Thứ Ba, 11 tháng 10, 2022

SỰ ''IM LẶNG'' NGUY HẠI

 

Dân gian có câu “Im lặng là vàng”, với hàm ý khuyên nhủ ai đó nên có thái độ khiêm nhường, nhã nhặn đúng lúc đúng chỗ; biết im lặng cần thiết khi lời nói của mình có thể làm tổn thương, gây hại cho người khác hoặc làm rắc rối thêm vấn đề... Tuy nhiên trong cuộc sống, sự “im lặng” không phải lúc nào cũng là “vàng” mà có thể trở thành nguy hại cho sự phát triển, như khi cán bộ, đảng viên thấy đúng không ủng hộ, thấy sai không dám đấu tranh.

Thời gian qua, tâm lý “đấu tranh, tránh đâu” và thái độ “im lặng” có thể hiểu là hiện tượng nể nang, né tránh, ngại va chạm của nhiều cán bộ, đảng viên, xảy ra ở không ít cơ quan, tổ chức, đơn vị, được khoác tấm áo “đoàn kết, thống nhất cao” bên ngoài, còn thực tế bên trong thì hậm hực, tức tối, kéo bè, kết cánh để chống đối nhau đã xảy ra. Cũng có hiện tượng “im lặng” khác là không ít cán bộ, đảng viên không dám làm gì vì sợ sai nên chùng chình, không thực thi nhiệm vụ trước những khó khăn, bức xúc từ cuộc sống. Cả hai sự “im lặng” như trên đều gây hại cho tổ chức, địa phương và mở rộng ra là cản trở sự phát triển của đất nước.

Cách đây hơn 35 năm, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã phê phán rất gay gắt điều mà ông gọi là “sự im lặng đáng sợ” để tấn công vào “thành trì” quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. “Sự im lặng đáng sợ” là sự im lặng của người có chức, có quyền câu kết, tránh né, bao che cho nhau để tham nhũng, lãng phí, tiêu cực... “Sự im lặng đáng sợ” còn là sự im lặng của người dân, của những người tích cực trước những tiêu cực, sai trái hiển hiện trước mắt mà không có phản ứng gì. Do vậy, công khai chỉ ra “Những việc cần làm ngay” và phê bình trên báo chí chính là một giải pháp quan trọng, hiệu quả được Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh coi trọng.

Biểu hiện rõ nét khi sự “im lặng” diễn ra ở không ít cơ quan, đơn vị, địa phương gần đây là việc trì trệ trong triển khai thực hiện Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg ngày 28-3-2022 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động bị ảnh hưởng do dịch Covid-19. Lý do chủ yếu là “sợ sai” nên ở cơ sở đã nghĩ ra nhiều “giấy phép con” để cốt cho “an toàn”. Hay như tình trạng giải ngân đầu tư công cũng vậy, khiến hàng chục nghìn tỷ đồng nằm im trong khi rất nhiều công trình, dự án… thiếu vốn.

Thực tế cho thấy, các tổ chức bị kỷ luật với hình thức Cảnh cáo gần đây như: Ban Thường vụ Đảng ủy Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam các nhiệm kỳ 2015-2020, 2020-2025; Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hải Dương nhiệm kỳ 2020-2025… cũng có nguyên nhân từ hiện tượng "ai biết người nấy" nên khi có sai mà không phát hiện, phát hiện mà không đấu tranh kịp thời; hoặc cũng có thể đồng lõa, dung túng cho nhau, cùng nhau “ngậm miệng” vì lợi ích cá nhân, cục bộ. Hậu quả là cùng lãnh án kỷ luật cả tập thể.

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” chỉ rõ 27 biểu hiện suy thoái. Trong đó có một biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị là: “Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”. Đối với cán bộ, đảng viên, nếu thể hiện sự im lặng như trên thì lâu ngày sẽ vô hình trung trở thành kẻ đồng lõa với cái xấu, dung túng cho cái sai và tiếp tay cho cái ác lộng hành. Khi cán bộ, đảng viên không bày tỏ thái độ, hành động gì trước một sự việc đáng lẽ phải có chính kiến kịp thời, vì lợi ích chung thì đó là biểu hiện của sự vô trách nhiệm.

Do đó, giải pháp để ngăn ngừa bệnh “im lặng” là cần xác định rõ vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị; đồng thời, phải gắn vai trò, trách nhiệm đối với những hậu quả do sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống gây ra. Có như vậy, việc ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống mới đạt được hiệu quả và có tác dụng động viên, khích lệ, khuyến khích cán bộ, đảng viên khác học tập, làm theo. Nhận diện đúng những biểu hiện suy thoái tạo cơ sở cho mỗi cán bộ, đảng viên suy ngẫm và hành động; tự soi, tự sửa, tự phê bình và phê bình, kiểm điểm đánh giá cá nhân, góp ý cho người khác và xử lý đối với cán bộ, đảng viên vi phạm.

Kiên quyết vạch trần, đấu tranh phòng, chống tình trạng số đông “im lặng”là một trong những việc làm cấp thiết để góp phần xây dựng các tổ chức Đảng trong sạch. Cụ thể là cần tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp như: Giáo dục, rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, trách nhiệm công vụ cho cán bộ, đảng viên; phát huy dân chủ trong đảng và trong xã hội; coi trọng văn hóa phản biện lành mạnh; thực thi chặt chẽ các quy định về kiểm soát quyền lực, nhất là kiểm soát quyền lực cá nhân người đứng đầu; tăng cường giám sát, kiểm tra và xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm dân chủ, độc đoán, chuyên quyền...

Đặc biệt là cần có sự nhìn nhận, xem xét với phương pháp biện chứng trước những sai sót trong công tác chuyên môn, nghiệp vụ, không nên phủ định sạch trơn với những thang “điểm trừ” khi đánh giá cán bộ, đảng viên. Vì thế, các cấp ủy, tổ chức Đảng cần làm tốt hơn nữa công tác đánh giá cán bộ cho thật sát với điều kiện tình hình mới. Trong đó, phải xem sự sáng tạo, đột phá của cán bộ, đảng viên là tiêu chí quan trọng hàng đầu trong hệ thống tiêu chí đánh giá, cương quyết không “dĩ hòa vi quý”, cào bằng.

Phê phán, đấu tranh với tình trạng “im lặng”, suy nghĩ “đấu tranh, tránh đâu” là việc làm cần thiết nhằm góp phần rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, tinh thần chiến đấu, phẩm chất trung thực, dũng cảm của cán bộ, đảng viên trong điều kiện hiện nay.

PHÊ PHÁN NHỮNG LUẬN ĐIỆU PHỦ NHẬN CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

 

Việt Nam đi theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử

Lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua đã khẳng định một chân lý: Đi theo con đường cách mạng XHCN và đi lên CNXH là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, phù hợp với khát vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam.

Chủ nghĩa Mác-Lênin đã luận giải khoa học về sự thay thế của những hình thái KT-XH từ thấp đến cao là quá trình lịch sử-tự nhiên, là do vận động của những quy luật KT-XH khách quan. Với quan điểm duy vật biện chứng khoa học, các nhà kinh điển Mác-xít đã chỉ ra hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa tất yếu ra đời và thay thế hình thái KT-XH TBCN. Nó phải trải qua “một thời kỳ và hai giai đoạn”, đó là thời kỳ quá độ, giai đoạn đầu là CNXH, giai đoạn cao là cộng sản chủ nghĩa. Hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa sẽ phát triển cao hơn và khác về chất so với hình thái KT-XH TBCN nên phải trải qua quá trình cải biến cách mạng lâu dài; không bao giờ tự phát hình thành mà thông qua vận động của các quy luật về KT-XH, con đường đấu tranh cách mạng để xóa bỏ áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản và xây dựng xã hội mới. Hệ thống lý luận cơ bản đó của Chủ nghĩa Mác-Lênin là cách mạng, khoa học, được vận dụng thành công ở nước Nga từ năm 1917. CNXH từ lý luận trở thành hiện thực, từ một nước phát triển thành hệ thống chính trị thế giới đối lập với hệ thống TBCN trong hơn 7 thập niên.

