Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2022

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA NGÀY 15 THÁNG 10 NĂM 1949!

         “Những người phụ trách dân vận cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”!
     Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết “Dân vận”, ký tên X.Y.Z, đăng trên Báo Sự thật số 120, ngày 15 tháng 10 năm 1949. 
     Giữa lúc công cuộc kháng chiến, kiến quốc của dân tộc ta ở vào thời điểm vô cùng cam go, quyết liệt, đòi hỏi phải huy động sức mạnh của cả dân tộc. Nhận thức sâu sắc và đánh giá cao vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm “Dân vận”. Đây là “cẩm nang” kịp thời chỉ dẫn một cách đầy đủ và sâu sắc cả về mục đích, đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp, tính hiệu quả... của công tác dân vận đối với cán bộ, đảng viên; tổ chức đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể.
     Thấu triệt tư tưởng chỉ đạo của Bác, mọi cương lĩnh, văn kiện, nghị quyết của Đảng, Nhà nước ta luôn xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân, vì nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân, từ đó luôn chủ trương phát huy tối đa quyền làm chủ của nhân dân theo phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”, để xây dựng nên khối đại đoàn kết và không ngừng phát huy sức mạnh của cả dân tộc. Ngành Dân vận và đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận đã luôn chủ động tham mưu cho Đảng và Nhà nước những chủ trương, chính sách lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác Dân vận, xây dựng “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc. Cán bộ làm công tác Dân vận luôn tích cực học tập, nghiên cứu nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; phong tục, tập quán của từng địa phương, từng dân tộc; âm mưu, thủ đoạn chống phá của địch để tuyên truyền, vận động cho quần chúng nhân dân thông suốt, hiểu được quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ và quyết tâm cùng với toàn Đảng, toàn quân nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, thử thách giành được những thắng lợi vẻ vang trong kháng chiến, thành công trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay.
     Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, hy sinh; luôn được dân mến, dân tin, dân giúp đỡ. Mối quan hệ quân - dân trở thành mối quan hệ mẫu mực được ví như máu thịt, như cá với nước, trở thành lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng. Cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn tích cực hưởng ứng và làm tốt các công tác dân vận, tham gia xoá đói, giảm nghèo, chung sức xây dựng nông thôn mới. Các phong trào, mô hình: “Cảnh sát biển đồng hành cùng ngư dân”, “Tết quân dân”, “Xuân biên cương, Tết hải đảo”, “Tết Biên phòng, ấm lòng dân bản”… đã, đang được triển khai quyết liệt với tình cảm, trách nhiệm cáo của cán bộ, chiến sĩ toàn quân, góp phần cùng với toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước manh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.
Môi trường (Yêu nước) ST.

NGƯỜI LÃNH ĐẠO VÀ BÀI HỌC TU DƯỠNG, TRÁNH CÁM DỖ

 Không chỉ đề cao vai trò, tầm quan trọng của người lãnh đạo: "Một người lo bằng kho người làm", triết lý người Việt còn nhắc nhở những ai ở cương vị đó phải biết giữ gìn nhân cách, bởi "nhà dột từ nóc".

Lại có câu ca dao: "Người trên ở chẳng chính ngôi/ Để cho bề dưới chúng tôi hỗn hào" là chân lý cũng là đạo lý, vì người lãnh đạo, nhất là lãnh đạo cấp cao không chỉ phải "lo" đường lối chiến lược, hoạch định chính sách... mà còn phải là mẫu mực nhân cách có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng.

Thế nhưng vừa qua, có không ít vị lãnh đạo cấp cao lại "nhúng chàm" để rồi đang ở đỉnh cao quyền lực rơi xuống đáy thân phận bị cáo, trở thành "tấm gương mờ" để người đời bêu riếu... "Tài" và "đức" là hai phạm trù cơ bản cấu thành nhân cách người lãnh đạo. Họ có thể có "tài" nhưng còn thiếu "đức". Bác Hồ từng dạy người cách mạng phải lấy đức là nguồn, là gốc: "Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang"(1). Những "tấm gương mờ" kia còn thiếu đạo đức cách mạng nên sức yếu, không "gánh được nặng" và chẳng "đi được xa".

Bốn cái cột chống vững chắc của ngôi nhà đạo đức cách mạng, theo Bác Hồ là "cần, kiệm, liêm, chính". Ngày Quốc khánh 2-9-1947, Người viết bài "Cán bộ và đời sống mới" giải thích rõ vấn đề, đặc biệt nhấn mạnh đến sự "thực hành": "Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành bốn điều đó, mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc dây leo trời"(2). Câu nói mang ý nghĩa thời sự sâu sắc, như là nói với hôm nay!

Một phẩm chất hàng đầu của người lãnh đạo là uy tín. Tham ô, đục khoét tức "vô liêm", không trong sạch thì làm sao "được lòng dân". Người xưa rất coi trọng chữ "liêm". Cụ Khổng Tử mỉa mai: "Người mà không liêm, không bằng súc vật". Cụ Mạnh Tử trăn trở: "Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy". Bác Hồ kế thừa các tinh hoa tư tưởng ấy và minh họa một trường hợp cụ thể. Trong "Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch bốn tháng sang Pháp", Người có nói về "tấm gương" của Napoléon "đại tài nhưng tham lam", từ một anh lính làm đến tổng tư lệnh rồi hoàng đế, vẫn chưa thấy đủ, ông còn muốn làm chúa cả thế giới: "Nếu ông Napoléon mà biết dè dặt, không tham muốn quá chừng, thì chắc nước Pháp lúc đó không đến nỗi vì chiến tranh mà chết người, hại của. Mà ông Napoléon cũng giữ được địa vị thiên tử trong một nước giàu mạnh ở Âu châu. Nhưng ông Napoléon đã làm con giời lại muốn làm cả giời, kết quả bị rơi xuống đất... Xưa nay đã nhiều người vì không "tri túc" (chừng mực) mà thất bại"(3). Là người có tài, lại ở vị trí lãnh đạo cao nhất nhưng "kết quả bị rơi xuống đất", theo Bác Hồ có 3 lý do là "tham lam", "không khiêm tốn", "không biết lượng sức mình". Vì thế mà ông ta mắc bệnh cuồng vọng "đã làm con giời lại muốn làm cả giời". Hậu quả do người lãnh đạo gây ra, không chỉ mình người đó mà còn cả cộng đồng phải gánh chịu, có khi rất nặng nề.

Soi vào một vài trường hợp cán bộ lãnh đạo cấp cao vừa rồi bị kỷ luật, không thể so sánh về tài năng, nhưng về nguyên nhân và "kết quả" thì thấy họ cũng gần giống như Napoléon vậy!

Phật giáo coi tính "tham" là nguyên nhân đầu tiên dẫn con người đến "bể khổ". Khổng Tử coi sự "tham lợi" chỉ có ở kẻ "tiểu nhân". Bác Hồ dạy cán bộ phải biết: "Ít lòng tham muốn về vật chất"! Mọi cán bộ đều phải thế, cán bộ lãnh đạo càng phải thế!

Về giải pháp ngăn chặn, căn cứ vào tư tưởng biện chứng của Lenin từ "trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng", đối chiếu với quan niệm về đặc trưng tâm lý người lãnh đạo mới nhất của thế giới hiện nay, thì lời Bác Hồ dạy vẫn là bài học đúng đắn, thiết thực. Cụ thể nhất là lấy gương người tốt-việc tốt hằng ngày để giáo dục lẫn nhau. Đây là một truyền thống văn hóa phương Đông mà chính Bác Hồ giải thích: "Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền". Ở phương Tây, một số vị tổng thống khi nhậm chức thường đặt tay lên cuốn Kinh Thánh là một cách "hứa" sẽ làm theo những lời dạy mẫu mực, tức cũng coi đó là tấm gương. Vấn đề ở chỗ "làm gương" như thế nào, bằng cách nào?

Ở ngay lĩnh vực giáo dục cán bộ, đảng viên, Bác Hồ đã là nhà giáo dục lớn với tư tưởng và các biện pháp mang tính hệ thống, toàn diện, phù hợp. Theo Người, lấy những tấm gương "đảng viên đã vì Đảng, vì giai cấp, vì dân tộc mà oanh liệt hy sinh như đồng chí Lê Hồng Phong, Trần Phú, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Văn Cừ, Lương Khánh Thiện, Minh Khai, cùng trăm nghìn đồng chí khác... Máu xương của các tiên liệt đã thấm nhuần gốc rễ của Đảng ta, làm cho cây nó càng vững, ngành nó càng to, và kết quả khai hoa ngày càng rực rỡ"(4). Hình tượng ẩn dụ "cây" Đảng ta tươi tốt là nhờ "gốc rễ" được "thấm nhuần" máu xương của các bậc tiền bối thật giàu ý nghĩa biểu cảm này được Người nhiều lần nhắc lại. Thế hệ lãnh đạo đầu tiên ấy đã hy sinh trọn vẹn, tuyệt đối cho dân tộc, xứng đáng là tấm gương cho mọi thế hệ kế tục học tập, noi theo.

Bác Hồ từng nhấn mạnh những cán bộ chủ chốt, cấp cao phải tiên phong trong việc nêu gương. Trong "Bài nói chuyện tại phiên họp cuối năm của Hội đồng Chính phủ năm 1963", Người nhắc nhở: "Một điều rất quan trọng nữa là các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Có như thế mới xứng đáng với đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng chống đế quốc Mỹ và tay sai của chúng để giải phóng miền Nam và hòa bình thống nhất nước nhà. Nhân dân ta rất tốt. Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được"(5). Không chỉ là lời dạy về nội dung, còn là vấn đề phương pháp luận: Phải lấy tấm gương sáng nhất, cụ thể mà gần gũi để giáo dục. Thời điểm ấy, với các bộ trưởng, thứ trưởng... thì có tấm gương nào "sáng" hơn "đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng".

Một số cán bộ lãnh đạo mắc khuyết điểm vừa qua có nguyên nhân là phai mờ lý tưởng cộng sản, nhạt phai tinh thần tự nguyện cống hiến, hy sinh vì cách mạng, vì dân nên sa vào chủ nghĩa cá nhân, đúng như Bác nói, họ "coi Đảng như một cái cầu thang để thăng quan phát tài"(6). Xa dân nên thành "quan cách", không đoái hoài đến đời sống của dân, không chỉ không "cần kiệm" mà còn xa hoa, lãng phí. Do vậy quy trình bổ nhiệm cán bộ cấp cao cần hết sức chặt chẽ. Nhất thiết cán bộ đó phải kinh qua những cương vị lãnh đạo gần với dân, hiểu dân. Bởi có vậy họ mới thấm thía "một hột gạo, một đồng tiền, tức là một số mồ hôi nước mắt của đồng bào" nên có ý thức chi tiêu, sử dụng bất cứ cái gì cũng phải nghĩ đó là của dân. Chỉ khi nghĩ được như lời Bác dạy "hoang phí là một tội ác" thì mới biết trân trọng, giữ gìn tài sản của dân và danh dự của mình.

