Chủ Nhật, 9 tháng 10, 2022

AI ĐANG ĐÁNH TRÁO KHÁI NIỆM VỀ NHÂN QUYỀN

 

Cái gọi là "thư ngỏ" của một vài tổ chức nhân danh quốc tế về nhân quyền gửi tới các quốc gia thành viên Đại hội đồng Liên hợp quốc (LHQ) nhằm vận động không bỏ phiếu cho Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025 thật thiếu cơ sở.
Ngoài việc thường xuyên "đâm bị thóc, chọc bị gạo" vấn đề nhân quyền của các quốc gia mà họ thù địch, thì vài tổ chức nhân danh quốc tế về nhân quyền này đã làm được gì để quyền con người trên thế giới tốt đẹp hơn? Thật lố bịch khi họ lại tự cho mình có quyền phán xét, mặc cả, ra điều kiện về nhân quyền đối với các quốc gia có chủ quyền như Việt Nam.
Một bản kiến nghị "tổ ong"
Tổ ong có hình thức thủng lỗ chỗ. Thư ngỏ của một số tổ chức này giống như một tổ ong. Nó chỉ có phần lõm mà không có phần lồi. Thôi thì vẫn còn một chút niềm tin vớt vát rằng, nhiều khả năng nguồn thông tin mà các tổ chức nhân danh nhân quyền này tiếp nhận được về Việt Nam thông qua một lăng kính méo mó.
Vì họ không được mắt thấy, tai nghe, tiếp nhận thông tin sai lệch nên họ mới đưa ra kiến nghị rằng "Việt Nam là một quốc gia vi phạm nhân quyền nghiêm trọng và triền miên, không tuân thủ các cam kết, có thành tích hợp tác kém với Hội đồng Nhân quyền (HRC)".
Họ tiếp tục chụp mũ: Tình hình nhân quyền đang xấu đi ở Việt Nam như đàn áp các tổ chức phi chính phủ, các nhà báo độc lập, các nhóm tôn giáo, những người bảo vệ môi trường và đất đai, những người ủng hộ nhân quyền...
Trong khi đó, báo cáo của họ lại phớt lờ, không đề cập đến những thành tựu với sự nỗ lực không mệt mỏi mà Việt Nam đã đạt được khi phấn đấu cho quyền con người. Những thành tựu ấy không chỉ được "tai nghe, mắt thấy" ở Việt Nam, mà còn được chính các tổ chức lớn của LHQ báo cáo, đánh giá định kỳ, như Chương trình Phát triển của LHQ (UNDP); Tổ chức Y tế thế giới (WHO) hay chính Hội đồng Nhân quyền (HRC)...
Đến đây thì "thư ngỏ" đã "lòi đuôi cáo" khi nó rất không công bằng, cố tình chỉ thấy cây mà không chịu thấy rừng. Không chỉ dịp này, năm nào cũng vậy, họ luôn cùng nhau "tiền hô hậu ủng" để cho ra đời những bản báo cáo về nhân quyền đầy màu sắc chính trị, sai sự thật để chống phá Việt Nam và một số quốc gia mà họ cho là đối lập về hệ tư tưởng.
Điều đầu tiên cần nói rõ, những tổ chức nhân danh nhân quyền trên không có tư cách để đánh giá, chấm điểm, xếp loại về nhân quyền ở Việt Nam, chứ chưa nói đến việc làm sai trái khi cố tình gửi yêu sách đến LHQ.
Chính lịch sử hàng trăm năm đấu tranh cho sự tiến bộ của loài người, vì quyền con người, các quốc gia trong mái nhà chung LHQ đã thống nhất một quan điểm: "Áp đặt tiêu chuẩn dân chủ, nhân quyền cho một quốc gia là vô lý". Các nước trên thế giới ở những trình độ phát triển khác nhau, thể chế chính trị khác nhau nên không thể lấy giá trị, tiêu chuẩn về dân chủ, nhân quyền của nước này áp đặt cho nước khác. Các văn kiện pháp lý về quyền con người được LHQ quy định rất rõ ràng.
Không quốc gia nào, kể cả LHQ, có quyền can thiệp vào công việc thực chất thuộc thẩm quyền quốc gia, chứ đừng nói gì đến các tổ chức nhân danh. Mục 7, Điều 2, Chương I, Hiến chương LHQ khẳng định: "Hiến chương này hoàn toàn không cho phép LHQ được can thiệp vào những công việc thực chất thuộc thẩm quyền nội bộ của bất cứ quốc gia nào...".
Trong môi trường hội nhập, sự trao đổi, hợp tác, đối thoại trên lĩnh vực quốc tế về nhân quyền là rất quan trọng, vì có thể bổ sung thêm cơ chế, kinh nghiệm trong việc bảo đảm quyền con người, tuy nhiên, theo các quy định pháp lý, nó chỉ nhằm bổ sung chứ không thể thay thế các cơ chế về bảo đảm quyền con người đang vận hành tại các quốc gia.
Vậy thì mấy tổ chức nhân danh nhân quyền kia lấy tư cách gì để đòi tước tư cách một quốc gia có chủ quyền như Việt Nam? Họ chẳng có tư cách gì!
Sự thật không như họ nói
Cùng với việc bác bỏ nội dung sai sự thật, không khách quan với định kiến xấu mà một số tổ chức nhân danh nhân quyền quốc tế đã đưa ra về tình hình Việt Nam, ngày 22-9, tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao, về việc Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng nhấn mạnh, những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực bảo đảm quyền con người trong thời gian vừa qua đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.
Chúng ta hãy kiểm chứng lời của người phát ngôn:
Trước tiên, xin được dẫn đánh giá của bà Caitlin Wiesen, Trưởng đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam qua Báo cáo phát triển con người toàn cầu năm 2020: "Với chủ trương phát triển lấy con người làm trung tâm, ưu tiên phát triển con người và thúc đẩy bình đẳng trong các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, Việt Nam đạt được mức phát triển con người cao. Đây là một thành tựu đáng ghi nhận và cũng tạo cơ hội cho sự phát triển tốt hơn, nhanh hơn trong giai đoạn tới".
Từ nhiều năm nay, LHQ luôn lấy Việt Nam là một điểm sáng về phát triển con người, nhất là trong thực hiện các mục tiêu Thiên niên kỷ về xóa đói, giảm nghèo, về công bằng và tiến bộ xã hội. Việt Nam nằm trong số những quốc gia đạt tốc độ giảm đói nghèo nhanh nhất thế giới.
Năm 2006, Việt Nam đã tuyên bố hoàn thành "Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) về xóa nghèo", về đích trước gần 10 năm so với thời hạn. Cũng theo bà Caitlin Wiesen, quốc tế nhìn nhận rất tích cực những thành quả Việt Nam đạt được trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo trong vài thập kỷ vừa qua.
Đảng, Nhà nước ta luôn xác định chính sách nhất quán của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, lấy con người là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước. Đại hội XIII của Đảng xác định: "Lấy con người là trung tâm của phát triển và được chia sẻ những thành quả của quá trình phát triển"(1).
Chính sách phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam là công bằng, hướng tới mọi đối tượng, không chỉ chú trọng phát triển kinh tế ở thành thị, mà luôn dành nguồn lực lớn, sự quan tâm sâu sắc tới xây dựng nông thôn mới, chăm lo đời sống người nông dân. Qua từng năm, hầu hết các chỉ tiêu về phát triển văn hóa, xã hội đều thay đổi nhanh chóng.
Một điểm đặc biệt của Việt Nam được quốc tế đánh giá rất cao, đó là đất nước rất chú trọng đến Chỉ số phát triển con người (HDI), dù kinh tế chưa đạt được như các nước tiên tiến. Báo cáo hằng năm của UNDP cho thấy, Việt Nam nằm trong nhóm các nước có tốc độ tăng HDI cao nhất thế giới. Nếu năm 1990, HDI của Việt Nam chỉ đạt mức thấp là 0,48 thì đến năm 2021, HDI của Việt Nam được UNDP công bố là 0,703, xếp thứ 115 trong số 191 quốc gia và vùng lãnh thổ. Cùng với quan tâm phát triển con người, quyền của các nhóm yếu thế như phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật... có những bước tiến rõ rệt.
Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm qua; được LHQ đánh giá là điểm sáng về thực hiện bình đẳng giới trong thực hiện các mục tiêu Thiên niên kỷ.
Phát biểu tại phiên họp cấp cao Khóa họp thường kỳ lần thứ 46 Hội đồng Nhân quyền LHQ ngày 22-2-2021, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh (nay là Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ) khẳng định: "Là một thành viên tích cực của LHQ cũng như cộng đồng quốc tế, Việt Nam khẳng định thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về quyền con người, và luôn nỗ lực thúc đẩy phát triển quyền con người cả ở trong nước cũng như trên thế giới".
Một quốc gia có trách nhiệm giữa nói và làm
Cũng tại buổi họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao ngày 22-9 vừa qua, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định: "Chính sách nhất quán của Việt Nam là bảo vệ và thúc đẩy các quyền cơ bản của con người. Điều này đã được quy định cụ thể trong Hiến pháp 2013 và nhiều văn bản pháp luật khác có liên quan".
Quyền con người ở Việt Nam đã được thể hiện toàn diện, đầy đủ trong hiến pháp-đạo luật nền tảng của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đến Hiến pháp 2013, đã quy định rất rõ các quyền dân sự, chính trị; các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; các quyền của nhóm dễ bị tổn thương. Đặc biệt, Hiến pháp 2013 đã dành riêng một chương gồm 36 điều chế định và hiến định rõ ràng các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Đây là bản hiến pháp được quốc tế đánh giá là đỉnh cao trong hoạt động lập hiến bảo vệ quyền con người, quyền công dân, nó phù hợp với thực tiễn Việt Nam và với chuẩn mực quốc tế về quyền con người. Đơn cử như Điều 24 Hiến pháp 2013 quy định: "Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo".
Cùng với hiến pháp và các bộ luật, đến nay Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người, như: Công ước về quyền dân sự, chính trị; Công ước về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; Công ước về quyền trẻ em; Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người; Công ước về quyền của người khuyết tật...
Dù là quốc gia phải chịu nhiều đau thương, mất mát do chiến tranh tàn phá, nhưng đến nay, chúng ta có quyền tự hào, tự tin khi Nhà nước Việt Nam đã xây dựng được hệ thống pháp luật khá toàn diện, trong đó lấy con người làm trung tâm.
Việc Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025 là phù hợp với thực tiễn. Việt Nam không những đã có nhiều đóng góp tích cực mà còn có kinh nghiệm khi phấn đấu cho quyền con người.
Trước đó, năm 2013, Việt Nam lần đầu tiên trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2014-2016 với số phiếu 184/192, cao nhất trong số các nước thành viên mới. Khi đó, những sáng kiến của Việt Nam trong nhiệm kỳ 2014-2016 được quốc tế đánh giá cao, tiêu biểu như việc Việt Nam phối hợp cùng các quốc gia khác đưa ra: Vấn đề về bảo đảm quyền lao động của người khuyết tật; về bảo đảm môi trường làm việc an toàn cho người lao động trên biển; Nghị quyết về tác động của biến đổi khí hậu với quyền trẻ em; về nâng cao giáo dục trong phòng, chống buôn bán phụ nữ và trẻ em gái...
Việc Việt Nam tiếp tục ứng cử là thành viên của Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025 là hoàn toàn xứng đáng. ASEAN cũng đã chính thức công nhận Việt Nam là ứng cử viên duy nhất của khối. Đó là minh chứng xác đáng cho những thành tựu và nỗ lực không ngừng của Việt Nam cho một cuộc sống tươi đẹp trên hành tinh xanh.
Việt Nam ứng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025 cùng nhiều cam kết, ưu tiên với thông điệp "Tôn trọng và Hiểu biết-Đối thoại và Hợp tác-Tất cả các quyền con người cho tất cả mọi người". Việt Nam cũng đã được Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ủng hộ là ứng cử viên duy nhất của hiệp hội cho nhiệm kỳ này.
Theo QĐND
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'VIỆT NAM ĐÃ ỨNG CỬ LÀM THÀNH VIÊN HỘI IĐÔNG ĐỒNG NHÂN QUYỀN LIÊN HỢP QUỐC NHIỆM KY 2023-2025 VIỆT NAM -THÀNH VIÊN CÓ TRÁCH NHIỆM'

