Chủ Nhật, 11 tháng 9, 2022

Ở MỘT GÓC NHÌN CHÍNH DIỆN.....

 

          Trong một bài viết trên page của họ, Việt tân có đưa ra 7 lĩnh vực hoạt động của tổ chức này.

          Nhưng ở một góc nhìn chính diện, khách quan thì mọi điều hoàn toàn ngược lại.

Theo đó, 7 lĩnh vực bao gồm:

          1. Lật độ chính quyền theo phương thức đấu tranh bất bạo động.

          2. Tổ chức các phong trào xã hội dân sự.

          3. Lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền để chống phá chế độ.

          4. Tích cực kêu gọi quốc tế yểm trợ về tài chính để tiến hành các âm mưu, thủ đoạn chống phá chính quyền.

          5. Sử dụng mạng xã hội để tuyên truyền những luận điệu sai trai, xuyên tạc, bịa đặt.

          6. Lợi dụng vấn đề tự do báo chí để cố tình vi phạm pháp luật.

          7. Rêu rao là đấu tranh vì chủ quyền đất nước nhưng lại vì lợi ích kinh tế cá nhân".

 

BẮT TẠM GIAM PHAN SƠN TÙNG ĐỂ ĐIỀU TRA VỀ TỘI CHỐNG PHÁ NHÀ NƯỚC

 

          Phan Sơn Tùng (sinh năm 1984) bị khởi tố, tạm giam về tội "Làm, tàng trữ, phát tán, hoặc tuyên truyền thông tin tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước".

          Ngày 9/9, nguồn tin từ Công an thành phố Hà Nội cho biết, Cơ quan An ninh điều tra - Công an thành phố Hà Nội vừa ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, lệnh tạm giam đối với Phan Sơn Tùng, sinh năm 1984, trú tại phòng 2108, Tòa S4 Chung cư Seasons Avenue, đường Nguyễn Văn Lộc, phường Mộ Lao (Hà Đông, Hà Nội) về tội "Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam", quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự 2015.

          Các quyết định tố tụng trên đã được Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phê chuẩn.

          Vụ án đang được Công an thành phố Hà Nội tiếp tục điều tra, làm rõ.

 LÃNH ĐẠO NATO NHƯ NÀY THẾ GIỚI CÒN BẤT ỔN.

Phát biểu với báo giới ngày 9-11 Tổng thư ký NaTo JensStoltenberg phát biểu xanh rờn để tránh cho UKR sụp đổ thì UKR phải tiếp tục chiến đấu...
khoan hãy nói về cuộc xung đột này mà chúng ta phân tích một chút về phát biểu này của ngài TTK khối Nato. Nato là khối quân sự được hình thành từ khi chiến tranh lạnh , tuy nhiên khi chiến tranh lạnh không còn thì thay việc giải tán thì khối này còn mở rộng với mục tiêu rất rõ ràng để răn đe và xâm lược bất cứ quốc gia nào chống đối lại chính sách của họ, trong đó Nga là đối thủ chính vì M/ẽo và PT thừa hiểu sức mạnh của nước Nga ở bất cứ thời điểm nào dù họ có lúc suy , có lúc thịnh.
trong cuộc xung đột UKR này, thì cũng như Hoa kỳ Nato thay việc rút củi đáy nồi thì họ đổ thêm dầu vào lửa, thay việc đưa ra các giải pháp đàm phán thì họ lại khuyến khích ngừoi UKR chiến đấu đến ngừoi cuối cùng. chiến tranh là mất mát, là thương đau , nhưng họ bỏ qua điều đó vì họ không tổn thất đến 1 ngừoi lính ( đúng nghĩa)vì nếu những ngừoi lính nato mà ngày ngày chết trận thì xh họ cũng không bao giờ chấp nhận, Nato thừa biết thắng được Nga trong cuộc xung đột này là ảo tưởng , nhưng họ vẫn làm vậy vì họ chỉ có một mục đích duy nhất là làm suy yếu nước Nga, còn sinh mạng của những ngừoi lính 2 bên họ mặc kệ, với lý do Nga xâm lược UKR thì thử hỏi Mỹ đang chiếm một vùng đất đai rộng lớn ở xyri , hàng ngày bơm hàng ngàn thùng dầu của họ trở đi, ixraen liên tục tấn công tên lửa vào một quốc gia có chủ quyền làm thiệt hại nhiều người ở đó thì chẳng ai lên tiếng chẳng ai lên án , chẳng ai cấm vận.
Phát biểu kiểu ngừoi UKR phải chiến đấu đến ngừoi cuối cùng vì mẽo vì Nato cho thấy bộ mặt thật của khối này một khối mà chẳng bao giờ chảy một giọt nước mắt trước cái chết của nhiều triệu ngừoi trên hành tinh này.


 HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠOH ĐỨC HỒ CHÍ MINH: ĐẨY MẠNH THỰC HÀNH TIẾT KIỆM, CHỐNG LÃNG PHÍ

 

 Trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thực hành tiết kiệm và chống lãng phí là một nội dung quan trọng được các ngành, các địa phương đặc biệt coi trọng trong quá trình thực hiện.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiết kiệm là sử dụng hợp lý, có hiệu quả tiền của, thời gian, công sức lao động nhằm tích lũy thêm vốn cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, nâng cao mức sống của người dân. Tiết kiệm phải từ cái nhỏ đến cái to, không xa xỉ, hoang phí, phô trương, hình thức. Để thực hành tiết kiệm có hiệu quả thì phải ra sức chống lãng phí, coi đây là việc làm thường xuyên của mỗi cơ quan, đơn vị, mỗi cá nhân.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ lãng phí là một căn bệnh phải được khắc phục triệt để. Những năm qua, hệ thống chính trị từ  trung ương đến cơ sở luôn xác định thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là nhiệm vụ cấp bách. Nhiều quy định cụ thể về vấn đề này đã được thể hiện rõ trong Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Hầu hết các cơ quan, đơn vị đã xây dựng chương trình thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của mình và có nhiều giải pháp thiết thực để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ này. Nhờ vậy, hàng năm, các địa phương, các ngành đã cắt giảm đáng kể kinh phí thực hiện các nhiệm vụ chưa cần thiết, tiết kiệm nguồn kinh phí không nhỏ, thêm nguồn lực cho đầu tư phát triển, đảm bảo an sinh xã hội.

Tuy nhiên, trên thực tế việc lãng phí vẫn còn xảy ra ở nhiều cơ quan, địa phương, đơn vị. Nhiều nguyên nhân đã được chỉ ra, từ nhận thức đến thực hiện, đến việc xử lý sai phạm chưa nghiêm. Trong bối cảnh hiện nay, đại dịch COVID-19 vẫn có diễn biến khó lường, việc thích ứng linh hoạt đòi hỏi phải có nguồn lực cần thiết để phát triển. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí chính là một giải pháp thiết thực góp phần giải bài toán về nguồn vốn cho phát triển.

Để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí thực chất và đạt hiệu quả rất cần chú trọng nâng cao nhận thức cho toàn xã hội để việc này trở thành việc làm thường xuyên của mỗi tập thể, mỗi cá nhân. Đẩy nhanh quá trình xây dựng chính quyền điện tử, hướng tới chính quyền không giấy tờ, tạo giải pháp hữu hiệu để chống lãng phí. Đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp cố tình để xảy ra tình trạng lãng phí, không có ý thức thực hành tiết kiệm.

 VIỆT NAM KIÊN ĐỊNH CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG "BỐN KHÔNG" TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ

 

Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 đã nêu rõ, chủ trương của Việt Nam là không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Quan điểm và chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam nhằm mục đích hòa bình, tự vệ, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Tuy nhiên, trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp như hiện nay, đã xuất hiện nhiều quan điểm cho rằng, chính sách “bốn không” của Việt Nam đã không phù hợp, thực hiện chính sách “bốn không”, Việt Nam sẽ bị cô lập trong cộng đồng quốc tế.

