Thứ Hai, 10 tháng 10, 2022

Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam khai tử Hoàng Duy Hùng

 

Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam khai tử Hoàng Duy Hùng

Đúng ngày 2/9/2022, Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, cơ quan ngôn luận chính thống của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chính thức vạch mặt tên CCCĐ Hoàng Duy Hùng.

Điều đặc biệt trong bài viết này là đã chính thức gọi Hoàng Duy Hùng là kẻ có quan điểm chống phá Cách mạng Việt Nam khi những ngày gần đây Y liên tục tuyên truyền từ 1954 đến 1975 ở VN có hai quốc gia và xuyên tạc lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bài báo viết:

Trong các tháng 5,6,7,8 năm 2022 suốt trong những ngày nhân dân ta kỷ niệm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, nhiều lần, trên nhiều diễn đàn, trang mạng xã hội “Luật sư người Mỹ gốc Việt” tiếp tục nhiều lần tuyên bố: “Trong giai đoạn 1954 đến 1975 Việt Nam có hai quốc gia. Những ai nói Việt Nam chỉ có một quốc gia là ngu dốt, là kẻ tội đồ của dân tộc, là kẻ phản quốc, là tiếp tay cho Trung Quốc cướp Hoàng Sa, Trường Sa... Lời cụ Hồ nói "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn núi có thể mòn song chân lý đó không bao giờ thay đổi” chỉ là lời nói cảm tính của cụ Hồ và người Việt Nam”.

Việt Nam đi theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử

Lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua đã khẳng định một chân lý: Đi theo con đường cách mạng XHCN và đi lên CNXH là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, phù hợp với khát vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam.
Chủ nghĩa Mác-Lênin đã luận giải khoa học về sự thay thế của những hình thái KT-XH từ thấp đến cao là quá trình lịch sử-tự nhiên, là do vận động của những quy luật KT-XH khách quan. Với quan điểm duy vật biện chứng khoa học, các nhà kinh điển Mác-xít đã chỉ ra hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa tất yếu ra đời và thay thế hình thái KT-XH TBCN. Nó phải trải qua “một thời kỳ và hai giai đoạn”, đó là thời kỳ quá độ, giai đoạn đầu là CNXH, giai đoạn cao là cộng sản chủ nghĩa. Hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa sẽ phát triển cao hơn và khác về chất so với hình thái KT-XH TBCN nên phải trải qua quá trình cải biến cách mạng lâu dài; không bao giờ tự phát hình thành mà thông qua vận động của các quy luật về KT-XH, con đường đấu tranh cách mạng để xóa bỏ áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản và xây dựng xã hội mới. Hệ thống lý luận cơ bản đó của Chủ nghĩa Mác-Lênin là cách mạng, khoa học, được vận dụng thành công ở nước Nga từ năm 1917. CNXH từ lý luận trở thành hiện thực, từ một nước phát triển thành hệ thống chính trị thế giới đối lập với hệ thống TBCN trong hơn 7 thập niên.
Về thực tiễn, CNXH hiện thực ra đời đã thể hiện tính ưu việt hơn CNTB. Công cuộc xây dựng CNXH ở nước Nga, sau đó là Liên Xô có thời gian chưa dài, nhưng đã giành được nhiều thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực. Sản lượng công nghiệp chiếm 20% tổng sản lượng công nghiệp thế giới; sản lượng điện đạt 440 tỷ kWh (gấp hơn 300 lần so với năm 1913; bằng 4 nước lớn là Anh, Pháp, Đức, Italy cộng lại); dầu mỏ đạt 353 triệu tấn, than 624 triệu tấn, thép 121 triệu tấn (vượt sản lượng của Mỹ). Có thể thấy, trong một thời gian ngắn, CNXH ra đời ở Liên Xô và nhiều nước XHCN tuy chưa hoàn thiện nhưng đã phát triển lớn mạnh về nhiều mặt, khác hẳn về chất so với CNTB.
Điều đó cho thấy, CNXH là một hiện thực, hoàn toàn không phải là “giấc mơ”, cũng chẳng phải là “ảo tưởng về một thiên đường” như các thế lực thù địch rêu rao! Sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu (trước đây) chỉ là sự đổ vỡ của một mô hình cụ thể do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, chứ không phải do Chủ nghĩa Mác-Lênin hay lý tưởng về CNXH đã lỗi thời, lạc hậu.
Mặc dù CNTB đạt được những thành tựu to lớn nhưng chủ yếu đem lại lợi ích cho giai cấp tư sản mà không vì lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân lao động. Những mâu thuẫn nội tại và đối kháng trong xã hội TBCN chỉ giải quyết bằng con đường tất yếu là cách mạng XHCN. Trong bối cảnh hiện nay, CNTB đã có những thích nghi, phát triển nhất định nhờ tận dụng được những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, toàn cầu hóa và kinh tế tri thức. Các nước XHCN đang ở giai đoạn khó khăn tạm thời, song theo quy luật phát triển khách quan của lịch sử, CNTB sẽ bị xóa bỏ, chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là CNXH ưu việt hơn sẽ ra đời, tồn tại và phát triển.
Đối với cách mạng Việt Nam, những năm nửa đầu thế kỷ 20, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã có 30 năm bôn ba ở nước ngoài, đến các nước tư bản phát triển, đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm ra con đường cách mạng đúng đắn để giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, bóc lột, xâm lược và đô hộ của chủ nghĩa thực dân và phong kiến. Người khẳng định, muốn giành lại được độc lập cho dân tộc thì phải tiến hành con đường cách mạng vô sản và xây dựng chế độ XHCN. Từ năm 1930, “Chánh cương vắn tắt” của Ðảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được Hội nghị thành lập Ðảng thảo luận, thông qua đã xác định rõ đường lối của cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Năm 1991, Đảng đã ban hành “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”, trong đó chỉ ra 6 đặc trưng cơ bản của chế độ XHCN ở Việt Nam. Đến Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã phát triển sáng tạo thành 8 đặc trưng của CNXH ở Việt Nam, trong đó đặc trưng bao trùm là “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Hơn 90 năm được rèn giũa, tôi luyện, thử thách trong thực tiễn cách mạng sôi động, phong phú, Đảng Cộng sản Việt Nam có bản lĩnh chính trị, có trí tuệ, có khả năng lãnh đạo thành công công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam. Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc lớn trong thế kỷ 20, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) bị khủng hoảng, sụp đổ thì Đảng ta vẫn kiên định con đường đi lên CNXH, kiên trì đường lối đổi mới, giữ vững nguyên tắc “đổi mới nhưng không đổi màu”. Trải qua gần 40 năm tiến hành đổi mới, Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta đã đạt được thành tựu rất to lớn, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và có ý nghĩa lịch sử. Đại hội XIII của Đảng đánh giá khái quát: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay... Tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại” (trích báo QĐND)

Bảo vệ không gian mạng

 Xây dựng và bảo vệ môi trường không gian mạng là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhằm tạo ra một xã hội ảo trên internet lành mạnh, an toàn, bền vững, thể hiện đậm nét bản sắc văn hóa dân tộc. Để nâng cao hiểu biết trách nhiệm về xây dựng và bảo vệ không gian mạng, các cấp, các ngành cần làm tốt công tác giáo dục, nâng cao nhận thức về trách nhiệm xây dựng và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Trong đó, tập trung tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Bộ luật Hình sự (năm 2015) liên quan đến lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông; Luật An toàn thông tin mạng (năm 2015); Luật An ninh mạng (năm 2018)... Phòng ngừa, ngăn chặn, ứng phó, khắc phục hậu quả các đợt tấn công mạng, khủng bố mạng và phòng, chống nguy cơ chiến tranh mạng.

Lên án các hành vi sử dụng không gian mạng để tuyên truyền chống Nhà nước; tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc; thông tin sai sự thật; hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội; phá hoại thuần phong, mỹ tục; xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội. Đấu tranh với các biểu hiện, hành động tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng; lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi... Các cơ sở giáo dục sớm đưa nội dung giáo dục bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia vào chương trình dạy học phù hợp với ngành học, cấp học.

Hoạt động tấn công mạng rất đa dạng và tinh vi, cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân cần cảnh giác trước thủ đoạn của các thế lực thù địch. Hiện nay, chúng đang có âm mưu tấn công đánh sập các website của Chính phủ, cơ quan, đơn vị, nhà trường, doanh nghiệp; giả mạo các website nhằm lừa đảo, đánh cắp dữ liệu cá nhân; tấn công bằng mã độc; tấn công ẩn danh bằng những phần mềm độc hại;... Các thế lực thù địch sẽ lợi dụng blog cá nhân để lôi kéo, kích động những phần tử bất mãn, tập hợp lực lượng, thành lập các tổ chức chống đối xuyên tạc Cương lĩnh, đường lối, quan điểm, nền tảng tư tưởng của Đảng...

Các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể và cán bộ, đảng viên cần nâng cao ý thức trách nhiệm xây dựng và bảo vệ không gian mạng. Nêu cao ý thức chính trị, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ không gian mạng quốc gia. Tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ an ninh mạng; kịp thời cung cấp thông tin liên quan đến an ninh mạng, nguy cơ đe dọa an ninh mạng và các hành vi xâm phạm khác, thực hiện yêu cầu và hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

Mỗi cá nhân cần nghiên cứu và sử dụng tốt các biện pháp kỹ thuật bảo đảm an toàn thông tin như bảo vệ tài khoản cá nhân bằng xác thực mật khẩu 2 lớp; tạo thói quen quét virus trước khi mở file; thực hiện sao lưu dự phòng với các dữ liệu quan trọng;... Người dùng cần cảnh giác với những trang web lạ, những email chưa rõ danh tính và đường dẫn đáng nghi ngờ; cập nhật bản trình duyệt, hệ điều hành và các chương trình sử dụng; dùng những phần mềm diệt virus uy tín và được cập nhật thường xuyên, không tắt chương trình diệt virus trong mọi thời điểm. (trích báo QĐND)

Lợi ích và các thách thức trên Không gian mạng

Không gian mạng đã và đang mang lại nhiều giá trị tích cực cho sự phát triển của xã hội, tổ chức và cá nhân. Cùng với sự phát triển không ngừng của các dịch vụ internet, các công nghệ mạng 4G, 5G, các trang mạng xã hội, các thiết bị IoT, dịch vụ điện toán đám mây... không gian mạng đang làm cho con người tương tác đa chiều hơn, phản ánh sinh động, tức thời hơn với mọi mặt đời sống và các mối quan hệ xã hội. Chính điều này đã biến không gian mạng trở thành không gian xã hội mới, nơi con người có thể thực hiện các hành vi mang bản chất xã hội của mình, như giao tiếp, sáng tạo, lao động, sản xuất, tiêu dùng, học tập và vui chơi giải trí, không bị giới hạn bởi địa lý, ngôn ngữ, không gian và thời gian.
Lợi ích của không gian mạng còn được biết đến là nền tảng số trong chương trình chuyển đổi số quốc gia, các Chiến lược phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3-6-2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, không gian mạng là nơi diễn ra các hoạt động của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, người dân trên môi trường số; các giao tiếp giữa chính quyền và người dân, doanh nghiệp cơ bản diễn ra trên không gian mạng. Khi đó, không gian mạng thật sự trở thành không gian với nguồn tài nguyên số vô tận, ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và đặc biệt là con người.
Cùng với những lợi ích to lớn, không gian mạng đang tạo ra các nguy cơ và thách thức đối với an ninh quốc gia, an ninh con người và trật tự an toàn xã hội. Đó là những thách thức về tình báo mạng, gián điệp mạng, khủng bố mạng, nguy cơ về một cuộc chiến tranh mạng và hàng loạt nguy cơ khác. Nếu không gian mạng quốc gia không được bảo vệ, các bí mật Nhà nước sẽ bị lộ lọt; các hạ tầng quan trọng của quốc gia như hệ thống thông tin hàng không, điện lưới quốc gia, giao thông đường bộ, các cơ sở công nghiệp trọng yếu sẽ bị phá hủy; hệ thống tài chính, ngân hàng và nhiều lĩnh vực khác bị đình trệ hoặc rối loạn hoạt động.
Thời gian qua, các thế lực thù địch đã lợi dụng môi trường mạng xã hội để xuyên tạc Cương lĩnh, đường lối, quan điểm, nền tảng tư tưởng của Đảng; lôi kéo, kích động các phần tử bất mãn, tập hợp lực lượng, thành lập các tổ chức chống đối; tán phát tài liệu, kêu gọi tuần hành, biểu tình, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Bên cạnh đó, không gian mạng còn bị lợi dụng gây nên những thiệt hại về tài sản, tinh thần, sức khỏe, thậm chí cả tính mạng con người. Không ít vụ lừa đảo qua mạng, những người đăng tải lời nhận xét, bình luận, chia sẻ, thậm chí tự dựng lên những câu chuyện, clip sai sự thật gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, danh dự, uy tín của tổ chức, cá nhân. (trích báo QDND)

Quản lý các vấn đề xã hội ở Việt Nam

 


Các vấn đề xã hội là hệ quả song hành với quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, và thường là những hiện tượng xã hội rẩt phức tạp, nan giải mà bất kỳ một quốc gia dân tộc nào dù phát triển hoặc chưa phát triển cũng có thể phải đối mặt. Thực tế cho thấy, các vấn đề xã hội cũ đang có xu hướng trỗi dậy và gia tăng. Đồng thời, các vấn đề xã hội mới ngày càng xuất hiện. Sự gia tăng tác động tiêu cực của các vấn đề xã hội đang là những thách thức cản trỏ việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, làm chậm lại quá trình phát triển của xã hội. Chính vì vậy, quản lý và giải quyết các vấn đề xã hội phải trở thành một trong những nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, nhà nước và xã hội Việt Nam. Song để đạt mục tiêu này, một yều cầu đặt ra là cần phải được dự báo các vấn đề xã hội một cách kịp thời, chính xác và đưa rà chương trình nghị sự chung của quốc gia. Muốn vậy, vấn đề xã hội cần được đặt vào đúng vị trí của chúng trong chương trình nghị sự của Đảng và Nhà nước[1]. Để đảm bảo tính hiệu quả, hiệu lực trong quản lý các vấn đề xã hội đòi hỏi cần phải xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ, kịp thời, thích hợp và khả thi. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (2016) đã nhấn mạnh mục tiêu: Phát triển kinh tế đi đôi với giải quyết tốt vấn đề xã hội; giải quỵết tốt các vấn đề xã hội là tạo ra động lực cho sự phát triển xã hội hài hòa, bển vững[2].

 



[1] Đặng Nguyên Anh và cộng sự (2013), tài liệu đă dẫn.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). sđd.

Những vấn đề cơ bản trong quản lý các vấn đề xã hội

 


Các vấn đề xã hội nảy sinh từ những hệ quả của quá trình phát triển kinh tế - xã hội quá nhanh chóng, mất cân bằng, thiếu bền vững, có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của con người và xã hội. Do vậy, giải quyết vấn đề xã hội là nhằm bảo đảm sự ổn định cho quá trình chuyển hóa tăng trưởng kinh tế thành phát triển bền vững theo hướng tiến bộ và công bằng xã hội.

Tăng trưởng kinh tế, dù mạnh mẽ đến đâu cũng không thể tự động và trực tiếp giải quyết được các vấn đê xã hội. Do đó, tập trung quản lý, giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội là một trong những nét đặc trưng của con đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó là con đường phát triển dựa vào con người và hướng đến con người. Nó cũng là một đặc điểm bảo đảm sự điều tiết của Nhà nước xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

Coi trọng tổ chức xây dựng lực lượng nòng cốt trong đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận


Để nâng cao chất lượng đấu tranh chống các quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cần tổ chức lực lượng nòng cốt, chuyên sâu. Đây là lực lượng trụ cột, tiên phong trong đấu tranh bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng; đổng thời, trực tiếp phối hợp với các tổ chức, các lực lượng nghiên cứu và đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch.

Cần tập trung xây dựng, bồi dưỡng lực lượng nòng cốt đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, đó là những cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ lý luận cao, có khả năng diễn đạt, luận chiến thuyết phục, có nhiệt huyết, dũng khí, quyết tâm đấu tranh để bảo vệ nền tảng lý luận của Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Các tổ chức quản lý cần cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, định hướng nội dung, hình thức và phương pháp đấu tranh và làm tốt công tác bảo đảm về kinh phí, thời gian cho lực lượng tham gia đấu tranh. Làm tốt công tác tổ chức, động viên những nhà khoa học, cán bộ chủ trì, chủ chốt ở các viện nghiên cứu, các học viện, nhà trường, các cơ quan, đơn vị và đội ngũ phóng viên, biên tập viên của các cơ quan thông tấn, báo chí, xuất bản tích cực tham gia đấu tranh chống các quan điểm sai trái, phản động trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa của các thế lực thù địch, ở mỗi ban, ngành, đoàn thể cần chú trọng tổ chức lực lượng tác chiến mạng, chuyên sâu đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái trên Internet. Hình thành các trang web cá nhân của lực lượng nòng cốt, mở rộng, phát triển các Bloger để ứng dụng có hiệu quả công nghệ thông tin nâng cao hiệu quả đấu tranh trên không gian mạng. Đồng thời, chủ động áp dụng các biện pháp kỹ thuật để chặn, lọc thông tin mạng, không để các thế lực thù địch lợi dụng mạng xã hội để tuyên truyền quan điểm sai trái, phản động văn hóa xấu độc để chống phá ta. Đây là cuộc đấu tranh quyết liệt và phức tạp, những chiến sĩ trên mặt trận này là những chiến sĩ tiên phong, chủ lực, trực tiếp, trực diện đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” họ luôn phải đối mặt với những thách thức, khó khăn và cả sự hiểm nguy trước sự tấn công của các thế lực thù địch. Vì vậy, cần có cơ chế, chính sách đãi ngộ thỏa đáng về vật chất và tinh thần đấu tranh của họ; đồng thời có cơ chế, biện pháp bảo vệ trước sự chống phá của các thế lực thù địch.

Đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” nói chung, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, phản động, phát triển lý luận đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” nói riêng là vấn đề hệ trọng, đang diễn ra ngày càng quyết liệt, phức tạp, là mặt trận nóng bỏng hàng đầu, liên quan đến nền tảng tư tưởng của Đảng, sự tồn vong của chế độ. Do vậy, để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh này phải có các giải pháp đồng bộ, phát huy sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả xã hội./. 

Vấn đề xã hội trên thế giới và ở Việt Nam

 


Năm 2000, Liên Họp quốc đã xác định 8 vấn đề xã hội- Mục tiêu thiên iên kỷ, bao gồm: 1) Xóa bỏ nghèo cùng cực & đói; 2) Phổ cập giáo dục tiểu học; 3)Tăng cường bình đẳng giới ;4) Giảm tỷ lệ từ vong ở trẻ em; 5.Tăng cường sức khỏe cho bà mẹ; 6) Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét, dịch bệnh; 7) Bảo đảm bền vững về môi trường; 8) Thiêt lập quan hệ toàn cầu vì phát triển.  Các vấn đề xã hội ở Việt Nam, bao gồm: 1) Lạm phát; 2) Thất nghiệp; 3) Bất bình đẳng xã hội; 4) Chất lượng giáo đục; 5) Thiên tai, biến đổi khí hậu; 6) Tham nhũng, buôn lậu; 7) ách tắc giao thông; 8) Vệ sinh an toàn thực phẩm, môi trường; 9) Chất lượng khám chữa bệnh; 10) Dịch bệnh; 11) vấn đề khác.Có thể khẳng định, các vấn đề xã hội ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong công tác lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước Việt Nam. Văn kiện các kỳ Đại hội Đảng đều đề cập khá rõ nhiều vấn đề xã hội nổi cộm như: tình trạng tham nhũng và suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; suy giảm niềm tin, tệ nạn xã hội như ma túy và mại dâm; tai nạn giao thông và thương tích; chất lượng nền giáo dục và đào tạo; chất lượng hệ thống khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Đặc biệt, từ năm 1986 đến nay, tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về giải quyết các vấn đề xã hội đã có những bước phát triển mới: Từ chỗ Nhà nước bao cấp toàn bộ việc giải quyết vấn đề xã hội sang nhấn mạnh việc phát huy quá trình xã hội hóa trong giải quyết vấn đề xã hội. Từ chỗ không chấp nhận vấn đề xã hội trong quá trình xây dựng đất nước sang chấp nhận các vấn đề xã hội như là hệ quả không mong muốn, song hành với sự phát triển kinh tế-xã xã hội. Từ chỗ coi việc giải quyết vấn đề xã hội là vấn đề thuần túy có tính chất chi phí nguồn lực sang vấn đề đầu tư cho phát triển bền vững. Từ chỗ giải quyết vẩn đề xã hội mang tính bị động/đối phó sang phương châm: dự báo, chủ động, tích cực hơn. Đặc biệt, trong việc giải quyết vấn đề xã hội đã từng bước lấy con người làm trung tâm, mục tiêu và động lực trong hoạch định và thực thi hệ thống chính sách an sinh xã hội nhằm giải quyết tốt, hiệu quả vấn đề xã hội.




10. Chủ động nâng cao chất lượng đấu tranh, phản các quan điểm sai trái, thù địch trên rĩnh vực tư tưởng, lý luận Hơn 90 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng duy nhất lãnh đạo, dẫn dắt dân tộc và nhân dân Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và tiếp tục phát triển ngày càng phôn vinh, hạnh phúc. Trong suốt thời gian đó, nhất là từ khi Nghị quyết 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới (Nghị quyết 35-NQ/TW) ra đời đã có nhiều giải pháp phòng ngừa, đấu tranh làm thất bại những mưu, thủ đoạn, nội dung chống phá của các thế lực thù địch, kết quả đã được khẳng định bằng thực tiễn. Kế thừa, phát triển trong điều kiện tình hình mới chúng ta cần thực hiện đồng bộ một số nhiệm vụ, giải pháp. Chất lượng đấu tranh chống quan điểm sai trái, phản động trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa phụ thuộc vào việc nhận rõ bản chất các luận điệu phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cùng với việc vạch trần thủ đoạn thổi phổng những sơ hở, yếu kém của Đảng, Nhà nước ta trong công tác xây dựng đảng, trong quản lý kinh tế - xã hội nhằm kích động tâm lý bất mãn với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong quần chúng nhân dân. Chất lượng đấu tranh chống các quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch còn phụ thuộc vào nhận thức chính trị, nếp sống văn hóa của mọi tổ chức, lực lượng và Nhân dân. Bởi lẽ, nhận thức chính trị vững vàng là lá chắn, cơ sở phòng chống, phản bác có hiệu quả nhất trước các luận điệu sai trối phản động của chúng. Quán triệt tư tưởng cách mạng tiến công, tuyệt đối trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng vào thực tiễn để xem xét, phân tích, đánh giá, vạch trần bản chất phản động, phản khoa học của những quan điểm sai trái, thù địch. Nâng cao chất lượng đấu tranh chống các quan điểm sai trái phản động của các thế lực thù địch phải chủ động thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước sâu, rộng trong quần chúng nhân dân. Tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng; xây dựng hệ thống bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh; củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, đảm bảo mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa. Mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; tăng cường công tác lãnh đạo, quản lý báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ; nâng cao chất lượng, hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan, ban nghành chức năng trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái phản động của các thế lực thù địch.

10. Chủ động nâng cao chất lượng đấu tranh, phản các quan điểm sai trái, thù địch trên rĩnh vực tư tưởng, lý luận

Hơn 90 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng duy nhất lãnh đạo, dẫn dắt dân tộc và nhân dân Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và tiếp tục phát triển ngày càng phôn vinh, hạnh phúc. Trong suốt thi gian đó, nhất là từ khi Nghị quyết 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới (Nghị quyết 35-NQ/TW) ra đời đã có nhiều giải pháp phòng ngừa, đấu tranh làm thất bại những mưu, thủ đoạn, nội dung chống phá của các thế lực thù địch, kết quả đã được khẳng định bằng thực tiễn. Kế thừa, phát triển trong điều kiện tình hình mới chúng ta cần thực hiện đồng bộ một số nhiệm vụ, giải pháp.

Chất lượng đấu tranh chống quan điểm sai trái, phản động trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa phụ thuộc vào việc nhận rõ bản chất các luận điệu phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cùng với việc vạch trần thủ đoạn thổi phổng những sơ hở, yếu kém của Đảng, Nhà nước ta trong công tác xây dựng đảng, trong quản lý kinh tế - xã hội nhằm kích động tâm lý bất mãn với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong quần chúng nhân dân. Chất lượng đấu tranh chống các quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch còn phụ thuộc vào nhận thức chính trị, nếp sống văn hóa của mọi tổ chức, lực lượng và Nhân dân. Bởi lẽ, nhận thức chính trị vững vàng là lá chắn, cơ sở phòng chống, phản bác có hiệu quả nhất trước các luận điệu sai trối phản động của chúng. Quán triệt tư tưởng cách mạng tiến công, tuyệt đối trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng vào thực tiễn để xem xét, phân tích, đánh giá, vạch trần bản chất phản động, phản khoa học của những quan điểm sai trái, thù địch.

Nâng cao chất lượng đấu tranh chống các quan điểm sai trái phản động của các thế lực thù địch phải chủ động thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước sâu, rộng trong quần chúng nhân dân. Tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng; xây dựng hệ thống bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh; củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, đảm bảo mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa. Mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; tăng cường công tác lãnh đạo, quản lý báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ; nâng cao chất lượng, hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan, ban nghành chức năng trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái phản động của các thế lực thù địch.

Hơn 90 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng duy nhất lãnh đạo, dẫn dắt dân tộc và nhân dân Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và tiếp tục phát triển ngày càng phôn vinh, hạnh phúc. Trong suốt thi gian đó, nhất là từ khi Nghị quyết 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới (Nghị quyết 35-NQ/TW) ra đời đã có nhiều giải pháp phòng ngừa, đấu tranh làm thất bại những mưu, thủ đoạn, nội dung chống phá của các thế lực thù địch, kết quả đã được khẳng định bằng thực tiễn. Kế thừa, phát triển trong điều kiện tình hình mới chúng ta cần thực hiện đồng bộ một số nhiệm vụ, giải pháp.

Chất lượng đấu tranh chống quan điểm sai trái, phản động trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa phụ thuộc vào việc nhận rõ bản chất các luận điệu phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cùng với việc vạch trần thủ đoạn thổi phổng những sơ hở, yếu kém của Đảng, Nhà nước ta trong công tác xây dựng đảng, trong quản lý kinh tế - xã hội nhằm kích động tâm lý bất mãn với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong quần chúng nhân dân. Chất lượng đấu tranh chống các quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch còn phụ thuộc vào nhận thức chính trị, nếp sống văn hóa của mọi tổ chức, lực lượng và Nhân dân. Bởi lẽ, nhận thức chính trị vững vàng là lá chắn, cơ sở phòng chống, phản bác có hiệu quả nhất trước các luận điệu sai trối phản động của chúng. Quán triệt tư tưởng cách mạng tiến công, tuyệt đối trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng vào thực tiễn để xem xét, phân tích, đánh giá, vạch trần bản chất phản động, phản khoa học của những quan điểm sai trái, thù địch.

Nâng cao chất lượng đấu tranh chống các quan điểm sai trái phản động của các thế lực thù địch phải chủ động thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước sâu, rộng trong quần chúng nhân dân. Tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng; xây dựng hệ thống bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh; củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, đảm bảo mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa. Mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; tăng cường công tác lãnh đạo, quản lý báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ; nâng cao chất lượng, hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan, ban nghành chức năng trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái phản động của các thế lực thù địch. 

NHẬN DIỆN, ĐẤU TRANH VỚI CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG TÔN GIÁO ĐỂ CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG



Trong giai đoạn hiện nay, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Chúng lợi dụng con đường công khai, hợp pháp để triển khai các hoạt động xâm phạm lợi ích quốc gia - dân tộc; chúng tìm mọi “mưu ma chước quỷ” hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị của đất nước... trong đó, có chiêu bài lợi dụng vấn đề tôn giáo, đội lốt tôn giáo để thực hiện mưu đồ chống phá.   

Có thể nhận diện các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tôn giáo để chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam, gồm:

Ở nước ngoài: 1) số đối tượng có tư tưởng chống phá Việt Nam trong các tổ chức nhân quyền, tôn giáo thế giới, chủ yếu ở Mỹ và Châu Âu. 2) một số nghị sĩ, chính khách ở các nước TBCN có tư tưởng cực đoan chống CNXH. 3) các báo, đài phản động chống Việt Nam. 4) các tổ chức phản động, lưu vong người Việt ở nước ngoài. 5) các tổ chức chống đối trong các tôn giáo ở hải ngoại.

Ở trong nước: 1) số đối tượng chống đối trong các tôn giáo (không thừa nhận các tôn giáo, tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận). 2) các tổ chức tôn giáo trong các tôn giáo chưa/ không được Nhà nước công nhận (cả trong 16 tôn giáo và các “hiện tượng tôn giáo mới”, đạo lạ, tà đạo). 3) các đối tượng phản động, cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất, vi phạm pháp luật.

Tuy âm mưu, hoạt động lợi dụng tôn giáo để chống phá có khác nhau, nhưng chúng luôn câu kết, móc nối chặt chẽ với nhau, cùng hướng đến chiến lược “diễn biến hoà bình”, xác định các mục tiêu cơ bản, xuyên suốt là: chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; kích động đồng bào các tôn giáo chống lại đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đối lập họ với Đảng; làm mất hiệu lực và tính hiệu quả trong hoạt động quản lý của Nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội; gây mất ổn định chính trị xã hội, tạo cớ can thiệp hoặc khi thời cơ đến kích động bạo loạn lật đổ; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; làm chệch hướng, tiến tới xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam.

Theo đó, chúng thường lợi dụng các vấn đề như: đức tin và sự gắn kết cộng đồng tôn giáo để lôi kéo, tập hợp lực lượng chống đối; khoét sâu những mâu thuẫn, vấn đề nảy sinh về tôn giáo để chống phá; lợi dụng những sơ hở, bất cập, yếu kém trong thực hiện công tác tôn giáo và các vấn đề nhạy cảm được dư luận quan tâm để thổi phồng, xuyên tạc “đặt điều dựng chuyện”; lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các hiện tượng tôn giáo mới, mạng xã hội để công kích, vu khống…

Cụ thể hơn, có thể nhận diện các hoạt động của chúng ở nước ngoài gồm: Thứ nhất, thu thập thông tin từ những đối tượng phản động, chống đối trong các tôn giáo, các tổ chức tôn giáo trái pháp luật, không được Nhà nước công nhận để xuyên tạc tình hình tôn giáo, quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước. Trên cơ sở đó, chúng ban hành các đạo luật, báo cáo, kiến nghị... vu cáo, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, kích động các thế lực thù địch ở trong nước đẩy mạnh các hoạt động chống phá. Thứ hai, tổ chức các hoạt động chỉ đạo, hỗ trợ các đối tượng phản động, chống đối ở trong nước tiến hành các hoạt động chống phá. Các tổ chức phản động, lưu vong người Việt ở nước ngoài và các tổ chức chống đối trong các tôn giáo ở hải ngoại trực tiếp thực hiện âm mưu, thủ đoạn thâm hiểm này với nhiều hoạt động như: tổ chức các diễn đàn nhằm xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, kêu gọi “quốc tế” can thiệp; đẩy mạnh xuyên tạc, chống phá trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là mạng xã hội; tổ chức các hội luận, tập huấn, huấn luyện các hoạt động tuyên truyền, biểu tình, gây rối...; trực tiếp móc nối, hỗ trợ vật chất, tinh thần cho các thế lực thù địch trong nước.

