PHÁT HUY TINH THẦN TÁC PHẨM "TỰ CHỈ TRÍCH" TRONG XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG (P1)
Đồng
chí Nguyễn Văn Cừ (1912-1941) là lớp đảng viên thuộc thế hệ đầu tiên và trở
thành Tổng Bí thư của Đảng vào tháng 3/1938, khi chưa đầy 26 tuổi. Với 29 tuổi
đời, hơn 13 năm hoạt động cách mạng, hai lần bị tù với 7 năm giam cầm trong nhà
tù đế quốc, hơn 2 năm làm Tổng Bí thư, cuộc đời của đồng chí tuy ngắn ngủi
nhưng “cống hiến của đồng chí thì sáng rực như một ánh sao băng trên bầu trời
cách mạng Việt Nam ở một thời đoạn lịch sử mang tính bước ngoặt lớn, phức
tạp”(1). Đồng chí đã để lại tấm gương sáng ngời về tinh thần cách mạng và nhiều
bài học kinh nghiệm quý báu, đặc biệt là đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn
Đảng thể hiện qua tác phẩm “Tự chỉ trích”.
Đồng
chí Nguyễn Văn Cừ là Tổng Bí thư của Đảng trong thời kỳ cách mạng thế giới và
trong nước có những diễn biến phức tạp, nhất là sau bầu cử Hội đồng quản hạt ở
Nam Kỳ (4/1939), nội bộ Đảng và phong trào cách mạng xuất hiện những khuynh
hướng khác nhau, có thể gây chia rẽ, phân liệt Đảng. Với bút danh Trí Cường,
đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã viết cuốn sách “Tự chỉ trích”, do nhà sách Dân chúng
ấn hành tại Sài Gòn năm 1939. Thông qua tác phẩm này, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ
đã chỉ đạo triển khai cuộc đấu tranh vạch trần bộ mặt giả danh cách mạng của
bọn tờrốtkít, tiến hành tự phê bình và phê bình, thực hiện dân chủ, xây dựng,
củng cố sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, đồng thời, cũng là sự chuẩn bị về
chính trị, tư tưởng cho Hội nghị Trung ương lần thứ 6, tháng 11/1939 quyết định
sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng, bước vào giai đoạn đấu
tranh giành chính quyền.
Mục
đích của tự chỉ trích là “để tìm ra những nguyên nhân thất bại và nghiên cứu
phương pháp sửa lỗi và tiên thủ”(2). Đảng mới thành lập còn ít kinh nghiệm, lại
hoạt động trong điều kiện bất hợp pháp, bị kẻ thù đàn áp, nên khó tránh khỏi
khiếm khuyết, sai lầm, nhưng "Mỗi cuộc thất bại là một dịp cho ta kinh nghiệm,
coi những khẩu hiệu ta đề ra có được quảng đại quần chúng hiểu, công nhận và
thực hành không"(3). Việc tự chỉ trích “thành thật và mạnh dạn” nhằm
“thống nhất tư tưởng, một sự thống nhất thật sự, mạnh mẽ, dựa trên sự giác ngộ
và trung thành của mọi người”(4). Phê bình không phải là làm yếu Đảng, mà làm
cho Đảng mạnh lên, đáp ứng sự phát triển của phong trào cách mạng trong tình
hình mới. Muốn vậy, trước hết những người cộng sản phải hiểu thế nào là “tự chỉ
trích Bôsêvích”, phải xuất phát từ động cơ xây dựng Đảng, đồng thời, phải có
trình độ lý luận và năng lực thực tiễn dày dặn để “biết phân tích tình hình
theo mácxít, phải biết những điều kiện đặc biệt của Đông Dương”(5), không để kẻ
thù lợi dụng hạ thấp uy tín và phá hoại Đảng.
Nội
dung đấu tranh phê bình và tự phê bình phải gắn liền với nhiệm vụ chính trị
quan trọng của Đảng, kịp thời uốn nắn những lệch lạc trong phong trào dân chủ,
sai lầm trong phương thức vận động quần chúng. Đồng chí chỉ ra những căn bệnh
như bệnh tự ái cá nhân, mơ hồ về lập trường giai cấp, “một bộ phận đồng chí đã
chệch hướng sang hữu, đã do dự và hành động ngược lại chính sách của Đảng”; có
đồng chí biểu hiện xu hướng “tả khuynh” cô độc nó muốn làm cho Đảng co bé, rút
hẹp bởi biệt phái, cách xa quần chúng”(6). Những sai lầm đó “chỉ làm trầm trọng
thêm những nguy cơ đang đe dọa chúng ta từ mọi phía”(7), ảnh hưởng tới khối
đoàn kết thống nhất trong Đảng, gây tổn thất nghiêm trọng cho sự nghiệp cách
mạng.
