Thứ Tư, 12 tháng 10, 2022

 Những điểm mới, đột phá trong chủ trương của Đảng về hoàn thiện thể chế, phát huy nguồn lực đất đai, tạo động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới


TCCS - Nhằm giải quyết những vấn đề cấp bách đặt ra trong thực thi chính sách, pháp luật về đất đai, Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW. Nội dung Nghị quyết thể hiện nhiều điểm mới, đột phá, làm định hướng quan trọng để các cấp, các ngành chung tay tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách, phát huy nguồn lực đất đai, tạo động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới.


Bám sát Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Hiến pháp năm 2013, kế thừa, phát triển và cụ thể hóa các chủ trương của Đảng về quản lý và sử dụng đất qua các kỳ đại hội, nhất là Đại hội XIII, Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 16-6-2022, của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, “Về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao” (gọi tắt là Nghị quyết số 18-NQ/TW hay Nghị quyết) có nhiều điểm mới, đột phá. Xét trên giác độ các điểm mới cụ thể, Nghị quyết đưa ra định hướng nhằm giải quyết cơ bản những vướng mắc, bất cập kéo dài do lịch sử để lại (như đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh, đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số, đất tôn giáo, đất của các cơ sở sản xuất, đơn vị sự nghiệp công lập đã di dời ra khỏi trung tâm các đô thị lớn, đất sau cổ phần hóa...); những vấn đề phát sinh trong bối cảnh mới (như đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động, sản xuất và xây dựng kinh tế, đất sử dụng đa mục đích, đất lấn biển...) tạo động lực để đưa nước ta phát triển nhanh và bền vững với các định hướng mới trong quy hoạch sử dụng đất; giao đất, cho thuê đất; hỗ trợ, bồi thường, tái định cư, thu hồi đất; giá đất; tài chính đất đai; cải cách hành chính trong quản lý đất đai; nâng cao năng lực quản lý đất đai...

Những điểm mới này được thể hiện xuyên suốt trong nội dung của Nghị quyết, từ quan điểm, mục tiêu đến nhiệm vụ, giải pháp và tổ chức thực hiện, nhưng tựu trung lại ở ba điểm lớn, cơ bản, đó là: 1- Nâng cao vai trò của thị trường trong quản lý và sử dụng đất; 2- Nâng cao vai trò đại diện chủ sở hữu và năng lực quản lý của Nhà nước về đất đai; kiên quyết phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực đất đai; 3- Bảo đảm hài hòa lợi ích giữa người dân, nhà đầu tư và Nhà nước, trong đó người dân là trung tâm và không để ai bị bỏ lại phía sau. Đây cũng chính là những yêu cầu lớn đặt ra đối với việc hoàn thiện thể chế, chính sách về đất đai.

Nâng cao vai trò của thị trường trong quản lý và sử dụng đất

Đất đai là tài nguyên hữu hạn, là nguồn lực rất quan trọng cho phát triển. Do đó, để phát huy tối đa nguồn lực đất đai, để đất đai mang lại giá trị cao nhất, nguồn lực này cần được phân bổ cho những ngành, lĩnh vực và những người sử dụng hiệu quả nhất, qua đó thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Lý thuyết và thực tiễn đều cho thấy, thị trường là cơ chế hữu hiệu nhất để thực hiện điều này. Vai trò của thị trường trong quản lý và sử dụng đất được nâng cao giúp tăng cường tính công khai, minh bạch, qua đó thị trường sẽ hoạt động hiệu quả hơn và Nhà nước có đầy đủ hơn các thông tin để quản lý và điều tiết thị trường hoạt động hiệu quả.

Định hướng nâng cao vai trò của thị trường trong quản lý và sử dụng đất trong Nghị quyết số 18-NQ/TW được thể hiện cụ thể ở những điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, Nghị quyết đặt ra yêu cầu đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách về quản lý và sử dụng đất phù hợp với thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, Nghị quyết khẳng định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Đồng thời, chỉ rõ tính tài sản của quyền sử dụng đất: Quyền sử dụng đất là một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt nhưng không phải là quyền sở hữu. Điều này giúp cho quyền sử dụng đất có thể vận hành được trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thứ ba, Nghị quyết định hướng mở rộng quyền tiếp cận đất đai đối với người dân và doanh nghiệp. Cụ thể là, mở rộng hạn mức và đối tượng được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp; quy định việc giao và cho thuê đất chủ yếu được thực hiện thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất và đấu thầu dự án có sử dụng đất(1); bỏ khung giá đất và quy định có cơ chế, phương pháp xác định giá đất theo nguyên tắc thị trường(2); tiếp tục thực hiện cơ chế tự thỏa thuận giữa doanh nghiệp và người dân trong chuyển nhượng quyền sử dụng đất để thực hiện các dự án về đô thị, nhà ở thương mại; sớm xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách để các cá nhân, tổ chức, hộ gia đình có thể tham gia vào dự án đầu tư thông qua việc chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; xây dựng ngân hàng cho thuê đất nông nghiệp; đẩy mạnh thương mại hóa quyền sử dụng đất;...

Ở nước ta, quá trình tập trung, tích tụ đất nông nghiệp diễn ra chậm. Đất nông nghiệp chủ yếu là quy mô nhỏ với khoảng 78 triệu thửa ruộng lớn, nhỏ khác nhau, trung bình mỗi hộ có khoảng 2,5 thửa với diện tích khoảng 0,5ha; chỉ có khoảng 10% số hộ có thửa liền bờ nhau; tỷ lệ hộ sử dụng đất trên 5ha khoảng 3% trong tổng số 8,8 triệu hộ nông nghiệp. Doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp chiếm khoảng 1% trong tổng số doanh nghiệp cả nước. Một trong những nguyên nhân khiến cho đất đai bị bỏ hoang là việc áp dụng chính sách miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp. Người nông dân sẵn sàng bỏ ruộng đất hoang hóa nhưng vẫn nắm giữ đất, họ cũng không có động lực phải trả hay khai thác. Khi có ngân hàng cho thuê đất nông nghiệp, người dân hoàn toàn yên tâm cho ngân hàng thuê đất và khi đó đất đai được góp để cho doanh nghiệp thuê.