Về thực tiễn, CNXH hiện thực ra đời đã thể hiện tính ưu việt hơn CNTB. Công cuộc xây dựng CNXH ở nước Nga, sau đó là Liên Xô có thời gian chưa dài, nhưng đã giành được nhiều thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực. Sản lượng công nghiệp chiếm 20% tổng sản lượng công nghiệp thế giới; sản lượng điện đạt 440 tỷ kWh (gấp hơn 300 lần so với năm 1913; bằng 4 nước lớn là Anh, Pháp, Đức, Italy cộng lại); dầu mỏ đạt 353 triệu tấn, than 624 triệu tấn, thép 121 triệu tấn (vượt sản lượng của Mỹ). Có thể thấy, trong một thời gian ngắn, CNXH ra đời ở Liên Xô và nhiều nước XHCN tuy chưa hoàn thiện nhưng đã phát triển lớn mạnh về nhiều mặt, khác hẳn về chất so với CNTB.

Điều đó cho thấy, CNXH là một hiện thực, hoàn toàn không phải là “giấc mơ”, cũng chẳng phải là “ảo tưởng về một thiên đường” như các thế lực thù địch rêu rao! Sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu (trước đây) chỉ là sự đổ vỡ của một mô hình cụ thể do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, chứ không phải do Chủ nghĩa Mác-Lênin hay lý tưởng về CNXH đã lỗi thời, lạc hậu.

Mặc dù CNTB đạt được những thành tựu to lớn nhưng chủ yếu đem lại lợi ích cho giai cấp tư sản mà không vì lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân lao động. Những mâu thuẫn nội tại và đối kháng trong xã hội TBCN chỉ giải quyết bằng con đường tất yếu là cách mạng XHCN. Trong bối cảnh hiện nay, CNTB đã có những thích nghi, phát triển nhất định nhờ tận dụng được những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, toàn cầu hóa và kinh tế tri thức. Các nước XHCN đang ở giai đoạn khó khăn tạm thời, song theo quy luật phát triển khách quan của lịch sử, CNTB sẽ bị xóa bỏ, chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là CNXH ưu việt hơn sẽ ra đời, tồn tại và phát triển.

Đối với cách mạng Việt Nam, những năm nửa đầu thế kỷ 20, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã có 30 năm bôn ba ở nước ngoài, đến các nước tư bản phát triển, đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm ra con đường cách mạng đúng đắn để giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, bóc lột, xâm lược và đô hộ của chủ nghĩa thực dân và phong kiến. Người khẳng định, muốn giành lại được độc lập cho dân tộc thì phải tiến hành con đường cách mạng vô sản và xây dựng chế độ XHCN. Từ năm 1930, “Chánh cương vắn tắt” của Ðảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được Hội nghị thành lập Ðảng thảo luận, thông qua đã xác định rõ đường lối của cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Năm 1991, Đảng đã ban hành “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”, trong đó chỉ ra 6 đặc trưng cơ bản của chế độ XHCN ở Việt Nam. Đến Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã phát triển sáng tạo thành 8 đặc trưng của CNXH ở Việt Nam, trong đó đặc trưng bao trùm là “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Hơn 90 năm được rèn giũa, tôi luyện, thử thách trong thực tiễn cách mạng sôi động, phong phú, Đảng Cộng sản Việt Nam có bản lĩnh chính trị, có trí tuệ, có khả năng lãnh đạo thành công công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam. Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc lớn trong thế kỷ 20, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) bị khủng hoảng, sụp đổ thì Đảng ta vẫn kiên định con đường đi lên CNXH, kiên trì đường lối đổi mới, giữ vững nguyên tắc “đổi mới nhưng không đổi màu”. Trải qua gần 40 năm tiến hành đổi mới, Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta đã đạt được thành tựu rất to lớn, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và có ý nghĩa lịch sử. Đại hội XIII của Đảng đánh giá khái quát: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay... Tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại”

Trong những chặng đường tới, Đảng ta đã có dự báo khoa học về 4 nguy cơ, những thách thức không nhỏ từ bên ngoài và ở trong nước đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Với phương châm vượt qua thách thức, tận dụng những cơ hội, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để thúc đẩy công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam phát triển nhanh và bền vững hơn, Đảng ta đặt ra mốc: “Phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng XHCN” là hoàn toàn có cơ sở khoa học đúng đắn và có tính khả thi. 

Với trí tuệ, khả năng và kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo cách mạng, được sự ủng hộ của nhân dân thì việc kiên định lựa chọn con đường đi lên CNXH cũng không ngoài mục đích nhân văn cao đẹp là tiếp nối truyền thống, xứng đáng với các thế hệ cha anh đã chiến đấu anh dũng, hy sinh vì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; đồng thời đáp ứng lòng mong đợi và phù hợp với khát vọng, mong muốn của gần 100 triệu người dân Việt Nam.

 