Những liên minh quân sự có thể làm gia tăng sức mạnh quân sự, quốc phòng của các nước thành viên; tạo sự chuyển hóa về thế trận và lực lượng quân sự trên chiến trường; tạo thêm uy tín, vị thế và sức mạnh cho quốc gia tham gia liên minh trong những thời điểm nhất định. Tuy nhiên, trong suốt thời kỳ tồn tại các liên minh quân sự trên, tình hình khu vực, thế giới luôn căng thẳng, bởi các liên minh này đối đầu nhau, nhất là khi giữa họ có những mâu thuẫn về lợi ích. Họ công khai hoặc ngầm chạy đua vũ trang, tăng cường sự hiện diện quân sự, đẩy mạnh hoạt động khiêu khích, lôi kéo các quốc gia, khu vực đến gần hiểm họa chiến tranh. Mà Việt Nam chúng ta cũng là nạn nhân của cuộc chiến tranh nóng đó vào những năm 60 – 70 của thế kỷ trước.

Trong chính sách quốc phòng Việt Nam, chúng ta chủ trương không liên minh quân sự bởi đó là giải pháp hiệu quả để bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ cũng như lợi ích quốc gia, dân tộc của Việt Nam. Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam không thể dựa vào bất kỳ liên minh quân sự nào, hiệp ước quân sự nào, càng không thể trông chờ, ỷ lại vào nước ngoài, mà phải bằng chính bản lĩnh, trí tuệ, thực lực, bằng đoàn kết đồng lòng của triệu triệu con người Việt Nam dù sống ở bất cứ đâu trên trái đất này.

Trên thế giới chưa bao giờ có nước nào có thể hy sinh lợi ích của dân tộc mình chỉ vì lợi ích của một dân tộc khác. Chính vì vậy, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, dù là thời bình hay thời chiến, không thể ảo tưởng trông chờ sự trợ giúp của nước ngoài, không tham gia liên minh quân sự với nước khác. Quan điểm xuyên suốt của Việt Nam là mở rộng quan hệ quốc tế, là bạn, là đối tác tin cậy của bạn bè quốc tế, đồng thời phải tự lực, tự cường, dựa vào sức mình là chính, xây dựng thực lực sức mạnh tổng hợp quốc gia, kết hợp với sức mạnh của thời đại, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè và cộng đồng quốc tế. Việt Nam không chọn bên, không đi theo một cường quốc nào, không dựa hẳn vào một cường quốc nào để bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc mình. Chính vì vậy, chúng ta không hề mâu thuẫn khi một mặt mở rộng quan hệ quốc tế, mặt khác chúng ta không tham gia liên minh quân sự, không liên kết nước này để chống nước kia.

Chính sách quốc phòng “4 không” của Việt Nam không phải bất biến, cứng nhắc mà luôn có sự điều chỉnh, bổ sung, phát triển cho phù hợp với thực tiễn. Hiện tại, chúng ta hoàn toàn đủ khả năng để kiểm soát được tình hình an ninh, không để nảy sinh xung đột và xảy ra chiến tranh. Tuy nhiên, khi đất nước xảy ra nguy cơ chiến tranh thì Đảng, Nhà nước ta sẽ hoạch định những chiến lược, chính sách quốc phòng phù hợp.

Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 chỉ rất rõ rằng: “Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, chúng ta sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau”. Hiện nay quan hệ ngoại giao nhà nước Việt Nam “phủ sóng” tới 189 trong tổng số 200 quốc gia trên toàn thế giới. Quan hệ đối ngoại quốc phòng của ta ngày càng rộng mở, chúng ta có quan hệ quốc phòng với trên 80 quốc gia thuộc cả 5 châu lục, đặc biệt chúng ta có quan hệ quốc phòng với tất cả 5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc là những quốc gia có vai trò, có ảnh hưởng chủ chốt trong duy trì hòa bình và an ninh thế giới.

Đây là điều chưa từng có từ trước tới nay. Điều đó chứng tỏ chúng ta chẳng bị ai cô lập, trái lại, còn mở rộng không ngừng quan hệ đối ngoại. Điều đó là cơ hội thuận lợi để chúng ta ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh, duy trì hòa bình, ổn định, nâng cao vị thế của đất nước và Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế.

Lịch sử dân tộc ta trải qua mấy nghìn năm, công cuộc dựng nước luôn đi đôi với giữ nước. Chính sách quốc phòng "bốn không" được đúc kết từ truyền thống giữ nước đó và ngày càng chứng minh sự đúng đắn, phù hợp với Việt Nam.

 

 VIỆT NAM LUÔN ĐẢM BẢO QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO CỦA NHÂN DÂN

Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo với hơn 26,5 triệu tín đồ các tôn giáo (chiếm 27% dân số), hơn 58.000 chức sắc, 148.000 chức việc, 29.000 cơ sở thờ tự, 53 cơ sở đào tạo tôn giáo và 16 tôn giáo.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người. Các quyền này được ghi nhận trong Hiến pháp 2013, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và Nghị định số 162/2017/NĐ-CP của Chính phủ đã tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Cụ thể:

Hiến pháp năm 2013 quy định mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật. Như vậy, việc theo hay không theo tín ngưỡng hoặc tôn giáo nào là quyền tự do của mỗi cá nhân, mỗi công dân Việt Nam được Hiến pháp 2013 thừa nhận.

Thể chế hóa Hiến pháp năm 2013 và cần thiết phải điều chỉnh pháp luật về tôn giáo trong bối cảnh hội nhập quốc tế và tình hình tôn giáo tiếp tục có những biến động, mở rộng không chỉ hoạt động tôn giáo mà cả các hoạt động xã hội, ngày 18/11/2016, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XIV đã thông qua Luật tín ngưỡng, tôn giáo thay thế Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo. Theo đó, ngày 30/12/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 162/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo, tiếp tục tạo hành lang pháp lý quan trọng cho các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Việc ban hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo đã đánh dấu son cho quá trình hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam. Cụ thể hóa chủ trương nhất quán của Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Có ý nghĩa quan trọng cả về đối nội và đối ngoại, phù hợp với chủ trương cải cách thể chế, đơn giản hóa thủ tục hành chính hiện nay ở Việt Nam, đảm bảo lợi ích của quốc gia, dân tộc và các tổ chức tôn giáo. Đồng thời, thông qua đó cũng khẳng định với quốc tế, Việt Nam luôn là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong việc bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đây cũng chính là minh chứng rõ nét nhất để chống lại luận điệu xuyên tạc của các thế lực xấu, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền dân chủ nhân quyền tôn giáo.

 

 CẢNH GIÁC VỚI Ý ĐỒ  PHÁ HOẠI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

 

Thời gian qua, các cơ quan chức năng đã điều tra, xử lý một số cá nhân thuộc các tập đoàn, doanh nghiệp kinh tế lớn vì có các hành vi vi phạm pháp luật như Tập đoàn FLC, Tập đoàn Tân Hoàng Minh… Điều đó cho thấy sự nghiêm minh của pháp luật nước ta nhằm đem lại một xã hội công bằng, thượng tôn pháp luật, xây dựng môi trường đầu tư lành mạnh cho các tổ chức và cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Tuy nhiên, mới đây, một số trang mạng, trong đó tiên phong, hào hứng nhất vẫn là Việt Tân tung tin về việc tỷ phú Phạm Nhật Vượng, ông chủ của Tập đoàn VinGroup bị cấm xuất cảnh. Ngay sau đó, Bộ Công an đã lên tiếng khẳng định tin đồn trên là sai sự thật, đập tan mọi đồn đoán vô căn cứ và sẽ truy tìm, xử lý nghiêm những kẻ tung tin đồn thất thiệt, gây ảnh hưởng đến nền an ninh kinh tế, tiền tệ nước nhà.

Không phải ngẫu nhiên mà các “anh chị rân chủ”, các trang mạng chống phá đất nước đều hào hứng, nhanh nhạy chạy theo những tin đồn kiểu như trên, bởi bất kỳ một thông tin vụ việc tiêu cực, bất lợi nào cho Việt Nam đều được chúng vui mừng lan tỏa nhằm làm hoang mang trong dư luận và cộng đồng mạng.

Việc Tỷ phú Phạm Nhật Vượng bị tung tin đồn ác ý với ý đồ tấn công vào Tập đoàn Vingroup, cũng như các công ty khác của Việt Nam, ý đồ làm mất lòng tin của người tiêu dùng vào sản phẩm Việt, triệt hạ uy tín, gây khó khăn cho quá trình sản xuất, kinh doanh, có thể khiến cho hàng ngàn người lao động đối mặt với việc thất nghiệp, qua đó phá hoại nền kinh tế nước nhà.