Do vậy, việc định hướng nâng cao vai trò của thị trường trong quản lý và sử dụng đất sẽ giúp cho thị trường quyền sử dụng đất trở nên linh hoạt hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập trung đất đai và ứng dụng công nghệ mới, tiên tiến trong sản xuất nông nghiệp, qua đó làm tăng hiệu quả sử dụng đất; khắc phục tình trạng bỏ hoang đất nông nghiệp và tâm lý “sợ mất đất” của người nông dân; tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong tiếp cận đất đai và chủ động hơn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh; làm tăng tính công khai, minh bạch và hạn chế được tình trạng lạm dụng, tham nhũng, tiêu cực trong quản lý và sử dụng đất.

Nâng cao vai trò đại diện chủ sở hữu và năng lực quản lý của Nhà nước về đất đai; kiên quyết phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực đất đai

Đất đai không chỉ là tài nguyên hữu hạn, là nguồn lực quan trọng cho phát triển đất nước, mà còn là lãnh thổ quốc gia, không gian sinh tồn của dân tộc. Do đó, đất đai không chỉ cần được quản lý và sử dụng hiệu quả, mà còn cần được bảo vệ, được quản lý và sử dụng bền vững, đúng mục đích và tiết kiệm.

Nghị quyết nêu rõ, đất đai thuộc sở hữu của toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Do vậy, việc nâng cao vai trò đại diện chủ sở hữu và năng lực quản lý của Nhà nước về đất đai có ý nghĩa rất quan trọng, bảo đảm việc quản lý và sử dụng đất vì lợi ích chung của toàn dân và để nhân dân có thể tiếp cận, sử dụng đất công bằng, công khai, hiệu quả và bền vững. Khi vai trò đại diện chủ sở hữu và năng lực quản lý của Nhà nước về đất đai được nâng cao, đất đai sẽ được quản lý và sử dụng một cách minh bạch, công khai; thị trường bất động sản sẽ được điều tiết để phát triển lành mạnh hơn, hiệu quả hơn. Đồng thời, tính kỷ luật, kỷ cương trong quản lý và sử dụng đất đai cũng sẽ được nâng cao hơn. Qua đó, giúp giảm thiểu tiêu cực, lãng phí, tham nhũng trong quản lý và sử dụng đất đai.

Định hướng nâng cao vai trò đại diện chủ sở hữu và năng lực quản lý của Nhà nước về đất đai được thể hiện ở những điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, Nghị quyết nêu rõ ý nghĩa của sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý cũng như cụ thể hóa sự thống nhất quản lý của Nhà nước về đất đai.

Sở hữu toàn dân về đất đai không tách rời sự quản lý thống nhất của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu. Thực hiện sở hữu toàn dân là để bảo đảm đất đai được quản lý và sử dụng vì lợi ích chung của toàn dân, nhân dân được tạo điều kiện tiếp cận, sử dụng đất công bằng, công khai, hiệu quả và bền vững. Nhà nước thống nhất quản lý về đất đai là quản lý theo lãnh thổ quốc gia, bao gồm cả diện tích, chất lượng, giá trị kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, môi trường; phân công hợp lý giữa các cơ quan nhà nước ở Trung ương, đồng thời có sự phân cấp, phân quyền phù hợp, hiệu quả đối với địa phương.

Thứ hai, đổi mới, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất. Quy hoạch sử dụng đất cần có tầm nhìn dài hạn, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ; kết hợp giữa chỉ tiêu các loại đất gắn với không gian, phân vùng sử dụng đất, hệ sinh thái tự nhiên, thể hiện thông tin đến từng thửa đất. Đặc biệt, Nghị quyết nêu rõ: Nhà nước bảo đảm đủ nguồn lực để lập quy hoạch sử dụng đất và các quy hoạch ngành, lĩnh vực có sử dụng đất.

Trên thực tế, trong thời gian qua, nhiều địa phương huy động nguồn lực xã hội để thực hiện công tác quy hoạch. Cụ thể, những địa phương này nhận tài trợ quy hoạch từ các nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp. Điều này, một mặt, góp phần giúp cho quy hoạch sát với yêu cầu của thị trường và khắc phục việc thiếu kinh phí cho lập quy hoạch, nhất là ở những địa phương còn nhiều khó khăn; mặt khác, việc nhận tài trợ quy hoạch từ nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp còn chứa đựng rủi ro lạm dụng và tiêu cực, nhất là khi nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp “nắn” quy hoạch theo hướng có lợi cho họ. Việc Nhà nước bảo đảm đủ kinh phí để thực hiện quy hoạch sẽ giúp giảm thiểu việc lạm dụng quy hoạch để trục lợi, qua đó, nâng cao được hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước trong quản lý và sử dụng đất.

Thứ ba, có biện pháp đồng bộ, cụ thể để xử lý những trường hợp đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất nhưng không đưa đất vào sử dụng hoặc chậm đưa đất vào sử dụng(3). Kiên quyết thu hồi đất của tổ chức, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp sử dụng không đúng mục đích, nhất là tại các vị trí có lợi thế, có khả năng sinh lời cao, ngăn chặn thất thoát vốn, tài sản nhà nước(4).

Thứ tư, kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về đất đai tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, đồng bộ, thống nhất; nâng cao năng lực, trình độ cán bộ, công chức ngành quản lý đất đai; đẩy mạnh cải cách hành chính; ứng dụng công nghệ hiện đại và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước về đất đai, trọng tâm là xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin về đất đai, tập trung, thống nhất và hiện đại.

Cơ sở dữ liệu về đất đai phải được xây dựng đồng bộ, thống nhất không chỉ về số lượng, chất lượng, diện tích mà cả về giá trị, lịch sử giao dịch. Khi cơ sở dữ liệu về đất đai được số hóa sẽ dễ dàng theo dõi được sự thay đổi, bao gồm cả sự thay đổi về giá trị và sự chuyển dịch về đất đai giữa các bên liên quan. Mọi giao dịch về đất đai sẽ trở nên minh bạch, cụ thể và trực quan. Điều này giúp Nhà nước thực hiện tốt hơn chức năng đại diện chủ sở hữu về đất đai thông qua việc cung cấp thông tin, báo cáo và thực hiện trách nhiệm giải trình. Đồng thời, hiệu lực, hiệu quả quản lý được nâng cao khi Nhà nước có đủ thông tin để ra các quyết định quản lý.

