Thứ Ba, 11 tháng 10, 2022

 Vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh với các thủ đoạn lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện thân mật với các đại biểu tôn giáo trong Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1960 (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Tài liệu ảnh giai đoạn (1954 - 1985) (LIV), SLT 1474)

Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, tín đồ các tôn giáo là một bộ phận quan trọng trong quần chúng nhân dân, đã cùng với cộng đồng dân tộc đấu tranh để dựng nước và giữ nước. Do đó, đoàn kết tôn giáo có tác động lớn đến việc xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, một vấn đề chiến lược có ý nghĩa quyết định đối với sự thành bại của cách mạng Việt Nam.

Thực tế cho thấy, khi xâm lược Việt Nam, các thế lực thực dân, đế quốc đều tìm mọi thủ đoạn lợi dụng các tôn giáo, hòng biến các tôn giáo ở Việt Nam thành lực lượng đối lập với dân tộc, chống phá cách mạng. Âm mưu nguy hiểm, thâm độc của chúng là thực hiện chính sách “chia để trị”, từ đó làm suy yếu lực lượng cách mạng. Chúng lợi dụng sự khác biệt về nhân sinh quan, thế giới quan cũng như cách thức hoạt động theo những thể chế và thiết chế văn hóa - xã hội khác nhau giữa những đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; giữa đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo với đồng bào không có tín ngưỡng, tôn giáo; đặc biệt là những người có đạo với những người cộng sản, gây nên những hiểu lầm, mâu thuẫn và xung đột. Trước những luận điệu như: “cộng sản là vô thần”, “cộng sản nắm chính quyền sớm muộn gì cũng sẽ tiêu diệt tôn giáo”, “thà mất nước còn hơn mất Chúa”..., Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đảng Cộng sản chẳng những không tiêu diệt tôn giáo, mà còn bảo hộ tôn giáo. Đảng Cộng sản chỉ tiêu diệt tội ác người bóc lột người. Bọn đế quốc tuyên truyền bịa đặt, chúng mong chia rẽ giáo dân với Chính phủ và đồng bào khác. Chúng hòng đạt mục đích tội ác là chống cộng và chống nhân dân”(1).

Suốt cuộc trường chinh chống thực dân Pháp, các thế lực tôn giáo phản động cấu kết cùng chủ nghĩa thực dân dùng chiêu bài “nguy cơ đỏ”, kích động nhân dân bằng luận điệu “cộng sản sẽ tiêu diệt tôn giáo” nhằm gây chia rẽ khối đoàn kết toàn dân, tạo căng thẳng giữa chính quyền cách mạng và một bộ phận nhân dân. Ngay từ năm 1925, trong Bản án chế độ thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã lên án việc thực dân Pháp cấu kết với một số giáo sĩ, chức sắc tôn giáo lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để xâm lược Việt Nam. Người tố cáo những giáo sĩ Pháp làm gián điệp, trực tiếp bắn giết đồng bào, cả giáo và lương. Với những chứng cứ thuyết phục, Người đã vạch trần một số tên thực dân khoác áo linh mục, lợi dụng tôn giáo tiếp tay cho giặc Pháp xâm lược Việt Nam, cùng với việc vơ vét của cải và gây tội ác với đồng bào. Người viết: “... Mọi đoàn đi khai hoá - dù đến Ăngtiơ, Mađagátxca, Tahiti hay là Đông Dương - cũng đều có móc theo một đoàn gọi là đoàn truyền giáo... Họ đã lợi dụng lòng hiếu khách của người An Nam để đánh cắp những bí mật quân sự, vẽ những bản đồ nộp cho quân đội viễn chinh...”(2).

Khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, đế quốc Mỹ tuyên truyền “Chính phủ Việt Nam cấm đạo”, gây hoang mang trong dư luận, chia rẽ và dụ dỗ, lừa bịp bằng thần quyền, đe doạ trắng trợn, dùng vũ lực cưỡng ép đồng bào vùng Công giáo di cư vào Nam nhằm làm chỗ dựa chính trị, quân sự cho chính quyền Ngô Đình Diệm, đồng thời cô lập, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phá hoại cách mạng XHCN ở miền Bắc... Một số kẻ đã lợi dụng tôn giáo, khai thác, bịa đặt yếu tố thần bí của tôn giáo, tâm linh để trục lợi cá nhân nhằm bòn rút tiền của nhân dân. Ngày 15/6/1957, nói chuyện tại Hội nghị Mặt trận Tổ quốc tỉnh Hà Tĩnh, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Có một số người đồng bóng lạc hậu, mê tín bị những kẻ xấu lợi dụng để xoay tiền”(3)…

Rõ ràng trong thời kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, các thế lực thực dân, đế quốc luôn lợi dụng tôn giáo dưới mọi hình thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc và tôn giáo; gây hiềm khích kỳ thị, chia rẽ giữa các tôn giáo để tiến tới mục tiêu chống phá cách mạng. Hoạt động lợi dụng tôn giáo một cách ráo riết của các thế lực thù địch ảnh hưởng lớn đến tư tưởng trong quần chúng nhân dân, thậm chí là cán bộ, đảng viên. Trên thực tế, có một bộ phận đồng bào tôn giáo, thậm chí một số cán bộ, đảng viên không hiểu rõ chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Chính phủ, do đó, trong quá trình thực hiện còn mắc sai lầm, xúc phạm đến tình cảm của giáo dân gây nên “những vụ đụng độ nhỏ giữa đồng bào với nhau”. Hồ Chí Minh đã giải thích nguyên nhân tình trạng đó như sau: “Một đàng có những người Công giáo nhẹ dạ, dễ tin; đàng khác có những cán bộ cấp thấp của Chính phủ thiếu tế nhị. Nhiều kẻ gây rối lợi dụng khai thác hai yếu tố trên nhằm tạo ra một bầu không khí không lành mạnh”.

Hồ Chí Minh cũng thẳng thắn chỉ ra, một số cán bộ làm công tác tôn giáo đôi khi chưa có phương pháp vận động đồng bào thích hợp, chưa thực hiện đúng đường lối đại đoàn kết của Đảng nên đã làm cho tình hình tôn giáo ở nhiều nơi thêm phần phức tạp, tạo cơ hội cho kẻ thù lợi dụng. “Có những cán bộ không biết tổ chức, không biết giải thích tuyên truyền, lại tự tư tự lợi, không cảnh giác để cho bọn phản động chui vào các đoàn thể rồi phá hoại”(4). Trong khi thực hiện công tác, nhất là ở vùng đồng bào Công giáo, cán bộ chưa hiểu rõ chính sách của Đảng và Chính phủ; chưa gần gũi học hỏi quần chúng; chưa hiểu được phong tục tập quán của quần chúng nên đã dẫn tới hậu quả không tốt. “Không những dân ghét cán bộ, mà còn oán Chính phủ, oán Đảng”(5) .

Lênin cho rằng: “Đấu tranh chống lại các thành kiến tôn giáo thì phải cực kỳ thận trọng; trong cuộc chiến đấu này, ai làm thương tổn đến tình cảm tôn giáo, người đó sẽ gây thiệt hại lớn. Cần phải đấu tranh bằng tuyên truyền, bằng giáo dục. Nếu hành động thô bạo, chúng ta sẽ làm cho quần chúng tức giận; hành động như vậy sẽ càng gây thêm chia rẽ trong quần chúng về vấn đề tôn giáo, mà sức mạnh của ta là ở sự đoàn kết”(6). Với phương châm kiên trì và mềm mỏng nhưng rất kiên quyết trong từng thời điểm nhạy cảm và bằng nhiều hình thức, nhiều biện pháp khác nhau, Hồ Chí Minh đã từng bước giải quyết thành công mâu thuẫn, xung đột nảy sinh giữa các bộ phận giáo dân và chính quyền cách mạng, thực hiện đoàn kết tôn giáo, kịp thời phòng chống và đấu tranh với những hành động lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng.

Theo Hồ Chí Minh, giáo dục nâng cao tinh thần cảnh giác với âm mưu của địch đối với đồng bào theo các tôn giáo và giáo dục nâng cao tinh thần trách nhiệm, bản lĩnh của những cán bộ làm công tác tôn giáo là một trong những vấn đề quan trọng góp phần tăng cường sự đoàn kết tôn giáo, cũng là góp phần vào cuộc đấu tranh chống lại việc lợi dụng vấn đề tôn giáo. Tại Hội nghị Trung ương 3 khóa II, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “phải ra sức tuyên truyền chính sách của ta và vạch rõ chính sách chia rẽ của địch”(7) Người khẳng định: “Phần lớn đồng bào tôn giáo, nhất là các tầng lớp lao động đều yêu nước kháng chiến, như Công giáo ở nhiều nơi, như Cao Đài kháng chiến, v.v.. Một phần thì bị địch lợi dụng như ngụy quân Cao Đài, Hòa Hảo, Công giáo ở Nam Bộ. Một số đồng bào Công giáo tuy bản chất thì tốt, nhưng bị bọn cầm đầu phản động lung lạc, nên họ hoài nghi chính sách của Đảng và Chính phủ”.

Các chức sắc tôn giáo có ảnh hưởng rất lớn đối với đồng bào tôn giáo. Do đó, Hồ Chí Minh gửi gắm các nhà tu hành, các chức sắc tôn giáo như linh mục, giám mục khi truyền bá tôn giáo “có nhiệm vụ giáo dục cho các tín đồ lòng yêu nước, nghĩa vụ của công dân, ý thức tôn trọng chính quyền nhân dân và pháp luật của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”(8).

