Thứ Ba, 11 tháng 10, 2022

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 12/10


“Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”.
Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Sao cho được lòng dân”, bút danh Chiến Thắng, đăng Báo Cứu quốc, số 65, ngày 12/10/1945.
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời đã mở ra một trang sử mới cho dân tộc ta; song Chính phủ mới gặp rất nhiều khó khăn, thách thức. Thù trong, giặc ngoài, điên cuồng quấy phá, tìm mọi cách lật đổ chính quyền non trẻ của chúng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Sao cho được lòng dân” để căn dặn các cán bộ, đảng viên, bộ đội, công an của chính quyền mới phải luôn đặt quyền lợi của nhân dân lên trên, lên trước, việc gì có lợi cho dân phải kiên quyết làm, làm cho bằng tốt. Theo quan điểm của Bác, một nhà nước thật sự là nhà nước của dân, do dân, vì dân phải coi việc phục vụ nhân dân, đem lại lợi ích chính đáng cho nhân dân là mục tiêu, phương hướng hoạt động của mình. Người chỉ rõ: Chế độ ta là chế độ dân chủ. Nhân dân là chủ. Chính phủ là đầy tớ của nhân dân.
Thấu triệt quan điểm của Người, Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán và triển khai quyết liệt, đồng bộ chủ trương xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân. Quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực được mở rộng và phát huy, một số chính sách và quy chế bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân, trước hết ở cơ sở, bước đầu được mở rộng, thực hiện. Đáng chú ý là hệ thống pháp luật được đổi mới, bổ sung và tăng cường, chất lượng các kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp được nâng cao; phương thức quản lý, điều hành của bộ máy nhà nước sâu sát, thực tế hơn, tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong xã hội, các hoạt động của ngành tư pháp, toà án, viện kiểm sát có nhiều tiến bộ... Việc đổi mới nhà nước đúng định hướng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, lành mạnh hoá các mặt văn hoá, xã hội, giữ vững sự ổn định lâu dài của đất nước.
Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam - một đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, đã không tiếc máu xương, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để giải phóng đất nước, giải phóng nhân dân khỏi ách đô hộ của đế quốc, thực dân trong các cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, hết lòng, hết sức giúp đỡ dân, bảo vệ dân, giúp dân xoá đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng chống thiên tai, thảm hoạ, cứu hộ, cứu nạn, đồng hành cùng ngư dân nơi đầu sóng ngọn gió, nơi phên dậu của Tổ quốc... đã góp phần cùng với cả hệ thống chính trị xây dựng “Thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc, giữ vững và không ngừng phát huy phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới.
Có thể là hình ảnh về 1 người, đang đứng và văn bản cho biết 'ĐẨY MẠNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH CHỦ TỊCH Há» CHÍ MINH'

CHÀNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI DŨNG CẢM BẮT TÊN CƯỚP XE MÁY

 

Sáng ngày 08/10/2022, đang trên đường mua vật chất huấn luyện thì Thượng úy Nguyễn Thành Trì – Trợ lý Binh chủng Ban CHQS huyện Diên Khánh, Bộ CHQS tỉnh Khánh Hòa bỗng nghe vang: “Cướp, cướp xe”, kèm theo tiếng hô là người phụ nữ cố gắng chạy theo một nam thanh niên đang điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode với điệu bộ vội vàng, vượt nhanh trên con đường đang đông người trao đổi mua bán tại chợ Xóm Mới (thành phố Nha Trang) vào ngày Chủ nhật cuối tuần.

Theo phản xạ của người cán bộ trinh sát được đào tạo bài bản qua những năm tháng rèn luyện trong quân đội, Nguyễn Thành Trì nghi vấn đây là đối tượng trộm cắp xe máy của người dân, anh đã nhanh chóng vượt nhanh lên trước thanh niên đang điều khiển, bằng kỹ năng và tinh thần dũng cảm đã áp sát, đẩy ngã người và xe của đối tượng. Bị bất ngờ dồn vào thế cụt, đối tượng đã bỏ xe lại và chạy tìm đường tẩu thoát, nhưng Thành Trì với nhanh nhẹn của sử dụng thế võ quật ngã đồng thời kìm giữ đối tượng lại và phối hợp với quần chúng nhân dân đưa đi bàn giao cho công an phường Tân Lập (thành phố Nha Trang).

Khi kể lại sự việc, Thành Trì chia sẻ: “Ở vào vị trí của mình thời điểm đó, thì bất cứ một quân nhân nào khi đã được rèn luyện, huấn luyện và giáo dục của các cấp đều cũng sẽ làm vậy. Đặc biệt, khi đó, trong khoảng thời gian sự việc đang diễn ra nhanh chóng, thì bản thân chỉ có duy nhất một suy nghĩ là tìm cách hạ gúc tên cướp, lấy lại tài sản cho người dân dù bất cứ giá nào”. Chia sẻ trong sự xúc động khi nhận lại được tài sản quý giá, chị Dương Thị Thanh Thủy (HKTT tại phường Phước Hòa, tp.Nha Trang) chia sẻ: “Cảm ơn anh bộ đội, nhờ có anh mà tài sản quý giá mà gia đình bao nhiêu năm làm ăn dành dụm mua sắm đã không theo tên cướp cao chạy xa bay”. Hành động dũng cảm, không ngại hiểm nguy của Thượng úy Nguyễn Thành Trì đã giữ lại được tài sản của người dân, đồng thời phát huy hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” cao đẹp trong lòng Nhân dân./.

ĐẤU TRANH CHỐNG NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC

 


Xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, phủ nhận nền dân chủ XHCN và Nhà nước pháp quyền XHCN là những trọng tâm chống phá “không ngừng nghỉ” của các đối tượng và thế lực phản động, thù địch, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay. Đấu tranh phòng chống các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc trong thời gian tới cần chú trọng:

Một là, đấu tranh với quan điểm “không có đa nguyên, đa đảng thì không bao giờ có dân chủ”.

Nhằm phủ nhận nền dân chủ XHCN và Nhà nước XHCN, các quan điểm, luận điệu chống phá “khẳng định” rằng chế độ dân chủ tư sản như nó đang tồn tại ở phương Tây là chế độ dân chủ cao nhất, là thiên đường vĩnh hằng; rằng “không có đa nguyên, đa đảng thì không bao giờ có dân chủ”, “đa đảng, đa nguyên là thành tố quan trọng nhất để xây dựng nên một quốc gia dân chủ”, và “đa đảng sẽ bảo đảm quyền làm chủ đất nước của nhân dân”(5); rằng CNXH là chuyên chính, không có dân chủ. Theo đó, những “nhà dân chủ” đòi chúng ta phải sửa đổi Hiến pháp năm 2013, sửa đổi thể chế Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam theo mô hình tam quyền phân lập, đòi Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ vai trò lãnh đạo đối với xã hội, nhất là đối với Nhà nước. Để “cộng hưởng” cho những giọng điệu đó, họ “minh họa” bằng một số bất cập, thiếu sót trong thực tiễn lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, nhất là những khiếm khuyết liên quan đến quản lý cán bộ, đảng viên dẫn đến tình trạng tham nhũng, tha hóa...

Cần khẳng định rằng, đa nguyên, đa đảng không phải là yếu tố duy nhất, nền tảng duy nhất bảo đảm cho một nền dân chủ đích thực mà bản chất của dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Dân chủ là một giá trị xã hội, được hình thành và bảo đảm bởi nhiều yếu tố, trong đó có lực lượng cầm quyền xã hội, cơ chế quản lý xã hội và trình độ làm chủ của người dân… Vì vậy, một đảng lãnh đạo không đồng nhất với độc tài lãnh đạo và càng không đồng nhất với mất dân chủ. Theo đó, không nhất thiết cứ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có dân chủ thật sự. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiền phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, quyền và lợi ích của Đảng hoàn toàn thống nhất với nhân dân. Đảng lãnh đạo Nhà nước là để cho nền dân chủ XHCN cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân luôn được bảo đảm.

Hai là, đấu tranh với quan điểm lợi dụng “xã hội dân sự” để âm mưu gây chuyển hóa chính trị ở Việt Nam.

Bằng nhiều chiêu bài, các thế lực thù địch và thành phần “ngụy dân chủ” thường không ngừng rêu rao về cái gọi là ranh giới giữa “xã hội dân sự” với nhà nước, giữa “công” và “tư”, giữa “chính trị” và “phi chính trị”. Theo đó, họ “thổi lên tận mây xanh”, tuyệt đối hóa, coi “xã hội dân sự” là mô hình xã hội nhân đạo nhất, tốt đẹp nhất, dân chủ nhất và ngược lại, nhà nước là cơ quan bảo thủ, chuyên chế và cưỡng bức. Theo đó, họ “kêu gọi” Đảng Cộng sản Việt Nam phải thúc đẩy “xã hội dân sự” chứ không nên và càng không thể lãnh đạo xây dựng được Nhà nước pháp quyền, của dân, do dân và vì dân.

“Xã hội dân sự” còn là cái “cớ” để các thế lực chống phá đòi dân chủ hóa bất chấp pháp luật, đòi Nhà nước phải bảo đảm tự do vô giới hạn trong các lĩnh vực; cổ súy cho sự “vượt ngưỡng” và thái quá trong tự do cá nhân; đưa ra tự do ngôn luận và nhân quyền để đòi lập hội, nhóm bất chấp quy định, kêu gọi biểu tình, kích động trái phép. Bên cạnh đó, họ lợi dụng vấn đề viện trợ, quan hệ kinh tế, thương mại, ngoại giao để gây sức ép với Đảng và Nhà nước ta về cái gọi là “vi phạm dân chủ, nhân quyền”, hòng làm thay đổi đường lối, chính sách, hệ thống pháp luật và lĩnh vực tư pháp của chúng ta.

Không phải ngẫu nhiên mà một số tổ chức phi chính phủ nước ngoài thường rất quan tâm đến những địa bàn trọng điểm về an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ở nước ta. Phát triển các tổ chức “xã hội dân sự” luôn được không ít “đối tác hai mặt” coi như một phương thức để “diễn biến hòa bình” tiến tới “diễn biến không hòa bình” hòng triệt tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ta.

Ba là, đấu tranh với quan điểm “Chỉ có thể chống được tham nhũng khi thực hiện thể chế tam quyền phân lập để kiểm soát quyền lực”.

Về thực chất, quan điểm này không hướng đến mục tiêu phòng, chống tham nhũng mà muốn nhân danh chống tham nhũng, lợi dụng đấu tranh chống tham nhũng để kích động đòi thay đổi thế chế chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, lật đổ Nhà nước XHCN.

Các nước tư bản hầu như đều vận dụng thuyết tam quyền phân lập trong xây dựng, tổ chức bộ máy chính quyền nhà nước với nhiều biến thể khác nhau, tuy nhiên, thực tế cho thấy, ở không ít quốc gia tư bản, thể chế này không thể ngăn chặn được sự chuyên quyền. Theo đó, có thể nói, “tam quyền phân lập” không phải là mấu chốt để giải quyết vấn đề tham nhũng. Bởi, tham nhũng xảy ra ở những nơi mà hệ thống pháp luật, cơ chế, quy chế còn bất cập, thiếu kín kẽ, thiếu chặt chẽ, không công khai, minh bạch; sự kiểm tra, giám sát chưa được duy trì có hiệu quả; vai trò của nhân dân, của dư luận xã hội chưa được phá huy đầy đủ; các hoạt động quản lý, giáo dục bị buông lỏng… Chính vì vậy, “tam quyền phân lập” không phải là “chìa khóa vạn năng” để xóa bỏ được nguồn gốc, nguyên nhân dẫn đến tham nhũng; không thể là phương thức và giải pháp duy nhất để đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả.

 

MỤC TIÊU XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA

 


Trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; từng bước khắc phục một số quan niệm đơn giản trước đây như: đồng nhất mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa xã hội với nhiệm vụ của giai đoạn trước mắt; nhấn mạnh một chiều quan hệ sản xuất, chế độ phân phối bình quân, không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ, không thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế; đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản...

Cho đến nay, mặc dù vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu, nhưng chúng ta đã hình thành nhận thức tổng quát: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

 

NGUYÊN TẮC ĐỔI MỚI

 


Một là, Đổi mới kinh tế đi đôi với đổi mới chính trị

          - Xây dựng và hoàn thiện nền KTTT định hướng XHCN đi đôi với hoàn thiện dân chủ XHCN.

          - Xây dựng hoàn thiện nền KTTT định hướng XHCN đảm bảo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh

          - Xây dựng hoàn thiện nền KTTT định hướng XHCN đi đối với việc từng bước hoàn thiện NNPQXHCN của dân, do dân, vì dân.

          - Xây dựng hoàn thiện nền KTTTXHCN đi đôi với việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ta, bảo đam đường lối, đúng đắn, sáng tạo, chăm lo xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh.

Hai là, Đổi mới KT là trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới CT trong phát triển đất nước, đổi mới CT theo yêu cầu của phát triển KT.

          - Đổi mới mô hình phát triển KT sang nền KTTT định hướng XHCN.

         - Đổi mới phương thức hoạt động KT và các QHKT

          - Hình thành, phát triển hệ thống các thị trường tạo nên toàn diện trong đổi mới KT.

          - Bên cạnh trọng tâm đổi mới KT đồng thời với đổi mới CT Đảng ta chủ trương từng bước đổi mới CT làm cho các chủ trương, đường lối, chính sách PL và các QHCT diễn ra nhịp nhàng, đồng bộ với đổi mới KT.