Thứ năm, tăng cường phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước về đất đai gắn liền với điều kiện thực thi và kiểm soát, giám sát quá trình thực hiện. Nghị quyết đặt ra yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò của các bên liên quan trong quản lý và sử dụng đất, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu; đổi mới, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm soát của Nhà nước; nâng cao vai trò của cơ quan tư pháp trong giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai; tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, các bên liên quan và nhân dân. Tất cả những điều đó sẽ giúp nâng cao tính linh hoạt, chủ động, sáng tạo của địa phương, đồng thời giúp phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực.

Thứ sáu, tập trung nguồn lực đầu tư cho công tác điều tra, đánh giá tài nguyên đất; thống kê, kiểm kê đất đai; giám sát sử dụng đất; bảo vệ, cải tạo và phục hóa đất(5). Điều này sẽ góp phần giúp cho đất đai được quản lý và sử dụng tiết kiệm và bền vững hơn.


Bảo đảm hài hòa lợi ích giữa người dân, nhà đầu tư và Nhà nước, trong đó người dân là trung tâm và không để ai bị bỏ lại phía sau

Điều này sẽ giúp giảm tình trạng khiếu nại, khiếu kiện, tranh chấp, tố cáo về đất đai(6); khắc phục tình trạng đất đai bị hoang hóa, sử dụng không đúng mục đích; đồng thời, góp phần khẳng định bản chất tốt đẹp của chế độ ta trong quản lý và sử dụng đất. Qua đó, hiệu quả quản lý và sử dụng đất được nâng cao.

Yêu cầu bảo đảm sự hài hòa trong lợi ích giữa người dân, nhà đầu tư và Nhà nước trong quản lý và sử dụng đất, trong đó người dân là trung tâm, không để ai bị bỏ lại phía sau, được thể hiện ở một số điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, quy định cụ thể hơn về thẩm quyền, mục đích, phạm vi thu hồi đất, điều kiện, tiêu chí cụ thể việc Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; trường hợp Nhà nước thu hồi đất mà phải tái định cư thì phải thực hiện tái định cư trước khi thu hồi đất. Đồng thời, phải bảo đảm được sinh kế cho người dân. Cụ thể là, hỗ trợ người dân trong việc đào tạo nghề, tạo việc làm, tổ chức lại sản xuất...

Thực tế cho thấy, trong thời gian qua, một số địa phương chưa thực hiện đúng các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, như chưa xây dựng khu tái định cư trước khi quyế#t định thu hồi đất hoặc đã xây dựng nhưng vị trí không thuận lợi, kết cấu hạ tầng thiếu đồng bộ, không phù hợp với phong tục, tập quán của địa phương nơi người có đất bị thu hồi cư trú; thiếu quyết liệt trong chỉ đạo tổ chức thực hiện và phối hợp giữa các cơ quan có trách nhiệm trong bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Phần lớn các địa phương chưa quan tâm đúng mức đến tạo việc làm hoặc chuyển đổi nghề cho người có đất bị thu hồi trong độ tuổi lao động, chưa bảo đảm sinh kế lâu dài cho người dân. Hậu quả là, người dân mất đi sinh kế, đời sống thấp hơn so với trước nên dẫn đến việc khiếu nại, khiếu kiện. Một khi lợi ích của người dân có đất bị thu hồi được bảo đảm bằng hoặc cao hơn so với nơi ở cũ thì họ sẽ cảm thấy không bị thiệt thòi, qua đó giúp giảm khiếu nại, khiếu kiện và những tiêu cực khác trong quản lý và sử dụng đất.

Thứ hai, chính sách tài chính về đất đai phải bảo đảm hài hòa được lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất và nhà đầu tư; nghiên cứu có chính sách điều tiết chênh lệch địa tô, bảo đảm công khai, minh bạch.

Nghị quyết đưa ra định hướng: Quy định mức thuế cao hơn đối với người sử dụng nhiều diện tích đất, nhiều nhà ở, đầu cơ đất, chậm sử dụng đất, bỏ hoang đất. Đồng thời, Nghị quyết đặt ra yêu cầu: Có chính sách ưu đãi thuế, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phù hợp với lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư; đối với hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, gia đình người có công với cách mạng; những địa phương được quy hoạch sản xuất nhằm bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ các loại rừng, nhất là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng...

Như vậy, những người sử dụng nhiều nhà, đất và đầu cơ đất đai sẽ phải chịu mức thuế cao hơn, còn những người trong tình trạng yếu thế hay có những trách nhiệm mang tính quốc gia, cộng đồng sẽ có những chính sách bảo đảm cho họ có cơ hội tiếp cận và sử dụng đất tốt hơn.

Thuế là vấn đề rất phức tạp, nhạy cảm, liên quan đến mọi người dân, tổ chức và hộ gia đình, nên Nghị quyết đặt ra yêu cầu rà soát chính sách, pháp luật về thuế chuyển quyền sử dụng đất, trên cơ sở đó, xây dựng, hoàn thiện chính sách về thuế chuyển quyền sử dụng đất theo thông lệ quốc tế nhưng phải phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam (trình độ phát triển và điều kiện cụ thể) và theo một lộ trình thích hợp. Đây chính là sự hài hòa trong lợi ích giữa người dân, Nhà nước, nhà đầu tư và bảo đảm không để ai bị bỏ lại phía sau. Điều này giúp giảm khiếu nại, khiếu kiện và đất đai sẽ được quản lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả hơn.

Thứ ba, bên cạnh định hướng về sớm xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách để các cá nhân, tổ chức, hộ gia đình có thể tham gia vào dự án đầu tư thông qua việc chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, Nghị quyết đưa ra yêu cầu có quy định cụ thể việc khai thác hiệu quả quỹ đất vùng phụ cận các công trình kết cấu hạ tầng và chính sách ưu tiên cho người có đất ở bị thu hồi được giao đất hoặc mua nhà trên diện tích đất đã thu hồi mở rộng theo quy định của pháp luật; quy định cơ chế góp quyền sử dụng đất, điều chỉnh lại đất đai đối với các dự án phát triển, chỉnh trang đô thị và khu dân cư nông thôn.