Bản thân Hồ Chí Minh đã sử dụng các những phương pháp tuyên truyền rất hiệu quả và phù hợp (bằng chữ viết, bằng lời nói, bằng nêu gương...) đối với đồng bào tôn giáo. Người giải thích: Người Cộng sản cũng như đồng bào tôn giáo, đều vì lợi ích chung, mong muốn cuộc sống độc lập, tự do và hạnh phúc cho mọi người dân trên đất nước. Vì thế, phải kiên quyết phản bác và lật rõ mưu đồ lừa bịp của thực dân, phong kiến, khiến cho đồng bào tôn giáo hiểu sai lệch chủ trương, đường lối của Đảng, dẫn đến có những hành vi, biểu hiện chống lại cách mạng.

Năm 1949, khi nhà báo Mỹ Haron Ixac đặt câu hỏi: Người Pháp nói “Việt Nam là cộng sản hoặc là do cộng sản chi phối. Theo ý Cụ thì thế nào?”. Hồ Chí Minh đã trả lời: “Đó là tuyên truyền láo của thực dân. Chính phủ Việt Nam gồm có đại biểu các đảng phái, như tôn giáo, dân chủ, xã hội, mácxít. Có nhiều bộ trưởng không vào đảng phái nào. Lại có một vị hoàng tộc. Sao gọi được là cộng sản chi phối”(9).

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại biểu Hội Phật giáo Việt Nam, ngày 3/1/1957. (Ảnh: Tư liệu)

Để chống lại việc lợi dụng các tôn giáo của các thế lực thù địch, cùng với việc tuyên truyền, vận động, Hồ Chí Minh chú trọng việc tổ chức xây dựng và thực hiện đường lối, chính sách về tự do tín ngưỡng, tôn giáo và chăm lo nâng cao đời sống của nhân dân.

Đất nước giành được độc lập là môi trường và điều kiện thuận lợi cho các tôn giáo phát triển, nhân dân được tự do thực hành tín ngưỡng, tôn giáo dưới sự đảm bảo và tôn trọng của Nhà nước. Ngày 3/9/1945, ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh đề nghị thực hiện ngay các quyền cơ bản của nhân dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo. Người viết: “Hiện nay những vấn đề gì là cấp bách hơn cả. Theo ý tôi, có sáu vấn đề: (...) Vấn đề thứ sáu: - Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào giáo và đồng bào lương, để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: TÍN NGƯỠNG TỰ DO và lương giáo đoàn kết”(10).

Quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân đã được hiện thực hóa bằng việc Nhà nước đảm bảo hành lang pháp lý cho nhân dân thực hiện. Hiến pháp đầu tiên nước ta năm 1946 (do chủ tịch Hồ Chí Minh là Trưởng ban soạn thảo), Chương II, mục B đã ghi rõ: “Mọi công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng”. Người cũng yêu cầu cán bộ của Đảng, Nhà nước, đoàn thể và Mặt trận phải gương mẫu chấp hành chính sách tôn giáo; tận tâm giải thích, hướng dẫn đồng bào thực hiện đúng chính sách, pháp luật về tôn giáo, đồng thời kiên quyết sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm trong việc thực hiện chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Trong Thư gửi các hàng giáo sĩ và đồng bào Công giáo nhân dịp Lễ Nôen ngày 25/12/1956, Người viết: “Tôi tỏ lòng khen ngợi các hàng giáo sĩ và đồng bào đã thân ái giúp cán bộ sửa chữa sai lầm, thực hiện đúng chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng của Chính phủ, như thế là đã làm theo lời phán của Chúa Kirixitô: “Hỡi anh em, khi có ai mắc sai lầm, anh em hãy dịu dàng giúp anh em ấy sửa chữa”(11).

Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, nâng cao trình độ dân trí của đồng bào tôn giáo, nhất là đồng bào ở vùng sâu, vùng xa và những vùng khó khăn là cơ sở quan trọng để chống lại sự lợi dụng vấn đề tôn giáo của các thế lực thù địch. Hồ Chí Minh cho rằng, “Ở những nơi nào đồng bào Công giáo đói kém, ta phải hướng dẫn họ tăng gia sản xuất, tôn trọng tự do tín ngưỡng của họ. Có như thế chúng ta mới thành công trong việc chống di cư, chớ không phải kẻ khẩu hiệu tầm bậy, không phải ngăn ngừa, mệnh lệnh mà chống được di cư”(12).

Để bảo vệ lợi ích của dân tộc và nhân dân trước các thế lực thù địch, Hồ Chí Minh đã ứng xử vừa mềm dẻo, linh hoạt, vừa kiên quyết, đặc biệt Người không khoan nhượng với những kẻ đi ngược lại với lợi ích của dân tộc, của đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo. Người phân biệt tự do tín ngưỡng, tôn giáo và việc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo của các thế lực thù địch, phản động, phân biệt rõ những kẻ chủ mưu lừa bịp với những người lầm lỡ bị dụ dỗ, lôi kéo. Người viết: “phải xét rõ những phần tử khác nhau đó, và dùng chính sách khác nhau mà đối phó”(13). Người tuyên bố: “Chính phủ sẽ nghiêm trị những kẻ lừa bịp, cưỡng bức đồng bào phải lìa bỏ quê hương, sa vào một đời sống tối tăm cực khổ về phần xác cũng như phần hồn”(14) và “Nếu giáo hội có người làm tay sai cho đế quốc xâm lược, thì bất kỳ những người đó ở tôn giáo nào cũng phải chịu pháp luật trừng trị. Không vì trừng trị bọn phản động trong giáo hội, mà Chính phủ can thiệp đến tín ngưỡng tự do. Cũng không vì bảo hộ tín ngưỡng tự do, mà Chính phủ dung túng bọn chó săn của đế quốc, để mặc chúng phá hoại Tổ quốc yêu quý của chúng ta”(15).

Hồ Chí Minh đấu tranh không khoan nhượng với những kẻ lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để tuyên truyền, kích động quần chúng chống lại cách mạng. Điều 7, Sắc lệnh tôn giáo số 234 ký ngày 14/6/1955 nêu rõ: “Pháp luật sẽ trừng trị những kẻ nào mượn danh nghĩa tôn giáo để phá hoại hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, tuyên truyền chiến tranh phá hoại đoàn kết, ngăn trở tín đồ làm nghĩa vụ công dân, xâm phạm tự do tín ngưỡng và tự do tư tưởng của người khác hoặc làm những việc trái pháp luật”.

Trong Thư gửi Giám mục Lê Hữu Từ năm 1947, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Trong Hiến pháp ta đã định rõ: Tín ngưỡng tự do. Nếu ai làm sai Hiến pháp, khiêu khích Công giáo thì sẽ bị phạt. Chắc cụ không bao giờ tin rằng Việt Minh chống đạo vì cụ thừa biết Việt Nam độc lập đồng minh là cốt đoàn kết tất cả đồng bào để làm cho Tổ quốc độc lập, chứ không phải để chia rẽ, phản đối tôn giáo. Mà tôi cũng không bao giờ nghi rằng đồng bào Công giáo chống Việt Minh, vì hơn ai hết, đồng bào Công giáo càng mong cho Tổ quốc độc lập, cho tôn giáo được hoàn toàn tự do; và tôi chắc ai cũng tuân theo khẩu hiệu: Phụng sự Thượng đế và Tổ quốc. Những sự xích mích nhỏ giữa một số đồng bào, tuy là đáng tiếc, vì đạo đức giáo hoá chưa được phổ cập, không thể động chạm đến sự đại đoàn kết của chúng ta”(16).

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại biểu dự Đại hội đại biểu những người Công giáo yêu tổ quốc, yêu hòa bình, tháng 3/1955. (Ảnh: Tư liệu)

Đối với những người theo tôn giáo bị kẻ thù mê hoặc, lợi dụng, Hồ Chí Minh thực hiện quan điểm khoan dung, độ lượng đối với đồng bào lầm đường lạc lối. Người khẳng định: “Trừ một bọn rất ít đại Việt gian, đồng bào ta ai cũng có lòng yêu nước. Tuy có một số đồng bào lầm lạc, qua một thời gian, những người ấy dần dần giác ngộ và quay trở về với Tổ quốc”(17). Người tuyên bố trước quốc dân: “Không được báo thù báo oán. Đối với những kẻ đi lầm đường lạc lối, đồng bào ta cần phải dùng chính sách khoan hồng. Lấy lời khôn lẽ phải mà bày cho họ”(18), bởi lẽ: “Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều là dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ, ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối, lầm đường, ta phải dùng tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn vẻ vang”(19).

Hiểu rõ tôn giáo là nhu cầu thiết yếu của con người, Hồ Chí Minh không phủ nhận vai trò của tôn giáo, không tập trung đi sâu vào sự khác biệt giữa những tôn giáo khác nhau mà Người đi tìm những giá trị tích cực, tiến bộ và phù hợp của tôn giáo để cổ vũ và khích lệ đồng bào tôn giáo phát huy những giá trị đó trong thực hiện mục tiêu chung vì độc lập, tự do và hạnh phúc... Điều này được Xanhtơny - người không cùng quan điểm với Hồ Chí Minh, nói: “Về phần tôi, phải nói rằng chưa bao giờ tôi có cớ để nhận thấy nơi có các chương trình của cụ Hồ Chí Minh một dấu vết nào, dù rất nhỏ, của sự công kích, đa nghi hoặc chế giễu đối với bất kỳ một tôn giáo nào”(20). Đây chính là quan điểm có ý nghĩa lớn trong việc xây dựng khối đoàn kết tôn giáo trong suốt thời kỳ kháng chiến chống thực dân, đế quốc, cũng chính là kháng thể quan trọng để chúng ta có thể đấu tranh chống lại việc lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch.