BẢO VỆ KHÔNG GIAN MẠNG - YÊU CẦU CẤP THIẾT


Thời gian qua, tình hình an toàn, an ninh mạng diễn biến phức tạp, khó kiểm soát đối với các nước.
Ở nước ta, các thế lực thù địch, phản động đã và đang lợi dụng triệt để không gian mạng để chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, nhân dân. Vì vậy, nâng cao nhận thức trách nhiệm về xây dựng và bảo vệ không gian mạng là hết sức quan trọng và cấp thiết...
Lợi ích và các thách thức
Không gian mạng đã và đang mang lại nhiều giá trị tích cực cho sự phát triển của xã hội, tổ chức và cá nhân. Cùng với sự phát triển không ngừng của các dịch vụ internet, các công nghệ mạng 4G, 5G, các trang mạng xã hội, các thiết bị IoT, dịch vụ điện toán đám mây... không gian mạng đang làm cho con người tương tác đa chiều hơn, phản ánh sinh động, tức thời hơn với mọi mặt đời sống và các mối quan hệ xã hội. Chính điều này đã biến không gian mạng trở thành không gian xã hội mới, nơi con người có thể thực hiện các hành vi mang bản chất xã hội của mình, như giao tiếp, sáng tạo, lao động, sản xuất, tiêu dùng, học tập và vui chơi giải trí, không bị giới hạn bởi địa lý, ngôn ngữ, không gian và thời gian.
Lợi ích của không gian mạng còn được biết đến là nền tảng số trong chương trình chuyển đổi số quốc gia, các Chiến lược phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3-6-2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, không gian mạng là nơi diễn ra các hoạt động của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, người dân trên môi trường số; các giao tiếp giữa chính quyền và người dân, doanh nghiệp cơ bản diễn ra trên không gian mạng. Khi đó, không gian mạng thật sự trở thành không gian với nguồn tài nguyên số vô tận, ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và đặc biệt là con người.
Cùng với những lợi ích to lớn, không gian mạng đang tạo ra các nguy cơ và thách thức đối với an ninh quốc gia, an ninh con người và trật tự an toàn xã hội. Đó là những thách thức về tình báo mạng, gián điệp mạng, khủng bố mạng, nguy cơ về một cuộc chiến tranh mạng và hàng loạt nguy cơ khác. Nếu không gian mạng quốc gia không được bảo vệ, các bí mật Nhà nước sẽ bị lộ lọt; các hạ tầng quan trọng của quốc gia như hệ thống thông tin hàng không, điện lưới quốc gia, giao thông đường bộ, các cơ sở công nghiệp trọng yếu sẽ bị phá hủy; hệ thống tài chính, ngân hàng và nhiều lĩnh vực khác bị đình trệ hoặc rối loạn hoạt động.
Thời gian qua, các thế lực thù địch đã lợi dụng môi trường mạng xã hội để xuyên tạc Cương lĩnh, đường lối, quan điểm, nền tảng tư tưởng của Đảng; lôi kéo, kích động các phần tử bất mãn, tập hợp lực lượng, thành lập các tổ chức chống đối; tán phát tài liệu, kêu gọi tuần hành, biểu tình, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Bên cạnh đó, không gian mạng còn bị lợi dụng gây nên những thiệt hại về tài sản, tinh thần, sức khỏe, thậm chí cả tính mạng con người. Không ít vụ lừa đảo qua mạng, những người đăng tải lời nhận xét, bình luận, chia sẻ, thậm chí tự dựng lên những câu chuyện, clip sai sự thật gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, danh dự, uy tín của tổ chức, cá nhân.
Không những thế, không gian mạng đang trở thành và là môi trường trong một hình thái tác chiến mới, đó là tác chiến không gian mạng. Nó đang tạo ra các nguy cơ về chiến tranh không khói súng, không chiến tuyến, không biên giới lãnh thổ giữa các quốc gia với sự tham gia của mọi đối tượng trên môi trường mạng bao gồm: Các nhóm tin tặc được nhà nước tài trợ; các nhóm tin tặc chuyên nghiệp, phi chính phủ; các nhóm Script Kiddies (hacker nghiệp dư)...
Theo lãnh đạo Bộ Thông tin và Truyền thông (trong tham luận tại hội thảo và triển lãm quốc tế về an toàn không gian mạng Việt Nam-Vietnam Security Summit 2022 diễn ra ngày 23-6-2022): Tội phạm mạng có xu hướng sử dụng các công nghệ mới, hiện đại, nhiều tính năng phức tạp khiến cho việc phát hiện và xử lý hậu quả của những cuộc tấn công trở nên phức tạp hơn, mất nhiều thời gian hơn. Những cuộc tấn công mã độc kết hợp với công nghệ trí tuệ nhân tạo hoặc sử dụng công nghệ giả lập hành vi của người dùng, để tấn công vào các hạ tầng trọng yếu, các chuỗi cung ứng, nhà máy... đang đặt ra nhiều thách thức trong quá trình xây dựng chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.
Đẩy mạnh tuyên truyền, xác định rõ trách nhiệm
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: Bảo đảm an toàn, an ninh mạng là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia; nhất là trong bối cảnh đất nước ta đang đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số, xây dựng chính phủ điện tử, hướng tới chính phủ số, nền kinh tế số, xã hội số, công dân số trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030.
Thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, chỉ đạo sát sao đối với công tác bảo vệ an toàn, an ninh mạng, đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, văn bản quy phạm pháp luật, như: Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 25-7-2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 25-7-2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược an ninh mạng quốc gia, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật An ninh mạng năm 2018, Nghị quyết số 22/NQ-CP ngày 18-10-2019 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 30 của Bộ Chính trị...
Xây dựng và bảo vệ môi trường không gian mạng là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhằm tạo ra một xã hội ảo trên internet lành mạnh, an toàn, bền vững, thể hiện đậm nét bản sắc văn hóa dân tộc. Để nâng cao hiểu biết trách nhiệm về xây dựng và bảo vệ không gian mạng, các cấp, các ngành cần làm tốt công tác giáo dục, nâng cao nhận thức về trách nhiệm xây dựng và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Trong đó, tập trung tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Bộ luật Hình sự (năm 2015) liên quan đến lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông; Luật An toàn thông tin mạng (năm 2015); Luật An ninh mạng (năm 2018)... Phòng ngừa, ngăn chặn, ứng phó, khắc phục hậu quả các đợt tấn công mạng, khủng bố mạng và phòng, chống nguy cơ chiến tranh mạng.
Lên án các hành vi sử dụng không gian mạng để tuyên truyền chống Nhà nước; tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc; thông tin sai sự thật; hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội; phá hoại thuần phong, mỹ tục; xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội. Đấu tranh với các biểu hiện, hành động tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng; lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi... Các cơ sở giáo dục sớm đưa nội dung giáo dục bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia vào chương trình dạy học phù hợp với ngành học, cấp học.
Hoạt động tấn công mạng rất đa dạng và tinh vi, cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân cần cảnh giác trước thủ đoạn của các thế lực thù địch. Hiện nay, chúng đang có âm mưu tấn công đánh sập các website của Chính phủ, cơ quan, đơn vị, nhà trường, doanh nghiệp; giả mạo các website nhằm lừa đảo, đánh cắp dữ liệu cá nhân; tấn công bằng mã độc; tấn công ẩn danh bằng những phần mềm độc hại;... Các thế lực thù địch sẽ lợi dụng blog cá nhân để lôi kéo, kích động những phần tử bất mãn, tập hợp lực lượng, thành lập các tổ chức chống đối xuyên tạc Cương lĩnh, đường lối, quan điểm, nền tảng tư tưởng của Đảng...
Các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể và cán bộ, đảng viên cần nâng cao ý thức trách nhiệm xây dựng và bảo vệ không gian mạng. Nêu cao ý thức chính trị, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ không gian mạng quốc gia. Tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ an ninh mạng; kịp thời cung cấp thông tin liên quan đến an ninh mạng, nguy cơ đe dọa an ninh mạng và các hành vi xâm phạm khác, thực hiện yêu cầu và hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
Mỗi cá nhân cần nghiên cứu và sử dụng tốt các biện pháp kỹ thuật bảo đảm an toàn thông tin như bảo vệ tài khoản cá nhân bằng xác thực mật khẩu 2 lớp; tạo thói quen quét virus trước khi mở file; thực hiện sao lưu dự phòng với các dữ liệu quan trọng;... Người dùng cần cảnh giác với những trang web lạ, những email chưa rõ danh tính và đường dẫn đáng nghi ngờ; cập nhật bản trình duyệt, hệ điều hành và các chương trình sử dụng; dùng những phần mềm diệt virus uy tín và được cập nhật thường xuyên, không tắt chương trình diệt virus trong mọi thời điểm.
Cùng với đó, các cơ quan chuyên trách an ninh mạng cung cấp đầy đủ thông tin về xu hướng phát triển, những nguy cơ từ không gian mạng; các biện pháp phòng, chống tấn công trên không gian mạng. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng tăng cường cảnh báo khả năng mất an ninh mạng do đơn vị mình cung cấp và hướng dẫn biện pháp phòng ngừa; xây dựng các phương án xử lý với sự cố an ninh mạng; phối hợp, tạo điều kiện cho lực lượng chuyên trách trong hoạt động bảo vệ an ninh mạng.
ST

