, là “nghĩa vụ” của đảng viên, ngược lại “không giữ vững kỷ luật của Đảng, không kiên quyết chấp hành chính sách và nghị quyết của Đảng, không thiết tha quan tâm đến lợi ích của Đảng - là trái với nghĩa vụ của đảng viên”(14).


Ý thức tổ chức kỷ luật của đảng viên phải được thể hiện cả trong suy nghĩ lẫn trong hành động, cả trong cách nói lẫn trong giao tiếp, ứng xử hàng ngày và trong công việc. Đảng viên phải gương mẫu chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quyết định, sự phân công, điều động của tổ chức; kiên quyết đấu tranh chống lại mọi biểu hiện tiêu cực, thoái hóa, biến chất đặc biệt là bệnh tham ô, tham nhũng.


Hồ Chí Minh chỉ rõ bản chất của tham ô, tham nhũng là ăn cắp của công, là nhũng nhiễu, gian lận, đục khoét nhân dân, là tham lam, là trộm cướp. Trong công cuộc Đổi mới, từ Đại hội Đảng lần thứ IX, Đảng ta đã nhận thức một cách sâu sắc thực trạng và những tác hại sâu sắc của căn bệnh này: “Điều cần nhấn mạnh là: tình trạng tham nhũng và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên đang cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, gây bất bình và làm giảm lòng tin trong nhân dân (...). Tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng”(15). Văn kiện Đại hội XIII thẳng thắn nêu lên khuyết điểm, hạn chế trong Đảng “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ còn phức tạp… Thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là của người đứng đầu chưa tạo được sự lan tỏa sâu rộng”(16). Bởi vậy, bên cạnh việc nêu cao đạo đức cách mạng cho mỗi cán bộ, đảng viên thì việc tăng cườngcông tác kiểm tra, giám sát, xử lý kỷ luật của Đảng; xây dựng và thực thi hệ thống pháp luật nghiêm minh là biện pháp cực kỳ cần thiết nhằm làm trong sạch hóa đội ngũ cán bộ.


Tăng cường ý thức kỷ luật không có nghĩa là thủ tiêu sự sáng tạo cá nhân của các cán bộ, đảng viên, đặc biệt trong công cuộc đổi mới toàn diện hiện nay rất cần tư duy, nhận thức mới có tính đột phá, tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ, nhanh chóng đời sống kinh tế xã hội. Song điều đó không có nghĩa đảng viên có thể là vượt qua các nguyên tắc, vi phạm các quy chế của Đảng, đặt mình ra ngoài tổ chức, đứng trên tổ chức, vi phạm các nguyên tắc tổ chức. Ý thức tổ chức, kỷ luật, đoàn kết nội bộ là một phẩm chất tiên quyết của đạo đức cách mạng. Nó bảo đảm cho các phẩm chất khác có thể thực hiện được trọn vẹn, đầy đủ và hoàn chỉnh.


Thứ tư, trọng dân, yêu dân, tin dân, gần dân, học dân.


Đảng ta đã xác định chế độ chính trị của nước ta là chế độ làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng. Sức mạnh vô địch của Đảng là ở mối liên hệ chặt chẽ với nhân dân. Không phải ngẫu nhiên Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, trau dồi quan điểm và thái độ đúng đắn đối với quần chúng, coi việc tôn trọng, học hỏi, có quan hệ mật thiết với quần chúng là một vấn đề thuộc về phẩm chất, tư cách, đạo đức của đảng viên.


Đảng ta là đảng cầm quyền, vì vậy, nhiều cán bộ, đảng viên là những người lãnh đạo, quản lý. Cán bộ, đảng viên còn là cầu nối giữa Đảng với quần chúng, là người tổ chức quần chúng thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, của Nhà nước. Bởi vậy, có yêu dân, có tin dân, có trọng dân, đảng viên mới hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, mới tích cực lắng nghe ý kiến của nhân dân, mới có thể khơi dậy và phát huy sức mạnh trí lực, nhân lực và tài lực của nhân dân. Có gần dân, đảng viên mới hiểu đời sống xã hội thực tiễn phong phú, sinh động đang diễn ra; mới nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân để đề ra các chủ trương, biện pháp phù hợp cũng như làm cho dân hiểu, dân tin vào chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, có học hỏi dân, đảng viên mới mở mang, làm giàu thêm hiểu biết của mình bằng trí tuệ sáng tạo và kinh nghiệm phong phú của nhân dân.


Đương nhiên, trong quá trình phát huy dân chủ phải chống thái độ theo đuôi quần chúng. Đặc biệt với sự bùng nổ công nghệ thông tin, sự phổ biến rộng rãi của các mạng xã hội như hiện nay, một vấn đề đưa có rất nhiều quan điểm, nhiều luồng ý kiến trái chiều nhau. Điều đó đòi hỏi cán bộ, đảng viên với tư cách là người lãnh đạo quần chúng, cần phải có đủ tầm, đủ tâm, đủ bản lĩnh để biết lắng nghe, chắt lọc những gì là thích hợp và đúng đắn. Sâu xa hơn, mỗi cán bộ, đảng viên cần luôn phải tự ý thức một chân lý hiển nhiên: có nhân dân thì mới có cán bộ, đảng viên; nhân dân bầu ra cán, trả lương cho cán bộ; không "trọng" dân, tức là đã phản bội người đã bầu mình, nuôi mình. Không “gần dân, trọng dân”, đó không chỉ là sự vi phạm đạo đức đảng viên mà rộng hơn là sự tha hóa của đạo đức “làm người”.


Thứ năm, phòng chống chủ nghĩa cá nhân.


Ngay sau khi Đảng trở thành Ðảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn thấy trước hoàn cảnh mới, người cán bộ, đảng viên rất dễ sa vào chủ nghĩa cá nhân. Người chỉ rõ: Chủ nghĩa cá nhân là trong bất cứ công việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết, muốn cho mọi người vì mình trước khi mình vì mọi người. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, đẻ ra hàng trăm thứ bệnh: tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa, tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, mệnh lệnh, v.v.... Từ đó, Người đặt ra nhiệm vụ “xoá sạch chủ nghĩa cá nhân”(17) là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, liên tục trong công tác xây dựng Đảng.


Trong điều kiện Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng lãnh đạo duy nhất và nhất từ khi nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng có điều kiện phát triển. Mục tiêu làm giàu bằng mọi giá, coi trọng lợi ích vật chất đã và đang trở thành cái đích hướng tới của không ít người. Do vậy, đối với cán bộ, đảng viên, nhất là đối với một số người có chức, có quyền nếu thiếu tu dưỡng đạo đức cách mạng, họ rất dễ bị cám dỗ và sa ngã bởi lợi ích vật chất "che mắt", việc lợi dụng chức quyền, thu vén cá nhân, tham nhũng, làm giàu bất chính dẫn đến suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, biến chất về phẩm chất chính trị là hệ quả tất yếu. Chống chủ nghĩa cá nhân hiện nay, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên luôn có ý thức phục tùng kỷ luật tập thể, biết đặt “việc công, lợi ích công” lên trên hết và trước hết, kiên quyết loại bỏ ham muốn không chính đáng, làm phương hại đến lợi ích tập thể, lợi ích của Đảng, của nhân dân và dân tộc.


Nêu cao chủ nghĩa tập thể, chống chủ nghĩa cá nhân không có nghĩa là hy sinh lợi ích chính đáng của cá nhân, xóa bỏ cá tính cá nhân. Chủ nghĩa tập thể kết hợp hài hoà quyền lợi và nghĩa vụ, lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể theo nguyên tắc mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người. Giữ vững kỷ luật tập thể, tổ chức đồng thời tôn trọng sáng kiến cá nhân, phát triển cá tính, phát triển nhân cách và năng lực sáng tạo, đóng góp riêng của mỗi cá nhân. Làm được điều đó, mới có thể gắn bó, đoàn kết mọi người trong tổ chức và tạo nên sức mạnh vô địch của cách mạng.


Ở bất kỳ giai đoạn nào, sự hoàn thiện đạo đức trong Đảng với những tấm gương sáng về đạo đức của cán bộ, đảng viên luôn có ảnh hưởng sâu sắc và rộng lớn đến những giá trị đạo đức của toàn xã hội, của dân tộc. Từ khi nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa có một thực tế là, hệ thống thang giá trị chuẩn mực xã hội được hình thành trong đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đã và đang biến đổi. Bởi vậy, để thực hiện nhiệm vụ cao cả, cần thiết nhưng hết sức khó khăn và phức tạp hiện nay là xây dựng Đảng về đạo đức, trước hết Đảng Cộng sản Việt Nam phải định hướng những chuẩn mực đạo đức mà mỗi cán bộ, đảng viên cần phải đạt được. Đạt được những chuẩn mực đó, sẽ làm trong sạch Đảng, giải quyết những bức xúc của nhân dân, củng cố lại niềm tin của dân với Đảng, nâng Đảng lên tầm cao mới, góp phần vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc.


Nguồn Tạp chí Tuyên giáo


--


(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t.9, tr. 354.


(2) (11) (17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr.169, 611, 169


(3) (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 292, 291.


(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.I, tr.184.


(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 2, tr. 280.


(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 14, tr. 467.


(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.611.


(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr. 333.


(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 17.


(12) (14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 11, 284


(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr. 67


(15) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2001, tr. 15, 76


(16) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2021, tập II, tr. 222

 TỰ DO TÔN GIÁO PHẢI TRONG KHUÂN KHỔ PHÁP LUẬT


Thời gian qua, một số cá nhân, tổ chức lấy danh nghĩa “bảo vệ dân chủ, nhân quyền”, đặc biệt là quyền về tự do tín ngưỡng, tôn giáo để đưa ra những đánh giá phiến diện, sai lệch, các luận điệu xuyên tạc, vu cáo hòng can thiệp vào công việc nội bộ của các nước, trong đó có Việt Nam.


Tuy nhiên, cũng như ở các quốc gia trên thế giới vấn đề dân chủ, nhân quyền và quyền tự do tôn giáo đều phải diễn ra trong khuôn khổ pháp luật cũng như phù hợp điều kiện phát triển kinh tế và lịch sử truyền thống văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc.


Lâu nay, một số học giả phương Tây vẫn thường rêu rao chiêu bài “quyền con người cao hơn chủ quyền” nhằm thực hiện, bao biện mục đích cá nhân. Bên cạnh đó các thế lực thù địch cũng ra sức lợi dụng vấn đề tôn giáo và quyền tự do tôn giáo để can thiệp vào công việc nội bộ nước khác, nhất là các quốc gia có thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Ðảng cộng sản.


Trong âm mưu và chiến lược diễn biến hòa bình, vấn đề tôn giáo, dân chủ nhân quyền được sử dụng như một vũ khí lợi hại, lợi dụng lòng yêu nước, sự sùng đạo của người dân để khoét sâu những bất cập, tồn tại trong đời sống xã hội, nhằm lôi kéo, tập hợp những người dân nhẹ dạ cả tin hoặc thiếu thông tin gây rối, gây phức tạp về an ninh, trật tự, gây bất ổn xã hội.


Ðảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm, tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của công dân, xác định đây là nhu cầu tinh thần chính đáng của người dân. Chính sách đó, luôn được Ðảng, Nhà nước ta khẳng định và thực hiện nhất quán, được bảo đảm trên thực tiễn và cụ thể bằng văn bản pháp luật. Tại Sắc lệnh số 234/SL ngày 14/6/1955 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, xác định: “Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là một quyền lợi của nhân dân. Chính quyền dân chủ cộng hòa luôn luôn tôn trọng quyền lợi ấy và giúp đỡ nhân dân thực hiện” (Ðiều 15) và “Chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo” (Ðiều 13).


Trong mỗi giai đoạn lãnh đạo cách mạng, Ðảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo bảo đảm quyền tự do tôn giáo, tạo hành lang pháp lý để các tôn giáo hoạt động ổn định, tăng cường củng cố mối quan hệ giữa Nhà nước và các giáo hội tôn giáo…


Tiêu biểu là Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Ðảng (khóa IX) về công tác tôn giáo; Pháp lệnh 21/2004/PL-UBTVQH11 ngày 18/6/2004 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tín ngưỡng, tôn giáo; Nghị định số 22/2005/NÐ-CP ngày 1/3/2005 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Chỉ thị 1940/CT-TTg ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về nhà đất liên quan đến tôn giáo... Tại Hiến pháp năm 2013 quy định “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.


Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật” (Khoản 1, Ðiều 24). Ngày  18/ 11/ 2016 Quốc hội đã ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo...


Nhờ có chủ trương, chính sách, pháp luật về tôn giáo, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân được bảo đảm ngày càng tốt hơn, số lượng chức sắc, tín đồ, cơ sở thờ tự ngày càng tăng. Chỉ tính trong vòng 20 năm trở lại đây (2003-2022) việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo cho kết quả hết sức ấn tượng: Năm 2003 cả nước có 15 tổ chức, sáu tôn giáo, 17 triệu tín đồ với khoảng 20.000 cơ sở thờ tự; 34.000 chức sắc, 78.000 chức việc. Ðến năm 2021 Việt Nam đã công nhận 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo khác nhau, với hơn 26 triệu tín đồ, 54.000 chức sắc, tăng; 135.000 chức việc; 29.000 cơ sở thờ tự. Ðời sống tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng phong phú, đa dạng, nhiều lễ hội lớn trong các tôn giáo thu hút đông đảo tín đồ, người dân tham dự.