Tôn giáo đã, đang và sẽ còn tiếp tục tác động lớn đến đời sống xã hội của nước ta hiện nay. Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, việc quán triệt, vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo là một trong những vấn đề có ý nghĩa quan trọng để thực hiện các nhiệm vụ quan trọng mà Đảng, Nhà nước đã đề ra. Đặc biệt, trong việc chống lại những quan điểm sai trái, xuyên tạc vấn đề tôn giáo ở Việt Nam của các thế lực thù địch hiện nay, tư tưởng và những bài học kinh nghiệm của Hồ Chí Minh về tôn giáo lại càng có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc./.

                                                                                                        Nguồn: TS. Trần Thị Hợi
                                                                                Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Bệnh thành tích trong giáo dục, căn nguyên ảnh hưởng tới tương lai giáo dục nước nhà

Thành tích là sự ghi nhận nỗ lực thực chất thì bệnh ngụy thành tích là người ta chỉ xem trọng về lượng mà không có chất, khiến người ta trở nên lừa lọc, dối trá. Trong lĩnh vực giáo dục, phong trào thi đua, ghi nhận thành tích được xem như một cách để tạo động lực học tập cho học sinh. Tuy nhiên, điều khiến chúng ta lo lắng là, chính cách thức tổ chức các phong trào thi đua, vinh danh thành tích đã khiến mọi người quên đi giá trị thực của thành tích cũng như mục tiêu cốt yếu của giáo dục. Ranh giới giữa thành tích và bệnh thành tích là vô cùng mong manh, cần làm rõ hai yếu tố này. Ở mỗi giai đoạn, tùy thuộc vào mục tiêu giáo dục mà yêu cầu dành cho thành tích sẽ có sự thay đổi hoặc cập nhật thêm. Với đặc trưng ngành nghề thì ngành giáo dục luôn cần có các phong trào thi đua để động viên tinh thần của các cá nhân, các đơn vị. Nếu cứ chạy đua theo thành tích, con người sẽ dễ quên đi giá trị thực của thành tích cũng như mục tiêu cốt yếu của giáo dục. Căn nguyên của loại “Bệnh” này do 4 căn nguyên cơ bản sau: - Thứ nhất, do áp lực từ “trường chuẩn”. Muốn đạt danh hiệu trường chuẩn quốc gia, các trường phải đạt rất nhiều tiêu chí cụ thể được quy định bởi Bộ GD&ĐT. Đáng chú ý ở chỗ, đa số các trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia (nhất là các trường trong nội thành, khu vực đô thị) thường được đầu tư cơ sở vật chất tốt nên sẽ có khá nhiều học sinh xin vào học. Ðiều đó dẫn đến áp lực rất lớn với các trường và đã xảy ra tình trạng bằng mọi giá phấn đấu đạt trường chuẩn, rồi tình trạng “chạy trường”, “chạy lớp”. Hệ quả là nhiều trường được công nhận đạt chuẩn nhưng lại có lớp số học sinh/lớp học quá đông, chật chội, ảnh hưởng lớn đến chất lượng dạy và học. Đặc biệt, quy định khống chế tỷ lệ lưu ban, rồi áp lực “giữ chuẩn” để không “rớt chuẩn” khiến nhà trường và giáo viên buộc phải tìm mọi cách để cố “giữ chuẩn”, từ đó tạo áp lực học tập, phấn đấu rất lớn lên học sinh và xảy ra tình trạng một số trường học ở nhiều nơi “học sinh ngồi nhầm lớp”, thậm chí không được phép lưu ban. Áp lực trường chuẩn còn đến từ nhiều hoạt động khác ngoài hoạt động giáo dục, cụ thể các trường chuẩn quốc gia buộc phải tham gia đầy đủ các phong trào cấp trên tổ chức, nhất là các phong trào mũi nhọn như thi Toán, tiếng Anh trên mạng, thi vở sạch chữ đẹp các cấp, thi sáng tạo trẻ... Sức ép thành tích, sức ép của cái mác trường chuẩn quốc gia không ai khác phải gánh chịu mà chính là giáo viên và học sinh cùng người nhà của họ. - Thứ hai, do háo danh. Đó là thành tích giáo dục giả, thành tích ảo, thành tích ngụy tạo, thành tích do tô hồng, thổi phồng mà có; hoặc có thể là thành tích “thật một nửa” nhưng cá nhân, tập thể đạt được không phải do sự nỗ lực, cố gắng trong thi đua có được mà để đạt được bằng mọi giá thông qua sự bắt tay giữa các “nhóm lợi ích”. Bệnh thành tích trong giáo dục, bệnh này còn được gọi là bệnh hình thức. Có những trường vì thành tích mà luôn cố gắng tập trung luyện học sinh giỏi, tạo mọi điều kiện để các em có thời gian tập trung học môn mình thi nhằm đạt kết quả cao mang vinh dự cho trường còn những môn khác thì học cho xong, không cần đầu tư thời gian công sức học tập. - Thứ ba, do thói ghen ăn tức ở. Bệnh thành tích trong giáo dục có căn nguyên sâu xa từ một thói xấu của con người: thói ghen ăn tức ở, “con gà tức nhau tiếng gáy”. Ngày nay chỉ cần có được một thành thích tốt người ta bất chấp mọi thứ, chạy theo thành tích ảo, bằng những thứ không đúng sự thật. Thấy cá nhân, đơn vị khác được nêu gương, cá nhân đơn vị mình cũng muốn được như vậy. Song, thay vì tập trung nâng cao chất lượng giáo dục họ lại đốt cháy giai đoạn, đánh bóng hình thức để được tuyên dương. Bởi vậy, các tổ chức, cá nhân chỉ cốt lo sao cho bản báo cáo, cuốn sổ của mình được sạch sẽ đẹp đẽ. Rồi lo sao để chỉ tiêu kế hoạch trên giao ta hoàn thành hết. Nhận rõ hậu quả của bệnh thành tích trong giáo dục, xã hội cần đẩy mạnh công cuộc loại trừ nó. Đội ngũ lãnh đạo các cấp cần kiểm tra, giám sát tích cực hơn hoạt động của các tổ chức cá nhân trực thuộc, đồng thời có hệ thống chế tài quản lý khoa học, bảo đảm tính răn đe. - Thứ tư, do áp lực thi đua. Trong một xã hội, khen thưởng và xử phạt luôn song song tồn tại bởi nó sẽ giúp cho những cá nhân, tập thể không ngừng nỗ lực phấn đấu để đạt được những kết quả tốt. Thành tích là những kết quả tốt mà từng cá nhân hay tập thể đã đạt được sau những nỗ lực phấn đấu hết mình. Thành tích như là một thước đo cho trình độ của con người trên mọi lĩnh vực, tuy nhiên, vì nó là cái thước đo nên đã gây ra một mặt trái vô cùng nguy hiểm. Đó là vì thành tích mà các trường thi đua để đạt bằng mọi giá. Sự quá tải trong lao động nghề nghiệp, đặc biệt là cung cách quản lý, tạo ra nhiều sức ép, cộng với bệnh thành tích trong giáo dục như một “trường đua” đã trở thành nỗi sợ và nỗi ám ảnh của đại đa số giáo viên hiện nay. Bệnh thành tích trong giáo dục trên đã làm đảo lộn mọi giá trị tốt đẹp, đã phá vỡ đi những truyền thống văn hóa của dân tộc. Căn nguyên ấy sinh ra bệnh giả dối, gian dối trong giáo dục nhằm mục đích vụ lợi. Tác hại của nó rất nghiêm trọng, thậm chí đặc biệt nghiêm trọng đến nền giáo dục nước nhà.

GỐC RỄ ĐỂ BẢO VỆ VỮNG CHẮC NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Để công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thực sự có hiệu quả, cần xuất phát từ lòng yêu nước chân chính, với niềm tin vào thắng lợi và góp phần tri ân những người đã cống hiến, hy sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc; tuyệt đối tránh hiện tượng chiếu lệ, hình thức, nói không đi đôi với làm.


Lòng yêu nước, niềm tin thắng lợi - gốc rễ lâu bền trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng


Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, hồn cốt tạo nên những thắng lợi vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam bắt nguồn từ ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi lẽ, từ nền tảng tư tưởng đó, Đảng ta phát triển, vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, đề ra đường lối phù hợp, đúng đắn; cụ thể hóa trong chính sách, pháp luật của Nhà nước; từng bước đi vào vào quần chúng nhân dân thông qcông tác tư tưởng, biến thành hành động cách mạng thiết thực, hiệu quả, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.


Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát: “...Trong mấy mươi năm khi chưa có Đảng, tình hình đen tối như không có đường ra. Từ ngày mới ra đời, Đảng ta liền giương cao ngọn cờ cách mạng, đoàn kết và lãnh đạo toàn dân ta tiến lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Màu cờ đỏ của Đảng chói lọi như mặt trời mới mọc, xé tan cái màn đêm đen tối, soi đường dẫn lối cho nhân dân ta vững bước tiến lên con đường thắng lợi”.


Vậy nên, để tiếp tục giành thắng lợi và bảo vệ vững chắc những thành quả cách mạng, tất yếu phải bảo vệ Đảng. Muốn bảo vệ Đảng, trước hết phải bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, gắn công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng với bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Suy cho cùng, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ chính là bảo vệ cuộc sống, văn hóa, con người, cốt cách, trí tuệ Việt Nam. Trách nhiệm bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ, bảo vệ thành quả cách mạng không chỉ là việc của cán bộ, đảng viên mà là của mọi tầng lớp nhân dân.


