Thứ Bảy, 11 tháng 6, 2022

RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC NGÀY 5/6/1911: SỰ LỰA CHỌN ĐÚNG ĐẮN CỦA NGUYỄN TẤT THÀNH - NGUYỄN ÁI QUỐC- HỒ CHÍ MINH


111 năm (1911-2022) là độ lùi lịch sử đã đủ độ tin cậy để có thể khẳng định rằng: sự lựa chọn, khởi đầu và quyết định chính xác của Nguyễn Tất Thành từ ngày 5/6/1911 đã góp phần quan trọng làm nên nhà cách mạng vĩ đại Hồ Chí Minh và chắc chắn Người là một trong những người hiếm có của thời đại chúng ta - "Người đã vận dụng sáng tạo những tư tưởng nhân đạo của cuộc đại cách mạng Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Người đã đem hết sức mình kết hợp những lý tưởng của nhân loại với cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam vì giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội"[1].
1. Nhận thức đúng và lựa chọn đúng
Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên khi đất nước đã đắm chìm trong đêm trường nô lệ. Chịu ảnh hưởng sâu sắc từ mảnh đất giàu truyền thống của người dân xứ Nghệ, lòng yêu nước, ý chí ham học hỏi, ham hiểu biết của người cha; lòng yêu thương con trẻ, sự chịu thương, chịu khó của người mẹ; tinh thần vượt khó và vươn lên, cần cù trong lao động, cố kết trong tình làng nghĩa xóm của quê hương, đất nước, v.v.. đã là chiếc nôi tốt, sớm nuôi dưỡng trong Nguyễn Tất Thành tình yêu nước, thương dân với một thiên hướng đặc biệt đến mẫn cảm.
Những năm tháng đó, không chỉ sống ở xứ Nghệ, Nguyễn Tất Thành còn được sống ở kinh thành Huế. Người không chỉ được học chữ Hán, bước đầu làm quen với thời đại qua những sách “Tân thư”, “Tân văn” bằng tiếng Hán; được nghe các thầy giảng giải về nền dân chủ và văn minh phương Tây mà khi theo học lớp dự bị (préparatoire) ở Trường tiểu học Pháp - bản xứ ở thành phố Vinh trước đó, lần đầu tiên Nguyễn Tất Thành đã được tiếp xúc với khẩu hiệu Tự do - Bình đẳng - Bác ái nổi tiếng của cách mạng tư sản Pháp 1789. Sau này, Người kể lại với nhà văn Liên Xô Ôxíp Manđenxtam rằng: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cùng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ ấy”[2].
Trong bối cảnh sớm bị mất mẹ và người em ruột khi mới hơn 10 tuổi đầu, Nguyễn Tất Thành không chỉ chịu ảnh hưởng bởi các phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân ta (cuộc khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo, cuộc khởi nghĩa nông dân do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo, mang “nặng cốt cách phong kiến” dù cốt cách đó có chiều dày hàng ngàn năm; phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, phong trào Duy Tân của Phan Chu Trinh… theo lập trường dân chủ tư sản Việt Nam - một nước thuộc địa nửa phong kiến và tính không triệt để của nó) liên tiếp nổ ra và thất bại mà Người còn suy tư, “sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào”.
Nhờ ảnh hưởng của những thầy giáo tân học và được tiếp xúc với báo chí tiến bộ, ý muốn đi sang phương Tây để tìm hiểu tình hình các nước và học hỏi thành tựu văn minh nhân loại đã từng bước lớn dần lên trong tâm trí của Nguyễn Tất Thành. Trăn trở về con đường cứu nước, lại được cộng hưởng bởi bầu không khí yêu nước, cảnh thực dân Pháp chém giết người yêu nước, đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta trong bể máu và những bất công diễn ra thường ngày… Nguyễn Tất Thành dường như đã hiểu được những hạn chế của các vị tiền bối trong việc không nhận thức đúng, đầy đủ những yêu cầu cấp bách của lịch sử đất nước; chưa tìm ra được một con đường đi đúng để các phong trào đấu tranh yêu nước giành được thắng lợi; đồng thời cũng không thể quy tụ sức mạnh của quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng. Trong khi đó, giai cấp phong kiến với hệ tư tưởng phong kiến đã hết vai trò lịch sử, còn giai cấp tư sản với hệ tư tưởng tư sản cũng không đủ năng lực để tập hợp toàn thể dân tộc trong cuộc đấu tranh chống lại ách áp bức của chủ nghĩa thực dân; đồng thời, cũng không thể gắn phong trào yêu nước của dân tộc với cuộc đấu tranh của các dân tộc khác cũng bị áp bức, bóc lột, nô dịch vì mục tiêu độc lập, tự do, hạnh phúc.