Những vụ việc ấy cho thấy bài học là còn nhiều cơ quan, tổ chức đảng coi nhẹ công tác tự phê bình và phê bình. Điều ấy có lý do từ căn tính tiểu nông cả nể đã ngàn xưa, với cán bộ chủ chốt thì sự cả nể càng tăng lên nhiều. Lại thêm tâm lý "chín bỏ làm mười", "xuê xoa", "an phận thủ thường", "đấu tranh là... tránh đâu"... nên lãnh đạo mắc khuyết điểm ngày thêm nặng mà không được góp ý, chỉ ra, ngăn chặn.

Rất nhiều lần Bác Hồ nhắc cán bộ phải "gương mẫu", "nêu gương", phải là "đầu tàu"... Không ít lần, Người mượn lời Khổng Tử dạy cán bộ mình có đứng đắn, trong sáng mới tề được gia, trị được quốc, bình được thiên hạ... Những lời dạy ấy không chỉ đúng với đạo lý mà còn là khoa học, biện chứng. Để có uy tín, để là tấm gương sáng, với người lãnh đạo-theo lời Bác dạy là phải "thực hành trước" các nguyên tắc "Cần, kiệm, liêm, chính", "chí công", "vô tư" . Một phương pháp sư phạm đã trở thành chân lý: Cách tốt nhất để giáo dục, thuyết phục người khác là giáo dục, thuyết phục bằng chính nhân cách mình!


VIỆT NAM TRÚNG CỬ HỘI ĐỒNG NHÂN QUYỀN LIÊN HỢP QUỐC NHIỆM KỲ 2023-2025

 Việt Nam là một trong 14 quốc gia được Đại hội đồng bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2023-2025.

Đêm muộn ngày 11/10, tại trụ sở Liên hợp quốc tại New York (Mỹ), Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bầu 14 quốc gia làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025, trong đó có Việt Nam.

Trong nhiệm kỳ 2023-2025, Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc được bầu mới 14 thành viên, trong đó khu vực châu Á – Thái Bình Dương bầu 4 thành viên. Tại cuộc bỏ phiếu, Việt Nam trúng cử và lần thứ hai trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2023-2025. Các thành viên khác trúng cử lần này gồm có: Algeria, Bangladesh, Bỉ, Chile, Costa Rica, Grudia, Đức, Kyrgyzstan, Maldives, Maroc, Romania, Nam Phi và Sudan.

Các thành viên Liên hợp quốc tham gia ứng cử được chia thành 5 khu vực địa lý, trong đó, nhóm châu Á - Thái Bình Dương là khu vực có sự cạnh tranh cao nhất cho vị trí thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ này với 7 nước giới thiệu ứng cử từ giữa năm 2020 (1 nước rút ứng cử vào phút chót). Việt Nam được các thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) nhất trí ủng hộ là ứng cử viên duy nhất của ASEAN cho vị trí này; đồng thời cũng là ứng cử viên châu Á duy nhất của Cộng đồng Pháp ngữ.

Việc trúng cử trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền, cơ quan có vai trò quan trọng hàng đầu trong hệ thống Liên hợp quốc trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, thể hiện sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những chính sách, nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền của người dân trên tất cả các lĩnh vực.

Đây cũng là sự kiện có ý nghĩa quan trọng, là bước tiến mới trong nỗ lực triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng XIII và Chỉ thị 25 của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến 2030.

Trả lời phỏng vấn báo chí ngay sau khi công bố kết quả, Trưởng đoàn Việt Nam, Thứ trưởng Ngoại giao Phạm Quang Hiệu khẳng định, kết quả này không chỉ cho thấy sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với thành tựu bảo đảm quyền con người của Việt Nam mà còn là thành quả từ sự chỉ đạo sát sao và tham gia trực tiếp của Lãnh đạo cấp cao, sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, trong đó có vai trò của các cơ quan truyền thông, báo chí trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Đây cũng là minh chứng cho thấy vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được củng cố, nâng cao.

Đại sứ Đặng Hoàng Giang -Trưởng Phái đoàn Việt Nam tại Liên hợp quốc, nhấn mạnh tầm quan trọng của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc và mức độ cạnh tranh cao giữa các nước ứng cử, nhất là trong nhóm châu Á-Thái Bình Dương. Song với sự đồng hành của các bộ, ngành, đội ngũ cán bộ ngoại giao cả ở trong và ngoài nước, đã hết sức nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, tiến hành vận động bài bản, chủ động, sáng tạo, đồng bộ và hiệu quả thời gian qua, đóng góp quan trọng vào kết quả này.

Với thông điệp tôn trọng và hiểu biết. Đối thoại và hợp tác. Tất cả các quyền con người - cho tất cả mọi người, trong nhiệm kỳ làm thành viên Hội đồng nhân quyền ba năm sắp tới, Việt Nam sẽ đóng góp trực tiếp vào công tác bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trên toàn thế giới, là một trong ba nhiệm vụ trụ cột của Liên hợp quốc.

Việt Nam sẽ thúc đẩy các ưu tiên đã được xác định khi tham gia Hội đồng nhân quyền thông qua đối thoại và hợp tác, nhất là về bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương và bảo đảm quyền con người trong ứng phó với các vấn đề toàn cầu. Điều này không chỉ góp phần giải quyết những quan tâm chung, cấp bách của nhân loại mà còn giúp mở ra những cơ hội chia sẻ và học hỏi những kinh nghiệm tốt, tranh thủ sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, giúp cho người dân Việt Nam được thụ hưởng các quyền con người, quyền công dân ngày càng tốt hơn.

Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, trực thuộc Đại hội đồng Liên hợp quốc, gồm có 47 thành viên, phân bổ theo khu vực địa lý (khu vực châu Á - Thái Bình Dương có 13 đại diện) và được Đại hội đồng Liên hợp quốc bầu trực tiếp thông qua bỏ phiếu kín. Mỗi nhiệm kỳ của một thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc kéo dài 3 năm. Nhiệm kỳ của thành viên mới bắt đầu từ ngày 1/1.

Việc Việt Nam lần thứ hai ứng cử và được tín nhiệm bầu vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những thành tựu của Việt Nam trong việc đảm bảo ngày càng tốt hơn các quyền của người dân trên tất cả các lĩnh vực chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa, giáo dục, tôn giáo, tín ngưỡng… Kết quả này cũng thể hiện vị thế và uy tín ngày càng cao của đất nước trên trường quốc tế.

Kể từ khi Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc được thành lập ngày 15/3/2006, Việt Nam luôn tham gia tích cực, có trách nhiệm vào các hoạt động của cơ quan này. Dấu ấn đậm nét phải kể đến là việc đảm nhiệm thành công vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016, góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước.

Ngày 12/11/2013, Việt Nam lần đầu tiên trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016.

Trong suốt nhiệm kỳ 2014-2016, Việt Nam luôn thể hiện là một thành viên nghiêm túc, có trách nhiệm, chủ động, tích cực và xây dựng; tham gia phát biểu, thảo luận tại hàng trăm cuộc họp, xây dựng và thương lượng các nghị quyết, quyết định của Hội đồng Nhân quyền, đóng góp vào việc bảo đảm các giá trị chung về quyền con người.

Việt Nam cũng nghiêm túc thực hiện cơ chế UPR (rà soát phổ quát định kỳ): Rà soát chuẩn bị báo cáo quốc gia chu kỳ I và chu kỳ II; đối thoại thẳng thắn với các nước tại phiên bảo vệ UPR; thực hiện nghiêm túc các khuyến nghị mà Việt Nam chấp thuận. Trong chu kỳ II, Việt Nam chấp nhận 182/227 khuyến nghị. Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch tổng thể để thực hiện các khuyến nghị. Nhiều bộ, ngành cũng đề ra các kế hoạch riêng về thực hiện khuyến nghị.

Tại khóa họp thường kỳ lần thứ 51 của Hội đồng Nhân quyền diễn ra từ ngày 12/9 đến 7/10 vừa qua, Đại sứ Lê Thị Tuyết Mai - Trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới và các tổ chức quốc tế khác tại Geneva (Thụy Sĩ), Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam dự khóa họp đã nhấn mạnh các ưu tiên và cam kết của Việt Nam khi ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025.

Theo đó, chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam lấy con người là trung tâm của sự phát triển, bảo đảm người dân được chia sẻ những thành quả của quá trình phát triển. Đại sứ nêu bật các nỗ lực, cam kết và thành tựu cũng như khả năng đóng góp của Việt Nam cùng cộng đồng quốc tế trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trên thế giới; thúc đẩy đối thoại, hợp tác tại Hội đồng Nhân quyền trên tinh thần khách quan và xây dựng, gắn liền với các trọng tâm của Liên hợp quốc và quan tâm chung của cộng đồng quốc tế như phát triển bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ và thúc đẩy quyền của các nhóm dễ bị tổn thương, bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ.

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH QUÂN ĐỘI LẦN THỨ X THÀNH CÔNG TỐT ĐẸP

 Chiều 12-10, Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Quân đội lần thứ X (2022-2027) đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình và kết thúc tốt đẹp.

Trong phiên làm việc buổi chiều, các đại biểu đã nghiêm túc, sôi nổi đóng góp ý kiến vào dự thảo Báo cáo chính trị của Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam trình đại hội và các văn kiện của Trung ương Đoàn trình Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lần thứ XII. Các ý kiến tham luận được chuẩn bị công phu, thể hiện trách nhiệm chính trị, tính chiến đấu cao. Chất lượng ý kiến tốt, có cơ sở lý luận và thực tiễn, tập trung làm rõ những nội dung quan trọng và bổ sung một số nội dung để hoàn thiện các báo cáo.