Rất mong cơ quan chức năng vào cuộc truy tìm, xử lý nghiêm những kẻ tung tin đồn thất thiệt, để các doanh nghiệp Việt tự tin phát triển, đóng góp công sức cho sự nghiệp xây dựng Tổ quốc!

 

 ĐẤU TRANH VỚI ÂM MƯU CHỐNG PHÁ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 

 Thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, nhiều năm qua, các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh, hòng xoá bỏ nền tảng lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Các thế lực thù địch tìm cách đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác- Lê nin, chúng coi Hồ Chí Minh chỉ là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không phải là người cộng sản. Chúng cho rằng việc Hồ Chí Minh vận dụng chủ nghĩa Mác-Lê nin vào hoàn cảnh Việt Nam là sai lầm. Chúng dựng chuyện, bôi nhọ về thân thế, đời tư của Chủ tịch Hồ Chí Minh hòng làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân dao động, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng, về thành tựu đổi mới đất nước, về mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Cần phải khẳng định rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh là một khoa học, bao gồm hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam; là kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Với thế giới quan, phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin và với trí tuệ sắc sảo, khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, Hồ Chí Minh đã tiếp thu tinh hoa của dân tộc và của nhân loại để hình thành nên hệ thống tư tưởng của mình. Tư tưởng đó là sự thống nhất, quan hệ biện chứng với Chủ nghĩa Mác - Lê nin, cùng với Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành ngọn đuốc soi đường đưa cách mạng Việt Nam giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Trong những năm qua, đất nước ta đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều đó chứng minh rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh đã thấm sâu vào phong trào cách mạng Việt Nam, phù hợp với quy luật phát triển của thời đại, kiến tạo nên một thời đại mới cho dân tộc ta đó là thời đại Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành chân lý không thể phủ nhận, Hồ Chí Minh đã trở thành biểu tượng sáng ngời của tinh thần đoàn kết quốc tế, đấu tranh không biết mệt mỏi cho hòa bình, tiến bộ của nhân loại; Người là hiện thân của chủ nghĩa nhân văn cao cả, cống hiến cả cuộc đời mình để đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, mang lại độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho Nhân dân.

Với những cống hiến vĩ đại cho dân tộc và nhân loại, với tấm gương đạo đức sáng ngời, Hồ Chí Minh đã được cả dân tộc Việt Nam, cộng đồng quốc tế và nhân dân tiến bộ trên thế giới tôn vinh, ngưỡng mộ. Chính vì lẽ đó, những luận điệu xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, bôi nhọ thân thế, sự nghiệp của Người chỉ là những luận điệu phi lịch sử, phản khoa học và vô giá trị mà thôi.

 

 

  HẠNH PHÚC CỦA NHÂN DÂN LÀ MỤC TIÊU PHẤN ĐẤU CỦA ĐẢNG TA

 

Với sự nỗ lực của Đảng, sự hưởng ứng tích cực của quần chúng nhân dân, hạnh phúc ấm no của nhân dân ngày càng được hoàn thiện. Kể từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy hạnh phúc của Nhân dân là mục tiêu phấn đấu cao cả và xuyên suốt các nhiệm kỳ Đại hội Đảng, mọi chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đều hướng tới hiện thực hóa mục tiêu đó.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định “quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền lợi và lợi ích chính đáng của nhân dân; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(5). Để hướng tới bảo đảm hạnh phúc cho nhân dân, Đại hội XIII xác định “Thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân”(6) trên cơ sở tập trung khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào, ý chí tự cường, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội và khát vọng phát triển đất nước của toàn dân tộc; xây dựng các cơ chế, chính sách, phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam; phát huy tối đa nhân tố con người - coi con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển.

Phát biểu tại phiên bế mạc Đại hội XIII của Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tiếp tục nhấn mạnh, không phải Đại hội xong là coi như xong. Đây chỉ là mở đầu, làm được hay không, có biến Nghị quyết Đại hội thành hiện thực sinh động hay không, có làm ra của cải vật chất, mang lại “giàu có và hạnh phúc” cho nhân dân hay không mới là thành công thực tế của Đại hội.

Theo đó, hạnh phúc của nhân dân chỉ có thể được thực hiện một cách thực chất khi Đảng, Nhà nước quan tâm lãnh đạo, xây dựng các chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội phù hợp, giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, kiểm soát sự phân hóa giàu nghèo, kiểm soát và xử lý kịp thời, hiệu quả các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Bảo đảm phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, tiến tới bao phủ toàn dân để “không ai bị bỏ lại phía sau”. Thực hiện cải cách hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng dựa trên nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ - bền vững. Triển khai, thực hiện chính sách giảm nghèo, tập trung giải quyết nhóm nghèo, vùng nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, miền, dân tộc đây là cơ sở vững chắc nhất bảo đảm hạnh phúc cho nhân dân.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu tổng quát: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(7). Đồng thời, tại Đại hội XIII của Đảng đã xác định: Đến năm 2025, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030 phấn đấu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 phấn đấu trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Để công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì hạnh phúc của nhân dân đạt kết quả tốt, cần không ngừng chú trọng, thực hiện chất lượng, hiệu quả một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

♦️ Một là, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phải làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh toàn diện. Kiên định, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Đảng phải lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu, động lực để phấn đấu trên cơ sở tăng cường khối đại đoàn kết, gắn bó chặt chẽ giữa Đảng với nhân dân, đề cao lợi ích của nhân dân bảo đảm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

♦️ Hai là, quán triệt sâu sắc và thực hiện quan điểm “dân là gốc”, thực sự vì hạnh phúc của nhân dân; tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm; mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; thắt chặt mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân; củng cố và ang cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, vì chỉ có chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm hạnh phúc lâu dài cho nhân dân.

 

♦️ Ba là, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, cần có quyết tâm cao, nỗ lực lớn, năng động, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhằm phát huy mọi nguồn lực, tính ưu việt của chế độ và sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân.

♦️ Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ. Kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

♦️ Năm là, phát huy tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và hệ thống chính trị giữ vững kỷ cương; bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế gắn với tiến bộ, công bằng xã hội; coi trọng nhân tố con người, luôn coi hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu, động lực phấn đấu của Đảng… Cụ thể hóa và triển khai thực hiện chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ “6 dám”: dám nghĩ, dám làm, dám nói, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá, sáng tạo và dám đương đầu theo Kết luận số 14-KL/TW Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.

Lý luận và thực tiễn đều cho thấy công cuộc cách mạng xây dựng xã hội chủ nghĩa, đất nước Độc lập – Tự do – Hạnh phúc của Đảng Cộng sản Việt Nam là một sự nghiệp sáng tạo và vĩ đại. Và hơn 90 năm qua, Đảng luôn lấy ấm no, hạnh phúc của nhân dân là thước đo giá trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, không gắn bó với nhân dân và không thật sự chăm lo cho ấm no, hạnh phúc của nhân dân thì Đảng không còn lý do để tồn tại. Đó là sự nhất quán trong tư tưởng và hành động của Đảng ta, trong suy nghĩ và việc làm của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đó cũng là cội nguồn làm nên sức sống, sự trường tồn của Đảng Cộng sản Việt Nam, khi ý Đảng – lòng dân luôn hòa quyện và trở thành sức mạnh vô địch đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn nhằm chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân.

Mục tiêu cao cả tối thượng của Đảng Cộng sản Việt Nam là vì Hạnh phúc của nhân dân. Do vậy, mỗi cán bộ đảng viên cần tuyệt đối trung thành với con đường mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã lựa chọn, thực hiện trọn vẹn 4 nhiệm vụ của người đảng viên đã thề khi đứng dưới lá cờ Đảng, cần không ngừng học tập, rèn luyện để có “đôi chân vững và đôi bàn tay sạch” đúng như lời Tổng Bí thư căn dặn. Bảo vệ Đảng là bảo vệ chính mình, nhất là trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản tại Việt Nam. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nêu cao tinh thần cách mạng, rèn đức luyện tài, trở thành người cán bộ vừa hồng, vừa chuyên, không ngừng rèn luyện đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy.