Dấu ấn quê hương và gia đình, sự tác động về nhiều mặt đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Nguyễn Tất Thành. Vì vậy, dù rất khâm phục lòng yêu nước của các bậc tiền nhân, nhưng khác họ, qua những kiến thức mới mẻ tiếp thu được từ Tân thư, từ những năm tháng học tập, sinh sống ở Huế, và bằng nội lực bẩm sinh, Nguyễn Tất Thành hiểu rằng một thời đại mới, đòi hỏi một con đường đi mới, một phương thức đấu tranh mới, khác hẳn con đường cách mạng cải lương từng diễn ra, đó là làm cách mạng. Đây là một suy nghĩ đúng đắn, hợp quy luật và thời đại.
Thực tế, sự hiểu biết, chí hướng yêu nước, hành động tham gia cuộc biểu tình chống thuế của nông dân Trung Kỳ năm 1908 chính là cơ sở, là tiền đề chuẩn bị cho quyết định của Nguyễn Tất Thành sau này. Đầy nhiệt huyết và mang trong lòng hoài bão giành lại “độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do cho đồng bào tôi”, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã quyết định rời nhà trường, rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước. Và khác những vị tiền bối cách mạng, vì muốn tìm hiểu và khảo nghiệm thực tế những gì đang diễn ra trong lòng chế độ tư bản, trong “nội bộ kẻ thù của dân tộc mình”, Nguyễn Tất Thành ước muốn "đi ra nước ngoài, xem nước Pháp”, “muốn làm quen với nền văn minh Pháp” và các nước khác không phải chỉ để thỏa mãn những hiểu biết của tuổi trẻ mà chính là "muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau”/những gì đã làm nên sức mạnh và văn minh của phương Tây - nơi sản sinh những tư tưởng lớn, những cuộc cách mạng lớn và "sau khi xem xét họ làm như thế nào… sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”[3].
Vậy là, khi quyết định không sang phương Đông, không nhờ cậy vào những người “anh lớn” như Trung Quốc và Nhật Bản, mà muốn làm quen với văn minh Pháp, muốn xem những gì ẩn dấu đằng sau những từ mỹ từ “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” của cách mạng tư sản Pháp, Nguyễn Tất Thành đã muốn học hỏi nhiều hơn những gì mình đang có, dân tộc mình đang có để không chỉ làm giàu tri thức cho mình mà chính là hướng đến giải phóng dân tộc mình. Từ xuất phát điểm này, từ sự vượt lên chính mình này đã quyết định sự lựa chọn, con đường đi sau đó của Người - con đường bôn ba tìm đường cứu nước, mở đầu một chặng đường dài xa Tổ quốc.
2. Khảo nghiệm thực tiễn và trở về lãnh đạo nhân dân Việt Nam làm nên thắng lợi cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 lịch sử
Với ý chí và quyết tâm của một người dân mất nước, với nhiệt huyết và sức trẻ của tuổi thanh xuân, Nguyễn Tất Thành đã khởi đầu một con đường đúng khi quyết định xin làm thuê trên tàu Đô đốc Latútxơ Trêvilơ, rời Tổ quốc ngày 5/6/1911 để “tìm đường đi cho dân tộc theo đi”.
Suốt thời thanh niên sôi nổi của đời mình, Nguyễn Tất Thành dành cho việc lao động kiếm sống, tích luỹ tri thức và tìm hiểu đời sống chính trị, xã hội các quốc gia, dân tộc và các nền văn hoá của nhiều châu lục. Trải qua những tháng ngày lao động vất vả, bằng nghề làm phụ bếp trên tàu; thợ chụp ảnh, vẽ đồ giả cổ Trung Hoa ở thủ đô Paris của nước Pháp hoa lệ; làm người cào tuyết cho trường học, bồi bàn trong khách sạn ở nước Anh, v.v..và vượt qua cái lạnh giá của châu Âu, với viên gạch ủ nóng thay cho lò sưởi là một Nguyễn Ái Quốc - Người thanh niên yêu nước đã sống, học tập và hoạt động không mệt mỏi.