KHÔNG ĐỂ XUYÊN TẠC CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG

 

Những thành quả đã đạt được trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng thời gian qua là niềm tin để mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần đề cao cảnh giác trước những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch.
Kết quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng đạt được trong thời gian qua không những được cán bộ, đảng viên và nhân dân ta ghi nhận, đánh giá cao mà còn khẳng định đây là vấn đề có tính nguyên tắc và mang tính chiến lược để Đảng ta có đủ sức mạnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Thế nhưng, các thế lực thù địch phớt lờ điều ấy, chúng còn ra sức công kích vấn đề có tính nguyên tắc và chiến lược này.
Với tâm địa đen tối, cái nhìn hằn học, các thế lực thù địch cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã quá khôn ngoan khi đưa vấn đề xây dựng Đảng thành vấn đề then chốt nhưng đó chỉ là kiểu “giật gấu vá vai”. Tình trạng này tất yếu sẽ khiến Đảng đổ vỡ và tan rã”... Thực ra, những nhận định này là hồ đồ và xuyên tạc vì xây dựng, chỉnh đốn Đảng là việc làm thường xuyên, liên tục để “cơ thể Đảng” khỏe mạnh, có khả năng “đề kháng”, “miễn dịch” trước sự chống phá của các thế lực thù địch và những vấn đề có thể phát sinh bên trong nội bộ Đảng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ xây dựng, chỉnh đốn Đảng là một tất yếu khách quan, gắn chặt với quá trình phát triển, trưởng thành của sự nghiệp cách mạng. Đảng là một tổ chức sống trong lòng xã hội, một bộ phận hợp thành cơ cấu của xã hội. Tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, nhất là những người giữ chức vụ trong Đảng, Nhà nước luôn chịu sự tác động, ảnh hưởng từ môi trường xã hội cả những cái tốt, tích cực, tiến bộ, cả những cái xấu, tiêu cực và lạc hậu.
Trong điều kiện Đảng cầm quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội thì vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng càng phải quan tâm nhiều hơn. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng có mối quan hệ biện chứng, trong đó xây dựng là nền tảng, có tác dụng to lớn để thực hiện chỉnh đốn Đảng. Ai đó cho rằng chỉ cần xây dựng Đảng là đủ mà coi thường chỉnh đốn Đảng là điều phi lý, không thể chấp nhận bởi chỉnh đốn Đảng là một mặt hết sức quan trọng và là điều kiện không thể thiếu của xây dựng. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng gắn bó chặt chẽ với nhau, xâm nhập vào nhau, ràng buộc và quy định lẫn nhau, xây dựng Đảng ngay trong nội dung chỉnh đốn và chỉnh đốn là thành tố nội tại để xây dựng Đảng tốt hơn. Do vậy, không thể coi trọng, nhấn mạnh mặt này, xem nhẹ, coi thường mặt kia; hai mặt xây dựng và chỉnh đốn có quan hệ chặt chẽ, là vấn đề có tính quy luật của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
Nguyên tắc của xây dựng, chỉnh đốn Đảng là lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; thực hiện đầy đủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách để Đảng không rơi vào độc đoán, chuyên quyền. Đồng thời trong sinh hoạt Đảng, phải thực hiện đúng đắn nguyên tắc tự phê bình và phê bình, bởi đó là thứ vũ khí, là quy luật làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh. Cùng với đó cần thực hiện tốt kỷ luật nghiêm minh và tự giác, làm tốt công tác kiểm tra, kiểm soát để giữ gìn sự đoàn kết và trong sạch của Đảng. Sự thật này không thể xuyên tạc, chân lý này không thể bẻ cong.
Những thành quả đã đạt được trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng thời gian qua là niềm tin để mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần đề cao cảnh giác trước những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch; kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, vững tin xây dựng nước ta ngày càng giàu mạnh.
Có thể là hình ảnh về ngoài trời và văn bản cho biết 'ĐẠI HỘI XIII'

Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2022

BẾ MẠC HỘI NGHỊ LẦN THỨ SÁU BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIII!

         Sau 7 ngày (từ 3 - 9/10/2022) làm việc khẩn trương, nghiêm túc và đầy tinh thần trách nhiệm, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra và bế mạc sáng 9/10.
     Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì hội nghị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ điều hành phiên bế mạc.
     Các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng và các đại biểu tham dự Hội nghị đã phát huy dân chủ, trí tuệ, thẳng thắn thảo luận, đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết, sâu sắc vào các tờ trình, báo cáo, đề án. Bộ Chính trị đã tiếp thu tối đa và giải trình đầy đủ những vấn đề còn có ý kiến khác nhau. Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thống nhất cao thông qua các Nghị quyết và Kết luận của Hội nghị.

Giữ vững ổn định
kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát
     Phát biểu bế mạc hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, dự báo thời gian tới, kinh tế thế giới nói riêng và tình hình quốc tế nói chung sẽ còn có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Vì vậy, những tháng còn lại của năm 2022 và năm 2023, phải tiếp tục nêu cao cảnh giác, chủ động kiểm soát có hiệu quả hơn nữa dịch COVID-19 và các dịch bệnh mới phát sinh, tuyệt đối không được chủ quan, để bị động, bất ngờ; bảo đảm năng lực khám, chữa bệnh, phòng, chống dịch bệnh của hệ thống y tế. Giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, đặc biệt là cân đối về tài chính - ngân sách nhà nước.
     Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực nội tại, tính tự chủ, khả năng chống chịu và tính thích ứng của nền kinh tế; củng cố, phát huy và tạo lập các động lực tăng trưởng mới trong trung hạn và dài hạn. Nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện pháp luật; đẩy mạnh cải cách hành chính, sắp xếp, tinh giản bộ máy, biên chế.
     Quyết liệt và đẩy nhanh tiến độ thực hiện các đột phá chiến lược, Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, 3 Chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, nhất là các dự án quan trọng, trọng điểm quốc gia. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo.
     Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, chú trọng phát triển văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân. Quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả đất đai, tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, phát huy sức mạnh tổng hợp, tạo sự đồng thuận xã hội. Đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại.