Là lực lượng chủ yếu, trực tiếp thực hiện âm mưu chống phá, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động ở trong nước tập trung vào những khía cạnh: Một là, thường xuyên liên kết, câu kết chặt chẽ với nhau (Hội đồng liên tôn, Bàn tròn đa tôn giáo...) và tiếp nhận, thực hiện sự chỉ đạo, hỗ trợ của các thế lực thù địch ở nước ngoài. Hai là, đẩy mạnh các hoạt động soạn thảo, tán phát tài liệu kích động chống phá, cung cấp cho các thế lực thù địch ở nước ngoài những nội dung sai sự thật, thổi phồng sự kiện. Ba là, lợi dụng các ngày lễ của tôn giáo, các sự kiện nhạy cảm để kích động, lôi kéo tín đồ tập trung đông người, gây rối, biểu tình, gây mất an ninh trật tự. Bốn là, lợi dụng các “hiện tượng tôn giáo mới” để trục lợi, làm lệch chuẩn đạo đức, văn hóa xã hội, gây hoang mang dư luận và mất ổn định chính trị - xã hội.

Một sự thật hiển nhiên là, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tôn giáo không phải vì lợi ích của các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ, cũng không vì “tự do tôn giáo” như chúng thường rêu rao, mà là nhằm thực hiện mưu đồ chính trị phản động hòng phá hoại sự nghiệp cách mạng của chúng ta. Đây là điều đi ngược lại lợi ích chân chính của đồng bào có tín ngưỡng, theo tôn giáo, của các chức sắc, tín đồ tôn giáo mong muốn có cuộc sống “tốt đời đẹp đạo”, “đồng hành cùng dân tộc”, thực sự hạnh phúc trong một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tôn giáo là một bộ phận của chiến lược “diễn biến hòa bình”, đặc biệt nguy hiểm đối với cách mạng Việt Nam và đối với chính đồng bào theo tôn giáo. Nó trực tiếp “đẩy” đồng bào theo tôn giáo về phía đối lập với chính quyền và cách mạng. Do đó, Đảng ta đã xác định: “Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời, đẹp đạo”, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy định của pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự phát triển đất nước. Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chia rẽ, phá hoại đoàn kết tôn giáo và khối đại đoàn kết toàn dân tộc”(12). Đây là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta, là yêu cầu cơ bản và cấp bách của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta trong tình hình mới, đòi hỏi sự nỗ lực và quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó có đồng bào theo tôn giáo.

PHAO

Các vấn đề xã hội trong phát triển

 


Vấn đề xã hội là những hiện tượng xã hội nảy sinh từ điều kiện và hệ quả của quá trình phát triên kinh tế - xã hội; ảnh hưởng xấu đến sự phát triên của cộng đồng, giai tầng xã hội hoặc toàn bộ xã hội. Vấn đề xã hội là những hiện tượng được công luận hay một số bộ phận của công luận đòi hỏi như là một tất yếu cần được thay đổi/giải quyết thông qua hệ thống chính sách kinh tế - xã hội. Như vậy, các vấn đề xuất hiện từ các quan hệ xã hội có tác động, ảnh hưởng hoặc đe doạ đến sự phát triển bình thường của xã hội, đòi hỏi xã hội phải có những biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hoặc giải quyết kịp thời, hiệu quả. Một xã hội lành mạnh sẽ có sức đề kháng đối tốt đối với các “vấn đề xã hội”. Kinh nghiệm thực tiễn và khoa học đã chứng minh, khi kinh tế đi xuống, có thể chỉ cần vài năm để hồi phục, song một khi những vấn đề xã hội gia tăng đến mức không thể kiểm soát, hệ quả xã hội rất khôn lường và sẽ mất nhiều thập kỷ để khôi phục. Về mặt lý thuyết có thể đưa ra 7 tiêu chí để nhận diện vấn đề xã hội (phân biệt với vấn đề cá nhân), bao gồm: 1) có liên quan và tác động tới nhiều nhóm trong xã hội; 2) Có liên quan và ảnh hưởng đến nhiều thiết chế, lĩnh vực xã hội khác nhau; 3) Mang tính chất quốc tế, quốc gia; 4) Trở thành một chủ đề bàn bạc nhiều trong các chương trình nghị sự; 5) nhận được sự quan tâm của dư luận xã hội; 6) Khó giải quyết tận gốc và triêt để; 7) Các vấn đề xã hội mới ngày càng xuất hiện, khó tiên lượng.

Đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở khoa học cho đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận

 

Hiện nay, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh Chiến lược “Diễn biến hòa bình’’, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nhằm xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Để thực hiện mục đích trên, tăng cường tuyên truyền, chống phá vu khống, bịa đặt nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Thủ đoạn của chúng là hết sức nguy hiểm, thâm độc đe dọa sự tồn vong của Đảng, của dân tộc, làm cản tr các quá trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Bởi vậy, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó lực lượng trí thức giữ vai trò quan trọng.

Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Đây là yếu tố quyết định giúp Đảng ta có chủ trương, đường lối đúng đắn, bản lĩnh chính trị vững vàng trong mọi hoàn cảnh, kể cả những thời điểm đầy khó khăn, thử thách để lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Do vậy, đi sâu nghiên cứu, để phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào cách mạng nước ta trở thành nhiệm vụ quan trọng, cấp bách nhằm làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức, là cơ sở khoa học nâng cao cht lượng đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch hiện nay.

Theo đó, cần đẩy mạnh giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên không ngừng nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao dân trí để tạo sức đề kháng tốt trước những quan điểm sai trái, phản động, văn hóa xấu độc đối với cán bộ đảng viên và nhân dân. Kiên quyết khắc phục những khuyết điểm, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; nhận diện rõ các biểu hiện suy thoái; phát hiện được các phần tử cơ hội để kịp thời đấu tranh, tạo sự đoàn kết thống nhất, xây dựng niềm tin vững chắc của Nhân dân với sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước.

Quản lý biến đổi xã hội với phương thức tổng hợp sức mạnh

 


Một là, quản lý biến đổi xã hội được thực hiện đồng bộ bởi hệ thống chính trị và bên ngoài hệ thống chính trị. Muốn hoạt động quản lý biến đổi xã hội tốt cần đảm bảo các yêu cầu: (i)Tầm nhìn; (il) Những giá trị côt lõi (mục tiêu); (iii) Hành động và chương trình hành động; (iv) Chủ thể tổ chức thực hiện; (v) Lực lượng xã hội tham gia (đó là cộng đồng xã hội); (vi) Những điều kiện thúc đẩy hỗ trợ phát triển; (vii) Hiệu ứng xã hội, hiệu quả, kết quả để thụ hưởng, để tiếp tục tái sinh sự phát triển theo hướng tiên bộ, tích cực[1].

Hai là, đẩy mạnh việc hoàn thiện các công cụ quản lý biến đổi xã hội phù hợp với đối tượng chịu sự tác động của biến đổi xã hội. Công cụ tác động tới quản lý biến đổi xã hội là thể chế, thiết chế, chính sách...Còn đối tượng tiếp nhận biến đổi, hoặc được thụ hưởng lợi ích từ những biến đổi xã hội tích cực hoặc phải chịu những thiệt hại từ những biến đổi xã hội tiêu cực là con người, nhóm xã hội, cộng đồng hoặc toàn bộ xã hội. Một yêu cầu đặt ra để xử lý tốt mối quan hệ này là cần xem xét những biến đổi xã hội từ phương diện con người - hoạt động và chính sách là xem xét sự vận động, tác động qua lại giữa chủ thể - đối tượng và đối tượng - chủ thể . Trên cơ sở đó, tập trung vào xây dựng khuôn khổ pháp lý để bảo vệ quyền của các nhóm xã hội; phát triển khuôn khổ pháp lý; thúc đẩy tiếng nói và trách nhiệm giải trình; tiếp cận công lý, bảo trợ xã hội, phát triển ngành; phân tâng xã hội, cơ động xã hội, di chuyển dân cư, dịch chuyển lao động.

Ba, biến đổi xã hội theo nghĩa lành mạnh, tích cực không thể không diễn ra tự phát mà phải được chủ động kiến tạo và phải thực sự là đối tượng của quản lý xã hội. Vì vậy, quản lý biến đổi xã hội cần được thực hiện thông qua hệ thống kiểm soát biến đổi xã hội trên tất cả các cấp độ, lĩnh vực; quản lý sự biến đổi xã hội ở từng thành phần của hệ thống xã hội và mổi quan hệ giữa các thành phân; trong điêu kiện bình thường và không bình thường. Cụ thể, hệ thông kiểm soát biến đổi xã hội bao gồm: hệ thống kiểm soát biên đổi dân số, biến đổi môi trường tự nhiên, biến đổi về chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn háa, công nghệ và kỹ thuật, tôn giáo...

Bốn là, quản lý biến đổi xã hội là một đòi hỏi tất yếu khách quan, nhằm đưa sự biến đổi xã hội đi vào quỹ đạo tiến bộ xã hội, tích cực, công bằng. Trong đó con người được giải phóng được phát triển toàn diện. Trình độ quản lý biến đổi xã hội phản ánh trình độ phát triển xã hội của một quốc gia dân tộc. Do đó, phải quản lý biến đổi xã hội dựa trên nguyên tắc vì con người, vì sự phát triển xã hội hài hòa, bền vững.



[1] Hoàng Chí Bảo (2008), tài liệu đã dẫn.

Phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức, các lực lượng tạo sức mạnh thống nhất, tổng hợp trong đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận


Hiện nay, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh Chiến lược “Diễn biến hòa bình’’, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nhằm xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Để thực hiện mục đích trên, tăng cường tuyên truyền, chống phá vu khống, bịa đặt nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Thủ đoạn của chúng là hết sức nguy hiểm, thâm độc đe dọa sự tồn vong của Đảng, của dân tộc, làm cản tr các quá trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Bởi vậy, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó lực lượng trí thức giữ vai trò quan trọng.

Đây là giải pháp cơ bản, quan trọng hàng đầu nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp đấu tranh phòng, chống các luận điệu sai trái phản động trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt, phức tạp, lâu dài, tác động ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng, tâm lý, tinh thần của mọi tầng lớp trong xã hội. Do vậy, nâng cao chất lượng đấu tranh chống các quan điểm sai trái, phản động phụ thuộc vào sức mạnh đoàn kết thống nhất của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp chặt chẽ, đổng bộ giữa các tổ chức, các lực lượng.

Theo đó, cần xây dựng cơ chế phối, kết hợp giữa các lực lượng của cả nước, bảo đảm sự thống nhất tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, phản động trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa. Tổ chức thực hiện tốt cơ chế, quy chế phối hợp giữa các bộ, ban, ngành của Trung ương, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các địa phương, phát hiện kịp thời âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch để thống nhất, phối hợp nội dung, hình thức và phương pháp đấu tranh. Thường xuyên duy trì, thực hiện tốt chế độ phản ánh tình hình, trao đổi thông tin, thống nhất biện pháp phối hợp đấu tranh với những quan điểm sai trái; ngăn chặn mọi âm mưu và hành động móc nối, tập hợp lực lượng của các thế lực thù địch; quản lý và đấu tranh với các phần tử cơ hội, bất mãn kích động, chống đối Đảng, chính quyền Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc để có hình thức chỉ đạo đấu tranh phù hợp.

Thực hiện tốt việc phối hợp chặt chẽ giữa các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể quần chúng, cơ quan chức năng để nắm các chủ trương phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng, an ninh ở địa phương; thực hiện tốt việc cung cấp, trao đổi thông tin, lắng nghe ý kiến dư luận, nhất là những dư luận không đồng thuận của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Chủ động nắm chắc ý đồ, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các phần tử cơ hội, bất mãn, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm của các phần tử cơ hội, phản động.

Chú trọng phối, kết hợp chẽ giữa các hoạt động báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, văn hóa, văn nghệ nhằm đưa nội dung tuyên truyền, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phản động trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa vào đời sống xã hội. 

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO

 

Thứ nhất, tập trung xây dựng khối đoàn kết lương giáo và giữa các tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc.

    Đoàn kết lương giáo và những người có tín ngưỡng, tôn giáo với những người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo tôn giáo khác nhau trong khối đại đoàn kết dân tộc là quan điểm chủ đạo, bao trùm trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mục tiêu tối cao là đấu tranh giành độc lập dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Người đã chỉ ra cơ sở vững chắc của khối đoàn kết dân tộc là lợi ích chung, mẫu số chung, điểm đại đồng để đoàn kết mọi người Việt Nam, giáo cũng như lương, đó là “nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”(1). Từ đó, Người tin tưởng, tôn trọng đồng bào các tôn giáo, hướng họ vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Do am hiểu sâu sắc bản chất niềm tin tôn giáo của tín đồ; biết kết hợp khéo léo niềm tin tôn giáo với niềm tin vào cách mạng, vào tương lai của dân tộc, Hồ Chí Minh đã tập hợp, hướng đồng bào các tôn giáo vào thực hiện nhiệm vụ chung giải phóng dân tộc, xây dựng cuộc sống mới “tốt đời, đẹp đạo”. Người đoàn kết quần chúng trong khối đại đoàn kết dân tộc để thực hiện ước nguyện chung của mọi người Việt Nam là Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. Người yêu cầu tín đồ “Kính Chúa và yêu nước” phải kết hợp với nhau; “tốt đời, đẹp đạo” phải đi liền với nhau, không thể phân chia. Tốt đời tạo cơ sở vật chất, xã hội để đẹp đạo. Muốn đẹp đạo cần phải đi theo cách mạng xây dựng cuộc sống mới. Vì thế, không lý do gì đồng bào các tôn giáo không đoàn kết cùng toàn thể dân tộc kháng chiến, kiến quốc. Ai không thực hiện điều đó không phải là người Việt Nam yêu nước chân chính và cũng không phải tín đồ chân chính. Từ đó, Người kêu gọi phải đoàn kết, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, già, trẻ, gái, trai... “Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn là đoàn kết lâu dài. Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị... Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phụng sự nhân dân thì ta đoàn kết với họ”(2). Và Người đã tổng kết thành chân lý: Đoàn kết, Đoàn kết, Đại đoàn kết. Thành công, Thành công, Đại thành công.

    Hồ Chí Minh quan tâm sâu sắc đến lợi ích thiết thực của giáo dân cả phần đời và phần đạo. Theo Người, nước độc lập mà dân không được ấm no hạnh phúc thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì. Đồng bào các tôn giáo theo cách mạng mà Đảng, Nhà nước không quan tâm đến lợi ích thiết thân của đồng bào để “phần xác ấm no, phần hồn thong dong” thì không thể đoàn kết được. “Nếu giáo dục tốt thì giáo dân có thể đấu tranh... sống theo Đảng, chết theo Chúa.... Ta quan tâm đời sống quần chúng thì quần chúng sẽ theo ta. Ta được lòng dân thì không sợ gì cả...”(3). Từ đó, Người đặc biệt quan tâm đến mọi mặt đời sống sản xuất, ăn ở, học hành của đồng bào tôn giáo; nhắc nhở cán bộ chú ý phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của giáo dân; gửi thư thăm hỏi, động viên, tặng quà... Với những người lầm đường lạc lối, Người kiên trì thuyết phục, cảm hoá với thái độ khoan dung độ lượng, lời lẽ chân tình, bởi họ đều là “ruột thịt”, “con Lạc, cháu Hồng”, đều có lòng yêu nước nhưng do mắc mưu kẻ địch nên chưa nhận ra lẽ phải. Vì thế, Người luôn “mong những đồng bào đó mau mau giác ngộ và quay về với kháng chiến để phụng sự Chúa, phụng sự Tổ quốc”. Chính phủ luôn “hoan nghênh rộng rãi như những người con đi lạc mới về”(4). Tấm gương ứng xử của Người đối với đồng bào các tôn giáo đã cảm hoá được đa số chức sắc, tín đồ các tôn giáo theo Đảng làm cách mạng.

