Thứ Hai, 10 tháng 10, 2022

 NÊU CAO TÍNH TỰ GIÁC TU DƯỠNG, RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CỦA CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ

 

Trong điều kiện Đảng duy nhất cầm quyền, nâng cao tính tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý có vai trò rất quan trọng đối với uy tín, năng lực của mỗi cán bộ, đối với sức mạnh của các cấp ủy, chính quyền; góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, giữ vững vị thế cầm quyền của Đảng trong toàn bộ tiến trình lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. 

YÊU CẦU, NHIỆM VỤ VÀ TRÁCH NHIỆM TRƯỚC ĐẢNG, TRƯỚC NHÂN DÂN

Một là, tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức là yêu cầu, nhiệm vụ và trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân của cán bộ lãnh đạo, quản lý

Lý luận và thực tiễn đã khẳng định tu dưỡng, rèn luyện đạo đức là một biện pháp có ý nghĩa quan trọng để giữ vững tư cách của người cách mạng. Sinh thời, V.I.Lênin đã chỉ rõ, đảng cộng sản chỉ “thực sự là đội tiên phong của giai cấp công nhân cách mạng, nếu nó bao gồm những đại biểu ưu tú nhất của giai cấp đó, nếu nó gồm tất cả những chiến sĩ cộng sản hoàn toàn có ý thức và trung thành, có học vấn và được tôi luyện bằng kinh nghiệm đấu tranh cách mạng bền bỉ, nếu nó biết gắn liền với toàn bộ cuộc sống của giai cấp mình và thông qua giai cấp đó, gắn liền với tất cả quần chúng bị bóc lột, và biết làm cho giai cấp và quần chúng đó tin tưởng hoàn toàn vào mình”(1).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở cán bộ lãnh đạo, quản lý: “Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư””(2). Mỗi cán bộ, đảng viên, dù ở vị trí công tác nào cũng phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện để giữ vững phẩm chất đạo đức của người cách mạng. Thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức sẽ dễ dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng, không có đạo đức cách mạng thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(3). Vì vậy, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý để giữ gốc của người cách mạng, phải thực hành mọi lúc, mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh.

Được Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng, trao những nhiệm vụ quan trọng, mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý phải xác định đó vừa là niềm vinh dự, vừa là trách nhiệm cao cả. Từng cán bộ lãnh đạo, quản lý phải thực hiện tốt trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân. Đó là trách nhiệm phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống của bản thân và kiểm soát cấp dưới tu dưỡng, rèn luyện, chống mọi biểu hiện lợi dụng quyền lực để gây áp lực đối với những cá nhân có thẩm quyền trong quá trình thực thi công vụ trái với quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước nhằm trục lợi, kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Đó là việc chịu trách nhiệm về những sai phạm của cấp dưới, cơ quan, đơn vị,… Muốn làm tròn trách nhiệm đó, mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý phải tự giác tu dưỡng, rèn luyện, giữ vững phẩm chất đạo đức của người cách mạng. Do đó, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức là trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo, quản lý để giữ vững tư cách của người cách mạng, đồng thời tác động tích cực, lan tỏa rộng rãi trong cơ quan, đơn vị và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Hai là, tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức là một phương thức thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý

Trách nhiệm nêu gương là bổn phận, nghĩa vụ phải nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý trên các lĩnh vực được thể hiện trong đời sống, trong công tác. Thực hiện trách nhiệm nêu gương là hoạt động bắt buộc đối với cán bộ, đảng viên, là yêu cầu, nhiệm vụ của cán bộ lãnh đạo, quản lý để trách nhiệm nêu gương được hiện thực hóa trong công tác, trong đời sống, là tấm gương sáng cho cán bộ, đảng viên noi theo, tạo dựng lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo, quản lý của cấp ủy đảng và chính quyền địa phương. Đây là đặc điểm quan trọng thể hiện đầy đủ bản chất của hoạt động chỉ đạo, quản lý, điều hành. Trách nhiệm nêu gương được thể hiện ở văn bản, giấy tờ, khẩu hiệu còn việc thực hiện trách nhiệm nêu gương phải được thể hiện bằng hoạt động thực tiễn với kết quả cụ thể. Đó phải là hoạt động nêu gương thực sự về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật, lề lối làm việc, tác phong công tác, chức trách, nhiệm vụ được giao và các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, là tấm gương sáng cho cán bộ, đảng viên noi theo, tạo dựng lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo, quản lý của cấp ủy và chính quyền các cấp.

Kết quả thực hiện trách nhiệm nêu gương phụ thuộc rất lớn vào phương thức thực hiện, trong đó, tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý là một phương thức hữu hiệu. Bên cạnh việc chấp hành các quy chế, quy định của Đảng, Nhà nước, của cơ quan, đơn vị, mỗi cán bộ phải tự nguyện, tự giác tu dưỡng rèn luyện, làm gương để cán bộ, đảng viên và nhân dân noi theo. Phương thức thực hiện trách nhiệm nêu gương này thể hiện ở hai nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức.

Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương đã quy định 8 nội dung mà cán bộ, đảng viên giữ chức vụ càng cao, càng phải gương mẫu “xây”, trong đó có trách nhiệm “Không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng. Mẫu mực về đạo đức, lối sống. Thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; trung thực, giản dị, thẳng thắn, chân thành”.

Bên cạnh đó, cán bộ lãnh đạo, quản lý còn có trách nhiệm kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng so sánh “tư tưởng cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với cỏ dại. Lúa phải được chăm bón rất khó nhọc mới tốt được. Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng mọc lu bù. Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện gian khổ mới có được. Còn tư tưởng cá nhân thì cũng như cỏ dại, sinh sôi, nảy nở rất dễ”(4). Tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý được thể hiện qua việc luôn đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân, “lợi ích của cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng… Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là “tính Đảng””(5). Bằng việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, cán bộ lãnh đạo, quản lý không chỉ nêu gương về giữ vững tư cách của người cách mạng, phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, mà còn có ý nghĩa giáo dục sâu sắc đối với cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, tạo sự lan tỏa rộng rãi tấm gương “người tốt”, “việc tốt” trong toàn xã hội.

Thứ hai, thường xuyên học tập, nâng cao trình độ, năng lực công tác.

Tự giác học tập, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, năng lực công tác của cán bộ lãnh đạo, quản lý là một phương thức thực hiện trách nhiệm nêu gương trước cán bộ, đảng viên. Thông qua tự giác học tập nâng cao trình độ, cán bộ lãnh đạo, quản lý thực hiện tốt thẩm quyền, trách nhiệm trong hoạt động lãnh đạo, quản lý đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của Đảng, của đất nước, của địa phương trong tình hình mới. Người xưa dặn “Bất học thi, vô dĩ ngôn” (không học thì lấy cái gì mà nói). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Muốn rèn luyện đạo đức cách mạng, thì chúng ta phải ra sức học tập, tu dưỡng, tự cải tạo để tiến bộ mãi. Nếu không cố gắng để tiến bộ, thì tức là thoái bộ, là lạc hậu”(6). Trong điều kiện Đảng Cộng sản Việt Nam duy nhất cầm quyền, Đảng có vai trò, trách nhiệm lãnh đạo Nhà nước và các lĩnh vực của đời sống xã hội đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là trách nhiệm nặng nề, khó khăn và phức tạp, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng vừa phải có đạo đức cách mạng trong sáng, vừa phải có năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, quản lý của từng ngành, từng địa phương.

THỰC TIỄN TỰ GIÁC TU DƯỠNG, RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CỦA CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ

Trong những năm qua, đa số cán bộ lãnh đạo, quản lý đã nhận thức và thực hiện tốt việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, giữ vững được phẩm chất, tư cách của người cách mạng, góp phần quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, giữ vững vị thế, năng lực cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn liền với nội dung thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị ngày 15/5/2016 về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI, XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tổng kết 4 năm thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TWW ngày 30/10/2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; những biểu hiện "tự diễn biến, tự chuyển hoá" trong nội bộ, Đảng đã khẳng định: "Nhận thức, trách nhiệm của cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được nâng lên; nhận diện sâu sắc, đầy đủ hơn các biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến, tự chuyển hoá"... Nhiều tấm gương điển hình, tiên tiến được nhân rộng, lan toả trong đời sống xã hội"(7).

 

Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, bị lợi ích vật chất, quyền lực cám dỗ, sa vào chủ nghĩa cá nhân, thoái hóa, biến chất, vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, trong đó "Việc cam kết tu dưỡng, rèn luyện, gắn với thực hiện trách nhiệm nêu gương của một bộ phận cán bộ, đảng viên hiệu quả chưa cao"(8). Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý thực hiện không đúng quy trình, quy định trong công tác cán bộ, tham nhũng, lãng phí, làm thất thoát tài sản Nhà nước, vi phạm những điều đảng viên không được làm,… Nhiệm kỳ 2015-2020, có 2209 cán bộ đảng viên bị thi hành kỷ luật liên quan đến tham nhũng, trong đó có 113 cán bộ diện Trung ương quản lý cả đương chức và đã nghỉ hưu (9). Gần đây, không ít cán bộ lãnh đạo, quản lý vi phạm bị xử lý kỷ luật...

Thực trạng đó do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do “thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước dân” (10).

NÊU CAO TINH THẦN TỰ GIÁC TU DƯỠNG, RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CỦA CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ

Nêu cao tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên là một nội dung quan trọng trong xây dựng Đảng về đạo đức đã được Đảng đã xác định tại Đại hội lần thứ XIII. Trong cuốn sách Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng yêu cầu: “Nêu cao tinh thần tự giác, tu dưỡng rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”(11). Đây là một biện pháp để tăng cường và nâng cao hiệu quả xây dựng Đảng về đạo đức, đồng thời là một phương thức để cán bộ lãnh đạo, quản lý thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương, góp phần lan tỏa trong nhận thức và hành động của đảng viên, cán bộ, công chức trong cả hệ thống chính trị. Tuy nhiên, giải pháp này khó, phức tạp, cần phải quyết tâm, kiên trì, bền bỉ và có sự tham gia của cả hệ thống chính trị với các biện pháp cụ thể sau:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Cán bộ lãnh đạo, quản lý phải tu dưỡng, rèn luyện về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, thực sự giữ gìn và thực hành chuẩn mực đạo đức cách mạng, đồng thời, không ngừng chủ động học tập, nâng cao trình độ, năng lực công tác thông qua nhiều hình thức, biện pháp khác nhau. Xác định rõ mục đích tu dưỡng, rèn luyện nâng cao phẩm chất, năng lực chính là để thực hiện trách nhiệm của cán bộ, đảng viên. Đó là trách nhiệm suốt đời phấn đấu, hy sinh cho lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân, biết hy sinh lợi ích cá nhân để phục vụ lợi ích chung của cách mạng; trách nhiệm gương mẫu thực hiện tốt nhiệm vụ do Điều lệ Đảng, do tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể phân công. Mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý phải nhận thức đầy đủ, đúng đắn và thường xuyên tu dưỡng rèn luyện, giữ vững phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ được giao, luôn giữ được chữ “tín” trước cấp dưới và nhân dân để lãnh đạo địa phương, cơ quan, đơn vị ngày càng phát triển.

Bên cạnh đó, đối với mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý, việc tăng cường tu dưỡng, rèn luyện chính là để xây dựng hình ảnh, uy tín của người cán bộ, từng bước nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành các lĩnh vực ở địa phương. Tự giác tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ lãnh đạo, quản lý phải được thể hiện từ nhận thức đến hành động, trên tất cả các mặt, các lĩnh vực, đặc biệt trong công tác. Hiện nay, việc tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ lãnh đạo, quản lý cần được thực hiện một cách nghiêm túc, tự giác, có hiệu quả gắn với những nội dung của Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 mới đây của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, trong đó, chú trọng quán triệt, tập trung làm tốt ba vấn đề: Học tập, làm theo Bác và nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Hai là, cán bộ lãnh đạo, quản lý phải tích cực, tự giác chủ động trong việc tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực phục vụ nhiệm vụ chính trị của cơ quan, địa phương, đơn vị. Đây là yêu cầu đòi hỏi mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý phải nghiêm túc, tự giác thực hiện, không phụ thuộc vào các chế tài, quy định mà phải coi tu dưỡng, rèn luyện như “rửa mặt hàng ngày”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đạo đức cách mạng không phải ở trên trời sa xuống, nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”(12). Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng nhắc nhở: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự giác học tập, ra sức tu dưỡng, rèn luyện để không ngừng nâng cao trình độ nhận thức, trở thành những con người có văn hóa, có liêm sỉ”(13). Đảng cũng yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải “nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt đời, “tự soi”, “tự sửa” và nêu cao danh dự, lòng tự trọng của người đảng viên”(14).

Dù ở vị trí công tác nào, mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện để nâng cao uy tín trước Đảng, trước nhân dân. Đồng thời, cán bộ lãnh đạo, quản lý phải luôn nghiêm khắc với bản thân, thực hiện tự phê bình nghiêm túc, tự giác để phát hiện và thông báo với tập thể những hạn chế, yếu kém, nhất là trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành để tìm ra phương hướng, kế hoạch khắc phục.

Hằng tháng, hằng quý, cán bộ lãnh đạo, quản lý phải tự xem xét, đánh giá kết quả thực hiện trách nhiệm nêu gương trên các mặt trước tập thể chi bộ, tập thể cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, đề ra các biện pháp khắc phục khuyết điểm và chịu sự giám sát thường xuyên của tập thể nơi công tác và cư trú.

Ba là, cán bộ lãnh đạo, quản lý cần xây dựng và quyết tâm thực hiện kế hoạch tu dưỡng, rèn luyện thông qua các bản cam kết, chương trình hành động, bản đăng ký thực hiện trách nhiệm nêu gương và công khai trước tập thể đảng viên, cán bộ, công chức và nhân dân.  

 

Bên cạnh đó, để thực hiện trách nhiệm nêu gương thông qua bản cam kết, chương trình hành động có hiệu quả, khắc phục tình trạng nêu gương bằng báo cáo, giấy tờ, hình thức, khẩu hiệu, cán bộ lãnh đạo, quản lý cần phải nêu cao quyết tâm thực hiện trách nhiệm nêu gương, phải xác định rõ nội dung, biện pháp thực hiện.

Bốn là, phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị đối với việc nêu cao tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý. Các tổ chức trong hệ thống chính trị có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên, đồng thời, có vai trò phát hiện những biểu hiện thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức trong cán bộ, đảng viên để kịp thời xử lý và phát hiện, biểu dương, khen thưởng và nhân rộng những tấm gương điển hình về tu dưỡng, rèn luyện đạo đức để kích thích, khơi dậy tinh thần tu dưỡng, phấn đấu, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.

Đại hội XIII lần thứ của Đảng chỉ rõ: “Thực hiện có hiệu quả việc giám sát của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu và cán bộ chủ chốt”(16). Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội phải căn cứ vào các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thực hiện kiểm tra, giám sát trên tất cả các mặt, kết hợp nhiều phương thức quản lý, kiểm tra, giám sát: Kiểm tra, giám sát từ trên xuống (người đứng đầu kiểm tra, giám sát cấp dưới), kiểm tra giám sát từ dưới lên (đảng viên kiểm soát cán bộ lãnh đạo, quản lý) và phát huy vai trò của nhân dân kiểm soát cán bộ, đảng viên thực hiện tu dưỡng, rèn luyện. Bên cạnh đó, cần thực hiện tốt các quy chế, quy định của các cấp ủy địa phương về công tác kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức.

Để giám sát có hiệu quả đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý, các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị cần nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện chuẩn mực đạo đức cách mạng phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc để làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự giác tu dưỡng, rèn luyện, tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hàng ngày. Nâng cao khả năng dự báo về những hành vi vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ để đề ra các chủ trương, biện pháp phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm từ xa, từ sớm. Đó vừa là căn cứ để mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý tu dưỡng, rèn luyện, vừa là cơ sở để các cấp ủy, tổ chức đảng, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân kiểm tra, giám sát việc thực hiện tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Trước sự tác động nhiều mặt, nhiều chiều từ xã hội, tự giác tu dưỡng, rèn luyện vừa là biện pháp quan trọng để giữ vững tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ lãnh đạo, quản lý vừa thể hiện tính kiên định, tính chiến đấu của người cán bộ, đảng viên. Vì vậy, phải tiếp tục nêu cao tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển đất nước trong tình hình mới.

 

Tạp chí Tuyên giáo

 

 

 

 NHẬN DIỆN THÔNG TIN XẤU ĐỘC

 

Thời gian gần đây, cán bộ- đảng viên và nhân dân nhiều lần nghe nhắc đến các cụm từ “thông tin xấu độc, thù địch”, “thông tin sai trái”… 

Nhưng không phải lúc nào cũng dễ dàng nhận ra nó. Bởi bên cạnh những thông tin có chứa đựng các yếu tố dung tục, có ngôn từ kích động, lời lẽ hằn học… vốn có thể nhận ra ngay dụng ý xấu của người đăng, phát thì nhiều trường hợp khác, thông tin được ẩn dưới nhiều lớp vỏ, có thể làm người tiếp nhận mơ hồ, nghi ngờ hoặc có khi còn không nhận thấy ý đồ của người phát. Do đó, một số gợi ý dưới đây về dấu hiệu của loại thông tin này có thể giúp ích cho người đọc.

 

Theo Khoản 1 Điều 5 Nghị định 72/2013/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng, có thể hiểu về thông tin sai trái, xấu độc, thù địch là những thông tin:

 

Thứ nhất, chống lại Nhà nước CHXHCN Việt Nam; gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; tuyên truyền chiến tranh, khủng bố; gây hận thù, mâu thuẫn giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo. Chẳng hạn, các kêu gọi “sẵn sàng chiến tranh để bảo vệ biên giới, lãnh thổ…” thoạt nghe tưởng như đậm tính yêu nước nhưng kỳ thực đây là loại thông tin kích động, tuyên truyền chiến tranh, gây hận thù, mâu thuẫn giữa Việt Nam với một số quốc gia, dân tộc khác. Bởi hiện nay, Đảng và Nhà nước ta chủ trương giải quyết các bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế. Việc kêu gọi sẵn sàng chiến tranh rõ ràng đi ngược lại với chủ trương của Đảng và có thể mắc bẫy của các thế lực xấu.

 

Thứ hai, tuyên truyền, kích động bạo lực, dâm ô, đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc. Có một số tài liệu viết về các vị lãnh đạo cách mạng tiền bối, trong đó lồng vào những nội dung xuyên tạc về đời tư của các đồng chí lãnh đạo, đặc biệt liên quan đến đời sống riêng tư, vấn đề quan hệ nam nữ… không được kiểm chứng, theo kiểu “nghe đồn”, “nghe kể” nhưng người kể không thể xác thực, để từ đó làm dung tục hóa, tầm thường hóa các đồng chí lãnh đạo của Đảng. Trên thực tế, rất nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng ta là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, cả trong công tác lãnh đạo cũng như đời sống cá nhân.

Thứ ba, tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại và những bí mật khác do pháp luật quy định. Một số trang web, mạng xã hội úp mở đưa những thông tin tự cho là “nội bộ”, “tuyệt mật”, “tối mật”…, trong đó dẫn từ các nguồn không được kiểm chứng hoặc sao chụp từ các văn bản mật có thật nhưng không rõ bằng cách nào đó đã được đưa lên mạng. Việc làm này có thể tiết lộ các bí mật trái với quy định của pháp luật. Do vậy, người tiếp nhận cần phải thận trọng, tránh làm lan truyền các thông tin đó.

Thứ tư, đưa thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân. Nhiều trang mạng xã hội đưa thông tin bị cắt xén, bịa đặt nhằm bôi bẩn uy tín của các tổ chức và cá nhân. Chẳng hạn, cách đây ít lâu, nhân việc cơ quan chức năng ở Hà Nội phát hiện một số cá nhân sử dụng ma túy, trong đó có một thiếu nữ họ Trần, thế là có trang đã nhanh nhảu cho rằng đó là ái nữ của một bộ trưởng họ Trần, kỳ thực đây là thông tin hoàn toàn sai trái. Vì vậy, khi tiếp nhận các loại thông tin này, cán bộ, đảng viên cần thận trọng, không nên lan truyền dù dưới hình thức nào.

 

Thứ năm, quảng cáo, tuyên truyền, mua bán hàng hóa, dịch vụ bị cấm; truyền bá tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm bị cấm. Thời gian gần đây, sau khi đối tượng Phạm Đoan Trang bị bắt, một số trang mạng đã “tích cực” giới thiệu cái gọi là “tác phẩm” của người này, thực chất là những trang viết có nhận thức chính trị sai lầm, có nội dung chống phá Đảng và Nhà nước, tuyên truyền cho các mô hình nhà nước kiểu phương Tây… Các thông tin “rao” đó là vi phạm pháp luật. Hay thỉnh thoảng cũng có người tỏ ra “khen ngợi” hoặc dẫn lại những đoạn trích từ các tác phẩm độc hại của Hoàng Văn Hoan, Bùi Tín, Trần Đĩnh, Dương Thu Hương… Người đọc cần cảnh giác với các nội dung này.

Thứ sáu, giả mạo tổ chức, cá nhân và phát tán thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Không ít khi, một thông tin hay nhận định nào đó cho rằng từ một cán bộ lão thành cách mạng, một tướng lĩnh đã nghỉ hưu, một nhà khoa học… về bất kỳ vấn đề gì, từ lịch sử, vai trò lãnh đạo của Đảng… cho đến vấn đề biên giới, hải đảo… Việc ngụy tạo phát ngôn kiểu này khiến một số người nhẹ dạ, lười kiểm chứng, sẵn có tư tưởng không tích cực nên đã “tưởng thật”, từ đó “hùa nhau” công kích cá nhân người đó lẫn các tổ chức có liên quan, thậm chí xuyên tạc đến tổ chức đảng, đến vai trò lãnh đạo của Đảng…

Như vậy, thông tin sai trái, xấu độc là những thông tin bịa đặt, bóp méo sự thật, xuyên tạc vấn đề, “đổi trắng thay đen”, làm lẫn lộn đúng sai, thật giả hoặc có một phần sự thật nhưng được đưa tin với dụng ý xấu, phân tích và định hướng dư luận bằng luận điệu sai trái, thù địch. Nếu các thông tin này được thổi phồng, được tổ chức thành vệt nhằm đả phá hình ảnh các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta, từ đó hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta… thì đó là thông tin thù địch, cần phải kiên quyết đấu tranh.

Ngoài ra, đó là thông tin có những ngôn từ thô tục, nội dung phản cảm, soi mói, bình phẩm chủ quan chuyện đời tư của người khác, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; vi phạm chuẩn mực đạo đức, văn hóa, thuần phong mỹ tục, kích động bạo lực, bôi nhọ cá nhân…, nhất là với các cán bộ, đảng viên, đặc biệt là lãnh đạo các cấp. Với các biểu hiện hình thức như vậy, dù mang dụng ý xấu hay chỉ vô tình thể hiện dụng ý xấu, thì các loại thông tin này cũng cần được phê phán, đấu tranh; trong các trường hợp cần thiết thì phải truy nguyên người tán phát để có biện pháp xử lý phù hợp./.

 

 TỰ DO TÔN GIÁO PHẢI TRONG KHUÔN KHỔ PHÁP LUẬT

 

Thời gian qua, một số cá nhân, tổ chức lấy danh nghĩa “bảo vệ dân chủ, nhân quyền”, đặc biệt là quyền về tự do tín ngưỡng, tôn giáo để đưa ra những đánh giá phiến diện, sai lệch, các luận điệu xuyên tạc, vu cáo hòng can thiệp vào công việc nội bộ của các nước, trong đó có Việt Nam.

Tuy nhiên, cũng như ở các quốc gia trên thế giới vấn đề dân chủ, nhân quyền và quyền tự do tôn giáo đều phải diễn ra trong khuôn khổ pháp luật cũng như phù hợp điều kiện phát triển kinh tế và lịch sử truyền thống văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc.

Lâu nay, một số học giả phương Tây vẫn thường rêu rao chiêu bài “quyền con người cao hơn chủ quyền” nhằm thực hiện, bao biện mục đích cá nhân. Bên cạnh đó các thế lực thù địch cũng ra sức lợi dụng vấn đề tôn giáo và quyền tự do tôn giáo để can thiệp vào công việc nội bộ nước khác, nhất là các quốc gia có thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Ðảng cộng sản.

Trong âm mưu và chiến lược diễn biến hòa bình, vấn đề tôn giáo, dân chủ nhân quyền được sử dụng như một vũ khí lợi hại, lợi dụng lòng yêu nước, sự sùng đạo của người dân để khoét sâu những bất cập, tồn tại trong đời sống xã hội, nhằm lôi kéo, tập hợp những người dân nhẹ dạ cả tin hoặc thiếu thông tin gây rối, gây phức tạp về an ninh, trật tự, gây bất ổn xã hội.

Ðảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm, tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của công dân, xác định đây là nhu cầu tinh thần chính đáng của người dân. Chính sách đó, luôn được Ðảng, Nhà nước ta khẳng định và thực hiện nhất quán, được bảo đảm trên thực tiễn và cụ thể bằng văn bản pháp luật. Tại Sắc lệnh số 234/SL ngày 14/6/1955 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, xác định: “Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là một quyền lợi của nhân dân. Chính quyền dân chủ cộng hòa luôn luôn tôn trọng quyền lợi ấy và giúp đỡ nhân dân thực hiện” (Ðiều 15) và “Chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo” (Ðiều 13).

Trong mỗi giai đoạn lãnh đạo cách mạng, Ðảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo bảo đảm quyền tự do tôn giáo, tạo hành lang pháp lý để các tôn giáo hoạt động ổn định, tăng cường củng cố mối quan hệ giữa Nhà nước và các giáo hội tôn giáo…

 

Tiêu biểu là Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Ðảng (khóa IX) về công tác tôn giáo; Pháp lệnh 21/2004/PL-UBTVQH11 ngày 18/6/2004 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tín ngưỡng, tôn giáo; Nghị định số 22/2005/NÐ-CP ngày 1/3/2005 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Chỉ thị 1940/CT-TTg ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về nhà đất liên quan đến tôn giáo... Tại Hiến pháp năm 2013 quy định “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.

Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật” (Khoản 1, Ðiều 24). Ngày  18/ 11/ 2016 Quốc hội đã ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo...

Nhờ có chủ trương, chính sách, pháp luật về tôn giáo, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân được bảo đảm ngày càng tốt hơn, số lượng chức sắc, tín đồ, cơ sở thờ tự ngày càng tăng. Chỉ tính trong vòng 20 năm trở lại đây (2003-2022) việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo cho kết quả hết sức ấn tượng: Năm 2003 cả nước có 15 tổ chức, sáu tôn giáo, 17 triệu tín đồ với khoảng 20.000 cơ sở thờ tự; 34.000 chức sắc, 78.000 chức việc. Ðến năm 2021 Việt Nam đã công nhận 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo khác nhau, với hơn 26 triệu tín đồ, 54.000 chức sắc, tăng; 135.000 chức việc; 29.000 cơ sở thờ tự. Ðời sống tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng phong phú, đa dạng, nhiều lễ hội lớn trong các tôn giáo thu hút đông đảo tín đồ, người dân tham dự.

Có thể kể đến: Giáo hội Tin lành đã tổ chức thành công lễ kỷ niệm 500 năm cải chánh đạo Tin lành 2017); giáo hội Công giáo tổ chức Tổng hội Dòng Ða minh thế giới tại Ðồng Nai (7/2019), với đại biểu của nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia; Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức thành công Ðại lễ Phật đản Vesak Liên hợp quốc năm 2019 tại chùa Tam Chúc, tỉnh Hà Nam (5/2019) với hơn 1.650 đại biểu chức sắc và lãnh đạo các giáo hội, nhà nghiên cứu... đến từ hơn 112 quốc gia và vùng lãnh thổ). Với quy mô hoạt động tôn giáo tập trung đông người, chính quyền các cấp đã hỗ trợ các tôn giáo về công tác bảo đảm phân luồng giao thông, an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ, an toàn vệ sinh thực phẩm,… giúp người dân được tự do hành lễ, thỏa mãn nhu cầu đời sống tâm linh.

Thực tế cho thấy, ở một số quốc gia như Anh, Mỹ, Ðan Mạch... khi tổ chức tôn giáo tổ chức các hoạt động đông người tại cơ sở thờ tự, thường phải tự thuê bảo vệ làm nhiệm vụ bảo đảm an toàn giao thông, an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ, kiểm nghiệm an toàn thực phẩm. Nếu để xảy ra vi phạm, chính quyền sẽ căn cứ vào pháp luật và xử phạt… Nhưng ở Việt Nam các tổ chức tôn giáo khi tiến hành các hoạt động tôn giáo có đông đảo người dân tham gia, chính quyền luôn hỗ trợ với mục tiêu cao nhất bảo đảm an toàn trật tự để nhân dân yên tâm thực hiện nghi lễ tôn giáo.

Bất chấp thực tế đó, các thế lực thù địch, thiếu thiện chí vẫn xuyên tạc trắng trợn chính sách, pháp luật và tình hình tôn giáo tại Việt Nam; móc nối những đối tượng cơ hội bất mãn chế độ và số chức sắc cực đoan để kích động các hoạt động tôn giáo thoát ly khỏi sự quản lý của Nhà nước. Ðặc biệt, mỗi khi Nhà nước ban hành hoặc bổ sung những văn bản pháp luật mới để điều chỉnh các hoạt động tôn giáo cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, trình độ văn hóa, xã hội của đất nước, phù hợp với tâm tư, tình cảm, nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân thì các đối tượng trên lại dấy lên chiến dịch phản đối, xuyên tạc.

Mặt khác, các thế lực thù địch và phản động lưu vong ở nước ngoài vẫn tiếp tục cấu kết, móc nối với các đối tượng cực đoan trong tôn giáo và đối tượng cơ hội chính trị lợi dụng các vấn đề nổi cộm như đất đai, môi trường, phòng chống dịch Covid-19... nhằm mưu đồ dụ dỗ, lôi kéo người dân khiếu kiện, kích động gây rối, gắn vào vấn đề tôn giáo để vu cáo Việt Nam; nhằm mưu đồ làm cho chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo hoài nghi về chính sách của nhà nước ta.

Ðáng chú ý, trong những năm qua các đối tượng phản động, chống đối chính trị ở ngoài nước, móc nối với một số phần tử cực đoan trong tôn giáo cấu kết với các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Ðảng và Nhà nước Việt Nam, tổ chức các cuộc “hội luận”, “họp báo”, soạn thảo và phát tán các tài liệu có nội dung xuyên tạc, bịa đặt để tuyên truyền chống Ðảng và Nhà nước Việt Nam, nhất là trên các lĩnh vực tôn giáo và nhân quyền.

Chúng đẩy mạnh xuyên tạc Ðảng và Nhà nước Việt Nam “đàn áp tôn giáo”, Việt Nam “không có tự do tôn giáo”… Những thủ đoạn hoạt động của chúng không chỉ âm mưu tác động vào tâm lý, tư tưởng của một bộ phận quần chúng, tín đồ mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống yên bình của nhân dân, tác động xấu đến xã hội, gây chia rẽ nội bộ trong tổ chức tôn giáo, gây mất đoàn kết dân tộc.

Thời gian tới, một số phần tử cực đoan trong nước vẫn sẽ tiếp tục dựa vào các thế lực thù địch bên ngoài đẩy mạnh hoạt động chống đối dưới chiêu bài  “đòi tự do tôn giáo”, “dân chủ, nhân quyền” chống Ðảng, Nhà nước ta, đòi khôi phục lại các tổ chức tôn giáo không còn tồn tại, gia tăng các hoạt động phát triển đạo trái pháp luật, gây rối trật tự an toàn xã hội. Do đó về phía người dân cũng như các chức sắc và tín đồ các tôn giáo cần hết sức tỉnh táo, cảnh giác với âm mưu của các thế lực thù địch. Việc chủ động ngăn chặn các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống Việt Nam là nhiệm vụ trọng tâm, chiến lược lâu dài, là trách nhiệm của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị, trong đó cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo đóng vai trò nòng cốt.

Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về tôn giáo, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Chính quyền các cấp nắm chắc các hoạt động liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn, kịp thời phát hiện và ngăn chặn các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các tôn giáo, gây rối loạn xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống nhân dân, xâm phạm an ninh quốc gia.

Chủ động tuyên truyền công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng để vạch trần “chân tướng” của các đối tượng cơ hội, các việc làm vi phạm pháp luật, giáo luật của số đối tượng cực đoan lợi dụng tôn giáo, phản bác lại các luận điệu vu cáo của các thế lực thù địch. Các biện pháp đấu tranh ngăn chặn các hoạt động lợi dụng tôn giáo chống Việt Nam cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương cũng như sự vào cuộc của toàn xã hội.

Bên cạnh đó, cần thường xuyên sơ kết rút kinh nghiệm về những việc đã làm được, có biện pháp khắc phục những thiếu sót tồn tại để bảo đảm thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Ðảng, Nhà nước. Thường xuyên tuyên truyền đối ngoại để cộng đồng quốc tế có đầy đủ thông tin về kết quả, thành tựu nhân quyền trong lĩnh vực tôn giáo ở Việt Nam, có phương pháp tiếp xúc, vận động chức sắc, tín đồ các tôn giáo, có kinh nghiệm đối thoại tôn giáo, hướng dẫn các chức sắc, tín đồ hoạt động tôn giáo và thực hiện nghĩa vụ công dân.

 

 

 GIỮ NƯỚC TỪ KHI NƯỚC CÒN CHƯA NGUY 

Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, để giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, ông cha ta thực hiện tư tưởng “giữ nước từ khi nước chưa nguy” đã trở thành quan điểm, tư tưởng chỉ đạo chiến lược, kế sách giữ nước trong mọi thời đại, là bài học kinh nghiệm quý báu trong lịch sử đến nay vẫn còn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn.