Như vậy, những điểm mới lớn, đột phá kể trên cũng chính là những yêu cầu quan trọng trong chủ trương của Đảng đối với việc hoàn thiện thể chế, chính sách về đất đai, trong đó trọng tâm là sửa đổi Luật Đất đai năm 2013 và các luật khác có liên quan, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ. Đây chính là yêu cầu phải xử lý tốt mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội trong quản lý và sử dụng đất.

Việc thể chế hóa chủ trương mới của Đảng về quản lý và sử dụng đất sẽ tạo hành lang pháp lý đồng bộ, chặt chẽ và thống nhất, bảo đảm cho Nhà nước có đầy đủ công cụ pháp lý để thực hiện quyền và nghĩa vụ đại diện chủ sở hữu, chủ thể sử dụng đất. Vai trò của thị trường trong quản lý và sử dụng đất được nâng lên sẽ giúp cho đất đai được phân bổ hợp lý và hiệu quả hơn. Tất cả những điều đó cùng với việc bảo đảm hài hòa lợi ích giữa người dân, nhà đầu tư và Nhà nước trong quản lý và sử dụng đất sẽ giúp giảm thiểu lãng phí, tiêu cực; giảm tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện liên quan đến đất đai; đất đai sẽ được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững hơn, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu./.

------------

(1) Luật Đất đai năm 2013 chỉ quy định trường hợp giao đất, cho thuê đất theo hình thức đấu giá quyền sử dụng đất không quy định các trường hợp đấu thầu dự án có sử dụng đất. Báo cáo kiểm toán cho thấy, công tác giao đất tại nhiều địa phương còn bất cập, hạn chế, trong đó chủ yếu là giao đất theo hình thức chỉ định, không đấu giá quyền sử dụng đất, ban hành văn bản công nhận chủ đầu tư theo hình thức chỉ định, vi phạm Luật Đấu thầu (Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, số 599/BC-KTNN, ngày 10-6-2021, của Kiểm toán Nhà nước).
(2) Chính phủ quy định khung giá đất và khung giá đất được điều chỉnh 5 năm một lần. Trên cơ sở khung giá đất, các địa phương xây dựng bảng giá đất để các cá nhân, tổ chức thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước. Giá trị bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được xác định dựa trên giá đất cụ thể theo các phương pháp định giá khác nhau (tùy thuộc vào quy mô, giá trị của mảnh đất). Do nhiều nguyên nhân khác nhau, giá đất được xác định để bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thường thấp hơn so với giá thị trường. Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng khiếu nại, khiếu kiện gia tăng và nguy cơ tham nhũng, tiêu cực.
(3) Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tính đến tháng 6-2021, kết quả kiểm tra, rà soát các dự án, công trình đã được giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; có thông báo thu hồi đất; có chủ trương đầu tư nhưng không sử dụng đất hoặc chậm đưa đất vào sử dụng là 3.790 dự án, công trình với tổng diện tích là 219.991,80ha. Một bộ phận người dân giàu lên nhanh chóng, mua bán đầu cơ đất đai, nhà ở trong các dự án bất động sản nhưng không sử dụng tạo nên những khu đô thị không có người ở, nhà bỏ hoang.
(4) Việc quản lý quỹ đất của doanh nghiệp trước và sau cổ phần hóa, xác định giá trị quyền sử dụng đất (trong đó có lợi thế vị trí địa lý) để đưa vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa còn bất cập, có trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất tại một số vị trí đắc địa không phù hợp với phương án cổ phần hóa đã được phê duyệt. Việc bán tài sản trên đất, đặc biệt là chuyển quyền sử dụng đất đã và đang gây thất thoát tài sản nhà nước. Năm 2020, theo số liệu của Thanh tra Chính phủ, toàn ngành thanh tra đã phát hiện hành vi vi phạm về kinh tế 64.551 tỷ đồng, 7.077ha đất; kiến nghị thu hồi 26.007 tỷ đồng và trên 1.174ha đất; xuất toán, loại khỏi giá trị quyết toán do chưa thực hiện đúng quy định và đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét xử lý 38.544 tỷ đồng, 5.903ha đất. Nguồn: Hàn Tín: “Xử lý tài sản công tập trung vào nhà đất”, báo Đầu tư online, ngày 1-6-2021, https://baodautu.vn/xu-ly-tai-san-cong-tap-trung-vao-nha-dat-d143862.html
(5) Kết quả điều tra, đánh giá đất đai do các cơ quan ở Trung ương thực hiện cho thấy, có tới 11,838 triệu héc-ta hay 35,7% quỹ đất đai của cả nước đã bị thoái hóa, làm suy giảm sức sản xuất và hiệu quả sử dụng đất. Xuất hiện tình trạng ô nhiễm kim loại nặng trong đất vượt ngưỡng quy định ở một số khu vực có hoạt động sản xuất công nghiệp, làng nghề. Hiện tượng xâm nhập mặn tại các vùng cửa sông, thoái hóa đất do xói mòn rửa trôi tại vùng đồi núi có xu hướng tăng, đặc biệt là hiện tượng mặn hóa, phèn hóa, xâm thực mặn ở các cửa sông và vùng đồng bằng sông Cửu Long. Hiện tượng sa mạc hóa xảy ra ở khu vực miền Trung.
(6) Số vụ án liên quan tới đất đai chiếm trên 70% số vụ án được xét xử hằng năm. Các vụ việc tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai vẫn chiếm 60% tổng số đơn, thư khiếu nại. Các kiến nghị đối với sai phạm trong quản lý, sử dụng đất đai, nhất là tại một số tổng công ty, tập đoàn lớn của Nhà nước... còn kéo dài, khó xử lý dứt điểm.

                                                                                                                Nguồn: PGS, TS. NGUYỄN HỒNG SƠN

                                                                                                                    Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương

 Việt Nam lần thứ 2 trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc

Đoàn Việt Nam tham dự phiên họp bỏ phiếu và công bố kết quả thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ. Ảnh: TTXVN

Phái đoàn Việt Nam tham dự phiên họp. Ảnh: TTXVN.

Các thành viên LHQ tham gia ứng cử được chia thành 5 khu vực địa lý, trong đó, nhóm châu Á - Thái Bình Dương là khu vực có sự cạnh tranh cao nhất cho vị trí thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ này với 7 nước giới thiệu ứng cử từ giữa năm 2020 (1 nước rút ứng cử vào phút chót).