Đại hội nhất trí cao với Báo cáo chính trị với chủ đề “Thanh niên Quân đội trung thành, dũng cảm, khát vọng cống hiến, xung kích, sáng tạo, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Đại hội xác định chương trình hành động của công tác đoàn và phong trào thanh niên Quân đội 5 năm tới (2022-2027). Trong đó, tập trung thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và rèn luyện đoàn viên, thanh niên; triển khai hiệu quả phong trào“Thanh niên Quân đội rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới”; củng cố xây dựng tổ chức đoàn vững mạnh, góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu”; nâng cao chất lượng, hiệu quả phối hợp với tổ chức đoàn địa phương, đơn vị kết nghĩa, góp phần thực hiện tốt chức năng đội quân công tác; tham gia hiệu quả công tác đối ngoại quốc phòng, góp phần thực hiện chủ trương hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước, Quân đội.

Đại hội đã tiến hành bầu đoàn đại biểu Quân đội dự Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lần thứ XII (20 đại biểu chính thức, 5 đại biểu dự khuyết), với số phiếu tín nhiệm cao.

Sau 1,5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, trách nhiệm, Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Quân đội lần thứ X (2022-2027) đã kết thúc tốt đẹp, thể hiện bản lĩnh, khát vọng, ý chí cách mạng, nguyện vọng, niềm tin và trách nhiệm cao cả của tuổi trẻ Quân đội đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tuổi trẻ Quân đội nguyện ra sức thi đua, học tập, rèn luyện, kế tục và phát huy truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, nắm vững thời cơ, vượt qua thách thức, đoàn kết, phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”.

KHÔNG PHẢI NƯỚC NÀO CŨNG NHẬN ĐƯỢC LÒNG TIN TỪ LIÊN HỢP QUỐC NHƯ VIỆT NAM

 Trao đổi với phóng viên tại Australia, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải, nghiên cứu viên trung tâm Tương lai Chính sách, Đại học Queensland cho rằng Việt Nam có thể tự hào về những đóng góp của mình trên trường quốc tế cũng như các nỗ lực phát triển, đảm bảo quyền con người.

Đánh giá về thành tựu phát triển, đảm bảo quyền con người và vai trò vị thế của Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải nhắc lại câu nói của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải nhấn mạnh, câu này đã khái quát sự phát triển toàn diện các mặt của Việt Nam sau 35 năm thực hiện công cuộc Đổi mới, từ kinh tế đến an ninh-quốc phòng và đối ngoại.

Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải khẳng định vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam có được như ngày nay là nhờ vào sự đóng góp của Việt Nam trên trường quốc tế, trong đó có việc tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc (LHQ).

Chính vì sự tham gia của Việt Nam xuất phát từ ý thức trách nhiệm, chứ không phải xem đó là nghĩa vụ, nên Việt Nam đã giành được lòng tin của LHQ, các đối tác, và nước sở tại mà lực lượng gìn giữ hòa bình của Việt Nam có mặt. Theo ông, không phải nước nào, lực lượng gìn giữ hòa bình của nước nào cũng nhận được lòng tin như vậy.

Đề cập những nỗ lực, đóng góp của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải nêu bật Việt Nam là một trong số những nước tiên phong tham gia nhiều công ước quốc tế về quyền người, trong đó riêng công ước về quyền trẻ em, Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và thứ hai ở châu Á-Thái Bình Dương ký kết gia nhập và phê chuẩn công ước này.

Việt Nam cũng đã tham gia và phê chuẩn công ước về chống phân biệt đối xử với phụ nữ, công ước về quyền của người khuyết tật. Sau khi gia nhập và phê chuẩn các công ước này, Việt Nam đã chủ động và tích cực nội luật hóa những quy định của các công ước này. Nhờ đó, có thể nói rằng khung pháp luật quốc gia của Việt Nam trong việc bảo vệ quyền của những nhóm yếu thế này được hoàn chỉnh hơn và phù hợp, tương thích với các tiêu chuẩn quốc tế trong việc bảo vệ quyền của các nhóm này.

Ông Nguyễn Hồng Hải nhận định kinh tế phát triển đã góp phần to lớn vào thành tích xóa đói giảm nghèo của Việt Nam. Ông viện dẫn số liệu của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) trong giai đoạn 1993 - 2014, cho biết Việt Nam đã đưa hơn 40 triệu người, nghĩa là xấp xỉ một nửa dân số đất nước, thoát nghèo. Sự phát triển kinh tế vượt bậc của Việt Nam đã được nhiều chuyên gia quốc tế ghi nhận và dự đoán Việt Nam sẽ trở thành một con hổ, con rồng kinh tế Á Đông.

Trong hơn hai năm bị ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, với phương châm “không để ai bị bỏ lại phía sau”, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực để đảm bảo các quyền của người dân như được chăm sóc y tế miễn phí, tiêm vaccine phòng bệnh, có nhiều gói hỗ trợ doanh nghiệp và người dân gặp khó khăn.

Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải đánh giá đây là chủ trương và chính sách vừa nhân văn, vì người dân và cũng vừa vì sự phát triển của đất nước. Kết quả của chiến dịch tiêm vaccine Covid-19, thành tích kiểm soát dịch của Việt Nam để kinh tế đất nước có đà phục hồi như hiện nay là đáng tự hào.

Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải cho rằng trên bình diện quốc tế, việc Việt Nam tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của LHQ mang một ý nghĩa đặc biệt bởi Việt Nam từng là nạn nhân của chiến tranh, từng là nước đi tìm kiếm và mưu cầu hòa bình, nay là nước góp phần kiến tạo và xây dựng hòa bình cho những nước là nạn nhân của chiến tranh. Điều này cho thấy trách nhiệm của Việt Nam.


QUỐC TẾ CÔNG NHẬN THÀNH TỰU BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA VIỆT NAM

 Ngày 11-10-2022 tại Trụ sở Liên hợp quốc ở New York (Mỹ), Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bầu 14 quốc gia làm thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025, trong đó có Việt Nam. Đây là lần thứ hai Việt Nam trúng cử vào cơ quan này. Năm 2013, Việt Nam lần đầu tiên trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016.

Chúc mừng Việt Nam được bầu vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025, ông Veeramalla Anjaiah – một nhà nghiên cứu cao cấp thuộc Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á (CSEAS), nhà báo nổi tiếng người Indonesia đã khẳng định: đây là “sự công nhận” cam kết của Việt Nam trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người.

Ông nhấn mạnh: “Là một quốc gia có trách nhiệm, Việt Nam luôn ủng hộ việc bảo vệ quyền con người và nhân phẩm trên toàn cầu. Việt Nam cũng luôn tham gia các nỗ lực bảo vệ quyền con người ở Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác”.

Nhắc lại rằng không chỉ 9 nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) mà nhiều nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh đã bỏ phiếu tán thành Việt Nam trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, ông Anjaiah cho biết trên thực tế, người dân Việt Nam được hưởng nhiều quyền tự do và quyền con người.

Theo ông Anjaiah, Chính phủ Việt Nam luôn cam kết vì lợi ích của người dân và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Việt Nam đã đạt được những thành công và tiến bộ đáng kể trong tất cả các mục tiêu phát triển bền vững (SDG) của Liên hợp quốc với tổng cộng 72,76 điểm.

Ông Anjaiah đánh giá cao tỷ lệ nghèo của Việt Nam đã giảm xuống còn 2,23% vào năm 2021 từ mức 40,5% vào năm 2012. Điều này đồng nghĩa với việc Chính phủ Việt Nam đã thành công khi đưa hàng triệu người dân thoát khỏi cảnh đói nghèo.

70 NĂM CHIẾN DỊCH TÂY BẮC: NGHỆ THUẬT CHỈ ĐẠO CHIẾN TRANH XUẤT SẮC CỦA ĐẢNG.

 Chiến thắng Tây Bắc (Thu Đông 1952) trực tiếp mở ra những tiền đề thuận lợi để quân và dân ta giành thắng lợi to lớn trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ ngay trên chiến trường Tây Bắc.

Từ ngày 14/10 đến 10/12/1952, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân Việt Nam tổ chức thực hiện thành công Chiến dịch Tây Bắc, giáng đòn nặng nề vào chính sách xâm lược của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, đưa sự nghiệp kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta phát triển vững chắc. Năm nay, tròn 70 năm diễn ra sự kiện này.

Chọn địa bàn Tây Bắc để mở chiến dịch trong Thu Đông 1952.

Sau thắng lợi Chiến dịch Biên giới (1950), phát huy quyền chủ động, trong năm 1951, ta mở tiếp 3 chiến dịch lớn ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ (Chiến dịch Trần Hưng Đạo, Chiến dịch Hoàng Hoa Thám, Chiến dịch Quang Trung), nhưng không đạt được mục đích chiến lược đề ra và chịu nhiều tổn thất. Nguyên nhân chính là do ta chọn hướng chiến dịch không phù hợp, vì trung du và đồng bằng là nơi quân địch đông, phát huy được chỗ mạnh của chúng (về hỏa lực, sự cơ động); trong khi đó trình độ, trang bị của bộ đội chủ lực ta cũng còn nhiều hạn chế, nên chưa thể phát huy được sức mạnh và sở trường của mình.

Rút kinh nghiệm từ thực tế đó, nên bước sang năm 1952, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định chuyển hướng, chọn địa bàn Tây Bắc để mở chiến dịch trong Thu Đông 1952. Đây là quyết định rất đúng đắn, chính xác, bởi: Thứ nhất, Tây Bắc là chiến trường có tầm quan trọng về chiến lược, là cầu nối giữa căn cứ địa Việt Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4 của ta và vùng Thượng Lào, có đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc. Thứ hai, địa hình Tây Bắc chủ yếu là rừng núi chia cắt mạnh, địch khó phát huy thế mạnh của chúng (về pháo binh, không quân, sự cơ động), nhưng lại là nơi phù hợp với trình độ tác chiến và sở trường của bộ đội ta. Thứ ba, lực lượng quân địch cùng hệ thống phòng thủ Tây Bắc tương đối yếu, trong trường hợp bị ta tiến công, quân Pháp sẽ tăng viện đối phó, nhưng không thể khắc phục hết những khó khăn do chúng ở thế bị động, chiến trường rộng lớn, địa hình chia cắt. Ta tuy có gặp một số khó khăn (khó khăn lớn nhất là vấn đề bảo đảm hậu cần) song với quyết tâm cao có thể khắc phục được.