        Thực hiện bình đẳng các quyền lợi và nghĩa vụ công dân, nhằm “tốt đời, đẹp đạo”. Mọi công dân Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ. Đồng bào tôn giáo trước tiên là công dân Việt Nam nên tất yếu cần được đối xử bình đẳng như mọi công dân khác, đồng thời họ là tín đồ của một tôn giáo nên quyền tự do tôn giáo được tôn trọng, bảo đảm. Tôn trọng tự do tín ngưỡng phải đi đôi với không ngừng tạo điều kiện để đồng bào các tôn giáo tiến bộ về mọi mặt. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm, nhắc nhở: “Chúng ta kháng chiến, cứu nước, thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm, cải cách ruộng đất và làm cho người cày có ruộng, tín ngưỡng tự do”(5). Đây là phương pháp, biện pháp có ý nghĩa nền tảng, tiên quyết trong thực hiện chính sách đoàn kết tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

        Bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh là một hình mẫu về tuyên truyền, giáo dục cán bộ và đồng bào các tôn giáo. Phương pháp tuyên truyền giác ngộ của Người luôn thiết thực, sinh động, lời lẽ giản dị, lấy việc thực, người thực làm gương, mượn chuyện xa lý giải việc gần nên mọi người dễ tiếp thu, thực hiện. Người không đem lý luận chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa Mác - Lênin nói với những người tín hữu. Người phê bình, uốn nắn các cán bộ cố nhồi nhét chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa vô thần cho người theo đạo, dù họ đã đi với cách mạng. Về chính trị, Người chỉ nói đến chủ nghĩa yêu nước theo cách giản dị là lòng yêu nước, yêu quê hương; đất nước có độc lập, quê hương có được giải phóng thì giáo dân mới có tự do hành đạo...

Thứ hai, kiên quyết bài trừ mê tín dị đoan và các hủ tục.

        Chủ tịch Hồ Chí Minh khuyên cán bộ một mặt phải tôn trọng và bảo đảm tự do tín ngưỡng, mặt khác phải kiên trì giáo dục quần chúng xoá bỏ “mê tín nhảm” và các hủ tục. Người nhắc nhở cán bộ không thành kiến, hẹp hòi, không xúc phạm tín ngưỡng, không mắc bệnh dùng lý luận không đúng lúc, hay đao to búa lớn “nào khách quan, chủ quan”, “nào tích cực, tiêu cực”, “nào khoa học hoá”, “gì gì hoá” mà “tốt nhất là miệng nói, tay làm làm gương cho người khác bắt chước”. Cán bộ phải: “Dạy cho đồng bào: 1. Thường thức vệ sinh để cho dân bớt đau ốm. 2. Thường thức khoa học để bớt mê tín nhảm”(6).

        Người đã soạn ra 12 điều răn với 6 điều không nên và 6 điều nên làm, trong đó có: “không nên xúc phạm tín ngưỡng, phong tục của dân…”, “Nghiên cứu cho hiểu rõ phong tục mọi nơi, trước là gây cảm tình, và sau là để dần dần giải thích cho dân bớt mê tín”. Người cũng nêu ra 8 điều mệnh lệnh của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong đó điều thứ 4 là: “Bảo vệ đền chùa nhà thờ, trường học, nhà thương và các cơ quan văn hóa xã hội khác… Chính quyền, quân đội và đoàn thể phải tôn trọng tín ngưỡng, phong tục, tập quán của đồng bào”(7).

        Theo Hồ Chí Minh, phương pháp giáo dục khắc phục mê tín, hủ tục phải thận trọng, kiên trì, gần gũi với đồng bào; với phương châm lấy cái tốt mà bỏ dần cái xấu, “dần dần nói cho người ta hiểu, để người ta vui lòng làm, chứ không có quyền ép người ta”(8), không thể nóng vội xoá bỏ hết mọi sự mê tín một cách cực đoan.

Thứ ba, luôn nâng cao cảnh giác để không mắc mưu những kẻ “phản Chúa, phá đạo”.

        Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, lợi dụng tôn giáo để chống lại cách mạng luôn là thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm kích động mâu thuẫn, chia rẽ đoàn kết lương-giáo, phá hoại đoàn kết dân tộc. Chúng tuyên truyền: “Cộng sản là vô thần sẽ tiêu diệt tôn giáo”, “thà mất nước còn hơn mất Chúa”… Và thực tế, một bộ phận giáo dân đã mắc mưu, tin theo luận điệu thâm độc đó.

        Ngay từ năm 1924, Người đã lên án mạnh mẽ và tố cáo những giáo sỹ Pháp làm gián điệp, bắn giết đồng bào ta. “Chính những tên giáo sĩ đã vẽ bản đồ An Nam cho quân xâm lược. Chính bọn họ đã đưa tin cho gián điệp dẫn đường cho đội viễn chinh và tố giác những người yêu nước”(9)Trong thời kỳ thực dân xâm lược, Người chỉ rõ: Thực dân Pháp là bọn đốt nhà thờ, hiếp bà phước, giết tín đồ chức sắc, giết dân ngoại đạo... “Thực dân là lũ Sa Tăng/ Phản Chúa, phá đạo là thằng thực dân”(10). Người luôn phân định rạch ròi tôn giáo với việc lợi dụng tôn giáo để làm điều xấu. Người coi những phần tử đội lốt tôn giáo để chống phá cách là “Việt gian đồng thời cũng là giáo gian”, là những kẻ bất chính, giả danh tín đồ để làm điều xấu độc. Người kêu gọi: “đồng bào cảnh giác và chớ mắc mưu những kẻ tuyên truyền lừa bịp”, “Bảo vệ tự do tín ngưỡng, nhưng cương quyết trừng trị những kẻ đội lốt tôn giáo để phản Chúa, phản nước”(11).

 

 

PHAO

Hoạch định và thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước phải hết sức chú ý tới vấn đề biến đổi xã hội, hướng tới quản lý biến đổi xã hội.


Do biến đổi xã hội luôn có tầm quan trọng chiến lược, làm thay đổi nhận thức từ chủ thể lãnh đạo, quản lý, có thẩm quyền ra các quyết sách, đường lối và chính sách. Biến đổi xã hội có ý nghĩa sâu xa và to lớn hơn, ở chỗ, mọi chính sách phải hướng tới phục vụ lợi ích và phát triển các tiểm năng sáng tạo của con người, coi con người là mục tiêu và động lực của đổi mói và phát triển, do đó con người trở thành tiêu điểm của mọi chính sách. Vì vậy, trong hoạt động quản lý biến đổi xã hội cần chú trọng tới lợi ích vả nhu cầu của xã hội. Tức là chú trọng tới nhân tố quan trọng hàng đầu của lực lượng sản xuất và của phát triển xã hội nói chung. Muốn vậy, trước hết cần phải có sự thay đổi trong nhận thức việc hoạch định đường lối của Đảng, xây dựng và điều chỉnh chính sách, luật pháp, cơ chế quản lý của Nhà nước phải hướng tới phát triển, theo đuổi mục tiêu phát triển bền vững. 

Nhận diện, đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn “Tán phát các ấn phẩm văn học nghệ thuật, phim, tài liệu có quan điểm sai trái thù địch trên không gian mạng để tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước ta

Trong thời gian qua, chúng gia tăng tán phát các tác phẩm văn học, phim, tài liệu có quan điếm sai trái thù địch, có nội dung phủ nhận truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, thành quả của cách mạng để tác động, thẩm thấu đến các tầng lớp nhân dân, nhất là giới trẻ. Như cuốn sách xuất hiện trên không gian mạng đầu năm 2021 “Gã điên và ngõ thiên đường” của Phạm Thanh Khương, do Nhà xuất bản Hội nhà văn Việt Nam ấn hành, có nội dung soay quanh vấn đề đất đai, cán bộ bảo kê, tội phạm lộng hành, phản ánh tư tưởng bất mãn, mất niềm tin vào chế độ. Những bộ phim được chiếu trên không gian mạng không kiểm duyệt được, tác động rất lớn đến khán giả trong nước, nhất là giới trẻ chưa có đẩy đủ nhận thức để phân biệt, để đánh giá và để thẩm thấu nội dung. Từ đó dễ dn đến những suy nghĩ, nhìn nhận, hành động lệch lạc đi ngược lại truyền thống văn hóa dân tộc.