Hình thành cơ bản
bộ khung kết cấu
hạ tầng quốc gia
     Ban Chấp hành Trung ương đã dành nhiều thời gian để nghiên cứu, thảo luận, tạo sự thống nhất cao về sự cần thiết phải ban hành và tổ chức thực hiện thật tốt Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trung ương coi đây là nhiệm vụ chính trị rất quan trọng có ý nghĩa chiến lược, cơ bản, lâu dài, nhưng cũng là vấn đề rất rộng lớn, rất mới, rất khó, rất nhạy cảm và chưa có tiền lệ.
     Để xây dựng được một Quy hoạch tổng thể quốc gia có chất lượng và tính khả thi cao, đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu đề ra, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, cần phải nhận thức thật sâu sắc và quán triệt thật đầy đủ những nội dung của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Kết luận của Hội nghị lần này về Định hướng Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và thực tế phát triển, tổ chức không gian phát triển quốc gia thời gian qua, nhất là 10 năm gần đây, thấy rõ những kết quả, thành tựu đã đạt được, những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và nguyên nhân, bài học kinh nghiệm được tổng kết.
     Trong việc quy hoạch lần này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lưu ý, cần tập trung ưu tiên cho việc hình thành cơ bản bộ khung kết cấu hạ tầng quốc gia; tập trung vào hạ tầng giao thông, hạ tầng đô thị, năng lượng, hạ tầng số, hạ tầng bảo vệ môi trường, thủy lợi, phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, ưu tiên phát triển một số ngành, lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế và còn dư địa lớn, gắn với không gian phát triển mới. Phát triển các vùng động lực, cực tăng trưởng quốc gia quan trọng để hình thành các "đầu tàu" lôi cuốn sự phát triển của quốc gia. Hình thành và phát triển các hành lang kinh tế theo trục Bắc - Nam và trục Đông - Tây; kết nối các cảng biển, cửa khẩu quốc tế, đầu mối giao thương lớn, các đô thị, trung tâm kinh tế, cực tăng trưởng.

Chuyển đổi số là phương thức mới có tính đột phá 
     Trung ương nhất trí cao cho rằng, cần phải tiếp tục đổi mới tư duy, nhận thức và hành động quyết liệt, đúng đắn, đồng bộ hơn trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta.
     Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, cần phải khai thác và phát huy tốt nhất tiềm năng, lợi thế của đất nước, của từng vùng, từng địa phương trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tận dụng và phát huy lợi thế của nước đi sau và đang trong thời kỳ "dân số vàng"; kết hợp chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả giữa phát triển tuần tự với đi tắt đón đầu, thúc đẩy chuyển dịch nhanh từ gia công, lắp ráp sang sáng tạo, thiết kế và sản xuất tại Việt Nam. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu; chú trọng "dịch vụ hóa" các ngành công nghiệp. Coi chuyển đổi số là phương thức mới có tính đột phá để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
     Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải trên cơ sở nhận thức đầy đủ, tôn trọng và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; có lộ trình và bước đi cụ thể, có trọng tâm, trọng điểm; ưu tiên nguồn lực và có các cơ chế, chính sách đột phá, đặc thù; tăng cường liên kết ngành và liên kết vùng. Coi nguồn lực trong nước là cơ bản, chiến lược, lâu dài và quyết định. Nguồn lực bên ngoài là quan trọng, đột phá. Doanh nghiệp trong nước là động lực chính, chủ đạo. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng.
     Trong quá trình tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lưu ý: "Phải chú ý bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, hiệu quả; khơi dậy khát vọng phát triển, tinh thần khởi nghiệp quốc gia, đổi mới sáng tạo; phát huy giá trị văn hóa, bản lĩnh con người Việt Nam; vai trò xung kích, đi đầu của lực lượng doanh nghiệp, đội ngũ doanh nhân và đội ngũ trí thức, giai cấp công nhân hiện đại”.
     Ban Chấp hành Trung ương nhất trí cao việc ban hành Nghị quyết về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
     Với mục tiêu tổng quát là: "Hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; có hệ thống pháp luật hoàn thiện, được thực hiện nghiêm minh, nhất quán; thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ có hiệu quả quyền con người, quyền công dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, được phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, phân cấp, phân quyền và kiểm soát hiệu quả; nền hành chính, tư pháp chuyên nghiệp, pháp quyền, hiện đại; bộ máy nhà nước tinh gọn, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực, thực sự chuyên nghiệp, liêm chính; quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững, trở thành nước phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 2045".
     Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, trước mắt, cần tập trung thực hiện một số chủ trương và nhiệm vụ quan trọng: Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội; nâng cao hơn nữa chất lượng của công tác lập pháp; cải cách nền hành chính nhà nước; đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án và các cơ quan Tư pháp; phát huy vai trò và quyền làm chủ của nhân dân; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước...

Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
     Ban Chấp hành Trung ương thống nhất cao cho rằng: Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Do vậy, trên cơ sở tổng kết 15 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa X, Hội nghị Trung ương lần này đã nhất trí cao ban hành Nghị quyết mới về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong tình hình mới.
     Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ, cần kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ; đẩy mạnh phân công, phối hợp, phân cấp, phân quyền, gắn với nêu cao trách nhiệm của tổ chức và cá nhân, nhất là người đứng đầu; giữ vững sự lãnh đạo tập trung, thống nhất, kỷ luật, kỷ cương; bảo đảm nguyên tắc quyền lực đi đôi với trách nhiệm, mọi cán bộ, đảng viên phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, cơ chế, chính sách, nguyên tắc và kỷ luật của Đảng.
     Để tiếp tục đổi mới thành công phương thức lãnh đạo của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu, cần thận trọng, có bước đi vững chắc, vừa làm vừa tổng kết, rút kinh nghiệm; vấn đề đã rõ thì kiên quyết đổi mới, vấn đề cần thiết nhưng chưa rõ, còn ý kiến khác nhau thì phải nghiên cứu, thí điểm, không nóng vội nhưng cũng không bỏ qua hoặc để quá chậm, ảnh hưởng đến sự phát triển; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; kế thừa, phát huy những thành tựu, kết quả, kinh nghiệm tốt trong phương thức lãnh đạo của Đảng đã được thực tiễn chứng minh là đúng. Ở mỗi cấp, mỗi lĩnh vực phải vừa quán triệt các  nguyên tắc chung, vừa phải phù hợp với đặc điểm, yêu cầu, nhiệm vụ lãnh đạo của từng cấp, từng lĩnh vực và của từng loại hình cơ quan nhà nước, từng tổ chức chính trị - xã hội.
     Trên cơ sở thống nhất cao về nhận thức, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, cần phải có quyết tâm cao, nỗ lực lớn trong tổ chức thực hiện, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, sâu sắc nhận thức về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới, triển khai thực hiện đồng bộ cả 5 phương thức lãnh đạo của Đảng trên cơ sở đẩy mạnh đổi mới, nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng; đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức, cán bộ; đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động; phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; đồng thời, đẩy mạnh cải cách hành chính; đổi mới phong cách lãnh đạo, phương pháp công tác, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới cơ sở.
     Một điểm mới tại Hội nghị lần này là, lần đầu tiên Ban Chấp hành Trung ương đã tiến hành xem xét, quyết định để cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý thôi tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII theo chủ trương của Bộ Chính trị tại Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 03/11/2021 về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ và Thông báo số 20-TB/TW, ngày 08/9/2022 về bố trí công tác đối với cán bộ sau khi bị kỷ luật, đối với các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng Nguyễn Thành Phong, Huỳnh Tấn Việt, Bùi Nhật Quang.
     Ban Chấp hành Trung ương cũng đã xem xét Tờ trình của Bộ Chính trị và quyết định thi hành kỷ luật đồng chí Phạm Xuân Thăng, Ủy viên Trung ương Đảng; Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Hải Dương bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng do các vi phạm nghiêm trọng về nguyên tắc tập trung dân chủ, về những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu cấp ủy, gây hậu quả rất nghiêm trọng, làm thiệt hại lớn đến tài sản, ngân sách nhà nước, gây dư luận xấu, làm giảm uy tín của Đảng, chính quyền địa phương và cá nhân đồng chí.
    Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, đây là sự việc rất đau xót, nhưng vì sự nghiêm minh của kỷ luật đảng, để giáo dục, ngăn ngừa, cảnh tỉnh, răn đe các trường hợp khác và vì sự lớn mạnh của Đảng buộc chúng ta phải làm. Và đây cũng là bài học mỗi đồng chí chúng ta cần phải rút kinh nghiệm thật sự sâu sắc, điều này được cán bộ, đảng viên, nhân dân đánh giá cao.
     Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tin tưởng rằng, với thành công của Hội nghị lần này và sự đoàn kết, nhất trí cao trong toàn Đảng, trước hết là trong Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; sự ủng hộ, hưởng ứng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, nhất định sẽ tổ chức thực hiện thành công các Nghị quyết, Kết luận của Hội nghị Trung ương lần này, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng./.