Sau thắng lợi Chiến dịch Biên giới (1950), ta khai thông biên giới Việt - Trung, phá được thế bị bao vây cô lập và tiếp nhận một số viện trợ từ các nước XHCN, tăng cường tiềm lực kháng chiến. Tuy nhiên, từ đây cũng ít nhiều nảy sinh tư tưởng dựa vào viện trợ nước ngoài, tỏ ra nôn nóng muốn “đánh lớn, thắng nhanh”. Mặt khác, do ta chủ quan trong nhận định tình hình nên các chiến dịch thực hiện trong năm 1951, ta thường đề ra nhiệm vụ cao hơn khả năng thực tế, chủ yếu tập trung vào nhiệm vụ quân sự là tiêu diệt sinh lực địch (càng nhiều càng tốt), phát triển chiến tranh du kích, tiến tới “tổng phản công”.

Nhưng lần này, mục đích, nhiệm vụ của Chiến dịch Tây Bắc được Bộ Chính trị họp bàn kỹ lưỡng. Tây Bắc (bao gồm các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái) là địa bàn có tầm quan trọng về chiến lược, nhưng do địch khủng bố, ra sức tuyên truyền xuyên tạc lừa bịp, nên hiểu biết của nhân dân về cách mạng, về đường lối kháng chiến của Đảng chưa đầy đủ, cơ sở quần chúng của cách mạng yếu, phong trào du kích chiến tranh phát triển không đều. Kinh tế vùng Tây Bắc nghèo nàn, lạc hậu, lại bị địch ra sức vơ vét, bóc lột nên đời sống nhân dân rất khó khăn. Trên cơ sở đó, Bộ Chính trị đề ra ba nhiệm vụ cụ thể của Chiến dịch Tây Bắc: 1- Tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch; 2 - Tranh thủ nhân dân; 3 - Giải phóng một bộ phận đất đai Tây Bắc. Ba nhiệm vụ có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó tiêu diệt sinh lực địch là nhiệm vụ chính. Như vậy, nhiệm vụ Chiến dịch Tây Bắc đã phản ánh sự kết hợp chặt chẽ, rõ nét hơn giữa nhiệm vụ quân sự với nhiệm vụ chính trị, đây cũng là nét mới về tư duy nghệ thuật quân sự nói chung, nghệ thuật chiến dịch nói riêng của Đảng ta.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh Chiến dịch

Ngay từ tháng 2/1952, Bộ Chính trị đã họp bàn và có ý định sơ bộ mở chiến dịch trên hướng Tây Bắc. Nhưng mọi công việc chuẩn bị chính thức bắt đầu từ tháng 4/1952, trước chiến dịch diễn ra khoảng 5 tháng.

Về tổ chức lực lượng, Bộ Chính trị nhất trí với đề nghị của Tổng Quân ủy, điều động các đại đoàn chủ lực (308, 312, 316) và một số đơn vị binh chủng cùng lực lượng vũ trang địa phương tham gia chiến dịch, do Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp chỉ huy. Tổng quân số trực tiếp chiến đấu trong phạm vi chiến dịch khoảng 35.000 quân (không kể quân số các hướng nghi binh phối hợp). Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp được cử làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Chiến dịch.

Công tác bảo đảm hậu cần được Trung ương Đảng đặc biệt coi trọng, vì Tây Bắc là chiến trường xa căn cứ hậu phương của ta, đường vận chuyển phải đi qua địa hình rừng núi hiểm trở, nguồn nhân lực, vật chất tại chỗ hạn chế. Nhưng với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, ta đã huy động được gần 20 vạn dân công từ khắp các Liên khu Việt Bắc, Khu Tây Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4 với tổng số gần 7 triệu ngày công tham gia phục vụ chiến dịch. Các địa phương đã cung cấp cho chiến dịch hơn 11.000 tấn gạo, cùng hàng trăm tấn thực phẩm, vật chất khác. Đặt trong hoàn cảnh chiến tranh và khó khăn ngày ấy, đây thực sự là cố gắng phi thường, biểu hiện ý chí cách mạng gang thép và lòng yêu nước nồng nàn của nhân dân ta, niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi cuối cùng của kháng chiến.

Đặc biệt trong chiến dịch này, Chủ tịch Hồ Chí Minh vượt bao khó khăn đường xa đến dự Hội nghị cán bộ bàn kế hoạch tác chiến Chiến dịch Tây Bắc (diễn ra từ ngày 6/9 - 9/9/1952), động viên cán bộ, chiến sĩ, dân công toàn mặt trận ra sức khắc phục mọi khó khăn, nêu cao ý chí quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Để giữ bí mật hướng chiến dịch, “vượt qua” hệ thống tình báo theo dõi của quân Pháp, Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tham mưu của ta đã chỉ đạo các địa phương, đơn vị làm tốt công tác phòng gian, bảo mật; đồng thời tổ chức kế hoạch nghi binh rất chu đáo, chặt chẽ. Theo đó, ta đưa một bộ phận quân chủ lực (Đại đoàn 320, Đại đoàn 304) cùng một số đại đội trinh sát của Bộ về tăng cường hoạt động ở Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình (thuộc đồng bằng Liên khu 3). Các đại đoàn trực tiếp tham gia chiến dịch Tây Bắc (308, 312, 316) đang đứng chân ở trung du Bắc Bộ được lệnh cơ động về Tây Bắc, để lại hệ thống điện đài thường dùng nguyên vị trí cũ và phát sóng theo phiên thường lệ... Hoạt động nghi binh đó của ta đã “đánh lừa” được Bộ chỉ huy quân Pháp. Chúng nhận định các đại đoàn 308, 312, 316 của ta “án binh bất động” ở trung du Bắc Bộ và phán đoán hướng tiến công chủ yếu của ta trong Thu Đông 1952 là đồng bằng Bắc Bộ và tìm cách chuẩn bị đối phó. Khi ta nổ súng chiến dịch Tây Bắc, quân Pháp rất bất ngờ, nhanh chóng rơi vào tình thế bị động, lúng túng và chịu thất bại. Đây cũng là nét đặc sắc về nghệ thuật nghi binh tài tình của ta.

Tiền đề quan trọng dẫn đến Chiến thắng Điện Biên Phủ

Chiến dịch Tây Bắc đã giành được thắng lợi to lớn. Ta diệt và bắt hơn 6.000 địch, giải phóng một vùng rộng lớn ở địa bàn chiến lược quan trọng (khoảng 30.000km2 với 250.000 dân), nối liền vùng giải phóng Tây Bắc với căn cứ địa Việt Bắc và Thượng Lào, giữ vững thế chủ động tiến công, làm thất bại âm mưu mở rộng chiếm đóng của địch, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của quân Pháp trên toàn chiến trường Đông Dương, đúng như tướng Pháp Nava (P. Henri Navarre) trong cuốn “Đông Dương hấp hối” sau này đã thừa nhận: Thất bại tại Tây Bắc đã làm tăng khó khăn từ phạm vi Việt Nam ra đến toàn Đông Dương và hoàn toàn bất ngờ đối với phía Pháp.

Chiến thắng Tây Bắc (Thu Đông 1952) trực tiếp mở ra những tiền đề thuận lợi để quân và dân ta giành thắng lợi to lớn trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ ngay trên chiến trường Tây Bắc, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp kéo dài 9 năm (1945 - 1954).

Hội thảo khoa học cấp quốc gia “Chiến thắng Tây Bắc 1952 – Tầm vóc lịch sử và bài học kinh nghiệm” được tổ chức vào 14/10 tại TP. Yên Bái (tỉnh Yên Bái). Hội thảo nhằm làm rõ bối cảnh tình hình quốc tế và trong nước; phân tích âm mưu, thủ đoạn, ý đồ của thực dân Pháp trong Thu-Đông năm 1952, đặc biệt là âm mưu tập trung lực lượng, đẩy mạnh càn quét, bình định quyết liệt, hòng mở rộng và kìm kẹp chặt vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng.


CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN KHÔNG THỜ BÁC HỒ, BÁC GIÁP... LẠI ĐI THỜ QUAN VŨ!

     Nhiều người Việt Nam vì mê tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, vốn chỉ 3 phần thực, bảy phần hư; trong đó tác giải luôn ưu ái nhà Thục Hán của Lưu Bị nên viết có phần ca ngợi một chiều. Quan Vũ theo đó mà được phong là "Thánh võ" của Trung Quốc, đặt ngang hàng với Khổng Phu Tử (Thánh văn). Quan Vũ chỉ là một võ tướng, vì kiêu căng tự phụ mà mất mạng ở Mạch Thành, mất luôn trong địa Kinh Châu, là nguyên nhân sâu xa khiến Thục Hán suy yếu và diệt vong vào năm 263. Luận về võ, Quan Vũ không bằng Lã Bố, cầm quân mưu trí thua xa nhiều vị tướng thời Tam Quốc như Từ Hoảng, Trương Liêu, Cam Ninh hay chính người anh em kết nghĩa vườn Đào là Trương Phi...
     Cái duy nhất mà Quan Vũ có là tín, nghĩa. Thế nhưng so với Hưng Đạo Vương, bỏ thù nhà vì tổ quốc và 3 lần chiến thắng quân Nguyên Mông. Đức Thánh Trần là một trong những anh hùng cổ kim hiếm gặp. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn làm Quốc công tiết chế, giữ ấn tín để chỉ đạo toàn bộ quân dân nhà Trần ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông, đội quân được coi là thiên hạ vô địch thời kỳ đó vào các năm 1258, 1285, 1288. Vị nguyên soái của hào khí Đông A (chữ Đông và chữ A ghép lại thành chữ Trần trong Hán tự). Hưng Đạo Vương mỗi khi ra trận thường sử dụng trường kiếm hoặc trường côn được bịt sắt nhọn một đầu. Hay Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, người cầm quân lỗi lạc, chiến thắng cả Pháp, Nhật, Mỹ, Trung Quốc, Khơ Me Đỏ... thì Quan Vũ không có cửa. Những Lý Thường Kiệt, Hưng Đạo Vương, Lê Lợi, Quang Trung, Võ Nguyên Giáp hơn xa những danh tướng trong thời đại Tam Quốc, thậm chí là cả lịch sử Trung Quốc.
     Việt Nam có lịch sử hào hùng, anh hùng, danh tướng như lộc biếc mùa Xuân. Có chăng là cách truyền đạt của ta còn nhiều hạn chế, khô khan và không đạt hiệu quả cao. Người Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản làm phim về lịch sử dân tộc họ rất thành công, nhiều chi tiết được thần thánh hóa nhưng người xem từ trong đến ngoài nước đều rất thích thú, hào hứng đón nhận. Họ làm được, tại sao chúng ta lại không? Trông người mà ngẫm đến ta, nghĩ rất buồn cho việc giáo dục lịch sử, truyền thông, điện ảnh nước nhà và cả những người làm công tác định hướng trên mặt trận văn hóa, tư tưởng và mặt trận giáo dục của nước nhà. Con người có tổ, có tông/ như cây có cội, như sông có nguồn! Việt Nam có nhiều anh hùng, danh tướng xứng đáng để thờ hơn Quan Vũ, tướng thất trận, làm quỷ không đầu. Người Cộng sản không thờ Bác Hồ, Bác Giáp...lại thờ Quan Vũ. Điềm rất gỡ, chê./.
Yêu nước ST.

“Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”

Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng”, ký tên Hồ Chí Minh; đăng trên Báo Cứu quốc, số ra ngày 17-10-1945.

 Cách mạng Tháng Tám thành công dẫn đến sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa. Đất nước ta, dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, đã xuất hiện một bộ phận nhỏ cán bộ có tư tưởng công thần, hách dịch, vun vén lợi ích cá nhân, thiếu sâu sát, quan tâm đến đời sống của quần chúng nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm phát hiện và Người viết bài đấu tranh, lên án gay gắt; đồng thời nghiêm khắc chấn chỉnh.

Suốt cuộc đời, Hồ Chí Minh luôn mưu cầu cuộc sống tốt đẹp cho mỗi người, quyền có cuộc sống ấm no, được học hành, được chăm sóc sức khỏe, trẻ em được nuôi dưỡng, chăm sóc, người già, người nghèo, người tàn tật được giúp đỡ. Các quyền con người về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội được chú trọng và hoàn thiện. Ở Bác, quyền dân tộc và quyền con người là thống nhất trong cả nhận thức và hành động, trong quan điểm, đường lối, chính sách và pháp luật mà Người mong muốn thực hiện. Không có độc lập chân chính, bền vững thì không thể thực hiện được quyền con người và thực hiện ngày càng tốt hơn các quyền cơ bản, thiết thực của con người.

Quán triệt tư tưởng của Người, những năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, quan tâm chăm lo nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân; chú trọng phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Những nhiệm vụ trọng tâm đó là sự thống nhất giữa quyền và lợi ích dân tộc với quyền, lợi ích và nghĩa vụ của con người, của công dân, như tâm nguyện của Bác kính yêu.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong quân đội luôn tập trung lãnh đạo, chỉ huy đơn vị hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xây dựng tổ chức đảng TSVM, đơn vị VMTD. Thường xuyên quan tâm, chăm lo bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội; coi đây là trách nhiệm, là tình cảm với bộ đội; hết lòng chăm lo xây dựng đơn vị, tôn trọng và thương yêu cấp dưới, để bộ đội yên tâm công tác, xác định tốt nhiệm vụ, thật sự làm cho cấp dưới kính trọng, tin tưởng, học tập và noi theo, góp phần giữ gìn và phát huy phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ.

Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt

“Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt”- Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Thư gửi các cán bộ, cô giáo, thầy giáo, công nhân viên, học sinh, sinh viên nhân dịp bắt đầu năm học mới”, đăng trên báo Nhân Dân, số 5299, ngày 16-10-1968. Đây là bức thư cuối cùng Người gửi cho ngành giáo dục nước nhà.

Sau khi dựng lên sự kiện “Vinh Bắc Bộ” (1964), từ năm 1965, đế quốc Mỹ sử dụng không quân, hải quân mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc; miền Bắc từ thời bình chuyển sang thời chiến, nhằm đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ và làm tròn vai trò, nhiệm vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Giữa muôn vàn khó khăn, dù tuổi Bác đã cao, sức Bác cũng đã yếu nhiều, nhưng Người vẫn luôn dành cho ngành giáo dục nước nhà sự quan tâm ần cần, đặc biệt, với bao tâm huyết, kỳ vọng để chuẩn bị tốt nhất nguồn nhân lực cao cho công cuộc kiến thiết nước nhà, sau khi Nam - Bắc sum họp một nhà.

Thực hiện lời dạy của Bác, đội ngũ nhà giáo, cán bộ, người lao động, học sinh, sinh viên, học viên ngành Giáo dục và Đào tạo không ngừng nỗ lực, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, mỗi nhà giáo luôn là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo, chung sức, chung lòng xây dựng một nền giáo dục vững mạnh, đã đào tạo cho đất nước nguồn nhân lực chất lượng ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu trong công cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay, xứng đáng với nhận định của Bác về nghề dạy học: “Nhiệm vụ của cô giáo, thầy giáo là rất quan trọng và rất vẻ vang”... Lớp lớp các thế hệ học sinh, sinh viên, học viên… luôn tâm niệm sâu sắc lời Bác dạy năm xưa, đoàn kết, thi đua: “Học, học nữa, học mãi”, “Học để lập thân, lập nghiệp”… vươn lên giành nhiều thành tích cao trong học tập, rèn luyện. Hằng năm, các đội tuyển học sinh Việt Nam tham dự các kỳ thi cấp châu lục và thế giới đều đạt giải cao, góp phần nâng cao uy tín, vị thế nước nhà trên trường quốc tế, thiết thực góp phần chuẩn bị tốt để đất nước hội nhập, phát triển trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

Các học viện, nhà trường, giáo viên, học viên trong quân đội đã luôn chủ động khắc phục khó khăn, gian khổ, thi đua “Dạy tốt, học tốt, phục vụ tốt” đào tạo kịp thời, có chất lượng hàng chục vạn cán bộ có chất lượng tốt cung cấp cho các cơ quan, đơn vị trong toàn quân, đáp ứng kịp thời trong điều kiện chiến tranh cũng như giai đoạn hiện nay. Đối với các cơ quan, đơn vị, học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, đã cụ thể hoá thành  các phong trào thi đua: “Huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm, sẵn sàng chiến đấu cao”, “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu”… góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Tư tưởng đoàn kết tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh

“Đức Giêsu hy sinh vì muốn loài người được tự do hạnh phúc, đồng bào ta cả lương cả giáo cũng vì tự do hạnh phúc cho toàn dân mà hy sinh phấn đấu”- Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết “Lời cảm ơn đồng bào công giáo”, Người viết ngày 14-10-1945, ký tên Hồ Chí Minh, đăng trên báo Cứu quốc, số 70, ngày 18-10-1945.

Trong tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh, tư tưởng đoàn kết tôn giáo là bộ phận không thể tách rời. Đoàn kết tôn giáo cũng chính là đoàn kết dân tộc. Người đã tìm ra sự tương đồng giữa các tôn giáo, lấy đó làm cơ sở khoa học cho việc thực hiện đoàn kết tôn giáo qua lý giải: Các tôn giáo chân chính đều có hy vọng giải thoát con người, mong muốn con người được tự do, sung sướng, hạnh phúc: Phật sinh ra để lợi lạc quần sinh, vô ngã vị tha, Đức Giêsu hy sinh là vì muốn loài người được tự do, hạnh phúc, Khổng Tử sinh ra cũng là để giúp con người sống nhân nghĩa vì một thế giới đại đồng; tín đồ tôn giáo nhìn chung đều là những người lao động bị chế độ cũ áp bức, bóc lột, họ có quyền mưu cầu hạnh phúc, họ là những người yêu nước và cũng là lực lượng không thể thiếu của cách mạng, là bộ phận quan trọng trong khối đại đoàn kết toàn dân với tư cách là chủ thể của cách mạng.

Tư tưởng đoàn kết tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn được Đảng, nhà nước ta kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo phù hợp tình hình thực tiễn. Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo nào của nhân dân; đồng thời xác định: “Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo”. Điều này được hiến định tại Khoản 1, Điều 14 Hiến pháp năm 2013: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” và tại Điều 6, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo có hiệu lực từ ngày 1-1-2018.

Sự thật hiển nhiên là thế, nhưng các thế lực thù địch luôn lợi dụng vấn đề tự do, tín ngưỡng, dân chủ, nhân quyền để xuyên tạc, kích động,… hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Có thể khẳng định, không một quốc gia đa tôn giáo nào trên thế giới mà các tôn giáo lại sống bình đẳng như ở Việt Nam, một đất nước không có xung đột sắc tộc, xung đột tôn giáo. Đó là sự thật! Tự nó bác bỏ mọi sự xuyên tạc, kích động hòng chia rẽ tôn giáo với chính quyền, chia rẽ những người theo tôn giáo và không theo tôn giáo, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thấu triệt lời Bác Hồ dạy năm xưa, cán bộ chiến sĩ các cơ quan, đơn vị trong toàn quân luôn quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về công tác tôn giáo; căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm, tình hình địa bàn đóng quân để xây dựng kế hoạch, đề ra nhiều giải pháp cụ thể, phù hợp, tích cực tổ chức thực hiện công tác tôn giáo, tham gia xây dựng cơ sở chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh vùng đồng bào có đạo trên địa bàn cả nước một cách cụ thể, thiết thực. Trong nội bộ từng cơ quan, đơn vị, cấp uỷ, chỉ huy luôn quan tâm xây dựng tốt mối quan hệ đoàn kết, giúp đỡ nhau trên tình thương yêu giai cấp, tình đồng chí, nghĩa đồng đội giữa cán bộ, chiến sĩ theo tôn giáo và không theo tôn giáo đều chung sức, đồng lòng xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

“Việc nước và việc nhà bao giờ cũng đi đôi với nhau”

“Việc nước và việc nhà bao giờ cũng đi đôi với nhau” - Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Thư gửi các giới công thương Việt Nam”, ký tên Hồ Chí Minh, đăng trên báo Cứu quốc, số 66, ngày 13-10-1945.

Ngay sau cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền cách mạng còn non trẻ vừa mới ra đời, giữa những bộn bề công việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giành thời gian để gặp gỡ giới công thương Việt Nam nhằm tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của họ đối với việc khôi phục, phát triển kinh tế đất nước.

Trong thư Người đã phân tích, luận giải thấu đáo mối quan hệ biện chứng giữa lợi ích của tập thể với lợi ích của cá nhân. Tính nguyên tắc trong giải quyết mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể mà Hồ Chí Minh đã chỉ ra vẫn còn giữ nguyên giá trị. Tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, hết lòng hết sức vì nhiệm vụ cách mạng, vững vàng trước khó khăn, thử thách, tỉnh táo, sáng suốt trong công danh, tiền tài, địa vị là những chuẩn mực cơ bản đòi hỏi người cán bộ, đảng viên phải hiểu và làm cho đúng.