Bằng tinh thần lao động và sự hòa mình vào dòng chảy của các sự kiện trên thế giới, cuộc hành trình của Nguyễn Tất Thành tiến hành trong gần một thập niên ở nước ngoài không chỉ là quá trình học tập, khảo sát, nghiên cứu kỹ lưỡng nhằm thấu hiểu mà chính là để chọn lọc và tiếp thu những giá trị văn hóa - văn minh của nhân loại. Bằng những nỗ lực hoạt động của mình trong nhiều tổ chức, trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - một người dân nô lệ ở thuộc địa, ham học hỏi, không sợ cường quyền, từng bước vượt qua mọi thử thách, gian truân, luôn phấn đấu cao độ với một nghị lực phi thường và một định hướng chính trị đúng đã gom góp và đanh thép đưa ra bản cáo trạng tội ác thực dân - Bản án chế độ thực dân Pháp năm 1925.
Thông qua cuộc hành trình vĩ đại đến với các dân tộc ở các châu lục, trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng ở nhiều nước, tri thức, văn hóa, trí tuệ và thế giới quan của Người được mở rộng từ dân tộc đến nhân loại. Quá trình tích lũy cởi mở đó giúp Người hiểu được ngọn nguồn nỗi khổ đau của các dân tộc thuộc địa, của những người lao động, không phân biệt chủng tộc, màu da và nhất là sự khác biệt giữa phương Đông và phương Tây. Đặc biệt, được chứng kiến những diễn biến lớn của thời đại, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy những tồn tại, những khoảng cách và cả những bất công về quyền lợi và hưởng thụ trong lòng xã hội tư bản, tất yếu sẽ dẫn đến những “khủng hoảng” không thể tránh khỏi ở cả các nước chính quốc, như nước Mỹ (với bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776) và nước Pháp (với bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng 1791).
Đó chính là sự phân biệt giàu nghèo giữa những người bị áp bức và những kẻ bị áp bức ở các thuộc địa, giữa nhân dân lao động tại các nước tư bản với những tên thực dân, những kẻ hữu sản và Người đi tới khẳng định: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”[4]. Vì thế, vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng con người không chỉ là nhu cầu của dân tộc và con người Việt Nam mà là của các dân tộc bị áp bức và nhân dân cần lao trên thế giới.
Một Nguyễn Ái Quốc sau chặng đường bôn ba qua nhiều châu lục, qua nhiều quốc gia trên thế giới, cùng với sự khảo nghiệm thực tế đã bị lôi cuốn bởi thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Tuy khi đó chưa hiểu biết đầy đủ, sâu sắc về sự kiện vĩ đại này, song với sự nhạy cảm về chính trị và khát khao đất nước được giải phóng, nhân dân được tự do, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy sự kiện trọng đại này “có một sức lôi cuốn kỳ diệu”. Đặc biệt, khi được đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I. Lênin đăng trên báo “Nhân đạo” của Đảng Xã hội Pháp (16-17/7/1920), Người đã đi đến một quyết định trọng đại - đó là đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với con đường cách mạng vô sản, đến với cách mạng Tháng Mười Nga và bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ ba do V.I. Lênin sáng lập và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp (12/1920).
Việc bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Pháp đã đánh dấu một bước ngoặt quyết định trong cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Ái Quốc và cũng là sự khởi đầu một bước ngoặt căn bản trong lịch sử và sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam. Từ đây, lịch sử cách mạng Việt Nam đã chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối. Sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam đã đi vào quỹ đạo cách mạng vô sản; đã hòa vào cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa thực dân, đế quốc và nhất định sẽ đi tới thắng lợi cuối cùng là giành độc lập dân tộc, đi lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Với ý nghĩa đó, có thể thấy, Nguyễn Ái Quốc đã không chỉ tìm được con đường cứu nước, cứu dân phù hợp quy luật của thời đại mà còn trang bị cho mình một nhân sinh quan mới để định hình con đường phát triển cho một đất nước Việt Nam còn lạc hậu, kém phát triển, nhưng ở đó “chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước… Chiến tranh đã làm thay đổi chủ nghĩa dân tộc”[5]. Đây là quá trình khảo nghiệm, tiếp biến và vượt gộp của Hồ Chí Minh, khi thâu thái tinh hoa, tri thức của các nền văn minh nhân loại, để vừa sáng tạo, vừa độc lập vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam sau đó.