Có thể kể đến: Giáo hội Tin lành đã tổ chức thành công lễ kỷ niệm 500 năm cải chánh đạo Tin lành 2017); giáo hội Công giáo tổ chức Tổng hội Dòng Ða minh thế giới tại Ðồng Nai (7/2019), với đại biểu của nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia; Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức thành công Ðại lễ Phật đản Vesak Liên hợp quốc năm 2019 tại chùa Tam Chúc, tỉnh Hà Nam (5/2019) với hơn 1.650 đại biểu chức sắc và lãnh đạo các giáo hội, nhà nghiên cứu... đến từ hơn 112 quốc gia và vùng lãnh thổ). Với quy mô hoạt động tôn giáo tập trung đông người, chính quyền các cấp đã hỗ trợ các tôn giáo về công tác bảo đảm phân luồng giao thông, an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ, an toàn vệ sinh thực phẩm,… giúp người dân được tự do hành lễ, thỏa mãn nhu cầu đời sống tâm linh.


Thực tế cho thấy, ở một số quốc gia như Anh, Mỹ, Ðan Mạch... khi tổ chức tôn giáo tổ chức các hoạt động đông người tại cơ sở thờ tự, thường phải tự thuê bảo vệ làm nhiệm vụ bảo đảm an toàn giao thông, an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ, kiểm nghiệm an toàn thực phẩm. Nếu để xảy ra vi phạm, chính quyền sẽ căn cứ vào pháp luật và xử phạt… Nhưng ở Việt Nam các tổ chức tôn giáo khi tiến hành các hoạt động tôn giáo có đông đảo người dân tham gia, chính quyền luôn hỗ trợ với mục tiêu cao nhất bảo đảm an toàn trật tự để nhân dân yên tâm thực hiện nghi lễ tôn giáo.


Bất chấp thực tế đó, các thế lực thù địch, thiếu thiện chí vẫn xuyên tạc trắng trợn chính sách, pháp luật và tình hình tôn giáo tại Việt Nam; móc nối những đối tượng cơ hội bất mãn chế độ và số chức sắc cực đoan để kích động các hoạt động tôn giáo thoát ly khỏi sự quản lý của Nhà nước. Ðặc biệt, mỗi khi Nhà nước ban hành hoặc bổ sung những văn bản pháp luật mới để điều chỉnh các hoạt động tôn giáo cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, trình độ văn hóa, xã hội của đất nước, phù hợp với tâm tư, tình cảm, nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân thì các đối tượng trên lại dấy lên chiến dịch phản đối, xuyên tạc.


Mặt khác, các thế lực thù địch và phản động lưu vong ở nước ngoài vẫn tiếp tục cấu kết, móc nối với các đối tượng cực đoan trong tôn giáo và đối tượng cơ hội chính trị lợi dụng các vấn đề nổi cộm như đất đai, môi trường, phòng chống dịch Covid-19... nhằm mưu đồ dụ dỗ, lôi kéo người dân khiếu kiện, kích động gây rối, gắn vào vấn đề tôn giáo để vu cáo Việt Nam; nhằm mưu đồ làm cho chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo hoài nghi về chính sách của nhà nước ta.


Ðáng chú ý, trong những năm qua các đối tượng phản động, chống đối chính trị ở ngoài nước, móc nối với một số phần tử cực đoan trong tôn giáo cấu kết với các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Ðảng và Nhà nước Việt Nam, tổ chức các cuộc “hội luận”, “họp báo”, soạn thảo và phát tán các tài liệu có nội dung xuyên tạc, bịa đặt để tuyên truyền chống Ðảng và Nhà nước Việt Nam, nhất là trên các lĩnh vực tôn giáo và nhân quyền.


Chúng đẩy mạnh xuyên tạc Ðảng và Nhà nước Việt Nam “đàn áp tôn giáo”, Việt Nam “không có tự do tôn giáo”… Những thủ đoạn hoạt động của chúng không chỉ âm mưu tác động vào tâm lý, tư tưởng của một bộ phận quần chúng, tín đồ mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống yên bình của nhân dân, tác động xấu đến xã hội, gây chia rẽ nội bộ trong tổ chức tôn giáo, gây mất đoàn kết dân tộc.


Thời gian tới, một số phần tử cực đoan trong nước vẫn sẽ tiếp tục dựa vào các thế lực thù địch bên ngoài đẩy mạnh hoạt động chống đối dưới chiêu bài  “đòi tự do tôn giáo”, “dân chủ, nhân quyền” chống Ðảng, Nhà nước ta, đòi khôi phục lại các tổ chức tôn giáo không còn tồn tại, gia tăng các hoạt động phát triển đạo trái pháp luật, gây rối trật tự an toàn xã hội. Do đó về phía người dân cũng như các chức sắc và tín đồ các tôn giáo cần hết sức tỉnh táo, cảnh giác với âm mưu của các thế lực thù địch. Việc chủ động ngăn chặn các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống Việt Nam là nhiệm vụ trọng tâm, chiến lược lâu dài, là trách nhiệm của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị, trong đó cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo đóng vai trò nòng cốt.


Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về tôn giáo, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Chính quyền các cấp nắm chắc các hoạt động liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn, kịp thời phát hiện và ngăn chặn các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các tôn giáo, gây rối loạn xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống nhân dân, xâm phạm an ninh quốc gia.


Chủ động tuyên truyền công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng để vạch trần “chân tướng” của các đối tượng cơ hội, các việc làm vi phạm pháp luật, giáo luật của số đối tượng cực đoan lợi dụng tôn giáo, phản bác lại các luận điệu vu cáo của các thế lực thù địch. Các biện pháp đấu tranh ngăn chặn các hoạt động lợi dụng tôn giáo chống Việt Nam cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương cũng như sự vào cuộc của toàn xã hội.


Bên cạnh đó, cần thường xuyên sơ kết rút kinh nghiệm về những việc đã làm được, có biện pháp khắc phục những thiếu sót tồn tại để bảo đảm thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Ðảng, Nhà nước. Thường xuyên tuyên truyền đối ngoại để cộng đồng quốc tế có đầy đủ thông tin về kết quả, thành tựu nhân quyền trong lĩnh vực tôn giáo ở Việt Nam, có phương pháp tiếp xúc, vận động chức sắc, tín đồ các tôn giáo, có kinh nghiệm đối thoại tôn giáo, hướng dẫn các chức sắc, tín đồ hoạt động tôn giáo và thực hiện nghĩa vụ công dân.


CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU BÔI NHỌ PHẨM CHẤT BỘ ĐỘI CỤ HỒ!

         Vào thời điểm Đảng bộ Quân đội và toàn quân đang mở một đợt sinh hoạt chính trị, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức quán triệt, sớm đưa Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, vào thực tiễn cách mạng và hoạt động quân sự, thì những kẻ hiềm khích cùng thế lực thù địch, ráo riết triển khai một đợt cao điểm chống phá, hòng hiện thực âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội.

Chúng cố tình bôi nhọ, hạ bệ hình tượng Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp vai trò của quân đội và chia rẽ mối quan hệ đoàn kết máu thịt quân-dân.

BÓC TRẦN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ THÂM ĐỘC
Xét về bản chất, âm mưu, thủ đoạn nêu trên của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị là nhằm tách rời sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, chuyển hướng chính trị Quân đội ta từ quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân sang kiểu quân đội tư bản, nhà nghề do giai cấp tư sản lãnh đạo, phục vụ cho mục đích của giai cấp tư sản.

Cùng với đó, những thủ đoạn cũng chĩa mũi nhọn vào bôi đen những giá trị chuẩn mực đạo đức Bộ đội Cụ Hồ, tạo sự lệch chuẩn trong nhận thức và hành động của một số cán bộ, chiến sĩ ở các cơ quan, đơn vị. Từ đó, hòng làm cho bộ đội ta mất phương hướng chính trị, không phân biệt rõ bạn-thù, đối tượng-đối tác; xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; tha hóa về đạo đức, lối sống; rệu rã về mặt tổ chức, không còn là công cụ sắc bén để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ và nhân dân.

Để thực hiện mưu đồ đó, chúng tìm trăm phương nghìn kế để chống phá, thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội trong thời gian dài, nhưng “xới lên” rầm rộ ở từng thời điểm, mà dịp Quân đội ta triển khai Nghị quyết số 847 của Quân ủy Trung ương như vừa qua là một ví dụ.

Theo đó, các thế lực thù địch tập trung sự xuyên tạc vào những vấn đề cơ bản về chính trị, bản chất giai cấp, hệ tư tưởng, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, đến những vấn đề về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu, tổ chức, công tác cán bộ, vũ khí, trang bị, mối quan hệ đoàn kết quân dân, mối quan hệ cán bộ-chiến sĩ, tình trạng vi phạm kỷ luật của bộ đội...

Các thế lực thù địch liên tục sử dụng nhiều chiêu bài khác nhau, tung hỏa mù hòng làm cho cán bộ, chiến sĩ lung lạc, mất phương hướng, không phân biệt được đúng-sai, khó nhận diện và đề phòng trước âm mưu, thủ đoạn chống phá.

Cảnh giác với luận điệu bôi nhọ phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ
Ảnh minh họa: qdnd.vn  
Chúng còn đánh đồng bản chất với hiện tượng, nhằm xóa nhòa ranh giới giữa quân đội cách mạng với phản cách mạng; giữa xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị với sự thờ ơ, vô cảm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, đứng ngoài các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước; xóa nhòa cái đẹp, cái tốt của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ với những “mực thước” mà chúng tự bịa đặt về công lý, nhân quyền, hay sự lừa bịp “quân đội chỉ cần hiếu với dân, chứ không cần trung thành với Đảng”...

Thế nhưng, dù mưu mô, thủ đoạn có nham hiểm, tinh vi thế nào, Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam vẫn vững vàng trước thử thách, luôn xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành của Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và nhân dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Thực tế cho thấy, dù không thể đạt mục đích và dã tâm đề ra, song mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch vẫn chưa bao giờ và không bao giờ thay đổi. Chúng tìm đủ mọi thủ đoạn, cách thức mới, thâm độc và xảo quyệt hơn, triệt để lợi dụng mọi cơ hội, điều kiện, kẽ hở... nhằm đạt cho bằng được mưu đồ bẩn thỉu; trong đó, bôi nhọ phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp vai trò của quân đội được cho là công cụ chủ đạo.

Không khó để nhận ra nhiều bài viết trên các trang mạng xã hội thời gian gần đây đưa ra những luận điệu bịa đặt, cố tình suy diễn rằng “mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội đã thay đổi” nên bị “khuất phục, làm ngơ trước sự xâm lấn biển, đảo của nước ngoài”.

Qua đó, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, cổ xúy, kêu gọi “dân sự hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội. Lợi dụng việc xử lý vi phạm kỷ luật một số cán bộ cấp cao trong quân đội vừa qua, chúng chủ ý xuyên tạc công tác quản lý, giáo dục, tạo kẽ hở cho cán bộ vi phạm; dựa trên một số thông tin, tư liệu trong các sự kiện, nhân chứng chưa được làm sáng tỏ để tán phát nhiều tin, bài, video clip, phóng sự, bình luận, suy diễn, áp đặt ý kiến chủ quan gây nghi ngờ, mâu thuẫn giữa cán bộ, sĩ quan quân đội với cựu chiến binh, giữa cựu chiến binh với nhân chứng lịch sử; phát động phong trào đòi xét lại lịch sử dân tộc, quân đội...

Nguy hiểm hơn, chúng lợi dụng những bức xúc cá nhân liên quan đến đời sống riêng tư, gia đình... hòng “đánh tráo khái niệm”, “đổi trắng thay đen” cho đó thuộc phạm trù bản chất, truyền thống quân đội, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, mối quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ, chiến sĩ với chiến sĩ; từ đó, sử dụng chiêu trò “dương đông kích tây”, đưa thông tin hiện trường vụ việc, gây bán tín bán nghi, làm dư luận bị cuốn theo; đẩy “nóng vấn đề”, kích động cộng đồng mạng “tạo áp lực, yêu sách” với quân đội, nhen nhóm dư luận tiêu cực trong nhân dân nhằm tẩy chay, không cho con em nhập ngũ...

Thông qua những sự việc này, chúng còn nói xấu, hạ thấp uy tín đội ngũ cán bộ quản lý các cấp, bôi nhọ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, làm phai nhạt hình tượng quân đội cách mạng được nhân dân tôn vinh, trân quý từ ngày thành lập đến nay, hòng dễ bề phân rã về tư tưởng, chia rẽ sự đoàn kết quân dân, làm phai nhạt phẩm chất cao đẹp của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong lòng nhân dân.

Có thể nói, bất kỳ một sự việc, hiện tượng nào trong quân đội có thể lợi dụng để xuyên tạc, chống phá theo kiểu “thổi tàn thành lửa” là chúng có thể tận dụng kỳ được, kích hoạt a dua, kéo bè kéo cánh, dùng mọi thủ đoạn để công kích, nói xấu, bội nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò của Quân đội ta.

Đặc biệt, trong các đợt phòng, chống dịch Covid-19 hai năm vừa qua thì sự chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị càng thể hiện rõ dã tâm và không từ bỏ bất kỳ mưu mô, thủ đoạn nào. Từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát tới nay, hàng chục nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ QĐND được huy động phối hợp với các lực lượng chức năng tham gia giải quyết những vấn đề nóng về dịch bệnh tại nhiều địa phương trong cả nước.

Với tinh thần: Giúp dân là mệnh lệnh trái tim của Bộ đội Cụ Hồ; ở đâu dân cần, ở đâu khó khăn thì ở đó có Bộ đội Cụ Hồ và quyết tâm thực hiện “ba nhất”: Nhận thức, trách nhiệm cao nhất; giúp đỡ nhân dân được nhiều nhất; chấp hành pháp luật, bảo đảm an toàn tốt nhất. Tất cả những việc làm đó góp phần làm giảm gánh nặng phòng, chống dịch cho cấp ủy, chính quyền và nhân dân các địa phương. Thế nhưng, trên mạng xã hội, một số tổ chức, cá nhân thù địch lại cố tình rêu rao, xuyên tạc, bôi đen nghĩa cử cao đẹp ấy của cán bộ, chiến sĩ quân đội.

Để tăng phần hấp dẫn những người nhẹ dạ cả tin, chúng cắt ghép, ngụy tạo những bức ảnh, video clip... lồng vào tin, bài bóp méo, xuyên tạc, chế nhạo những việc làm của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong giúp dân phòng, chống dịch.

Một số kẻ đăng trên mạng xã hội nhiều bài viết có nội dung suy diễn, xuyên tạc chủ trương đưa quân đội, công an tham gia phòng, chống đại dịch Covid-19 tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam là “trái Hiến pháp, pháp luật”, là vì “lý do an ninh, quốc phòng” chứ không vì nhiệm vụ phòng, chống dịch.

Khi nói về việc bộ đội đi chợ, đảm trách cung cấp lương thực, thực phẩm cho dân thì họ suy diễn mang tính chủ quan, phiến diện, một chiều: “Quân đội đi chợ cho dân, dân sợ mất hồn!”, vì theo họ: “Bộ đội vốn được huấn luyện, đào tạo để nhằm phục vụ cho sức mạnh trấn áp đối phương chứ nào phải để làm chuyện chi li nhỏ mọn là chợ búa...”...

Tất cả những giọng điệu, chiêu trò ấy của lực lượng thù địch, chống phá không nhằm mục đích nào khác là bóp méo, xuyên tạc chủ trương, giải pháp phòng, chống dịch của Đảng và Chính phủ ta; bôi nhọ phẩm chất, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp uy tín, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Quân đội ta.

Lịch sử gần 78 năm xây dựng, chiến đấu và chiến thắng của QĐND Việt Nam cho thấy, quân đội luôn đồng hành với dân tộc, gắn bó máu thịt với nhân dân, vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, đánh bại đế quốc, thực dân, đưa non sông thu về một mối và hiện nay đang giữ vai trò nòng cốt trong sự nghiệp tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, giúp nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.

Trải qua các giai đoạn cách mạng, trong bất luận mọi tình huống, trước mọi nhiệm vụ hay khó khăn, thử thách tột cùng, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ luôn tỏa sáng trên mọi lĩnh vực, vai trò của quân đội luôn được khẳng định, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân, cùng bạn bè bốn bể, năm châu./.
Yêu nước ST.

CHÚNG TA CÓ "E DÈ" TRƯỚC BIỂU TƯỢNG CỦA CHẾ ĐỘ VNCH?

BBC Tiếng Việt cho rằng Việt Nam "e dè" trước các biểu tượng cũ thuộc chế độ VNCH. Không, chúng tôi chẳng "e dè" mà muốn quên đi một "sự xấu hổ" của quá khứ, một chế độ tay sai của ngoại bang. Những con người theo chế độ ấy từng mang dòng máu Việt nhưng lại cầm súng giết hại đồng bào, thậm chí tra tấn một cách giã man nhưng vẫn cười hả hê, sung sướng. Những kẻ cõng rắn, cắn gà nhà, nghe theo sự sắp đặt của Mỹ rắp tâm chia cắt đất nước. Vậy, biểu tượng của chế độ ấy có đáng khinh hay không?

Các biểu tượng 3 que đó không đại diện cho Việt Nam, càng không thể hiện cho ý chí, nguyện vọng hay niềm tự hào của Việt Nam, việc cấm nó không xuất hiện cũng là điều rất hiển nhiên để tiến đến sự thống nhất, hòa hợp dưới một biểu tượng chung là lá Cờ đỏ sao vàng 5 cánh. 

Tóm lại, người dân Việt Nam chẳng phải sợ hay e dè trước biểu tượng của chế độ cũ, mà là chúng ta đang cố gắng xóa đi những "vết nhơ bẩn" mà đáng lẽ ra nó không nên tồn tại.
-----------
ĐT-TG.st

CHỐNG THAM NHŨNG KHÔNG BỎ DỞ GIỮA CHỪNG

 
“Người dân mong Đảng làm mạnh hơn nữa, chống tham nhũng phải quyết tâm, không bỏ dở giữa chừng. Kỳ này, Đảng quyết tâm làm đến cùng chứ không bỏ lửng”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định như vậy tại cuộc tiếp xúc cử tri trước thềm Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XV.
Kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XV diễn ra trong bối cảnh các chính sách phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước sau đại dịch COVID-19 đang đi đúng hướng, mang lại những thành tựu quan trọng, tạo niềm tin cho người dân, doanh nghiệp cũng như cộng đồng quốc tế. Phải thấy rằng, trong điều kiện vừa phải nỗ lực khôi phục phát triển kinh tế, thực hiện các chính sách an sinh xã hội, Đảng ta vẫn dành sự quan tâm đặc biệt, chỉ đạo sát sao công tác phòng, chống tham nhũng. Điều đó được khẳng định tại Hội nghị Trung ương lần 5 khóa XIII diễn ra cách đây chưa lâu, Đảng ta một lần nữa đã thể hiện rõ quyết tâm đấu tranh không khoan nhượng với tệ nạn tham nhũng; đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đổi mới công tác cán bộ...
Rõ nét nhất là một số vụ án làm lũng đoạn thị trường chứng khoán, tiền tệ, đất đai (Tân Hoàng Minh, FLC), mua bán trang thiết bị y tế phục vụ chống dịch (Công ty Việt Á)… được phát hiện, ngăn chặn. Không ít cán bộ có chức quyền, giữ cương vị chủ chốt (từ Trung ương tới cơ sở) “nhúng chàm” đã bị đưa ra ánh sáng; tài sản, tiền bạc thu nhập bất chính của một số cá nhân trục lợi bước đầu được kê biên, phong tỏa, thu hồi.
Những động thái và kết quả bước đầu trong cuộc đấu tranh với tệ nạn tham nhũng thời gian qua đã cho thấy không có vùng cấm, cả cán bộ có chức quyền, dù ở cương vị nào, các vụ tham nhũng liên quan đến lợi ích nhóm, tham ô tiền của dân, tài sản nhà nước làm giàu bất chính… đều bị xử lý nghiêm trước pháp luật. Trong số đó, có cả cán bộ giữ vị trí quan trọng trong bộ máy lãnh đạo Đảng, chính quyền, cả Trung ương cũng như địa phương.
Phát biểu trước cử tri, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đặt câu hỏi đồng thời khẳng định: “Vì sao việc xử lý một số vụ án, xử lý kỷ luật một số cán bộ, kể cả cán bộ cao cấp trong thời gian gần đây lại được đông đảo cán bộ, đảng viên, các lão thành, cán bộ hưu trí và nhân dân đồng tình, ủng hộ đến như thế? Nếu không có sự ủng hộ của nhân dân thì khó có thể không thể thành công. Việc làm hợp lòng dân thì dân tin và dân tin thì chế độ ta còn, Đảng ta còn. Nếu làm việc gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả. Trong đấu tranh phòng chống tham nhũng, không phải xử nặng đã là tốt, mà sao để người bị xử nhìn thấy sai lầm khuyết điểm của mình, cũng như phải thu hồi cho bằng được tài sản tham nhũng thì mới được lòng dân”.
Cũng theo Tổng Bí thư, một trong những căn nguyên của tệ tham nhũng chính là công tác cán bộ thời gian qua còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém, nổi cộm là công tác đề bạt, bổ nhiệm không đúng quy trình. Đảng ta luôn nhấn mạnh cán bộ và công tác cán bộ là vấn đề đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, có ý nghĩa quyết định sự thành bại của cách mạng. Tuy nhiên, trong một thời gian dài công tác này bị buông lỏng, dẫn tới thực trạng nhiều cán bộ được bổ nhiệm không đủ phẩm chất, năng lực; thậm chí cả đối tượng chạy chức chạy quyền, bổ nhiệm người nhà, “cánh hẩu” cũng được bổ nhiệm vào những vị trí quan trọng, then chốt trong bộ máy Đảng, chính quyền các cấp… khiến lòng tin của người dân vào đội ngũ cán bộ bị xói mòn.
Phải nhận thức rằng, chống tham nhũng sẽ không tránh khỏi mất cán bộ, nhưng đó là mất cán bộ hư hỏng, thoái hóa biến chất, mà người dân thường gọi là những “con sâu” đang làm “rầu nồi canh”, làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của Đảng, cản trở quá trình phát triển, đổi mới đất nước. Không phủ nhận, mất cán bộ là mất mát lớn, nhưng loại bỏ được những “con sâu” ra khỏi bộ máy chính là củng cố niềm tin của dân với Đảng, cũng là động lực to lớn để phát triển kinh tế  - xã hội đất nước.
Cũng còn không ít băn khoăn khi nhiều vụ việc vi phạm pháp luật nghiêm trọng diễn ra cách đây cả gần chục năm, nhưng đến nay mới bị phát hiện xử lý? Còn nữa, việc kê khai tài sản được thực hiện từ nhiều năm nay, nhưng việc kiểm soát kê khai chưa được quan tâm đúng mức, đến khi phát hiện thì tài sản lại quá lớn, người phạm tội quanh co, thiếu trung thực trong việc giải trình về nguồn gốc tài sản, thu nhập? Không khỏi bất bình khi phát hiện một số cán bộ, công chức có dấu hiệu tham nhũng, cơ quan chức năng vào cuộc điều tra thì thấy không ít tài sản bị tẩu tán, hay được giải trình theo kiểu biệt thự do mẹ già sở hữu, hay con là sinh viên vừa ra trường đã có khối tài sản lớn mà người thu nhập chính đáng khó mà có nổi. Bởi vậy, việc thu hồi tài sản tham nhũng, ngăn chặn tình trạng tẩu tán hoặc chuyển dịch tài sản cho người thân đang là vấn đề dư luận quan tâm, đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền phải vào cuộc quyết liệt và làm tới cùng.
Bên cạnh đó, vẫn còn đó thực trạng ở Trung ương “lò đã cháy rực”, nhưng ở địa phương thì lại thiếu quyết liệt, thậm chí thờ ơ. Với quyết tâm mới, được dư luận nhân dân đồng lòng, ủng hộ, tại Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII mới đây, Đảng ta xác định cần phải thành lập các Ban chỉ đạo Phòng chống tham nhũng cấp địa phương (cấp tỉnh) đủ mạnh, trở thành “cánh tay nối dài” của Ban chỉ đạo Trung ương, để đưa “lò lửa” phòng chống tham nhũng tới từng địa phương. Kết quả, tất cả 63/63 tỉnh ủy, thành ủy nhất trí với chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng và bước đầu đã có một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Ban chỉ đạo, như Hà Nội, Thái Bình, Thanh Hóa, Khánh Hòa, Sóc Trăng, An Giang…
Chắc chắn rằng, cuộc đấu tranh với tệ nạn tham nhũng sẽ không có điểm dừng, mang lại kết quả toàn diện, đáp ứng được sự kỳ vọng của nhân dân; là cơ sở để xây dựng hệ thống chính trị từ Trung ương tới địa phương thật sự trong sạch, vững mạnh. Đó cũng là nhân tố tạo thêm sức mạnh và khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới, phát triển, hội nhập sâu rộng của đất nước.
---------
ĐT-TG.st

ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG - ĐẶC SẮC GIÁ TRỊ PHẨM CHẤT “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”

 
Đạo đức là “gốc” của người cách mạng, “chìa khóa” của mọi thành công. Có đạo đức cách mạng thì làm việc gì cũng thuận, có lợi cho dân, cho nước. Không có đạo đức cách mạng thì làm việc gì cũng khó, dù tài giỏi đến mấy cũng chẳng đem lại lợi ích gì cho nước, cho dân, thậm chí còn hại nước, hại dân, phản bội Tổ quốc. Vì vậy, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân để không rơi vào suy thoái, cơ hội, thực dụng, tham nhũng và tiêu cực có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mỗi cán bộ, đảng viên trong xây dựng Đảng, xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, gương mẫu. Trong đó, học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và phát huy phẩm chất, nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ” là nội dung quan trọng của công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Trong quá trình xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành, Quân đội ta luôn coi trọng xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ; lấy chính trị làm “gốc”, thực hiện phương châm “chính trị trọng hơn quân sự”, “người trước, súng sau” để giữ vững khí tiết người cách mạng, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc cho Quân đội; thực hiện tốt Mười lời thề danh dự của quân nhân, Mười hai điều kỷ luật của Quân đội; làm cho cán bộ, chiến sĩ tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, ra sức xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, gương mẫu. Những giá trị cao quý ấy kết tinh ở phẩm chất, nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ” - nét độc đáo, cái riêng có, một giá trị đặc sắc của Quân đội ta.

Trong những năm qua, công tác xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ đã đạt những thành tựu rất quan trọng. Là Đảng bộ lớn, Đảng bộ Quân đội luôn đi đầu trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, gương mẫu, đúng tinh thần đồng chí Nguyễn Phú Trọng - Tổng Bí thư Đảng ta, Bí thư Quân ủy Trung ương đã huấn thị. Song, bên cạnh những mặt mạnh là cơ bản, quyết định, vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục; đó là hình thức, phương pháp giáo dục và tính thuyết phục chưa cao; năng lực lãnh đạo của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa toàn diện, chưa cụ thể hóa các tiêu chí, tiêu chuẩn phù hợp với đặc điểm, tình hình đơn vị để cán bộ, đảng viên, chiến sĩ phấn đấu đạt kết quả tốt nhất. Công tác kiểm tra, giám sát, tự phê bình và phê bình có nơi, có lúc, có mặt còn thiếu quyết liệt. Một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện trung bình chủ nghĩa, làm việc cầm chừng, trách nhiệm chưa cao, còn có biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống. Một số ít cán bộ cao cấp của Quân đội còn vi phạm kỷ luật đến mức phải xử lý kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước và kỷ luật của Quân đội, làm ảnh hưởng đến hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”.