Sự thâm độc của các thế lực phản động, thù địch là dùng mọi thủ đoạn tấn công vào “cái gốc”, tức là chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta hòng thủ tiêu vai trò lãnh đạo, triệt tiêu con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Từ đó, chúng xuyên tạc Cương lĩnh chính trị, chủ trương, đường lối của Đảng; phủ nhận vai trò lãnh đạo, công lao, đóng góp của Đảng; đòi đổi tên Đảng, kêu gọi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, đòi “thực hiện cạnh tranh chính trị, thiết lập chế độ đa đảng”. Cùng với đó là sự xuyên tạc, phủ nhận thắng lợi, thành tựu cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng; khoét sâu sai lầm, khuyết điểm, hạn chế, thiếu sót của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng; xuyên tạc đoàn kết nội bộ và bôi nhọ thân thế, sự nghiệp, đời tư của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Do đó, Đảng ta đã xác định, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân mà tuyên giáo là lực lượng nòng cốt; đồng thời là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể chính trị - xã hội và của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.


Nhiệm vụ cách mạng Việt Nam giai đoạn hiện nay càng đòi hỏi phải bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, vì những lý do sau: 1) xuất phát từ vị trí, vai trò của công tác nay đối với xây dựng Đảng và đối với quá trình xây dựng đất nước; 2) xuất phát từ sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch; 3) xuất phát từ bài học kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, đặc biệt là từ sự tan rã, sụp đổ của mô hình XHCN ở Liên Xô và Đông Âu; 4) xuất phát từ thực tế ở trong nước, một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo dức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Song, để công tác này có hiệu quả, cần xuất phát từ trái tim yêu nước, có niềm tin chiến thắng, với trách nhiệm bảo vệ giống nòi, giang sơn gấm vóc Việt Nam, chứ không phải bằng mệnh lệnh, gượng ép, đối phó. Một khi cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu được như vậy, tích cực hành động bằng trái tim tin tưởng, trách nhiệm, nhiệt huyết, chắc chắn nền tảng tư tưởng của Đảng luôn được bảo vệ vững chắc.


Rọi chiếu vào lịch sử cách mạng Việt Nam, toát lên chân lý: muốn có chiến thắng, tất yếu phải có niềm tin vào chiến thắng và khi đó mới có sự đồng tâm hợp lực hành động muôn người như một, cống hiến, hy sinh bằng chính sự “chỉ đường dẫn lối” của trái tim yêu nước chân chính. Chính niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân vào sự nghiệp chính nghĩa của dân tộc, vào sự lãnh đạo sáng suốt, tài trí của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là cội nguồn sức mạnh bao trùm, kết nối không gian, vượt qua thời gian, tạo sự bền bỉ, kiên cường, khắc phục mọi khó khăn, thử thách, làm nên thắng lợi vĩ đại. Chính nhờ có niềm tin đã tạo nên những trái tim nhiệt huyết, thôi thúc bản lĩnh, bất chấp hy sinh, gian khổ để xông pha vào các cuộc trường chinh ròng rã gần 100 năm chống ách thống trị của thực dân Pháp, phát xít Nhật và can thiệp của Mỹ; 21 năm chống ách thống trị thực dân kiểu mới và chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ cùng bè lũ tay sai. Niềm tin ấy chính là cội nguồn sức mạnh bất diệt, nguồn cảm hứng, động viên lớp lớp thanh niên lên đường bảo vệ Tổ quốc với tinh thần “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.


Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là chiến thắng của trí tuệ, bản lĩnh, niềm tin sắt đá vào thắng lợi của sự nghiệp toàn dân kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Chính sức mạnh của niềm tin đã chiến thắng sức mạnh của vũ khí, đô la của kẻ thù. Nhà báo Duylơrannút từng viết: “Trong thế kỳ XX, chính vật chất là sức mạnh của thời đại. Thời đại có nhiều tên gọi: Thời đại năng lượng nguyên tử, thời đại phản lực, thời đại điều khiển học, thời đại chinh phục vũ trụ, thời đại thông tin hóa. Dù đặt tên cho thiết bị nào thì người Mỹ đều có và người Việt Nam đều không có. Sức mạnh duy nhất của người Việt Nam lúc đó là sức mạnh của con người, của niềm tin chiến thắng”. Niềm tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là tâm điểm tập hợp, gắn kết cả dân tộc thành một khối thống nhất. Niềm tin này cũng thức tỉnh nhân loại yêu chuộng hòa bình và công lý luôn sát cánh, ủng hộ chính nghĩa của dân tộc Việt Nam.


Trong công cuộc bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng hôm nay, luôn cần có và phải có niềm tin ở cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là những người trong bộ máy trực tiếp làm công tác này (Nhóm chuyên gia, Ban Chỉ đạo, Tổ Thư ký giúp việc, Cộng tác viên...). Mỗi khi chúng ta có niềm tin vào thắng lợi, ắt sẽ có cách thức tiến hành để đạt đích thắng lợi. Một khi có niềm tin và trái tim yêu nước chân chính thì lập trường sẽ không dao động, tâm không gợn sóng, hành động không gượng gạo, không chạy theo phong trào và thành tích, càng không vì đối phó, hình thức, mệnh lệnh. Đó chính là gốc rễ đem lại kết quả tích cực, lâu bền trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.


Tri ân - một trách nhiệm trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng


Sự nghiệp cách mạng Việt Nam đã để lại nhiều tấm gương chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân, trở thành bài học, nêu gương cho các thế hệ người Việt. Từ những ngày Đảng mới thành lập, các đảng viên nhiệt huyết cách mạng cùng với nhân dân vượt qua gian khó, luôn tin tưởng vào thắng lợi ở ngày mai; không chỉ tin vào chiến thắng ngoại xâm mà cái đích cao cả là niềm tin và chiến đấu cho lý tưởng cộng sản - thực hiện khát vọng công bằng, bình đẳng, nhân văn. Những tấm gương chiến đấu, hy sinh của Tổng Bí thư Trần Phú, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ; các đồng chí Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần, Hoàng Văn Thụ, Võ Thị Sáu, Lý Tự Trọng, Trần Văn Ơn, Nguyễn Văn Trỗi... luôn soi sáng lý tưởng cách mạng cho hậu thế, đặc biệt là đối với cán bộ, đảng viên giai đoạn hiện nay tự soi mình, rèn mình, sửa mình, phấn đấu phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.


Trong khi phần đông ra sức tu dưỡng, rèn luyện, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, góp sức xây dựng Đảng, đổi mới đất nước thì một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, tha hóa, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thậm chí có người quay lưng hại Đảng, phản bội nhân dân, phỉ báng quá khứ, làm nhục quốc thể. Lại có những cán bộ, đảng viên vun vén tư lợi, chạy chức, chạy quyền vì mục đích trục lợi cá nhân; có biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền với cấp dưới, với đồng nghiệp và nhân dân... Những hành động đó làm ảnh hưởng đến uy tín, thanh danh của Đảng; ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân với Đảng và chế độ; làm tổn hại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN mà nhiều thế hệ cán bộ, đảng viên, nhân dân dày công gây dựng, vun đắp.


Để có độc lập, tự do của Tổ quốc và cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân hôm nay, đã có bao lớp tiền bối xông pha, cống hiến, chiến đấu, hy sinh. Lịch sử cách mạng Việt Nam được bồi đắp, tô thắm bởi những chiến công và sự hy sinh của các bậc tiền nhân, trong đó có những cán bộ, đảng viên. Pho sử bằng vàng đó thể hiện phong phú, sinh động cuộc đấu tranh anh dũng, kiên cường, bất khuất của nhân dân ta. Những giá trị đó thẩm thấu trong tiến trình lịch sử Đảng, trở thành chân lý, niềm tin, tự hào, lòng biết ơn của nhân dân đối với Đảng, của hậu thế đối với tiền nhân.


Do vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, không đơn thuần là bảo vệ cho hiện tại mà còn là bảo vệ thành quả của quá khứ và tạo sự vững bền ở tương lai. Bởi lẽ, “Ăn quả phải nhớ người trồng cây. Trong cuộc tưng bừng vui vẻ hôm nay, chúng ta phải nhớ đến những anh hùng, liệt sĩ của Đảng ta, của dân ta... Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt tất cả mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã chuyển lại cho chúng ta”.


Từ đó, những lúc bản thân phải gánh vác nhiều công việc, có thể chịu mệt nhọc hơn, hoặc thiệt thòi trong cất nhắc, đề bạt, bổ nhiệm; hoặc bị non kém hơn về quyền lợi, bổng lộc thì vẫn vui vẻ, với tâm niệm đóng góp của bản thân chưa xứng đáng với những đồng chí đã cống hiến, hy sinh. Nếu gặp nghịch cảnh nào đó của thực tế, bản thân có thể chạnh lòng, nhưng không được phép hụt hẫng, nhụt ý chí phấn đấu, mà cần có suy nghĩ tích cực, vượt qua để góp phần tri ân những người đã chiến đấu, hy sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân; luôn xác định làm việc là vì trách nhiệm tri ân, chứ không phải vì để được tôn vinh thành tích cá nhân. Theo đó, tích cực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cũng là một cách thức góp phần trả ơn người đã cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Trái tim nhiệt huyết, niềm tin vững chắc và lòng tri ân chân thành, sâu sắc chính là gốc rễ quan trọng, góp phần quyết định, đem lại kết quả tích cực trong cuộc đấu tranh bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Đó cũng là tiền đề, điều kiện tiên quyết, cơ sở để thực hiện “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng, để “xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”./

Nguồn: Tạp chí Tuyên giáo Trung ương

Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tổng kết thực tiễn

 Để nâng cao chất lượng tổng kết thực tiễn gắn với nghiên cứu lý luận, các cấp ủy, tổ chức đảng cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, nâng cao hơn nhận thức của cấp ủy các cấp đối với công tác tổng kết thực tiễn phục vụ nghiên cứu lý luận và hoạt động chỉ đạo, điều hành. Phải làm cho cấp ủy các cấp và mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức rõ ưu điểm và hạn chế của tư duy kinh nghiệm, trên cơ sở đó tìm giải pháp phát huy ưu điểm và khắc phục hạn chế. Chú trọng nâng cao lý luận chính trị đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, phát triển tư duy lý luận và tăng cường kỹ năng tổng kết thực tiễn. Coi trọng tổng kết thực tiễn, cả những việc thành công và chưa thành công, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra; thường xuyên bổ sung, hoàn thiện thể chế; sâu sát cơ sở, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện.