ĐỘC LẬP DÂN TỘC, HẠNH PHÚC NHÂN DÂN LÀ ĐÔI CÁNH NÂNG ĐẤT NƯỚC BAY CAO, BAY XA


Một đất nước phát triển, một xã hội trong sạch, một chế độ dân chủ là ước mong nghìn đời của nhân dân ta. Người dân Việt Nam đã thực sự có hạnh phúc ngay trên Tổ quốc mình.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 là cuộc Cách mạng chân chính của những người bị mất tự do và bị áp bức bóc lột được Đảng Cộng sản Việt Nam giác ngộ, tổ chức thành công. Sau tám mươi năm bị thực dân Pháp xâm lăng và đô hộ, tiếp đó là phát xít Nhật cai trị, người Việt Nam đứng lên làm cuộc Tổng khởi nghĩa thắng lợi, lập ra Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.
Những người cộng sản không phải là lực lượng xã hội đầu tiên ở Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược. Năm 1858, dấu giày viễn chinh đến từ nước Pháp đã hằn in lên bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), mở đầu cho cuộc xâm lăng Việt Nam lần thứ nhất. Không ít phong trào, cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp nổi lên ngay lúc kẻ thù đặt chân lên non sông này. Các phong trào và cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp khi ấy do những vị vua và các sĩ phu phong kiến yêu nước lãnh đạo.
Mở đầu là phong trào Cần Vương dưới ngọn cờ mang tinh thần trung quân ái quốc của vua Hàm Nghi và kết thúc là cuộc khởi nghĩa vũ trang kéo dài ba mươi năm ở mảnh đất Yên Thế do Hoàng Hoa Thám chỉ huy. Khởi nghĩa Yên Thế kết thúc cho một giai đoạn chống giặc Pháp xâm lược đặt dưới ngọn cờ của các vị vua và sĩ phu yêu nước. "Bi tráng" và "Thất bại" là hai từ khái quát nhất nói về giai đoạn lịch sử tăm tối này. Thế hệ sau Hoàng Hoa Thám đã chọn con đường khác, cách thức khác để giải phóng dân tộc và họ đã làm nên sự kiện lịch sử vĩ đại như ta đã nói tới: Cách mạng mùa Thu năm Ất Dậu 1945.
Cuộc Cách mạng nổ ra cách đây 77 năm nhưng những gì nổi bật trong mùa Thu ấy vẫn còn chưa mờ phai trong ký ức dân tộc. Ký ức về một cơn lũ lịch sử ở khắp ba miền dâng tràn ào ạt làm sụp đổ thành trì thực dân, phát xít xâm lược và phong kiến phản động. Ký ức về lá cờ đỏ sao vàng như ngọn đuốc lửa dẫn dắt những người cùng khổ đi phá kho thóc của Nhật. Ký ức về Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc để dân tộc ta từ bóng tối bước ra ánh sáng. Ký ức về ngày Quốc khánh 2/9 dưới trời thu lồng lộng và giữa nắng vàng rực rỡ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khẳng định: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy..,
Ý chí quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy của đồng bào và chiến sĩ ta đã thể hiện hùng hồn, đậm nét trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp tiếp theo, trong hai mươi năm đánh đế quốc Mỹ xâm lược và trong công cuộc gìn giữ bảo vệ Tổ quốc hôm nay.
Cái giá để đất nước độc lập tự do, non sông hòa bình thống nhất là vô cùng to lớn, không sao kể xiết. Chặng đường dân tộc đi tới hôm nay thấm đẫm mồ hôi Việt, máu Việt trên những nẻo non sông khi chiến tranh và ngay cả khi đất nước đã hòa bình.
Ai có thể vô cảm được trước hàng vạn nấm mộ liệt sĩ có tên và chưa xác định được danh tính nối dài từ Nam ra Bắc. Ai có thể sung sướng hưởng thụ khi những di họa của các cuộc chiến tranh còn chưa hết trong mỗi làng thôn, khu phố, trong một thế hệ và nhiều thế hệ. Có những con người không hề biết mùi bom đạn, chất độc da cam nhưng lại phải mang di chứng và hậu quả của cuộc chiến tàn khốc trong mình... Nói như thế để vừa trân quý cuộc sống hòa bình hôm nay vừa phải biết tri ân những người đã ngã xuống và quan trọng hơn là biết sống, làm việc vì Tổ quốc, vì nhân dân.
Chúng ta chấp nhận hy sinh để giành lại và gìn giữ độc lập là để mang lại hạnh phúc cho dân tộc. Độc lập phải được gắn liền với tự do và hạnh phúc của nhân dân. Đó là nguyên tắc, là mục đích không thay đổi của Cách mạng Việt Nam.
Sau Cách mạng tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc tới vấn đề này. Từ năm 1946, Người đã chỉ rõ: Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nhưng nếu nước được độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì. Người mong muốn: Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Người còn căn dặn cán bộ ta: Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng đều là đầy tớ của nhân dân…hay: Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh…
Hạnh phúc của nhân dân là ai cũng có cơm ăn, ai cũng có áo mặc, ai cũng được học hành. Mỗi người dân là một chủ nhân của chế độ mới, còn cán bộ chính quyền phải thực sự là công bộc của dân. Họ phải lo nỗi lo của dân, khổ nỗi khổ của dân, đau nỗi đau của dân và luôn hết lòng vì nhân dân phục vụ.
Chính quyền cách mạng là chính quyền của dân, do dân và vì dân đúng nghĩa, không phải là thứ bánh vẽ hay khẩu hiệu mị dân. Nhân dân các tầng lớp trong xã hội theo Đảng làm Cách mạng tháng Tám và kháng chiến sau này với niềm tin Đảng cộng sản Việt Nam không có quyền lợi nào khác ngoài quyền lợi của dân tộc.
Cách mạng tháng Tám tỏa sáng vào dân tộc khát vọng Việt Nam được sánh vai với các nước tiến bộ trên thế giới. Chẳng phải ngẫu nhiên mà Hồ Chí Minh đã trích Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 để mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay).
Những giá trị mang ý nghĩa nhân loại là quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc cũng chẳng hề xa lạ với dân tộc Việt Nam. Chỉ tiếc, là những nước mà Hồ Chí Minh chọn trích Tuyên ngôn lại trước, sau trở thành kẻ xâm lược đất nước Việt Nam. Giá như Pháp và Mỹ thấu hiểu dân tộc Việt Nam thì chắc chắn sau mùa Thu năm 1945 ấy đã không xảy ra các cuộc chiến tranh hao người tốn của cả hai phía.
Đối chiếu với những lời Bác Hồ căn dặn, những đảng viên cán bộ chân chính không khỏi xót lòng khi phải chứng kiến sự xuống cấp của đạo đức của một bộ phận xã hội bây giờ cùng quốc nạn tham nhũng đã gây ra nhiều hậu quả cho đất nước, làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào Đảng và chính quyền.
Như các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, cuộc chiến chống tham nhũng vẫn không thể không dựa vào dân. Dân mới đủ trăm tay nghìn mắt, dân mới có trăm phương nghìn kế, dân mới hội tụ được những sức mạnh vô tận để tiêu diệt giặc nội xâm có tên là tham nhũng.
Cách mạng tháng Tám cho ta bài học về sức mạnh của nhân dân. Khi nhân dân đã đồng lòng, quyết chí thì không một thế lực nào, kẻ thù nào có thể tác oai tác quái được. Không tập hợp được nhân dân thì mọi cuộc cách mạng đều coi như đã thất bại.
Thiết nghĩ, phải đưa tinh thần Cách mạng tháng Tám vào công cuộc chống giặc nội xâm hôm nay. Đó là, phải hết sức tin dân, trọng dân, dựa vào dân để chống tham nhũng. Khi nhân dân đồng lòng thì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nhất định sẽ thành công. Trong những tháng ngày chống đại dịch COVID-19, chúng ta cũng thấy rất rõ sức mạnh vật chất và tinh thần của nhân dân.
Một đất nước phát triển, một xã hội trong sạch, một chế độ dân chủ là ước mong của nhân dân ta. Người dân Việt Nam thực sự có hạnh phúc ngay trên Tổ quốc mình khi những điều đó trở thành hiện thực. Đừng bao giờ quên, hạnh phúc, tự do của nhân dân là mục tiêu cao đẹp của Cách mạng mùa Thu năm 1945.
Độc lập dân tộc và hạnh phúc nhân dân gắn liền với nhau như đôi cánh nâng đất nước bay cao bay xa. Bao giờ Tổ quốc bay lên cao với đôi cánh tuyệt vời đó? Câu hỏi đó là dành cho mỗi người con nước Việt, dù ở trong hay ngoài nước, đưa Việt Nam cùng nhân loại tiến về phía trước.
Theo baochinhphu.vn