Vậy là, với quyết định đi sang “phương Tây”, với hành trình gần 30 năm lao động, học hỏi và hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc đã có thời gian khám phá, chiêm nghiệm, để hiểu được thực chất của “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”, của pháp quyền, dân chủ và mô hình tổ chức Nhà nước tư sản; của nhân quyền, pháp quyền, dân chủ, mô hình tổ chức Nhà nước Xô viết và con đường đấu tranh giải phóng dân tộc theo tinh thần của V.I.Lênin. Và sự lựa chọn đúng đắn của Hồ Chí Minh sau khi đã “trưng cất” những tinh hoa của nền văn minh Đông và Tây, tư bản chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa sẽ giúp Người thực hiện hoài bão của mình, đó là giải phóng dân tộc mình, giải phóng “các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”- sự nghiệp giải phóng toàn diện loài người.
Từ những tri thức tích luỹ được, tháng 11/1924, một Hồ Chí Minh thấu hiểu được nguồn sức mạnh nội lực “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”; với niềm tin cháy bỏng về một Tổ quốc Việt Nam được độc lập, nhân dân Việt Nam được tự do; với mong muốn đem lại hạnh phúc “cho tất cả mọi người” đã về đến Quảng Châu, Trung Quốc. Trên cơ sở những nguyên lý của học thuyết Mác - Lênin về xây dựng Đảng, Nhà nước, về phương pháp vận động quần chúng, tập dượt đấu tranh cách mạng được tích luỹ trong những năm tháng hoạt động của tuổi trẻ, Nguyễn Ái Quốc đã tận tâm, tận lực truyền giảng cho những thanh niên Việt Nam yêu nước, đào tạo đội ngũ cán bộ cốt cán đầu tiên, chuẩn bị những tiền đề về chính trị, tư tưởng và tổ chức, để xúc tiến cho sự ra đời của một chính Đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam.
Mở lớp huấn luyện chính trị, thành lập tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên năm 1925, sáng lập báo Thanh niên 6/1925, tuyên truyền về chủ nghĩa cộng sản, về Đảng Cộng sản, về Cách mạng Tháng Mười Nga, xuất bản tác phẩm Đường Kách mệnh đầu năm 1927.v.v, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã đem đến cho những thanh niên Việt Nam yêu nước, những người chủ tương lai của nước nhà, những người cũng giống như cha anh mình phải sống trong thân phận nô lệ, một luồng sinh khí mới, một con đường cách mạng mới. Bằng khát vọng tuổi trẻ và kinh nghiệm của chính bản thân mình, Người muốn thức tỉnh thanh niên, truyền cho họ con đường cách mệnh, để đi tới thức tỉnh cả dân tộc - Đó là phương pháp cách mạng đúng đắn, thể hiện một tầm nhìn vĩ đại.
Từ những định hướng chính trị nêu trên, cùng với những hoạt động về lý luận và thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc và những người Việt Nam yêu nước từng học tập ở Quảng Châu đã ngày mỗi ngày, góp phần đưa tư tưởng của thời đại mới về Việt Nam, đưa đến sự chuyển biến về chất trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Sau đó, khi các tổ chức cộng sản Việt Nam ra đời, khi nguy cơ phân liệt, mất đoàn kết, sự tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau của các tổ chức cộng sản đe dọa sự phát triển của phong trào cách mạng cả nước, Nguyễn Ái Quốc đã quyết định viết thư mời, triệu tập, tổ chức thành công Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (từ 6/1-8/2/1930) tại Hương Cảng. Hội nghị đã thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng; trong đó khẳng định "chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản"… Trong những năm sau đó, dưới sự lãnh đạo của Người và Đảng Cộng sản Việt Nam, với đường lối cách mạng đúng đắn, với sức mạnh đoàn kết muôn người như một của các tầng lớp nhân dân Việt Nam nồng nàn yêu nước, kiên cường đấu tranh cách mạng, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 lịch sử đã thành công. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á; đưa những thân dân/người dân nô lệ An Nam trở thành chủ nhân của nước Việt Nam độc lập, tự do.
Với thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mùa Thu năm 1945, một đất nước Việt Nam hồi sinh từng ngày sau những đêm dài nô lệ đã vững vàng, kiên định tiến hành thắng lợi cuộc trường chinh kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Kiên định con đường đã lựa chọn trên hành trình đi tới tương lai, sau hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, một đất nước Việt Nam đổi mới từng ngày đã khẳng định được vị thế của mình trong cộng đồng các quốc gia, đóng góp vào sự phát triển bền vững, phồn vinh của nhân loại. Trong hành trình đấu tranh cho độc lập, tự do, hạnh phúc của dân tộc mình, dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại, làm cho thế kỷ XX trở thành thế kỷ phi thực dân hóa, thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của loài người tiến lên trong một thế giới đầy biến động.