Để phát huy truyền thống tốt đẹp, mãi mãi xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” - Bộ đội của dân, cán bộ, chiến sĩ Quân đội cần thực hiện nghiêm túc Kết luận số 01-KL/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tiếp tục xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới; tuyệt đối không vướng vào suy thoái, biến chất, bị “phi chính trị hóa”, không để đất nước bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Xây dựng Đảng bộ Quân đội về đạo đức luôn được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quan tâm, đặt ở vị trí hàng đầu, thực chất là xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên tiền phong, gương mẫu, tuyệt đối trung thành; kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng; xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, gương mẫu. Đây là giải pháp phòng tránh mọi tiêu cực “từ sớm, từ xa”; là “chìa khóa” mở đường phát triển, tiến bộ, trưởng thành của cán bộ, chiến sĩ; quyết định mọi thành công của đơn vị.

Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc yêu cầu, nhiệm vụ được giao, luôn đặt lợi ích của Đảng, lợi ích của quốc gia - dân tộc lên trên hết và trước hết, có ý chí quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thử thách, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Phát huy tốt bản chất, truyền truyền thống tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”: “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Trước đây cũng như hiện nay, trong khó khăn, gian khổ, thời chiến cũng như thời bình, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, được Đảng, Nhà nước và nhân dân tin yêu, đùm bọc, chở che và hết lòng giúp đỡ. Bí quyết của sự thành công ấy là nhờ chúng ta có đạo đức cách mạng, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Chính đạo đức cách mạng đã và đang giúp chúng ta giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới.

Xây dựng Đảng bộ Quân đội về đạo đức là sự kết tinh các nhân tố chính trị - tinh thần, tư tưởng, tổ chức và cán bộ và thể hiện sâu sắc bản chất, truyền thống, tình cảm, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đối với Tổ quốc, đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đồng thời, thể hiện rõ ràng nhất bản lĩnh chính trị, ý chí quyết tâm, năng lực công tác và đạo đức, lối sống của người quân nhân cách mạng, phẩm chất, nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ. Đây là nội dung quan trọng trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới.

Để tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được trong xây dựng Đảng bộ Quân đội về đạo đức, các cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ chính ủy, chính trị viên và người chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần tiếp tục làm tốt hơn nữa công tác chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục cán bộ, chiến sĩ về mọi mặt, nhất là giáo dục về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng, phẩm chất, nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ”, tinh thần, trách nhiệm của quân nhân suốt đời phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Muốn vậy, công tác giáo dục đạo đức cần gắn chặt với giáo dục chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ, cụ thể là:

(1) Tập trung làm rõ những yếu tố tác động trực tiếp và gián tiếp, thuận và nghịch đến chuẩn mực, hành vi đạo đức của cán bộ, chiến sĩ, phẩm chất, nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ” để kịp thời có biện pháp bổ sung, cập nhật tiêu chí, chuẩn mực mới; kiên quyết đấu tranh ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực, suy thoái về đạo đức, lối sống, những hành vi vi phạm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự người quân nhân cách mạng, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.

(2) Đề cao ý thức trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng; đội ngũ cán bộ, đảng viên, ra sức phấn đấu, rèn luyện đạo đức cách mạng; kịp thời phát hiện, uốn nắn những tư tưởng lệch lạc, những hành vi suy thoái về đạo đức, lối sống, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. Trong đó, nêu gương sáng và làm kiểu mẫu cho quần chúng học tập đạo đức cách mạng, theo chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh có ý nghĩa rất quan trọng.

(3) Thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị, quy định, hướng dẫn của Trung ương, của Quân ủy Trung ương về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII và Kết luận số 01-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 87-CT/QUTW của Thường vụ Quân ủy Trung ương về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Chỉ thị số 788-CT/QUTW về thực hiện Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Cùng với đó, phát huy những giá trị đạo đức truyền thống, trước hết là tinh thần chiến đấu dũng cảm, không quản hy sinh, gian khổ của cán bộ, chiến sĩ, trọn đời vì nước vì dân. Đồng thời, lan tỏa sâu rộng những giá trị đạo đức, nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

(4). Nhận thức đúng động cơ phấn đấu, rèn luyện, không ngừng học tập, rèn luyện đạo đức cách mạng, lối sống trong sạch, lành mạnh; thực hành dân chủ, kỷ luật tự giác nghiêm minh; đoàn kết nội bộ, đoàn kết gắn bó với nhân dân. Cán bộ, đảng viên đề cao trách nhiệm, tích cực, tự giác rèn luyện, phấn đấu theo chuẩn mực “Bộ đội Cụ Hồ”; nêu gương sáng về “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” trong mọi hoạt động quân sự và đời sống bộ đội.

(5) Thực hiện tốt yêu cầu: “Trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo”. Kiên quyết đấu tranh phòng, chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; kết hợp giữa “xây” và “chống” trong xây dựng, bồi dưỡng đạo đức cách mạng. Trong đó, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch; phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, đòi “phi chính trị hóa” quân đội, bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”.
-----
ĐT-TG.st

CHỈNH ĐỐN ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN KHÔNG CÓ GÌ LÀ QUÁ MUỘN, CHỈ SỢ KHÔNG DÁM LÀM

  Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Thà ít mà tốt, những đảng viên hữu danh vô thực thì cho không chúng ta cũng không cần”. Tất nhiên nhiều mà tốt thì quá tốt, nhưng nhiều mà ko tốt thì thà ít còn hơn.

Thời tiền khởi nghĩa, Đảng ta chỉ hơn 5000 đảng viên mà lãnh đạo 20 triệu dân đứng lên giành chính quyền. Dân tin Đảng tuyệt đối.

Nay chúng ta có 5 triệu Đảng viên, nhưng còn được bao nhiêu % vào Đảng không vì vụ lợi vì Đảng vì Dân vì Nước ? Chỉnh đốn đội ngũ Đảng viên không có gì là quá muộn, chỉ là sợ không dám làm.
--------
PV-TG.st

Để báo, tạp chí của Đảng là ngọn cờ tư tưởng, là cầu nối tin cậy giữa Đảng với nhân dân

 
Bài viết “Cần phải xem báo Đảng” ngắn gọn nhưng súc tích, khái quát cao như phong cách viết vốn có của Bác. Đến nay, sau 68 năm bài báo ra đời, câu chuyện Bác nêu vẫn còn tính thời sự và có giá trị gợi mở cho chúng ta suy nghĩ về 2 vấn đề: một là, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của báo Đảng; hai là, về “bệnh lười” đọc báo Đảng của cán bộ, đảng viên.
“MỘT KHUYẾT ĐIỂM TO” CẦN PHẢI “SỬA CHỮA NGAY”
Ngày 22/6/1954, Bác viết bài “Cần phải xem báo Đảng” đăng trên Báo Nhân dân số 179. Ngay phần mở đầu Bác đã chỉ ra: “Đảng ta mạnh vì Đảng ta tư tưởng nhất trí, hành động nhất trí, suốt từ trên xuống dưới. Tờ báo của Đảng có nhiệm vụ làm cho tư tưởng và hành động thông suốt và thống nhất… Tờ báo Đảng như những lớp huấn luyện giản đơn, thiết thực và rộng khắp. Nó dạy bảo chúng ta những điều cần biết, cần làm về tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo và công tác. Hàng ngày nó nâng cao trình độ chính trị và năng suất công tác của chúng ta.”. Bác cho rằng, “Nếu cứ cắm đầu làm việc, mà không xem, không nghiên cứu báo Đảng, thì khác nào nhắm mắt đi đêm; nhất định sẽ lúng túng, vấp váp, hỏng việc…”
Bác phê bình: “Có những đồng chí mượn cớ quá bận việc, hoặc cớ này cớ khác mà không chú ý xem báo Đảng. Đó là che giấu bệnh lười, đó là một khuyết điểm to, cần phải sửa chữa  ngay”. Bác cũng “mách” cho cách để chữa bệnh lười: “…Vô luận công việc bận thế nào, nếu khéo sắp xếp thì nhất định có thời gian xem báo”. Vậy những ai cần “chăm” xem báo Đảng nhất? Bác cũng nêu: “Cán bộ trong Đảng và ngoài Đảng, toàn thể đảng viên và cốt cán cần phải xem báo Đảng”.
Bài viết “Cần phải xem báo Đảng” ngắn gọn nhưng súc tích, khái quát cao như phong cách viết vốn có của Bác. Đến nay, sau 68 năm bài báo ra đời, câu chuyện Bác nêu vẫn còn tính thời sự và có giá trị gợi mở cho chúng ta suy nghĩ về 2 vấn đề: một là, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của báo Đảng; hai là, về “bệnh lười” đọc báo Đảng của cán bộ, đảng viên. Từ đó, suy nghĩ về mối quan hệ giữa cơ quan báo Đảng với bạn đọc, công chúng của mình. Trong nền báo chí cách mạng Việt Nam, báo Đảng là những báo nào, như thế nào thì gọi là báo Đảng và báo Đảng thời công nghệ 4.0 hôm nay khác gì và cần những điều kiện gì so với báo Đảng khi Bác viết bài “Cần phải xem báo Đảng”?
Nếu mỗi chủ thể không nhìn nhận đúng việc cần làm, phải làm, sẽ có thể dẫn đến làm suy yếu tiếng nói của Đảng, ngọn cờ tư tưởng của Đảng, diễn đàn của nhân dân cũng là làm suy yếu đi một trong những phương thức lãnh đạo quan trọng của Đảng ta.
NGỌN CỜ TƯ TƯỞNG, TIÊN PHONG, CHỦ LỰC, NÒNG CỐT, TIN CẬY
Nền báo chí cách mạng Việt Nam ra đời đến nay là 97 năm kể từ khi Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra tờ Thanh Niên ngày 21/6/1925. Kể từ đó, báo chí nước nhà là lực lượng tuyên truyền, cổ động, tổ chức tập thể việc thực hiện cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực sự phụng sự Đảng, Tổ quốc và dân tộc. Tính Đảng là một thuộc tính căn bản, tiên quyết của nền báo chí cách mạng và của bất cứ tờ báo nào. Trong một phạm vi hẹp, có tờ báo, tạp chí được quen gọi là “báo Đảng” bởi tính chất đặc thù về cơ quan chủ quản, nhiệm vụ tiên phong trong tuyên truyền, là ngọn cờ tư tưởng, lý luận của Đảng, gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng, đồng hành cùng sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc.
Những tờ báo Đảng, cơ quan ngôn luận của Trung ương Đảng đã định vị và khẳng định bề dày “thương hiệu” qua quá trình lịch sử cách mạng như báo Nhân dân, Tạp chí Cộng sản,… Báo Nhân dân ra đời 11/3/1951, kế tục sự nghiệp vẻ vang của các tờ báo Thanh Niên, Tranh Đấu, Cờ Giải Phóng, Sự Thật là “ngọn cờ trên mặt trận báo chí của Đảng, là tờ báo được quần chúng rất tin cậy”. Tạp chí Cộng sản là cơ quan lý luận chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng kế tục vai trò huấn luyện công tác và lý luận của những tạp chí buổi đầu cách mạng như Tạp chí Đỏ (1930), Tạp chí Cộng sản (1931, 1934, 1943, 1954), Tạp chí Bôn-sơ-vích (1934)…Từ buổi đầu lịch sử cách mạng, các tờ báo Đảng này và những tờ báo của các chi bộ cộng sản trong một số nhà tù lớn đã làm tốt nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục ý thức giai cấp, đấu tranh giai cấp và xây dựng lý tưởng cộng sản chủ nghĩa cho quần chúng lao động; tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối cách mạng dân quyền của Đảng, kiên quyết chống đế quốc, phong kiến, chống chủ nghĩa cải lương của giai cấp tư sản và chủ  nghĩa dân tộc tư sản. Từ đó, chuẩn bị điều kiện để đón thời cơ đưa cách mạng tiến lên những cao trào mới mà đỉnh cao là Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trong những giai đoạn lịch sử tiếp theo, đã phục vụ tích cực cho xây dựng Đảng, góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược, kháng chiến chống thực dân Pháp, đánh đổ đế quốc Mỹ và tay sai, xây dựng XHCN ở miền Bắc, hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, phục vụ công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, đồng hành cùng dân tộc trong giai đoạn phát triển và đổi mới.
Bên cạnh đó, hệ thống các báo Đảng, đài phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương, lực lượng vũ trang, báo, tạp chí của các ban Đảng Trung ương và tạp chí lý luận của hệ thống các trường Đảng,… Mỗi tờ báo, tạp chí đều có bề dầy lịch sử, đều phát huy vai trò dẫn dắt, định hướng về tư tưởng, hành động của xã hội trong triển khai các nghị quyết của Đảng; đáp ứng nhu cầu hiểu rõ quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đi đầu trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch…
Sau 97 năm ra đời và phát triển, báo chí cách mạng Việt Nam ngày càng lớn mạnh, đổi thay trên nhiều phương diện, phát triển nhanh chóng về số lượng, số đầu báo, tạp chí; xuất hiện thêm nhiều loại hình báo chí điện tử, báo chí đa phương tiện, đa nền tảng, tích hợp, hội tụ… Nhiều cải tiến về nội dung, hình thức, công nghệ in ấn, phương thức thông tin, nền tảng công nghệ, kéo theo đó là sự thay đổi về phương thức tiếp nhận thông tin, thói quen và nhu cầu tiếp cận. Trong bối cảnh đó, các báo, tạp chí Đảng với tư cách là cơ quan ngôn luận, cơ quan lý luận chính trị của các cấp ủy Đảng cũng đã thường xuyên đổi mới, cải tiến. Bài toán đổi mới đặt ra cho báo và tạp chí Đảng hiện nay là phải giải quyết thật tốt mối quan hệ giữa tính đảng, tính định hướng, tính chiến đấu, tính khoa học, tính chuyên ngành, tính dự báo, tính nhân dân, tính chính thống, chính xác, chuẩn mực với tính hấp dẫn, tính thuyết phục, hiện đại và chuyên nghiệp…
NHẬN DIỆN MỘT SỐ BIỂU HIỆN CHƯA ĐÚNG
Thứ nhất, là tư duy “xem nhẹ” việc mua và đọc báo, tạp chí lý luận chính trị ở một bộ phận cấp ủy, cán bộ, đảng viên. Có những cấp ủy không sử dụng kinh phí được quy định để mua báo, tạp chí Đảng mà dùng vào việc việc khác, hoặc có mua nhưng không đọc, nghiên cứu. Đương nhiên, báo, tạp chí chính trị không phải là loại hình báo giải trí, nên khó hấp dẫn, thu hút người đọc. Nhưng đối với cán bộ, đảng viên, độ hấp dẫn của báo, tạp chí Đảng trước tiên đến từ sự cần thiết, tính định hướng, tính chính thống. Có đọc, có nghiền ngẫm thì mới trang bị được “phương pháp tư duy, phương pháp nhận thức, phương pháp tư tưởng, có phương pháp đúng thì sẽ có nhận thức đúng, đánh giá đúng vấn đề và giải quyết đúng vấn đề”. Đúng như Bác đã chỉ ra, các đồng chí “mượn cớ”, hoặc cớ này, cớ khác, thực chất là “che giấu bệnh lười”. Nguy hiểm hơn, với nhận thức và ứng xử “xem nhẹ” đó có thể vô hình trung làm đánh mất vai trò, suy yếu sức mạnh tiếng nói của Đảng, triệt tiêu một công cụ quan trọng trong phương thức lãnh đạo của Đảng.
Thứ hai, một số tờ báo, tạp chí trong tư duy đổi mới, chưa đồng bộ giữa đổi mới công nghệ và đổi mới đội ngũ, nâng cao chất lượng thông tin. Đổi mới theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, bắt kịp công nghệ phải bắt đầu từ con người, từ đổi mới tư duy và năng lực tiếp nhận cái mới, làm chủ công nghệ, tổ chức thông tin “đúng” và “trúng” với yêu cầu nhiệm vụ và nhu cầu của bạn đọc.
Thứ ba, trong sự hào hứng với sự phát triển của công nghệ, đón bắt xu hướng, chuyển đổi số, xuất hiện khuynh hướng chạy theo sự phát triển của các loại hình báo chí mới mà chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng và những thế mạnh đặc thù của các loại hình báo chí truyền thống như báo, tạp chí in, mà các kênh thông tin khác, nhất là báo mạng không thể thay thế được.
Thứ tư, trong triển khai quy hoạch báo chí một số nơi có biểu hiện lắp ghép cơ học, chưa tính toán kỹ giải pháp để thực hiện mục tiêu quy hoạch là để đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động.