Yêu nước ST.

Nhớ Bác


Bác Hồ vĩ đại kính yêu

Vì dân vì nước trải nhiều gian truân

Ước mong đất nước vào xuân

Nở hoa độc lập đường hoàng tiến lên.

NGĂN NGỪA NGUY CƠ “TỰ DIỄN BIẾN”

 Tình trạng “cuồng” like, “cuồng” view, nếu không tỉnh táo, rất dễ bị cuốn theo các luồng thông tin tiêu cực, dẫn đến hoang mang, dao động, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, mất niềm tin vào hệ tư tưởng chính thống.

Sự “xâm lăng” âm thầm

Không gian mạng với các dịch vụ xuyên biên giới đang tạo nên những thách thức lớn đối với việc bảo vệ biên cương văn hóa tư tưởng ở Việt Nam. Theo GS.TS Từ Thị Loan, nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, nếu biên cương quốc gia là một thực thể hữu hình, được bảo vệ bởi chủ quyền quốc gia và công pháp quốc tế, sẽ khó bị xâm phạm, lấn chiếm, thì biên cương văn hóa tư tưởng là ranh giới vô hình, mong manh, rất khó quản lý và ngăn chặn sự “xâm lăng” từ bên ngoài vào. Chính điều đó đang tác động đến những động thái “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” âm thầm nhưng rất nguy hiểm, khó lường trên mặt trận văn hóa tư tưởng hiện nay.

Khác với không gian ngoài đời, không gian mạng mang tính gián tiếp, cộng đồng ảo nên dễ thoát khỏi sự kiểm soát, kiểm duyệt chính thống; ít chịu sự ràng buộc về pháp lý, đạo đức, trách nhiệm và khó nắm bắt, quản lý. Quyền tự do thông tin trên mạng cũng dẫn tới các hành vi phản cảm, ứng xử vô văn hóa trên không gian mạng ngày càng lan tràn: những thông tin lá cải, tin tức hot về giới showbiz, scandal của những người nổi tiếng, các chiêu trò đánh bóng tên tuổi, lăng-xê, tung ảnh nóng, hiện tượng ném đá hội đồng, cuồng “like”, comment “bẩn”, háo danh trên mạng, anh hùng bàn phím... ngày càng phổ biến.

“Cần tập trung hoàn thiện hành lang pháp lý đối với công tác quản lý như: rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật. Cùng với đó, tăng cường hiệu quả công tác cấp phép, quản lý bản quyền, kiểm duyệt, kiểm soát, giám sát, thanh tra, kiểm tra. Hoàn thiện các công cụ, cách thức quản lý, phối hợp cả tiền kiểm lẫn hậu kiểm. Xử lý nghiêm các vi phạm với các chế tài đảm bảo tính răn đe và bám sát thực tiễn” - GS.TS Từ Thị Loan.

Quyền tự do lưu hành, quảng bá, phổ biến các sáng tạo văn hóa nghệ thuật trên không gian mạng cũng dẫn tới tình trạng vàng thau lẫn lộn, tràn lan các sản phẩm độc hại. Điều này đã và đang ảnh hưởng đến lý tưởng sống, mục đích sống của thế hệ trẻ, khuyến khích một lối sống hưởng thụ, chạy theo vật chất, coi nhẹ các giá trị tinh thần… Theo bà Loan, nếu không tỉnh táo, bản lĩnh, có sức đề kháng tốt, người xem rất dễ bị cuốn theo các luồng thông tin tiêu cực, dẫn đến hoang mang, dao động, mất niềm tin vào hệ tư tưởng chính thống, vào sự ưu việt của chế độ xã hội, xói mòn lòng tin vào Đảng và Nhà nước.

Trước những hành vi trên, thời gian qua các cơ quan chức năng đã tập trung xử lý nghiêm nhiều trường hợp vi phạm. Điển hình là việc cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP.HCM đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh bắt tạm giam đối với bà Nguyễn Phương Hằng. Theo cơ quan cảnh sát điều tra, bà Nguyễn Phương Hằng đã lợi dụng sức ảnh hưởng của bản thân, sử dụng chức năng của mạng xã hội trên Internet, tổ chức nhiều buổi phát trực tiếp nội dung thông tin không kiểm chứng, liên quan đến đời tư của người khác, trong đó sử dụng những ngôn từ mang tính chất nhục mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.

Thực thi văn hóa ứng xử trên không gian mạng

Để bảo vệ biên cương văn hóa tư tưởng trên không gian mạng cho thế hệ trẻ, trong tham luận gửi đến Hội thảo khoa học không gian mạng và sứ mệnh bảo vệ biên cương văn hóa tư tưởng của tuổi trẻ, GS.TS Từ Thị Loan cho rằng cần có một hệ thống các giải pháp toàn diện và đồng bộ, đồng thời thiết thực và khả thi nhằm điều tiết, hạn chế các phương diện tiêu cực và nắm bắt, tận dụng các phương diện tích cực của nó. Trước hết cần tập trung hoàn thiện hành lang pháp lý đối với công tác quản lý như: rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật. Cùng với đó, tăng cường hiệu quả công tác cấp phép, quản lý bản quyền, kiểm duyệt, kiểm soát, giám sát, thanh tra, kiểm tra. Hoàn thiện các công cụ, cách thức quản lý, phối hợp cả tiền kiểm lẫn hậu kiểm. Xử lý nghiêm các vi phạm với các chế tài đảm bảo tính răn đe và bám sát thực tiễn.

Về công nghệ cần sử dụng các giải pháp kỹ thuật để kiểm soát, giám sát như: dựng “tường lửa”, “lá chắn”; sử dụng các phần mềm lọc thông tin, ngăn chặn nội dung xấu độc; các phần mềm tự động mã hóa hoặc xóa bỏ các thông tin tiêu cực, phản cảm. Đặc biệt, cần tập trung tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho giới trẻ. Đề cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ văn nghệ sĩ và giới trẻ tham gia các khâu sáng tác, phổ biến, lưu hành các tác phẩm trên mạng. Nâng cao ý thức của thanh thiếu niên trong tiêu dùng và hưởng thụ văn hóa. Khuyến khích giới trẻ thực thi văn hóa ứng xử, quy tắc ứng xử trên môi trường mạng.

CẦN NGHIÊM TRỊ NHỮNG KẺ LÀM MÉO MÓ CHỦ TRƯƠNG NHÂN ĐẠO

Những tháng đầu năm 2020, đại dịch COVID-19 có quy mô trên toàn cầu, hàng trăm ngàn người Việt đang ở nước ngoài bị kẹt lại, nhiều hoàn cảnh hết sức khó khăn... Trước trực trạng đó, thể hiện sự nhân đạo của Nhà nước, đã có những chuyến bay mang tên “giải cứu” nhằm đưa những người có hoàn cảnh nói trên về nước một cách an toàn.

Việc tổ chức chuyến bay cứu hộ này vừa đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người lao động, vừa thể hiện tính nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm tới công dân Việt Nam ở nước ngoài. Đây là sự cố gắng, nỗ lực của cả dân tộc, được thế giới công nhận là “hình mẫu” nhân văn, nhân ái, thể hiện bản chất chế độ xã hội mà không phải quốc gia nào trên thế giới cũng có thể làm được trong bối cảnh đại dịch COVID-19. Tuy nhiên, từ chính chính sách tốt đẹp, mang ý nghĩa nhân đạo, nhân văn đó, lại xuất hiện nhiều cán bộ, đảng viên - những người mang trong mình trọng trách là “công bộc của dân” đã móc ngoặc với nhau để tư lợi cá nhân. Chính vì thế mà, có những người dân mặc dù đủ điều kiện để được về nước trên chuyến bay “giải cứu” thì vẫn mất rất nhiều tiền; có người phải bỏ ra chi phí từ 4.000 - 5000 Euro...

Nhìn vào diễn biến của những chuyến bay mang tên giải cứu với mức giá “trên trời”, nhiều người không khỏi ngỡ ngàng. Liên quan đến vụ việc này, người phát ngôn Bộ Công an - Trung tướng Tô Ân Xô từng cho biết, có gần 2.000 "chuyến bay giải cứu" người Việt từ nước ngoài về trong các đợt COVID-19. Mỗi chuyến bay sau khi trừ chi phí, lợi nhuận vài tỷ đồng. Nhiều người có suy nghĩ cho rằng, đây chẳng khác nào một “Việt Á mang tầm quốc tế”.