Thời gian càng lùi xa, càng khẳng định rằng, ngày 5/6/2011 không chỉ là một sự kiện đặc biệt đánh dấu sự lựa chọn đúng, một khởi đầu đúng của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh mà còn cho thấy, đi theo con đường Người đã chọn, đất nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã hòa mình vào dòng chảy chung của nhân loại; đã kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo nên sức mạnh tổng hợp về thế, lực và thời để đưa Việt Nam ngày một đổi mới và phát triển.
Từ một sự lựa chọn đúng và khởi đầu một hướng đi đúng, với ý chí, quyết tâm và sự phấn đấu không mệt mỏi cho con đường mình đã chọn, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh ra đi từ bến cảng Sài Gòn năm xưa đã tìm thấy con đường cách mạng đúng đắn và lãnh đạo nhân dân Việt Nam đi đến độc lập và thống nhất, tự do và hạnh phúc, ngày một phát triển bền vững. Đồng thời, cũng từ một sự khởi đầu đúng đắn đó, kiên định con đường cách mạng do Người và Đảng đã chọn, 111 năm sau - một nước Việt Nam độc lập , tự do, hạnh phúc ngày càng phát triển vững mạnh và phồn vinh đã khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế.
TS. Văn Thị Thanh Mai
ThS. Văn Thị Thanh Hương
………………………………………….
[1] L.Ôgungiêran: Mối quan hệ biện chứng giữa tính giai cấp và tính nhân loại trong sự nghiệp sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990, tr.93
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.1, tr.461
[3] Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.13
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.1, tr.287
[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.1, tr.511
vubao-st4

Hồ Chí Minh Trong Mắt Các Nhạc Sỹ

 Ngày 5/6/1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã lên con tàu Amiral La Touche De Tréville, rời bến cảng Nhà Rồng, khởi đầu một cuộc hành trình tìm đường cứu nước kéo dài suốt 30 năm, để rồi sau đó đã mang về ánh sáng tự do cho dân tộc.

“… Tôi đến Bến Nhà Rồng một chiều xuân nắng tỏa. Qua hàng dừa tóc xõa nhìn sóng nước xôn xao. Tiếng còi tầm ôi da diết làm sao. Tưởng con tàu rời xa bến năm nào…”.
Mỗi khi tháng 6 về, những câu hát trong ca khúc Bến Nhà Rồng của nhạc sĩ Trần Hoàn lại vang lên nhắc nhớ đến một sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc, gắn liền với địa danh Bến cảng Nhà Rồng - nơi cách đây 111 năm, ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã lên con tàu Admiral Latouche Tréville, bắt đầu chuyến hành trình tìm đường cứu nước kéo dài suốt 30 năm, để rồi sau đó đã mang về ánh sáng tự do cho dân tộc.
----------
vubao-st3
Có thể là hình ảnh về 2 người, mọi người đang đứng và văn bản cho biết 'Nhân Dân 111 NĂM NGÀY BÁC HỒ»’ RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC: NGƯỜI VỀ MANG TỚI NHỮNG MÙA XUÂN'
6
Thích
Bình luận
Chia sẻ

GIẢNG DẠY CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VỚI BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG


(LLCT) - Chương trình cao cấp lý luận chính trị có vai trò quan trọng trong việc trang bị kiến thức về nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đấu tranh phản bác những luận điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Từ phân tích mục tiêu chương trình và đối tượng đào tạo, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác quan điểm sai trái trong giảng dạy cao cấp lý luận chính trị.
Giảng dạy cao cấp lý luận chính trị với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
1. Khái quát về cao cấp lý luận chính trị (CCLLCT)
CCLLCT là chương trình đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp của hệ thống chính trị về tư tưởng chính trị; mục tiêu là củng cố, nâng cao bản lĩnh chính trị; phương pháp tiếp cận và năng lực vận dụng lý luận vào thực tiễn; phương pháp luận khoa học; xây dựng tầm nhìn, tư duy chiến lược; kiến thức, kỹ năng lãnh đạo, quản lý… Đối tượng học chương trình CCLLCT là cán bộ lãnh đạo, quản lý hoặc được quy hoạch chức vụ lãnh đạo quản lý trong hệ thống chính trị. Đây là đội ngũ cán bộ có vai trò quan trọng trong thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, nên lập trường tư tưởng, phẩm chất đạo đức và năng lực thực tiễn của đội ngũ cán bộ này có vai trò, ảnh hưởng rất lớn đến việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đảm nhận biên soạn, xuất bản giáo trình phục vụ giảng dạy và học tập. Chương trình CCLLCT hiện nay có 19 môn học(*), nội dung thống nhất theo mục đích, yêu cầu của đối tượng học viên do cơ sở đào tạo thiết kế, xây dựng và có sáu chuyên đề ngoại khóa.