Việt Nam được các thành viên của Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) nhất trí ủng hộ là ứng cử viên duy nhất của ASEAN cho vị trí này; đồng thời cũng là ứng cử viên châu Á duy nhất của Cộng đồng Pháp ngữ.

Việc trúng cử trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền, cơ quan có vai trò quan trọng hàng đầu trong hệ thống LHQ trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, thể hiện sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những chính sách, nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền của người dân trên tất cả các lĩnh vực.

Đây cũng là sự kiện có ý nghĩa quan trọng, là bước tiến mới trong nỗ lực triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội XIII của Đảng và Chỉ thị 25 của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến 2030.

Thứ trưởng Ngoại giao Phạm Quang Hiệu, Trưởng đoàn Việt Nam tham dự phiên họp khẳng định kết quả này không chỉ cho thấy sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với thành tựu bảo đảm quyền con người của Việt Nam mà còn là thành quả từ sự chỉ đạo sát sao và tham gia trực tiếp của Lãnh đạo cấp cao, sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, trong đó có vai trò của các cơ quan truyền thông, báo chí trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Đây cũng là minh chứng cho thấy vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được củng cố, nâng cao.

Có thể thấy, thời gian vừa qua, Việt Nam luôn tham gia tích cực, có trách nhiệm vào các hoạt động của HĐNQ LHQ từ khi cơ quan này được thành lập. Trong đó, Việt Nam đã đảm nhiệm thành công vai trò thành viên HĐNQ LHQ nhiệm kỳ 2014-2016, góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước.

Việt Nam tham gia tích cực các hoạt động của HĐNQ, thúc đẩy các sáng kiến thể hiện dấu ấn, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao như tham gia Nhóm Nòng cốt tại HĐNQ về “Biến đổi khí hậu và quyền con người”, trực tiếp là tác giả một số nghị quyết được HĐNQ thông qua bằng đồng thuận về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với các nhóm dễ bị tổn thương (phụ nữ, trẻ em…).

Việt Nam cũng tham gia đồng tác giả, đồng bảo trợ hàng chục nghị quyết của HĐNQ trong giai đoạn này, tập trung vào các lĩnh vực quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương, bình đẳng giới, chống phân biệt đối xử, xóa bỏ các biện pháp cấm vận đơn phương ảnh hưởng đến thụ hưởng quyền con người, quyền của nông dân, vấn đề dân chủ hóa đời sống quốc tế và tăng cường đoàn kết quốc tế.

Đoàn Việt Nam tham dự phiên họp bỏ phiếu và công bố kết quả thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Ảnh: TTXVN

Đoàn Việt Nam tham dự phiên họp bỏ phiếu và công bố kết quả thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Ảnh: TTXVN.

Việt Nam có nhiều đóng góp, làm cầu nối thúc đẩy hợp tác và đối thoại giữa các nước, các nhóm nước nhằm thúc đẩy cách tiếp cận cân bằng, tiến bộ, hướng tới con người của HĐNQ trên những vấn đề còn khác biệt ví dụ như về quyền sức khỏe sinh sản, chống bạo hành với phụ nữ, xóa bỏ phân biệt đối xử và bạo lực dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tình dục…

Việt Nam cũng đã thúc đẩy đối thoại trong khuôn khổ HĐNQ giữa các nước liên quan, các tổ chức khu vực và các cơ chế của LHQ về quyền con người nhằm giải quyết những quan tâm cụ thể về các vấn đề liên quan đến nhân quyền, nhân đạo; gắn với việc phối hợp với các nước đang phát triển đấu tranh để bảo đảm HĐNQ hoạt động đúng nguyên tắc, thủ tục, không chính trị hóa, không can thiệp công việc nội bộ các nước.

Các nội dung trên tiếp tục nằm trong các ưu tiên, định hướng cho tham gia của Việt Nam trong nhiệm kỳ tới, như thể hiện trong các Cam kết tự nguyện khi ứng cử mà Việt Nam gửi tới LHQ theo quy định của Đại hội đồng.

Hội đồng Nhân quyền LHQ trực thuộc Đại hội đồng LHQ (ĐHĐ LHQ) được thành lập năm 2006 là cơ chế quan trọng nhất về quyền con người của trong hệ thống LHQ, có chương trình nghị sự trải rộng trên 10 đề mục, một mặt bám sát các quan tâm chung của cộng đồng quốc tế về quyền con người, mặt khác cũng phản ánh rõ nét những ưu tiên, chiến lược lớn của các nước và các nhóm nước trong lĩnh vực này.

HĐND có một hệ thống các cơ quan, cơ chế trực thuộc đặc biệt, được quan tâm và tham gia rộng rãi, đầy đủ nhất là Cơ chế Rà soát định kỳ Phổ quát (UPR).

Gồm 47 thành viên có nhiệm kỳ 3 năm, HĐNQ LHQ là diễn đàn đối thoại, hợp tác và thúc đẩy cân bằng tất cả các quyền con người, kể cả quyền phát triển; hoạt động trên cơ sở khách quan, hợp tác và đối thoại, trên tinh thần xây dựng, không thiên vị, chọn lọc, chính trị hóa và tiêu chuẩn kép. 

                                                                                                                    Nguồn: XDĐ

 Xuất bản Việt Nam với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng cùng các đại biểu nghe giới thiệu về triển lãm sách kỷ niệm 70 ngày truyền thống ngành Xuất bản, In và Phát hành.

1. Ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã xác định chủ nghĩa Mác - Lênin là cốt, là gốc, là nền tảng tư tưởng của Đảng. Đến Đại hội Đảng lần thứ VII (1991) khẳng định rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(1). Luận điểm này đã tiếp tục được khẳng định trong các văn kiện qua các kỳ đại hội của Đảng. Trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII nêu rõ: “Kiên định và không ngừng vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn”(2).

Đi lên CNXH là sự lựa chọn sáng suốt của Đảng phù hợp với khát vọng của người dân Việt Nam vươn tới ấm no, tự do, hạnh phúc. Tuy nhiên, xuất phát từ lợi ích giai cấp và lợi ích cá nhân của không ít phần tử suy thoái, bất mãn, đã chống đối lại con đường tất yếu, phù hợp với xu thế phát triển mà Đảng, Bác và nhân dân ta lựa chọn. Họ đã không từ thủ đoạn nào hòng làm chuyển hướng, làm thất bại công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam. Và đương nhiên, họ tập trung công kích, xuyên tạc, phủ định cái gốc của Đảng - nền tảng tư tưởng của Đảng ngay từ khi Đảng ta ra đời, lãnh đạo nhân dân thực hiện các cuộc trường chinh kháng chiến và công cuộc xây dựng CNXH ngày nay.