THỜI CƠ MỚI CHO NHỮNG BỨT PHÁ


Diễn ra trong 7 ngày, Hội nghị Trung ương sáu, khóa XIII tập trung thảo luận, quyết nghị nhiều vấn đề rất hệ trọng đối với sự nghiệp cách mạng của đất nước.
Vấn đề đầu tiên được Ban Chấp hành Trung ương Đảng tập trung thảo luận là đánh giá tình hình kinh tế-xã hội, ngân sách nhà nước năm 2022. Với cách tiếp cận thẳng thắn, Trung ương "điểm mặt" hàng loạt khó khăn, hạn chế; nhưng cũng đúc rút không ít bài học về sự sáng tạo, linh hoạt trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành, điều tiết nền kinh tế thích ứng nhanh với diễn biến tình hình; xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả. Trên cơ sở đó, Ban Chấp hành Trung ương thống nhất nhiều chủ trương, giải pháp tháo gỡ khó khăn, quyết biến thách thức thành thời cơ; biến sức mạnh nội sinh và sự sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân thành động lực phát triển trong giai đoạn mới.
Tại hội nghị lần này, Trung ương dành nhiều thời gian nghiên cứu, thảo luận, tạo sự thống nhất cao về sự cần thiết phải ban hành và tổ chức thực hiện thật tốt Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030 và tầm nhìn đến năm 2050. Trung ương xác định, đây là nhiệm vụ chính trị rất quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, cơ bản, lâu dài; tập trung xác định rõ và đúng những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo; mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu và các định hướng lớn về phát triển và phân bố không gian phát triển các ngành, lĩnh vực chủ yếu; định hướng tổ chức không gian phát triển theo vùng, lãnh thổ; định hướng phát triển hệ thống đô thị, nông thôn; định hướng phát triển hệ thống cửa khẩu biên giới đất liền quốc gia... Dư luận kỳ vọng, dù việc Quy hoạch tổng thể quốc gia là vấn đề rất rộng lớn, rất mới, rất khó, rất nhạy cảm và chưa có tiền lệ, nhưng từ các quyết sách lớn tại Hội nghị Trung ương lần này sẽ tiếp tục mở ra thời cơ mới cho những bứt phá phát triển đất nước.
Niềm tin càng thêm vững chắc khi Ban Chấp hành Trung ương Đảng tiếp tục dành nhiều thời gian, công sức, trí tuệ để bàn thảo và thống nhất cao với những nhận định, đánh giá về kết quả, thành tựu tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước; xác định một cách toàn diện, đồng bộ, hệ thống các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp CNH, HĐH đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; đồng thời quyết định ban hành nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Trung ương về vấn đề đặc biệt quan trọng này.
Đặc biệt, trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, chỉnh đốn Đảng; để không ngừng khẳng định vai trò, vị trí lãnh đạo của Đảng thì việc tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là một yêu cầu tất yếu, cần kíp. Do đó, sau 15 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa X về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị, Trung ương nhận thấy: Cùng với những thành quả đạt được, việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng vẫn còn không ít tồn tại, yếu kém. Chính vậy, việc tiếp tục đúc rút những bài học kinh nghiệm quý báu, hoạch định đường hướng quyết liệt đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng một cách thực chất, hiệu lực, hiệu quả được Ban Chấp hành Trung ương đặc biệt tập trung thảo luận, quyết nghị với sự tập trung trí tuệ và trách nhiệm cao nhất.
Để tinh thần, chủ trương của Hội nghị Trung ương sáu, khóa XIII đi vào cuộc sống, đòi hỏi cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, nhất là mỗi cán bộ, đảng viên cần đề cao trách nhiệm, chủ động nghiên cứu, học tập, quán triệt, triển khai các kết luận, chủ trương được quyết nghị, ban hành. Trong đó, mỗi tổ chức, cán bộ, đảng viên cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc về mục tiêu, nội dung Quy hoạch tổng thể quốc gia và nhiệm vụ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; xác định cho thật đúng vai trò, vị trí của từng cơ quan, đơn vị, địa phương trong mối quan hệ được quy hoạch tổng thể, vì sự phát triển chung của các vùng, miền, khu vực và cả đất nước.
Cùng với đó, mỗi tổ chức đảng và đảng viên cần nhận thức rất rõ, mặc dù thành quả đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị trong thời gian qua là hết sức to lớn, thế nhưng, trong điều kiện mới, cần tiếp tục kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ; đẩy mạnh phân công, phối hợp, phân cấp, phân quyền, gắn với nêu cao trách nhiệm của tổ chức và cá nhân, nhất là người đứng đầu; giữ vững sự lãnh đạo tập trung, thống nhất, kỷ luật, kỷ cương; bảo đảm nguyên tắc quyền lực đi đôi với trách nhiệm, mọi cán bộ, đảng viên phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, cơ chế, chính sách, nguyên tắc và kỷ luật của Đảng...
Để tiếp tục đổi mới thành công phương thức lãnh đạo của Đảng, các cấp ủy, tổ chức đảng nêu cao tính chủ động, tích cực, có quyết tâm chính trị cao, đồng thời phải thận trọng, có bước đi vững chắc, vừa làm vừa tổng kết, rút kinh nghiệm; kế thừa, phát huy những thành tựu, kết quả, kinh nghiệm lãnh đạo đã được kiểm chứng về tính đúng đắn.
Cùng với toàn Đảng, toàn dân, thời gian qua, Đảng bộ Quân đội đã nỗ lực phấn đấu đạt nhiều thành quả quan trọng trên nhiều lĩnh vực. Để hoàn thành các mục tiêu, nội dung trong Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030 và tầm nhìn đến năm 2050, đồng thời đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH trong tình hình mới, vai trò nòng cốt của Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ ngày càng được khẳng định trong sứ mệnh giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phục vụ công cuộc phát triển đất nước. Cùng với đó, thành quả thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ tiếp tục được khẳng định; minh chứng cho tính đúng đắn trong chủ trương, đường lối đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Đó cũng là yếu tố tiên quyết giúp Quân đội ta luôn xứng đáng là lực lượng tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân.
QĐND

HỘI THẢO KHOA HỌC “CHIẾN THẮNG HÀ NỘI - ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG - GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VÀ HIỆN THỰC”


Hướng tới kỷ niệm 50 năm Chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" (12-1972/12-2022), sáng 11-10, Học viện Chính trị tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Chiến thắng Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không - Giá trị lịch sử và hiện thực”. Dự hội thảo có Trung tướng Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.
Đoàn chủ tịch hội thảo gồm các đồng chí: Trung tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Bạo, Giám đốc Học viện Chính trị; Trung tướng Phạm Tiến Dũng, Chính ủy Học viện Chính trị; Đại tá, PGS, TS Lương Thanh Hân, Phó giám đốc Học viện Chính trị.
Cách đây 50 năm, đế quốc Mỹ đã mở cuộc tập kích chiến lược đường không vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương ở miền Bắc, hòng xoay chuyển tình thế trên bàn đàm phán Paris. Với ý chí quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, trong 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972, quân và dân miền Bắc đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược đường không của đế quốc Mỹ, bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B-52, làm nên Chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”, buộc chính quyền Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom đánh phá miền Bắc và ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Ban tổ chức hội thảo đã nhận được gần 100 tham luận của các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng, các nhân chứng lịch sử, các chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài quân đội, cán bộ, giảng viên Học viện Chính trị. Theo đánh giá của Ban tổ chức hội thảo, các tham luận được nghiên cứu công phu, tiếp cận nhiều nguồn sử liệu tin cậy, với hàm lượng khoa học cao, bám sát chủ đề, nội dung hội thảo.
Trình bày tham luận tại hội thảo, các đại biểu khẳng định vai trò to lớn, tài thao lược của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quân ủy Trung ương chống lại cuộc tập kích chiến lược đường không chiến lược tháng 12-1972 của đế quốc Mỹ. Đồng thời, tập trung phân tích và khẳng định Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” là đỉnh cao của nghệ thuật tác chiến phòng không và chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.
Bên cạnh đó, các tham luận cũng nhất quán cho rằng, Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” là chiến thắng của bản lĩnh, trí tuệ và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam; để lại nhiều bài học kinh nghiệm có giá trị lịch sử và hiện thực sâu sắc và cần phải phát huy giá trị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Phát biểu tại hội thảo, Trung tướng Trịnh Văn Quyết nhấn mạnh: Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” khẳng định sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng-nhân tố quan trọng làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Qua đó, làm sáng tỏ thêm cội nguồn sức mạnh của thế trận chiến tranh nhân dân, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời đại mới; quá trình vận dụng, phát huy nghệ thuật bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Theo Trung tướng Trịnh Văn Quyết, 50 năm đã trôi qua, song tầm vóc, ảnh hưởng và ý nghĩa của Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” vẫn còn nguyên giá trị, không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với cả nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Đồng thời, gợi mở nhiều vấn đề chúng ta cần nghiên cứu, làm sáng tỏ thêm về sự kiện lịch sử này; đúc rút những bài học kinh nghiệm quý báu, vận dụng vào sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, nhất là nghiên cứu, vận dụng, phát huy truyền thống và quan điểm tích cực, chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước khi nước chưa nguy.
ST

PHÊ PHÁN NHỮNG LUẬN ĐIỆU PHỦ NHẬN CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

 

Vì thế, việc nhận diện kịp thời và phê phán có cơ sở khoa học, chỉ rõ mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là việc làm cấp thiết trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Không ngộ nhận, thờ ơ trước những quan điểm sai trái, phản động

Sau khi Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch, phản động cấu kết với các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị đưa ra đủ thứ quan điểm, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

Luận điệu chúng thường rêu rao là “Việt Nam lựa chọn con đường đi lên CNXH là một sai lầm lịch sử”, là ‘ảo tưởng”, là “thiên đường bánh vẽ”. Chúng cho rằng, nếu lấy mốc thời gian tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ra đời thì đến nay, đã gần 200 năm mà CNXH không trở thành hiện thực, bị sụp đổ ngay ở nước Nga-quê hương của V.I.Lênin và Cách mạng Tháng Mười. Một khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu không còn tồn tại thì ở Việt Nam cũng sẽ bị sụp đổ.