Căn cứ nội dung các môn học của chương trình CCLLCT có thể phân thành các nhóm như sau: Thứ nhất, nhóm các môn học về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là nền tảng tư tưởng của Đảng (như Triết học Mác - Lênin; Kinh tế chính trị, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Tư tưởng Hồ Chí Minh); Thứ hai, nhóm các môn học về quá trình hình thành, phát triển và vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam, về những nguyên tắc tổ chức, xây dựng Đảng (như Lịch sử Đảng, Xây dựng Đảng); Thứ ba, nhóm các môn học về chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật hiện hành của Đảng và Nhà nước về các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, ngoại giao, tôn giáo, dân tộc... (như Giáo dục quốc phòng và an ninh; Quan hệ quốc tế; Kinh tế phát triển; Quản lý kinh tế; Nhà nước và pháp luật; Lý luận và pháp luật về quyền con người; Văn hóa và phát triển; Tôn giáo và tín ngưỡng; Lý luận dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam); Thứ tư, nhóm các môn học về xã hội nhân văn, về lãnh đạo quản lý để người học (đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trung cao cấp của Đảng, Nhà nước) đảm nhận tốt hơn vai trò lãnh đạo, quản lý của mình (như Chính trị học; Xã hội học trong lãnh đạo, quản lý; Khoa học lãnh đạo, quản lý; Giới trong lãnh đạo, quản lý).
Hiện nay, thực hiện chương trình CCLLCT là các cơ sở đào tạo: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và các Học viện Chính trị khu vực I, II, III, IV; Học viện Chính trị, Học viện Lục quân, Học viện Quốc phòng thuộc Bộ Quốc phòng và Học viện Chính trị Công an nhân dân, Học viện An ninh nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân thuộc Bộ Công an.
2. Vai trò của công tác giảng dạy chương trình CCLLCT trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Công tác giảng dạy chương trình CCLLCT có vai trò to lớn trong việc thực hiện bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, thể hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất,chương trình CCLLCT trang bị cho người học nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Đảng. Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Mối quan hệ giữa chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện sự thống nhất ở tính khoa học, tính cách mạng và tính nhân văn, nhân bản, thể hiện ở cả trong lý luận lẫn thực tiễn. Về mặt lý luận, đó là phủ định biện chứng lý luận cũ (phủ định có kế thừa), xây dựng lý luận mới phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Về mặt thực tiễn, đó là phủ định biện chứng xã hội cũ lạc hậu, nhằm hướng tới xây dựng xã hội mới tốt đẹp hơn cho nhân loại.
Tính khoa học, tính cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh còn thể hiện ở sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, lý luận được khái quát từ tổng kết thực tiễn và quay lại thâm nhập vào thực tiễn, chỉ đạo thực tiễn, cải tạo thực tiễn để thực tiễn tốt đẹp hơn. Tính khoa học, tính cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đều thống nhất ở mục tiêu vì sự giải phóng con người, xây dựng một xã hội thực sự dân chủ, trong đó con người được ấm no, tự do, hạnh phúc và phát triển, hoàn thiện triệt để bản thân mình.
Thứ hai,chứng minh một cách thuyết phục sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là tất yếu khách quan, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam với lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin làm “kim chỉ nam” đã lãnh đạo nhân dân thực hiện thành công công cuộc cứu nước và giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân khỏi sự áp bức, đô hộ, xây dựng chế độ xã hội mới, nhân dân làm chủ, được hưởng tự do, ấm no, hạnh phúc. Mọi đường lối chủ trương của Đảng đều hướng tới phục vụ nhân dân, dân tộc như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “không có cái lợi ích nào của Đảng mà không phải là lợi ích của nhân dân, hay ngược lại không có lợi ích nào của nhân dân mà không phải là lợi ích của Đảng”(1).