Và từ những sai xót này, tính đến ngày 28/9/2022 cơ quan điều tra đã khởi tố bị can, bắt tạm giam 19 người, trong đó có nhiều cán bộ lãnh đạo tại Văn phòng Chính phủ, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Y tế, Bộ Giao thông vận tải… và chắc hẳn, 19 người chưa phải là con số cuối cùng.

Các cán bộ, quan chức bị bắt trong vụ án này đều là những người có trình độ, học thức cao, nhiều người là lãnh đạo, hiểu biết pháp luật nhưng vẫn vi phạm. Điều đó là do họ thiếu bản lĩnh chính trị, không “chiến thắng” được những cám dỗ của tiền tài, vật chất, dẫn đến bị tha hóa, lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật.

Qua đó cho thấy, để giữ được sự liêm chính, trong sạch thì đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn có tư tưởng và bản lĩnh vững vàng, tự “chiến đấu” với chính mình, không để “thất thủ” trước những cám dỗ của tiền tài, vật chất và quyền lực. Đồng thời, các cơ quan chức năng cũng cần tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa công cuộc phòng, chống tham nhũng, đấu tranh không khoan nhượng, phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh những hành vi tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm cũng như có những sự đột phá trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật, tạo ra những cơ sở cần thiết, tạo ra những “hàng rào” vững chãi trong phòng, chống tham nhũng, thực hiện được mục tiêu “không thể tham nhũng”, “không dám tham nhũng” và “không cần tham nhũng”.

CƠN BÃO ĐI QUA, GIỜ LÀ LÚC CHÚNG TA CẦN CHUNG TAY HỖ TRỢ ĐỒNG BÀO MIỀN TRUNG KHẮC PHỤC HẬU QUẢ.

 Mới đây, 1 đoạn clip ghi lại khung cảnh hoang tàn, sơ xác sau khi cơn bão đi qua. Bà cụ, chủ nhân căn nhà không kìm được nước mắt khi thấy căn nhà - thành quả của cả 1 đời người dầy công xây dựng bị cơn bão khủng khiếp tàn phá nặng nề. Mái nhà bị cuốn, tường đổ sập, đồ dùng, vật dụng trong nhà nằm lăn lóc. Nhìn cảnh tượng này, thật không kìm nổi nước mắt...

Cơn bão đã đi qua, giờ chính là lúc chúng ta chung tay cùng đồng bào miền Trung khắc phục hậu quả. Có của dùng của, hoặc chí ít thì những lời an ủi, động viên cũng rất cần thiết trong những lúc thế này

Miền Trung sau bão số 4: Nhiều nơi ngập sâu, hàng ngàn người đang bị cô lập.

Nhiều công trình, nhà dân bị ngã đổ, tốc mái; Đường sá ngổn ngang, nước ngập sâu... sau khi bão Noru (bão số 4) ập vào miền Trung. Hiện lực lượng chức năng và người dân đang xắn tay khắc phục hậu quả bão, cũng như đề phòng nguy cơ do mưa lớn.

Từ ngày 28-9 đến ngày 29-9 khu vực Bắc Trung Bộ, có mưa vừa, mưa to với lượng mưa phổ biến từ 100-250mm/đợt, có nơi trên 300mm/đợt; vùng ven biển, đồng bằng Bắc Bộ và Hòa Bình lượng mưa phổ biến từ 70-150mm/đợt, có nơi trên 180mm/đợt. Đề phòng nguy cơ xảy ra lũ quét trượt lở đất ở vùng núi, ngập úng tại vùng thấp...


NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI VÀ VÔ CĂN CỨ XUNG QUANH LUẬT ĐẤT ĐAI SỬA ĐỔI

 Nhà nước Việt Nam với tư cách đại diện chủ sở hữu đất đai, thực hiện mục tiêu bảo đảm đất đai được sử dụng hiệu quả, đúng mục đích, quy hoạch, kế hoạch, tiến độ… để phục vụ tối đa cho lợi ích của mọi người dân, mọi giai tầng trong xã hội. Do đó những dự án vi phạm pháp luật về đất đai, đặc biệt là liên quan đến các dự án chậm tiến độ, gia hạn nhiều lần, quy hoạch treo đều kiên quyết bị xử lý và thu hồi đất theo quy định của pháp luật.

Tại Ðiều 64 về Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai trong Luật Ðất đai năm 2013 quy định rõ các trường hợp thu hồi đất đai vi phạm pháp luật về đất đai. Nội dung này tiếp tục được tái khẳng định tại khoản i, Ðiều 72 trong Dự thảo Luật Ðất đai (sửa đổi) năm 2022: "Ðất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư mà không đưa đất vào sử dụng, chậm tiến độ sử dụng đất theo tiến độ ghi trong dự án đầu tư thì chủ đầu tư phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án đầu tư và tiền thuế tăng thêm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Ðiều 126 của Luật này. Trường hợp chậm tiến độ quá 48 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư mà chủ đầu tư chưa hoàn thành dự án đưa vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng".

Không chỉ được ghi nhận trong luật, trên thực tế các cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ Trung ương đến địa phương đã và đang kiên quyết tiến hành xử lý, thu hồi đất các dự án chậm tiến độ, gia hạn nhiều lần, quy hoạch treo gây lãng phí tài nguyên đất đai, làm giảm hiệu quả đầu tư, thất thu ngân sách, gây ra sự xáo trộn, bất ổn trong sản xuất và đời sống của nhân dân, gây bức xúc trong dư luận, cản trở quá trình xây dựng, phát triển đất nước. Theo số liệu thống kê cho thấy, trên phạm vi cả nước tính từ năm 2018 đến nay, các cơ quan chức năng đã thu hồi hoặc hủy bỏ 336/575 dự án, công trình không đưa đất vào sử dụng hoặc chậm tiến độ sử dụng với tổng diện tích hơn 99 nghìn ha; 22 tỉnh, thành phố có dự án thu hồi hoặc hủy bỏ.

Việc chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương mạnh tay thu hồi đất các dự án chậm tiến độ, kiên quyết xử lý các dự án gia hạn nhiều lần, dự án treo ở cả khu vực đầu tư công và khu vực tư, không có vùng cấm, không có ngoại lệ là một trong những minh chứng rõ nét nhất để khẳng định Nhà nước Việt Nam thực sự là chủ đại diện sở hữu đất đai xứng đáng của nhân dân Việt Nam. Nhà nước chỉ thay mặt nhân dân kiểm soát, xử lý và điều tiết các quan hệ đất đai, bảo đảm mọi người dân, mọi cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp được hưởng lợi tối đa từ nguồn tài nguyên đặc biệt này một cách công bằng, theo đúng quy định của pháp luật.

Bất chấp thực tế đó, liên quan đến vấn đề đang thu hút sự quan tâm của dư luận về Dự thảo Luật Ðất đai (sửa đổi) năm 2022, các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền những luận điệu xuyên tạc cho rằng "Nhà nước Việt Nam tiến hành sửa đổi Luật Ðất đai là để thao túng thị trường đất đai nhằm mang lại lợi ích cho nhóm này hay nhóm khác trong xã hội chứ không phải vì lợi ích chung của người dân". Tuy nhiên, đây đều là những luận điệu hoàn toàn sai trái và vô căn cứ bởi chính từ việc sửa đổi, bổ sung nhiều quy định liên quan đến quản lý, sử dụng đất đai trong Dự thảo Luật Ðất đai (sửa đổi) năm 2022 so với Luật Ðất đai năm 2013 mà trường hợp cụ thể ở đây là bổ sung, sửa đổi các quy định về xử lý, thu hồi đất từ các dự án chậm tiến độ, gia hạn nhiều lần.

Nếu ở Luật Ðất đai năm 2013, các dự án chậm tiến độ 24 tháng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng tiếp 24 tháng nữa và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này thì ở Dự thảo Luật Ðất đai (sửa đổi) năm 2022 quy định, các dự án đầu tư mà không đưa đất vào sử dụng, chậm tiến độ sử dụng đất theo tiến độ ghi trong dự án đầu tư thì chủ đầu tư phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án đầu tư. Như vậy chủ đầu tư dự án phải nộp tiền luôn tính từ thời điểm chậm tiến độ ghi trong dự án chứ không phải trong thời gian gia hạn sau 24 tháng. Dự thảo Luật Ðất đai (sửa đổi) năm 2022 còn bổ sung quy định: các dự án chậm tiến độ phải nộp thêm tiền thuế tăng thêm theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Ðiều 126 của Dự thảo này bên cạnh việc nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án đầu tư như ở Luật Ðất đai năm 2013.

Dự thảo Luật Ðất đai (sửa đổi) năm 2022 cũng quy định rõ thời gian các dự án đầu tư mà chủ đầu tư chưa hoàn thành dự án đưa vào sử dụng bị Nhà nước thu hồi đất là chậm tiến độ quá 48 tháng. Từ đây cho thấy việc bổ sung, sửa đổi này là nhằm mục đích điều chỉnh những quy định pháp luật về các quan hệ đất đai tại Luật Ðất đai năm 2013 đã không còn phù hợp với tình hình thực tế, đồng thời cụ thể hóa những quy định đã có để hạn chế tối đa tình trạng hiểu sai luật hoặc tìm cách lách luật,… nhằm góp phần sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực về đất đai phục vụ cho công cuộc xây dựng, phát triển đất nước vì lợi ích chung của người dân.