Một câu hỏi chúng tự đặt ra: “Việt Nam quá độ đi đâu?”, rồi lại tự lèo lái dư luận rằng, Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN), lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; đi lên CNXH phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, chặng đường, có sự đấu tranh giữa “cái cũ và cái mới”, thế nên Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam không bao giờ vượt qua được các chặng đường quá độ gian khổ đó và không thể đi đến cái đích của CNXH .

Sau khi Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2045 đưa nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng XHCN, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cho rằng, đó chỉ là một thứ “mị dân”. Theo lập luận của chúng, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có vai trò lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, không đủ khả năng lãnh đạo trong công cuộc phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH), vì “những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới là do các nước tư bản đầu tư vào, chứ không phải do năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”.

Dưới chiêu trò “bình mới rượu cũ”, các luận điệu nêu trên chủ yếu dựa vào một số lý thuyết chống cộng, chủ nghĩa duy vật máy móc, lý thuyết “hội tụ”, lý thuyết “xã hội hậu công nghiệp”, lý thuyết các nền văn minh... nhằm biện minh cho sự tồn tại của chế độ TBCN, phủ nhận tính khách quan của thời kỳ quá độ đi lên CNXH trong thời đại ngày nay. Không dừng lại ở đó, một số luận điệu còn tinh vi đánh tráo khái niệm, lấy hiện tượng để đánh đồng với bản chất, triệt để lợi dụng sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) để lớn tiếng tuyên truyền “CNXH chỉ là ảo tưởng”; trong khi lại cố tình khuếch trương, thổi phồng những thành quả của chủ nghĩa tư bản (CNTB) hiện đại, mà không thấy rõ bản chất bóc lột tinh vi của giai cấp tư sản và những bất công chưa thể giải quyết tận gốc trong lòng xã hội tư bản hiện nay.

Mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam nhằm gây hoang mang, mất niềm tin, ru ngủ tinh thần cảnh giác cách mạng của nhân dân; sâu xa hơn, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận khả năng thắng lợi của con đường quá độ bỏ qua chế độ TBCN đi lên CNXH ở Việt Nam, từng bước chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo của CNTB.

 

 

Khi lòng tốt bị lợi dụng

 

Lợi dụng sự hảo tâm của một số cá nhân và tổ chức, gần đây các đối tượng phản động đã cố tình lấy đó là một cái cớ để xuyên tạc, bịa đặt với mục đích nhằm bôi xấu chính sách xoá đói giảm nghèo và phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước ta. Chỉ vì mục đích kiếm tiền mà những kẻ mất hết lương tri sẵn sàng không chừa bất kỳ thủ đoạn nào, lợi dụng mọi thứ một cách trắng trợn nhất với giọng điệu hết sức ấu trĩ và phản động.

Trên trang Facebook của Việt Tân đã đăng tải bài viết về việc “ĐÁM CƯỚI Ý NGHĨA: CHỈ NHẬN SÁCH, KHÔNG NHẬN PHONG BÌ” của đôi bạn trẻ ở Sài Gòn, khi mà khách mời đến hôn lễ đặc biệt này được đề nghị không mừng tiền, thay vào đó là góp sách để tặng học sinh vùng cao. Lễ thành hôn đã thu về hơn 1.000 cuốn sách. Đây là một nghĩa cử vô cùng cùng đẹp nhưng đã bị bọn phản động lấy để so sánh Đảng và Nhà nước ta đã không biết suy nghĩ và quan tâm đến các em học sinh nghèo như cặp tình nhân này. Chúng còn nói “Chắc chuyện này khó xảy ra với lãnh đạo hiện nay. Nhưng đối với người dân thì chuyện gì cũng có thể xảy ra, nhất là loại công việc tốt”. Không hiểu là tầm suy nghĩ của Việt tân đến đâu mà lại đi so sánh việc làm tốt của một cá nhân với một chế độ của một Đất nước. Lại còn nói với giọng điệu mỉa mai đến các lãnh đạo của Đảng ta hiện nay. Các việc tốt, người tốt thì là việc thường xuyên và diễn ra hàng ngày và ở mọi nơi trên đất nước Việt Nam. Nếu chúng cứ muốn so sánh như vậy thì chắc hẳn ngày nào cũng so không hết. Nhưng đối với một chế độ của một quốc gia thì phải có những hành động thiết thực và rộng khắp để giúp cho toàn nước toàn dân, xoa đói giảm nghèo, phát triển cho cả đất nước, chứ không phải là chỉ dựa vào những việc tốt, người tốt hằng ngày để học theo. Để có được một đất nước mà nơi đâu cũng có những người tốt và việc tốt như vậy thì đất nước đó là một nơi đáng sống, một nơi có chế độ tốt. Như chúng ta đã biết tinh thần cộng đồng, tương thân tương ái, yêu thương san sẻ, đùm bọc lẫn nhau là những đức tính được hun đúc trở thành bản sắc văn hóa của người Việt Nam. Trong suốt chiều dài lịch sử của nước ta, tinh thần này là nền tảng vững chắc để dân tộc Việt Nam vượt bao khó khăn, hoạn nạn, nhất là trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Trên thực tế, đời sống vật chất và tinh thần của người dân, nhất là người sinh sống trên địa bàn nghèo, vùng đặc biệt khó khăn không ngừng được nâng cao. Theo rất nhiều kênh trên các phương tiện chúng ta có thể biết, cả nước hiện có hơn 13 nghìn dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo hiệu quả với trên 2,2 triệu hộ hưởng lợi; 5.500 lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số được hỗ trợ đi làm việc ở nước ngoài. Đến nay, cả nước có 32 huyện, 125 xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo đã thoát khỏi tình trạng này; 125 xã và 1.298 thôn hoàn thành Chương trình 135; 24.000 công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư. Điều đó bảo đảm an sinh xã hội cho người dân vùng đặc biệt khó khăn được nâng lên, con người ở nơi đây ngày càng được phát triển toàn diện. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 4 cấp đã vận động Quỹ “Vì người nghèo” và an sinh xã hội được trên 2.570 tỉ đồng, trong đó Quỹ “Vì người nghèo” trên 619 tỉ đồng, an sinh xã hội trên 1.951 tỉ đồng; thực hiện hỗ trợ xây dựng và sửa chữa được 13.250 nhà Đại đoàn kết, giúp đỡ người nghèo các địa phương không phải thực hiện giãn cách xã hội, phát triển sản xuất và giúp các cháu học sinh phương tiện để học tập trực tuyến; hàng triệu lượt người nghèo, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được khám chữa bệnh, được tiêm vắc xin phòng, chống dịch Covid-19, v.v... Thành quả đó được nhân dân cả nước ghi nhận, cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những thành công nổi bật, có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Việt Nam trong công cuộc xây dựng đất nước thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế. Mỗi người, mỗi tổ chức chính trị sẽ có những chính sách và con đường khác nhau để giúp đỡ người khác, chỉ cần trong tâm chúng ta luôn hướng thiện và hướng đến cộng đồng, từ khi thành lập Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh luôn phấn đấu và làm mọi cách để “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Trong cuộc sống không tránh khỏi có người tốt, người xấu, có những chính sách đúng đắn nhưng quá trình triển khai chưa được như ý nguyên nhưng tôi thiết nghĩ khi ai đó làm việc tốt để giúp đỡ người khác thì chắc chắn là xuất phát từ cái tâm của mình, chắc họ cũng không cầu sự tung hô, nổi tiếng mà chỉ muốn lan toả lòng tốt của mình đến xã hội và hơn nữa họ lại càng không muốn lòng tốt của mình bị lợi dụng, nhất là lợi dụng một cách trắng trợn bởi những kẻ cơ hội, bọn chúng sẵn sàng chà đạp lên mọi thứ để đạt được mục đích của mình, nhằm gây ra sự hiểu lầm, sự bất ổn xã hội để trục lợi và lại đẩy thêm không biết bao nhiêu gia đình vào cảnh khó khăn hơn nữa, nhất là khi bọn chúng còn sử dụng việc này, sẵn sàng chà đạp lên đồng bào mình nhằm mục đích làm tiền, một cách kiếm tiềm hèn hạ nhất. Khi nhìn vào cuộc sống đầy bất ổn và khó khăn của người dân ở một số nước khi bị kích động, lợi dụng bởi các kẻ phản động, mất hết nhân tính như Việt Tân và bè lũ tay sai dẫn đến các cuộc nội chiến, đảo chính đội lốt “dân chủ” thì tôi tin rằng với một dân tộc đã từng trải qua quá nhiều đau thương vì chiến tranh và luôn yêu chuộng hoà bình như Việt Nam sẽ không bị những thủ đoạn đê hèn và nham hiểm này đánh lừa và lợi dụng.