 

Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: Chúng ta - những người chiến sĩ cách mạng sẽ vì danh dự của Đảng Cộng sản Việt Nam, danh dự của người đảng viên mà sống, chiến đấu, học tập, lao động vì sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, vì mục tiêu cao cả nhất, nhân văn nhất mà Đảng ta đã lựa chọn đó là: Mang lại Hạnh phúc cho nhân dân./.

ĐỨC VINH- KHXH&NV.

__________

(5) (6) (7) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.I, tr.27-28, 47, 111-112.

 

Nguồn: https://www.tuyengiao.vn/dua-nghi-quyet-cua-dang-vao-cuoc-song/hanh-phuc-cua-nhan-dan-la-muc-tieu-phan-dau-cua-dang-ta-139633

 

  HẠNH PHÚC CỦA NHÂN DÂN LÀ MỤC TIÊU PHẤN ĐẤU CỦA ĐẢNG TA

 

Với sự nỗ lực của Đảng, sự hưởng ứng tích cực của quần chúng nhân dân, hạnh phúc ấm no của nhân dân ngày càng được hoàn thiện. Kể từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy hạnh phúc của Nhân dân là mục tiêu phấn đấu cao cả và xuyên suốt các nhiệm kỳ Đại hội Đảng, mọi chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đều hướng tới hiện thực hóa mục tiêu đó.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định “quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền lợi và lợi ích chính đáng của nhân dân; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(5). Để hướng tới bảo đảm hạnh phúc cho nhân dân, Đại hội XIII xác định “Thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân”(6) trên cơ sở tập trung khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào, ý chí tự cường, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội và khát vọng phát triển đất nước của toàn dân tộc; xây dựng các cơ chế, chính sách, phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam; phát huy tối đa nhân tố con người - coi con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển.

Phát biểu tại phiên bế mạc Đại hội XIII của Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tiếp tục nhấn mạnh, không phải Đại hội xong là coi như xong. Đây chỉ là mở đầu, làm được hay không, có biến Nghị quyết Đại hội thành hiện thực sinh động hay không, có làm ra của cải vật chất, mang lại “giàu có và hạnh phúc” cho nhân dân hay không mới là thành công thực tế của Đại hội.

Theo đó, hạnh phúc của nhân dân chỉ có thể được thực hiện một cách thực chất khi Đảng, Nhà nước quan tâm lãnh đạo, xây dựng các chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội phù hợp, giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, kiểm soát sự phân hóa giàu nghèo, kiểm soát và xử lý kịp thời, hiệu quả các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Bảo đảm phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, tiến tới bao phủ toàn dân để “không ai bị bỏ lại phía sau”. Thực hiện cải cách hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng dựa trên nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ - bền vững. Triển khai, thực hiện chính sách giảm nghèo, tập trung giải quyết nhóm nghèo, vùng nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, miền, dân tộc đây là cơ sở vững chắc nhất bảo đảm hạnh phúc cho nhân dân.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu tổng quát: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(7). Đồng thời, tại Đại hội XIII của Đảng đã xác định: Đến năm 2025, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030 phấn đấu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 phấn đấu trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Để công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì hạnh phúc của nhân dân đạt kết quả tốt, cần không ngừng chú trọng, thực hiện chất lượng, hiệu quả một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

♦️ Một là, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phải làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh toàn diện. Kiên định, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Đảng phải lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu, động lực để phấn đấu trên cơ sở tăng cường khối đại đoàn kết, gắn bó chặt chẽ giữa Đảng với nhân dân, đề cao lợi ích của nhân dân bảo đảm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

♦️ Hai là, quán triệt sâu sắc và thực hiện quan điểm “dân là gốc”, thực sự vì hạnh phúc của nhân dân; tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm; mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; thắt chặt mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân; củng cố và ang cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, vì chỉ có chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm hạnh phúc lâu dài cho nhân dân.

 

♦️ Ba là, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, cần có quyết tâm cao, nỗ lực lớn, năng động, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhằm phát huy mọi nguồn lực, tính ưu việt của chế độ và sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân.

♦️ Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ. Kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

♦️ Năm là, phát huy tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và hệ thống chính trị giữ vững kỷ cương; bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế gắn với tiến bộ, công bằng xã hội; coi trọng nhân tố con người, luôn coi hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu, động lực phấn đấu của Đảng… Cụ thể hóa và triển khai thực hiện chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ “6 dám”: dám nghĩ, dám làm, dám nói, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá, sáng tạo và dám đương đầu theo Kết luận số 14-KL/TW Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.

Lý luận và thực tiễn đều cho thấy công cuộc cách mạng xây dựng xã hội chủ nghĩa, đất nước Độc lập – Tự do – Hạnh phúc của Đảng Cộng sản Việt Nam là một sự nghiệp sáng tạo và vĩ đại. Và hơn 90 năm qua, Đảng luôn lấy ấm no, hạnh phúc của nhân dân là thước đo giá trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, không gắn bó với nhân dân và không thật sự chăm lo cho ấm no, hạnh phúc của nhân dân thì Đảng không còn lý do để tồn tại. Đó là sự nhất quán trong tư tưởng và hành động của Đảng ta, trong suy nghĩ và việc làm của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đó cũng là cội nguồn làm nên sức sống, sự trường tồn của Đảng Cộng sản Việt Nam, khi ý Đảng – lòng dân luôn hòa quyện và trở thành sức mạnh vô địch đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn nhằm chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân.

Mục tiêu cao cả tối thượng của Đảng Cộng sản Việt Nam là vì Hạnh phúc của nhân dân. Do vậy, mỗi cán bộ đảng viên cần tuyệt đối trung thành với con đường mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã lựa chọn, thực hiện trọn vẹn 4 nhiệm vụ của người đảng viên đã thề khi đứng dưới lá cờ Đảng, cần không ngừng học tập, rèn luyện để có “đôi chân vững và đôi bàn tay sạch” đúng như lời Tổng Bí thư căn dặn. Bảo vệ Đảng là bảo vệ chính mình, nhất là trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản tại Việt Nam. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nêu cao tinh thần cách mạng, rèn đức luyện tài, trở thành người cán bộ vừa hồng, vừa chuyên, không ngừng rèn luyện đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy.

 

Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: Chúng ta - những người chiến sĩ cách mạng sẽ vì danh dự của Đảng Cộng sản Việt Nam, danh dự của người đảng viên mà sống, chiến đấu, học tập, lao động vì sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, vì mục tiêu cao cả nhất, nhân văn nhất mà Đảng ta đã lựa chọn đó là: Mang lại Hạnh phúc cho nhân dân./.

ĐỨC VINH- KHXH&NV.

__________

(5) (6) (7) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.I, tr.27-28, 47, 111-112.

 

Nguồn: https://www.tuyengiao.vn/dua-nghi-quyet-cua-dang-vao-cuoc-song/hanh-phuc-cua-nhan-dan-la-muc-tieu-phan-dau-cua-dang-ta-139633

 

 PHÁT HUY TINH THẦN TÁC PHẨM "TỰ CHỈ TRÍCH" TRONG XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG (P1)

Đồng chí Nguyễn Văn Cừ (1912-1941) là lớp đảng viên thuộc thế hệ đầu tiên và trở thành Tổng Bí thư của Đảng vào tháng 3/1938, khi chưa đầy 26 tuổi. Với 29 tuổi đời, hơn 13 năm hoạt động cách mạng, hai lần bị tù với 7 năm giam cầm trong nhà tù đế quốc, hơn 2 năm làm Tổng Bí thư, cuộc đời của đồng chí tuy ngắn ngủi nhưng “cống hiến của đồng chí thì sáng rực như một ánh sao băng trên bầu trời cách mạng Việt Nam ở một thời đoạn lịch sử mang tính bước ngoặt lớn, phức tạp”(1). Đồng chí đã để lại tấm gương sáng ngời về tinh thần cách mạng và nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, đặc biệt là đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng thể hiện qua tác phẩm “Tự chỉ trích”.