 KHẲNG ĐỊNH VAI TRÒ NÒNG CỐT, CHỦ LỰC TRONG XÂY DỰNG ĐẢNG
Trước những yêu cầu phát triển mới của đất nước, yêu cầu xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức càng quan tâm đến củng cố và phát triển báo, tạp chí Đảng, người viết xin góp bàn một số vấn đề sau:
Một là, nhận thức rõ vai trò, vị trí, tầm quan trọng đặc biệt của báo, tạp chí Đảng là vũ khí tư tưởng sắc bén của Đảng, ngọn cờ đầu trong công tác tư tưởng, lý luận, củng cố và tăng cường sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội và lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Các cấp ủy Đảng là cơ quan chủ quản phải luôn quan tâm, theo dõi sát sao, tạo điều kiện, nguồn lực về mọi mặt để tờ báo phát triển xứng tầm, có vị thế xứng đáng với vai trò, nhiệm vụ.
Hai là, các cơ quan báo chí phải thường xuyên nâng cao chất lượng đội ngũ người làm báo, đổi mới nội dung, hình thức, có chiến lược phát triển theo hướng tiếp cận công nghệ hiện đại; xây dựng đội ngũ có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, tinh thông nghiệp vụ, có khả năng nắm bắt và hành nghề trong hệ sinh thái công nghệ số.
Ba là, trong đổi mới, phục vụ Đảng, phục vụ công chúng phải luôn “lắng nghe” để “Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng”. Lắng nghe bạn đọc là cán bộ, đảng viên và nhân dân, hiểu rõ tâm lý, hành vi, nhu cầu của công chúng báo chí trong thời kỳ hiện nay.
Bốn là, thực hiện quy hoạch báo chí, tinh gọn để nâng cao chất lượng, hiệu quả. Triển khai nghiêm túc Quyết định số 362/QĐ-TTG ngày 3/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025, Kết luận 26-KL/TW ngày 29/12/2017 của Ban Bí thư về “Kiện toàn, nâng cao chất lượng, hiệu quả tạp chí các ban đảng Trung ương hiện nay”.Nhất quán quan điểm của Đảng và Nhà nước, quy hoạch là để báo chí phát triển lành mạnh, đúng định hướng, nâng cao chất lượng, tránh “nặng về sắp xếp mà chưa coi trọng đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động”.
Năm là, phát triển “hệ sinh thái” các loại hình báo chí đa phương tiện, đa nền tảng, phát huy vai trò của sản phẩm báo in truyền thống với sản phẩm báo chí công nghệ hiện đại. “Báo giấy còn cần phải song hành dài lâu cùng báo, tạp chí điện tử, không phải ở thói quen hay sự luyến tiếc bởi những thứ có tính chất cảm tính ấy sẽ phai nhạt dần và biến mất theo thời gian mà nó nằm ở nhu cầu mang tính chuyên môn, phục vụ cho các mục đích khoa học, lưu trữ đặc thù”. Theo phản ánh từ thực tiễn, “nhiều cán bộ chính quyền và các ban ngành, đoàn thể cấp xã, phường, cán bộ trưởng khu phố, tổ trưởng tổ dân phố phần lớn là những người lớn tuổi, có hạn chế đối với báo điện tử, rất cần có tờ báo, tạp chí Đảng hằng ngày để vừa cập nhật thông tin thời sự chính trị – xã hội, vừa làm tư liệu tuyên truyền trong nhân dân. Xu hướng “mobile first” (ưu tiên đọc trên điện thoại) sẽ thích hợp với độc giả có nhu cầu cập nhật tin tức thời sự hơn là đọc những bài chuyên sâu, những bài có tính tư liệu trên báo, tạp chí in của Đảng.
Việc Trung ương nhấn mạnh và yêu cầu “mua và đọc” báo và tạp chí Đảng và những ý kiến từ bạn đọc các lứa tuổi, các vùng miền cho thấy ấn phẩm in vẫn giữ một vai trò quan trọng trong thói quen, tình cảm, nhận thức, quan điểm và trong thực tiễn đời sống báo chí.
Học lời Bác dạy: “Vô luận công việc bận thế nào, nếu khéo sắp xếp thì nhất định có thời giờ xem báo”. Bên cạnh những thiết chế, quy định ràng buộc và tạo điều kiện Đảng về việc mua và đọc báo Đảng, chắc chắn rằng, báo, tạp chí Đảng phải vươn lên mạnh mẽ, khẳng định năng lực “xương sống” của nền báo chí quốc gia, chiếm lĩnh được công chúng, thực hiện tốt sứ mệnh là “ngọn cờ tư tưởng”, “lực lượng xung kích”, “cầu nối tin cậy” giữa Đảng với nhân dân./.
-----------
PV-TG.st

Hằn học về đất nước thì làm sao thấy những điều tốt đẹp?

 
Trong một bài viết đầy rẫy tiêu cực, Phạm Minh Vũ tỏ ra nghi ngờ về mọi điều tốt đẹp trong đất nước: Việc khởi tố vụ án Tân Hoàng Minh làm trong sạch thị trường bị coi là đòn “thanh trừng” các đại gia để đấu đá phe phái, tịch thu tài sản; Những công ty bất động sản phát triển xây dựng và làm giàu cho đất nước thì bị coi là chia chắc kiếm lời; đất nước ngày càng giàu mạnh nhưng Vũ nói rằng chỉ thấy “đất nước hoang tàn”.

Trong thế giới đầy rẫy thông tin ngày nay, bất kỳ ai dù muốn hay không cũng phải công nhận Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ. Nền kinh tế đứng thứ 40 thế giới và đang tăng trưởng với tốc độ nhanh hàng đầu thế giới, nhiều con đường, nhà cao tầng và những công trình được xây dựng khắp nơi, đời sống người dân ngày càng khấm khá. Trong thành tựu này không thể phủ nhận công sức của những công ty bất động sản đã biến những vùng đất hoang vu, cằn cỗi “chó ăn đá, gà ăn sỏi” như cách gọi của dân gian thành những khu đô thị đáng sống, mang lại công ăn việc làm và thu ngân sách cho đất nước. Những vụ án mới đây liên quan đến các tập đoàn bất động sản như FLC, Tân Hoàng Minh chỉ là một động thái làm trong sạch thị trường, là điều tất yếu phải có trên quá trình phát triển ở mọi quốc gia trên thế giới.
Thế nhưng bất chất những điều tốt đẹp đang xảy ra trên đất nước này, vẫn có một bộ phận thiểu số đang ngày ngày “bịt mắt, bịt tai” nói những điều khó nghe và tiêu cực. Phạm Minh Vũ là một thành phần tiêu biểu trong số đó. Như đợt Tết Nhâm Dần vừa qua, trong không khí cả nước đang vui tươi chào đón năm mới thì Vũ hăm hở tìm bằng được mấy tấm ảnh về những người bán hàng rong, vé số, ngủ vỉa hè để liên tiếp viết bài công kích. Đó là kẻ mắt chỉ thích nhìn màu đen nhưng muốn ai cũng phải nhìn thấy màu đen lệch lạc như mình.
Về vụ án FLC và Tân Hoàng Minh, Vũ cho rằng “bắt chỉ là cái cớ”, rồi thì các đại gia ở Việt Nam chỉ là sân sau quan chức, khi “quan yếu” thì bị bắt hoặc khi thách thức quyền lực của Nhà nước thì bị bắt. Đây là một luận điệu thực chất được các đối tượng chống phá lặp đi lặp lại từ ngày này sang ngày khác, từ vụ án này sang vụ án khác. Cần hỏi là nếu như các vụ án chỉ là “cái cớ”, chỉ là “việc tất yếu xảy ra” thì tại sao cứ mỗi lần báo chí trong nước đưa tin về các vụ này nọ thì không hề thiếu Vũ và đồng bọn nhảy vào bình luận? Nếu đã biết, đã “chẳng có cảm xúc gì, chẳng hồ hởi vui mừng” như đã nói thì tại sao Vũ luôn “háo hức” đón đọc những tin tức này để rồi chế ra các luận điệu và thuyết âm mưu xung quanh?

Vũ còn “ngáo” đến mức cho rằng “những người làm ăn chân chính, những doanh nghiệp đang tạo ra của cải” không vay được vốn vì tiền ngân hàng đổ hết vào bất động sản. Đương nhiên, nếu kể ra nữa thì mọi thứ sẽ không dừng ở đây vì với Vũ, hắn chỉ thấy “một đất nước hoang tàn”, rồi than thở uống cà phê thấy “đắng chát”. Cà phê nào mà không đắng? Đáng ra Vũ phải kêu là sao cà phê ngọt thế thì mới đúng với bản chất nhìn sự việc ngược đời, đổi trắng thay đen của hắn.
Phải nói rằng bất động sản là một lĩnh vực đóng góp lớn cho nền kinh tế của mọi quốc gia trên thế giới vì nhu cầu xây nhà ở, chung cư, văn phòng, thương mại là nhu cầu lớn của mọi người dân. Khi Việt Nam còn chưa phát triển thì Nhà nước thậm chí còn phải mời gọi nhiều công ty bất động sản nước ngoài vào để xây dựng đất nước. Những công ty đó đến Việt Nam vì lợi nhuận và sẵn sàng bỏ đi khi không có lãi. Ngày nay thì nhiều công ty nội địa đã lớn mạnh, tự chủ như Vingroup, Sungroup…đem lại nhiều lợi ích cho đất nước và người dân, quan trọng hơn là họ luôn song hành cùng đất nước, đó là điều đáng mừng. Nhiều khu vực kém phát triển ở các tỉnh thành nhờ có các dự án xây dựng lớn mà nền kinh tế được hưởng lợi, người dân có công ăn việc làm là điều không thể phủ nhận. Những tiêu cực nếu có sẽ được xử lý nghiêm khắc.
Thế nhưng có lẽ những “sự thật” này với Phạm Minh Vũ không hề quan trọng, cái mà đối tượng này cần là những sai phạm, những tiêu cực, những góc tối nào đó, để nuôi dưỡng cái tầm nhìn thiển cận, ác ý và hung hăng chống phá đất nước của hắn.
--------
PV-TG.st

Mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận rõ âm mưu “nội công, ngoại kích”

 Trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, cùng với việc thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ nội bộ Đảng và Nhà nước ta, các thế lực thù địch cũng ra sức tiến hành các hoạt động công kích, chống phá, thực hiện chiêu trò “nội công, ngoại kích, phá từ bên trong” nhằm làm rối loạn, lung lạc ý chí của cán bộ, đảng viên, tiến tới mục tiêu cuối cùng là làm tan rã tổ chức của Đảng, hủy hoại sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) mà nhân dân ta đang tiến hành.