Hai là, hoàn thiện các thể chế, cơ chế và điều kiện hóa cho tổng kết thực tiễn phục vụ nghiên cứu lý luận. Ban hành các thể chế xác định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của cấp ủy, của cơ quan chuyên trách làm nòng cốt trong tổng kết thực tiễn của Ngành Tổ chức xây dựng Đảng. Rà soát, đánh giá lại các cơ chế tổng kết thực tiễn hiện có đồng thời bảo đảm các nguồn lực cần thiết cho việc sơ kết, tổng kết các văn kiện của Đảng; đặc biệt coi trọng xây dựng, phát huy vai trò, tâm huyết, trí tuệ của đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, cán bộ làm công tác tham mưu.

Ba là, đa dạng hóa phương thức tổng kết thực tiễn, gắn tổng kết thực tiễn với nghiên cứu lý luận, nghiên cứu khoa học. Tổng kết thực tiễn lâu nay mới chủ yếu coi trọng phương thức gián tiếp thông qua thành lập ban chỉ đạo và tổ chức theo hệ thống dọc. Phương thức này rất cần thiết nhằm triển khai một đề án, nhiệm vụ tổng kết thực tiễn - lý luận cụ thể khi lý luận còn có độ trễ trước thực tiễn, đòi hỏi phải được bổ sung bằng chính dữ liệu của đời sống hay chu trình của một nghị quyết đủ niên độ thời gian (5, 10 năm) phải tổng kết, đánh giá. Ngoài tổng kết theo phương thức gián tiếp thì còn có tổng kết theo phương thức trực tiếp, tức người lãnh đạo dành thời gian đi cơ sở để quan sát, điều tra, tổng kết các mô hình; nghiên cứu các nhân tố mới, gương điển hình tiên tiến. Để phương thức tổng kết trực tiếp có hiệu quả đòi hỏi phải định hình chế độ đi cơ sở của cán bộ lãnh đạo các cấp; hình thành thói quen quan sát, điều tra, xem xét các tình huống trong thực tiễn, đặc biệt là phát hiện các mâu thuẫn và hướng giải quyết mâu thuẫn. Chế độ đi cơ sở giúp cán bộ có điều kiện nắm bắt thực tiễn, bổ sung dữ liệu thực tiễn cho những nhận thức còn chưa sáng rõ, đồng thời kiểm tra lý luận bằng thực tiễn. Các mô hình hay, các điển hình tiên tiến, những cách làm sáng tạo, hiệu quả của các địa phương rất phong phú trong đời sống, gồm cả gương tập thể và cá nhân, cần phải được phân tích và đánh giá thấu đáo để phổ biến nhân rộng, bổ sung cho tri thức lý luận.

Bốn là, tăng cường công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị để nâng cao chất lượng công tác tổng kết thực tiễn; phát huy dân chủ, tranh thu tối đa trí tuệ tập thể của các cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học, các đồng chí nguyên lãnh đạo có nhiều kinh nghiệm về tổ chức xây dựng Đảng. Thường xuyên xin ý kiến của cấp có thẩm quyền trong quá trình triển khai thực hiện các nhiệm vụ về chủ trương, định hướng; về từng nội dung cụ thể để việc triển khai bảo đảm đúng trọng tâm, trọng điểm, tiết kiệm thời gian, công sức. Đồng thời, tập trung hoàn thiện cơ sở dữ liệu khoa học về tổ chức xây dựng Đảng, đổi mới việc khảo sát tại các địa phương, cơ quan, đơn vị theo hướng lồng ghép nhiều nội dung tương đồng khi khảo sát, tăng cường khảo sát ở cơ sở để tiếp thu rộng rãi ý kiến của cán bộ, đảng viên và đối tượng có liên quan.

Việc thực hiện có hiệu quả 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trên sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác tổng kết thực tiễn, từ đó phát triển lý luận của Đảng để tiếp tục giải quyết những vấn đề mới phát sinh. Đây là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, là yêu cầu khách quan và cũng là vấn đề có tính quy luật trong công tác xây dựng Đảng, có ý nghĩa cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.

Tổng kết thực tiễn góp phần đánh giá các chủ trương, đường lối của Đảng về công tác tổ chức xây dựng Đảng

 Đường lối của Đảng luôn xuất phát từ thực tiễn, lấy thực tiễn làm thước đo kiểm nghiệm lý luận, nhờ đó mà đủ sức soi đường, chỉ lối, đưa sự nghiệp cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Các nhiệm kỳ đại hội của Đảng đều nhấn mạnh đến yêu cầu tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển đường lối, chủ trương, chính sách về công tác tổ chức xây dựng Đảng, đặc biệt là đúc kết những kinh nghiệm quý, cách làm hay từ “điểm” mà nhân ra “diện”; giúp phát hiện những gương điển hình tiên tiến để giáo dục, nêu gương cho đảng viên và quần chúng.

Các đường lối, chủ trương của Đảng nói chung và về công tác tổ chức xây dựng Đảng nói riêng, sau một thời gian ban hành, triển khai trong thực tiễn, nếu có vấn đề không phù hợp hoặc sau một thời gian ban hành sẽ có những nội dung không còn phù hợp với bối cảnh tình hình mới, gây khó khăn cho các cấp ủy, tổ chức đảng; đòi hỏi các nhà lãnh đạo phải tiến hành tổng kết lại quá trình triển khai của các địa phương, đơn vị, trên cơ sở đó sẽ đánh giá được văn bản đó còn phù hợp với thực tiễn hay không để kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo việc sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới (nếu thấy cần thiết).

Bên cạnh đó, đối với những vấn đề chưa đủ luận cứ khoa học và thực tế, chưa có tiền lệ, Trung ương cho phép các địa phương sử dụng hình thức “thí điểm”, như thí điểm các mô hình tổ chức mới và kiêm nhiệm chức danh, việc thí điểm đổi mới cách thức tuyển chọn các chức danh lãnh đạo, quản lý hay tổ chức thí điểm sinh hoạt tổ đảng thay thế cho sinh hoạt chi bộ đối với những chi bộ có đông đảng viên… Sau một thời gian nhất định, Trung ương cũng cần phải tổng kết lại những kết quả đã triển khai của các địa phương để xem chủ trương đó có hợp lý hay không? Nếu quá trình tổng kết cho thấy chủ trương đó là phù hợp, Trung ương có thể cân nhắc để cho phép áp dụng đại trà trên thực tế; ngược lại, sẽ yêu cầu dừng việc thí điểm lại, giảm thiểu sai sót, hậu quả không đáng có.

Các chủ trương, đường lối của Đảng về công tác tổ chức xây dựng Đảng sau một chu trình vận động 5-10 năm đều được sơ kết, tổng kết để tiếp tục điều chỉnh, bổ sung trong chu trình mới. Qua tổng kết thực tiễn, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng ngày càng hoàn thiện, bao phủ được các lĩnh vực của công tác tổ chức xây dựng Đảng, từ công tác cán bộ, tổ chức bộ máy, biên chế, cơ sở đảng, đảng viên và bảo vệ chính trị nội bộ, từ đó giải quyết được những vấn đề thực tiễn đặt ra. Đồng thời, những khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn chính là thước đo đánh giá tính phù hợp, đúng đắn của các chủ trương, chính sách.

Tổng kết thực tiễn góp phần quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học cho việc tham mưu xây dựng các văn bản về công tác tổ chức xây dựng Đảng

 Trong quá trình đổi mới ở nước ta, việc tăng cường tổng kết thực tiễn gắn với nghiên cứu lý luận đã góp phần “cung cấp nhiều luận cứ khoa học cho việc xây dựng, bổ sung và phát triển đường lối đổi mới của Đảng; góp phần tăng cường sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội”.

Từ tổng kết “khoán chui” ở một số địa phương trước Đổi mới, như chính sách khoán của Vĩnh Phúc hay mô hình phân phối thu mua ở Long An theo giá thoả thuận,… Đảng ta đã ban hành Chỉ thị số 100-CT/TW ngày 13-1-1981 về Cải tiến công tác khoán, mở rộng “Khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp, sau là Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 5-4-1988 về Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp. Nhờ đó, từ một nước thiếu lương thực triền miên, đến năm 1989, sản lượng lúa gạo của cả nước đã đạt 21,5 triệu tấn và xuất khẩu được 1,2 triệu tấn lúa gạo.

Sau khi nghiên cứu, tổng kết sự nghiệp xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước (1976-1986), Đại hội VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Từ sau năm 1986 đến Đại hội XIII, Đảng không ngừng nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, làm rõ nhiều vấn đề trong đường lối đổi mới; xác định rõ mục tiêu, xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; từ đó đúc kết 5 bài học kinh nghiệm quý báu về xây dựng, chỉnh đốn Đảng như là những vấn đề lý luận căn cốt của cách mạng Việt Nam.