          - Phải xem xét những chủ trương, đường lối, cơ chế chính sách, tổ chức, bộ máy để bổ sung điều chỉnh cho phù hợp.         

 

PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP CỦA QUÂN ĐỘI TRONG TÌNH MỚI


            Trong giai đoạn hiện nay, trước sự tác động của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, trước yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần chú trọng nâng cao hiệu quả phòng, chống sự xuyên tạc của các thế lực thù địch về những giá trị truyền thống tốt đẹp của QĐND Việt Nam nhằm giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta và Bộ đội Cụ Hồ. Trong đó cần quan tâm một số vấn đề sau. 

Một là, tăng cường sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng trong giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”. Vì vậy, sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng là nhân tố quyết định sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta, bảo đảm giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Để bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam tiếp tục được giữ vững và phát huy trong thời kỳ mới, phải chăm lo xây dựng hệ thống tổ chức đảng trong quân đội trong sạch, vững mạnh; tăng cường rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội thực sự là hạt nhân, nòng cốt trong việc giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ.

Hai là, tăng cường sự quản lý của Nhà nước trong việc giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ. Để phát huy vai trò của Nhà nước trong giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ, Nhà nước cần ban hành và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách trong xây dựng quân đội, thực hiện tốt vai trò, chức năng quản lý của Nhà nước đối với quân đội. Trong đó, Nhà nước cần có chính sách bảo đảm tốt hơn về vật chất, tinh thần; về trang bị, phương tiện kỹ thuật cho quân đội đáp ứng yêu cầu xây dựng QĐND Việt Nam trong tình hình mới. Thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội; chính sách đối với những người có công với cách mạng, thương binh và gia đình liệt sĩ; chính sách tạo điều kiện việc làm cho quân nhân xuất ngũ...

Ba là, phát huy tốt vai trò của đồng bào các dân tộc trong giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ. “Quân với dân như cá với nước” là một cách thể hiện rất độc đáo trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về mối quan hệ mật thiết giữa quân đội và nhân dân Việt Nam, bắt nguồn từ trong bản chất, truyền thống của quân đội cách mạng do Đảng ta giáo dục và rèn luyện. Trong tình hình hiện nay, trước những tác động của điều kiện kinh tế-xã hội, nhất là trước những tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường cũng như sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch bằng chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chia rẽ quân đội với nhân dân, thì sự thương yêu, giúp đỡ của nhân dân đối với quân đội càng có ý nghĩa quan trọng đối với việc giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ.

Bốn là, phát huy vai trò của quân đội trong giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ. Vấn đề cơ bản có tính quyết định trực tiếp là sự nỗ lực phấn đấu rèn luyện của toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong thực tiễn xây dựng, chiến đấu, công tác và lao động sản xuất của quân đội trong mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh, mọi nhiệm vụ. Việc giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ là công việc của chính mỗi cán bộ, chiến sĩ; thể hiện cụ thể trong thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu, công tác và lao động sản xuất, cũng như trong sinh hoạt đời thường của mỗi quân nhân. Để giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ phải nỗ lực rèn luyện, phấn đấu thực hiện tốt Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới.

Năm là, tích cực triển khai đấu tranh phòng, chống sự xuyên tạc của các thế lực thù địch về những giá trị truyền thống tốt đẹp của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của các cấp ủy đảng trong đấu tranh phòng, chống các quan điểm thù địch, sai trái, xuyên tạc, phủ nhận bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ. Bảo đảm các hoạt động đấu tranh theo đúng định hướng của Đảng, chặt chẽ về nguyên tắc, vững vàng về quan điểm chính trị, sâu sắc về lý luận khoa học, sắc bén trong phương pháp và đạt hiệu quả cao. Huy động lực lượng rộng rãi trong các cơ quan nghiên cứu lý luận, các cơ quan nghiên cứu khoa học, các cơ quan báo chí, truyền thông... tiến công chống các quan điểm thù địch, sai trái xuyên tạc, phủ nhận bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ. Bên cạnh đó, cần chủ động cung cấp đầy đủ những thông tin liên quan đến vấn đề đấu tranh dưới nhiều hình thức để kịp thời định hướng đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ./.


QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI BỎ QUA CHẾ ĐỘ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM LÀ PHÙ HỢP VỚI QUY LUẬT KHÁCH QUAN CỦA LỊCH SỬ

 


Bằng thế giới quan cách mạng, phương pháp luận biện chứng, các nhà kinh điển Chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ ra: Tiến trình lịch sử - tự nhiên của xã hội loài người là quá trình vận động phát triển thay thế nhau của các hình thái kinh tế xã hội, bao hàm cả sự phát triển tuần tự đối với lịch sử phát triển toàn thế giới, cả sự phát triển “bỏ qua” một hay vài hình thái kinh tế xã hội đối với một số quốc gia, dân tộc cụ thể. Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội mang tính phong phú, nhiều vẻ, đa dạng, phức tạp, bao gồm cả những bước quanh co, thậm chí những bước thụt lùi lớn; bao gồm cả khả năng rút ngắn, bỏ qua những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định. Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là phù hợp với quy luật khách quan của lịch sử.

 Con đường phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam là phù hợp với tính quy luật của việc “bỏ qua” một hay vài hình thái kinh tế - xã hội trong sự phát triển lịch sử, là phù hợp với quy luật phát triển rút ngắn trong lịch sử loài người. Chúng ta tin tưởng rằng; dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, và bằng sự nỗ lực cố gắng của toàn dân tộc, nhất định mục tiêu, sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta sẽ thắng lợi hoàn toàn.

 

XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC, DÂN CHỦ, NHÂN VĂN

 


Xây dựng nền văn hóa Việt Nam phải bảo đảm tính dân tộc, dân chủ và nhân văn

Dân tộc là nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc, thể hiện truyền thống văn hiến, được nuôi dưỡng từ mạch nguồn dân tộc; thể hiện bản sắc, cốt cách của văn hóa Việt Nam. Đó cũng là nền văn hóa độc lập, tự chủ, có nội lực, không bị lấn át trước văn hóa ngoại lai; có khả năng tiếp thu, "dân tộc hóa", "Việt hóa" những điều tốt đẹp của thế giới, làm giàu và nâng tầm văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, dân tộc không có nghĩa là khép kín, co cụm hẹp hòi.

Dân chủ là một nền văn hóa của dân, do dân và vì dân. Người dân vừa là chủ thể vừa là khách thể của văn hóa, là người sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa. Hiện nay, dân chủ là một giá trị tiến bộ của thời đại, được các nước tiên tiến đề cao, nhưng cũng là giá trị mà chúng ta còn đang yếu, cần tập trung xây dựng.