Đồng chí Nguyễn Văn Cừ là Tổng Bí thư của Đảng trong thời kỳ cách mạng thế giới và trong nước có những diễn biến phức tạp, nhất là sau bầu cử Hội đồng quản hạt ở Nam Kỳ (4/1939), nội bộ Đảng và phong trào cách mạng xuất hiện những khuynh hướng khác nhau, có thể gây chia rẽ, phân liệt Đảng. Với bút danh Trí Cường, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã viết cuốn sách “Tự chỉ trích”, do nhà sách Dân chúng ấn hành tại Sài Gòn năm 1939. Thông qua tác phẩm này, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã chỉ đạo triển khai cuộc đấu tranh vạch trần bộ mặt giả danh cách mạng của bọn tờrốtkít, tiến hành tự phê bình và phê bình, thực hiện dân chủ, xây dựng, củng cố sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, đồng thời, cũng là sự chuẩn bị về chính trị, tư tưởng cho Hội nghị Trung ương lần thứ 6, tháng 11/1939 quyết định sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng, bước vào giai đoạn đấu tranh giành chính quyền.

Mục đích của tự chỉ trích là “để tìm ra những nguyên nhân thất bại và nghiên cứu phương pháp sửa lỗi và tiên thủ”(2). Đảng mới thành lập còn ít kinh nghiệm, lại hoạt động trong điều kiện bất hợp pháp, bị kẻ thù đàn áp, nên khó tránh khỏi khiếm khuyết, sai lầm, nhưng "Mỗi cuộc thất bại là một dịp cho ta kinh nghiệm, coi những khẩu hiệu ta đề ra có được quảng đại quần chúng hiểu, công nhận và thực hành không"(3). Việc tự chỉ trích “thành thật và mạnh dạn” nhằm “thống nhất tư tưởng, một sự thống nhất thật sự, mạnh mẽ, dựa trên sự giác ngộ và trung thành của mọi người”(4). Phê bình không phải là làm yếu Đảng, mà làm cho Đảng mạnh lên, đáp ứng sự phát triển của phong trào cách mạng trong tình hình mới. Muốn vậy, trước hết những người cộng sản phải hiểu thế nào là “tự chỉ trích Bôsêvích”, phải xuất phát từ động cơ xây dựng Đảng, đồng thời, phải có trình độ lý luận và năng lực thực tiễn dày dặn để “biết phân tích tình hình theo mácxít, phải biết những điều kiện đặc biệt của Đông Dương”(5), không để kẻ thù lợi dụng hạ thấp uy tín và phá hoại Đảng.

Nội dung đấu tranh phê bình và tự phê bình phải gắn liền với nhiệm vụ chính trị quan trọng của Đảng, kịp thời uốn nắn những lệch lạc trong phong trào dân chủ, sai lầm trong phương thức vận động quần chúng. Đồng chí chỉ ra những căn bệnh như bệnh tự ái cá nhân, mơ hồ về lập trường giai cấp, “một bộ phận đồng chí đã chệch hướng sang hữu, đã do dự và hành động ngược lại chính sách của Đảng”; có đồng chí biểu hiện xu hướng “tả khuynh” cô độc nó muốn làm cho Đảng co bé, rút hẹp bởi biệt phái, cách xa quần chúng”(6). Những sai lầm đó “chỉ làm trầm trọng thêm những nguy cơ đang đe dọa chúng ta từ mọi phía”(7), ảnh hưởng tới khối đoàn kết thống nhất trong Đảng, gây tổn thất nghiêm trọng cho sự nghiệp cách mạng.

Tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình của đồng chí Nguyễn Văn Cừ là phải nhìn thẳng vào sự thật, nhận rõ khuyết điểm. Người cộng sản chân chính “dẫu cho có sai lầm, có thất bại thì phải có can đảm “mở to mắt ra nhìn sự thật”, “phải chịu hoàn toàn trách nhiệm..."(8). Sự thống nhất đạt được sau thảo luận, sau tự phê bình và phê bình, sau khi được làm rõ đúng sai, phải trái sẽ trở thành sự thống nhất tự giác, là cơ sở cho sự đồng thuận, đoàn kết của tập thể, sự thống nhất ý chí của Đảng. Nếu không dám đấu tranh, chỉ cốt “Giữ cái vỏ thống nhất mà bên trong thì hổ lốn một cục” thì đó “không phải một Đảng tiền phong cách mạng mà là một Đảng hoạt đầu cải lương”. Đảng sẽ mất tính chiến đấu và không còn vai trò tiền phong với quần chúng cách mạng.

“Tự chỉ trích” là văn kiện lý luận chính trị quan trọng của Đảng, đã thể hiện rõ nét năng lực tư duy lý luận, sự am hiểu tình hình thực tiễn, tâm huyết và trách nhiệm lớn lao của người giữ cương vị cao nhất của Đảng bấy giờ. Ra đời cách đây hơn 80 năm, nhưng tinh thần “Tự chỉ trích” của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ vẫn vẹn nguyên giá trị thời sự; là một giải pháp quan trọng, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII để tiếp tục xây dựng, phát triển Đảng trở thành một Đảng cách mạng, chân chính, vững mạnh, xứng đáng với sự hy sinh, cống hiến của lớp lớp các thế hệ đảng viên, sự tin tưởng, kỳ vọng của các tầng lớp nhân dân với Đảng, với cách mạng. 

Phê bình và tự phê bình phải giữ vững nguyên tắc của Đảng mácxít. Trước thành bại của cách mạng, người đảng viên cộng sản “không bi quan hoảng hốt mà cũng không đắc trí tự mãn”. Mỗi đảng viên có quyền tự do thảo luận và chỉ trích, nhưng phải có nguyên tắc, không được “đặt cá nhân mình lên trên Đảng, đem ý kiến riêng - dù là đúng - đối chọi với Đảng, vin vào một vài khuyết điểm mà mạt sát Đảng, phá hoại ảnh hưởng của Đảng, gieo mối hoài nghi lộn xộn trong quần chúng, gây mầm bè phái chia rẽ trong đội ngũ Đảng..."(9). Đó là những hành động mang tính chất hữu khuynh, cơ hội. Nguyên tắc của Đảng cũng không cho phép tranh luận, phô bầy công khai các vấn đề nội bộ. Đó là sự thể hiện của xu hướng “tả” khuynh. Mọi đảng viên đều có quyền tranh luận, phê bình đồng chí, phê bình Đảng, nêu các vấn đề nội bộ, trong khuôn khổ của tổ chức. Và khi đã thảo luận rõ ràng rồi, đã xây dựng thành nghị quyết thì “chỉ có một ý chí duy nhất là ý chí của Đảng, ngàn người sẽ như một để thực hành ý chí ấy”(10). Việc tự phê bình và phê bình cần vượt qua những điều “cãi vã những chuyện nhỏ nhen”, tuyệt đối tránh tình trạng “đả kích hoặc cường điệu những sai lầm khuyết điểm của đồng chí mình”, phải bảo đảm tính giáo dục, giúp nhau tiến bộ; kịp thời sửa chữa, không để khuyết điểm, sai lầm nhỏ thành lớn.

Muốn khắc phục sai lầm, khuyết điểm, phải phân tích đúng nguyên nhân của các sai lầm và có biện pháp giải quyết phù hợp.

Trong lời kết của “Tự chỉ trích”, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã để lại một kinh nghiệm hết sức quý báu cho Đảng: “Chúng ta đã phải chiến thắng những xu hướng sai lầm trong hàng ngũ: xu hướng “tả khuynh” cô độc nó muốn làm cho Đảng co bé, rút hẹp bởi biệt phái, cách xa quần chúng và xu hướng thoả hiệp hữu khuynh, lung lay trước những tình hình nghiêm trọng nhãng quên hoặc che lấp sự tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin, lăm le rời bỏ những nguyên tắc cách mệnh”(11). Hai khuynh hướng ấy luôn là nguy cơ thường trực, làm suy yếu Đảng trong mọi thời kỳ cách mạng.

ĐỨC VINH- KHXH&NV (st)

___________

(1) Nguyễn Đức Bình: Nguyễn Văn Cừ, nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng và cách mạng Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2002, tr. 47.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2000, t.6, tr. 620

(3) (4) (5) (6) (7) (8) (9) (10) (11) Nguyễn Văn Cừ: Một số tác phẩm, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2010, tr. 221, 216, 215, 242, 243, 220, 219, 216, 242.