Thực tiễn về công tác tổ chức xây dựng Đảng luôn đa dạng, phong phú và có chiều hướng vận động, phát triển nhanh, mạnh mẽ; do vậy, việc tổng kết thực tiễn triển khai công tác tổ chức xây dựng Đảng có vai trò rất quan trọng trong phát triển lý luận. Nếu không nghiên cứu, tổng kết thực tiễn sẽ không có cơ sở lý luận và thực tiễn để nghiên cứu, tham mưu các nội dung về công tác tổ chức xây dựng Đảng phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Nói cách khác, thông qua việc nghiên cứu, sơ kết, tổng kết các chủ trương, nghị quyết về công tác tổ chức xây dựng Đảng, góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận, thực tiễn đang đặt ra; đồng thời làm cơ sở để tham mưu Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành các nghị quyết, kết luận, quy định, quy chế về công tác tổ chức xây dựng Đảng, góp phần khắc phục, ngăn ngừa “chủ nghĩa kinh nghiệm” và căn bệnh giáo điều, áp đặt, chủ quan. Tổng kết thực tiễn về công tác tổ chức xây dựng Đảng cũng là để kiểm chứng tính đúng sai, sự phù hợp của các quyết sách đã ban hành, trên cơ sở đó xây dựng luận cứ khoa học cho những chính sách tiếp theo.

Báo chí Công an nhân dân với cuộc đấu tranh chống diễn biến hòa bình

 

Suốt nửa thế kỷ qua, các thế lực thù địch, phản động đã sử dụng rất nhiều công sức, chiêu trò và tiền của để thực hiện chiến lược DBHB nhằm đánh phá phong trào cách mạng Việt Nam. DBHB theo nghĩa chung nhất là những âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm sụp đổ chế độ Xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đây là cuộc đấu tranh giai cấp dưới hình thức mới trên các lĩnh vực tư tưởng, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao.

Hình thức cuộc đấu tranh có thể "êm thấm", "từ từ", "thầm lặng", "hòa bình", nhưng cực kỳ thâm độc và nguy hiểm. Chúng sử dụng lực lượng tổng hợp, tác động nhiều lĩnh vực, đúng nơi, đúng lúc, phá hoại ngầm kết hợp với công khai, bạo loạn lật đổ khi cần thiết. Đây thực chất là kiểu can thiệp phản cách mạng trong tình hình mới. Chiến lược DBHB khác với các chiến lược khác ở chỗ: không có đấu tranh vũ trang, không có trận tuyến, gián tiếp và lặng lẽ. Nó được các thế lực thù địch, phản động ráo riết thực hiện nhằm vào Việt Nam.

Thực hiện mục tiêu chống phá ta, các thế lực thù địch tuyên truyền cho những chính kiến khác nhau, chia rẽ nội bộ, hòng gây dựng phe nhóm chính trị đối lập. Chúng tung tin thất thiệt, bịa đặt, vu cáo nhằm làm rối loạn tư tưởng, gây sự phân tâm trong xã hội. Chúng đầu tư, bao che, nuôi dưỡng cho những tổ chức phản động trong và ngoài nước ráo riết chống ta. Trong các phương tiện kẻ thù sử dụng để thực hiện chiến lược DBHB, thì truyền thông đại chúng giữ vị trí quan trọng hàng đầu. Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, chúng khuyếch trương cái gọi là "tự do ngôn luận", "tự do báo chí”, của phương Tây.

Ngoài việc công kích trực diện vào nền tảng tư tưởng, chúng tuyên truyền kích động gây mâu thuẫn, chia rẽ trong nội bộ. Với mưu đồ làm cho Đảng ta "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" từ bên trong. Chúng ra sức tuyên truyền, bịa đặt về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng việc đấu tranh chống tham nhũng hiện nay để xuyên tạc là thanh trừng nội bộ.

Chúng còn thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự. Lợi dụng các sự kiện chính trị quan trọng liên quan đến các vấn đề phân định biên giới, lãnh thổ, tranh chấp Biển Đông, ô nhiễm môi trường, hay những vấn đề liên quan đến công tác cứu trợ bão lụt, công tác phòng chống dịch bệnh Covid-19 để tung tin thất thiệt trên các trang mạng xã hội, gây hoang mang trong dư luận, tạo nên sự hiểu nhầm của người dân, sự hoài nghi vào cấp ủy, chính quyền các cấp.

Cuộc đấu tranh chống DBHB, đấu tranh, phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng được Đảng và Nhà nước ta xác định là đặc biệt quan trọng và phải thực hiện quyết liệt, thường xuyên, liên tục. Vì thế, chúng ta cần đề cao cảnh giác, chủ động tấn công, đổi mới tư duy, có phương thức, biện pháp thích hợp, tăng cường tuyên truyền sâu rộng, kịp thời, chính xác các quan điểm, tư tưởng, lý luận của Đảng, phản bác một cách mạnh mẽ, quyết liệt để kịp thời ngăn chặn sự chống phá về tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch dưới bất cứ hình thức nào.

Để đảm bảo thắng lợi cho công tác đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, kịp thời làm thất bại DBHB, đấu tranh phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, báo chí nói chung và báo chí Công an nhân dân nói riêng phải bám sát chủ trương đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong từng thời điểm. Phải lựa chọn đề tài trọng tâm, phù hợp với nhiệm vụ chính trị trong từng thời điểm, đồng thời tìm cách thể hiện các đề tài đó sao cho sinh động, hấp dẫn.

Cần phát động phong trào toàn dân thực hiện phòng ngừa, ngăn chặn hoạt động phá hoại về mặt tư tưởng của các thế lực thù địch qua các phương tiện thông tin đại chúng, trong đó nhà báo và các cơ quan báo chí đóng vai trò xung kích trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, bảo vệ vững chắc chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch.

Đẩy mạnh thực hiện "làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và trong mọi tầng lớp xã hội, góp phần đấu tranh làm thất bại chiến lược DBHB của các thế lực thù địch, đấu tranh phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng./.

Ngăn chặn âm mưu tác động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh

 

Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII đã chỉ rõ: “Bước vào giai đoạn phát triển mới,đất nước ta tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, 4 nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn đang hiện hữu, có mặt còn gay gắt hơn; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,“tự diễn biến”,“tự chuyển hoá”còn diễn biến phức tạp”.

Lợi dụng những vấn đề liên quan đến quốc phòng - an ninh của đất nước, các thế lực thù địch đã và đang đẩy mạnh nhiều hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc chống phá. Mục đích của họ là tuyên truyền, kích động nhằm làm lung lạc, suy giảm hoặc mất niềm tin của nhân dân đối với đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về sự nghiệp an ninh, quốc phòng. Vì vậy, cần phải nhận diện và đề cao cảnh giác.

Người có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh có 3 mức độ, tăng dần về tính chất.

Ở mức độ biểu hiện đầu tiên, người có biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh có thái độ thiếu tin tưởng vào khả năng, sức mạnh quốc phòng, an ninh trong bảo vệ Tổ quốc. Lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã viết nên những trang sử vẻ vang với bao chiến công chói lọi chống lại kẻ thù ngoại xâm. Nhưng đáng buồn thay, một số kẻ đã vội quên đi những chiến thắng oanh liệt được đánh đổi bằng hi sinh, xương máu của các thế hệ cha anh.

Ở mức độ tiếp theo, từ thiếu niềm tin, họ bắt đầu đòi hỏi phải có sự đổi mới nhưng theo hướng dựa vào bên ngoài, xa rời nguyên tắc độc lập, tự chủ. Họ muốn đi theo các nước lớn để nhận được sự giúp đỡ về vũ khí, trang bị kỹ thuật nhằm gia tăng sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Đây là suy nghĩ phiến diện, một chiều, có thể gây ra mối nguy hại về lâu dài cho đất nước. Bởi lẽ, trên thế giới đã có việc nước nhỏ dựa vào nước lớn để trợ giúp về vũ khí, quân sự. Tuy nhiên, sự trợ giúp này không phải là “miễn phí”, mà còn kèm theo những yêu cầu, đòi hỏi từ nước lớn nên thường dẫn tới yếu tố gây mất ổn định chính trị, thậm chí nguy cơ xảy ra xung đột, chiến tranh.

Ở mức độ cuối cùng, họ xuyên tạc, công kích, chống đối đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước ta. Đây là mức độ biểu hiện, phản ánh rõ ràng tính chất trầm trọng và đặc biệt nguy hiểm của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Nội dung thông tin và luận điệu xuyên tạc trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh hiện nay hết sức đa dạng, với nhiều biểu hiện khác nhau. Chủ yếu vẫn là: đòi phi chính trị hóa Quân đội và Công an, phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang và sự nghiệp quốc phòng, an ninh; xuyên tạc mục đích của các hợp đồng mua bán vũ khí, trang bị cho Quân đội và Công an; xuyên tạc mục đích các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta tới các nước và nguyên thủ các nước tới thăm Việt Nam; xuyên tạc, bóp méo tình hình khiếu kiện, mất ổn định và cách giải quyết của lãnh đạo, chính quyền ở một số địa phương; xuyên tạc lịch sử và thực trạng tình hình biên giới, hiện trạng trên biển...

Với vai trò là lực lượng vũ trang nhân dân, “thanh kiếm và lá chắn” bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, CAND có vị trí đặc biệt quan trọng trong cuộc đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh. Ý thức sâu sắc về trách nhiệm của mình, lực lượng CAND đã thực hiện và hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị quan trọng. Đã chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và vô hiệu hóa nhiều âm mưu, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch; tổ chức có hiệu quả công tác đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, gương mẫu đi đầu trong thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng“Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”...