Nhân văn là hướng đến nền văn hóa yêu thương con người, nhân ái, bao dung, đề cao con người. Nhân văn còn có nội hàm rộng hơn khái niệm bác ái của phương Tây ở chỗ còn có hàm ý bảo vệ con người, đề cao nhân quyền, tôn trọng quyền con người. Văn hóa Việt Nam từ xưa đến nay thường trọng tình nghĩa, yêu thương con người, đồng loại. Hiện nay rất cần củng cố, vun đắp giá trị này trước lối sống vị kỷ, vô cảm trong cơ chế kinh tế thị trường, nhằm khôi phục lòng nhân ái, nghĩa tình vốn có trong văn hóa Việt Nam.

 

SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN LÀ NHÂN TỐ HÀNG ĐẦU BẢO ĐẢM CHO THẮNG LỢI CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM.

 


 Thực tiễn hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã khẳng định vai trò của Đảng, cách mạng Việt Nam chỉ đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản mới giành được thắng lợi. Công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng hơn 35 năm qua đã khẳng định đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng. Hiện nay, không thể có lực lượng chính trị nào đủ sức gánh vác sứ mệnh lãnh đạo công cuộc đổi mới ở nước ta. Đảng là nhân tố chủ quan năng động, sáng tạo ở tầm chiến lược có thể biến khả năng khách quan thành hiện thực. Thông qua sự lãnh đạo của Đảng mà khơi dậy, quy tụ và nhân lên sức mạnh nội lực của đất nước, tranh thủ được sức mạnh ngoại lực, liên kết và giải quyết tốt mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân là công cụ chính trị mạnh mẽ nhất của nhân dân ta đang chứng minh trên thực tế hiệu lực, hiệu quả quản lý kinh tế xã hội. Vấn đề là phải khắc phục những yếu kém của bộ máy nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, đồng thời phải tiến hành cải cách nền hành chính quốc gia và xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ. Trên cơ sở đó thực hiện thắng lợi nhiệm vụ tổ chức quản lý, phát huy tiềm năng to lớn về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, tài nguyên, quy mô dân số, nguồn nhân lực, phẩm chất con người và sự ổn định chính trị xã hội, để, tận dụng thời cơ, đẩy lùi nguy cơ, vượt qua thách thức đưa đất nước phát triển.

 

QUÁN TRIỆT TINH THẦN TRONG XÂY DỰNG VĂN HÓA, CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY

 


Thứ nhất, gắn các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển văn hóa và xây dựng con người với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành, vùng và địa phương, từng cơ quan, đơn vị; phát huy năng lực, trách nhiệm người đứng đầu trong việc phát triển văn hóa, xây dựng con người. việc xác định phát triển văn hóa và xây dựng con người là nhiệm vụ trọng tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền và cả hệ thống chính trị. Theo đó, phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, khen thưởng, xử lý đối với hoạt động lãnh đạo, quản lý văn hóa; nhất là trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển văn hóa, xây dựng con người.

Thứ hai, tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới.

Thứ ba, hướng các hoạt động văn hóa, giáo dục, khoa học vào việc xây dựng con người có thế giới quan khoa học, nhân sinh quan tiến bộ, nhân văn, hướng tới chân - thiện - mỹ; gắn xây dựng, rèn luyện đạo đức với thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Thứ tư, phát huy vai trò của văn học - nghệ thuật trong việc bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, nhân cách, lối sống của con người.

Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực ngành văn hóa, văn nghệ, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt, đặc thù.

Thứ sáu, chú trọng chăm lo xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước và các đoàn thể. Trong đó, trọng tâm là củng cố, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, thực hiện sâu, rộng văn hóa tự phê bình và phê bình trong Đảng.

Thứ bảy, phát triển thị trường văn hóa, các ngành công nghiệp văn hóa để đáp ứng nhu cầu tiếp nhận, hưởng thụ của người tiêu dùng và thị trường ngoài nước; xây dựng, bổ sung và hoàn thiện các cơ chế, chính sách có tính đột phá để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa trong thời kỳ mới.

 

Một số giải pháp phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá hiện nay

 


Trong bối cảnh nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào môi trường khu vực và toàn cầu, là một tỉnh biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số và theo các tôn giáo; với cả thời cơ và thách thức đan xen, nhất là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, lợi dụng các vấn đề về “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền” cùng những sơ hở, yếu kém trong quản lý, điều hành của chính quyền các cấp, do đó, phải chủ động phòng ngừa, dự báo chính xác tình hình để sớm triệt tiêu các nhân tố bất lợi có thể gây mất ổn định chính trị - xã hội.

Để phòng, chống hiệu quả những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá hiện nay thiết nghĩ các cấp, các ngành cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc, tôn giáo.

Tập trung khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế, thế mạnh ở từng tiểu vùng, từng xã; phát huy tinh thần tự lực, tự cường, sáng tạo, nỗ lực vươn lên của cán bộ, đảng viên và Nhân dân ở cơ sở; thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, xã hội hóa để đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là hệ thống giao thông, thủy lợi, trường, trạm vừa giúp giảm bớt gánh nặng cho Nhà nước, vừa tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh để nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ; hỗ trợ, hướng dẫn đồng bào dân tộc thiểu số chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đi vào sản xuất hàng hóa, tăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo, định canh, định cư; xây dựng thôn, làng thành cộng đồng giàu về kinh tế, phát triển về văn hóa - xã hội, đoàn kết, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội; giải quyết tốt tình trạng tranh chấp đất đai, đẩy nhanh tiến độ giao đất, khoán rừng, giúp đồng bào an cư lạc nghiệp.

Tăng cường củng cố các thiết chế truyền thống của xã hội (như gia đình, các cộng đồng làng, xã; vị thế, uy tín của già làng, trưởng bản, những người có uy tín, kể cả với một số thầy cúng...), tạo ra “quyền uy vô hình” trong việc duy trì tín ngưỡng, văn hóa truyền thống và định hướng, phát huy các giá trị ấy theo chiều hướng tích cực nhằm tăng cường, củng cố khối đoàn kết của cộng đồng.

Hai là, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, vận động Nhân dân hiểu rõ và nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về dân tộc, tôn giáo.

Để đạt hiệu quả, cán bộ, đảng viên, nhất là ở cơ sở phải gần dân, sát dân, tìm hiểu và nắm tâm tư, nguyện vọng của dân. Phát huy vai trò của già làng, trưởng thôn, các nhân sĩ trí thức là người dân tộc thiểu số và các chức sắc, chức việc tôn giáo tiến bộ cùng vận động, thuyết phục đồng bào các dân tộc có đạo nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương. Chủ động phát hiện và có biện pháp ngăn chặn kịp thời, hiệu quả tình trạng truyền đạo trái pháp luật, lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị trên từng địa bàn.

Ba là, củng cố và xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh.