Mặc dù đạt được nhiều kết quả to lớn trong công tác quản lý đất đai, nhưng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng số lượng các dự án chậm tiến độ, gia hạn nhiều lần, dự án treo tại một số địa phương trên địa bàn cả nước vẫn còn lớn, chậm được xử lý, khắc phục.

Do đó, trong thời gian tới, cùng với việc tiếp tục bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện các quy định liên quan đến việc xử lý, thu hồi đất dự án chậm tiến độ, gia hạn nhiều lần, dự án treo, cũng cần phải đề xuất và triển khai thực hiện đồng bộ hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác xử lý, thu hồi đất dự án chậm tiến độ, gia hạn nhiều lần, dự án treo, góp phần giải phóng nguồn lực đất đai và để đất đai được sử dụng một cách thực sự hiệu quả, mang lại lợi ích chung cho tất cả mọi người dân, mọi cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp một cách chính đáng và hợp pháp. Ðể làm được điều này cần có sự vào cuộc quyết liệt hơn nữa của chính quyền các cấp cũng như các cơ quan chức năng có liên quan.

XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ THẬT SỰ TIÊN PHONG, GƯƠNG MẪU

 Một trong những phương thức lãnh đạo của Đảng là bằng công tác cán bộ, thông qua việc phát hiện, bồi dưỡng, lựa chọn đảng viên ưu tú giới thiệu vào những vị trí lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Để nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, những năm qua, các cấp ủy, tổ chức đảng có nhiều giải pháp tăng chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là chú trọng thực hiện nêu gương của cấp ủy và người đứng đầu.

Những nhiệm kỳ gần đây, Đảng ta đặc biệt quan tâm công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong đó có xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với nhân dân.

Trung ương đã ban hành nhiều quy định về nêu gương, như:

Quy định số 101-QĐ/TW ngày 7/6/2012 của Ban Bí thư về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; Quy định số 55-QĐ/TW ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên; Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương.

Thực hiện các quy định này gắn với Chỉ thị số 05-CT/TW về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhiều ngành, địa phương đã có bước chuyển biến rõ nét trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị, nhất là những nhiệm vụ trọng tâm, khâu đột phá được chỉ đạo, điều hành rốt ráo, có hiệu quả, góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân.

Nêu gương từ sự năng động, việc đột phá

Khi trao đổi về hiệu quả đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng thể hiện qua kết quả phát triển kinh tế-xã hội của các địa phương, nhiều đồng chí cán bộ nhắc đến một hiện tượng của ngành nông nghiệp cả nước là tỉnh Sơn La. Từ một tỉnh nghèo với mức thu nhập bình quân đầu người năm 2008 là 13 triệu đồng/năm, đến năm 2021 đạt hơn 45,2 triệu đồng/năm.

9 tháng đầu năm 2022, tăng trưởng GRDP của tỉnh ước đạt 8,3%, là mức cao của các tỉnh vùng Tây Bắc. Đó là thành quả của quá trình chuyển đổi từ tư duy đến hành động của cấp ủy, chính quyền và bà con các dân tộc trong tỉnh.

Nhìn lại thời điểm năm 2015, toàn tỉnh Sơn La chỉ có một xã là Chiềng Xôm đạt chuẩn nông thôn mới. Tháng 9/2015, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015-2020 đề ra 7 chương trình trọng tâm, trong đó có 3 chương trình liên quan đến nông nghiệp và nhấn mạnh chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Tháng 4/2016, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra kết luận về hướng phát triển cây ăn quả trên đất dốc, trọng tâm là ứng dụng công nghệ cao (Sơn La có khoảng 1 triệu héc-ta đất nông nghiệp và đất rừng sản xuất thì hơn 90% diện tích là đất dốc). Có nhiều ý kiến băn khoăn bởi ứng dụng công nghệ cao tức là cần có hệ thống nhà kính, nhà lưới..., trong khi điều kiện thực tế ở địa phương còn nhiều khó khăn.

Sau khi nghiên cứu, Ban Thường vụ Tỉnh ủy vẫn chủ trương ứng dụng công nghệ cao nhưng ở mức độ phù hợp và quyết định chọn mô hình ghép mắt cải tạo cây của Học viện Nông nghiệp là một thành tựu khoa học kỹ thuật để đột phá trong lĩnh vực nông nghiệp. Cả hệ thống chính trị vào cuộc vận động nhân dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng.

HĐND tỉnh ban hành nghị quyết về chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản, thực phẩm an toàn. Tiếp đó, tỉnh hỗ trợ tiêu thụ nông sản qua việc phát triển các hợp tác xã, kêu gọi doanh nghiệp đầu tư cơ sở chế biến, công nghệ sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, tìm kiếm thị trường...

Chủ trương phát triển nông nghiệp đúng đắn, cùng tư duy đột phá, hành động quyết liệt của cấp ủy và người đứng đầu đã tạo ra sự bứt phá ngoạn mục của Sơn La. Kết thúc nhiệm kỳ 2015-2020, tỉnh có 44 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đời sống của nhân dân được nâng lên đáng kể.

Nhiệm kỳ 2020-2025, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đặt mục tiêu đưa nông nghiệp của Sơn La tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, trong đó chú trọng nông nghiệp hữu cơ. Trong thực tế, Sơn La đã trở thành trung tâm sản xuất, chế biến rau, quả lớn nhất vùng Tây Bắc.

Đối với tỉnh Bạc Liêu, Chỉ thị số 12-CT/TU ngày 12/3/2018 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; chấn chỉnh lề lối, tác phong làm việc; nâng cao trách nhiệm trong thực thi công vụ của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang trên địa bàn tỉnh được coi là quyết sách có tính đột phá của cấp ủy.

Chỉ thị được ban hành nhằm khắc phục tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên ý thức tổ chức kỷ luật kém; chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị, kỷ cương, kỷ luật hành chính, kỷ luật phát ngôn chưa nghiêm; tình trạng quan liêu, cửa quyền, gây phiền hà trong giải quyết công việc và cung cấp dịch vụ công...

Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu từng cấp, ngành, từng cán bộ, đảng viên phải đăng ký công việc cụ thể, chọn những việc trọng tâm để tập trung giải quyết, nhất là những vấn đề bức xúc tại địa phương, đơn vị mình.

Người đứng đầu cấp ủy, thủ trưởng cơ quan, đơn vị nêu cao tính tiên phong, gương mẫu; khẩn trương khắc phục những yếu kém, hạn chế để tạo sự chuyển biến tích cực trong chỉ đạo, điều hành; chấn chỉnh, xử lý kịp thời những hành vi thiếu trách nhiệm, trì trệ trong thực thi nhiệm vụ, quan liêu, nhũng nhiễu, tiêu cực, gây ảnh hưởng đến uy tín, hình ảnh và môi trường đầu tư của tỉnh...

Chỉ thị được quán triệt, lan tỏa mạnh mẽ trên toàn địa bàn và nhanh chóng tạo chuyển biến rõ nét về kỷ cương hành chính, lề lối làm việc của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức.

Kết quả thực hiện chỉ thị đã góp phần quan trọng tạo nên những thành tựu kinh tế-xã hội trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu. Không chỉ hoàn thành đạt và vượt các chỉ tiêu kinh tế-xã hội, mà nhiều dự án động lực, dự án hạ tầng kinh tế-xã hội thiết yếu được triển khai thực hiện, thúc đẩy kinh tế của tỉnh phát triển.

Hiện nay, tỉnh ngày càng thu hút sự quan tâm, chú ý của các doanh nghiệp, nhà đầu tư trong và ngoài nước, tạo ra tiền đề, động lực quan trọng để phát huy thế mạnh đưa địa phương phát triển nhanh, bền vững. Năm 2022, Bạc Liêu có 152 dự án mời gọi đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, thương mại-nhà ở, văn hóa-thể thao-du lịch, kết cấu hạ tầng, y tế-giáo dục và môi trường.

Sâu sát thực tiễn, nói đi đôi với làm

Sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên không chỉ là trách nhiệm của đảng viên, mà chính là một trong những phương thức lãnh đạo quan trọng của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh:

Mỗi cán bộ, đảng viên cần nghiêm túc thực hiện trách nhiệm nêu gương; người có chức vụ càng cao, cương vị càng lớn càng phải gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác để quần chúng, nhân dân noi theo.

Khảo sát thực tế tại nhiều địa phương thấy rõ, nơi nào cấp ủy, người đứng đầu nêu cao tinh thần trách nhiệm, chủ động và quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo và tiên phong, gương mẫu, nói đi đôi với làm thì nơi đó việc thực hiện nêu gương đi vào thực chất, hiệu quả. Từ các quy định của Trung ương, nhiều địa phương đã cụ thể hóa các nội dung phù hợp tình hình thực tế để lan tỏa mạnh mẽ trách nhiệm nêu gương.