Tiếp cận từ góc độ khoa học, an ninh thì “giữ nước từ khi nước chưa nguy” là một tư tưởng phòng thủ, phòng ngừa chiến lược, cơ bản và lâu dài. Theo đó, ngay khi đất nước còn thịnh trị, bình thường, những người nắm quyền lực quốc gia đã phải tính xa hơn, nghĩ xa hơn, phòng khi đất nước lâm nguy. Như cách ví von gần gũi của ông cha ta chính là “lúc no phòng khi đói”. Tư tưởng này gần như là luận thuyết chiến lược phòng ngừa từ xa mà các quốc gia đều phải thực hiện theo. Tuy nhiên, mỗi thời đại một khác. Thời phong kiến thì “giữ nước từ khi nước chưa nguy” chủ yếu là phòng ngừa ngoại xâm. Nhưng trong điều kiện toàn cầu hóa đối với các quốc gia, nguy cơ không chỉ đến từ ngoại xâm, mà đến từ nhiều hướng, nhiều phía khác nhau, kể cả an ninh phi truyền thống, cả bên ngoài lẫn bên trong như một trong các nguy cơ đảng ta chỉ ra “Tham nhũng vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta.”. Tư duy chiến lược về bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” của Đảng gồm nhiều nội dung, trong đó tập trung vào một số vấn đề cơ bản: Chủ động nắm, nghiên cứu, phân tích, dự báo chính xác tình hình thế giới, khu vực, trong nước; Xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng vững mạnh; Phát huy sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; Phương thức bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” và Đẩy mạnh công tác đối ngoại, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Đó là những vấn đề rất quan trọng mà Đảng xác định tương đối phù hợp trong tình hình hiện nay. Để giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chúng ta phải dựa vào sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại… trong đó xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng vững mạnh là nội dung quan trọng, mà xây dựng lực lượng vũ trang là nòng cốt, lấy xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở.

Đảng ta xác định: “Quán triệt sâu sắc phương châm bảo đảm quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Kết hợp chặt chẽ giữa bảo đảm quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội; hoàn thiện lý luận về quốc phòng, an ninh và tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi “nước chưa nguy” trên cơ sở xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại”. Đây là chủ trương lớn, nhất quán, mang tầm chiến lược, là căn cứ để Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Quân đội vững mạnh toàn diện, thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, công cụ bạo lực sắc bén để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.

 

 

 KHÔNG THỂ MƯỢN DANH NHÂN QUYỀN ĐỂ DUNG TÚNG, CỔ VŨ ĐỐI TƯỢNG VI PHẠM PHÁP LUẬT

Lâu nay, dân chủ, nhân quyền là vấn đề mà các thế lực thiếu thiện chí thường lợi dụng để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Việc trao cái gọi là Giải thưởng nhân quyền Martin Ennals cho một đối tượng vi phạm pháp luật là hành động mới nhất.

Mượn cớ bảo vệ nhân quyền

Mới đây, tại Geneva, Thụy Sĩ, Giải thưởng nhân quyền Martin Ennals đã được trao cho Phạm Đoan Trang, người mà Ban tổ chức giải thưởng tung hô là “nhà báo, nhà hoạt động nhân quyền”. Phạm Đoan Trang là ai và có phải là người “bảo vệ quyền tự do ngôn luận, quyền tiếp cận thông tin của người dân” như mô tả của những người tổ chức giải thưởng nhân quyền Martin Ennals hay không?

Với nhiều người, Phạm Đoan Trang không còn là cái tên xa lạ. Đây là người có hành vi chống đối Nhà nước quyết liệt. Ngày 14-12, Tòa án nhân dân TP Hà Nội tuyên phạt bị cáo Phạm Đoan Trang (43 tuổi, trú quận Đống Đa, Hà Nội, được biết đến là blogger, từng làm việc cho một số trang báo) 9 năm tù về tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, quy định tại điều 88 Bộ luật Hình sự 1999.

Phạm Đoan Trang là tác giả của nhiều tài liệu có nội dung hướng dẫn, kích động các hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân như “Chính trị bình dân”, “Cẩm nang nuôi tù”, “Phản kháng phi bạo lực”… Theo hồ sơ vụ án, năm 2013, do xuất cảnh đi nước ngoài không xin phép nên Trang đã bị cơ quan chủ quản kỷ luật buộc thôi việc. Trong chuyến xuất cảnh trái phép này, Trang đã bị một số đối tượng chống đối chính quyền dẫn dắt, móc nối, lôi kéo.

Trở về nước, Trang trực tiếp thành lập và tham gia điều hành nhiều hội, nhóm bất hợp pháp, đồng thời tụ tập, khuếch trương lực lượng chống đối trong nước, tập hợp lực lượng chống đối trong giới văn nghệ sĩ, trí thức trẻ. Đoan Trang đã viết, phát tán nhiều bài viết, cuốn sách có nội dung tuyên truyền xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, kích động lật đổ chế độ.

Tòa án nhận định hành vi xuyên tạc đường lối chính sách, phỉ báng chính quyền của bị cáo Phạm Đoan Trang là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với mục đích cố ý xâm phạm chế độ XHCN và Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, xã hội, đối ngoại, xâm phạm đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân.

Sự thật rõ ràng như vậy, ấy thế nhưng dưới cái cớ bảo vệ nhân quyền, tự do ngôn luận, một số tổ chức nước ngoài, đại diện trong cơ quan ngoại giao của một số nước lại sẵn sàng dùng nhiều mỹ từ ca ngợi, bênh vực Phạm Đoan Trang. Họ sẵn sàng đăng đàn, công bố những cái gọi là “Giải thưởng nhân quyền”, “Tự do truyền thông quốc tế”, “Phụ nữ can đảm quốc tế”, “danh sách nạn nhân cần bảo vệ”… dành cho Phạm Đoan Trang. Tất nhiên, đi kèm với những việc làm này là “thông điệp” gây sức ép, phản đối và những cáo buộc vô căn cứ, phi lý với Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam.

Lộ liễu chiêu trò, dung túng, cổ vũ cho đối tượng vi phạm pháp luật

Không chỉ Phạm Đoan Trang, thời gian qua, cơ quan bảo vệ pháp luật đã xử lý một số đối tượng khác dựa trên những căn cứ cụ thể của từng bộ luật, trong đó có Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình bắt giữ, xử lý các đối tượng, cơ quan điều tra, viện kiểm sát nhân dân, tòa án nhân dân đều căn cứ vào những quy định của pháp luật để xử lý đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm nhưng cũng không làm oan sai. Vì vậy, có thể nói, bản án dành cho Phạm Đoan Trang cũng như các đối tượng chống đối khác trong thời gian qua là hoàn toàn đúng quy định, phù hợp với luật pháp quốc tế.

Những luận điệu bóp méo, xuyên tạc rằng Việt Nam xử lý các đối tượng trên bằng “bản án mơ hồ” “theo ý chí chủ quan”, “áp đặt”, “đàn áp những người bất đồng chính kiến” là hoàn toàn vô căn cứ. Điều này cho thấy một số tổ chức, cá nhân nước ngoài tiếp tục lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền để gây sức ép đối với Việt Nam. Với cái nhìn tiêu cực, thiếu thiện chí với Việt Nam, các cá nhân, tổ chức này lợi dụng triệt để việc Việt Nam xử lý số đối tượng vi phạm pháp luật thuộc nhóm chống đối trong thời gian qua, trong đó có Phạm Đoan Trang để xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, tạo cớ cho một số tổ chức, cá nhân tiếp tục có hoạt động chống phá Việt Nam.

Đây có thể coi là hành động can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Những tổ chức và cá nhân này luôn “ngộ nhận” về những giá trị “tốt đẹp” và “cao quý” của nền dân chủ tư sản phương Tây. Vì muốn áp đặt các giá trị này mà họ sẵn sàng can thiệp vào chính sách nhân quyền của quốc gia khác, kể cả những quốc gia có không ít nỗ lực và thành tựu về dân chủ, nhân quyền được cộng đồng quốc tế thừa nhận như Việt Nam. Với học thuyết “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, họ sẵn sàng ca ngợi, “bao bọc”, trợ giúp những đối tượng có tư tưởng bất mãn, chống đối chính quyền như Phạm Đoan Trang, kể cả khi các đối tượng này đã bị kết án bởi những phiên tòa công khai, khách quan, dân chủ từ phía các cơ quan bảo vệ pháp luật ở Việt Nam.

Mỗi đất nước có quyền lựa chọn con đường riêng của mình. Sự khác biệt về thể chế chính trị và những đặc thù riêng về kinh tế, văn hóa, xã hội giữa Việt Nam và các nước phương Tây đương nhiên sẽ tạo nên những hệ giá trị khác nhau, ngay cả với những vấn đề liên quan đến dân tộc, nhân quyền. Nhưng không vì thế mà các giá trị của phương Tây nghiễm nhiên trở nên ưu việt hơn, nổi trội hơn.

Thực tế thời gian qua cho thấy, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn kiên trì, nhất quán chính sách đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chính sách phát triển. Những thành tựu về nhân quyền của Việt Nam trong thời gian qua là không thể phủ nhận. Điều này đã được nhân dân ủng hộ và các tổ chức uy tín hàng đầu quốc tế công nhận.