Trên con đường xây dựng xã hội mới, chúng ta phải thường xuyên, liên tục đấu tranh chống lại các hoạt động cả trên bình diện lý luận và thực tiễn để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Giai cấp công nhân và nhân dân lao động có sứ mệnh xây dựng thành công xã hội mới, điều đó cũng có nghĩa cuộc đấu tranh này là liên tục, gắn liền với sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

Cuốn sách tuyển chọn 48 bài tham luận khoa học của các đồng chí lãnh đạo, chuyên gia, nhà khoa học, nhà nghiên cứu đầu ngành; lãnh đạo một số tỉnh, thành phố, các cơ quan báo chí Trung ương và một số cơ quan khác.

Cuốn sách tuyển chọn 48 bài tham luận khoa học của các đồng chí lãnh đạo, chuyên gia, nhà khoa học, nhà nghiên cứu đầu ngành; lãnh đạo một số tỉnh, thành phố, các cơ quan báo chí Trung ương và một số cơ quan khác.

Cuộc đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ liên tục về thời gian, mà còn liên tục về không gian, có nghĩa rằng cuộc đấu tranh này không chỉ trên phạm vi quốc gia mà cả trên bình diện quốc tế. Cuộc đấu tranh này luôn quyết liệt, phức tạp, là cuộc đấu tranh mất còn với thế lực thù địch phản động của những người cộng sản đi theo con đường mà các nhà kinh điểm Macxit đã chỉ ra.

Trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng ta không ngừng hoàn thiện đường lối xây dựng, phát triển chủ nghĩa xã hội. Do vậy, xây dựng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chính là xây dựng và bảo vệ cái gốc của Đảng, là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước.

Việc xây dựng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, của cả hệ thống chính trị. Mỗi ngành, lĩnh vực tuỳ theo chức năng, nhiệm vụ của mình tham gia vào trọng trách xây dựng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. “Chúng ta cần chủ động nghiên cứu, đánh giá, dự báo chính xác tình hình, xác định đúng đắn mục tiêu, quan điểm chỉ đạo và các nhiệm vụ, giải pháp phù hợp, khả thi để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”(3).

2. Xuất bản là một hoạt động sản xuất kinh doanh và đồng thời là hoạt động thuộc lĩnh vực văn hoá, tư tưởng thông qua việc sản xuất, phổ biến những xuất bản phẩm đến nhiều người. Hoạt động này có mục đích(4)Phổ biến, giới thiệu tri thức thuộc các lĩnh vực của đời sống xã hội, giá trị văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân, nâng cao dân trí, xây dựng đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam, mở rộng giao lưu văn hóa với các nước, phát triển kinh tế - xã hội, đấu tranh chống mọi tư tưởng và hành vi làm tổn hại lợi ích quốc gia, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Với mục đích hoạt động của mình, hoạt động xuất bản có vai trò quan trọng trong xây dựng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên các nội dung chính sau:

Thứ nhất, thông qua các hoạt động xuất bản góp phần truyền bá, phổ biến tri thức, nâng cao trình độ dân trí. Nâng cao dân trí chính là nâng cao trình độ nhận thức hay mặt bằng văn hóa chung của một cộng đồng hay nhóm dân cư ở một phạm vi nhất định, đó là nhận thức về thế giới, về tự do dân chủ, hiểu biết về quyền công dân, quyền con người, nâng cao mức độ quan tâm của người dân trước các vấn đề xã hội. Hoạt động xuất bản góp phần nâng cao dân trí chính là tạo ra môi trường thuận lợi cho xây dựng và bảo vệ nền tảng của Đảng. Với một quốc gia có trình độ dân trí ngày càng cao, chính là “kháng thể” tốt nhất trước luận điệu sai trái, xuyên tạc của kẻ thù về Đảng, về chế độ, về con đường và thành tựu phát triển của Việt Nam.

Thứ hai, bằng các hoạt động của mình, với các xuất bản phẩm đa dạng góp phần tuyên truyền, làm rõ tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối xây dựng đất nước của Đảng và Nhà nước ta. Đây là hoạt động trực tiếp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Với hoạt động của mình, xuất bản kịp thời cung cấp thông tin, làm rõ bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và sự vận dụng sáng tạo của Chủ tịch Hồ chí Minh và Đảng ta, góp phần tuyên truyền, giáo dục để mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân nhận thức đầy đủ, ngày càng sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời vận dụng, phát triển sáng tạo, làm cho lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự là nền tảng tư tưởng vững chắc của Đảng, giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần toàn xã hội.

Thứ ba, các công trình xuất bản góp phần làm rõ tiềm năng, cơ hội phát triển của đất nước. Các nhà xuất bản hằng năm có hàng trăm đầu sách trên các lĩnh vực khác nhau thông tin, nghiên cứu phân tích các nguồn lực cho phát triển, cơ hội, thách thức và triển vọng phát triển. Thông qua các công trình xuất bản tạo cơ sở nâng cao niềm tin của người dân vào con đường phát triển của đất nước đã được Đảng ta xác định trong Cương lĩnh và cụ thể hoá qua các kỳ đại hội. Hơn nữa qua thông tin từ sách và các ẩn phẩm khác chính là cơ sơ dữ liệu quan trọng cho các hoạt động sáng tạo của mỗi công dân trên các vị trí, công việc của chính mình. Việc đọc sánh làm trí tuệ con người sâu sắc hơn và sáng sủa hơn(5) và vì vậy họ làm việc sáng tạo hơn, có trách nhiệm với bản thân và xã hội. Chính Lênin cũng đã từng nói: Không có sách thì không có tri thức, không có tri thức thì không có chủ nghĩa cộng sản.