Đại hội Đảng Việt Tân lộ rõ bản chất phản động không thay đổi

 

Chúng được lãnh đạo, dẫn dắt bởi một tổ chức phản động, khủng bố với tên gọi là Đảng Việt Tân. Rất nguy hiểm, chúng thường lợi dụng các phần tử bất mãn, nhận thức hạn chế trong nước để lôi kéo, kích động chống lại chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước ta gây mất ổn định an ninh trật tự, mất lòng tin của nhân dân vào Đảng, nhà nước tiến tới bạo loạn lật đổ chính quyền, thay đổi chế độ. Âm mưu của Việt Tân thật là thâm độc. Vậy thực hư của tổ chức Đảng Việt Tân là như thế nào?

Gần đây, trên trang facebook việt tân loan tin một thông báo “tân lãnh đạo của đảng Việt Tân nhiệm kỳ 2022-2025”. Thông báo cho biết hội này đã tổ chức đại hội lần 9 tại California với ba nội dung chính sau: “Thứ nhất là lượng duyệt tình hình đấu tranh và những nỗ lực của Việt Tân trong công cuộc dân chủ hóa Việt Nam thoát ách cai trị độc tài, thoái hóa của đảng Cộng sản Việt Nam. Thứ hai là thông qua những chính sách và một số kế hoạch công tác nhằm phát huy sức mạnh đối kháng của người dân trước sự đàn áp, khủng bố của bộ máy bạo lực CSVN. Thứ ba là bầu ra thành phần nhân sự mới để lãnh đạo Việt Tân trong nhiệm kỳ 3 năm (2022-2025) gồm: Chủ Tịch Đảng: Ông Lý Thái Hùng, Tổng Bí Thư Đảng: Ông Hoàng Tứ Duy, Phát Ngôn Nhân: Tiến sĩ Đông Xuyến. Cùng với việc dựng lên đội ngũ lãnh đạo, đảng Việt Tân khủng bố còn thông qua chính sách và kế hoạch nhằm phát huy sức mạnh của kẻ không chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng. Như vậy, bản chất chống phá của chúng đối với Đảng ta, nhà nước ta thể hiện rất rõ ràng, chúng tuyến bố ngang nhiên trắng trợn. Thực sự mục đích hành động của Việt Tân không phải vì cuộc sống của đại bộ phận của người dân mà chỉ là bọn cơ hội chính trị, thỏa lòng mong muốn thống trị xã hội của bộ phận kẻ phản động. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Việt Tân và thế lực phản động, chúng sẽ nhắm vào các phần tử bất mãn chính trị trong nước, kẻ bất tuân luật pháp, những người dân thiếu hiểu biết để lôi, kéo kích động chống lại Đảng, nhà nước. Trong những năm vừa qua, các vụ chống người thi hành công vụ, lợi dụng tôn giáo, truyền đạo trái phép ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số gây mất trật xã hội ở đều có thế lực phản động nước ngoài đứng sau giật dây. Nội dung thông báo còn thể hiện mưu đồ thực hiện chế độ đa đảng ở Việt Nam, đó là “công cuộc dân chủ hóa Việt Nam thoát ách cai trị độc tài, thoái hóa của đảng Cộng sản Việt Nam”. Để được sống trong đất nước độc lập, tự do, mọi người đều có quyền phát triển theo khả năng bản thân của mình thì các thế hệ cha ông của chúng ta phải hy sinh bao nhiêu xương máu, tuổi thanh xuân, nhân dân và nhà nước dốc hết của cải để giành độc lập, thống nhất đất nước. Sau đó dưới sự lãnh đạo của Đảng cả hệ thống chính trị, toàn dân, toàn quân cùng nhau xây dựng đất nước. Ngược theo dòng lịch sử thì Đảng Việt Tân hoặc Việt Nam Canh tân Cách mạng Đảng (tiếng Anh: Vietnam Reform Revolutionary Party, VRRP) là một tổ chức chính trị được thành lập bởi một nhóm người Mỹ gốc Việt tại San Jose, California năm 1982 với mục đích đấu tranh lật đổ chế độ Cộng sản tại Việt Nam và canh tân đất nước. Tiền thân của Đảng Việt Tân là Mặt Trận Quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam do Hoàng Cơ Minh, chuẩn tướng hải quân Quân lực Việt Nam Cộng Hòa thành lập vào năm 1980 (hay còn gọi là Mặt Trận Hoàng Cơ Minh). Năm 2004, Mặt trận tuyên bố giải tán, tái tổ chức thành Việt Tân và tuyên bố sẽ thực hiện "những hoạt động đấu tranh thích hợp với tình thế mới". Tổ chức Việt Tân tuyên bố có những thành viên hoạt động công khai trong nước Việt Nam. Do đó, có thể nói rằng Việt Tân xuất thân từ những phần tử là những chiến binh tàn tích của ngụy quyền Sài Gòn dưới sự viện trợ của Đế quốc Mỹ trong thời kỳ Việt Nam chống Mỹ.

Sau chiến thắng mùa xuân năm 1975, Việt Nam hoàn toàn được thống nhất, một số binh lính trong chế độ ngụy quyền còn sống sót thừa sống, bán chết tìm đường chạy sang nước ngoài. Tuy nhiên, chúng vẫn còn âm mưu chống phá, tổ chức lại lực lực lượng để lật đổ chính quyền ta. Bản chất của Đảng cộng sản Việt Nam, chính sách nhà nước ta rất nhân văn, nhân hậu. Luôn có chính sách khoan hồng, khoan dung với những kẻ hàng binh, tù bình, không bao giờ đánh cùng diệt tận, tạo điều kiện cho những người lầm lỡ trở lại với cuộc sống bình thường. Song với một số chiến binh của ngụy quân Sài Gòn cũ không nhận thức được điều đó, không biết ăn năn, hối lỗi mà còn tiếp tục xây dựng các tổ chức phản động, thường xuyên chống phá nhà nước ta. Điều này chứng tỏ, chúng chưa nhận thức và thừa nhận tính ưu việt của chế độ ta. Thực tiễn đã chứng minh con đường mà Hồ Chí Minh và đảng ta đã chọn hoàn toàn đúng đắn. Đảng cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam đánh bại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Từ khi đất nước độc lập, thống nhất, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, an ninh trật tự xã hội ổn định, kinh tế phát triển, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy theo phương châm đã được chỉ ra trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng: "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đất nước ta đang trên con đường ngày càng phát triển và hùng mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, với mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội như lời khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: "Đất nước ta chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay". Tóm lại, Đảng Việt Tân chưa bao giờ từ bỏ âm mưu thực hiện chế độ đa đảng ở Việt Nam và muốn xóa bỏ sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam với xã hội, đất nước Việt Nam bằng mọi thủ đoạn, chẳng hạn xuyên tạc, bóp méo nền tảng tư tưởng của đảng, đổ lỗi cho chế độ một đảng lãnh đạo. Mỗi người dân Việt Nam cũng có thể là quân cờ để chúng lợi dụng. Do vậy mỗi người cần phải có sự ảm hiểu và bản lĩnh vững vàng. Nhân dân Việt Nam hoàn toàn tin tưởng vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của nhà nước thì mọi âm mưu, thủ đoạn xảo trá của các thế lực thù địch, nhất là Việt Tân đều thất bại.