 

© Tạp chí của Ban Tuyên giáo Trung ương

 

 ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ: XÂY DỰNG NỀN CHÍNH TRỊ LIÊM CHÍNH

Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích liêm “là trong sạch, không tham lam”, là “không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình” (1). Chính “nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn” (2).

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư là giá trị cốt lõi trong đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên, đồng thời là yêu cầu, chuẩn mực đối với các tổ chức chính trị, chính trị-xã hội trong hệ thống chính trị, hình thành nền chính trị liêm chính, xã hội liêm chính.

Thực tiễn chỉ ra rằng, xây dựng nền chính trị liêm chính không hề đơn giản vì vẫn có một bộ phận cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, sa vào chủ nghĩa cá nhân. Không có nền chính trị liêm chính sẽ dẫn đến nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ. Để xây dựng nền chính trị liêm chính cần thực hiện đồng bộ hệ thống các giải pháp sau đây:

Một là, xây dựng niềm tin và ý chí trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng ta, của cách mạng Việt Nam. Đây là cơ sở, nền tảng để tập hợp mọi lực lượng, thống nhất hành động hướng đến mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc cho nhân dân. Phải tuyên truyền sâu rộng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, giữ vững trận địa tư tưởng, lý luận, chống suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa về tư tưởng chính trị trong cán bộ, đảng viên. Phải luôn luôn nhớ lời Bác dạy: “Trước hết phải có đảng cách mệnh... Đảng có vững cách mệnh mới thành... Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt”(3). Có hệ tư tưởng, quan điểm đúng đắn được kiểm nghiệm trong thực tiễn cách mạng, Đảng mới giương cao được ngọn cờ tập hợp, đoàn kết, thống nhất mọi giai tầng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nền chính trị liêm chính, bền vững phải dựa trên nền tảng lý luận khoa học và cách mạng.

Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức liêm chính. Đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức học tập, rèn luyện và thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư sẽ trở thành nòng cốt, bảo đảm cho hệ thống chính trị liêm chính, nền chính trị liêm chính. Để làm được điều này phải có giải pháp chiến lược, lâu dài về công tác cán bộ, trong xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Đảng ta là đảng cầm quyền, vì vậy phải quan tâm công tác phát triển đảng viên mới. Người xin gia nhập Đảng phải là những người giác ngộ lý tưởng cộng sản, dám hy sinh lợi ích cá nhân, phụng sự sự nghiệp của Đảng, Tổ quốc, nhân dân, có trách nhiệm với công việc được giao, thường xuyên gần gũi, kính trọng nhân dân, biết sống vì cộng đồng, biết giúp đỡ, sẻ chia, biết tham gia hoạt động xã hội. Họ là những thanh niên ưu tú trong các phong trào thanh niên, phong trào tự nguyện, từ thiện, phong trào bảo vệ môi trường, giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn, v.v. Hơn nữa, cần thông qua hoạt động thực tiễn để lựa chọn những người hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, có đạo đức, lối sống, tư cách tốt để tuyên truyền, giác ngộ những người này vào Đảng mới có nền tảng xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên liêm chính sau này.

Lựa chọn cán bộ để giới thiệu vào cơ quan đại biểu của nhân dân, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, công chức vào các chức danh lãnh đạo, quản lý đã có nhiều quy định. Cần phải nhắc lại lời Bác dạy: muốn lựa chọn cán bộ đúng đắn phải căn cứ vào những tiêu chuẩn sau đây:

a) Những người đã tỏ ra rất trung thành và hăng hái trong công việc, trong lúc đấu tranh.

b) Những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng. Luôn luôn chú ý đến lợi ích của dân chúng...

c) Những người có thể phụ trách giải quyết các vấn đề, trong những hoàn cảnh khó khăn. Ai sợ phụ trách và không có sáng kiến thì không phải người lãnh đạo...

d) Những người luôn luôn giữ đúng kỷ luật”.

Ba là, hoàn thiện pháp luật và đẩy mạnh tổ chức thực hiện pháp luật về liêm chính, trong đó quan tâm Luật cán bộ, công chức, Luật phòng chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật khiếu nại, Luật tố cáo, v.v. theo hướng có thiết kế để ngăn chặn quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực từ gốc, để cán bộ, công chức, viên chức không muốn, không thể, không dám, không cần tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Cần học tập kinh nghiệm của cha ông và kinh nghiệm quốc tế: không bố trí làm quan ở quê hương, không bố trí lãnh đạo, quản lý ở một chức vụ quá hai nhiệm kỳ, tịch thu tài sản do tham nhũng mà có, thể chế hóa các nguyên tắc công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức gắn với chế tài xử lý cụ thể.

Thời gian qua, chúng ta cũng có nhiều quy định mới trong pháp luật về liêm chính nhưng tổ chức thực hiện chưa nghiêm. Chẳng hạn về kê khai tài sản của cán bộ, công chức, có kê khai nhưng không công khai rộng rãi, hay pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ quan, tổ chức vẫn còn là hình thức.

Bốn là, tiếp tục kiện toàn, củng cố các thiết chế phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Phải có các thiết chế đủ năng lực, quyền lực, có biện pháp mạnh mới đủ sức ngăn ngừa quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Việc Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII thống nhất chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là bước phát triển mới trong các thiết chế bảo đảm liêm chính của hệ thống chính trị.

Năm là, có thiết kế để kiểm soát hiệu quả việc thực hiện quyền lực nhà nước. Phải kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước vì nếu không kiểm soát chặt chẽ các hành vi bất liêm, bất chính dễ xảy ra, hậu quả rất lớn và khó kiểm soát. Kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua các phương thức: kiểm soát trong nội bộ cơ quan nhà nước, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước và kiểm soát từ bên ngoài vào bộ máy nhà nước. Trong nội bộ cơ quan nhà nước cần quan tâm đến trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan nhà nước nơi để xảy ra tham nhũng, lãng phí lớn. Lâu nay đã có quy định nhưng cũng chưa xử lý được ai về trách nhiệm này.

Việc kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lực nhà nước về lập pháp, hành pháp, tư pháp cần thiết kế theo hướng bảo đảm hiệu quả các quyết định của cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp. Phương thức kiểm soát từ bên ngoài vào bộ máy nhà nước bao gồm hoạt động kiểm tra của Đảng đối với các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các cơ quan nhà nước, giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, giám sát của nhân dân và các phương tiện thông tin đại chúng. Thực tiễn cho thấy, đây là kênh kiểm soát có vai trò quan trọng, có hiệu quả, hiệu lực để có nhà nước liêm chính, phục vụ nhân dân. Ở kênh kiểm soát này, ngoài những giải pháp đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, nhất là hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, trong đó tăng cường các đoàn kiểm tra của Trung ương đối với các ngành, lĩnh vực, địa phương nhạy cảm, nguy cơ dễ xảy ra bất liêm, bất chính như hiện nay đang làm, cần có giải pháp tăng cường, bảo đảm hiệu quả giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội cũng như của nhân dân đối với cán bộ, công chức và bộ máy nhà nước.

Để kiểm soát quyền lực, đấu tranh với những hành vi bất liêm, bất chính, phải kiện toàn các cơ quan công an, tòa án, viện kiểm sát, thanh tra, kiểm lâm, hải quan, bộ đội biên phòng, quản lý thị trường, cơ quan thuế, cảnh sát biển, kiểm toán nhà nước… để các cơ quan này trở thành công cụ sắc bén trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Điều quan trọng là con người làm việc trong các cơ quan này phải được sàng lọc, tuyển dụng, bổ nhiệm theo quy trình chặt chẽ hơn, có chế độ chính sách phù hợp với đặc thù nghề nghiệp, có chế độ bảo vệ nội bộ chặt chẽ hơn, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan này. Cần có quy định sa thải ngay cán bộ, công chức các cơ quan bảo vệ pháp luật nếu vi phạm pháp luật, bảo kê, tiếp tay cho tội phạm, vi phạm đạo đức công vụ, lối sống không lành mạnh… Bảo đảm liêm chính trong các cơ quan bảo vệ pháp luật mới có liêm chính trong hệ thống chính trị, thực hiện được yêu cầu xử lý không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người vi phạm là ai.