Thứ tư, qua các xuất bản phẩm, nhất là các xuất bản phẩm thuộc lĩnh vực lý luận, chính trị không chỉ trực tiếp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, mà còn làm rõ hạn chế khách quan, sự bất công trên con đường phát triển tư bản chủ nghĩa, chủ nghĩa tư bản chỉ là một giai đoạn trên con đường phát triển đi lên văn minh hiện đại của xã hội loại người. Ngày nay với việc tận dụng sự phát triển của khoa học công nghệ, chủ nghĩa tư bản có những điều chỉnh đưa lại sự phát triển nhất định. Tuy nhiên, với một quá trình phát triển kinh tế - xã hội chạy theo mục tiêu tối thượng là lợi nhuận, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội đã đẩy xã hội đến những cuộc khủng hoảng như khủng hoảng sản xuất thừa, khủng hoảng nguyên nhiên liệu và môi trường, y tế… “Theo nhiều nhà khoa học phân tích, các cuộc khủng hoảng hiện nay không thể giải quyết được một cách triệt để trong khuôn khổ của chế độ tư bản chủ nghĩa”(6). Như vậy, bằng chính các công trình xuất bản sẽ góp phần chỉ rõ những hạn chế mà chủ nghĩa tư bản không thể vượt qua, đồng thời khẳng định tính tất yếu và đúng đắn của con đường đi lên CNXH mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.

Thứ năm, sách và các xuất bản phẩm góp phần tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau các dân tộc, các quốc gia, tạo ra môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển.

Thông qua các xuất bản phẩm các giá trị văn hoá truyền thống, đất nước và con người Việt Nam, các thành tựu phát triển…được giới thiệu với thế giới và ngược lại. Ngày nay với những thành tựu mới trong xuất bản việc tăng cường hiểu biết lẫn nhau ngày càng thuận lợi. Thực tế phát triển cho thấy, một quốc gia muốn phát triển bền vững cần có môi trường hoà bình và để có môi trường hoà bình, thuận lợi cho sự phát triển của quốc gia mình thì cần tham gia tạo ra môi trường hoà bình chung cho phát triển. Trong thế giới phẳng ngày nay an ninh quốc gia, an ninh con người là an ninh tương tác. Không thể bảo đảm an ninh cho riêng mình khi bỏ qua an ninh đối tác. Chính bằng các xuất bản phẩm cùng với các phương tiện thông tin nói chung sẽ góp phần gia tăng sự hiểu biết lẫn nhau, tạo ra môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển. Điều này càng khẳng định vai trò quan trọng của hoạt động xuất bản trong xây dựng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

3. Xuất bản Việt Nam có truyền thống xây dựng và phát triển qua 70 năm, luôn hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ của mình, góp phần quan trọng trong phục vụ chính trị, tư tưởng, văn hóa, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Bước vào thời kỳ đổi mới, cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường, ngành xuất bản có nhiều đổi mới, tiếp tục phát triển rất mạnh mẽ, trở thành vũ khí sắc bén, góp phần vào việc tuyên truyền, giáo dục chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; thúc đẩy quá trình đổi mới tư duy trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tham gia trực tiếp vào xây dựng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Xuất bản Việt Nam trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình đã có nhiều đóng góp và sáng tạo trong các hoạt động đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Ngoài hệ thống sách và xuất bản phẩm chuyên ngành các lĩnh vực góp phần nâng cao dân trí, ngành xuất bản đã triển khai, bán sát các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước trong nâng cao chất lượng hoạt động xuất bản, nhất là hoạt động xuất bản sách và ấn phẩm lý luận, chính trị. Cụ thể, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật cùng nhiều nhà xuất bản trong nước đã xuất bản được nhiều cuốn sách phục vụ trực tiếp cuộc đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. “Tổng số sách lý luận, chính trị trong 10 năm qua đạt khoảng 60.000 đầu sách với trên 200 triệu bản, chiếm khoảng 6-8% số đầu sách và 8-10% số bản sách hằng năm. Các nhà xuất bản: Chính trị quốc gia Sự thật, Lý luận chính trị, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Tư pháp... luôn có tỷ lệ sách lý luận, chính trị cao với khoảng 30-35% trong tổng số sách được xuất bản. Một số nhà xuất bản địa phương như: Nhà xuất bản Hà Nội, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Nghệ An, Nhà xuất bản Thanh Hóa... cũng luôn quan tâm đến việc xuất bản sách lý luận, chính trị, vừa thực hiện tốt nhiệm vụ do cơ quan chủ quản giao phó, vừa đáp ứng đầy đủ nhu cầu tìm hiểu, học tập, nghiên cứu của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân”(7). Trong những năm qua Hội đồng Lý luận Trung ương cũng đã chủ động phối hợp với các Nhà xuất bản, biên tập xuất bản nhiều đầu sách trực tiếp góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng(8).

Bên cạnh các sách truyền thông, ngành xuất bản cũng đã tích cực triển khai ứng dụng công phệ, phát hành sách và các ấn phẩm phiên bản điện tử. Đặc biệt, trong những ngày đại dịch bùng phát, các đơn vị xuất bản, in, phát hành đã có những cách làm đổi mới, sáng tạo, ứng dụng nhanh quá trình chuyển đổi số như: Xuất bản sách truyền thống kèm các sản phẩm sách điện tử, phát hành sách trực tuyến qua Internet, mạng xã hội nhằm thích ứng và phát huy hiệu quả kinh tế trong bối cảnh dịch bệnh, đáp ứng nhu cầu đọc của người dân(9).

Đi liền với hoạt động xuất bản, hoạt động phát hành và các hình thức giới thiệu, quảng bá sách cũng được đẩy mạnh với nhiều hình thức quảng bá quy mô, sáng tạo, thu hút độc giả thuộc mọi lứa tuổi, nâng cao hiệu quả tuyên truyền và kết quả kinh doanh. Ví dụ, Chương trình giới thiệu sách trên các kênh truyền hình “Sách hay thay đổi cuộc đời” do Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo; hay Hội sách trực tuyến; Triển lãm sách chuyên đề “Dấu ấn Hồ Chí Minh”; Tọa đàm giới thiệu quyển sách: "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam" của Tổng bí thư Nguyễn Phú TrọngTriển lãm sách khoa học và công nghệ với sự phát triển kinh tế-xã hội do Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ) tổ chức...Những hoạt động này góp phần phát triển văn hóa đọc, định hướng thông tin và nâng cao dân trí.