Trước khi Đại hội lần thứ XIII của Đảng diễn ra, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tiến hành việc tấn công, chống phá Đảng ta một cách quyết liệt, trắng trợn. Đặc biệt, lợi dụng những vấn đề về thiên tai, dịch bệnh và các sự kiện “nóng” diễn ra từ đầu năm 2020 đến nay, như: Dịch Covid-19, mưa lũ tại miền Trung, vụ việc ở Đồng Tâm… các thế lực thù địch và các đối tượng phản động đẩy mạnh việc xuyên tạc thông tin, đả kích vai trò lãnh đạo của Đảng; quy chụp, đổ lỗi cho sự lãnh đạo của Đảng. Hoặc những ngày gần đây, khi Quốc hội khóa XIV diễn ra Kỳ họp thứ 11 để chuẩn bị cho công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lại tiếp tục các chiêu trò nhằm hạ thấp uy tín của Đảng, cho rằng việc bầu cử là “đảng cử, dân bầu”, từ đó kêu gọi các cử tri không tham gia bầu cử… 

Mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận rõ âm mưu "nội công, ngoại kích”
Ảnh minh họa: tuyengiao.vn 
Nhớ lại trước ngày khai mạc Đại hội lần thứ XIII của Đảng, một số đối tượng cố tình đánh lạc hướng sự chú ý của dư luận bằng cách tung ra luận điệu cho rằng “thế lực thù địch chỉ là những bóng ma được Đảng Cộng sản vẽ ra để hù dọa người dân và bảo vệ quyền lãnh đạo của bản thân mình”. Chúng ta cần nhận thức rõ rằng, hiện nay, chúng ta đang phải đối đầu với các thế lực chống lại phong trào cộng sản và chủ nghĩa xã hội (CNXH). Đây là cuộc đấu tranh mang tính ý thức hệ, giữa chế độ XHCN và chế độ tư bản chủ nghĩa. Trong cuốn sách “Vững bước trên con đường đã chọn”, đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Các thế lực chống CNXH thừa biết Đảng cộng sản là “bộ não” của giai cấp công nhân, là linh hồn của cách mạng XHCN… Chỉ có tiêu diệt Đảng cộng sản thì mới xóa bỏ được tư tưởng cách mạng XHCN, mới củng cố và bảo vệ được “trật tự vĩnh hằng của chủ nghĩa tư bản”(1). Sau sự sụp đổ của hệ thống XHCN tại Liên Xô và Đông Âu, Đảng Cộng sản Việt Nam được xác định là một trong những nơi để công kích, chống phá chính; là trọng điểm trong kế hoạch xóa sổ CNXH trên thế giới. Chính vì vậy, những mũi nhọn công kích dưới muôn vàn biểu hiện khác nhau liên tục được các đối tượng tung ra để hòng tấn công vào uy tín, vị thế của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó, những luận điệu chính được các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đưa ra để chống phá Đại hội XIII nói riêng và Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung có thể kể đến là:

Thứ nhất, chúng ra sức xuyên tạc, đả phá tình hình phát triển kinh tế-xã hội và thể chế kinh tế của nước ta.

Thứ hai, tuyên truyền luận điệu xét lại lịch sử, xuyên tạc bản chất, tấn công trực diện vào gốc rễ của chủ nghĩa cộng sản, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thứ ba, công kích, chống phá Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng; tấn công điều lệ, nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng.

Thứ tư, tấn công công tác chuẩn bị cho các sự kiện chính trị; hướng lái, tô vẽ, tạo ra một bức tranh đầy mảng tối, tiêu cực về hệ thống chính trị của Việt Nam.

Từ những vấn đề trên có thể nói hoạt động chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung và công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV nói riêng đã được các thế lực thù địch, cơ hội chính trị thực hiện một cách bài bản, có sự đạo diễn, lên kế hoạch cụ thể. Những hoạt động chống phá này phần nào gây ra sự nhiễu loạn thông tin, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, tác động tiêu cực đến dư luận xã hội. Chính vì vậy, chúng ta cần nhìn thấu âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, để từ đó từng cán bộ, đảng viên tự xây dựng bản lĩnh chính trị cho mình, không lung lay, dao động, tuyệt đối tin tưởng vào con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn: Đó là con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH như các văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định.
---------
PV-TG.st

Lại trò núp bóng “nhân quyền”

Phạm Thị Đoan Trang được biết đến là người mang nặng tư tưởng, hành vi chống phá Nhà nước Việt Nam. Mặc dù vẫn có những kẻ tung hỏa mù nhằm lấp liếm, đánh lừa dư luận, nhưng những hành vi vi phạm pháp luật của Phạm Thị Đoan Trang là rất rõ ràng và không thể chối cãi.
Cáo trạng của Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Hà Nội nêu rõ: Trong khoảng thời gian từ ngày 16-11-2017 đến ngày 05-12-2018, bị cáo Phạm Thị Đoan Trang có hành vi làm, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, bài viết có nội dung nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bị cáo Phạm Thị Đoan Trang còn trả lời phỏng vấn trên truyền thông nước ngoài với nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước, phỉ báng chính quyền nhân dân, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân. Cụ thể, Phạm Thị Đoan Trang có hành vi tàng trữ các tài liệu: “Báo cáo tóm tắt về thảm họa môi trường biển Việt Nam”; “Đánh giá chung về tình hình nhân quyền tại Việt Nam”; “Báo cáo đánh giá về luật tôn giáo và tín ngưỡng năm 2016 liên quan đến việc thực hiện quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam.”
Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Hà Nội xác định, các tài liệu trên có nội dung tuyên truyền “luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân, tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”
Vụ án đã khép lại thế nhưng mới đây, một số tổ chức mang danh quốc tế, núp bóng “nhân quyền” lại sới lên bằng việc trao cái gọi là “Giải thưởng nhân quyền Martin Ennals 2022” cho Phạm Thị Đoan Trang – đối tượng đang thụ án 9 năm tù về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” quy định tại Điều 88, Bộ luật Hình sự năm 1999. Nhân sự việc này, một vài cái loa rè ở hải ngoại lại ra sức tung hô cho cái gọi là giải thưởng “Giải thưởng nhân quyền Martin Ennals” cùng những kẻ đã đẻ ra, nuôi dưỡng nó và tô vẽ cho “bản thành tích” của đối tượng Phạm Thị Đoan Trang.
Dư luận thấu hiểu về sự việc này không khỏi phì cười, bởi lẽ giải thưởng là phần thưởng dành cho cá nhân hay tập thể đạt thành tích cao trong các cuộc thi hoặc trong một lĩnh vực hoạt động nào đó. Mục đích của việc trao giải thưởng là để ghi nhận sự đóng góp của từng cá nhân, tập thể nhằm động viên, khuyến khích sự nỗ lực, cố gắng, thúc đẩy nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc; biểu dương, tôn vinh các tấm gương điển hình tiên tiến, các nhân tố mới để mọi người học tập cùng nhau phấn đấu hướng tới sự tiến bộ, văn minh và những điều tốt đẹp hơn trong cuộc sống… Sự thật là thế, ấy vậy mà những kẻ tự khoác lên mình cái danh quốc tế, núp bóng “dân chủ, nhân quyền” lại trao “Giải thưởng nhân quyền Martin Ennals 2022” cho Phạm Thị Đoan Trang.
Nhìn vào “bản thành tích” bất hảo của Phạm Thị Đoan Trang đối chiếu với khái niệm phổ quát về giải thưởng dư luận không cười mới lạ. Có thể nói việc trao “Giải thưởng nhân quyền Martin Ennals 2022” cho Phạm Thị Đoan Trang chỉ là vết nhơ gần nhất trên bộ mặt của những kẻ lâu nay chuyên núp bóng “bảo vệ nhân quyền” để chống phá một số nước, trong đó có Việt Nam.
Dư luận chẳng lạ gì bản chất sự việc mà một số tổ chức mang danh quốc tế, núp bóng “nhân quyền” vừa làm, bởi nó chỉ là “bổn cũ soạn lại” mà thôi. Diễn lại màn kịch vụng về, kệch cỡm này một số cá nhân, tổ chức thù địch với Việt Nam mưu toan “một mũi tên trúng nhiều đích”
Điểm mặt những đối tượng được một số tổ chức, hội nhóm trao cái gọi là “giải thưởng nhân quyền” chúng ta sẽ thấy họ đều là những người vi phạm pháp luật bị Tòa án Nhân dân các cấp ở Việt Nam xét xử, tuyên phạt án tù, hoặc đã và đang bị cơ quan chức năng khởi tố, bắt tạm giam phục vụ điều tra, chờ ngày xét xử, với các tội danh: “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”…
Trao giải thưởng cho những kẻ có “thành tích” trong chống phá Việt Nam,  chẳng cần nói dư luận cũng hiểu điều gì ẩn khuất đằng sau hành động ấy. Một số cá nhân, tổ chức thù địch đã tự bộc lộ bản chất chống phá Việt Nam khi diễn chiêu trò này. Xuất phát từ bản chất ấy, điều mà một số cá nhân, tổ chức thù địch kia mong muốn không gì khác là nhằm tung hô về cái gọi là “giải thưởng nhân quyền…” – đứa con quái thai, dị dạng mà họ đã đẻ ra; tô vẽ cho những kẻ có “thành tích” trong chống phá Việt Nam, từ đó tiếp tục bóp méo, xuyên tạc, phủ nhận thành tựu nhân quyền ở Việt Nam. Chưa hết, thông qua việc làm đó, một số cá nhân, tổ chức thù địch với Việt Nam còn mưu mô tiếp tục móc nối, lôi kéo, kích động, cổ súy những phần tử cơ hội, bất mãn hám tiền bạc, tham danh vọng, đầu cơ “dân chủ, nhân quyền”, lập thêm “thành tích” chống phá để được trao “giải thưởng”.  Kèm theo “giải thưởng” là tiền bạc, vật chất, thực ra đó chính là cách hà hơi, tiếp sức cho những kẻ chống phá Việt Nam.
Chống phá Việt Nam bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn thâm độc, nham hiểm trở thành bản chất của các cá nhân, tổ chức thù địch. Dù có nham hiểm và tinh vi đến đâu đi chăng nữa thì bản chất, tâm địa của những kẻ thù địch chuyên chống phá Việt Nam vẫn cứ bị phơi bày, lộ tẩy. Chiêu trò “giải thưởng nhân quyền” dù có diễn đi diễn lại bao nhiêu lần chăng nữa thì vẫn mãi là trò hề vụng về, lố bịch trên sân khấu chính trị hải ngoại không hơn không kém. Dù có tung hô đến đâu chăng nữa thì chiêu trò ấy chỉ có thể mồi chài, kích động được những kẻ cơ hội, bất mãn chính trị quen sống thân phận nô vong phản quốc chứ không thể đánh lừa được những người dân Việt Nam chân chính./.
--------------
PT-TG.st

SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC LAN TỎA THÔNG TIN TÍCH CỰC TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, đến tháng 1-2021, Việt Nam có hơn 72 triệu người sử dụng mạng xã hội (MXH), chiếm 73,7% dân số; số người sử dụng MXH truy cập bằng điện thoại khoảng 71,4 triệu, chiếm 98,8% người sử dụng MXH. Trung bình mỗi ngày người Việt Nam vào MXH khoảng 2 giờ 18 phút. Bên cạnh mặt tích cực, MXH tồn tại không ít những yếu tố tiêu cực, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường xã hội, lợi ích cộng đồng, thậm chí cả an ninh quốc gia.
THỰC TRẠNG
MXH là dịch vụ kết nối các thành viên cùng sở thích với nhau, không phân biệt không gian và thời gian, trên cơ sở sử dụng các tiện ích như: Chat, email, phim ảnh, chia sẻ file, blog và xã luận trên Internet. Sự phát triển của nó cùng với việc bùng nổ các thiết bị truy cập đã tạo cơ hội cho MXH có sức lan tỏa các thông tin tích cực trong và ngoài nước.
Là loại hình truyền thông cá nhân đa phương tiện mới trên Internet có sức hấp dẫn, lôi cuốn nhiều người tham gia, nhất là giới trẻ, MXH tích hợp được nhiều ứng dụng tối ưu của một số loại hình truyền thông trên mạng Internet.
Vì thế, MXH đã và đang đáp ứng tốt nhu cầu truyền tải thông tin và chia sẻ thông tin của người dùng MXH, đem lại nhiều tiện ích cho người sử dụng và số lượng người truy cập càng nhiều; qua đó, có những thông tin tích cực tác động sâu, rộng đến đời sống xã hội, đóng góp nhất định vào phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của người dân, như: Đáp ứng nhu cầu tìm kiếm thông tin, hưởng thụ văn hóa của nhân dân; góp phần phản biện chính sách; định hướng dư luận xã hội; phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh, quảng bá sản phẩm; thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế; đồng thời, MXH cũng là công cụ đắc lực giúp cơ quan chức năng của Đảng, Nhà nước làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền trên tất cả các lĩnh vực, đã tác động sâu, rộng đến đời sống xã hội của người dân.
Tuy nhiên, bên cạnh những tiện ích và mặt tích cực, công tác quản lý MXH, đặc biệt là các MXH xuyên biên giới đang bộc lộ nhiều mặt trái đáng lo ngại. Tình trạng tổ chức, cá nhân lợi dụng MXH để nói xấu, công kích, bôi nhọ tổ chức, xúc phạm danh dự, nhân phẩm cá nhân; quảng cáo, thông tin sai sự thật về sản phẩm; thông tin thiếu chuẩn mực đạo đức, trái với thuần phong mỹ tục đã ảnh hưởng tiêu cực, gây nhiều hệ lụy cho xã hội.
Đặc biệt là, lợi dụng MXH và các loại hình truyền thông mới trên Internet, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị đã tán phát nhiều thông tin xấu, độc, quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc tình hình đất nước, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tác động, ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước…