Thứ ba,khẳng định, trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng không ngừng trưởng thành và lớn mạnh, Đảng có khả năng khắc phục được những hạn chế của mình. Đảng hoàn thành được sứ mệnh của mình là lãnh đạo công cuộc giải phóng dân tộc, đổi mới, xây dựng đất nước giành thắng lợi có ý nghĩa lịch sử, xây dựng xã hội ngày càng tốt đẹp,... thì bản thân Đảng phải có năng lực thực tiễn. Để luôn luôn là đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, bản thân Đảng phải không ngừng hoàn thiện và phát triển, thực hiện nghiêm nguyên tắc xây dựng Đảng.
Chương trình CCLLCT trang bị cho học viên nhận thức sâu sắc nguyên tắc tổ chức, xây dựng và hoạt động của Đảng Cộng sản. Những nguyên tắc mang tính khoa học và hiện đại, đáp ứng được việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Từ đó củng cố niềm tin, xây dựng, giữ vững Đảng trong sạch, vững mạnh, tiến bộ, tiên phong, đủ năng lực lãnh đạo đất nước trong mọi thời kỳ. Những biểu hiện tiêu cực trong Đảng chỉ là cá biệt, thiểu số, có thể khắc phục. Qua đó củng cố niềm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, bồi đắp bản lĩnh chính trị, giúp học viên vững vàng, bản lĩnh trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Thứ tư,giúp người học nhận thức đúng đắn đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh - quốc phòng,... Tất cả đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đều nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Từ đó giúp người học thấy được tính thực tiễn, tính nhân văn, nhân bản trong đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Trên cơ sở đó, củng cố niềm tin, quyết tâm, quyết liệt trong tuyên truyền, phổ biến, triển khai đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, qua đó củng cố niềm tin của xã hội, của nhân dân vào Đảng, huy động nhân dân vào bảo vệ Đảng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái.
Thứ năm,trang bị cho người học những kiến thức về lãnh đạo quản lý để người học đảm nhiệm tốt chức trách, nhiệm vụ của mình. Mục tiêu của lãnh đạo, quản lý là hướng tới sự phát triển bền vững mọi lĩnh vực, mọi phương diện. Người lãnh đạo, quản lý học CCLLCT là để thực hiện tốt hơn chức trách, công việc, phụng sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc, nâng cao tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn, nâng cao năng lực thực tiễn của người học.
3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giảng dạy CCLLCT trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Một là, đưa nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch vào chương trình CCLLCT
Nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong chương trình CCLLCT thì kiến thức về chủ nghĩa Mác - Lênin thể hiện tập trung trong ba môn học thuộc ba bộ phận cơ bản cấu thành chủ nghĩa Mác - Lênin là Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị học Mác - Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học. Các môn học khác đề cập đến các lĩnh vực lý luận và thực tiễn từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, như các môn học: Xây dựng Đảng, An ninh quốc phòng, Tôn giáo và tín ngưỡng, Lý luận về dân tộc và quan hệ dân tộc... Kiến thức về tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện tập trung trong môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh và cũng thể hiện sự vận dụng sâu sắc trong một số môn học khác như các môn: Lịch sử Đảng, Xây dựng Đảng, Quan hệ quốc tế, Tôn giáo và Tín ngưỡng... Như tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ ngoại giao, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo...
Do đó, việc phát huy vai trò, nâng cao hiệu quả đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được thông qua giảng dạy các môn học. Trong đó cần phát huy hiệu quả bằng việc khẳng định tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giúp học viên củng cố niềm tin vào nền tảng tư tưởng của Đảng, vững vàng trước mọi luận điệu sai trái, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ động đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác những luận điệu sai trái thù địch trong mọi tình huống. Khẳng định tính tất yếu, những thành tựu của Đảng Cộng sản Việt Nam, củng cố niềm tin sắt đá đối với Đảng, khẳng định Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Mọi luận điệu phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng đều là xuyên tạc, bịa đặt mang tính thù địch.