Vì vậy, việc các tổ chức, cá nhân xuyên tạc, vu cáo vấn đề dân chủ, nhân quyền của quốc gia khác là xâm phạm vào công việc nội bộ của quốc gia đó. Điều này không thể chấp nhận được đối với một quốc gia có chủ quyền như Việt Nam. Việc ủng hộ, dung túng, cổ vũ cho những đối tượng vi phạm pháp luật, bị đưa ra xét xử, có hành vi chống đối một quốc gia có độc lập, có chủ quyền là điều cần phải lên án.

Đảng và Nhà nước ta luôn hoan nghênh những ý kiến đóng góp xây dựng, phát triển đất nước, đồng thời nỗ lực bảo đảm quyền tự do, dân chủ, trong đó có tự do ngôn luận, tự do báo chí. Tuy nhiên, mỗi công dân khi thực thi quyền này phải nằm trong khuôn khổ pháp luật. Bất kỳ hành vi nào lợi dụng quyền tự do của bản thân mình để xâm phạm lợi ích Nhà nước, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân đều chịu xử lý của pháp luật và trật tự, kỷ cương chỉ có thể được giữ vững khi pháp luật được thượng tôn. Đó là cơ sở cho sự phát triển ổn định của đất nước, là tiền đề quan trọng để thúc đẩy, bảo đảm và phát huy các giá trị về quyền con người không chỉ ở Việt Nam mà còn ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới.

Hoàng Sơn

Có thể là hình ảnh về 3 người, đàn ghi ta và văn bản

 

 

VẸN NGUYÊN KÝ ỨC NGÀY TIẾP QUẢN THỦ ĐÔ

 Hàng năm cứ đến ngày Giải phóng Thủ đô (10/10), trong lòng Ðại tá Dương Niết lại xốn xang nhiều cảm xúc. Đó là cảm xúc của những ngày chiến đấu và ngày chiến thắng trở về.

Đại tá Dương Niết sinh năm 1934, nguyên chiến sĩ Tiểu đoàn Bình Ca, Tổ trưởng tổ tiếp quản Sở Cảnh sát Bắc Việt, nguyên Hiệu phó Trường Trung cao Không quân (nay là Học viện Phòng không - Không quân). 68 năm trước, ông cũng chính là người tham gia tiếp quản Thủ đô.

Trong cuộc đời quân ngũ, ông tham gia cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (trong chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, ông tham gia tiếp quản sân bay Biên Hoà) và tham gia chiến dịch Tây Nam năm 1979. Nhưng những khoảnh khắc đáng nhớ nhất chính là những ngày cùng đồng đội của Tiểu đoàn Bình Ca trở về tiếp quản Thủ đô Hà Nội tháng 10/1954.

Đại tá Dương Niết xem lại hình ảnh những chiến sĩ của Tiểu đoàn Bình Ca trên cầu Đuống tiến về Hà Nội ngày 8/10/1954.

Tiểu đoàn Bình Ca, Trung đoàn 102, Đại đoàn 308 được chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp đặt tên. Ðầu tháng 10/1954, Ðại đoàn 308 tập kết tại Phùng (nay thuộc huyện Ðan Phượng, Hà Nội) và được lệnh vào tiếp quản các vị trí thực dân Pháp đóng quân, để bảo vệ nhân dân, cơ sở hạ tầng và chuẩn bị đón đại quân chiến thắng trở về. Bên cạnh đó là không để địch cưỡng bức dân chúng di cư trước khi rút khỏi Hà Nội.

Ngày 7/10/1954, Đại tá Dương Niết nằm trong số 214 cán bộ, chiến sĩ được đơn vị lựa chọn vào thành phố đợt đầu. Từ Phùng, sang Vĩnh Phúc rồi hành quân về Phù Lỗ; tại đây, cả đoàn được học kỹ 10 điều khi về tiếp quản Thủ đô Hà Nội. Đêm ấy hành quân về làng Vân, phía Bắc cầu Đuống, các chiến sĩ được bà con đón tiếp rất nồng hậu. “Vào chiều 7/10, lúc anh nuôi chuẩn bị nấu cơm thì các bà, các chị mang gà, gạo, rau để đưa cho bộ đội ăn. Anh nuôi có giải thích là bộ đội không được nhận nhưng các bà, các chị vẫn cứ nấu cơm và mời bộ đội chúng tôi. Bữa cơm xúc động ấy tôi vẫn còn ghi nhớ mãi và không bao giờ quên” – Đại tá Dương Niết xúc động nhớ lại.

Sau bữa cơm đầm ấm, thân tình, đúng 8 giờ sáng 8/10/1954, những chiến sĩ của Tiểu đoàn Bình Ca đã có mặt ở phía Bắc cầu Đuống 9 (theo kết quả đàm phán với ta tại Hội nghị quân sự Trung Giã, Pháp sẽ đón bộ đội Việt Nam tại cầu Đuống). Đứng chờ một lúc lâu, một hạ sĩ quan Pháp ra mời bộ đội Việt Nam vào và tổ chức lễ đón chính thức trên cầu Đuống.

Kết thúc lễ đón, 30 chiếc xe GMC của Pháp đưa các chiến sĩ Tiểu đoàn Bình Ca vào Hà Nội. Trời hôm đó lất phất mưa phùn, lấy lý do đó, một viên sĩ quan Pháp yêu cầu các xe phủ kín bạt, mục đích là để dân không nhìn thấy bộ đội trên xe. Nhưng một số anh em ngồi trên đầu xe vén bạt nhô người ra, khi đoàn về đến Gia Lâm, người dân ùa ra đường hoan hô rất đông. Viên sĩ quan Pháp tỏ ra khó chịu và cho xe chạy nhanh hơn.

Xe vào đến Hà Nội thì về thẳng trụ sở Ban Liên hiệp đình chiến, đóng ở Nhà thương Bến Thủy (Bệnh viện Trung ương quân đội 108 bây giờ). Tại đây, đoàn được chia làm 35 tổ, mỗi tổ từ 3 - 5 người sẽ di chuyển về 35 vị trí có quân Pháp đóng. Đây là những vị trí quan trọng do Pháp đã chiếm giữ ngay từ khi chúng đặt chân đến Hà Nội như: Phủ toàn quyền, Tòa thị chính, Tòa án tối cao, Sở Cảnh sát Bắc Việt, nhà máy điện, nhà máy nước, nhà máy đèn Bờ Hồ, ga Hàng Cỏ, nhà tù Hỏa Lò, Bệnh viện Bạch Mai…

Đại tá Dương Niết lúc ấy mới là chàng trai tròn 20 tuổi. Ông là tổ trưởng tổ 5 người được lệnh vào tiếp quản Sở cảnh sát Bắc Việt (nay là trụ sở Công an thành phố Hà Nội). Nhiệm vụ của đơn vị ông khá nặng nề: Hạn chế thấp nhất mưu đồ của Pháp là phá hoại hạ tầng cơ sở của ta ở nội đô; không để chúng cưỡng bức dân di cư; chuẩn bị mọi mặt để đón đại đoàn vào tiếp quản Thủ đô và giữ gìn an ninh trật tự.

Khi tới Sở Cảnh sát Bắc Việt, tổ của ông thấy địch căng một khẩu hiệu rất to trên lan can tầng 2 với khẩu hiệu: “Có đi vào Nam hay ở lại để đi vào trại của Lý Bá Sơ?” (Trại giam của ta ở Thanh Hóa do đồng chí Lý Bá Sơ quản lý). “Đây là một thủ đoạn thúc ép dân di cư. Nhưng khi thấy chúng tôi trao đổi với nhau là không thể để như thế được thì chúng đã phải cho gỡ xuống” - Đại tá Dương Niết cho biết.

Chiều  8/10,  một  số  đơn  vị của ta đã áp sát vành đai Đê La Thành, Nhật Tân, Cầu Giấy, Ngã Tư Sở, Bạch Mai và Vĩnh Tuy.  Tiếp  đó,  Quân  đội  nhân dân Việt Nam theo nhiều đường, chia làm nhiều cánh quân tiến vào năm cửa ô chính rồi tỏa ra các khu, lần lượt tiếp quản Ga Hà Nội, phủ Toàn quyền cũ, khu Đồn Thủy, khu Bờ Hồ, Bắc Bộ phủ. 16  giờ  chiều  9/10/1954, những quân lính Pháp cuối cùng rút qua cầu Long Biên, quân ta hoàn toàn kiểm soát thành phố.

Trước đó, không khí Hà Nội trước ngày bộ đội ta về tiếp quản khá im ắng. Nhưng khi những tên lính Pháp cuối cùng rút qua cầu Long Biên thì cả Hà Nội đã rợp cờ hoa. Dù chính quyền thành phố chưa thành lập, nhưng người dân biết tin đã tự bảo nhau may cờ, khẩu hiệu. Đêm 9/10, người dân còn làm cổng chào, căng khẩu hiệu chuẩn bị đón đoàn quân chiến thắng.