Trong bối cảnh nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào môi trường khu vực và toàn cầu, là một tỉnh biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số và theo các tôn giáo; với cả thời cơ và thách thức đan xen, nhất là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, lợi dụng các vấn đề về “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền” cùng những sơ hở, yếu kém trong quản lý, điều hành của chính quyền các cấp, do đó, phải chủ động phòng ngừa, dự báo chính xác tình hình để sớm triệt tiêu các nhân tố bất lợi có thể gây mất ổn định chính trị - xã hội. Thực hiện nghiêm Quy chế Dân chủ cơ sở, tôn trọng và phát huy đầy đủ quyền làm chủ của Nhân dân; tập trung “Xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân” như Văn kiện Đại hội Đảng XIII đã đề ra, làm cơ sở, chỗ dựa vững chắc cho đồng bào các dân tộc thiểu số và đồng bào có đạo đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn gây bạo loạn, ly khai của các thế lực thù địch.

Cùng với đẩy mạnh phát triển kinh tế, kết hợp với bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí; đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo môi trường minh bạch cho sự phát triển của địa phương; đồng thời, chủ động đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch cùng âm mưu, thủ đoạn lợi dụng những sơ hở, hạn chế trong quản lý, điều hành của chính quyền các cấp để gieo rắc hoài nghi, kích động tư tưởng chống đối, gây mất ổn định xã hội. Trong tình hình hiện nay, nếu mất cảnh giác, hữu khuynh, đấu tranh thiếu kiên quyết, triệt để với các biểu hiện, mầm mống gây đột biến, có thể dẫn đến hậu quả khôn lường. Điều đó đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền các cấp.

  T3

Một số giải pháp chống bệnh giáo điều trong cán bộ, đảng viên hiện nay

 


Tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh nhằm khắc phục những hạn chế, yếu kém trong cán bộ, đảng viên; trong đó cần đấu tranh khắc phục bệnh giáo điều theo cách phong cách thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Để việc học tập, rèn luyện theo phong cách thực tiễn của Người có hiệu quả cần thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, cần thay đổi nhận thức về việc học tập lý luận nhằm nâng cao trình độ tư duy lý luận, chống giáo điều về lý luận, tăng tính thực tiễn trong học tập lý luận. 

Tăng tính thực tiễn là gắn các tri thức lý luận với thực tiễn công tác, thực tiễn đất nước, làm cho thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm tăng hiệu quả hoạt động thực tiễn công tác của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê phán việc học tập lý luận mà không gắn với thực tiễn của cán bộ, đảng viên, là coi việc học tập lý luận chỉ để gắn cái “mác”, để có cái “bằng”, học tập để nói cho “có vẻ” lý luận; học lý luận để biết “dăm câu ba chữ” dùng làm “trang sức” hoặc để lòe người khác, chứ không để nâng cao trình độ lý luận, nâng cao trình độ tư duy lên tầm lý luận; giải thích và chỉ đạo, hướng dẫn thực tiễn bằng lý luận. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu chống và phê phán kiểu học thuộc lòng chủ nghĩa Mác - Lênin, đó chính là cách “học sách vở Mác - Lênin nhưng không học tinh thần Mác - Lênin”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, học tập chủ nghĩa Mác-Lênin là “phải học tinh thần của chủ nghĩa Mác-Lênin, học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta”. Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần phải tăng tính thực tiễn trong học tập lý luận, nghĩa là học lý luận để phục vụ thực tiễn làm việc, từ đó khắc phục được bệnh giáo điều lý luận. Người chỉ ra: “Học tập chủ nghĩa Mác-Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình, là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm”. Học tập chủ nghĩa Mác-Lênin trước hết để biết, để làm người, rồi mới làm cán bộ và phụng sự Tổ quốc, nhân dân, giai cấp. Người cán bộ, đảng viên phải có thái độ đúng đắn mới có thể khắc phục được bệnh giáo điều trong nghiên cứu, học tập lý luận. Như vậy, thay đổi nhận thức về việc học tập lý luận là quán triệt quan điểm thực tiễn để chống bệnh giáo điều trong học tập lý luận.

Thứ hai, cần vận dụng lý luận một cách sáng tạo và hiệu quả vào thực tiễn để nâng cao hiệu quả công tác.

Học tập lý luận cốt là vận dụng vào thực tiễn, phục vụ cải tạo thực tiễn, nếu không sẽ trở nên giáo điều về lý luận. Vận dụng ở đây không đơn giản là dùng những kiến thức lý luận đã học để áp dụng vào thực tế mà để phân tích, mổ xẻ thực tiễn. Phải đem những điều học được để phân tích và giải quyết các vấn đề thực tế trong công tác của bản thân mình và của Đảng, như vậy thì việc nghiên cứu, học tập, vận dụng lý luận mới có hiệu quả. Khi đem những kiến thức lý luận áp dụng vào thực tiễn phải phân tích những điều kiện cụ thể của thực tiễn để lựa chọn lý luận nào và kinh nghiệm thực tiễn nào vào cải tạo thực tiễn.

Người căn dặn cán bộ, đảng viên: khi nghiên cứu, học tập và vận dụng kinh nghiệm của các nước vào thực tiễn cách mạng nước ta phải căn cứ vào thực tiễn đất nước để tìm ra hướng đi riêng cho mình; biết lựa chọn kinh nghiệm nào cho phù hợp, nếu không sẽ phạm phải giáo điều khi vận dụng kinh nghiệm: “Không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em, là sai lầm nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều”. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu ngoài việc nâng cao nhận thức trong học tập lý luận, cán bộ, đảng viên phải luôn luôn nhấn mạnh nguyên tắc lý luận liên hệ với thực tế và tính lịch sử cụ thể khi vận dụng kinh nghiệm của các nước vào nước mình.

Thứ ba, thường xuyên tổng kết kinh nghiệm để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận, làm giàu tri thức.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải biết tổng kết kinh nghiệm thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả công tác “… công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái thìa khoá phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới”. Người nhấn mạnh: “… cần phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ, làm cho nó đầy đủ dồi dào thêm”. Đó chính là quá trình tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận. Làm được như vậy có nghĩa là làm cho lý luận được “bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động”. Đồng thời, thực tiễn mới sẽ được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận mới. Đây là biểu hiện sinh động của việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, “tổng kết để làm cho nhận thức của chúng ta đối với các vấn đề đó được nâng cao hơn và công tác có kết quả hơn”.