Thấu triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc giải quyết hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, Đảng, Nhà nước ta luôn coi đây là vấn đề có tính nguyên tắc; đó là tất cả vì con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Kết hợp hài hoà, giải quyết đúng đắn các mối quan hệ lợi ích là nhằm phát huy nhân tố con người, nguồn lực con người, tiềm năng con người cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sức mạnh và nguồn lực quốc gia của sự phát triển bao gồm cả nhân lực, vật lực, cả nội lực và ngoại lực, cả nguồn lực vật chất và nguồn lực tinh thần, truyền thống và hiện đại, trong đó nguồn lực con người là trung tâm và quan trọng nhất.

Cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện, luôn đặt lên hàng đầu chức năng, nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam, thể hiện ở ý thức, trách nhiệm chính trị và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ theo cương vị, chức trách của từng cá nhân. Chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Đảng, của quân đội và quy định của đơn vị, thường xuyên nêu cao tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình, sống trong sạch, giản dị, khiêm tốn, chính trực, vượt qua mọi cám dỗ tầm thường về vật chất, danh vị… luôn đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên, lên trước, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”, với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

“Sao cho được lòng dân”

“Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”- Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Sao cho được lòng dân”, với bút danh Chiến Thắng, đăng trên Báo Cứu quốc, số 65, ra ngày 12-10-1945.

Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời đã mở ra một trang sử mới cho dân tộc ta; song Chính phủ mới gặp rất nhiều khó khăn, thách thức. Thù trong, giặc ngoài, điên cuồng quấy phá, tìm mọi cách lật đổ chính quyền non trẻ của chúng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Sao cho được lòng dân” để căn dặn các cán bộ, đảng viên, bộ đội, công an của chính quyền mới phải luôn đặt quyền lợi của nhân dân lên trên, lên trước, việc gì có lợi cho dân phải kiên quyết làm, làm cho bằng tốt. Theo quan điểm của Bác, một nhà nước thật sự là nhà nước của dân, do dân, vì dân phải coi việc phục vụ nhân dân, đem lại lợi ích chính đáng cho nhân dân là mục tiêu, phương hướng hoạt động của mình. Người chỉ rõ: Chế độ ta là chế độ dân chủ. Nhân dân là chủ. Chính phủ là đầy tớ của nhân dân.

Thấu triệt quan điểm của Người, Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán và triển khai quyết liệt, đồng bộ chủ trương xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân. Quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực được mở rộng và phát huy, một số chính sách và quy chế bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân, trước hết ở cơ sở, bước đầu được mở rộng, thực hiện. Đáng chú ý là hệ thống pháp luật được đổi mới, bổ sung và tăng cường, chất lượng các kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp được nâng cao; phương thức quản lý, điều hành của bộ máy nhà nước sâu sát, thực tế hơn, tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong xã hội, các hoạt động của ngành tư pháp, toà án, viện kiểm sát có nhiều tiến bộ… Việc đổi mới nhà nước đúng định hướng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, lành mạnh hoá các mặt văn hoá, xã hội, giữ vững sự ổn định lâu dài của đất nước.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam - một đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, đã không tiếc máu xương, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để giải phóng đất nước, giải phóng nhân dân khỏi ách đô hộ của đế quốc, thực dân trong các cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, hết lòng, hết sức giúp đỡ dân, bảo vệ dân, giúp dân xoá đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng chống thiên tai, thảm hoạ, cứu hộ, cứu nạn, đồng hành cùng ngư dân nơi đầu sóng ngọn gió, nơi phên dậu của Tổ quốc… đã góp phần cùng với cả hệ thống chính trị xây dựng “Thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc, giữ vững và không ngừng phát huy phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới.

"Khuyết điểm nặng nhất của cán bộ và nhân dân là chủ quan"

“Khuyết điểm nặng nhất của cán bộ và nhân dân là chủ quan”- Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết “Phải thi đua chống hạn, diệt sâu, để nắm chắc vụ mùa thắng lợi”, bút danh Trần Lực, đăng trên Báo Nhân dân, số 1672, ngày 11-10-1958.

Trong hoàn cảnh ngành nông nghiệp đứng trước nhiều thách thức, hạn hán, sâu bệnh, ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất tại nhiều địa phương trên cả nước. Qua nghe báo cáo và thực tế kiểm tra, Bác nhận thấy nhân dân và các cán bộ thấy lúa tốt thì ít săn sóc, thấy sâu nhiều thì ngại khó, đấy là một sự chủ quan hết sức nguy hiểm, Người đã viết bài để kịp thời nhắc nhở, phê bình và chấn chỉnh cán bộ và nhân dân không được chủ quan coi thường sâu bệnh, hạn hán để có được vụ mùa thắng lợi.

Nếu cán bộ, đảng viên mắc căn bệnh chủ quan, duy ý chí sẽ dẫn đến đề ra các chủ trương, quyết sách lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý điều hành xã hội xa rời thực tiễn; đường lối, chủ trương, quyết sách không phản ánh lợi ích của tập thể, không thể hiện được ý chí của quần chúng nhân dân. Mặt khác căn bệnh chủ quan, duy ý chí sẽ khiến con người ta tuyệt đối hóa vai trò cá nhân, biện pháp mệnh lệnh hành chính, hành động bất chấp quy luật khách quan. Đặc biệt đối với những người có chức, có quyền mắc bệnh chủ quan, duy ý chí sẽ dẫn tới tình trạng lạm dụng chức quyền, mất dân chủ, thờ ơ với tâm tư, nguyện vọng của quần chúng… Những hệ lụy tiêu cực từ căn bệnh chủ quan, duy ý chí đối với đời sống kinh tế-xã hội là hết sức khó lường.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải thường xuyên rèn luyện cho mình phương pháp, tác phong công tác khoa học, thiết thực và hiệu quả, để từ đó không mắc vào căn bệnh chủ quan, duy ý chí. Mặt khác, phải đề cao ý thức tự chủ, phát huy tốt dân chủ, thực hiện tốt quyền dân chủ của quần chúng nhân dân. Đề cao dân chủ sẽ giúp cho cán bộ, đảng viên chống được căn bệnh gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền, phát huy tốt tính tích cực, năng động, sáng tạo của quần chúng nhân dân và trí tuệ của tập thể trong thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ.

Thấu triệt lời Bác Hồ dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta phải luôn rèn luyện và thực hành tốt tính sâu sát, tỉ mỉ, cụ thể, phải mắt thấy, tay sờ, tai nghe… nhất là trong chiến đấu. Có như vậy mới biết địch, biết ta, mới đưa ra được cách đánh phù hợp nhằm tiêu diệt, tiêu hao nhiều nhất vũ khí, sinh lực địch, hạn chế thấp nhất thương vong cho bộ đội và nhân dân để giành thắng lợi trong chiến đấu cũng như trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn sắc son lời thề danh dự “… thắng không kiêu, bại không nạn, gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng, vào sống ra chết cũng không nản chí, “nhiệm vụ vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” mãi mãi xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”.

Quan điểm “thêm bạn, bớt thù” trong đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh

“Chúng ta phải hết sức khôn khéo, đứng trước bất kỳ kẻ thù nào, người cách mạng cũng phải hiểu rõ chúng là ai; mạnh yếu chỗ nào, tranh thủ và cô lập ai?…”- Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi trả lời các vấn đề đối ngoại của chính phủ mới với Đoàn đại biểu công nhân Thành Hoàng Diệu ngày 9-10-1945 tại Bắc Bộ phủ, do ông Trần Danh Tuyên dẫn đầu.

Lịch sử dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta và trí tuệ, tư duy sắc bén của Hồ Chí Minh đã nhắn nhủ Người phải kiên trì thực hiện quan điểm “thêm bạn, bớt thù” trong mọi suy nghĩ và hành động. Bài học ấy một lần nữa được phát huy, góp phần cô lập kẻ thù, đồng thời tận dụng sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ trên thế giới trong cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay.

Thấu triệt lời Bác dạy, vận dụng, phát triển quan điểm, tư tưởng của Người về bạn, thù, Đảng, Nhà nước ta đã khởi sướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đồng bộ đất nước đạt được những thành quả to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Hơn ba mươi năm đổi mới trên đất nước ta đã có vô số cái mới không ngừng nảy nở, vun trồng, phát triển trực tiếp góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: Mới trong tư duy lý luận; mới trong chủ trương, đường lối của Đảng; mới trong lao động sản xuất; mới trong sáng tạo văn hóa, nghệ thuật của quần chúng nhân dân…

Những cái mới được hòa quyện giữa truyền thống văn hóa dân tộc với giá trị thời đại để trở thành căn cứ chủ yếu của chính sách đối nội, đối ngoại cùng với kế sách xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan điểm về “đối tác, đối tượng” là một trong những cái mới làm nên bước đột phá mở đầu cho sự nghiệp đổi mới thắng lợi, góp phần khẳng định trí tuệ, bản lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam - một đảng cộng sản chân chính, xứng đáng là lực lượng duy nhất lãnh đạo toàn dân, toàn quân tiến hành sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn xác định rõ kẻ thù, đánh giá đúng ưu điểm, thế mạnh của địch để kìm chế, phát hiện khuyết điểm, sơ hở của địch để khoét sâu, đánh hiểm; phát huy sức mạnh của ta, kết hợp giữa đánh với đàm, nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, hạn chế thấp nhất thương vong cho bộ đội và nhân dân. Tăng cường đối ngoại quân sự song phương và đa phương; đẩy mạnh các hoạt động giao lưu, kết nghĩa đúng với tinh thần “thêm bạn, bớt thù” để góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng biện pháp hoà bình vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Phải chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, cân nhắc cán bộ miền núi

“Phải chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, cân nhắc cán bộ miền núi” - là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong buổi nói chuyện tại Hội nghị tổng kết cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp, phát triển sản xuất, kết hợp hoàn thành cải cách dân chủ ở miền núi ngày 8-10-1961, được báo Nhân dân, đăng số 2757, ngày 9-10-1961.

095417-bac-ho
Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào các dân tộc Việt Nam. Ảnh: Tư liệu

Thực hiện Chỉ thị số 156-CT/TW ngày 25 tháng 8 năm 1959 của Trung ương Đảng về việc tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp kết hợp hoàn thành cải cách dân chủ ở miền núi miền Bắc nước ta, sau hai năm triển khai thực hiện quyết liệt, Cuộc vận động đã đạt được kết quả bước đầu rất quan trọng, đánh thức tiềm năng, thế mạnh của một vùng miền núi rộng lớn có vị trí, ý nghĩa chiến lược quan trọng của đất nước. Tuy nhiên, phong trào hợp tác hoá nông nghiệp ở miền núi phát triển chưa đều, một số chính sách cụ thể thích hợp với miền núi chưa được quy định, công tác tư tưởng trong hợp tác xã chưa được chú ý, công tác quản lý hợp tác xã còn rất lúng túng. Nhiều nơi chi bộ, ủy ban hành chính và các đoàn thể nhân dân chưa được vững mạnh. Có những xã chưa có chi bộ đảng. Lực lượng cán bộ các dân tộc nói chung thiếu và yếu. Do vậy, Bác đã có những chỉ đạo rất sát đúng, kịp thời về mọi mặt; trong đó, cần phải hết sức chú trọng đến công tác cán bộ - cái gốc của mọi công việc.