Đến 5 giờ sáng 10/10/1954, cả Hà Nội tưng bừng nhộn nhịp cờ hoa đón mừng ngày hội lớn. 15 giờ chiều 10/10/1954, sau 9 năm kháng chiến trường kỳ, lá cờ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức tung bay, còi Nhà hát Thành phố nổi lên, hàng chục vạn quân dân Hà Nội đã trang nghiêm dự Lễ chào cờ do Ủy ban quân chính tổ chức tại Sân vận động Cột Cờ. Sau nhiều năm xa cách Thủ đô, nay các chiến sỹ của Tiểu đoàn Bình Ca, Đại đoàn 308 lại được trở về, hòa cùng với nhân dân nô nức đón mừng ngày chiến thắng, dưới bầu trời tự do, rực rỡ cờ hoa.

Nhớ lại những giây phút hào hùng của dân tộc, Đại tá Dương Niết xúc động bày tỏ: “Trở về Thủ đô, chúng tôi cảm nhận rất rõ khát khao hòa bình, tự do của người dân được vỡ òa trong niềm vui, niềm hạnh phúc vô bờ bến. Thật  đáng tự  hào  và chẳng còn gì vinh quang, hạnh phúc hơn. 68 năm trôi qua, cứ đến ngày này, nhất là khi được xem những hình ảnh tái hiện chặng đường chiến đấu oanh liệt của quân và dân Hà Nội, tôi như được sống lại năm tháng hào hùng đó. Tôi mong rằng, âm hưởng của bản hùng ca Hà Nội chiến đấu và chiến thắng vẫn luôn vang vọng tới mọi thế hệ, nhất là những thế hệ trẻ để họ tiếp nối truyền thống đầy tự hào của cha ông, xây dựng Thủ đô văn minh, giàu đẹp, hiện đại”.


Lung linh sao Thủ đô: Nữ chính trị viên giỏi cả "hai vai"

        Không chỉ là một cán bộ gương mẫu, trách nhiệm, tác phong làm việc sâu sát, quyết đoán, luôn gần gũi quan tâm đời sống người dân, đồng chí Phạm Thị Thúy, Bí thư Đảng ủy xã Duyên Hà, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội còn là Chính trị viên ban CHQS xã giỏi, tích cực chăm lo công tác quân sự, quốc phòng, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.

Khi đến xã Duyên Hà, chúng tôi thấy trải ra trước mắt là màu xanh bát ngát của những ruộng ngô, những vườn cà chua, dưa chuột sai trĩu quả và nhiều loại rau, củ, quả của người dân trồng trên cánh đồng cũng đang vào mùa thu hoạch. Giới thiệu về cánh đồng ấy, đồng chí Đặng Xuân Hiếu, Chỉ huy trưởng Ban CHQS xã Duyên Hà cho biết: “Đặc thù của xã là thuần nông, nằm ngoài đê hữu sông Hồng, nên hướng phát triển chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và du lịch sinh thái. Khu vực này trước đây do thiếu nước sản xuất nên người dân không cấy lúa được, bỏ đất hoang. Nhờ có sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, đặc biệt là vai trò của đồng chí Bí thư Đảng ủy xã Phạm Thị Thúy trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nên mấy chục héc-ta đất hoang đã hồi sinh trở thành vùng trồng cây chuyên canh như thế”.

Được biết những năm qua, kinh tế-xã hội xã Duyên Hà không ngừng phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao. Thu nhập từ sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, thủy sản đạt gần 46 tỷ đồng; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ đạt gần 225 tỷ đồng; thu nhập bình quân đầu người đạt 59,4 triệu đồng/năm. Xã đã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao. Nhiều năm liền, Đảng bộ xã Duyên Hà được công nhận trong sạch, vững mạnh. Thành tựu đó thể hiện năng lực lãnh đạo toàn diện của đảng bộ, chính quyền, trong đó có đóng góp quan trọng của Bí thư Đảng ủy xã Phạm Thị Thúy.

Lung linh sao Thủ đô: Nữ chính trị viên giỏi cả "hai vai"
Đồng chí Phạm Thị Thúy. 

Là Bí thư Đảng ủy kiêm Chính trị viên Ban CHQS xã, đồng chí Phạm Thị Thúy luôn tích cực nghiên cứu, đề xuất nhiều giải pháp với Đảng ủy, UBND xã thực hiện tốt công tác quân sự, quốc phòng, hoàn thành chức trách của người chính trị viên. Chị Thúy tâm sự: “Để hoàn thành tốt nhiệm vụ, tôi luôn phấn đấu rèn luyện, trau dồi kiến thức, kinh nghiệm, đồng thời tôn trọng, lắng nghe, tiếp thu ý kiến góp ý của đồng nghiệp, rồi tự điều chỉnh phương pháp làm việc cho phù hợp. Khi gặp khó khăn thì bình tĩnh, tìm hướng giải quyết phù hợp và hiệu quả nhất”.

Tác phong làm việc sâu sát, khoa học và trách nhiệm của đồng chí chính trị viên đã lan tỏa sang các đồng nghiệp, khiến mọi người đều quyết tâm, hết mình trong công việc. Chất lượng huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị của lực lượng dân quân xã Duyên Hà ngày càng được nâng cao; công tác giáo dục quốc phòng và an ninh, tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ hằng năm đều hoàn thành 100% chỉ tiêu; diễn tập chiến đấu trong khu vực phòng thủ đạt khá, giỏi. Cùng với đó, đồng chí Phạm Thị Thúy còn trực tiếp chỉ đạo lực lượng dân quân xã thực hiện tốt các phong trào thi đua, tham gia giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.

Thượng tá Đỗ Minh Đắc, Chính trị viên Ban CHQS huyện Thanh Trì, cho biết: “Nhiều năm qua, xã Duyên Hà luôn đạt thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, là đơn vị dẫn đầu huyện về công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ, công tác vận động quần chúng, huấn luyện, diễn tập..., được UBND huyện và Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội tặng nhiều bằng khen, giấy khen. Trong thành tích chung đó có sự đóng góp rất lớn của đồng chí Phạm Thị Thúy-một Bí thư Đảng ủy kiêm Chính trị viên Ban CHQS xã gương mẫu, trách nhiệm”.

BÁM BẢN GIÚP DÂN XÓA NGHÈO

Thực hiện mô hình “dân vận khéo”, “đơn vị dân vận tốt”, thời gian qua, Đảng ủy, chỉ huy Bộ CHQS tỉnh Nghệ An tập trung lãnh đạo các cơ quan, đơn vị xây dựng nhiều mô hình dân vận hiệu quả, như: “Giúp xã biên giới thoát nghèo”, “Giúp dân no đủ, tự chủ bản làng”... từng bước giúp các địa phương nơi biên cương xứ Nghệ tháo gỡ khó khăn, xóa đói giảm nghèo.

Nậm Giải (Quế Phong) là địa phương được Bộ CHQS tỉnh Nghệ An lựa chọn làm mô hình điểm “Giúp xã biên giới thoát nghèo”. Nậm Giải là xã biên giới, một trong những xã nghèo nhất của tỉnh Nghệ An, dân số chủ yếu là đồng bào dân tộc Thái, đời sống bà con còn nhiều khó khăn. Nơi đây, đường rừng núi xa xôi, hiểm trở, nhiều em học sinh phải lội bộ, băng rừng để đến lớp, vì vậy, tỷ lệ học sinh bỏ học còn khá cao.

Trước khó khăn đó, Bộ CHQS tỉnh Nghệ An tham mưu với cấp trên xây dựng nhà ăn bán trú và hệ thống tắm nóng lạnh tặng Trường Tiểu học, THCS xã Nậm Giải trị giá 1,8 tỷ đồng (trích từ Quỹ “Vì người nghèo” của Bộ Quốc phòng). Công trình được khánh thành đầu năm 2021 giúp học sinh, giáo viên nhà trường giảm bớt khó khăn trên hành trình “gieo chữ” nơi vùng cao này. Chị Quang Thị Xuân, ở bản Piêng Lâng, xã Nậm Giải, cho biết: "Các con có nhà ăn bán trú khang trang và điều kiện sinh hoạt tốt hơn trước nên bà con biết ơn Bộ đội Cụ Hồ nhiều lắm".

Kỳ Sơn là huyện biên giới của tỉnh Nghệ An, điều kiện kinh tế-xã hội còn nhiều khó khăn. Ban CHQS huyện Kỳ Sơn đã triển khai mô hình “Giúp dân no đủ, tự chủ bản làng” với mục tiêu vừa giúp bà con biên giới phát triển kinh tế kết hợp với củng cố quốc phòng, an ninh. Thượng tá Vương Đình Hạnh, Chính trị viên Ban CHQS huyện Kỳ Sơn cho biết: "Trong mô hình đó, đơn vị xác định và chọn xã Hữu Lập để kết nghĩa; ký kết các nội dung theo quy chế thỏa thuận, phối hợp, giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm; giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình tổ chức các hoạt động hướng vào hoàn thành nhiệm vụ chính trị của địa phương và đơn vị".