Sáu là, đẩy mạnh phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật, giáo dục liêm chính, giáo dục đạo đức công vụ trong cán bộ, nhân dân. Phổ biến, tuyên truyền giáo dục pháp luật, giáo dục liêm chính đối với tất cả các đối tượng trong xã hội tạo cơ sở, nền tảng thực hiện liêm chính trong mọi công việc. Phải đưa việc phổ biến, tuyên truyền giáo dục pháp luật, giáo dục liêm chính vào các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, hệ thống các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cũng như các đối tượng ngoài xã hội. Công việc này nhằm hình thành nhân cách thượng tôn pháp luật, tôn trọng, yêu mến người liêm chính. Trong cơ chế thị trường cần thiết phải tiến hành giáo dục liêm chính trong hoạt động kinh doanh, xây dựng đạo đức kinh doanh trong đội ngũ doanh nhân, lên án xử lý nghiêm minh những hành vi bất liêm, bất chính trong sản xuất, kinh doanh.

Cần có những hình thức tôn vinh những hành động liêm chính, gương người tốt việc tốt, những việc tử tế trong đời thường góp phần hình thành văn hóa liêm chính trong đời sống xã hội. Các phương tiện thông tin đại chúng cần có chuyên trang, chuyên mục giáo dục liêm chính, tôn vinh gương người tốt, việc tốt để thông tin về liêm chính, đạo đức, việc tử tế phải lấn át tin tức về quan liêu, tham nhũng, lãng phí, bất liêm, bất chính trong hoạt động của hệ thống chính trị hằng ngày.

Xây dựng nền chính trị liêm chính đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ các giải pháp nêu trên. Các giải pháp này đều có ý nghĩa chiến lược, tiến hành thường xuyên liên tục. Tuy vậy cần nhận thức rằng, tùy vào tình hình thực tiễn và yêu cầu cụ thể trong từng giai đoạn có thể đặt ra những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể cấp bách, có ý nghĩa đột phá, cần phải có biện pháp đặc biệt để tổ chức thực hiện. Các giải pháp bảo đảm xây dựng nền chính trị liêm chính luôn luôn gắn với nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi quyết tâm chính trị lớn của hệ thống chính trị, nhưng điều quan trọng nhất là luôn luôn phải dựa vào dân, được nhân dân đồng tình, ủng hộ, nhân dân thực hành giám sát liêm chính góp phần xây dựng nền chính trị liêm chính, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, nhân dân hạnh phúc./.#HD

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.292.

(2) Hồ Chí Minh: Sđd, tập 6, tr.129.

(3) Hồ Chí Minh: Sđd, tập 2, tr.289.

Báo Nhân dân

 

CẦN PHẢI GÔ CỔ TỔNG BIÊN TẬP VÀ PHÓNG VIÊN BÁO TUỔI TRẺ NGAY VÌ ÂM MƯU PHẢN QUỐC!

     Ảnh Lãnh tụ của Việt Nam ta đâu? Ngày Quốc Khánh, đồng thời là ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu thì tờ báo này sao không trịnh trọng tuyên truyền, đăng ảnh tưởng nhớ Lãnh tụ của dân tộc?
     Nữ hoàng Anh liên quan gì đến Việt Nam ta? Thậm chí bà còn là kẻ thù truyền kiếp (gián tiếp) của dân tộc ta, hàng triệu xương máu nhân dân Việt Nam đổ xuống dưới bàn tay cổ suýt, tiếp sức…của bà này.
     Vậy mà giờ đây Báo TT lấy hình con mụ này làm biểu tượng duy nhất và thân thuộc; còn đệ nó lên đầu phong là “mẹ thế giới”. Báo của Đoàn ở Việt Nam mà lấy hình ngoại quốc thay cho Lãnh tụ của quốc gia, dân tộc mình làm biểu tượng duy nhất, để thờ…có thể quy ngay Tổng biên tập và phóng viên tờ báo này có âm mưu phản quốc rồi./.
Yêu nước ST.

CÁI KẾT CỦA NHỮNG NỤ CƯỜI PHẢN ĐỘNG!

         Bị can Bùi Tuấn Lâm khi nghe lệnh bắt đã cười tự tin hỏi vặn lực lượng An ninh rằng: Các ông có đủ chứng cứ bắt tôi không?
     Sau đó, cơ quan điều tra đọc sơ qua các chứng cứ, biên bản, giấy tờ, bằng chứng thu thập được là hắn ta có liên quan, trao đổi, nhận tiền từ Việt Tân, NoU, Nguyễn Lân Thắng, Thúy Hạnh... Hắn ta không còn cười nữa.
     Vợ hắn nói: Sao anh không nói với em, sao anh lại làm vậy? Con cái ở nhà mình em sao cáng được? Hắn bắt đầu cúi người xuống và dặn vợ điều gì đó. Vợ hắn khóc và lặng người đi. Vợ hắn cố gắng nói nhẹ rằng anh tha cho chồng em đi, chồng em lỡ dại chứ ảnh hiền lắm...
     Sau đó, công an tách hắn và vợ ra khỏi nhau. Hắn mặt nhẵn người lại, không cười, không tự tin thêm nữa khi hắn hỏi cán bộ: liệu em đi tù mấy năm? Anh cán bộ trả lời: có thể là 7 - 8 năm. 
     Đằng sau nụ cười của những kẻ phản quốc chỉ là một cái án tù rất dài khiến những tên tội phạm không dám nở nụ cười thêm nữa...
     Kết luận: cái "nghề" phản động là thế, ảo tưởng vì tiền, những đồng tiền không bao giờ nuôi nổi cái danh dự của mình, của gia Đình và tương lai con cái...
Yêu nước ST.

ANH HÙNG TRONG THẾ KỶ 20

3 LẦN DỰ LỄ TRUY ĐIỆU SỐNG CỦA CHÍNH MÌNH

Ba lần tình nguyện gia nhập đội cảm tử quân. Trước khi đi, bà Hồ Thị Thu Hiền bình tĩnh tham dự lễ truy điệu sống của chính mình, dũng cảm đương đầu với lằn ranh sự sống – cái chết bởi “đường chưa thông không tiếc máu xương”. Đó là câu chuyện của Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Hồ Thị Thu Hiền, người từng 3 lần dự lễ truy điệu sống của chính mình trước khi lên đường thực hiện những nhiệm vụ hiểm nguy. 

Lần thứ nhất là năm 1971. Đó là khi cô gái Thu Hiền xung phong rà phá bom mìn mở đường cho bộ đội hành quân. Lần thứ hai cũng năm 1971, nữ đại đội trưởng này chỉ huy tổ cảm tử 8 người thực hiện mở một con đường mới để chuyển thương binh từ mặt trận ra tuyến sau. Lần thứ 3 vào năm 1972, cũng chính Hồ Thị Thu Hiền mặc áo trắng làm hoa tiêu dẫn đường cho xe đi qua trận địa bom.

Đối diện với những tình huống dẫn đến cái chết là sự thật quá khó khăn, quá khắc nghiệt với bất kỳ ai. Nhưng, với nữ anh hùng Hồ Thị Thu Hiền, chuyện “vào sinh ra tử” nhẹ như lông hồng.

TK- ST

ÂM MƯU CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH MUỐN BỎ TỪ "NGỤY" LÀ QUÁ RÕ!

Âm mưu đòi bỏ chữ NGỤY để làm gì?
Trả lời: 
Công cụ để lật đổ Liên Xô chính là thủ đoạn đánh tráo NGỤY thành CHÂN và xuyên tạc lịch sử.
Bỏ đi chữ ngụy hoặc bỏ chữ "tay sai" chính là thủ đoạn đổi trắng thay đen, biến ngụy thành "chính", biến kẻ tay sai bán nước thành vô tội, biến người kháng chiến cứu nước thành người có tội, gây đảo lộn tư tưởng để làm tiền đề lật đổ nhà nước XHCN.
Thủ đoạn này đã quá rõ ràng. Tên đầu sỏ ngụy quyền Bandera ở Ucraina đã được những kẻ lật đổ công nhận là "chiến sỹ quốc gia" và truy tặng danh hiệu anh hùng là một minh chứng rõ nhất của thủ đoạn "biến ngụy thành chính" ở Liên Xô.