Hai là, tránh tình trạng cắt rời C.Mác với V.I.Lênin, chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng Hồ Chí Minh với đường lối của Đảng
Chủ nghĩa Mác - Lênin, là một “thỏi thép liền” tức một khối thống nhất, trong đó Lênin bổ sung, phát triển và vận dụng sáng tạo học thuyết của Mác và Ăngghen. Tuy nhiên, trong quá trình biên soạn giáo trình cũng như trong giảng dạy, để làm sâu sắc quan điểm của các nhà kinh điển, các nhà biên soạn có tách biệt quan điểm của Mác, Ăngghen và Lênin. Việc đó là cần thiết, nhưng phải làm cho học viên thấy được “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt và nhất quán trong tư tưởng của các nhà kinh điển Mác - Lênin, tránh tình trạng nhận thức quan điểm của các nhà kinh điển một cách tách biệt hoàn toàn, dẫn đến không thấy được sự thống nhất trong tư tưởng cốt lõi của Mác, Ăngghen, Lênin.
Tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lênin có mối quan hệ chặt chẽ, là sự kế thừa, vận dụng sáng tạo, do vậy, không phải là hoàn toàn thống nhất trên tất cả các nội dung. Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác - Lênin mà còn bắt nguồn từ truyền thống dân tộc Việt Nam, tinh hoa văn hóa nhân loại, từ thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới. Trong quá trình giảng dạy, phải làm rõ được Hồ Chí Minh bổ sung, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin. Phải làm rõ sự thống nhất cao độ ở nhiều nội dung, đặc biệt là thống nhất ở tính khoa học và tính cách mạng, tính nhân văn, nhân bản, đó là hướng tới giải phóng con người, giải phóng xã hội, xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn cho nhân loại. Tính khoa học và tính cách mạng, tính nhân văn, nhân bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện nhất quán trong đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ba là, bảo đảm sự đồng bộ về chất lượng giữa các cơ sở đào tạo CCLLCT
Hiện nay, có nhiều cơ sở tham gia đào tạo CCLLCT, để góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đòi hỏi các cơ sở đào tạo phải bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất về nội dung, chất lượng của cả chương trình học CCLLCT.
Hiện nay với quyết tâm cao độ của Ban Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tính hệ thống, tính đồng bộ, tính thống nhất trong hệ thống Học viện ngày càng được bảo đảm trên mọi mặt công tác, tuy nhiên vẫn còn phải thực hiện tốt hơn nữa. Đối với các cơ sở đào tạo ngoài hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an thì việc đồng bộ và thống nhất nội dung, chất lượng chương trình, trong đó bao gồm cả việc chú trọng nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Để thống được nội dung và chất lượng của chương trình trong tất cả các cơ sở đào tạo, cần thống nhất nhiều công tác khác nhau, như công tác tuyển sinh, quản lý học viên, tập huấn giáo trình, giảng dạy, đánh giá hết môn, đánh giá tốt nghiệp... Hằng năm, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức tập huấn giáo trình cho đội ngũ giảng viên. Tuy nhiên, đối với các Học viện thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng thì việc này chưa được thực hiện, do đó thiết nghĩ cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ hơn giữa Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh với Học viện thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an trong đào tạo CCLLCT nói chung, trong việc chú trọng nội dung bảo vệ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nói riêng.
Bốn là, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên
Đội ngũ giảng viên đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động đào tạo. Trước bối cảnh mới, giảng viên LLCT phải hội đủ các phẩm chất như trình độ, bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, kỹ năng sư phạm, phương pháp truyền đạt tri thức. Với chương trình CCLLCT mang tính Đảng cao, do đó đòi hỏi đội ngũ giảng viên trước hết phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, phải thể hiện rõ là chiến sĩ tiên phong trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Vấn đề đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch sẽ hiệu quả khi lan tỏa rộng rãi ra toàn hệ thống chính trị và toàn xã hội. Để làm được như vậy thì phải phát huy vai trò của đội ngũ học viên trong quá trình học cũng như sau quá trình học CCLLCT. Đây là đội ngũ đông đảo và có vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị.
__________________
Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 4-2021
(*) Gồm các môn: Triết học Mác - Lênin; Kinh tế chính trị học Mác - Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học; Tư tưởng Hồ Chí Minh; Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam; Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam; Chính trị học; Giáo dục quốc phòng và an ninh; Quan hệ quốc tế; Kinh tế phát triển; Quản lý kinh tế; Nhà nước và pháp luật; Lý luận và pháp luật về quyền con người; Văn hóa và phát triển; Tôn giáo và tín ngưỡng; Lý luận dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam; Xã hội học trong lãnh đạo quản lý; Khoa học lãnh đạo, quản lý; Giới trong lãnh đạo, quản lý.
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.270.
TS Đinh Văn Thụy
Học viện Chính trị khu vực IV
Nguồn: lyluanchinhtri.vn
vubao-st2
Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'XÂY DỰNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH'
1