Phong cách thực tiễn là một trong những nét nổi bật trong hệ thống phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phong cách thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dựa trên thực tiễn và xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn Việt Nam để tiếp thu chọn lọc những gì hợp lý, đúng đắn và định hướng cho quá trình tìm ra hệ thống lý luận cũng như phương pháp cách mạng để giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam. Đó là một phong cách hành động khoa học, lấy thực tiễn là cơ sở, điểm xuất phát của quá trình nhận thức chân lý. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trong đó nghiên cứu và học tập phong cách thực tiễn của Người là rất cần thiết đối với mỗi người, bởi đó là phương thức góp phần loại bỏ căn bệnh giáo điều trong cán bộ, đảng viên hiện nay./.

 T3.

Kiên trì đấu tranh chống bảo thủ bằng nhiều giải pháp

 


 

Bảo thủ là một tư tưởng đã ăn sâu, bám rễ, trở thành thuộc tính cố hữu trong cách nghĩ, cách làm và tư duy của cán bộ, đảng viên và người dân. Mặt khác, phản ứng lại sự tấn công của cái mới, cái tiến bộ vốn là thuộc tính của tư tưởng bảo thủ. Để bảo vệ mình, người mang tư tưởng bảo thủ luôn tìm ra đủ phương cách. Do đó đấu tranh khắc phục tư tưởng bảo thủ không phải là công việc đơn giản và dễ thực hiện trong một sớm một chiều. Muốn chữa trị căn bệnh bảo thủ, chúng ta phải có quyết tâm cao, kiên trì tiến hành đồng bộ, thường xuyên, liên tục, bằng nhiều giải pháp.

Thực tế cho thấy tình trạng mang nặng tư tưởng bảo thủ, trì trệ, không mạnh dạn dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm ở một bộ phận cán bộ, đảng viên đang là lực cản lớn đối với quá trình phát triển của đất nước ta. Để khắc phục tình trạng ấy, chúng ta cần phải đặc biệt coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục. Thực tế đã chứng minh tuyên truyền, giáo dục là một trong những giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn, đẩy lùi căn bệnh bảo thủ. Để làm được điều đó, trước hết chúng ta phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục trong các cơ quan, đơn vị, trường học; nêu cao tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là của cơ quan cấp trên, cán bộ chủ trì các cơ quan, đơn vị, bởi những người này mang nặng tư tưởng bảo thủ thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tập thể. Cùng với đó, chúng ta phải bảo vệ nhân tố mới, cổ vũ tư tưởng đổi mới, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; tính linh hoạt, sáng tạo cả trong tư duy và hành động. Việc tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức để chống tư tưởng bảo thủ phải được xác định là việc làm thường xuyên, liên tục, ở mọi cấp, mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề, mọi lứa tuổi, đối tượng… Đối với từng nhóm đối tượng phải lựa chọn nội dung, hình thức và biện pháp tuyên truyền sao cho phù hợp, hiệu quả, trong đó cần nêu cao vai trò của báo chí, truyền thông.

Mặt khác, như đã nêu ở trên, một trong những nguyên nhân dẫn đến tư tưởng bảo thủ là do trình độ nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân còn hạn chế. Thực tế cho thấy, với bất cứ một nền kinh tế-xã hội nào muốn duy trì sự tồn tại và phát triển cần phải có một nguồn lực nhất định, trong đó nguồn lực quan trọng và quyết định nhất là con người. Do vậy, để đẩy lùi căn bệnh bảo thủ, chúng ta cần nâng cao trình độ dân trí. Muốn nâng cao trình độ nhận thức, nâng cao dân trí thì không có cách nào khác là phải đầu tư cho giáo dục và đào tạo, hay nói cách khác là đầu tư cho con người. Trình độ nhận thức của cán bộ, đảng viên, trình độ dân trí được nâng cao, sẽ giúp chúng ta từng bước hạn chế và đi đến xóa bỏ được tư tưởng bảo thủ, trì trệ cả trong tư duy và hành động.

 T3.

Đổi mới là đòi hỏi tất yếu - để chống bệnh bảo thủ

 


 

Trên thực tế vẫn có rất nhiều người đang cố thủ trong các vỏ bao bọc của lề thói cũ, tư duy và chủ nghĩa kinh nghiệm. Vấn đề này cũng đã được Đảng ta chỉ rõ trong nhiều văn kiện. Ngoài những yếu tố khách quan như tàn dư của chế độ phong kiến, thực dân; ảnh hưởng của cơ chế quan liêu bao cấp một thời; là sự khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên… chúng ta cần phải thấy một trong những nguyên nhân chủ quan dẫn đến căn bệnh bảo thủ là do nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân còn hạn chế. Do chưa nhận thức rõ vấn đề và những đòi hỏi từ thực tế nên chúng ta đã chậm đổi mới trong cả tư duy và hành động; giáo dục và đào tạo không bắt kịp với xu thế phát triển của thời đại… Từ thực trạng tình hình, Đảng ta đã nhận rõ đổi mới tư duy là quy luật tất yếu của cách mạng, của công cuộc đổi mới. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta khẳng định rằng: “Chỉ có đổi mới tư duy thì mới thấy đúng và thấy hết sự thật, thấy hết những nhân tố mới để phát huy, những sai lầm để sửa chữa”… Chính sự quyết tâm đấu tranh với tư tưởng bảo thủ, đổi mới mạnh mẽ, toàn diện đất nước mà chúng ta có được những bước tiến dài như ngày hôm nay. Có thể khẳng định, hơn ba mươi năm đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong sự nghiệp phát triển của nước ta, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Trước những đòi hỏi mới của tình hình, nhất là ở thời Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cái mới, cái tiến bộ không ngừng nảy sinh phủ định cái cũ, cái lạc hậu và chính sự ra đời của cái mới, sự triệt tiêu của cái cũ giúp cuộc sống của chúng ta không ngừng vận động, phát triển, thì cuộc đấu tranh ngăn chặn và đẩy lùi tư tưởng bảo thủ, không ngừng đổi mới, sáng tạo càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ: “Phải biết rằng tình hình khách quan thay đổi hàng giờ hàng phút, một chủ trương của ta hôm nay đúng, hôm sau đã không hợp thời, nếu ta không tỉnh táo kiểm điểm những tư tưởng hành vi của ta để bỏ đi những cái quá thời, sai hỏng, nhất định ta sẽ không theo kịp tình hình, ta sẽ bị bỏ rơi, bị các bạn tỉnh táo nhanh nhẹn hơn vượt đi trước… Không chịu tự phê bình, không chỉ trích thì không bao giờ tấn tới được”(*). Tuy nhiên, đổi mới không có nghĩa là chúng ta phủ định sạch trơn cái ra đời trước, kinh nghiệm của những người đi trước. Nhưng nếu chúng ta cứ bình chân nằm ôm khư khư đống kinh nghiệm ấy mà không tìm tòi, đổi mới, sáng tạo thì nhất định chúng ta sẽ tụt hậu, đặc biệt trong xã hội hiện đại, khoa học, công nghệ phát triển như vũ bão, tri thức mới không ngừng ra đời như hiện nay.

T3.