TĂNG CƯỜNG CÁC THÔNG TIN TÍCH CỰC
Để nắm bắt kịp thời xu hướng phát triển mạnh mẽ và sâu sắc của công nghệ truyền thông nhằm phát huy những thành tựu và ưu điểm, khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, tiếp tục phát triển báo chí, truyền thông trong thời kỳ mới, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra chủ trương “Xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại.
Thực hiện tốt quy hoạch, phát triển hệ thống báo chí, truyền thông. Sắp xếp ngành xuất bản, in và phát hành theo hướng tinh gọn, chất lượng, hiện đại hóa. Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên Internet. Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị – xã hội, thuần phong mỹ tục” (1).
Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, cần lưu ý phát huy cao độ vai trò của hoạt động báo chí, xuất bản trong công tác tuyên truyền, góp phần giáo dục, tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta; thực hiện vai trò giám sát, phản biện việc triển khai thực hiện; nâng cao nhận thức, phát huy năng lực, tính sáng tạo trong tổ chức thực hiện, đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đi vào cuộc sống.
Thời gian tới, MXH sẽ trở thành kênh thông tin quan trọng trong đời sống xã hội đối với người dân. Việc liên tục cập nhật những tiến bộ mới nhất trong nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo cho việc phát triển nền tảng công nghệ, các MXH đang ngày càng thông minh hơn và mang lại nhiều tiện ích lớn hơn cho người sử dụng.
Không dừng lại ở việc cung cấp thông tin từ người dùng, MXH đang thực sự lớn mạnh và bước vào mọi ngóc ngách của cuộc sống, từ việc liên lạc, kết nối đến sử dụng MXH như một công cụ hữu ích cho việc học tập, phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng – an ninh… Đồng thời, MXH đáp ứng nhu cầu quan trọng của cuộc sống con người, là tạo lập các mối tương tác, tạo điều kiện để mỗi người có thể thể hiện suy nghĩ, tâm tư, sở thích, biểu lộ tình cảm, trao đổi, chia sẻ trải nghiệm; tham khảo ý kiến, trình bày quan niệm về vấn đề nào đó của xã hội hoặc của cá nhân…
Tính kết nối, chia sẻ gắn liền với mỗi cá nhân đã làm cho thông tin trên MXH hết sức phong phú. Các tiện ích của MXH ngày càng thu hút nhiều người, tạo ra môi trường mở giúp giao lưu, liên kết. Từ các tiện ích đó, nhiều cơ quan báo chí, truyền thống lập trang Facebook của báo để mở rộng thông tin đến bạn đọc.
Tóm lại, việc sử dụng MXH đòi hỏi phải có những kiến thức nhất định về pháp luật nói chung và pháp luật về không gian mạng nói riêng. Để tiếp tục đứng vững và phát triển trước sự cạnh tranh từ truyền thông xã hội, truyền thông công dân, báo chí, phát thanh, truyền hình chính thống vẫn phải sử dụng nhiều hơn thế mạnh của mình là chất lượng thông tin, đặc biệt trong thời đại mà tin giả “face news” đang bùng nổ như hiện nay.
--------------
PT-TG.st 

LUẬN ĐIỆU LẠC LÕNG, XUYÊN TẠC VỀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ

 
Bản chất của quan điểm sai trái, thù địch trên là cố tình xuyên tạc, làm xấu hình ảnh của người cán bộ, đảng viên nhằm hạ uy tín, bôi nhọ công tác cán bộ của Đảng.
Gần đây, có một số quan điểm sai trái, thù địch cho rằng: Cán bộ lãnh đạo của Đảng là nhóm người đặc quyền, đặc lợi, xa hoa, trụy lạc. Chúng ra sức rêu rao bằng những luận điểm cũ rích rằng: “Những cán bộ bị xử lý kỷ luật chẳng qua là do tư tưởng tiến bộ mà bị thanh trừng”; do “phe nhóm”, đấu đá “cục bộ” trong Đảng; “Chỉ khi xóa bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam thì mới có thể hết tham nhũng”…
Vì vậy, để có thêm cơ sở lý luận và thực tiễn đấu tranh, làm thất bại những quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch thì nhận thức đầy đủ và sâu sắc về vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, công tác cán bộ của Đảng thực sự là vấn đề rất quan trọng, có ý nghĩa thiết thực. Về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng. Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công việc”. Người nhấn mạnh: “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vấn đề cán bộ, công tác cán bộ. Đảng không che giấu khuyết điểm của cán bộ, đảng viên. Đảng ta luôn nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng thực trạng đội ngũ cán bộ, công tác cán bộ, từ đó, xác định đúng nội dung, phương thức lãnh đạo công tác cán bộ của Đảng trong thời kỳ mới. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Hoàn thiện thể chế, quy định về công tác cán bộ, tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí, cơ chế đánh giá cán bộ. Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”. 

Những năm gần đây, việc xử lý kỷ luật một số cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ diện Trung ương quản lý thực sự là cuộc cách mạng đã và đang làm trong sạch Đảng, làm Đảng ta mạnh lên. Dư luận trong xã hội và đa số cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân đều đồng tình, ủng hộ và cho rằng đây là những mức kỷ luật vừa nghiêm khắc, vừa nhân văn, thấu tình đạt lý, tâm phục khẩu phục, có tác dụng giáo dục, cảnh tỉnh, cảnh báo, phòng ngừa chung rất sâu sắc. Điều đó càng thể hiện rõ quan điểm và quyết tâm không bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, lãng phí; kiên quyết xử lý kỷ luật những cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tham ô, tham nhũng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Vì vậy, việc nhận thức đúng vị trí, vai trò của người cán bộ, của công tác cán bộ của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng; kiên quyết đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, phản động sai trái. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì cần thường xuyên coi trọng định hướng tư tưởng và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, trên cơ sở đó, tiếp tục giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, ra sức cống hiến để góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
-------------
PT-TG.st

TỰ DO TÔN GIÁO PHẢI TRONG KHUÔN KHỔ PHÁP LUẬT

Thời gian qua, một số cá nhân, tổ chức lấy danh nghĩa “bảo vệ dân chủ, nhân quyền”, đặc biệt là quyền về tự do tín ngưỡng, tôn giáo để đưa ra những đánh giá phiến diện, sai lệch, các luận điệu xuyên tạc, vu cáo hòng can thiệp vào công việc nội bộ của các nước, trong đó có Việt Nam.
Tuy nhiên, cũng như ở các quốc gia trên thế giới vấn đề dân chủ, nhân quyền và quyền tự do tôn giáo đều phải diễn ra trong khuôn khổ pháp luật cũng như phù hợp điều kiện phát triển kinh tế và lịch sử truyền thống văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc.
Lâu nay, một số học giả phương Tây vẫn thường rêu rao chiêu bài “quyền con người cao hơn chủ quyền” nhằm thực hiện, bao biện mục đích cá nhân. Bên cạnh đó các thế lực thù địch cũng ra sức lợi dụng vấn đề tôn giáo và quyền tự do tôn giáo để can thiệp vào công việc nội bộ nước khác, nhất là các quốc gia có thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Ðảng cộng sản.
Trong âm mưu và chiến lược diễn biến hòa bình, vấn đề tôn giáo, dân chủ nhân quyền được sử dụng như một vũ khí lợi hại, lợi dụng lòng yêu nước, sự sùng đạo của người dân để khoét sâu những bất cập, tồn tại trong đời sống xã hội, nhằm lôi kéo, tập hợp những người dân nhẹ dạ cả tin hoặc thiếu thông tin gây rối, gây phức tạp về an ninh, trật tự, gây bất ổn xã hội.
Ðảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm, tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của công dân, xác định đây là nhu cầu tinh thần chính đáng của người dân. Chính sách đó, luôn được Ðảng, Nhà nước ta khẳng định và thực hiện nhất quán, được bảo đảm trên thực tiễn và cụ thể bằng văn bản pháp luật. Tại Sắc lệnh số 234/SL ngày 14/6/1955 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, xác định: “Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là một quyền lợi của nhân dân. Chính quyền dân chủ cộng hòa luôn luôn tôn trọng quyền lợi ấy và giúp đỡ nhân dân thực hiện” (Ðiều 15) và “Chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo” (Ðiều 13).
Trong mỗi giai đoạn lãnh đạo cách mạng, Ðảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo bảo đảm quyền tự do tôn giáo, tạo hành lang pháp lý để các tôn giáo hoạt động ổn định, tăng cường củng cố mối quan hệ giữa Nhà nước và các giáo hội tôn giáo…
Tiêu biểu là Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Ðảng (khóa IX) về công tác tôn giáo; Pháp lệnh 21/2004/PL-UBTVQH11 ngày 18/6/2004 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tín ngưỡng, tôn giáo; Nghị định số 22/2005/NÐ-CP ngày 1/3/2005 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Chỉ thị 1940/CT-TTg ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về nhà đất liên quan đến tôn giáo… Tại Hiến pháp năm 2013 quy định “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.
Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật” (Khoản 1, Ðiều 24). Ngày  18/ 11/ 2016 Quốc hội đã ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo…
Nhờ có chủ trương, chính sách, pháp luật về tôn giáo, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân được bảo đảm ngày càng tốt hơn, số lượng chức sắc, tín đồ, cơ sở thờ tự ngày càng tăng. Chỉ tính trong vòng 20 năm trở lại đây (2003-2022) việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo cho kết quả hết sức ấn tượng: Năm 2003 cả nước có 15 tổ chức, sáu tôn giáo, 17 triệu tín đồ với khoảng 20.000 cơ sở thờ tự; 34.000 chức sắc, 78.000 chức việc. Ðến năm 2021 Việt Nam đã công nhận 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo khác nhau, với hơn 26 triệu tín đồ, 54.000 chức sắc, tăng; 135.000 chức việc; 29.000 cơ sở thờ tự. Ðời sống tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng phong phú, đa dạng, nhiều lễ hội lớn trong các tôn giáo thu hút đông đảo tín đồ, người dân tham dự.
Có thể kể đến: Giáo hội Tin lành đã tổ chức thành công lễ kỷ niệm 500 năm cải chánh đạo Tin lành 2017); giáo hội Công giáo tổ chức Tổng hội Dòng Ða minh thế giới tại Ðồng Nai (7/2019), với đại biểu của nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia; Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức thành công Ðại lễ Phật đản Vesak Liên hợp quốc năm 2019 tại chùa Tam Chúc, tỉnh Hà Nam (5/2019) với hơn 1.650 đại biểu chức sắc và lãnh đạo các giáo hội, nhà nghiên cứu… đến từ hơn 112 quốc gia và vùng lãnh thổ). Với quy mô hoạt động tôn giáo tập trung đông người, chính quyền các cấp đã hỗ trợ các tôn giáo về công tác bảo đảm phân luồng giao thông, an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ, an toàn vệ sinh thực phẩm,… giúp người dân được tự do hành lễ, thỏa mãn nhu cầu đời sống tâm linh.
Thực tế cho thấy, ở một số quốc gia như Anh, Mỹ, Ðan Mạch… khi tổ chức tôn giáo tổ chức các hoạt động đông người tại cơ sở thờ tự, thường phải tự thuê bảo vệ làm nhiệm vụ bảo đảm an toàn giao thông, an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ, kiểm nghiệm an toàn thực phẩm. Nếu để xảy ra vi phạm, chính quyền sẽ căn cứ vào pháp luật và xử phạt… Nhưng ở Việt Nam các tổ chức tôn giáo khi tiến hành các hoạt động tôn giáo có đông đảo người dân tham gia, chính quyền luôn hỗ trợ với mục tiêu cao nhất bảo đảm an toàn trật tự để nhân dân yên tâm thực hiện nghi lễ tôn giáo.
Bất chấp thực tế đó, các thế lực thù địch, thiếu thiện chí vẫn xuyên tạc trắng trợn chính sách, pháp luật và tình hình tôn giáo tại Việt Nam; móc nối những đối tượng cơ hội bất mãn chế độ và số chức sắc cực đoan để kích động các hoạt động tôn giáo thoát ly khỏi sự quản lý của Nhà nước. Ðặc biệt, mỗi khi Nhà nước ban hành hoặc bổ sung những văn bản pháp luật mới để điều chỉnh các hoạt động tôn giáo cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, trình độ văn hóa, xã hội của đất nước, phù hợp với tâm tư, tình cảm, nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân thì các đối tượng trên lại dấy lên chiến dịch phản đối, xuyên tạc.
Mặt khác, các thế lực thù địch và phản động lưu vong ở nước ngoài vẫn tiếp tục cấu kết, móc nối với các đối tượng cực đoan trong tôn giáo và đối tượng cơ hội chính trị lợi dụng các vấn đề nổi cộm như đất đai, môi trường, phòng chống dịch Covid-19… nhằm mưu đồ dụ dỗ, lôi kéo người dân khiếu kiện, kích động gây rối, gắn vào vấn đề tôn giáo để vu cáo Việt Nam; nhằm mưu đồ làm cho chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo hoài nghi về chính sách của nhà nước ta.
Ðáng chú ý, trong những năm qua các đối tượng phản động, chống đối chính trị ở ngoài nước, móc nối với một số phần tử cực đoan trong tôn giáo cấu kết với các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Ðảng và Nhà nước Việt Nam, tổ chức các cuộc “hội luận”, “họp báo”, soạn thảo và phát tán các tài liệu có nội dung xuyên tạc, bịa đặt để tuyên truyền chống Ðảng và Nhà nước Việt Nam, nhất là trên các lĩnh vực tôn giáo và nhân quyền.
Chúng đẩy mạnh xuyên tạc Ðảng và Nhà nước Việt Nam “đàn áp tôn giáo”, Việt Nam “không có tự do tôn giáo”… Những thủ đoạn hoạt động của chúng không chỉ âm mưu tác động vào tâm lý, tư tưởng của một bộ phận quần chúng, tín đồ mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống yên bình của nhân dân, tác động xấu đến xã hội, gây chia rẽ nội bộ trong tổ chức tôn giáo, gây mất đoàn kết dân tộc.
Thời gian tới, một số phần tử cực đoan trong nước vẫn sẽ tiếp tục dựa vào các thế lực thù địch bên ngoài đẩy mạnh hoạt động chống đối dưới chiêu bài  “đòi tự do tôn giáo”, “dân chủ, nhân quyền” chống Ðảng, Nhà nước ta, đòi khôi phục lại các tổ chức tôn giáo không còn tồn tại, gia tăng các hoạt động phát triển đạo trái pháp luật, gây rối trật tự an toàn xã hội. Do đó về phía người dân cũng như các chức sắc và tín đồ các tôn giáo cần hết sức tỉnh táo, cảnh giác với âm mưu của các thế lực thù địch. Việc chủ động ngăn chặn các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống Việt Nam là nhiệm vụ trọng tâm, chiến lược lâu dài, là trách nhiệm của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị, trong đó cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo đóng vai trò nòng cốt.
Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về tôn giáo, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Chính quyền các cấp nắm chắc các hoạt động liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn, kịp thời phát hiện và ngăn chặn các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các tôn giáo, gây rối loạn xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống nhân dân, xâm phạm an ninh quốc gia.
Chủ động tuyên truyền công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng để vạch trần “chân tướng” của các đối tượng cơ hội, các việc làm vi phạm pháp luật, giáo luật của số đối tượng cực đoan lợi dụng tôn giáo, phản bác lại các luận điệu vu cáo của các thế lực thù địch. Các biện pháp đấu tranh ngăn chặn các hoạt động lợi dụng tôn giáo chống Việt Nam cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương cũng như sự vào cuộc của toàn xã hội.
Bên cạnh đó, cần thường xuyên sơ kết rút kinh nghiệm về những việc đã làm được, có biện pháp khắc phục những thiếu sót tồn tại để bảo đảm thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Ðảng, Nhà nước. Thường xuyên tuyên truyền đối ngoại để cộng đồng quốc tế có đầy đủ thông tin về kết quả, thành tựu nhân quyền trong lĩnh vực tôn giáo ở Việt Nam, có phương pháp tiếp xúc, vận động chức sắc, tín đồ các tôn giáo, có kinh nghiệm đối thoại tôn giáo, hướng dẫn các chức sắc, tín đồ hoạt động tôn giáo và thực hiện nghĩa vụ công dân.
-------
PT-TG.st