TĂNG LƯƠNG CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC: THỜI ĐIỂM, MỨC TĂNG NÀO PHÙ HỢP?

 

Bộ Nội vụ đã báo cáo Chính phủ đề án cải cách tiền lương theo hướng nâng mức lương cơ sở của cán bộ, công chức, viên chức khu vực công lên 1,8 triệu đồng, thời gian dự kiến được thực hiện từ 1-7-2023.
Trao đổi với phóng viên Tiền Phong, TS. Bùi Đức Thụ nói: Theo lộ trình, vấn đề cải cách tiền lương lẽ ra phải được triển khai trong năm 2021. Tuy nhiên, do tình hình dịch bệnh COVID -19 phát sinh làm cho kinh tế đứt gãy, tăng trưởng chậm lại, thu ngân sách gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, việc tăng lương theo lộ trình chưa thực hiện được.
Đủ điều kiện để tăng lương
Trong bối cảnh dịch bệnh đã cơ bản được khống chế với con số tăng trưởng và tăng thu ngân sách ấn tượng, đặc biệt vừa qua đã có gần 40.000 người rời khu vực công… Theo ông, tăng lương có phải vấn đề cấp bách đặt ra trong thời điểm này?
Quả đúng là như vậy. Vì chúng ta chậm tăng lương trong điều kiện kinh tế xã hội có nhiều biến động, đặc biệt chỉ số giá tiêu dùng tăng lên qua các năm, dù mức tăng dưới 4% - mức Quốc hội cho phép, nhưng vấn đề trượt giá chung sẽ làm cho thu nhập thực tế của người lao động giảm xuống. Vì vậy những khó khăn sẽ tăng lên đối với người hưởng lương nói chung và những người hưởng lương trong khu vực công nói riêng, đặc biệt với cán bộ công nhân viên chức có thu nhập thấp, nhất là đối với các cặp vợ chồng trẻ có con nhỏ. Đó là vấn đề thực tiễn đặt ra.
Bên cạnh đó, một số ngành, lĩnh vực thời gian qua yêu cầu khối lượng công việc, thời gian, cường độ lao động tăng lên nhiều, đặc biệt như ngành y trong thời gian phòng chống dịch. Tuy nhiên, tiền lương để bù đắp cho phù hợp với cống hiến của họ lại chưa tương xứng. Áp lực, chi phí lao động lớn nhưng thu nhập lại không tương xứng sẽ làm giảm động lực của người lao động. Thực tiễn, theo số liệu thống kê chưa đầy đủ ban đầu, thời gian gần đây đã có đến 40 nghìn lao động trong khu vực công bỏ việc, đặc biệt đối tượng là viên chức, công chức bỏ rất nhiều.
Trong tình hình hiện nay, công tác phòng chống dịch đã đạt kết quả tương đối tốt, dịch bệnh đã kiểm soát được, kinh tế bắt đầu ổn định, phục hồi và tăng trưởng. Có thể nói tăng trưởng năm nay chắc chắn sẽ đạt trên 6%, thậm chí nhiều nhà kinh tế dự báo còn cao hơn nữa, rất khả quan, trở thành nước tăng trưởng cao nhất trong khu vực, ở tốp đầu thế giới. Thu ngân sách 9 tháng đầu năm đã gần đạt dự toán của cả năm rồi, như vậy đến cuối năm sẽ vượt dự toán. Điều này rất đáng mừng, tạo nguồn lực vật chất cho nhà nước quản lý, điều hành một cách hợp lý, hiệu quả.
Chậm nhất phải tăng lương từ đầu năm 2023
Theo ông, cần phải tăng lương vào thời điểm nào?
Chúng ta phải lưu ý rằng, việc tăng lương không chỉ đảm bảo thu nhập thực tế tương xứng với chi phí lao động bỏ ra, mà còn tạo ra động lực cho lao động khu vực công, thúc đẩy nâng cao chất lượng lao động, cống hiến cho xã hội để phát triển kinh tế. Mặt khác điều này cũng tạo ra môi trường để thu hút đầu tư, thu hút nhân tài, hạn chế chảy máu chất xám từ khu vực công sang khu vực khác, ảnh hưởng đến chất lượng, quản lý, điều hành của nhà nước đối với nền kinh tế.
Chính vì vậy, một trong những nhiệm vụ trong năm tới là cải cách tiền lương cho lao động. Chúng tôi đã nhìn thấy rõ vấn đề, ngay trong năm 2022, khi chúng ta kiểm soát dịch bệnh được và khi điều kiện tài chính công cho phép, thì có thể phải tạo nguồn thực hiện ngay việc nâng lương cho cán bộ, công chức, viên chức ở khu vực công. Ít nhất thì những bộ phận khó khăn nhất cần được ưu tiên tăng lương trước. Tuy nhiên, việc này chúng ta chưa làm được trong năm 2022. Thế nhưng đến năm 2023 buộc phải thực hiện cải cách tiền lương theo lộ trình, coi tăng lương như một vấn đề cấp bách như với phòng chống dịch. Cũng có ý kiến đặt ra, liệu có thực hiện tăng lương được ngay trong quý 4 của năm 2022 không? Trong điều kiện hiện nay, chúng ta có thể thực hiện được ngay từ năm 2023, cũng có thể áp dụng ngay từ cuối quý 4 của năm 2022 và cho truy lĩnh. Tuy nhiên, quý 4 thì đã đến rồi, trong khi đó, quy trình thủ tục cải cách tiền lương không phải nói một cái thực hiện được ngay đâu.
Vấn đề khác đang được rất nhiều người quan tâm là nên tăng lương ở mức nào thì phù hợp, thưa ông?
Tôi được biết, Bộ Nội vụ đã báo cáo Chính phủ đề án cải cách tiền lương theo hướng nâng mức lương cơ sở của cán bộ, công chức, viên chức khu vực công lên 1,8 triệu đồng (hiện nay là 1.490.000 đồng), thời gian dự kiến được thực hiện từ 1/7/2023. Còn phương án thứ hai là áp dụng mức tăng lương cơ sở lên 20% và thời gian áp dụng ngay từ tháng 1/2023.
Với mức tăng trên, ngân sách có thể cân đối được. Nhưng theo tôi phải lưu ý thời điểm thực hiện tăng lương đã chậm, nếu nay lại kéo dài đến nửa sau của 2023, thì rõ ràng vấn đề cấp bách nhưng lại không được giải quyết theo tinh thần cấp bách là thực hiện ngay và luôn. Như vậy, theo phương án đầu tiên thì lộ trình tăng lương lại chậm, nên không phù hợp với tình hình thực tiễn.
Quan điểm của tôi, trong điều kiện nguồn đáp ứng được thì có thể áp dụng tăng 20% lương cơ sở nhưng phải thực hiện sớm hơn, chậm nhất phải từ 1-1-2023.
"Trong bối cảnh kinh tế phục hồi, ngân sách nhà nước vượt dự toán, kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát vẫn được kiềm chế và sang năm 2023 dự báo kinh tế của chúng ta vẫn tiếp tục tăng… thì một trong những vấn đề đặt ra hiện nay là cần phải thực hiện cải cách tiền lương, tăng lương cho đối tượng cán bộ, công chức, viên chức khu vực công.Tôi được biết, Bộ Nội vụ đã báo cáo Chính phủ đề án cải cách tiền lương theo hướng nâng mức lương cơ sở của cán bộ, công chức, viên chức khu vực công lên 1,8 triệu đồng (hiện nay là 1.490.000 đồng), thời gian dự kiến được thực hiện từ 1/7/2023. Còn phương án thứ hai là áp dụng mức tăng lương cơ sở lên 20% và thời gian áp dụng ngay từ tháng 1-2023”
(TS. Bùi Đức Thụ)
Theo: Tiền phong