Bên cạnh những kết quả đạt được, cuộc đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của lực lượng CAND vẫn còn một số hạn chế, nhất là trong công tác quản lý cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ còn bộc lộ sơ hở, có nơi để xảy ra một số vụ việc cán bộ, chiến sĩ vi phạm kỷ luật của Đảng, của ngành, gây dư luận xấu, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, truyền thống của lực lượng. Trong công tác và chiến đấu, một số cán bộ, chiến sĩ còn có tư tưởng trung bình chủ nghĩa, thiếu ý chí rèn luyện, phấn đấu vươn lên, thậm chí có biểu hiện phai nhạt lý tưởng, suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống.

Để đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” nói chung và “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh nói riêng, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị phải nhận diện chính xác những biểu hiện của “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa”; kiên quyết, kiên trì, chủ động ngăn chặn, phản bác những thông tin, luận điệu sai trái, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Là lực lượng tiên phong, gương mẫu đi đầu, cán bộ, chiến sĩ CAND cần không ngừng rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, quyết tâm giữ mình trong sạch; không sa ngã trước những cám dỗ; không để các thế lực thù địch lợi dụng, mua chuộc, lôi kéo, tác động./.

Những kinh nghiệm đẩy lùi tà đạo “Bà Cô Dợ

 

Tà đạo “Bà Cô Dợ” (Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta) do Vừ Thị Dợ, SN 1977, người Mông, gốc Lào, quốc tịch Mỹ, hiện đang sinh sống tại bang Wiscosin, Mỹ lập ra và làm Hội trưởng từ cuối năm 2016.

Từ năm 2017, Vừ Thị Dợ đã sử dụng các đoạn video, clip tuyên truyền, lôi kéo trên mạng xã hội để lôi kéo người Mông tin theo cái gọi là tà đạo “Bà Cô Dợ” nhằm lập “Nhà nước riêng” của người Mông.

Tà đạo “Bà Cô Dợ” không có giáo lý, giáo luật, đối tượng cắt, sửa có sự vay mượn, xuyên tạc giáo lý của Ki tô giáo nhưng không thừa nhận Chúa Giê-su và tuyên truyền, lừa mị Vừ Thị Dợ là người được “Đức Chúa Trời” chọn để sinh ra Chúa Giê-su lần thứ hai (tái lâm lần thứ hai) có tên là Cứ Nu Si Lông (Bố Nù Sì Lông), người này sẽ cai trị thế giới 1000 năm, là Vua của người Mông thống trị thế giới. Khi có chiến tranh, thiên tai, lũ lụt xảy ra, những người tin theo “Bà Cô Dợ” sẽ được Chúa Cứ Nu Si Lông đưa lên đất nước của Chúa sinh sống; không tổ chức lễ Lễ phục sinh, chỉ tổ chức lễ Giáng sinh vào ngày 22/11 hằng năm (không phải ngày 25/12) là ngày sinh của Chúa Cứ Nu Si Lông; không phải đóng 10% thu nhập, ai theo đạo “Bà Cô Dợ” sẽ được chia tiền…

Qua các nội dung của các luận điệu tuyên truyền và hoạt động của các đối tượng tại địa bàn, chúng ta có thể nhận thấy: Âm mưu xuyên suốt của tổ chức “Bà Cô Dợ” đó là nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa đồng bào dân tộc thiểu số với Đảng, Nhà nước; kích động tư tưởng ly khai, tự trị, kêu gọi người Mông trên toàn thế giới đoàn kết, đòi quyền tự quyết, lập “Nhà nước Mông”.

Đồng thời tuyên truyền, vu cáo Nhà nước Việt Nam đàn áp người Mông trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo; tuyên truyền sai tự thật về chính sách phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, công tác phòng, chống COVID19; chỉ đạo đối tượng cầm đầu, cốt cán trong nước đối phó với chính quyền và cán bộ đến tuyên truyền và hỗ trợ kinh phí cho các đối tượng cầm đầu, cốt cán trong nước để mua, sắm phương tiện hoạt động. Các đối tượng cầm đầu tà đạo này còn xúc phạm các phong tục, tập quán, truyền thống của dân tộc và niềm tin của các tôn giáo chính thống.

Để thực hiện âm mưu trên, các đối tượng triệt để lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong vùng dân tộc thiểu số để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo chính quyền đàn áp dân tộc, tôn giáo. Bên cạnh đó, Vừ Thị Dợ và các đối tượng cầm đầu đã vay mượn thậm chí xuyên tạc một cách trắng trợn kinh thánh và các giáo lý của Ki tô giáo như tự coi mình là Đức Chúa Trời, không thừa nhận Đức Chúa Giê-su… để lừa bịp một bộ phận quần chúng đồng bào người Mông nhận thức còn thấp, nhất là về các vấn đề liên quan đến tôn giáo để lôi kéo họ tham gia tổ chức.

Với những luận điệu tuyên truyền có nội dung rất phản khoa học, bài xích các tôn giáo chính thống, đả kích phong tục truyền thống của người dân tộc Mông, Vừ Thị Dợ và cái tổ chức gọi là “Bà Cô Dợ” bị rất nhiều người Mông không chỉ ở Việt Nam mà cả cộng đồng người Mông quốc tế đấu tranh, phản bác. Ngay cả những người được coi là “cùng hội, cùng thuyền” với Vừ Thị Dợ, suốt ngày kêu gọi thành lập “Nhà nước Mông”, vu cáo Việt Nam đàn áp dân tộc, tôn giáo như Vàng Chỉnh Mình ở Mỹ thông qua tài khoản Youtube Kev Vaam Meej cũng phải thừa nhận: Vừ Thị Dợ là người không có đức tin về Chúa Giê-su và đã bị các tổ chức Tin lành ở Mỹ đuổi khỏi Hội Thánh; những ai tin theo Vừ Thị Dợ là những người không hiểu biết nên mới tin theo. Việc một số người Mông tin theo Dợ đã để lại những hậu quả tai hại về đời sống và đức tin.

Hiện, cùng với việc tuyên truyền, chính quyền các địa phương đã tiếp tục ưu tiên đầu tư, phát triển toàn diện các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội ở các địa bàn; vận động nhân dân tích cực tham gia các chương trình xây dựng nông thôn mới; đồng thời thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của các dân tộc trên địa bàn; đẩy mạnh việc phát động phong trào “Bảo vệ an ninh Tổ quốc”, phù hợp thiết thực với từng địa bàn. Trong đó, đặc biệt chú trọng đến việc phát huy vai trò của người dân tộc thiểu số, nhất là những người có uy tín trong công tác tuyên truyền.

Đồng thời đã xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Trong thời gian qua, Cục An ninh nội địa đã phối hợp với Công an các địa phương triển khai đồng bộ các biện pháp nắm tình hình, quản lý, đấu tranh với các đối tượng cầm đầu, cốt cán. Trong đó, kiên quyết xử lý, răn đe các đối tượng có hoạt động tuyên truyền sai sự thật về việc phòng, chống dịch bệnh COVID-19, xử lý về hành vi vi phạm trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin.

Dù đã đạt được những hiệu quả nhất định nhưng công tác đấu tranh, xoá bỏ tà đạo này đã và đang đặt ra cho lực lượng chức năng những khó khăn bởi âm mưu của các đối tượng cầm đầu “Bà Cô Dợ” không thay đổi. Chúng tiếp tục lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để tuyên truyền, lôi kéo người Mông tham gia lập “Nhà nước riêng”. Trong đó, các đối tượng cầm đầu tà đạo “Bà Cô Dợ” từ nước ngoài tiếp tục tuyên truyền, móc nối, chỉ đạo gửi tiền tài trợ số cầm đầu, cốt cán tại các địa bàn để lôi kéo đồng bào dân tộc Mông tham gia tổ chức.

Cùng với đó là địa bàn hoạt động của tà đạo ở các xã vùng sâu, vùng cao, biên giới, giao thông đi lại khó khăn; đối tượng tin theo phần lớn là người Mông, có cuộc sống khó khăn; nhận thức của một bộ phận quần chúng nhân dân về pháp luật, giáo lý và giáo luật còn hạn chế nên dễ bị dụ dỗ, lôi kéo tham gia tà đạo này./.

Bộ đội biên phòng Đà Nẵng cùng nhân dân chung sức "dọn bão"

 Chiều 29-9, nhiều tuyến đường ở TP Đà Nẵng vẫn ngổn ngang cành cây, rác bẩn do bão số 4. Bên lề đường, từng tốp bộ đội cưa, dọn những cây gãy đổ; nhiều chiến sĩ áo quần lấm lem bùn đất khẩn trương chuyển những đống rác ken dày chất lên xe ô tô để chở ra bãi rác...

Thượng tá Lê Văn Tùng, Phó tham mưu trưởng Bộ đội Biên phòng TP Đà Nẵng đến từng bộ phận động viên bộ đội làm việc. Trao đổi với chúng tôi, anh cho biết: “Đơn vị huy động hơn 200 lượt cán bộ, chiến sĩ cùng 4 xe tải thu gom cây đổ, dọn rác trên các tuyến đường Trần Phú, Lý Tự Trọng và Lý Thường Kiệt. Sau bão, trời nắng gắt, khối lượng công việc nhiều nên anh em rất vất vả, nhưng tất cả đều cố gắng hết sức. Chỉ trong hơn một ngày, lực lượng của Bộ đội Biên phòng thành phố đã chặt cành, dọn sạch hơn 100 cây đổ, thu gom gần 100 tấn rác”...

Được biết, để hoàn thành khối lượng công việc này, cán bộ, chiến sĩ đã làm việc tới 21 giờ. Đơn vị có 10 đồng chí dù nhà mình bị hư hại nhưng vẫn tạm gác việc nhà để lo giúp dân. 