Hoạt động sáng tạo rất đáng chú ý trong hoạt động tuyên truyền phát hành sách là việc hình thành Tủ sách chuyên đề về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tủ sách này được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xây dựng và ra mắt bạn đọc ngày 3/2/2022, tập hợp hơn 160 đầu sách chia thành các mảng đề tài: Các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sách viết về Người; sách về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong giai đoạn hiện nay; sách về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; sách về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tủ sách tiếp tục được bổ sung và là kho thông tin thực sự tiện ích giúp cho người đọc quan tâm về mảng nội dung này và đây cũng là hình thức góp phần trực tiếp vào hoạt động xây dựng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

4. Trong những năm tới đây, bối cảnh khu vực và quốc tế có những biến chuyển, đặt ra cả cơ hội và thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam nói chung, đối với hoạt động xây dựng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nói riêng. Với thế và lực mới, với việc ứng dụng những thành tựu mới của khoa học công nghệ chúng ta có điều kiện giải quyết các nhiệm vụ đặt ra trên bước đường phát triển, góp phần đẩy nhanh hiện thực hoá mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Tuy nhiên, trên bước đường phát triển của chúng ta, các thế lực thù địch không ngừng lợi dụng thành tựu công nghệ để chống phá với những phương thức ngày càng tinh vi, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ngày càng quyết liệt và phức tạp, không chỉ là nội dung quan trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; mà đó chính là nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, trong đó có những người làm công tác xuất bản.

Quá trình hội nhập và mở của các nền kinh tế quốc gia dân tộc một mặt là điều kiện cho quá trình hợp tác phát triển, mở rộng sự hiểu biết, giao lưu văn hóa, gắn kết cộng đồng vì sự phát triển chung, mặt khác cũng là không gian cho các thế lực thù địch lợi dụng đẩy mạnh các hoạt động chống phá cả trên phương diện lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, đòi hỏi chúng ta cần tăng cường hoạt động đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Hơn nữa, chính quá trình hội nhập và phát triển cũng đặt ra nhiều vấn đề lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta cần tiếp tục nghiên cứu, tổng kết làm sáng tỏ. Đây chính là cơ sở, căn cứ lý luận cho hoạt động đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Trong bối cảnh cơ hội và thách thức đan xen, để hoàn thành nhiệm vụ chung của ngành xuất bản, hoạt động xuất bản cần tập trung thực hiện tốt, toàn diện nội dung Thông báo số 19-TB/TW ngày 29/12/2016 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 25/8/2004 của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng toàn diện của hoạt động xuất bản, cũng như thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 16/4/2020 của Ban Bí thư về đổi mới nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xuất bản, phát hành và nghiên cứu, học tập sách lý luận, chính trị. Trong tổng thể các nhiệm vụ đặt ra, cần lưu ý đếm một số vấn đề liên quan trực tiếp đến xây dựng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng như sau:

Thứ nhất, tập trung nâng cao chất lượng các xuất bản phẩm nói chung, trong đó có các xuất bản phẩm lĩnh vực lý luận, chính trị. Để thực hiện điều này cần có kế hoạch xây dựng bản thảo, thực hiện cơ chế đặt hàng để có những bản thảo đáp ứng tốt yêu cầu thực tiễn của cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới hiện nay.

Thứ hai, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ chung của cả hệ thống chính trị. Do vậy ngành xuất bản, cần xuất phát từ nhiệm vụ và lợi thế của mình, phối hợp đồng bộ với các ngành, lĩnh vực khác, mà trước hết là lĩnh vực báo chí, truyền thông để cung cấp kịp thời, hệ thống và đầy đủ thông tin, làm cơ sở cho hoạt động xây dựng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ngày càng hiệu quả.

Thứ ba, trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, ngành xuất bản có điều kiện đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng và hiệu quả xuất bản. Do vậy cần tiếp tục nghiên cứu đẩy mạnh, đa dạng hoá các loại hình xuất bản phẩm: sách in, sách chữ nổi, tranh ảnh, lịch…kể cả bằng tiếng Việt, tiếng dân tộc và tiếng nước ngoài để đáp ứng yêu cầu tuyên truyền và nhu cầu bạn đọc cả trong và ngoài nước. Bên cạnh xuất bản phẩm truyền thống cần chú ý đẩy mạnh hơn nữa loại hình xuất bản phẩm điện tử, nhất là sách điện tử để tận dụng thế mạnh của loại hình này cũng như phục vụ nhu cầu văn hoá đọc ngày càng đa dạng.

Thứ tư, tiếp tục nghiên cứu, mở rộng các kênh và hình thức phát hành. Bên cạnh các hình thức phát hành truyền thống qua các cửa hàng sách, cần thiếp tục sáng tạo các hình thức tuyên truyền, quảng bá sách và các ấn phẩm dựa trên nền tảng công nghệ mới, tiếp tục mở rộng hình thức tủ sách chuyên đề, câu lạc bộ trẻ đọc sách…Đi liền với đó kết hợp chặt chẽ giữa vận động, giáo dục, thuyết phục với kiên quyết xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các đối tượng truyền bá các quan điểm sai trái, thù địch, các văn hoá phẩm không lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục. Mở rộng, nâng cao chất lượng trong hoạt động xuất- nhập khẩu và biên dịch các xuất bản phẩm nước ngoài, đáp ứng nhu cầu thông tin, mở rộng giao lưu với thế giới, góp phần tạo ra môi trường hòa bình và ổn định cho phát triển.

Thứ năm, tiếp tục nghiên cứu hoàn thiên các quy chế, quy định pháp luật trong lĩnh vực xuất bản cho phù hợp với chủ trương tích cực, chủ động và toàn diện trong hội nhập. Cùng với đó cần đầu tư đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công tác xuất bản, phát hành, cả về chuyên môn và đạo đức, phẩm chất chính trị, trách nhiệm nghề nghiệp, trong đó chú trọng công nghệ mới, xu hướng phát triển mới của xuất bản.

Thứ sáu, cần tiếp tục quán triệt và có kế hoạch cụ thể triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị khóa XII về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới trong ngành xuất bản cũng như ở mỗi đơn vị, cơ sở trong toàn ngành.

                                                                                                    Nguồn: PGS.TS. Vũ Văn Hà

                                                                                                                Đại học Đại Nam