Tỉnh ủy Sóc Trăng, Tỉnh ủy Quảng Bình có quy định về xử lý trách nhiệm người đứng đầu, cấp phó người đứng đầu cơ quan, đơn vị thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ. Tỉnh ủy Hậu Giang yêu cầu nêu gương trong xây dựng mối quan hệ và phong cách tiếp xúc với nhân dân. Tỉnh ủy Quảng Trị chỉ đạo các cấp ủy viên cam kết thực hiện các công việc trọng tâm trong năm...

Thái Nguyên xác định chuyển đổi số là giải pháp để phát triển đột phá, phấn đấu đạt mục tiêu trở thành một trong những trung tâm kinh tế công nghiệp hiện đại của khu vực trung du, miền núi phía bắc và Vùng Thủ đô Hà Nội vào năm 2030.

Tuy nhiên, chuyển đổi số ở tỉnh đặt ra nhiều thách thức, nhất là ở các vùng khó khăn, miền núi, vùng cao. Với sự quyết tâm nói được làm được, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày 31/12/2020 về Chương trình chuyển đổi số tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 và lấy ngày 31/12 hằng năm là Ngày Chuyển đổi số của tỉnh.

Thái Nguyên là tỉnh đầu tiên trong cả nước có nghị quyết chuyên đề này. Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy yêu cầu người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp chịu trách nhiệm trực tiếp về chuyển đổi số trong cơ quan, đơn vị, lĩnh vực, địa bàn phụ trách và phải tiên phong ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao năng lực lãnh đạo, điều hành. Tiếp đó, tỉnh xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy chuyển đổi số; đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực phục vụ chuyển đổi số, xây dựng cơ sở hạ tầng số...

Điều đáng nói, thay vì tập trung vào những nơi có lợi thế trước, tỉnh quan tâm những vùng khó khăn nhằm thu hẹp khoảng cách về điều kiện tiếp cận và thực hiện chuyển đổi số.

Võ Nhai là huyện vùng cao khó khăn nhất của tỉnh. Thế nhưng xã Sảng Mộc-xã vùng sâu khó khăn nhất huyện đã được tỉnh chọn thí điểm thực hiện chuyển đổi số, xây dựng xã thông minh. Thời điểm đó, Sảng Mộc chưa đạt xã nông thôn mới, hầu hết là đồng bào dân tộc thiểu số, tỷ lệ hộ nghèo hơn 20%, nhiều khu vực trong xã chưa có sóng di động 3G, 4G...

Hiện nay, xã đã áp dụng hệ thống phần mềm một cửa điện tử tiếp nhận và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính; cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 với 5 thủ tục và mức độ 4 với 46 thủ tục; khởi tạo 100% email công vụ cho cán bộ, công chức, viên chức cấp xã sử dụng thường xuyên. Nhiều người dân đã có thể sử dụng tiện ích trên điện thoại thông minh như xin cấp giấy khai sinh bản sao mà không cần phải đến UBND xã.

Trạm Y tế xã vận hành hệ thống TeleHealth, kết nối tư vấn khám, chữa bệnh từ xa với Bệnh viện A (thành phố Thái Nguyên). Người dân nơi đây đã được thụ hưởng kết quả từ hành động nêu gương là sự kiên quyết nói đi đôi với làm của cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu bằng hành động cụ thể, gắn với chức trách, nhiệm vụ được giao của từng cán bộ, đảng viên.

Chú trọng đào tạo cán bộ qua công việc

Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị. Đổi mới công tác cán bộ là một nội dung quan trọng trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, có mối quan hệ mật thiết với các nội dung đổi mới khác. Cùng với việc ban hành nhiều quy định liên quan đến công tác đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch và sử dụng cán bộ, cấp ủy đảng các cấp chú trọng việc đào tạo cán bộ qua hoạt động thực tiễn.

Những năm qua, công tác luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý và bố trí lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương được đẩy mạnh thực hiện trong cả nước. Theo Ban Tổ chức Trung ương, đối với đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, công tác luân chuyển cán bộ lại càng có vai trò quan trọng, xuất phát từ chính vị trí, vai trò của đội ngũ này trong thực tiễn.

Sau gần 5 năm thực hiện Quy định số 98-QĐ/TW ngày 7/10/2017 của Bộ Chính trị về luân chuyển cán bộ, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã luân chuyển 36 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý; trong đó có 14 đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng (cả chính thức và dự khuyết) giữ chức bí thư tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương; 22 cán bộ giữ chức phó bí thư tỉnh ủy, thành ủy, chủ tịch, phó chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Nhiều cán bộ sau thời gian luân chuyển đã có sự trưởng thành toàn diện hơn, góp phần cụ thể vào kết quả, thành tích chung của địa phương, cơ quan, đơn vị.

Quảng Ninh là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về tỷ lệ bí thư cấp ủy cấp huyện, xã không phải người địa phương. Nhiệm kỳ 2015-2020, Tỉnh ủy đẩy mạnh công tác điều động, luân chuyển cán bộ gắn với chủ trương người đứng đầu cấp ủy không phải là người địa phương.

Hiện nay, sau sắp xếp, luân chuyển, Quảng Ninh đang thực hiện 100% bí thư cấp huyện và 85% bí thư cấp xã không là người địa phương; trong đó nhiều đồng chí là cán bộ trẻ từ cấp tỉnh được luân chuyển về giữ một số vị trí chủ chốt ở cấp huyện.

Qua khảo sát thực tiễn cho thấy các cán bộ luân chuyển về địa phương đã phát huy năng lực, tâm huyết, tạo dấu ấn trong phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đánh giá cao. Luân chuyển cán bộ còn góp phần khắc phục tình trạng cục bộ, khép kín trong từng địa phương, đơn vị; tránh được tình trạng “một người làm quan, cả họ được nhờ”, quan hệ thân quen; chống chạy chức, chạy quyền; tránh được bè phái, tham nhũng đối với cán bộ làm việc ở những vị trí, ngành nghề, địa bàn mang tính nhạy cảm.

Nhiều cán bộ sau thời gian luân chuyển đã có sự trưởng thành toàn diện hơn, góp phần cụ thể vào kết quả, thành tích chung của địa phương, cơ quan, đơn vị.

Tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, trước hết là của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp là yêu cầu cấp thiết trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, thể hiện rõ nét từ những công việc hằng ngày, trong đó người đứng đầu cấp ủy phải trở thành tấm gương về thực thi nhiệm vụ. Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn còn tình trạng cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái.

Theo thống kê của Ban Tổ chức Trung ương giai đoạn 2016-2020, có 15.101 đảng viên có biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống bị xử lý kỷ luật. Tại một số địa phương, việc thực hiện các quy định nêu gương chưa đi vào chiều sâu, chưa tạo được sức lan tỏa trong cán bộ, đảng viên. Vẫn còn tư tưởng cho rằng nêu gương chỉ là trách nhiệm của cán bộ, đảng viên có chức vụ dẫn đến thực hành dân chủ, tự phê bình và phê bình còn nặng tính hình thức, chưa thực sự phát huy hết vai trò, trách nhiệm nêu gương.

Chủ trương, nghị quyết của Đảng là đúng đắn, nhưng nếu các cấp ủy, tổ chức đảng không nắm vững, hiểu sâu, không có ý thức trách nhiệm cao, nhất là thiếu tính tiên phong, gương mẫu trong tổ chức thực hiện thì nghị quyết sẽ chỉ nằm nguyên trên giấy. Tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, trước hết là cấp ủy viên, người đứng đầu đơn vị, tổ chức chính là tiêu chí đánh giá năng lực tổ chức thực hiện nghị quyết, yếu tố quan trọng góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.


HỌC NGHỊ QUYẾT, PHẢI HỌC THẬT

 Không khó để bắt gặp những câu chuyện đáng trách, đáng buồn nhưng ít người dám lên tiếng phản ánh, đấu tranh. Ví như khi nhận kế hoạch học tập nghị quyết, không ít cán bộ thở dài, tỏ ra mệt mỏi “khổ nhỉ, lại học nghị quyết!”.

Tại các buổi quán triệt tập trung, vài cá nhân hồn nhiên “đi ra, đi vào”, “nghịch” điện thoại, ngủ gật; lại có cán bộ dự một lúc, rồi viện lý do “chính đáng” để về trước... Đặc biệt, khi tiến hành kiểm tra kết quả học tập nghị quyết, vẫn có cán bộ, đảng viên chủ ý cậy nhờ đồng chí, đồng nghiệp chép hộ thu hoạch...