        Chúng thường xuyên cảm hóa, lôi kéo các văn nghệ sĩ, tri thức có tư tưởng cực đoan, đây là những người có số lượng hâm mộ, độc giả nhất định, nên tác động lớn, từ đó tạo ra “dây truyền” thực hiện ý đồ của các thế lực thù địch; một số phóng viên vì lợi ích cá nhân, vi phạm đạo đức nghề báo, bài viết không đúng sự thật, không động viên những mặt tích cực, chỉ bới móc khuyết điểm, yếu kém, gây tâm lý hoang mang trong mạng xã hội. Đặt ra yêu cầu có những luật định chặt chẽ hơn trên môi trường không gian mạng. 

Vạch trần âm mưu, thủ đoạn “Triệt để sử dụng lực lượng “cộm cán ” trong tôn giáo để đẩy mạnh “dân chủ nhân quyền ” tạo bất ổn về an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội của các thế lực thù địch trên không gian mạng


Lợi dụng tôn giáo và đức tin của quần chúng và tôn giáo để lôi kéo lực lượng, tạo dựng ngọn cờ chống phá, phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quôc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tập trung kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi và cực đoan tôn giáo, âm mưu hình thành các khu tự trị dân tộc Mông ở các tỉnh phía Bắc, “Nhà nước Tin lành Đề Ga” ở Tây Nguyên, nhà nước Khmer ở Tây Nam Bộ. Dùng lực lượng tôn giáo ở các điểm nóng tại 63 tỉnh, thành phố để đẩy mạnh “dân chủ, nhân quyền”, tạo bất ổn về an ninh chính trị, tập dượt “cách mạng mầu”. Sử dụng đối tượng cực đoan, chống đối trong tôn giáo, đặc biệt là Công giáo, để tuyên truyền học thuyết tôn giáo, xã hội dân sự, lập ra các tổ chức “hội”, “nhóm”. Chính là lợi dụng vấn đề nhận thức, văn hóa của đồng bào các dân tộc để chia rẽ, gây mất đoàn kết giữa người sở tại và người nơi khác đến.

Bằng nhiều hình thức tài trợ cho các tổ chức phản động lưu vong, các “hội”, “nhóm” núp danh “tổ chức xã hội dân sự” thực hiện các hoạt động chống phá. Từ các hội nhóm này để liên kết, gắn kết với nhau trong, ngoài nựớc tạo thành một mạng lưới chống phá Đảng, Nhà nước. Hiện nay, môi trường không gian mạng phát triển là điều kiện rất thuận lợi để chúng có thể tập họp, họp bàn tìm ra những thủ đoạn, nội dung chống phá một cách bài bản, chặt chẽ.

Chúng tạo ra những hội nhóm ở trong nước liên kết với nước ngoài, sử dụng nguồn kinh phí tài trợ để ra tăng các hoạt động, chúng sử dụng ngay các chương trình, dự án liên quan đến sức khỏe cộng đồng, người yếu thế để thúc đẩy hình thành hội, nhóm là cơ sở tổ chức, triển khai các tổ chức dân sự. Rất nguy hiểm chúng mời các nhà khoa học, các vị tướng quân đội đã nghi hưu tham gia các cuộc hội thảo đã được định hướng, dàn dựng sẵn, tạo ra những lời phỏng vấn, phát ngôn thiếu chuẩn mực, thiếu căn cứ, làm xôn xao, bình luận trái chiều trên không gian mạng. Từ đó, đặt ra cho các cấp, các ngành phải luôn luôn quan tâm đến các cán bộ, đảng viên đã ngh hưu, nhất là những người có tầm ảnh hưởng lớn, làm cho họ tiếp tục cống hiến hết mình cho sự xây dựng, phát triển của Đảng, Nhà nước và kiên quyết không nghe, không làm theo các thủ đoạn của các thế lực thù địch.

Nhận diện, đấu tranh với những hành động lợi dụng các sự kiện chính trị, lịch sử truyền thống cách mạng, vụ việc phức tạp, nhậy cảm để gia tăng các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch trên không gian mạng


Đây là vấn đề được các cấp rất quan tâm, vì dễ tạo hiệu ứng số đông trên không gian mạng, bất ngờ không trở tay kịp, dấn đến bạo loạn khó kiểm soát. Đó là, chúng lợi dụng vào các vụ việc phức tạp để ra tăng chống phá, tập dượt cách mạng mầu, đến nay thống kê đã có 13 cuộc (Tây Nguyên, Mường Nhé, Bình Thuận, Đồng Tâm, Formosa Hà Tĩnh....); tập trung xuyên tạc kết quả Đại hội 13 của Đảng, bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026, nhất là tập trung về nhân sự; lợi dụng các sự kiện chính trị, lịch sử truyền thống cách mạng phát tán nhiều tài liệu trên không gian mạng xuyên tạc lịch sử dân tộc, phủ nhận ý nghĩa các cuộc kháng chiến dành độc lập dân tộc, thành quả của cách mạng Việt Nam; những vụ việc phức tạp, tiêu cực, yêu kém trong phát ưiển kinh tế xã hội, nhất là liên quan đến ngành Công an, Giáo dục, Y tế..., quản lý đất đai ở một số địa phương để xuyên tạc chống phá; những nội đung được nhiều người quan tâm như việc tự chọn môn lịch sử ở cấp THPT, tạo cơn bão trên không gian mạng, một số cán bộ đã vô hình dung đã ủng hộ các đối tượng thù địch, làm phức tạp tình hình về việc tự chọn môn lịch sử ở cấp THPT.

Chúng tác động mạnh vào suy nghĩ của giới trẻ, chưa hiểu biết về sự hy sinh của cha, ông, làm sói mòn niềm tin, tình yêu quê hương, đất nước (phần lớn lực lượng du học sinh); có kiến thức, nhưng thiếu tình cảm, mất dần tư tưởng, tính quật cường, tinh thần đoàn kết dân tộc và văn hóa Việt Nam.


Vạch trần âm mưu, thủ đoạn “Hạ thấp, phủ nhận thành tựu, khoét sâu, thổi phồng những khó khăn, yếu kém sai lầm trong phát triển kinh tế - xã hội… của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước ta…”

 


Trong điều kiện hiện nay, nếu chúng ta không cung cấp đầy đủ các thông tin cho mọi người được nhìn thấy bức tranh toàn cảnh về sự phát triển kinh tế - xã hội sau 35 năm đổi mới, những thành tựu, những hạn chế, những bài học kinh nghiệm, nhất là phải thấy được tư duy đổi mới của Đảng. Đồng thời, tại từng địa phương, từng đơn vị đã có những phát triển, nhưng bên cạnh đó còn bộc lộ những hạn chế khuyết điểm, những lại bị các thế lực, đối tượng lợi dụng thổi phồng hạn chế, hạ thấp kết quả đạt được. Chúng tập trung công kích đả phá, phủ nhận thành tực 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, những chủ trương, đương lối của đảng, chinh sách, pháp luật của Nhà nước, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, bộ ngành, địa phương trong phát triển kinh tế, văn hóa xã hội; đòi hỏi Đảng phải tự dời bỏ vài trò lãnh đạo, vì theo chúng Đảng chỉ giỏi lãnh đạo trong chiến tranh, còn trong xây dựng phát triển kinh tế nên trao quyền cho lực lượng chính trị khác; tận dụng tối đa những khó khăn, hạn chế, khuyết điểm trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành của chinh quyền địa phương, cơ quan, đơn vị một số nơi để quy kết đây là bản chất của chế độ, như: ở Thủ Thi êm, Đồng Tâm, chiến sĩ tử vong ở Quân Khu 1.để tuyên truyền xuyên tạc, kích động, chia rẽ nội bộ. Đặt ra vấn đề là, đảng viên không chịụ học tập, rèn luyện và cập nhật thông tin thì dễ bị mơ hồ trước những thông tin sai trái, không đầy đủ trên không gian mạng.