Không để bảo thủ trở thành “sợi dây” trói buộc sự tiến bộ

 


Theo Đại từ điển tiếng Việt, bảo thủ được hiểu là “duy trì cái cũ, cái hiện tồn, không muốn tiếp nhận cái mới”. Còn theo cách hiểu thông thường, bảo thủ là duy trì cái cũ, bảo vệ cái cũ, cái đã lỗi thời, lạc hậu; không chịu tiếp thu cái mới, cái hay, cái tiến bộ, chống lại những tư duy mới, hành động mới trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế-xã hội… Trên thực tế những biểu hiện của tư tưởng bảo thủ được thể hiện, bộc lộ dưới rất nhiều dạng, nhiều khía cạnh. Có những biểu hiện chỉ thoáng qua người ta đã biết, nhưng có những biểu hiện không phải ai cũng dễ nhận ra, do đó việc nhận diện đúng tư tưởng bảo thủ để đấu tranh khắc phục là việc làm cần thiết.

Danh ngôn có câu: “Một trí óc bảo thủ là một trí óc đang chết dần”. Tác hại mà tư tưởng bảo thủ gây ra với mỗi tập thể, mỗi xã hội là rất rõ ràng. Tác hại của tư tưởng bảo thủ sẽ càng lớn khi nó được áp đặt vào người khác, áp đặt vào tập thể. Do đó sẽ rất nguy hại nếu người mang tư tưởng bảo thủ giữ chức vụ cao, nhất là những người giữ vai trò chủ trì, chủ chốt ở từng cơ quan, đơn vị, địa phương. Chuyện kể rằng có một công ty nọ chuyên sản xuất hàng may mặc xuất khẩu, công ty phát triển khá nhanh do thường xuyên đầu tư hiện đại máy móc, trang thiết bị kỹ thuật, đổi mới mẫu sản phẩm, ký được nhiều hợp đồng với nhiều nước trên thế giới… Sau những thành công ấy, giám đốc công ty hả hê và càng ngày càng cảm thấy thoã mãn với sự nghiệp của mình. Ông ta cho rằng mẫu mã trước đây đã khẳng định được vị trí, tìm được chỗ đứng trong khách hàng nên không cần phải thay đổi nữa, chỉ cần duy trì mẫu mã cũ cũng đủ sức phát triển… Thực chất đó chính là biểu hiện của tư tưởng bảo thủ và hệ quả đã thấy rõ, công ty của ông ta dần dần bị tụt hậu, không theo kịp sự phát triển của thời đại, hàng hóa của công ty trở thành lỗi thời, lạc hậu, không ký được hợp đồng, khách hàng cũng mất dần; các đối thủ cạnh tranh vượt lên. Chẳng bao lâu công ty may mặc của ông giám đốc nọ đã bị phá sản…

Từ câu chuyện trên, suy rộng ra cho chúng ta thấy tính chất nguy hại của tư tưởng bảo thủ đối với sự phát triển của xã hội. Nhận thức rõ những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng bảo thủ, trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đặc biệt đến việc đấu tranh ngăn chặn tư tưởng bảo thủ. Trong Thư gửi đồng bào và cán bộ xã Nam Liên (nay là xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An), ngày 13-2-1962, khi đề cập đến công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Tư tưởng bảo thủ là như những sợi dây cột chân cột tay người ta, phải vất nó đi. Muốn tiến bộ thì phải có tinh thần mạnh dạn, dám nghĩ dám làm”. Trong nhiều bài viết, bài nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích rõ tác hại của tư tưởng bảo thủ. Người ví nó như sợ dây trói buộc, ngăn cản sự tiến bộ của con người, ngăn cản sự phát triển của tập thể.

T3.

Cảnh giác với những luận điệu xuyên tạc tự do dân chủ ở Việt Nam

 


 

Thời gian gần đây, lợi dụng vấn đề tự do, dân chủ, các thế lực thù địch ra sức chống phá Đảng và Nhà nước ta. Các thế lực thù địch đã phát tán tài liệu hết sức phản động có tựa đề: “Lãnh đạo Việt Nam, mù, câm, điếc”. Với lời lẽ của một phần tử phản động, Trần Khải Thanh Thủy xấc xược cho rằng: “Lãnh đạo Việt Nam hiện nay chỉ có ba thằng, đó là: Mù, Câm, Điếc”; Chúng còn ngỗ ngược xuyên tạc: “Những ai mà sáng mắt, thính tai hoặc nói rõ ràng hơn một chút thì lập tức bị đàn áp và bỏ tù ngay”. chúng cố tình kích động, chia rẽ nhân dân ta với Đảng và Nhà nước, khi cho rằng: “Chỉ khi nào ba thằng mù, câm, điếc chết đi, dân ta mới thoát khỏi những bóng ma tiền định này và trở nên trí tuệ, sáng suốt, biết làm chủ bản thân hơn”. Mục đích cuối cùng của chúng không có gì khác nhằm hạ thấp uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chính vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam cần hết sức tỉnh táo, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng để không bị mắc mưu của bọn phản động.

Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn của đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị đường lối cách mạng đúng đắn phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.

Điều 8 Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ  nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân… Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn được nhân dân tin tưởng tuyệt đối, trao cho Đảng quyền lãnh đạo; đi theo Đảng làm cách mạng, đấu tranh bảo vệ Đảng, đoàn kết gắn bó thực hiện đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chung sức đồng lòng xây dựng đất nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Trên thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân làm nên cuộc Cách mạng long trời lở đất Tháng Tám năm 1945, lập nên Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước Công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; đưa nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước; cùng với đó, Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành thắng lợi vĩ đại trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Trải qua hơn 35 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử; chưa bao giờ đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay. Như vậy, khẳng định rằng luận điệu của chúng hết sức phản động, không có căn cứ, nhằm kích động quần chúng nhân dân, hạ thấp uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, từng bước tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta sẽ còn phải nỗ lực vượt qua rất nhiều khó khăn, thách thức, các thế lực thù địch phản động tiếp tục điên cuồng chống phá; trong bối cảnh đó, đòi hỏi mỗi cán bộ đảng viên và người dân Việt Nam càng phải đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng và quản lý của Nhà nước, tin tưởng vào sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái xuyên tạc của các phần tử phản động, bất mãn, cơ hội chính, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng và thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân ta./.

          T3.