Về các tuyến đường thuộc phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, chúng tôi gặp nhiều cán bộ, chiến sĩ hải quân cũng đang giúp địa phương khắc phục hậu quả bão số 4. Trung tá Lê Đình Hà, Phó tham mưu trưởng Lữ đoàn Công binh 83 Hải quân, áo ướt đẫm mồ hôi vì cùng lao động với bộ đội. Anh kể với chúng tôi: “Sau khi bão tan, đơn vị điều động hơn 100 cán bộ, chiến sĩ cùng 4 ô tô, 4 máy công binh tham gia tổng dọn vệ sinh trên các tuyến đường Nguyễn Phan Vinh, Lê Tấn Trung, Phan Bá Phiến và Trường Tiểu học Nguyễn Tri Phương. Sau hai ngày lao động cật lực, cán bộ, chiến sĩ đơn vị đã cơ bản hoàn thành công việc".

Thấy bộ đội lao động vất vả, ông Phan Trung Tiến ở khối phố Lộc Phước, phường Thọ Quang ra tận nơi động viên cán bộ, chiến sĩ. Ông Tiến nói: “Nếu không có các anh bộ đội nhiệt tình giúp sức thì còn lâu bà con mới có thể dọn sạch các tuyến đường, vì khối lượng công việc rất nhiều”. 

Giúp nhân dân sau bão

 

Bão số 4 (bão Noru) đã đi qua, nhưng cán bộ, chiến sĩ LLVT tỉnh Quảng Ngãi vẫn rất bận rộn với việc khắc phục hậu quả, giúp người dân sớm ổn định cuộc sống.

Khi bão số 4 đã tan, cựu chiến binh Đào Thị Lâm từ nơi tránh trú trở về nhà ở thôn An Tây, xã Nghĩa Thắng (Tư Nghĩa, Quảng Ngãi) thì thấy ngôi nhà đã bị gió làm bay mái, chỉ còn lại những bức tường. Bà Lâm chưa biết làm gì thì các anh bộ đội, dân quân đẩy chiếc xe cải tiến chở tôn vào sân. Thì ra, ngay sau khi bão đi qua, chính quyền địa phương đã tiến hành rà soát thiệt hại của từng gia đình để kịp thời hỗ trợ khắc phục hậu quả, nhất là với các hộ đặc biệt khó khăn.

"Bác cứ yên tâm. Ngay hôm nay anh em cháu sẽ thay mái nhà cho bác và củng cố lại hệ thống điện, nước sinh hoạt để gia đình sớm ổn định cuộc sống", Trung tá Hồ Anh Triết, Chính trị viên phó Ban CHQS huyện Tư Nghĩa động viên và đặt bàn tay ấm áp lên đôi vai đang rung lên từng hồi của nữ cựu chiến binh. Đôi mắt thâm quầng của người phụ nữ lam lũ ầng ậc nước: "Bác chẳng biết phải nói như thế nào, cảm ơn các cháu, cảm ơn Đảng, Nhà nước".

Sau giây phút xúc động, hơn chục cán bộ, chiến sĩ LLVT huyện Tư Nghĩa, do Trung tá Hồ Anh Triết trực tiếp chỉ huy bắt tay ngay vào công việc. Người dọn dẹp nhà cửa, người đo đạc, cắt tôn, người lắp ghép xà gồ... tất cả cùng chạy đua với thời gian, quyết tâm phải xong việc trong ngày.

Trong ngày 28 và 29-9, chúng tôi được chứng kiến nhiều hoạt động giúp dân khắc phục hậu quả thiên tai của LLVT tỉnh Quảng Ngãi. Nơi nào bị thiệt hại nặng, công trình sập tường, tốc mái hay cây đổ cản trở giao thông thì bộ đội, dân quân luôn là những người có mặt đầu tiên để xử lý. Gia đình nào cần giúp đỡ, các anh đều sẵn lòng hỗ trợ, chẳng chút nề hà. Được biết, ngay sau khi bão số 4 đi qua, tại tất cả các điểm tránh trú bão, cán bộ, chiến sĩ LLVT tỉnh Quảng Ngãi đã dùng nhiều loại phương tiện đưa người dân trở về nhà và tranh thủ hỗ trợ bà con tổng dọn vệ sinh, sửa chữa nhà cửa. Các cấp chính quyền tỉnh Quảng Ngãi cũng kịp thời triển khai các biện pháp kiểm tra, nắm bắt tình hình thiệt hại của nhân dân, chỉ đạo, triển khai các giải pháp khắc phục, trong đó ưu tiên giúp đỡ, hỗ trợ những hộ nghèo, gia đình chính sách, hoàn cảnh neo đơn; sửa chữa hư hỏng tại các trường học.

Theo báo cáo của Ban chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm, cứu nạn tỉnh Quảng Ngãi, tính đến chiều 29-9, bão số 4 đã làm 1.300 ngôi nhà, hơn 747ha hoa màu, cây trồng trên địa bàn tỉnh bị thiệt hại; 8 điểm trường học, nhà công cộng, trạm y tế bị tốc mái, hư hỏng; 4 tàu, 5 ca nô, 9 chiếc xà lan nhỏ thuộc địa phận huyện Lý Sơn bị chìm. Bên cạnh đó, bão số 4 cũng làm nhiều tuyến giao thông, thủy lợi bị hư hỏng, trụ sở cơ quan bị thiệt hại; hơn 216.000 hộ dân bị mất điện.

Trước tình hình đó, theo Đại tá Võ Văn Bá, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Quảng Ngãi, ngoài chỉ đạo ban CHQS các huyện, thị xã nhanh chóng hỗ trợ các gia đình bị ảnh hưởng do thiên tai, Bộ CHQS tỉnh chủ động tham mưu với Tỉnh ủy, UBND tỉnh huy động tối đa lực lượng, phương tiện cơ động đến những địa bàn bị thiệt hại nặng khẩn trương giúp dân khắc phục hậu quả. Bộ CHQS tỉnh cũng phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành chức năng tổ chức kiểm tra, rà soát những khu vực có nguy cơ bị ngập sâu, chia cắt, lũ quét, sạt lở đất để sẵn sàng triển khai phương án sơ tán người, tài sản đến nơi an toàn...

Câu chuyện Biểu hiện vi phạm kỷ luật quân đội

Sau bữa ăn sáng ngày cuối tuần, Huy rủ Sơn: - Lát nữa anh em mình xin phép chỉ huy ra ngoài, xuống bản chơi với các cô giáo cho vui nhé!

Sơn gãi đầu gãi tai:

- Tớ ngại lắm! Anh em mình có vợ ở quê rồi, thỉnh thoảng đến chơi thì được chứ đến nhiều quá cũng không hay lắm. Các cô còn bận bài vở, giáo án, rồi còn chuyện tình cảm riêng tư nữa chứ.

- Ôi giời! Có gì mà không hay? Nhìn tớ với cậu, ai bảo là trai đã có vợ nào? Chúng mình không nói thì ai biết được?

- Nhưng tớ không thích nói dối! Các cô giáo chân thành, tình cảm, quý bộ đội, mình trân trọng điều đó nhưng không nên lợi dụng!

 

Nghe Sơn nói, Huy phá lên cười, trêu lại:

- Cậu nói chuyện như “ông cụ” ấy! Các cô giáo chưa chồng, mình thì... vợ ở quê, có gì mà ngại chứ? Hơn nữa, mình chỉ nói dối chưa có vợ để câu chuyện tự nhiên hơn thôi mà! Cậu mà không đi, tớ đi một mình cũng được. Nhưng cậu hứa không được tiết lộ chuyện anh em mình đã có vợ con với các cô giáo đấy nhé! Các cô ấy mà biết, cuộc nói chuyện mất vui.

Nghe Huy nói, Sơn gãi đầu bối rối... Đúng lúc ấy, Chính trị viên đại đội Nguyễn Văn Hải đột nhiên xuất hiện, nghiêm giọng:

- Tôi không đồng ý với suy nghĩ của đồng chí Huy đâu nhé!

Bị “phủ đầu” bất ngờ, Huy đỏ ửng mặt, lí nhí:

- Báo cáo chính trị viên, em chỉ... đùa với Sơn cho vui thôi ạ!

- Tôi nghe cách nói chuyện của đồng chí không giống đùa, mà chuyện này cũng không được đùa. Chưa kể, gần đây tôi cũng nghe một số lời xì xào về chuyện khi ra ngoài làm công tác dân vận, đồng chí hay giới thiệu là chưa có vợ, rồi còn giới thiệu "phóng đại" cả chức vụ, cấp bậc của mình lên để "ra oai" với bà con. Nếu đúng như vậy thì đồng chí phải nghiêm túc tự kiểm điểm, dừng ngay lại.

Bị chính trị viên “bắt bài”, Huy mặt tái dần. Lúc này, Chính trị viên Hải nhẹ nhàng phân tích: "Đồng chí có thuộc 12 điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân không? Điều 6 nêu rất rõ: Phải đoàn kết chặt chẽ với nhân dân, kính già, yêu trẻ, đứng đắn với phụ nữ. Đồng chí là sĩ quan, đã có vợ ở quê mà vẫn nói dối, như vậy là vừa không tôn trọng vợ cậu ở quê, vừa không nghiêm túc, đứng đắn với phụ nữ. Nói dối mãi rồi cuối cùng vẫn sẽ bị lộ. Lúc đó, không chỉ các cô giáo mà nhiều người khác sẽ mất niềm tin vào đồng chí, vào bộ đội chúng ta, gây ảnh hưởng tới mối quan hệ quân-dân. Đó cũng là biểu hiện vi phạm kỷ luật quân đội".

Nghe chính trị viên phân tích, Huy biết mình đã sai nên đứng nghiêm: “Tôi xin lỗi đồng chí vì đã có những suy nghĩ, lời nói không đúng và tôi hứa sẽ không bao giờ tái phạm”.