Thực hiện huấn thị của Bác, trong suốt quá trình xây dựng và phát triển, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số. Nghị quyết số 24 khóa IX của Đảng về công tác dân tộc đề ra mục tiêu: “Xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số có phẩm chất chính trị, năng lực công tác và uy tín, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới; có cơ cấu, số lượng cán bộ phù hợp trong hệ thống chính trị”. Thực hiện chính sách về công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước, đội ngũ cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số đã thực sự được nâng cao cả về chất lượng và số lượng, góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số miền núi. Đặc biệt, công tác đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số đã từng bước hoàn thiện, chuẩn hóa, nâng cao về chất lượng, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, góp phần tích cực vào sự phát triển của các địa phương miền núi, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa miền núi với miền xuôi.

Thấu triệt lời Bác dạy, Quân đội đã chủ động làm tốt việc tuyển chọn, đào tạo, sử dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số từ sớm, thông qua việc mở các lớp thiếu sinh quân để đào tạo con em đồng bào dân tộc thiểu số từ các bậc học phổ thông, đào tạo tại các trường sĩ quan, cao đẳng, trung cấp. Đã có hàng vạn lượt con em đồng bào dân tộc thiểu số trên khắp cả nước được nuôi dưỡng, đào tạo trong môi trường quân đội; nhiều đồng chí trở thành cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước, các ban, bộ, ngành trung ương và địa phương, trở thành tướng lĩnh trong quân đội và có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đúng như tâm nguyện của Bác kính yêu.

“Không phải đã hòa bình thì thỏa mãn mà còn phải đấu tranh phức tạp, gian khổ, lâu dài..."

“Không phải đã hòa bình thì thỏa mãn mà còn phải đấu tranh phức tạp, gian khổ, lâu dài. Cách đấu tranh có thay đổi là đấu tranh trong hòa bình, mà đấu tranh trong hòa bình còn gian khổ phức tạp hơn thời kỳ chiến tranh...” Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu tại Hội nghị cán bộ ngày 7 tháng 10 năm 1954.

77d5063829t7603l23
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Nhà máy diêm Thống Nhất những năm đầu khôi phục kinh tế sau Chiến thắng Điện Biên Phủ. Ảnh: Tư liệu

Sau Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7-5-1954), Hiệp định Geneve được ký kết, cuộc chiến tranh kết thúc. Quân Pháp rút về nước, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng. Theo Hiệp định Geneve, sau hai năm sẽ tổ chức tổng tuyển cử thống nhất nước Việt Nam. Nhưng đế quốc Mỹ với ý đồ xâm lược Việt Nam từ lâu, đã lợi dụng cơ hội, gạt Pháp ra, nhảy vào tổ chức, chỉ huy nguỵ quyền, nguỵ quân tay sai, viện trợ kinh tế quân sự, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, chia cắt lâu dài nước ta.

Cả dân tộc ta lại bước vào chiến đấu chống xâm lược mới. Miền Bắc ra sức củng cố, xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm căn cứ địa vững chắc cho cách mạng cả nước; miền Nam từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và khởi nghĩa từng phần, đánh bại cuộc chiến tranh một phía của Mỹ.

Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là khát vọng lớn lao của nhân dân ta, là yêu cầu của lịch sử giao phó, đó cũng đồng thời là nhiệm vụ của toàn quân, toàn dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng ta.

Bởi thế, để Đảng trong sạch, vững mạnh, giữ vững vai trò tiền phong, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ mà Tổ quốc và nhân dân giao phó, tất yếu đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải nghiêm túc tự chỉnh đốn, nâng cao tinh thần đạo đức cách mạng, phòng và chống chủ nghĩa cá nhân, chống tư tưởng thoả mãn, công thần…

Thấu triệt lời Bác dạy, Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc sự nghiệp cách mạng là lâu dài, khó khăn và phức tạp; do vậy đã nghiêm túc đề cao tự phê bình và phê bình, chấn chỉnh những hạn chế, khuyết điểm, xác định đường lối, chủ trương đấu tranh cho phù hợp với sự phát triển của thực tiễn giành được những thắng lợi vẻ vang có ý nghĩa lịch sử to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và thành công trong sự nghiệp đổi mới hơn 30 năm qua, vị thế, uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng ta và Bác Hồ sáng lập, lãnh đạo, rèn luyện đã không ngừng lớn mạnh và trưởng thành, là lực lượng nòng cốt cùng với toàn Đảng, toàn dân chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giành độc lập dân tộc.

Nhớ lời Bác dạy năm xưa, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn đề cao cảnh giác cách mạng, thi đua huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao, rèn luyện nghiêm, dân vận tốt, xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diên, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, quyết không để bị động, bất ngờ trước mọi tình huống, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước, nhân dân tin tưởng, giao phó, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới.

“Muốn cho danh chính, lợi chính, thì làm sao cho dân tộc mình có danh với thế giới và làm thế nào cho tranh được lợi với thế giới..."

“Muốn cho danh chính, lợi chính, thì làm sao cho dân tộc mình có danh với thế giới và làm thế nào cho tranh được lợi với thế giới..." Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài “Nói chuyện với đại biểu các báo chí về nội trị, ngoại giao nước nhà trong những ngày vừa qua”, Người nói ngày 6 tháng 10 năm 1945; đăng trên Báo Cứu quốc, số 61, ngày 8 tháng 10 năm 1945.

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời - một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Tuy nhiên, những năm tháng đầu sau ngày độc lập, chúng ta gặp phải muôn vàn khó khăn, thách thức, cùng lúc phải đối phó với giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm; chính quyền mới được thành lập chưa được củng cố, lực lượng vũ trang còn non yếu và những tàn dư của xã hội cũ còn sót lại trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; trong đó, có hiện tượng một số ít cán bộ ham muốn danh, lợi nên chưa thật sự tận tâm, tận lực phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều bài viết, bài nói giải thích về danh và lợi cho cán bộ, đảng viên các cấp, các ngành để họ nắm rõ, hiểu đúng và hành động đúng. Theo Bác, danh - nghĩa là phải làm tròn bất kỳ nhiệm vụ nào nhân dân giao phó thì đều là danh dự, là vẻ vang, là anh hùng, nếu phải hy sinh tính mạng thì tiếng thơm lưu truyền mãi mãi.

Về lợi, Hồ Chí Minh thường nhắc nhở cán bộ, đảng viên đối với công việc hằng ngày “Việc gì có lợi cho dân, thì phải làm cho kỳ được. Việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh” và việc gì dù lợi cho mình, phải xem xét có lợi cho nước hay không?

Nếu không có lợi mà có hại cho nước thì quyết không làm. Khi phải cân nhắc, chọn lấy một, giữa lợi ích riêng và lợi ích chung, thì phải chọn lợi ích chung, phải hy sinh lợi ích riêng cho lợi ích chung, vì lợi ích cho nước tức là lợi ích cho mình, lợi ích chung của đất nước của dân tộc có thắng lợi thì lợi ích riêng của gia đình thắng lợi. Hồ Chí Minh từng chỉ rõ chủ nghĩa cá nhân – căn bệnh luôn đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc, chính là cha đẻ của tư tưởng danh lợi chỉ muốn làm ông này, ông khác, bà này, bà khác. Tư tưởng danh lợi lại đẻ ra trăm thứ bệnh.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, các thế hệ cán bộ, đảng viên của Đảng đã luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc và nhân dân lên trên, lên trước, sẵn sàng chiến đấu, hi sinh vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, luôn đồng cam, cộng khổ với quần chúng nhân dân, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” thực sự là hạt nhân lãnh đạo, đoàn kết đã cùng với toàn dân, toàn quân làm nên những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam.

Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, sa đà vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi…. làm giảm sút lòng tin đối của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ, cần phải kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội là hạt nhân lãnh đạo, đoàn kết ở đơn vị, say mê, gắn bó hết mình với công việc, chức trách, nhiệm vụ được giao; có ý thức tiết kiệm của công, không tham nhũng, lãng phí; công minh, chính trực, thẳng thắn đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực; không quản hy sinh, gian khổ; luôn chấp hành và gương mẫu đi đầu trong mọi công việc; sẵn sàng đến những nơi khó khăn vất vả, từ biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa; có lối sống trung thực, giản dị, gần gũi, thương yêu đồng chí, đồng đội; có tinh thần đoàn kết, bao dung, độ lượng, vị tha. Gương mẫu trong mọi lúc, mọi nơi, luôn đi đầu gương mẫu trong thực hiện thắng lợi mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ của quân đội, là chỗ dựa tin cậy của bộ đội.

“…Không biết tự quyết, tự định cái gì, như vậy làm sao công tác phát triển được..."

“…Không biết tự quyết, tự định cái gì, như vậy làm sao công tác phát triển được. Có mắt ta phải trông, có óc ta phải nghĩ, có tay ta phải làm chứ. Nhưng tự động không phải tự tiện”. Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Tinh thần chủ động trong Ủy ban nhân dân”, bút danh Chiến Thắng, đăng trên Báo Cứu quốc, số 59, ngày 5 tháng 10 năm 1945.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh  bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; từ đây chính quyền cách mạng được thiết lập từ Trung ương đến cơ sở, song chính quyền mới phải đối diện với muôn vàn khó khăn, gian khổ, đặc biệt về công tác cán bộ vừa thiếu, vừa yếu, kinh nghiệm trong quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện còn nhiều hạn chế. Để khắc phục, chấn chỉnh những bất cập, khó khăn trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài để huấn thị đội ngũ cán bộ các cấp.

Cán bộ và công tác cán bộ luôn là vấn đề quan trọng, có ý nghĩa quyết định tới sự thành bại của cách mạng. Xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng trong từng thời kỳ được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm, với việc ban hành nhiều quyết sách quan trọng về cán bộ và công tác cán bộ; kiên trì, kiên quyết lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện và đã đạt được những kết quả quan trọng.