CHỦ TỊCH HÀ NỘI ĐẦU TIÊN VÀ...HÔM NAY

 

Ngày 2/9/1945, nước Việt Nam mới ra đời, từ đó đến nay, Chính quyền Hà Nội đã qua 15 khóa với 9 vị chủ tịch.

Vị chủ tịch Hà Nội đầu tiên là bác sỹ Trần Duy Hưng từ khóa 1 đến khóa 6 ( 1945 – 1977). Có 4 vị đảm nhận 2 khóa hoặc gần hai khóa, còn lại là những người làm 1 khóa.

Năm 2015, ông Nguyễn Đức Chung từ GĐ Công an Hà Nội được điều chuyển sang làm chủ tịch Hà Nội thay ông Nguyễn Thế Thảo, bước sang khóa sau (2016-2021) được thời gian thì vướng vòng lao lý, bị án hình sự, vào tù không trọn khóa. 

Tháng 9/2020, ông Chu Ngọc Anh được điều về tòa nhà 79 Đinh Tiên Hoàng, được giao ngồi vào ghế ông Chung vừa rời được giới thiệu để HĐND T.P bầu làm chủ tịch UBND Hà Nội, đến kỳ bầu cử ĐBQH và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 tiếp tục được bầu làm chủ tịch T.P khóa 2021-2026.

Trong công cuộc đổi mới, Hà Nội không ngừng phát triển, đi lên. Nhưng không ai lại nghĩ 2 nhiệm kỳ liền, hai chủ tịch T.P vướng vào vòng lao lý, ông Chung “đứt gánh giữa đường”, vào tù khi đang đương chức. Nay,ông Chu Ngọc Anh lại tiếp bước ông Chung dẫu sai phạm của ông khi ngồi ghế Bộ trưởng Bộ KH-CN.

Thăng Long- Hà Nội mảnh đất ngàn năm văn hiến, anh hùng, T.P “Vì Hòa bình” là trung tâm chính trị, văn hóa, KHKT, giao lưu quốc tế của cả nước nên có vị thế đặc biệt quan trọng. 

Vì thế, việc chọn người đứng đầu Hà Nội không đơn giản, chon ai phải cẩn trọng, người đó phải hội đủ các phẩm chất: Đức, tài, tâm, tầm, phải có phông, tầm văn hóa cao thực chất, xứng đại diện cho văn hóa Tràng An, ứng xử có văn hóa, thanh lịch và nay phải có phong cách làm việc lịch lãm, hiện đại đáp ứng yêu cầu đối ngoại, hòa nhập quốc tế.

Hơn 35 năm đổi mới, Hà Nội rộng rãi hơn vì sáp nhập Hà Tây, bộ mặt Thủ đô đổi thay mạnh mẽ, nhà cửa, cao ốc, nhiều tuyến đường mới khang trang hơn…

Tuy nhiên, thật buồn, quy hoạch tổng thể Hà Nội bị xộc xệch, nhiều ô quy hoạch bị phá nát, nhiều khu nhà cao ốc mới bị nhồi quá mức,cứ mưa đường phố thành sông, khẩu hiệu Thủ đô “ sáng, xanh, sạch, đẹp” thực hiện cho được còn gian nan lắm.

Vì thế, người dân Hà Nội luôn kỳ vọng chọn sao cho được vị chủ tịch là người đủ kiến thức, đủ tầm nhìn nêu ý tưởng, đề xuất thực hiện và quản lý quy hoạch - kiến trúc hợp lý, khoa học, bài bản xứng tầm, năng lực quản lý, điều hành các lĩnh vực khác của T.P phải toàn diện và tốt.

Nhưng nay ngược thời gian ngoái nhìn lại tầm 10 - 15 năm thôi có phần thất vọng. Năm 2007, khi ông Nguyễn Thế Thảo, kiến trúc sư, TS kinh tế, rời vị trí lãnh đạo Bắc Ninh về làm chủ tịch Hà Nội, ai cũng hy vọng với kiến thức sâu về chuyên ngành kiến trúc, quy hoạch, xây dựng, kinh tế, Thủ đô sẽ có bước đột phá, quy cũ. 

Nhưng thời gian trôi là sự thất vọng, người dân nhớ nhiều đến chủ trương, chiến dịch phá, thay thế hơn ngàn cây xanh cổ thụ, trồng mới, thay thế, đồng nhất cây xanh trên một số tuyến phố đẹp của Thủ đô. Bị phản đối mạnh mẽ, ý tưởng thế cây của chủ tịch Thế Thảo phá sản. Nay thanh tra quy hoạch, kiến trúc xây dựng Hà Nội từ khi sáp nhập Hà Tây, phát hiện la liệt sai phạm về điều chỉnh quy hoạch, nhồi nhét chung cư, xây dựng bừa phứa, vượt tầng…những sai phạm này dính nhiều vào giai đoạn KTS Nguyễn Thế Thảo ngồi ghế chủ tịch. 

Giai đoạn này và tiếp về sau, các cơ quan hành chính, nhà máy trong nội đô chuyển lại mọc lên nhan nhản những nhà cao tầng, vườn hoa, nhà trẻ, không gian sinh hoạt cộng đồng, vườn cây, hoa vẫn hiếm hoi… 

Tháng 12/2015, khi mới nhận chức chủ tịch T.P, ông Nguyễn Đức Chung phần nào tạo được hy vọng cho dân vì sự quan tâm cây xanh, cải thiện vệ sinh môi trường, tiết giảm chi phí hành chính, thực hiện chính quyền điện tử… Tuy nhiên, sau đó mới ngớ ra, những thứ ông quan tâm từ đầu lấp ló có sự liên đới tới tính toán vụ lợi của ông, cho công ty gia đình mà những vụ án ông vướng phải là minh chứng.

Ông Chu Ngọc Anh được đào tạo từ ĐH Bách khoa Hà Nội, TS về chuyên ngành KH-CN, chưa kịp làm gì ghi dấu ấn cho Hà Nội thì ông cũng thân bại danh liệt vì có vai trò quan trọng liên quan đại án Đề tài cấp QG nghiên cứu kit test Việt Á lừa dối...

Nêu thế để thấy, chiếc ghế chủ tịch Hà Nội luôn cần có những người xứng tầm. Qua 15 khóa, lần lượt 9 đời chủ tịch, có lẽ người để lại nhiều ấn tượng nhất là bác sỹ Trần Duy Hưng.

Được Bác Hồ chọn, giao làm người đứng đầu chính quyền Hà Nội, học chuyên ngành y nhưng ông lại có tầm nhìn xa, trông rộng, toàn diện. Cố chủ tịch Trần Duy Hưng đã góp phần quan trọng lãnh đạo, điều hành Hà Nội xây dựng, sản xuất, chiến đấu, chăm lo tốt việc học hành, an sinh cho nhân dân đã để lại nhiều dấu ấn tốt đẹp. Ông xứng đáng được lấy tên đặt cho con đường rộng, đẹp từ Trung tâm Thủ đô đi về Trung tâm HN Quốc gia, Khu đô thị phía Tây T.P, đi về đại lộ Thăng Long.

Còn các vị chủ tịch nêu trên, có vị nghỉ hưu mà hơn chục năm cứ nấn ná không trả biệt thự cũ thời Pháp ( nhà công vụ) ở phố trung tâm Hoàn Kiếm cho T.P...người dân nhắc tên các ông là gợi lại nỗi đau vì câu hỏi sao người đứng đầu Hà Nội lại có thể như thế?

VIỆT NAM, HOA KỲ THÚC ĐẨY HỢP TÁC KHẮC PHỤC HẬU QUẢ SAU CHIẾN TRANH!

         Sáng 10-6, tại trụ sở Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã tiếp ông Kelly McKeague, Giám đốc Cơ quan kiểm kê tù binh và người mất tích Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ.

Tại buổi tiếp, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến đánh giá cao đóng góp của Cơ quan kiểm kê tù binh và người mất tích Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đối với việc thúc đẩy quan hệ hai nước thời gian qua; khẳng định hợp tác tìm kiếm quân nhân mất tích trong chiến tranh (MIA) tại Việt Nam là khởi nguồn, cầu nối, giúp nhân dân hai nước hiểu hơn về thiện chí, chính sách nhân đạo của nhau.

Trong năm 2021, mặc dù dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, hai bên vẫn phối hợp chặt chẽ trong hoạt động MIA theo kế hoạch thống nhất hằng năm và thu được một số kết quả tích cực. Phía Việt Nam đã tổ chức trao cho Hoa Kỳ 5 bộ hài cốt. Ngoài ra, hợp tác tẩy độc dioxin, rà phá bom mìn, tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ Việt Nam hy sinh trong chiến tranh cũng được hai bên tích cực triển khai.

Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến đề nghị thời gian tới hai bên tiếp tục thúc đẩy hợp tác về MIA, trong đó ưu tiên đẩy nhanh tốc độ tìm kiếm, tập trung giải quyết nhanh chóng các hồ sơ MIA còn lại. Đồng thời, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến đề nghị Cơ quan kiểm kê tù binh và người mất tích Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ có tiếng nói với Chính phủ Hoa Kỳ để quan tâm hỗ trợ Việt Nam trong lĩnh vực khắc phục hậu quả chiến tranh tại Việt Nam, bao gồm: Đẩy nhanh tiến độ dự án xử lý ô nhiễm dioxin tại các dự án đang triển khai; triển khai hiệu quả dự án hỗ trợ cải thiện chất lượng sống của người khuyết tật tại các tỉnh bị phun rải chất da cam/dioxin; tăng cường nguồn lực hỗ trợ Việt Nam khắc phục hậu quả bom mìn trên cơ sở Bản ghi nhớ phía Hoa Kỳ đã cam kết; và các nội dung hợp tác trên tinh thần Bản ghi nhớ về hợp tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ Việt Nam.

Việt Nam, Hoa Kỳ thúc đẩy hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh
Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến trao quà lưu niệm tặng ông Kelly McKeague. 
Về phần mình, ông Kelly McKeague cảm ơn lãnh đạo Bộ Quốc phòng Việt Nam đã chia sẻ kết quả hợp tác giữa hai bên trong khắc phục hậu quả chiến tranh, tự hào rằng MIA đã đóng góp tích cực trong quan hệ Hoa Kỳ-Việt Nam. Ông cũng nhấn mạnh, dù thời gian qua bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 và Hoa Kỳ không cử được đoàn công tác sang tìm kiếm, song phía Việt Nam đã rất tích cực, đơn phương tìm kiếm, trao trả hài cốt quân nhân cho phía Hoa Kỳ; cam kết sẽ tiếp tục hợp tác với Việt Nam thúc đẩy hiệu quả công tác này thời gian tới./.
Ảnh: Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến trao đổi và tặng quà ông Kelly McKeague.
Yêu nước ST.