Cảnh giác với những luận điệu xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước ta

 


 

Chiều ngày 10/9/2022, Văn phòng Trung ương Đảng phát thông cáo cho biết trong hai ngày 9 và 10/9/2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì cuộc họp Bộ Chính trị, Ban Bí thư cho ý kiến về một số đề án để hoàn thiện báo cáo Bộ Chính trị trình Hội nghị Trung ương 6 khoá XIII. Lợi dụng vấn đề trên, một số trang mạng, báo đài phỏng vấn đưa tin xuyên tạc quan điểm, chủ trương của Đảng, nhà nước ta. Trên trang Vietnamthoibao. Org, Thới Bình tán phát bài viết “Phản biện chính trị ở Việt Nam chỉ có một con đường’’ trong đó xuyên tạc rằng phản biện chính trị ở Việt Nam, nếu được gọi là “nhà bất đồng chính kiến”, thì sớm muộn gì cũng đối mặt án an ninh quốc gia…, vậy sự thật ở đây là gì.

Thứ nhất, chúng ta phải hiểu rằng. Giám sát, phản biện xã hội – một chức năng cơ bản của Mặt trận, vận động Nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Chức năng “giám sát, phản biện xã hội” của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã được khẳng định trong Điều 9 Hiến pháp năm 2013, “Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động”. Trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền, Đảng, Nhà nước ta rất cần có sự giám sát và phản biện xã hội từ phía Nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc, giúp Đảng và Nhà nước tránh các nguy cơ như: Sai lầm về đường lối, đồng thời góp phần giáo dục đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên về đạo đức, lối sống, kỹ năng thực thi công vụ và ý thức tổ chức kỷ luật. Giám sát và phản biện xã hội chính là hoạt động giúp cho bộ máy tổ chức Đảng, Nhà nước mạnh hơn, đáng tin cậy hơn, chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên ngày càng tốt hơn, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân ngày càng được bảo vệ tốt hơn. Do đó, giám sát và phản biện xã hội trở thành nhu cầu tự thân của Đảng cầm quyền và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Thứ hai, giám sát và phản biện xã hội là một yêu cầu tất yếu khách quan trong việc xây dựng, củng cố Nhà nước pháp quyền, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trong đó, với nhà nước pháp quyền và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa không thể thiếu vai trò (thông qua hoạt động giám sát, phản biện xã hội) của Nhân dân, các tổ chức chính trị – xã hội trong việc tham gia thực tế vào công việc xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước. Mặt khác, giám sát và phản biện xã hội có vai trò góp phần đảm bảo quyền lực của Nhà nước được sử dụng đúng mục đích. Trong đó, Nhân dân (thông qua cơ quan đại diện là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) kiểm soát quá trình thực thi quyền lực của Nhà nước, sẽ giúp cho Nhà nước, viên chức, công chức tránh được bệnh quan liêu, xa dân. Nhất là trong điều kiện phát triển nền kinh kế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, thực hiện tốt chức năng giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc sẽ góp phần quan trọng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực – một trong các nguyên nhân làm suy giảm lòng tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đã “chủ động tham gia giám sát và phản biện xã hội; làm tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước”

Đến đây chúng ta khẳng định rằng, những luận điệu của Thới Bình là hoàn toàn sai trái, với mục đích xuyên tạc, bịa đặt đi ngược lại chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần đề cao cảnh giác, nhận diện, vạch trần và đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chống phá chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam./.

T3.

 

VIỆT NAM LỰA CHỌN ĐI THEO CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA LÀ ĐÚNG ĐẮN

 


 

Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn con đường Cách mạng Tháng Mười Nga cho cách mạng Việt Nam là tất yếu lịch sử.

Trước năm 1930, ở Việt Nam tồn tại nhiều đảng phái, tổ chức, chính trị lựa chọn con đường cứu nước khác nhau nhưng đều thất bại. Nguyễn Ái Quốc – người thanh niên yêu nước đã bôn ba nhiều nước để tìm ra con đường cứu nước, cứu dân, Người đã tìm hiểu các cuộc cách mạng nổ ra trước đó kể cả cuộc cách mạng tư sản ở nước Mỹ, nhưng, Người nhận thấy, Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga vĩ đại, ngày 07/11/1917, dưới sự lãnh đạo thiên tài của V.I.Lênin và Đảng Bônsêvích, giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã chặt đứt mắt xích yếu nhất của chủ nghĩa đế quốc, lập nên nhà nước công – nông đầu tiên trên thế giới, mở ra một thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Người khẳng định: “Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”[1]. Chính vì vậy, theo Nguyễn Ái Quốc chỉ có đi theo con đường Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga mới đem lại độc lập, tự do, dân chủ, công bằng và bình đẳng thực sự cho mọi người, mới chấm dứt xóa bỏ được vĩnh viễn chế độ người bóc lột người; chỉ có sự lãnh đạo của một Đảng Cộng sản chân chính được vũ trang bằng một học thuyết cách mạng và khoa học, có đội ngũ đảng viên kiên trung, không sợ hy sinh, gian khổ, hết lòng, hết sức vì lợi ích và hạnh phúc của nhân dân mới có thể hiện thực hóa mục tiêu lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Và Nguyễn Ái Quốc đã quyết tâm lựa chọn con đường cách mạng vô sản, Người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), ngày 03/02/1930.

Với đường lối giải phóng dân tộc đúng đắn, Người cùng với Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến, giành độc lập dân tộc, giải phóng nhân dân lao động khỏi ách thống trị, bóc lột của thực dân, phong kiến, làm nên thắng lợi to lớn của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Thắng lợi đó đã mở ra bước ngoặt lớn của cách mạng Việt Nam, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.

Thứ hai, thắng lợi của kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và và thành tựu của công cuộc đổi mới là hiện thực không thể phủ nhận của con đường đi theo Cách mạng Tháng Mười Nga do Chủ tịch Hồ Chi Minh và Đảng ta lựa chọn.

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược năm 1954; lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước vào mùa xuân năm 1975. Đặc biệt, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ năm 1975 đến nay. Những mốc son chói lọi đó là sự thật không thể đảo ngược và bôi nhọ, điều đó không chỉ người Việt Nam yêu nước thừa nhận, mà thế giới ngợi ca và đánh giá cao.

Ghi nhận công lao đóng góp của các lãnh tụ trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng, trong đó có lãnh tụ Hồ Chí Minh. UNESCO đã vinh danh lãnh tụ Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất”. Đó là đánh giá khách quan, sự ghi nhận và vinh danh xứng đáng của thế giới đối với lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Hiện nay, cả nước đang thực hiện đường lối đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội, với nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, “làm cho đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” là minh chứng sáng ngời về sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với dân tộc Việt Nam – Người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Do đó, việc lập luận của Trần Trung Đạo về sự lựa chọn con đường đi theo Cách mạng Tháng Mười Nga của Việt Nam là hoàn toàn sai trái, phi nhân tính, đó là luận điệu vu khống, xuyên tạc trắng trợn của y.

Vì thế, mỗi cư dân mạng cần hết sức cảnh giác, vạch trần âm mưu thủ đoạn của Trần Trung Đạo và đồng bọn. Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân ta tin tưởng vào con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và sự thắng lợi của công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo./.

          T3.