Những câu chuyện trên cho thấy, hiện nay, nhiều cán bộ, đảng viên chưa xác định rõ trách nhiệm học tập nghị quyết. Ở nhiều nơi, cán bộ quen cách nghĩ “học xong là xong”... mà chẳng buồn bàn thảo, tư duy về giá trị, tinh thần hay nội dung nghị quyết cần vận dụng vào tổ chức mình, bản thân mình trong thời gian tiếp theo. Đây thực sự là một thực tế đáng báo động!

Sự nguy hại nằm ở chỗ, Đảng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng và toàn xã hội bằng nghị quyết. Ấy vậy mà việc học nghị quyết lại bị xem nhẹ, hời hợt, hình thức... thì tinh thần, nội dung nghị quyết liệu có thấm, ngấm vào cán bộ, có đi vào thực tiễn? Hay nghị quyết một đằng triển khai một nẻo? Nghị quyết đúng, triển khai sai?

Nguyên nhân của thực trạng trên được ngụy biện rằng, học nghị quyết vốn là nội dung “khô, khó, khổ”; trong khi có quá nhiều nghị quyết phải học tập và việc cân đối thời gian giữa họp hành, công tác với học nghị quyết thường chồng lấn, gây khó cho cán bộ, đảng viên.

Thực chất, đó là những lời chống chế. Học tập nghị quyết là một chế độ bắt buộc đối với cán bộ, đảng viên. Điều đáng bàn là cách thức tổ chức vẫn chưa được đổi mới căn bản mà chỉ theo lối cũ; các chế tài, quy định trong tổ chức học tập nghị quyết thiếu toàn diện, chưa tròn khâu. Gần như ở nhiều nơi, sau học tập thì đương nhiên kết quả là 100% khá, giỏi mà “bỏ quên” cả tính thực chất, khách quan trong đánh giá, kiểm tra. Hơn thế, cũng ít thấy tổ chức đảng mạnh tay xử lý cán bộ, đảng viên vì rơi vào các biểu hiện xem nhẹ, lười học, vi phạm quy chế hoặc kết quả học tập thấp kém. Mặt khác, kết quả học tập nghị quyết cũng chưa “hiện thực hóa” như một tiêu chí, căn cứ xem xét, đánh giá cán bộ, đảng viên theo quy định của cơ quan chức năng.

“Lười học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng...” chính là một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị được Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng xác định. Theo đó, một khi cán bộ, đảng viên rơi vào biểu hiện suy thoái này thì phải có cơ chế, chế tài xử lý nghiêm túc, triệt để, không có vùng cấm theo kỷ luật Đảng. Phải xem biểu hiện suy thoái này là mối nguy hại đặc biệt, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả, hiệu lực lãnh đạo của Đảng.

Nhiều ý kiến cho rằng, đã là học tập nghị quyết thì cần phải bảo đảm các khâu, các bước, các nhân tố của quá trình “dạy” và “học”. Theo đó, người quán triệt, báo cáo chuyên đề nghị quyết cần được lựa chọn kỹ lưỡng-phải là cán bộ thực sự có trình độ, năng lực, uy tín và hiểu sâu sắc về nghị quyết. Nội dung học tập cũng được lựa chọn, khu biệt hoặc lược hóa những vấn đề cần thiết, sát với nhiệm vụ từng cơ quan, địa phương, đối tượng. Phương pháp, hình thức cần được đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực của đối tượng; chủ yếu trang bị các vấn đề cơ bản và định hướng nghiên cứu tiếp theo...

Đặc biệt, công tác tổ chức kiểm tra, đánh giá chất lượng tổ chức học tập nghị quyết phải được xem là khâu quan trọng. Không nên đơn thuần phân cấp tổ chức học tập mà cần có sự đan chéo kiểm tra theo cả chiều dọc lẫn chiều ngang; kết hợp với việc tổng kết, đúc rút mô hình tổ chức học tập nghị quyết hiệu quả để nhân rộng, phổ biến kinh nghiệm. Kết quả học tập nghị quyết không nên gò ép, giao khoán chỉ tiêu một cách xơ cứng mà cần bám sát thực tế, đánh giá nghiêm túc, thực chất thì mới nêu cao tinh thần, trách nhiệm của đối tượng.

Để giải quyết thấu đáo những phần việc nêu trên, rất cần sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cơ quan chức năng Trung ương và hệ thống tổ chức đảng các cấp. Có như vậy thì nghị quyết mới sớm đi vào cuộc sống, mà trước hết là đi vào khối óc, tâm huyết, trí tuệ của đội ngũ cán bộ, đảng viên-những người gánh sứ mệnh lãnh đạo, tổ chức thực hiện nghị quyết.

NHẬN DIỆN HOẠT ĐỘNG LỢI DỤNG TÔN GIÁO ĐỂ TUYÊN TRUYỀN CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

 Tôn giáo là lĩnh vực nhạy cảm, luôn thu hút sự chú ý của dư luận trong nước và quốc tế; là một phần của chiến lược “diễn biến hoà bình” mà các tổ chức, cá nhân thù địch, thiếu thiện chí với Việt Nam thường sử dụng nhằm kích động xu hướng chia rẽ, ly khai, từ đó phát triển thành các cuộc tuần hành, biểu tình, gây rối an ninh, trật tự, tạo sự bất ổn định về chính trị - xã hội... Đây cũng là cái cớ để họ công khai can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đáng chú ý hiện nay, ngoài những hoạt động chống phá mang tính quy luật thì một trong những thủ đoạn mà số đối tượng chống đối cực đoan ở trong và ngoài nước thường tiến hành là tìm mọi cách lợi dụng vấn đề tôn giáo ở vùng dân tộc thiểu số...

Thực tế cho thấy, tại các khu vực trọng yếu của đất nước như miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, các thế lực chống phá cực đoan ở trong và ngoài nước đã lợi dụng vấn đề dân tộc gắn với vấn đề tôn giáo để kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, xúi giục người dân di cư tự do, biểu tình, bạo loạn gây mất ổn định chính trị nhằm tạo cớ can thiệp, phá hoại độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.

Ở vùng Tây Nguyên trước đây, các đối tượng chống đối, cực đoan trong dân tộc cũng từng đòi thành lập đạo Tin lành Đề ga của đồng bào dân tộc bản địa để mưu đồ lập ra cái gọi là Nhà nước Đề ga độc lập...

Ở Tây Nam Bộ, nơi có đông đồng bào Khmer sinh sống, chúng cũng dựng nên cái gọi là “Nhà nước Khmer Krôm” với luận điệu vu khống Nhà nước ta đàn áp sư sãi Phật giáo Nam tông Khmer Nam Bộ...

Địa bàn Tây Bắc, trong đó tập trung ở các tỉnh như Điện Biên, Lai Châu… Dưới sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch, các đối tượng chống đối trong nước ráo riết thực hiện mưu đồ lập ra tôn giáo riêng ở đồng bào dân tộc như lập ra “đạo Vàng Chứ” để qua đó lôi kéo, tập hợp lực lượng thành lập cái gọi là “Vương quốc Mông tự trị”... Các hiện tượng tôn giáo mới, tà đạo như Giê Sùa, Bà Cô Dợ, Hội thánh Đức Chúa trời, Sề Chu Hà Ly Cha và một số hiện tượng tôn giáo liên quan đến tục lễ thờ cúng các anh hùng liệt sĩ, người có công với cách mạng để tiến hành các hoạt động gây rối an ninh, trật tự. Thực tế, Giê Sùa, Bà Cô Dợ đều là tà đạo lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để tập hợp phát triển lực lượng lập “Nhà nước Mông”...

Bên cạnh đó, thời gian qua, tại một số địa phương xuất hiện những mặt hạn chế, yếu kém trong quản lý, điều hành xã hội như vấn đề đầu tư, ô nhiễm môi trường, giải phóng mặt bằng, đền bù giải tỏa… Triệt để lợi dụng vấn đề này, các đối tượng chống đối cực đoan trong tôn giáo tìm mọi cách để ngụy tạo chứng cứ, thường xuyên tuyên truyền, xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín và vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp và các ban, ngành chức năng có liên quan; chia rẽ nhân dân với các cấp uỷ đảng, chính quyền, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cao hơn nữa có thể kích động quần chúng tín đồ tụ tập đông người, gây rối an ninh, trật tự hoặc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, chống phá chế độ...

Hiện nay, thủ đoạn lợi dụng chống phá của các đối tượng ngày càng tinh vi, xảo quyệt, lại được che đậy bởi vỏ bọc tôn giáo nên người dân khó phát hiện. Tính chất nguy hiểm ngày càng cao khi thủ đoạn này đã tác động trực tiếp đến nhận thức, tư tưởng của đồng bào theo đạo... Do đó, mọi chức sắc, tín đồ tôn giáo nói riêng và mỗi người dân Việt Nam nói chung hãy luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động lên án những mưu đồ xấu của kẻ địch. Đồng thời, tích cực tham gia đấu tranh, đẩy lùi việc lợi dụng vấn đề chính trị để chống phá ra khỏi đời sống tôn giáo, góp phần làm cho các hoạt động tôn giáo trở nên thuần khiết, tốt đẹp như bản chất vốn có.