Thực hiện mô hình, Ban CHQS huyện Kỳ Sơn giúp đỡ bản Xốp Thạng, xã Hữu Lập xây dựng bản nông thôn mới; hỗ trợ hộ nghèo, giúp đỡ các em học sinh, dân quân, tự vệ có hoàn cảnh khó khăn, phối hợp với xã làm đường nông thôn mới, phối hợp với Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp huyện Kỳ Sơn hỗ trợ cây trồng, vật nuôi cho bà con trong phát triển kinh tế; trực tiếp giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trên địa bàn... Vừa qua, Ban CHQS huyện Kỳ Sơn huy động lực lượng cùng cấp ủy, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể và nhân dân xã Hữu Lập thực hiện chương trình nông thôn mới, hỗ trợ 2 tấn xi măng, đổ hơn 1km đường bê tông liên thôn, liên bản thuộc bản Xốp Thạng và bản Na với gần 50 ngày công.

Hằng tháng, Ban CHQS huyện Kỳ Sơn trích một phần kinh phí để gây quỹ, vận động cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp trong đơn vị tự nguyện đóng góp ủng hộ với tinh thần “tiết kiệm bản thân để phần người khó”, mỗi người ủng hộ 20.000 đồng/tháng từ tiền lương của bản thân để gây quỹ thực hiện mô hình. Bên cạnh đó, đơn vị còn vận động các nhà hảo tâm trong và ngoài huyện ủng hộ về vật chất và kinh phí triển khai thực hiện. Dự kiến vào tháng 10 và tháng 11 năm nay, khi có đủ số tiền, Ban CHQS huyện Kỳ Sơn sẽ hỗ trợ giúp đỡ hai hộ gia đình ở xã Hữu Lập và xã Na Ngoi làm nhà kiên cố thay nhà tạm tranh tre.

Đáp lại những tình cảm của Ban CHQS huyện Kỳ Sơn, chính quyền và nhân dân xã Hữu Lập và bản Xốp Thạng kịp thời trao đổi thông tin liên quan đến công tác bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã và bản, phối hợp thực hiện tốt các nhiệm vụ về phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội, bảo vệ an toàn các hạng mục quân sự...

Đi trên con đường bê tông mà Ban CHQS huyện Kỳ Sơn phối hợp với chính quyền, nhân dân xã Hữu Lập xây dựng, đồng chí Lô Đình Thụ, Chủ tịch UBND xã Hữu Lập chia sẻ: “Xã Hữu Lập có 100% người dân là đồng bào dân tộc thiểu số, giao thông đi lại hiểm trở, kinh tế-xã hội chưa phát triển... Đúng như tên gọi và mục tiêu của mô hình là “Giúp dân no đủ, tự chủ bản làng”, mô hình góp phần giúp đời sống đồng bào có nhiều đổi thay.

Nhiều hộ dân có điều kiện xây dựng nhà ở, học sinh tiếp sức đến trường, an ninh chính trị ổn định, tệ nạn xã hội giảm bớt, người dân một lòng tin tưởng vào Đảng, Nhà nước và thêm trân quý tình cảm Bộ đội Cụ Hồ. Tin rằng, trong thời gian tới, mô hình sẽ tiếp tục phát triển sâu rộng, giúp đỡ địa phương và nhiều người dân vươn lên thoát nghèo, bà con có cuộc sống ấm no, để tình nghĩa quân dân nơi biên cương ngày càng thắm thiết, bền chặt”.

Nâng cao chất lượng xây dựng lực lượng vũ trang, phát huy sức mạnh tổng hợp trong bảo vệ Tổ quốc

Thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 25-10-2013 Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, thời gian qua, tỉnh Bình Dương phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng và sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Bình Dương là tỉnh nội địa trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nằm trong thế trận phòng thủ chủ yếu của Quân khu 7, là địa bàn có chiến lược quan trọng về phát triển kinh tế-xã hội và quốc phòng, an ninh. Trong 10 năm qua, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bình Dương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI và đã được các cấp, các ngành tổ chức quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện đồng bộ, đạt kết quả khá toàn diện. Đồng thời, phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng và sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Cấp ủy, chính quyền tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, gắn với việc củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo đảm an sinh xã hội... Khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, thị xã, thành phố được xây dựng ngày càng hoàn thiện, hoạt động có hiệu quả. Lực lượng quân sự, công an được tập trung xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức với chất lượng tổng hợp, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu ngày càng nâng cao, thực hiện tốt vai trò làm nòng cốt trong công tác triển khai và tổ chức thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 Khóa XI.

Đại tá Nguyễn Hoàng Minh, chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự (CHQS) tỉnh Bình Dương cho biết: Tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức tốt việc nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI gắn với các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh, khu vực phòng thủ... Ban chỉ đạo khu vực phòng thủ các cấp được thành lập đúng quy định và thường xuyên được củng cố kiện toàn, hoạt động ngày càng nề nếp, hiệu quả... Từ đó, 100% cán bộ chủ chốt các cấp nhận thức đúng đắn về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình hiện nay.

Với mục tiêu xây dựng lực lượng vũ tỉnh theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, thời gian qua, Bình Dương có nhiều mô hình mới, cách làm hay phù hợp với đặc thù của một tỉnh phát triển công nghiệp. Điển hình là thành lập được Đại đội Dân quân thường trực (DQTT) cấp tỉnh, gồm 97 cán bộ, chiến sĩ, được trang bị vũ khí và công cụ hỗ trợ, bảo đảm đầy đủ các chế độ chính sách, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ. Bình Dương là địa phương đầu tiên của Quân khu 7 và cả nước thành lập được lực lượng này.

Đặc biệt, Bình Dương đầu tư kinh phí để xây dựng trụ sở làm việc khang trang, nơi ăn ở đồng bộ, bảo đảm các điều kiện về vật chất tinh thần. Theo Đại tá Nguyễn Hoàng Minh, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh, đến nay, 91 trụ sở làm việc của Ban CHQS xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh đều được xây dựng khang trang, kiên cố, với tổng kinh phí hơn 143 tỷ đồng. Đây là chủ trương phù hợp nhằm bảo đảm cho Ban CHQS xã, phường, thị trấn và lực lượng DQTT có nơi làm việc, ăn, ở, sinh hoạt, học tập, huấn luyện, tạo điều kiện thuận lợi để lực lượng quân sự ở cơ sở thực hiện tốt các tiêu chí xây dựng Ban CHQS cấp xã vững mạnh toàn diện, lực lượng dân quân vững mạnh, nâng cao hiệu quả phối hợp, hoạt động giữ gìn an ninh trật tự tại địa phương.

Qua nhiều năm củng cố và kiện toàn, đội ngũ cán bộ, Ban CHQS cấp xã đã bảo đảm đúng và đủ biên chế theo quy định. Hiện nay, 91/91 chi bộ quân sự cấp xã có chi ủy, 100% trung đội dân quân cơ động, tiểu đội DQTT có tổ Đảng, cán bộ khu, ấp đội trưởng đều là đảng viên, chú trọng thực hiện đúng quy trình tuyển chọn và tuyển cử cán bộ, chiến sĩ DQTT của Ban CHQS xã, phường, thị trấn đi đào tạo chuyên ngành quân sự ở trình độ cao đẳng, đại học đạt chỉ tiêu được giao. Hiện nay, gần 80% cán bộ Ban CHQS cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh qua đào tạo trình độ cao đẳng, đại học ngành quân sự cơ sở.

Nhìn chung, Lực lượng vũ trang tỉnh Bình Dương tiếp tục đột phá xây dựng theo hướng tinh, gọn, mạnh, vững mạnh về chính trị tư tưởng, đạo đức, tổ chức, huấn luyện, khả năng sẵn sàng chiến đấu cao. Với quan điểm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, an ninh chủ động, thế trận quân sự rộng khắp, lực lượng vũ trang đã tham mưu tỉnh đầu tư kinh phí xây dựng các công trình quốc phòng, xây dựng thế trận khu vực phòng thủ, xây dựng các mô hình mới phù hợp, sát với thực tiễn địa phương đặt ra, bảo đảm sẵn sàng chuyển địa phương từ thời bình sang thời chiến khi có tình huống xảy ra.

Thời gian tới, Đảng bộ, chính quyền, các tầng lớp nhân dân và lực lượng vũ tranh tỉnh tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân quyết tâm cùng cả nước thực hiện tốt mục tiêu: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.