Phần lớn đội ngũ cán bộ có lập trường tư tưởng vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức, lối sống giản dị, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, hoàn thành nhiệm vụ được giao; nhiều cán bộ năng động, sáng tạo, thích ứng với xu thế hội nhập, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế…

Tuy nhiên, bên cạnh đó, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ đến nay vẫn còn một số hạn chế, bất cập, nhất là việc điều động, bổ nhiệm vi phạm nguyên tắc, lợi ích nhóm, tệ nạn chạy chức, chạy quyền diễn ra ở một số cơ quan, địa phương… gây bức xúc trong dư luận.

Công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội là một bộ phận quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng; một nội dung cơ bản của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Trước yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thì nhiệm vụ xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Quân đội càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Cấp uỷ, chỉ huy các cấp trong toàn quân đã tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch; có tinh thần trách nhiệm cao, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; có ý thức tổ chức kỷ luật cao, tận tâm, tận lực với công việc, gương mẫu trong cả lời nói và việc làm, khả năng tư duy sáng tạo, năng lực lãnh đạo, chỉ huy giỏi; trình độ, kiến thức chuyên môn ngày càng cao; có uy tín trong tập thể; sức khỏe và độ tuổi phù hợp, luôn gần gũi, sâu sát với bộ đội, làm nòng cốt trong xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, đảm bảo cho Quân đội không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

“Cán bộ chăm chỉ làm việc chưa đủ, cần phải biết làm việc cho có phương pháp...”

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Thiếu óc tổ chức - một khuyết điểm lớn trong các Ủy ban nhân dân”, bút danh Chiến Thắng, đăng trên Báo Cứu quốc, số 58, ngày 4 tháng 10 năm 1945.

Đây là thời điểm đất nước mới giành được độc lập, chính quyền cách mạng mới được thiết lập, phải đối diện với một khối lượng lớn công việc cần được giải quyết, đòi hỏi đội ngũ cán bộ các cấp phải dốc hết tâm huyết, nhiệt tình, trách nhiệm, song cần phải có sự tổ chức khoa học, hiệu quả. Do vậy, Bác đã viết bài để căn dặn đội ngũ cán bộ các cấp chỉ làm việc chăm chỉ là chưa đủ, mà phải làm việc khoa học, mới mang lại hiệu quả cao trong tổ chức, sắp xếp công việc của chính quyền mới.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém” và “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Thấu suốt quan điểm của Người, trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta luôn coi cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của dân tộc, chế độ; là khâu then chốt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nên đã dày công tổ chức, đào tạo, rèn luyện, xây dựng được đội ngũ cán bộ tận tụy, kiên cường, chất lượng ngày càng cao, là nhân tố quan trọng đóng góp vào những thành quả vĩ đại của cách mạng Việt Nam.

Đội ngũ cán bộ quân đội được giao trọng trách lãnh đạo, chỉ huy, quản lý từ cấp cơ sở đến toàn quân; là lực lượng nòng cốt trong thực hiện đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, nhân tố có vai trò quyết định trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của Quân đội ta. Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã có nhiều chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Quân đội làm nòng cốt để toàn quân hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Chất lượng toàn diện cả về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, tác phong, phong cách lãnh đạo, chỉ huy của đội ngũ cán bộ ngày càng được nâng lên, có phương pháp, tác phong công tác khoa học, luôn nêu cao tính đảng, tính chiến đấu, nói và làm theo chỉ thị, nghị quyết. Luôn chủ động, sáng tạo, quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có ý thức kỷ luật cao, tận tâm, tận lực với công việc, gương mẫu cả trong lời nói và việc làm, có khả năng xử lý những vấn đề phức tạp do thực tiễn đặt ra, có uy tín cao trước bộ đội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

“Về mặt văn hóa, thì dù ai mù quáng đến mấy cũng phải thấy rằng chế độ xã hội chủ nghĩa của ta thắng lợi vẻ vang..."

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Một thắng lợi vẻ vang”, bút danh T.L, đăng trên Báo Nhân dân, số 2389, ngày 3 tháng 10 năm 1960.

Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập (2-9-1945), Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng và đặt lên hàng đầu sự nghiệp giáo dục, đào tạo và xây dựng nền văn hoá mới tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nền văn hoá do nhân dân lao động sáng tạo, giữ gìn và hưởng thụ - đó là nền văn hoá xã hội chủ nghĩa tiến bộ, hiện đại, nhân văn và không ngừng phát triển.

Thấu triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về giá trị, sức mạnh và sự cần thiết của việc coi trọng xây dựng và phát triển văn hoá, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, nghị quyết nhằm xây dựng một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; phát triển văn hoá đi đôi với phát triển kinh tế, xã hội để hướng tới sự phát triển bền vững của đất nước.

Quan tâm xây dựng nền văn hóa VIệt Nam tiên tiến, đậm bản sắc dân tộc; không ngừng phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, nếp sống văn hóa, văn minh; cải thiện nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, huy động, khơi dậy tinh thần giữ gìn, sáng tạo văn hóa của cộng đồng xã hội.

Qua đó, đã không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống và làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân; các nền tảng giá trị đạo đức được quan tâm gìn giữ, các qui tắc ứng xử văn hóa được hình thành, từng bước đẩy lùi các tệ nạn xã hội, xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh trên địa bàn dân cư.

Khắc ghi lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta luôn nêu cao ý thức, trách nhiệm trong xây dựng, phát triển nền văn hoá Việt Nam phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, truyền thống tốt đẹp của quân đội, trở thành một giá trị văn hoá quân sự với những nét đặc trưng tiêu biểu được thể hiện tập trung trong 10 lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng, 12 điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân.

Thực hiện chất lượng, hiệu quả phong trào“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, gắn với phong trào thi đua Quyết thắng, các chương trình hành động và được cụ thể hóa thành cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong quân đội”, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước, nhân dân giao phó.

“Địch công thành, ta công tâm, phải lấy được lòng dân”

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu tại cuộc họp Bộ Chính trị bàn về cách mạng miền Nam, Báo Nhân dân, đăng số 2750, ngày 2 tháng 10 năm 1961.

Đây là sự thể hiện nhất quán quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc phải luôn luôn lấy dân làm gốc, phải thấy được sức mạnh vô địch từ nhân dân: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu/ Khó vạn lần dân liệu cũng qua”. Đây cũng là đặc trưng tiêu biểu về bản chất của Quân đội ta – quân đội cách mạng, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu.

Thấu triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về việc luôn coi trọng và đặt lên hằng đầu sức mạnh của quần chúng nhân dân, Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng xây dựng “thế trận lòng dân” là một bộ phận của tiềm lực chính trị tinh thần; dựa vào nhân dân, được nhân dân ủng hộ, che chở giúp đỡ; đồng thời, huy động và khai thác tiềm lực to lớn từ nhân dân, sức mạnh vô địch của nhân dân, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, nhờ xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, biết khơi dậy và phát huy lòng yêu nước, căm thù giặc và sức mạnh của lòng dân, các lực lượng cách mạng đã tổ chức đấu tranh bằng nhiều hình thức, thực hiện Đảng bám dân, dân bám đất, lực lượng vũ trang bám địch, liên tục vây ép, tiến công địch cả về chính trị, quân sự, tiêu hao từng bộ phận sinh lực và phương tiện chiến tranh, “căng, kéo, kìm, giữ địch“, buộc chúng phải phân tán đối phó, góp phần làm cho địch sa lầy bị động, tạo thế cho cấp trên và cùng bộ đội chủ lực ta tiêu diệt địch, giành thắng lợi.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, “thế trận lòng dân” tiếp tục được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta chăm lo xây dựng và củng cố vững chắc; kết hợp chặt chẽ với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, đấu tranh ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; đẩy mạnh công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, được dân tin, dân mến, dân yêu, dân giúp đỡ là nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của đế quốc, thực dân và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc…

Cán bộ, chiến sĩ các cơ quan, đơn vị trong toàn quân luôn nêu cao tinh thần, trách nhiệm, vượt mọi khó khăn, gian khổ, sẵn sàng chấp nhận hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” và niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước, nhân dân.

“Cái gì không có lợi cho địch là có lợi cho ta”

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong bài “Mười khó khăn của Pháp” bút danh C.B, đăng trên Báo Nhân dân, số 27, ngày 1 tháng 10 năm 1951.

Chiến dịch Biên Giới năm 1950 kết thúc, ta giành thắng lợi lớn, diệt trên 8.000 quân địch thu nhiều vũ khí, trang bị, giải phóng vùng biên giới rộng lớn từ Cao Bằng đến Đình Lập (Lạng Sơn) mở rộng giao lưu quốc tế, làm thay đổi cục diện chiến tranh, giành quyền chủ động chiến lược đẩy mạnh tiến công và phản công. Thực dân Pháp gặp nhiều khó khăn ở chính quốc và trên chiến trường Đông Dương; nhưng vẫn tập trung tăng quân, thay tướng, xin thêm viện trợ của Mỹ, xây dựng hệ thống cứ điểm vững chắc hòng duy trì sự đô hộ lâu dài trên đất nước ta.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích, đánh giá đúng tình hình quốc tế, nội tình nước Pháp và cục diện chiến trường Việt Nam một cách khách quan, toàn diện, biện chứng, khoa học và chỉ ra mười khó khăn mà Pháp phải đối diện; từ đó Bác có những chỉ đạo chiến lược xác đáng nhằm giành thế chủ động tiến công liên tục trên chiến trường, quyết đánh đuổi quân xâm lược, giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ.

Thực hiện chỉ đạo của Người, quân và dân ta đã đoàn kết, hợp đồng, phát huy thế mạnh của ta, khoét sâu điểm yếu của địch với ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã anh dũng chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của đế quốc, thực dân, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Thấu triệt tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh trong phân tích, đánh giá tình hình địch, ta để lựa chọn hình thức tác chiến phù hợp luôn được cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, quyết liệt nhằm phát huy mọi ưu thế, sức mạnh tổng hợp, tranh thủ thời cơ để quyết chiến, quyết thắng với kẻ thù, hạn chế thấp nhất thương vong cho bộ đội, cùng toàn Đảng, toàn dân giành được những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử, thống nhất đất nước.

Trong giai đoạn hiện nay, cấp ủy, chỉ huy các cấp luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, tổ chức tốt diễn tập với tinh thần thi đua “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu”, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội, duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, không để Tổ quốc bị động bất ngờ trong mọi tình huống, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc… xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.