Còn ở ta, các nhà "đổi mới" đang ra sức tìm cách đánh tráo ngụy quyền thành "vn cộng hòa" hoặc đánh tráo ngụy quyền thành "chính quyền Sài gòn" cũng giống hệt như thủ đoạn đã diễn ra ở Liên Xô mà thôi.

Chiêu trò "phải gọi chế độ cũ theo cái tên mà nó đã tồn tại" là một luận điệu lừa gạt.
Bởi vì : chế độ diet chủng Khme.Đỏ, phải được gọi là "chế độ diet chủng Khme.Đỏ". 
Nếu gọi theo cái tên chúng tự xưng và đã tồn tại là "Campuchia Dân chủ" tức là đã xóa sạch tội ác diet chủng của chúng, và không ai cho phép làm việc này.
Bè lũ ngụy Sài Gòn là 1 chính quyền giả tạo do nước ngoài dựng lên để làm công cụ xam lươc, việc này đã quá rõ ràng. Ổ nhóm tội phạm ngụy bán nước nói trên phải được định danh là ngụy chứ không thể gọi chúng bằng từ ngữ khác được.
Nếu gọi chúng là "vn cộng hòa" hoặc "chính quyền Sài gòn" là xóa đi tội ac của chúng, giống như cách xóa tội cho Khme.Đỏ ở trên.
Như vậy, việc cố ý bỏ đi từ ngụy là một thủ đoạn lừa gạt núp dưới vỏ bọc "đổi mới".

Cách đây chục năm, Đài THVN đã sản xuất bộ phim "Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh" rất công phu và chất lượng và đặc biệt là nội dung phim rất trung thực lịch sử.
Vậy cớ sao báo Nhân Dân lại cho ra đời thêm bộ phim :"VN thời đại HCM biên niên sử truyền hình" với nội dung thua xa bộ phim cũ ???
Theo tôi được biết, báo Nhân Dân là đơn vị phát hành báo giấy và báo điện tử. Vậy tại sao lại bỗng nhiên được làm báo hình, thông qua bộ phim nói trên ???
Nguy hiểm hơn nữa là bộ phim này hoàn toàn dùng cụm từ "vn cộng hòa" để thay cho cụm từ ngụy quân ngụy quyền để nhằm mục đích gì ???
Tại sao bộ phim chất lượng tầm thường như trên lại vội vàng được chuyển thành sách điện tử để "học tập" ? Tại sao phải học tập 1 tác phẩm có nhãn mác "truyền hình" ???
 
Tôi không hiểu tại sao ông Võ Văn Thủng là người đứng đầu cơ quan quản lý lại được phép đứng ra chịu trách nhiệm sx ra phim ???
Như vậy ông Thủng đang làm chức năng đá bóng hay là thổi còi ???

Phải chăng những thắc mắc của tui ở trên đây là những bí ẩn không thể giải đáp ?
Thiết nghĩ, những bí ẩn này không quá khó để minh bạch. Vấn đề là có thực tâm để minh bạch hay không ?
Tui cũng rất tin Đảng, tin nhà nước ta rất liêm chính và không dối trời lừa dân. Nhưng việc đánh tráo "ngụy quân ngụy quyền" bằng một cụm từ khác vẫn còn hiện diện trong các ấn phẩm thì ít người còn tin như tui lắm.

Ngụy quân ngụy quyền là một thực thể tay sai bán nước, không thể gọi tên thực thể đó bằng cụm từ khác được. Điều này đã quá rõ ràng và là chân lý lịch sử không thể đảo ngược.

Tôi biết nhiều người đang có quyền, hoặc nhiều kẻ núp bóng "anh tao" dắt mũi nhân dân.
Nhưng kẻ có quyền không có nghĩa là được phép DỐI TRỜI LỪA DÂN để giày xéo lên chân lý của lịch sử.
Tội ở đâu, nhân dân đều biết tất cả!
Môi trường ST.

Văn hóa chính trị với kiểm soát quyền lực

 

Các chủ thể chính trị, chủ thể của quyền lực đồng thời cũng là các đối tượng cần kiểm soát quyền lực chính trị là các cá nhân, tổ chức trong quá trình chính trị. Vì vậy,  trước hết phải xác định đúng mục tiêu chính trị, hay nói cách khác, phải thấm nhuần và kiên định hệ tư tưởng chính trị mà họ đang theo đuổi, từ đó hình thành động cơ chính trị trong sáng, khoa học, thì quá trình thực thi quyền lực chính trị sẽ đạt hiệu quả cao và trở thành quá trình tự kiểm soát quyền lực chính trị.

Chính mục tiêu chính trị đúng đắn và rõ ràng là cơ sở để hình thành các giá trị chính trị cụ thể, chuẩn mực chính trị, từ đó điều chỉnh hành vi chính trị kiểm soát quyền lực của các chủ thể.

MLN.Nh

Văn hóa chính trị với kiểm soát quyền lực

 

Như tất cả các hoạt động khác của con người, hoạt động chính trị cũng là hoạt động có ý thức, hướng đích và được định hướng bởi mục tiêu. Đặc biệt, hoạt động chính trị là hoạt động liên quan đến quyền lực chính trị, ảnh hưởng đến sinh mệnh của số đông trong cộng đồng, vì vậy việc xác định mục tiêu, cũng như hoạt động đúng theo mục tiêu được xác định là điều vô cùng quan trọng, giúp cho hoạt động chính trị đúng mục đích, lý tưởng, quyền lực được thực thi một cách đúng đắn, hiệu quả trong sự kiểm soát. 

Chỉ khi có mục tiêu rõ ràng, đúng đắn mới có thể xác định được phương pháp hợp lý, cụ thể, trên cơ sở đó hình thành lý tưởng chính trị, bản lĩnh chính trị vững vàng, tạo thành sức mạnh giúp các chủ thể vượt qua những khó khăn, trở ngại, cám dỗ, đấu tranh với những điều sai trái, chệch hướng, xa rời mục tiêu, lý tưởng và lợi ích đúng đắn. Đó chính là cách thức kiểm soát quyền lực quan trọng và hiệu quả nhất.

MLN.Nh

Văn hóa chính trị với kiểm soát quyèn lực

 

Văn hóa chính trị xác định mục tiêu của chế độ chính trị, là nền tảng trong kiểm soát quyền lực chính trị

Hoạt động quyền lực luôn gắn liền và điều chỉnh bởi mục tiêu chính trị. Thành tố quan trọng trong văn hóa chính trị xác định mục tiêu chính trị là hệ tư tưởng chính trị. Hệ tư tưởng chính trị chỉ ra mục tiêu, đường lối, chiến lược, sách lược, từ đó điều chỉnh hành vi của các chủ thể khi tham gia vào đời sống chính trị. Chỉ ra mục tiêu là cơ sở, căn cứ cho việc xác định mục đích, lợi ích đúng đắn của các chủ thể chính trị, làm cho quyền lực chính trị được thực thi đúng bản chất, hiệu quả và được tự kiểm soát.

MLN.Nh

Văn hóa chính trị với kiểm soát quyền lực

 

Nếu không quy định chặt chẽ về hậu quả pháp lý thì việc kiểm soát quyền lực chính trị cũng chỉ là hình thức, không có tác dụng ngăn ngừa những hành vi trái pháp luật, lạm quyền, lộng quyền trong sử dụng quyền lực chính trị.

 Đồng thời, thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực chính trị còn là những văn bản pháp luật liên quan đến việc thực hiện quyền lực chính trị. Nếu các quy định này chặt chẽ thì sẽ khó có kẽ hở để cho những cá nhân, tổ chức (các chủ thể chính trị) thực thi quyền lực chính trị lạm quyền, lộng quyền. Thí dụ như, quy định chặt chẽ về vấn đề nêu gương, chống chạy chức, chạy quyền, quản lý và sử dụng tài sản công, giao quyền gắn với trách nhiệm rõ ràng, minh bạch...

MLN.Nh