Tinh
thần đấu tranh tự phê bình và phê bình của đồng chí Nguyễn Văn Cừ là phải nhìn
thẳng vào sự thật, nhận rõ khuyết điểm. Người cộng sản chân chính “dẫu cho có
sai lầm, có thất bại thì phải có can đảm “mở to mắt ra nhìn sự thật”, “phải
chịu hoàn toàn trách nhiệm..."(8). Sự thống nhất đạt được sau thảo luận,
sau tự phê bình và phê bình, sau khi được làm rõ đúng sai, phải trái sẽ trở
thành sự thống nhất tự giác, là cơ sở cho sự đồng thuận, đoàn kết của tập thể,
sự thống nhất ý chí của Đảng. Nếu không dám đấu tranh, chỉ cốt “Giữ cái vỏ
thống nhất mà bên trong thì hổ lốn một cục” thì đó “không phải một Đảng tiền
phong cách mạng mà là một Đảng hoạt đầu cải lương”. Đảng sẽ mất tính chiến đấu
và không còn vai trò tiền phong với quần chúng cách mạng.
“Tự
chỉ trích” là văn kiện lý luận chính trị quan trọng của Đảng, đã thể hiện rõ
nét năng lực tư duy lý luận, sự am hiểu tình hình thực tiễn, tâm huyết và trách
nhiệm lớn lao của người giữ cương vị cao nhất của Đảng bấy giờ. Ra đời cách đây
hơn 80 năm, nhưng tinh thần “Tự chỉ trích” của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ vẫn
vẹn nguyên giá trị thời sự; là một giải pháp quan trọng, góp phần thực hiện
thành công Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII để tiếp tục xây dựng, phát triển
Đảng trở thành một Đảng cách mạng, chân chính, vững mạnh, xứng đáng với sự hy
sinh, cống hiến của lớp lớp các thế hệ đảng viên, sự tin tưởng, kỳ vọng của các
tầng lớp nhân dân với Đảng, với cách mạng.
Phê
bình và tự phê bình phải giữ vững nguyên tắc của Đảng mácxít. Trước thành bại
của cách mạng, người đảng viên cộng sản “không bi quan hoảng hốt mà cũng không
đắc trí tự mãn”. Mỗi đảng viên có quyền tự do thảo luận và chỉ trích, nhưng
phải có nguyên tắc, không được “đặt cá nhân mình lên trên Đảng, đem ý kiến
riêng - dù là đúng - đối chọi với Đảng, vin vào một vài khuyết điểm mà mạt sát
Đảng, phá hoại ảnh hưởng của Đảng, gieo mối hoài nghi lộn xộn trong quần chúng,
gây mầm bè phái chia rẽ trong đội ngũ Đảng..."(9). Đó là những hành động
mang tính chất hữu khuynh, cơ hội. Nguyên tắc của Đảng cũng không cho phép
tranh luận, phô bầy công khai các vấn đề nội bộ. Đó là sự thể hiện của xu hướng
“tả” khuynh. Mọi đảng viên đều có quyền tranh luận, phê bình đồng chí, phê bình
Đảng, nêu các vấn đề nội bộ, trong khuôn khổ của tổ chức. Và khi đã thảo luận
rõ ràng rồi, đã xây dựng thành nghị quyết thì “chỉ có một ý chí duy nhất là ý
chí của Đảng, ngàn người sẽ như một để thực hành ý chí ấy”(10). Việc tự phê
bình và phê bình cần vượt qua những điều “cãi vã những chuyện nhỏ nhen”, tuyệt
đối tránh tình trạng “đả kích hoặc cường điệu những sai lầm khuyết điểm của
đồng chí mình”, phải bảo đảm tính giáo dục, giúp nhau tiến bộ; kịp thời sửa
chữa, không để khuyết điểm, sai lầm nhỏ thành lớn.
Muốn
khắc phục sai lầm, khuyết điểm, phải phân tích đúng nguyên nhân của các sai lầm
và có biện pháp giải quyết phù hợp.
Trong
lời kết của “Tự chỉ trích”, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã để lại một kinh nghiệm
hết sức quý báu cho Đảng: “Chúng ta đã phải chiến thắng những xu hướng sai lầm
trong hàng ngũ: xu hướng “tả khuynh” cô độc nó muốn làm cho Đảng co bé, rút hẹp
bởi biệt phái, cách xa quần chúng và xu hướng thoả hiệp hữu khuynh, lung lay
trước những tình hình nghiêm trọng nhãng quên hoặc che lấp sự tuyên truyền chủ
nghĩa Mác-Lênin, lăm le rời bỏ những nguyên tắc cách mệnh”(11). Hai khuynh
hướng ấy luôn là nguy cơ thường trực, làm suy yếu Đảng trong mọi thời kỳ cách mạng.
ĐỨC
VINH- KHXH&NV (st)
___________
(1)
Nguyễn Đức Bình: Nguyễn Văn Cừ, nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng và cách mạng
Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2002, tr. 47.
(2)
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H,
2000, t.6, tr. 620
(3)
(4) (5) (6) (7) (8) (9) (10) (11) Nguyễn Văn Cừ: Một số tác phẩm, Nxb. Chính
trị quốc gia, H, 2010, tr. 221, 216, 215, 242, 243, 220, 219, 216, 242.
© Tạp
chí của Ban Tuyên giáo Trung ương
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét