Thứ Năm, 1 tháng 12, 2022

YÊU NƯỚC PHẢI LÀM TỐT TUYÊN TRUYỀN


Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Mỗi người yêu nước đều phải làm tuyên truyền. Mỗi cử chỉ, mỗi hành động của chúng ta có thể là một công tác tuyên truyền”.
Công tác tuyên truyền là một bộ phận của công tác tư tưởng, có vị trí hết sức quan trọng trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, truyền tải các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những tri thức, giá trị tinh thần, tư tưởng, các sự kiện, những vấn đề mới, vấn đề cấp bách trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ đây, mang lại thế giới quan, nhân sinh quan, lý tưởng sống, nhãn quan chính trị; từng bước vun đắp niềm tin, tình cảm cách mạng cho cộng đồng, hướng dẫn thống nhất hành động cho mọi người.
Để công tác tuyên truyền có hiệu quả cao, sức lan tỏa rộng. Trước hết, cần ở mỗi người tính tự giác cao, tinh thần học hỏi lớn, biết phát huy vai trò làm chủ, tích cực, tự giác, sáng tạo. Bên cạnh đó, phải biết khích lệ, động viên, cổ vũ quần chúng nhân dân làm tuyên truyền. Trong đó, lực lượng nòng cốt là cán bộ, đảng viên. Có như vậy, công tác tuyên truyền mới thực sự là công cụ sắc bén trong đấu tranh, phản bác có hiệu quả trước mọi luận điệu, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Sẵn sàng đập tan chiến lược “diễn biến hòa bình”, kìm hãm hiệu quả sự suy thoái “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ.
Muốn công tác tuyên truyền có sức lan tỏa lớn phải có cách làm hay, nội dung, hình thức phong phú. Trong đó, yếu tố con người là chủ đạo. Do vậy, người làm tuyên truyền phải có bản lĩnh chính trị, có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng; luôn nói, viết và làm việc mẫu mực, tiêu biểu cả về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và năng lực công tác thì công tác tuyên truyền mới đạt được mục đích, yêu cầu đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Một trăm bài diễn thuyết hay không bằng một tấm gương sống” và “Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”.
Tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch.
Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị đang gia tăng các hoạt động tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước ta.
Đẩy mạnh công tác đấu tranh phản bác quan điểm sai trái của các thế lực thù địch là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của cấp ủy, tổ chức đảng, cả hệ thống chính trị và mọi cán bộ, đảng viên để góp phần ngăn chặn, đẩy lùi những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch
Mỗi một công dân yêu nước, hãy cùng nhau chia sẻ, cùng nhau đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang và chế độ XHCN. Để cùng nhau đoàn kết xây dựng nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, phát triển, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, Nhân dân ấm no, hạnh phúc./.
ST



LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA NGÀY 02 THÁNG 12 NĂM 1949!

         “Bộ đội phải kính trọng dân, giúp đỡ dân. Dân phải thương yêu bộ đội, ủng hộ bộ đội. Quân và dân phải luôn luôn đoàn kết nhất trí”!
     Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong thư “Gửi toàn thể cán bộ và chiến sĩ Đường số 4 cùng dân quân du kích và đồng bào trong miền Đường số 4”, đăng trên Báo Cứu quốc, số 1411, ra ngày 02 tháng 12 năm 1949.
     Là người trực tiếp tổ chức thành lập, giáo dục và rèn luyện quân đội ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo xây dựng quân đội trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Trong đó, giữ gìn mối quan hệ đoàn kết quân dân luôn được Người quan tâm đặc biệt, thường xuyên nhắc nhở, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Lời căn dặn của Bác ngắn gọn nhưng sâu sắc, là sự nhắc nhở ân cần về trách nhiệm, nghĩa vụ và tình cảm của quân đội đối với nhân dân. Thấm nhuần lời căn dặn của Hồ Chủ tịch, hơn 60 năm qua, những thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã kế tiếp chăm lo xây dựng, giữ gìn mối quan hệ tốt đẹp, đoàn kết quân dân; gắn bó máu thịt với nhân dân, hết lòng thương yêu dân, quý trọng dân, giúp đỡ dân, bảo vệ dân; ngược lại, nhân dân cũng hết lòng yêu thương, đùm bọc, chăm sóc, giúp đỡ quân đội. Trong thời chiến cũng như trong thời bình, trong khó khăn cũng như hoạn nạn, mối quan hệ quân dân “cá - nước”, đoàn kết gắn bó keo sơn đó đã phát huy được sức mạnh hiệu quả của nó, làm cho tình đoàn kết giữa nhân dân và quân đội ngày càng thêm bền vững.
     Hiện nay, trước sự tác động của tình hình thế giới, khu vực, trong nước, trước những tác động của điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, nhất là những tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, của quá trình hội nhập quốc tế, cũng như sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch bằng chiến lược “diễn biến hòa bình” với những thủ đoạn, biện pháp hết sức thâm độc nhằm chia rẽ quân đội với nhân dân, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và phẩm chất cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân, tiến tới làm suy yếu, vô hiệu hóa sức mạnh chiến đấu của quân đội. Lời căn dặn của Bác vẫn giữ nguyên giá trị, góp phần quan trọng định hướng nhận thức, tư tưởng và hành động của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong củng cố, tăng cường mối quan hệ đoàn kết với nhân dân.
     Thực hiện tốt lời dạy của Bác, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội phải luôn có ý thức sâu sắc về nghĩa vụ, trách nhiệm và tình cảm đối với nhân dân; tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua rèn luyện phẩm chất cao đẹp “Bộ đội cụ Hồ” trong thời kỳ mới. Ra sức thực hiện lời dạy của Bác về “Dân vận khéo”, tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước. Quan hệ chặt chẽ với cấp uỷ, chính quyền, nhân dân địa phương nơi đóng quân, tăng cường các hoạt động giao lưu, kết nghĩa giữa đơn vị quân đội với địa phương; tích cực giúp đỡ nhân dân phát triển kinh tế - xã hội, góp phần vào công cuộc xoá đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa mới; đặc biệt, luôn chủ động, dũng cảm, kịp thời giúp dân phòng, chống thiên tai, bão lũ, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn...
Môi trường ST.

BÁO CHÍ QUỐC TÉ ĐƯA TIN VỀ CHUYẾN THĂM TRUNG QUỐC CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG

 

 

Chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong những ngày qua được dư luận báo chí trong và ngoài nước quan tâm. Truyền thông khu vực và thế giới tiếp tục đưa tin về chuyến thăm với nhiều đánh giá tích cực, đáng chú ý. Tờ Bưu điện Hoa Nam buổi sáng (South China Morning Post) đã đăng tải bài viết đánh giá tích cực mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Theo bài báo, hai bên coi trọng mối quan hệ hợp tác láng giềng truyền thống lâu đời. Đặc biệt, trong bối cảnh tình hình địa chính trị diễn biến phức tạp, hai bên cần thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ này để duy trì hòa bình ổn định ở khu vực và trên thế giới. Bài báo trích dẫn lời của ông Tập Cận Bình nhấn mạnh Trung Quốc và Việt Nam cần trở thành đối tác cung ứng ổn định của nhau và hỗ trợ nhau trong các lĩnh vực y tế, phát triển xanh, kinh tế kỹ thuật số và chống biến đổi khí hậu. Trung Quốc sẵn sàng đẩy mạnh các liên kết phát triển chiến lược với Việt Nam, đồng thời khuyến khích các công ty công nghệ cao đầu tư nhiều hơn vào Việt Nam. Hiện Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch song phương lên đến 165 tỷ USD trong năm 2021, tăng 24,6% so với năm 2020. Bài báo cũng dẫn lời Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Hùng Ba, gọi đây là “một chuyến thăm rất quan trọng trong thời điểm quyết định” khi hai nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới của chủ nghĩa xã hội. Theo ông Hùng Ba, hai nước đã cùng nhau sát cánh từ thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc, hun đúc nên tình hữu nghị láng giềng để tiếp tục hợp tác gắn bó trên nhiều lĩnh vực, cùng nhau phát triển trong thời kỳ mới. Tờ Nikkei của Nhật Bản hôm nay đăng tải bài viết về chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Trung Quốc. Theo bài báo, đây là một sự kiện ngoại giao đáng chú ý ở khu vực, khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là nhà lãnh đạo nước ngoài đầu tiên đến thăm Trung Quốc sau khi Đại hội XX của đảng Cộng sản Trung Quốc kết thúc và Chủ tịch, Tổng Bí thư Tập Cận Bình tiếp tục đảm nhiệm vị trí cao nhất của đảng Cộng sản Trung Quốc. Bài báo cho rằng, chuyến thăm là sự khẳng định chính sách đối ngoại nhất quán của Việt Nam, coi trọng mối quan hệ với các nước láng giềng, trong đó có Trung Quốc, cùng nhau trao đổi, hợp tác để củng cố hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới. Reuters cũng đăng tải nhiều tin tức về chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Trung Quốc. Theo hãng tin này, Trung Quốc đã dành sự đón tiếp trọng thị đối với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, thể hiện sự coi trọng mối quan hệ giữa hai bên. Trong tin đăng tải ngày hôm nay, Reuters đã trích dẫn lời của Tổng Bí thư Tập Cận Bình nhấn mạnh, Việt Nam và Trung Quốc là hai đối tác truyền thống lâu đời và hai bên cần phải duy trì mối quan hệ này vì lợi ích phát triển của nhân dân hai nước, đặc biệt là củng cố duy trì sự ổn định, cân bằng hệ thống cung ứng và đầu tư trong một môi trường quốc tế phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Hãng tin Prensa Latina của Cuba hôm nay cũng có bài viết với tiêu đề “Việt Nam và Trung Quốc đạt được nhiều thỏa thuận hợp tác trong nhiều lĩnh vực”, trong đó có thương mại, đầu tư, giao thông, môi trường, du lịch, tư pháp và hải quan. Bài viết dẫn lời ông Tập Cận Bình đánh giá cao mối quan hệ giữa hai nước, đồng thời khẳng định vai trò của Việt Nam trong ASEAN, để thúc đẩy mối quan hệ giữa khối này với Trung Quốc./.

 

BẢO VỆ CHỦ QUYỀN QUỐC GIA TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 


          Chủ quyền quốc gia trên không gian mạng là vấn đề được nhiều quốc gia trên thế giới hết sức quan tâm, nhất là thời gian gần đây. Một số quốc gia xác định đây là nội dung quan trọng trong hoạch định chính sách, chiến lược phát triển đất nước. Tại Việt Nam, vấn đề chủ quyền quốc gia trên không gian mạng tuy còn khá mới mẻ nhưng được Đảng, Nhà nước hết sức coi trọng, với mục tiêu đề ra là bảo đảm tốt nhất an ninh con người, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia. Từ những diễn biến phức tạp thời gian qua, vấn đề chủ quyền quốc gia trên không gian mạng đã và đang được nhiều nước hết sức coi trọng, từ đó ban hành những chính sách, biện pháp quản lý, kiểm soát phù hợp. Tại Việt Nam, từ năm 2018, Luật An ninh mạng được ban hành, trong đó xác định “An ninh mạng là sự bảo đảm hoạt động trên không gian mạng không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân” và “Không gian mạng quốc gia là không gian mạng do Chính phủ xác lập, quản lý và kiểm soát”. Trước nguy cơ đe dọa chủ quyền quốc gia trên không gian mạng và bảo đảm an ninh mạng, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW,ngày 25/7/2018 về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng”; Nghị quyết số 30-NQ/TW, ngày 25/7/2018 về “Chiến lược An ninh mạng quốc gia”… Các văn kiện nêu trên thể hiện rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, xác định bảo vệ an ninh mạng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và cả hệ thống chính trị. Phát biểu kết luận tại phiên họp thứ nhất của Ban Chỉ đạo An toàn, an ninh mạng quốc gia ngày 7/4/2022, Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ: Bảo đảm an toàn, an ninh mạng đã được xác định trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia. Bảo vệ an ninh mạng là cấu thành trọng yếu của hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia. Các thông tin bịa đặt, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, công kích chế độ, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc,… cần phải được kiểm soát, ngăn chặn kịp thời. Các quốc gia, cá nhân, pháp nhân, tổ chức khác phải tôn trọng thể chế, pháp luật quốc gia trên không gian mạng. Việt Nam là một trong số 20 quốc gia có người sử dụng internet cao trên thế giới, với hơn 68 triệu tài khoản mạng xã hội Facebook, 70 triệu người sử dụng internet và 154 triệu thiết bị kết nối internet có tỷ lệ truy cập hằng ngày chiếm 94%. Tuy nhiên, Việt Nam cũng nằm trong danh sách các quốc gia bị ảnh hưởng nhiều bởi các thách thức an ninh mạng. Không gian mạng trở thành nơi mà một số đối tượng chống đối đang lợi dụng để thường xuyên đăng tải thông tin sai lệch, tin giả nhằm chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, gây mất ổn định chính trị, xã hội, nhằm thực hiện âm mưu chiến lược “diễn biến hòa bình” để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, kích động biểu tình, bạo loạn, móc nối trong ngoài và tập hợp lực lượng nhằm lật đổ chính quyền. Các tổ chức mà Bộ Công an liệt kê vào danh sách là tổ chức khủng bố như “Việt Tân”, “Chính phủ Quốc gia Việt Nam Lâm Thời”, “Triều Đại Việt”,… thời gian qua thường xuyên tiến hành các hoạt động trên không gian mạng nhằm chống phá chính quyền, tổ chức, chỉ đạo hoạt động khủng bố, tài trợ hoạt động khủng bố…, tiêu biểu như vụ gây nổ tại trụ sở Cục Thuế tỉnh Bình Dương vào ngày 30/9/2019. Những hành vi nêu trên gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, nếu không kiểm soát kịp thời sẽ gây hậu quả rất nghiêm trọng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội và sự ổn định của chế độ chính trị. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học-công nghệ tạo ra thuận lợi, thời cơ cho đất nước ta đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, với những mục tiêu như xây dựng Chính phủ số, xã hội số và nền kinh tế số. Tuy nhiên bên cạnh thời cơ, những thách thức, mối đe dọa từ không gian mạng đối với chủ quyền, lợi ích quốc gia, an ninh quốc gia cũng không ngừng gia tăng. Trong giai đoạn 2010-2021, với việc sử dụng hơn 8.784 web, blog có tên miền nước ngoài, 381 web, blog có tên miền trong nước, các lực lượng chống đối đã phát tán hơn 60.000 bản tin, bài viết nhằm bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, kích động biểu tình trên không gian mạng… nhưng đã bị lực lượng an ninh mạng của Việt Nam xử lý và ngăn chặn kịp thời. Ngoài ra, lực lượng chức năng của Việt Nam cũng đã phát hiện hơn 80% số vụ lộ bí mật nhà nước là qua hệ thống thông tin. Để bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, bảo vệ hệ thống thông tin trọng yếu của quốc gia và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ cả trong thời bình cũng như thời chiến, thời gian qua, lực lượng tác chiến không gian mạng của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an làm nòng cốt đã có sự kết hợp chặt chẽ với lực lượng tác chiến không gian mạng, công nghệ thông tin trong khối các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp. Lực lượng này đã chủ động nắm, phân tích, đánh giá, dự báo tình hình an ninh mạng trong nước và thế giới; kịp thời phát hiện, tổ chức đấu tranh phòng, chống gián điệp mạng nước ngoài, triển khai các giải pháp bảo vệ an ninh hệ thống mạng thông tin trọng yếu quốc gia; phòng, chống tấn công mạng; vô hiệu hóa các hoạt động chống phá trên không gian mạng; xử lý nghiêm các đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật về quản lý, cung cấp, sử dụng mạng internet và thông tin trên mạng. Giai đoạn tới, dự báo tình hình diễn biến trên không gian mạng diễn ra hết sức phức tạp. Do đó để chủ động ứng phó, tác chiến trong mọi tình huống nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, bảo vệ an ninh mạng, lực lượng tác chiến trên không gian mạng, lực lượng an ninh mạng và phòng, chống tội phạm công nghệ cao cần tiếp tục triển khai, thực hiện có hiệu quả Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng và An ninh mạng quốc gia, trọng tâm là Nghị quyết số 29-NQ/TW và Nghị quyết số 30-NQ/TW của Bộ Chính trị. Ngoài ra, các lực lượng chiến đấu và các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, trường học và toàn xã hội cần nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của công tác bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, bảo vệ an ninh mạng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; kịp thời nhận diện các âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá và tội phạm trên không gian mạng; trên cơ sở đó chủ động tạo ra sức đề kháng trước các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, kích động chống phá của các thế lực thù địch và phần tử xấu; luôn đề cao trách nhiệm người đứng đầu trong chỉ đạo và chịu trách nhiệm về hoạt động bảo vệ an ninh thông tin đối với hệ thống thông tin được giao phụ trách; xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, an ninh nhân dân trên không gian mạng, huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị, nguồn lực trong nhân dân để bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, vô hiệu hóa các luận điệu phản động trên không gian mạng; khẩn trương hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật nhằm thi hành Luật An ninh mạng; bảo vệ dữ liệu cá nhân; trình tự, thủ tục, thẩm quyền thu thập chứng cứ từ nguồn điện tử và biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; kịp thời ban hành những quy định pháp luật quản lý “tiền ảo”, “tài sản ảo”, các loại thẻ thanh toán dịch vụ viễn thông, trò chơi trực tuyến trái pháp luật. Việc nhận thức và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng cần được quán triệt đến mọi tầng lớp nhân dân, tổ chức nghiên cứu khoa học, bài bản để từng bước hoàn thiện cả về lý luận và thực tiễn, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

 

CÁCH TRỌNG DỤNG NHÂN TÀI CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 

Thực tiễn lịch sử dân tộc đã chứng minh, triều đại nào biết trọng dụng nhân tài thì đất nước thái bình, vương triều thịnh trị; ngược lại, tất sẽ thất bại, suy vong. Từ bài học lịch sử, là Người sáng lập và rèn luyện Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng nhiều cách thức khác nhau, với tư duy sáng tạo, tầm nhìn đặc biệt đã từng bước xây dựng nên một lớp nhân tài thời đại Hồ Chí Minh, đóng góp to lớn vào thành công của sự nghiệp cách mạng. Những cách thức của Người là cơ sở quan trọng để chúng ta vận dụng trong bối cảnh hiện nay.

Sinh thời, Người đặc biệt quan tâm đến công tác cán bộ, đến đào tạo nhân tài. Người khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc; muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Như vậy, mọi việc đều bắt đầu từ con người và sự nghiệp cách mạng như thế nào đều do con người quyết định. Với tư tưởng ấy, ngay từ khi tìm ra con đường cứu nước, một trong những việc làm đầu tiên của Người đó là “tìm ra những hạt giống đỏ” để huấn luyện trở thành những người chiến sĩ cách mạng. Năm 1925, Người lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên nhằm mục đích này. Nhưng “những hạt giống đỏ ấy” không chỉ kinh qua lý luận, mà cần rèn luyện bản lĩnh, ý chí sắt đá trong thực tiễn, do vậy Hội đã thực hiện “vô sản hóa” nhằm rèn luyện bản lĩnh cách mạng, hình thành lớp nhân tài đầu tiên của Đảng. Tháng 10/1938, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô, sang căn cứ địa Diên An, Trung Quốc hoạt động.Tại đây, Người liên lạc với tổ chức Đảng, tập hợp xây dựng đội ngũ cán bộ, Người như một cánh chim kết đoàn thành một đàn chim với những nhân tài thời loạn của Việt Nam lúc bấy giờ. Mùa xuân năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước, tiếp tục xây dựng đội ngũ nhân tài, chuẩn bị mọi điều kiện để tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Khi Cách mạng tháng Tám thành công, trong điều kiện đất nước đứng trước muôn vàn khó khăn, Người đã ra chiếu cầu hiền để kêu gọi “nhân tài” góp sức kiến thiết đất nước. Khi đất nước bước vào thực hiện cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, trải qua các kỳ Đại hội II, III với những nhiệm vụ khó khăn, nặng nề Người vẫn thường xuyên “thực hiện chiêu hiền, đãi sĩ”, xây dựng những lớp nhân tài kế cận khác nhau cho Đảng, cho đất nước, góp phần quan trọng giải quyết những yêu cầu nhiệm vụ cách mạng đặt ra. Một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công của người đứng đầu hay tổ chức chính trị trong việc trọng dụng nhân tài là phải biết nhìn người, nhìn tướng, nhìn được khả năng và nhân phẩm của họ. Đồng thời phải có tư duy, tầm nhìn chiến lược thấy được sự phát triển của cách mạng, cái cần của sự nghiệp cách mạng và đặt người đó vào vị trí ấy sẽ tỏa sáng, tạo ra sự phát triển cho sự nghiệp cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm rất tốt điều này. Năm 1940, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Thủ tướng Phạm Văn Đồng, lúc bấy giờ là những thanh niên yêu nước, nghe nói nhiều đến Nguyễn Ái Quốc, có sức hút rất lớn, đã vượt biên sang Trung Quốc và may mắn được gặp Bác tại Thúy Hồ, Côn Minh Trung Quốc. Cuộc gặp lịch sử giữa những vĩ nhân ấy đã tạo ra bước ngoặt cho sự nghiệp cách mạng của riêng cá nhân và đất nước. Trong cuộc gặp Bác đã định hướng rằng, “chú Văn nên học thêm về quân sự, chú Tô nên học thêm về hành chính”, có lẽ từ cuộc gặp ấy Bác đã thấy được một tư chất, năng khiếu riêng của hai con người ấy, để sau này một người là Đại tướng lừng lẫy và một người là Thủ tướng. Năm 1948, đồng chí Võ Nguyên Giáp được phong Đại tướng, báo chí nước ngoài đã hỏi rằng ông Giáp chưa học qua một trường lớp nào về quân sự tại sao lại phong Đại tướng, Bác đã trả lời rằng đánh thắng trung tướng phong trung tướng, thắng đại tướng phong đại tướng. Hay như Bác sĩ Trần Duy Hưng, vị Chủ tịch đầu tiên của Thủ đô Hà Nội, Chủ tịch trong thời kỳ kháng chiến đầy khó khăn, chưa kinh qua trường lớp về hành chính nhưng được Bác trực tiếp đến phong tại nhà riêng, Bác nói rằng “chú là chủ tịch thành phố, Bác là chủ tịch nước nhưng chúng ta đều là đầy tớ của dân”. Từ câu nói ấy, Bác sĩ Trần Duy Hưng đã lấy đó làm tôn chỉ, vừa làm vừa học, vừa tự chỉnh đốn hoàn thiện bản thân, tạo nên một chủ tịch thành phố in đậm trong lòng người dân Tràng An – Hà Nội dù trong điều kiện chiến tranh rất khó khăn. Điều ấy để nói rằng trong đánh giá “nhân tài” không phải chỉ trọng bằng cấp mà phải biết nhìn người, coi trọng sự tự học, tự rèn luyện và hiệu quả thực tiễn. Đồng thời trong sử dụng “nhân tài” phải linh hoạt vừa nhẹ nhàng, nhưng phải cương quyết, bởi họ cũng là con người, có lúc này lúc khác. Trong buổi lễ phong tướng năm 1948, tướng Nguyễn Sơn, một vị tướng rất giỏi, được mệnh danh là “lưỡng quốc tướng quân”, được phong thiếu tướng, ông đã tỏ thái độ không vừa lòng, buột miệng nói rằng “thừa tướng ta còn không làm huống chi thiếu tướng”, sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm một bài thơ rất ý nghĩa để nhắc nhở tướng Nguyễn Sơn, có những câu như “tâm dục tế, đảm dục đại, trí dục viên, hành dục phương”. Nhưng nếu những người đó mà mất đạo đức thì Người cũng xử lý rất cương quyết như trường hợp của Đại tá, Cục trưởng cục quân nhu Trần Dụ Châu. Trong điều kiện chiến tranh khó khăn nhưng Trần Dụ Châu đã tha hóa, sa vào lợi ích cá nhân, vui chơi hưởng lạc, Người đã cương quyết diệt một cái cây để cứu lấy cả khu rừng. Trong chuyến thăm Pháp năm 1946, Người đã thuyết phục được nhiều nhân tài về phục vụ cho đất nước, tiêu biểu như Phạm Quang Lễ, sau này là Giáo sư viện sĩ Trần Đại Nghĩa, sẵn sàng từ bỏ mức lương rất cao, đến mấy chục lạng vàng lúc bấy giờ để theo Bác về hoạt động trong kháng chiến. Bác cũng cảm hóa được người từng có ý định giết mình như Tạ Đình Đề để đi theo cống hiến cho cách mạng. Bác như là viên nam châm có sức hút lớn, tạo ra niềm tin, động lực cho các “nhân tài” cống hiến hết mình. Vậy, cái gì có sức hút mãnh liệt như vậy? Có lẽ đó là xuất phát từ cái tâm chính trị trong sáng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày 21/1/1946, khi trả lời báo chí nước ngoài, Người nói rằng: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”. Với ham muốn cao cả vì dân, vì nước ấy, Người đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạng. Trong đánh giá, sử dụng cán bộ cũng vậy. Người luôn đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, mà không màng đến những điều gì khác, hi sinh cá nhân vì sự nghiệp cao cả. Trong bối cảnh đất nước mới giành được độc lập, Người đã không chọn người trong Đảng để giao quyền khi sang thăm Pháp hơn 4 tháng mà giao cho cụ Huỳnh Thúc Kháng, một nhân sĩ yêu nước. Trong bối cảnh đất nước bị chia làm hai miền, Người đã không cử những người thân cận như các đồng chí Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp và đặt niềm tin vào đồng chí Lê Duẩn, một người hiểu cách mạng miền Nam, hiểu nhân dân miền Nam cần gì và điều cuối cùng đó là “đất nước trọn niềm vui”.

Ngày nay, đất nước sau hơn 35 năm Đổi mới “đã có cơ đồ, tiềm lực, vị thế” lớn hơn bao giờ hết, đó là cống hiến tài năng, trí tuệ và đạo đức của biết bao lớp thế hệ nhân tài kết tinh thành sức mạnh dưới lá cờ vẻ vang của Đảng. Trong vận hội mới, điều kiện mới, một bài học quan trọng là Đảng cần phải tiếp tục tăng cường tập hợp, xây dựng trong Đảng những “nhân tài” của thời đại mới. Muốn làm được điều đó, các cấp ủy Đảng cần phải đẩy mạnh học tập phong cách Hồ Chí Minh, học Bác những cách làm hay trong sử dụng, đánh giá cán bộ, học Bác “để lòng ta trong sáng hơn”.

 

NGĂN CHẶN TÌNH TRẠNG LẬP HỘI, NHÓM TIÊU CỰC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

 

Tình trạng các hội, nhóm tiêu cực xuất hiện trên không gian mạng có xu hướng ngày càng gia tăng đang nguy cơ gây tác động xấu đối với người sử dụng mạng nói riêng và việc giữ gìn an ninh trật tự xã hội nói chung. Thực tế này đang đòi hỏi các cơ quan chức năng cần sớm có các biện pháp ngăn chặn hiệu quả, cũng như đặt ra yêu cầu mỗi người dân khi tham gia mạng xã hội phải hết sức tỉnh táo để không trở thành nạn nhân của “thế giới ảo”.

Sự ra đời của các nền tảng mạng xã hội đã mang đến cho con người nhiều lợi ích không thể phủ nhận. Tuy nhiên, nhiều mặt trái cũng đã được chỉ ra như: những nguy cơ trầm cảm, rối loạn cảm xúc, phá vỡ các mối quan hệ xã hội, thay đổi lối sống truyền thống của con người… Thời gian gần đây, trên nhiều nền tảng mạng xã hội được sử dụng rộng rãi ở nước ta xuất hiện một hiện tượng đáng lo ngại là sự “ra đời” của không ít hội, nhóm kín với những tên gọi có hàm nghĩa tiêu cực như: “Hội những người từng đi tù”, “Hội lô đề miền Bắc”, “Hội những người thích đâm thuê chém mướn”, “Hội tiểu tam”, “Hội ngoại tình và vụng trộm giao lưu kết bạn toàn quốc…”, “Hội những người muốn tự tử”, “Hội những người vỡ nợ muốn làm liều”… Ðáng nói, các hội, nhóm này đã thu hút được khá nhiều người tham gia, thậm chí có hội, nhóm lên đến vài nghìn thành viên. Trên diễn đàn “nội bộ”, nhiều thành viên không ngần ngại kể về các hành vi sai trái của mình như việc mình lừa được vài tỷ đồng, kèm theo đó là hướng dẫn các chiêu thức để không bị bắt. Hay trên trang của “Hội những người muốn tự tử”, “Hội ghét cha mẹ” thì thường xuyên đăng tải những nội dung thể hiện tâm trạng thù hận, tiêu cực, bế tắc… Phần lớn bình luận dưới các bài viết thường là các ý kiến bi quan, chán nản, cổ vũ, khuyến khích hoặc thách đố người viết thực hiện những hành vi lệch chuẩn đạo đức, thậm chí, vi phạm pháp luật. Sự tồn tại của các hội, nhóm tiêu cực trên mạng xã hội đã và đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn cho cộng đồng. Theo dữ liệu thống kê từ We are Social, tính đến tháng 1/2022, Việt Nam có 76,95 triệu người dùng mạng xã hội, tương đương 78,1% tổng dân số. Từ năm 2021 đến 2022, số người dùng mạng xã hội ở Việt Nam đã tăng 5 triệu người (6,9%). Với độ phủ sóng rộng cùng một lượng lớn thời gian hoạt động và tương tác trên các nền tảng xã hội, những gì người sử dụng thu nhận được sẽ tác động không nhỏ đến việc hình thành tư tưởng và phát triển nhân cách, đạo đức, lối sống. Nhất là ở nhóm đối tượng vị thành niên là lứa tuổi dễ hùa theo những luồng tư tưởng mới, dễ bị tổn thương và kích động tâm lý. Các bài viết có tâm trạng chán nản cuộc sống lên đến đỉnh điểm, cộng thêm những bình luận vô cảm, thậm chí, hướng dẫn tỉ mỉ các cách… chết, cách mua các loại thuốc độc (như xyanua) trên “Hội những người thích tự tử” hoàn toàn có thể gây ra những hậu quả khó lường, rất đáng lo ngại. Cùng với các dòng trạng thái đăng tải nội dung tiêu cực, xuất hiện hàng loạt bình luận có tính kích động, thách đố khiến sự việc bị đẩy đi xa hơn, gia tăng nguy cơ gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Thực tế, đã có những hành vi vi phạm pháp luật ngoài đời thật xuất phát từ việc tham gia các hội, nhóm ảo trên mạng xã hội. Cụ thể, ngày 7/3/2022 tại địa bàn phường Xuân Tảo (quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội), hai đối tượng là Nguyễn Thanh Tùng và Trần Văn Hiếu – thành viên của nhóm “Hội những người vỡ nợ muốn làm liều” đã móc nối với nhau để thực hiện việc cướp ngân hàng. Hai đối tượng này bị bắt khi đang dùng dao và súng xông vào một chi nhánh ngân hàng, thực hiện hành vi cướp 500 triệu đồng. Ðáng nói, ngay sau khi hai đối tượng này bị bắt, trên nhóm kín “Hội những người vỡ nợ muốn làm liều” xuất hiện những dòng trạng thái cho thấy tâm lý không hề sợ hãi, coi thường pháp luật của các thành viên. Trước đó, một số thành viên của nhóm kín này cũng móc nối, lập băng nhóm thực hiện vụ cướp điện thoại tại chung cư Linh Ðàm (Hà Nội) vào ngày 8/1/2022; tiến hành nổ súng, dùng dao đe dọa một cặp vợ chồng ở Thạch Thất (Hà Nội) yêu cầu đưa 100 tỷ đồng vào ngày 16/1/2022. Trước thực trạng đáng báo động này, tại Hội nghị sơ kết công tác công an quý I/2022, Bộ Công an đã đưa ra cảnh báo về trào lưu lập hội, nhóm kín trên mạng xã hội để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật. Bất chấp điều đó, nhiều hội, nhóm kín hiện vẫn duy trì hoạt động, các thành viên vẫn thường xuyên cập nhật và chia sẻ trạng thái có nội dung cổ xúy cho những tư tưởng không lành mạnh, những hành vi ngông cuồng, không phù hợp thuần phong mỹ tục, đạo đức xã hội, thậm chí vi phạm pháp luật. Thực tế này đang lộ rõ khoảng trống về pháp lý cần được các cơ quan chức năng quan tâm sát sao hơn nữa. Có thể thấy hiện nay việc trở thành thành viên của các hội, nhóm hết sức đơn giản, gần như không cần bất cứ điều kiện gì, chỉ cần một thao tác ấn nút “tham gia”. Trong khi đó, các nội dung đăng tải trên mạng xã hội thật sự khó kiểm soát và luôn ẩn chứa những thông tin xấu độc. Các báo cáo vi phạm về mặt nội dung có thể vẫn được phát hiện, xử lý nhưng thường diễn ra chậm, sau khi nội dung đó đã được viral (lan tỏa) và gây tác động tiêu cực đến người sử dụng. Một khó khăn nữa là các nền tảng xã hội hiện đang được sử dụng nhiều tại Việt Nam đều thuộc quyền sở hữu của các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài cho nên có sự khác biệt về văn hóa, dẫn đến vấn đề kiểm soát cũng như báo cáo vi phạm về nội dung khác nhau về chuẩn mực, tiêu chí. Ngoài ra không thể không nhắc tới một nguyên nhân là tình trạng xuống cấp về đạo đức, cổ xúy lối sống tự do, vô cảm, tư tưởng phá vỡ truyền thống, học theo cách sống phương Tây của một bộ phận người dân, trong đó phần không nhỏ là giới trẻ, đã dẫn đến hiện tượng lệch chuẩn về đạo đức, văn hóa, lệch lạc trong hành vi, gây nguy hại cho xã hội. Những bất ổn về mặt tâm lý của một bộ phận người sử dụng mạng xã hội cũng được xem là một nguyên nhân dẫn đến thực trạng này. Bởi sự bế tắc từ cuộc sống thực bị dồn nén khiến những đối tượng này có mong muốn trút vào một không gian ảo, để được giải tỏa. Pháp luật Việt Nam hiện đã có những quy định rõ ràng, cụ thể về các hành vi được phép và bị nghiêm cấm trên không gian mạng. Những hội, nhóm tiêu cực trên mạng xã hội không chỉ không phù hợp chuẩn mực đạo đức, văn hóa mà còn không phù hợp các nguyên tắc trong Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội đã được Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành ngày 17/6/2021; đồng thời vi phạm những điều khoản trong Luật An ninh mạng 2018. Chúng ta đều hiểu rằng, khi đưa ra ý kiến, bình luận, chia sẻ nội dung… trên mạng xã hội đều trực tiếp tác động đến cộng đồng. Vì thế, hành vi này không còn ở trong phạm vi ứng xử cá nhân mà đã trở thành hoạt động cộng đồng cho nên bắt buộc người bình luận phải tuân thủ những giới hạn mà các quy định và luật pháp cho phép. Vượt qua giới hạn đó là vi phạm pháp luật, cần được khuyến cáo, cao hơn là xử phạt nghiêm khắc để cá nhân tự điều chỉnh nhận thức, hành vi và ngăn chặn những hậu quả xấu có thể xảy ra. Khi nhóm, hội có hành vi vi phạm các quy định thì thành viên trong nhóm tùy hành vi và mức độ vi phạm sẽ bị xử lý. Cụ thể, theo Ðiều 101 Nghị định 15/2020/NÐ-CP ngày 3/2/2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử, xử phạt từ 10 triệu-20 triệu đồng đối với những hành vi lợi dụng mạng xã hội để cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân; cung cấp, chia sẻ thông tin cổ xúy các hủ tục, mê tín, dị đoan, dâm ô, đồi trụy, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục của dân tộc; cung cấp, chia sẻ thông tin miêu tả tỉ mỉ hành động chém, giết, tai nạn, kinh dị, rùng rợn; cung cấp, chia sẻ thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân, kích động bạo lực, tội ác, tệ nạn xã hội, đánh bạc hoặc phục vụ đánh bạc; cung cấp, chia sẻ các tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm mà không được sự đồng ý của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc chưa được phép lưu hành hoặc đã có quyết định cấm lưu hành hoặc tịch thu; quảng cáo, tuyên truyền, chia sẻ thông tin về hàng hóa, dịch vụ bị cấm; cung cấp, chia sẻ hình ảnh bản đồ Việt Nam nhưng không thể hiện hoặc thể hiện không đúng chủ quyền quốc gia; cung cấp, chia sẻ đường dẫn đến thông tin trên mạng có nội dung bị cấm. Còn theo Luật An ninh mạng, tại Ðiều 9 quy định rõ: Người nào có hành vi vi phạm quy định của Luật An ninh mạng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Bên cạnh sự nghiêm minh của pháp luật, các biện pháp siết chặt quản lý không gian mạng từ cơ quan có thẩm quyền, vai trò của dư luận xã hội trong việc định hướng và điều chỉnh hành vi đạo đức của con người thông qua cơ chế giám sát cũng hết sức cần thiết. Ðiều này sẽ góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của cộng đồng trong việc giữ gìn môi trường mạng an toàn, lành mạnh. Và quan trọng nhất vẫn là ý thức của người sử dụng mạng xã hội. Mỗi cá nhân tham gia sử dụng mạng xã hội cần có một nền tảng văn hóa, ý thức tuân thủ pháp luật, không tham gia các hội, nhóm tiêu cực, không tự biến mình thành những mối nguy cơ trên mạng xã hội. Khi chia sẻ, đăng tải hay cung cấp thông tin phải trung thực, khách quan, bảo đảm tính chính xác, tin cậy, có lợi cho xã hội và đất nước; không lan truyền các nội dung vi phạm pháp luật, thông tin sai sự thật… Khi phát hiện các dấu hiệu tiêu cực trên không gian mạng, cần thông tin kịp thời tới cơ quan chức năng. Thực hiện tốt các yêu cầu này, sự xuất hiện của các hội, nhóm tiêu cực trên không gian mạng sẽ tự biến mất./.

 

VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

 


Thông qua không gian mạng, các hội nhóm phản động đẩy mạnh hoạt động đào tạo kỹ năng, phương thức tập hợp lực lượng tham gia chống phá qua các bài viết được đăng tải trên các mạng xã hội và thực địa ở một số địa phương. Các hội nhóm phản động ngoài nước còn cấu kết với trong nước gia tăng các hoạt động lợi dụng mạng xã hội để tán phát các clip có nội dung kích động, xuyên tạc, vu cáo chính quyền Việt Nam đàn áp, bắt bớ “người biểu tình yêu nước”, đòi quốc tế can thiệp, hậu thuẫn. Một số hội nhóm phản động từ hải ngoại thường xuyên phát tán các clip kêu gọi người dân xuống đường biểu tình, tiêm nhiễm các tư tưởng chống đối cực đoan, quá khích cho một số nhóm đối tượng để thực hiện hành vi phá hoại, bạo loạn.

Có thể khẳng định, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam. Việt Nam luôn xem con người là trung tâm, là động lực của quá trình đổi mới và công cuộc phát triển đất nước và luôn nỗ lực vì mục tiêu nâng cao đời sống, quyền thụ hưởng của người dân, không để ai bị bỏ lại phía sau. Các quyền và tự do cơ bản của con người được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam, được bảo vệ và thúc đẩy bởi các văn bản pháp luật cụ thể và được triển khai trong thực tiễn. Ở Việt Nam, tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có nghĩa vụ tuân thủ các quy định của pháp luật. Mọi hành vi vi phạm pháp luật, bởi bất cứ ai và vì bất cứ lý do gì, đều phải bị xét xử nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và bảo đảm sự thụ hưởng đầy đủ các quyền và tự do của mỗi người dân trong một xã hội an toàn, trật tự và công bằng. Không ai bị bắt giữ, xét xử vì thực hiện các quyền con người một cách chính đáng. Đối với trường hợp như Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Tiến Trung hay Phạm Đoan Trang được nhắc đến trong báo cáo của Nghị viện Châu Âu là “tù nhân chính trị” thực chất là những đối tượng núp bóng dân chủ, nhân quyền, thường xuyên có các hoạt động chống phá, kích động bạo lực, lôi kéo, tập trung các đối tượng xấu để gây rối trật tự công cộng nhằm mục đích phá vỡ sự ổn định chính trị của đất nước, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Đây là những hành vi vi phạm pháp luật, cần phải xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật để bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, hoàn toàn không phải hành động “đàn áp người đấu tranh” như một số nhận định chủ quan, phiến diện, một chiều, mang tính bao biện cho các sai phạm của những phần tử chống đối. Những năm qua, dù là đất nước đang phát triển, đời sống kinh tế – xã hội còn gặp nhiều khó khăn nhưng Việt Nam luôn nỗ lực và đã đạt được những kết quả tích cực trong bảo vệ quyền con người. Theo Báo cáo kinh tế – xã hội tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều của cả nước đã giảm từ 9,88% cuối năm 2015 xuống dưới 3% vào năm 2020; đã hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; tại Việt Nam không có khủng bố, người dân được sinh sống và lao động trong môi trường an ninh, an toàn, ổn định… Theo Báo cáo Hạnh phúc thế giới năm 2022 của Liên hiệp quốc, chỉ số hạnh phúc quốc gia của Việt Nam xếp vị trí 77 (tăng 2 bậc so với năm 2021). Ngoài ra, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn sẵn sàng trao đổi, đối thoại cởi mở với các tổ chức quốc tế về quyền con người trên tinh thần xây dựng nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau; để các cơ quan, tổ chức quốc tế có những nhận định, đánh giá thực tiễn tình hình nhân quyền trong nước trên cơ sở công bằng, minh bạch, khách quan. Mặt khác, Việt Nam không bao giờ chấp nhận và kiên quyết đấu tranh với những luận điệu, đánh giá chủ quan, phiến diện, thiếu thiện chí, không có cơ sở, không phản ánh đúng tình hình thực tế tại Việt Nam. Minh chứng rõ rệt nhất là vừa qua, Việt Nam tiếp tục được cộng đồng quốc tế ủng hộ và đã trúng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Việc trúng cử trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền lần thứ hai thể hiện sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những chính sách, nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền của người dân trên tất cả các lĩnh vực. Đây cũng là sự kiện có ý nghĩa quan trọng, là bước tiến mới trong nỗ lực triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng XIII và Chỉ thị 25 của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến 2030. Đây cũng là minh chứng cho thấy vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được củng cố, nâng cao. Nhân quyền là một lĩnh vực rộng, liên quan trực tiếp đến mọi mặt của đời sống con người, bởi vậy, hiện nay, Việt Nam đang đang tiếp tục hướng tới mục tiêu đảm bảo ngày càng tốt hơn các quyền cơ bản của người dân, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân, đồng thời chủ động ngăn chặn âm mưu, thủ đoạn sử dụng vấn đề ”dân chủ, nhân quyền” để chống phá cách mạng Việt Nam.

 

NHẬN DIỆN HOẠT ĐỘNG LỢI DỤNG QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG ĐỂ CHỐNG PHÁ VIỆT NAM

 


             Ngày nay bên cạnh những tác động tích cực thúc đẩy sự phát triển của xã hội, những tác động tiêu cực của thông tin sai trái, độc hại trên in-tơ-nét ngày càng gia tăng phức tạp. Lợi dụng sự phát triển của in-tơ-nét, các thế lực thù địch, phản động ra sức sử dụng nó vào mục đích sai trái, chống phá Đảng và Nhà nước ta.

Có thể thấy, khác với các hành vi vi phạm pháp luật truyền thống, hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực in-tơ-nét xâm hại tới rất nhiều quan hệ xã hội, nhiều lĩnh vực khác nhau như: ngân hàng, quân sự, an ninh, thương mại, văn hóa… bằng các hình thức như: giả mạo trong thương mại điện tử, giả mạo trong thanh toán ngân hàng, phá hoại, các loại tấn công làm tê liệt các dịch vụ máy chủ, tấn công làm tắc nghẽn đường truyền, vi-rút, đánh cắp mật khẩu, đổi tên miền và địa chỉ IP, nghe lén thông tin trên môi trường mạng, thư điện tử mạo danh, thư điện tử vô danh, trang thông tin điện tử giả mạo, đánh cắp cắp thông tin. Trong lĩnh vực thông tin, báo chí, xuất bản, lợi dụng chính sách khuyến khích người dân tham gia không gian mở trên in-tơ-nét để khai thác, chia sẻ thông tin đã xuất hiện rất nhiều hành vi vi phạm trên môi trường mạng chủ yếu như: đăng, phát nội dung không được phép; thông tin, hoạt động báo chí trái phép; thông tin sai sự thật; đăng phát thông tin vi phạm thuần phong mỹ tục Việt Nam; vi phạm quy định về quảng cáo; thông tin nói xấu lãnh tụ, nói xấu chế độ, bôi nhọ nhân phẩm của tổ chức, cá nhân; đưa các xuất bản phẩm có nội dung trái với đường lối, quan điểm của Đảng, các xuất bản phẩm có nội dung vi phạm đã bị thu hồi lên mạng in-tơ-nét…Tại Việt Nam, theo số liệu thống kê từ chương trình đánh giá an ninh mạng của Bkav cho thấy, 63% người dùng thường xuyên đọc được tin tức giả mạo trên Facebook, trong đó 40% là nạn nhân hằng ngày. Không chỉ khiến người đọc hoang mang, tin tức giả mạo còn tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn xã hội khi kẻ xấu cố tình đưa tin sai sự thật liên quan đến tình hình kinh tế, chính trị của đất nước. Đối với lĩnh vực an ninh quốc gia, hiện tội phạm mạng đã trở thành mối đe dọa hàng đầu như các hoạt động kích động, lôi kéo biểu tình, nói xấu Đảng và Nhà nước trên mạng, ngoài ra còn truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy, vi phạm bản quyền số…Hiện nay, bí mật thông tin là một nội dung quan trọng mà các nước, các cơ quan thường xuyên thu thập để phục vụ cho cạnh tranh trong hoạt động kinh tế, quan hệ đối ngoại, an ninh quốc phòng… nên dễ xảy ra việc đánh cắp thông tin. Trong khi các thế lực thù địch, phản động đang ráo riết sử dụng tối đa các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội từ bên ngoài để tuyên truyền tâm lý, tạo dư luận trong nước cũng như ngoài nước nhằm chống phá Việt Nam. Chúng triệt để lợi dụng các tính năng ưu việt, hiệu quả của các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để đẩy mạnh tuyên truyền, xuyên tạc, kích động quần chúng nhân dân hòng mua chuộc, lôi kéo, tập hợp lực lượng từ các phần tử dân tộc, tôn giáo cực đoan, đối tượng có tư tưởng hận thù, phần tử cơ hội, bất mãn, thoái hóa biến chất, một bộ phận quần chúng nhẹ dạ, cả tin… để hình thành tổ chức bí mật ở trong nước và nước ngoài nhằm phục vụ cho các hoạt động bạo loạn, lật đổ, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam.

Thời gian qua, hoạt động phá hoại tư tưởng chủ yếu được tiến hành thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là mạng in-tơ-nét, tập trung vào các thời điểm trước và trong khi diễn ra các sự kiện chính trị quan trọng của Việt Nam như Đại hội XIII của Đảng, bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026… Tin tức giả mạo giờ đây trở thành vấn nạn, tràn ngập khắp các trang mạng xã hội như Facebook, Google, Twitter hay Tiktok… 

Các hãng thông tấn báo chí nước ngoài như Đài Châu Á tự do (RFA), BBC Việt ngữ, Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA), Đài Phát thanh quốc tế Pháp (RFI)… thường xuyên chống phá Việt Nam dữ dội, quyết liệt. Chúng tập trung vu cáo Việt Nam siết chặt tự do ngôn luận, tự do tư tưởng bằng cách cố súy cho một số đối tượng chống Đảng, Nhà nước. Phương thức hoạt động của các hội nhóm “kín” thông qua mạng xã hội hoặc dùng các phần mềm có tính bảo mật cao để đăng tải các bài viết có nội dung xuyên tạc sự thật, kích động khiếu kiện tập trung đông người, gây rối tại cơ quan công quyền nhằm lôi kéo, tập hợp lực lượng, khuếch trương ảnh hưởng, ngày càng trở nên phổ biến. Các hội nhóm “kín” còn tìm cách thu thập và lập danh sách một số cán bộ chủ chốt, đảng viên và người thân liên quan trong các cơ quan đảng, chính quyền tại nhiều địa phương để viết bài tố cáo sai sự thật, đe dọa ám sát, hủy hoại tài sản cá nhân. Nhiều hội nhóm còn mua lại các trang fanpage có lượt tương tác cao, thay đổi tên hoặc lập mới để thu hút, làm bình phong, hợp thức hóa hoạt động tập hợp, trả nhuận bút cao cho các bài viết có nội dung phản động, lôi kéo thanh niên, sinh viên trong nước tham gia chống đối. 

 

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 02/12


“Bộ đội phải kính trọng dân, giúp đỡ dân. Dân phải thương yêu bộ đội, ủng hộ bộ đội. Quân và dân phải luôn luôn đoàn kết nhất trí”.
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong thư “Gửi toàn thể cán bộ và chiến sĩ Đường số 4 cùng dân quân du kích và đồng bào trong miền Đường số 4”, đăng trên Báo Cứu quốc, số 1411, ra ngày 02 tháng 12 năm 1949.
Là người trực tiếp tổ chức thành lập, giáo dục và rèn luyện quân đội ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo xây dựng quân đội trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Trong đó, giữ gìn mối quan hệ đoàn kết quân dân luôn được Người quan tâm đặc biệt, thường xuyên nhắc nhở, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Lời căn dặn của Bác ngắn gọn nhưng sâu sắc, là sự nhắc nhở ân cần về trách nhiệm, nghĩa vụ và tình cảm của quân đội đối với nhân dân. Thấm nhuần lời căn dặn của Hồ Chủ tịch, hơn 60 năm qua, những thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã kế tiếp chăm lo xây dựng, giữ gìn mối quan hệ tốt đẹp, đoàn kết quân dân; gắn bó máu thịt với nhân dân, hết lòng thương yêu dân, quý trọng dân, giúp đỡ dân, bảo vệ dân; ngược lại, nhân dân cũng hết lòng yêu thương, đùm bọc, chăm sóc, giúp đỡ quân đội. Trong thời chiến cũng như trong thời bình, trong khó khăn cũng như hoạn nạn, mối quan hệ quân dân “cá - nước”, đoàn kết gắn bó keo sơn đó đã phát huy được sức mạnh hiệu quả của nó, làm cho tình đoàn kết giữa nhân dân và quân đội ngày càng thêm bền vững.
Hiện nay, trước sự tác động của tình hình thế giới, khu vực, trong nước, trước những tác động của điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, nhất là những tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, của quá trình hội nhập quốc tế, cũng như sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch bằng chiến lược “diễn biến hòa bình” với những thủ đoạn, biện pháp hết sức thâm độc nhằm chia rẽ quân đội với nhân dân, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và phẩm chất cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân, tiến tới làm suy yếu, vô hiệu hóa sức mạnh chiến đấu của quân đội. Lời căn dặn của Bác vẫn giữ nguyên giá trị, góp phần quan trọng định hướng nhận thức, tư tưởng và hành động của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong củng cố, tăng cường mối quan hệ đoàn kết với nhân dân.
Thực hiện tốt lời dạy của Bác, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội phải luôn có ý thức sâu sắc về nghĩa vụ, trách nhiệm và tình cảm đối với nhân dân; tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua rèn luyện phẩm chất cao đẹp “Bộ đội cụ Hồ” trong thời kỳ mới. Ra sức thực hiện lời dạy của Bác về “Dân vận khéo”, tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước. Quan hệ chặt chẽ với cấp uỷ, chính quyền, nhân dân địa phương nơi đóng quân, tăng cường các hoạt động giao lưu, kết nghĩa giữa đơn vị quân đội với địa phương; tích cực giúp đỡ nhân dân phát triển kinh tế - xã hội, góp phần vào công cuộc xoá đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa mới; đặc biệt, luôn chủ động, dũng cảm, kịp thời giúp dân phòng, chống thiên tai, bão lũ, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn...
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'

SỰ VÔ LÝ CỦA MỘT BẢN BÁO CÁO

 


Báo cáo “Tự do Internet 2022” của cái gọi là Freedom House (tổ chức phi chính phủ được Hoa Kỳ tài trợ) công bố mới đây đã xếp hạng Việt Nam là một trong số các quốc gia kém tự do Internet nhất trên thế giới. Cần phải nói ngay rằng đây là sự đánh giá thiếu khách quan, không đúng sự thật về tự do Internet tại Việt Nam. Freedom House xuyên tạc rằng Chính phủ Việt Nam đã ra lệnh cho các công ty truyền thông xã hội quốc tế gỡ bỏ hàng nghìn nội dung, đặc biệt là những nội dung nhắm vào những lời chỉ trích quan chức nhà nước; chính quyền áp dụng các bản án tù đối với những người bảo vệ nhân quyền và những người sử dụng Internet vì các hoạt động trực tuyến của họ. Đánh giá của tổ chức này là kiểu “thấy cây mà không thấy rừng” dựa vào những tiểu tiết, tình huống, hiện tượng vặt vãnh để đánh giá bản chất chứ không phải là cái nhìn toàn diện. Theo số liệu mới nhất từ Bộ Thông tin và Truyền thông, đến tháng 10/2022, Việt Nam có gần 82 triệu người đăng ký mạng băng thông rộng di động, tương đương 83% tổng số người dùng. Số đăng ký mạng băng thông rộng máy tính là gần 21%. Trung bình mỗi ngày, một người trên lãnh thổ Việt Nam lướt web hơn 6 tiếng rưỡi; số lướt web hơn 9 tiếng mỗi ngày chiếm 22%. Tốc độ đường truyền tại Việt Nam được đánh giá tương đối tốt. Là một trong số các tổ chức có địa chỉ ở Hoa Kỳ và được chính phủ nước này tài trợ nên chúng ta chẳng lạ gì chiêu bài của Freedom House. Hằng năm cũng như các tổ chức khác Freedom House đều đưa ra các bản báo cáo, chấm điểm, xếp hạng theo cách của riêng họ. Các tiêu chí để “chấm điểm” cũng như “xếp hạng” đều do Freedom House “tự nghĩ” ra, dựa trên chiêu bài dân chủ, nhân quyền và tự do ngôn luận; như các trang web, các tài khoản ủng hộ chính phủ, chính sách kiểm soát an ninh mạng, xét xử các đối tượng vi phạm pháp luật được mà các thế lực thù địch, phản động gọi là “nhà dân chủ”, “nhà hoạt động nhân quyền”, “nhà bất đồng chính kiến”… Rồi từ các báo cáo thường niên, họ tập hợp thành kho dữ liệu giả, chứng cứ giả, đợi khi có cơ hội thì lấy ra làm cái cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước không cùng quỹ đạo, trong đó có Việt Nam. Do hoạt động dưới sự tài trợ của chính phủ Hoa Kỳ nên thực chất Freedom House chỉ là công cụ của chính phủ nước này nhằm chống phá các nước không cùng quỹ đạo, trong đó có Việt Nam. Vì thiếu khách quan, không chính xác nên báo cáo xếp hạng hằng năm của Freedom House luôn bị nhiều nước phản đối. Riêng đối với Việt Nam, tất cả các thủ đoạn trên đều nhằm một mục đích là nhằm hạ thấp, làm mất hình ảnh của một quốc gia có vị thế trong khu vực và trên thế giới. Thế nhưng thực tế ở đây có một nghịch lý là trong khi từ nhiều năm qua tổ chức Freedom House cứ rêu rao rằng Việt Nam không có tự do, thiếu dân chủ, hạ thấp điểm cho việc thực hiện các quyền con người ở Việt Nam, trong đó có tự do Internet thì ngược lại các đánh giá của Liên Hợp Quốc – tổ chức liên chính phủ có nhiệm vụ duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia, thực hiện sự hợp tác quốc tế, làm trung tâm điều hòa các nỗ lực quốc tế và các mục tiêu chung lại luôn coi Việt Nam như một điểm sáng về thúc đẩy và phát triển quyền con người, trong đó có quyền tự do Internet. Rõ ràng nghịch lý này đã chứng tỏ lối nhìn nhận, đánh giá vô căn cứ, thiếu khách quan, nhằm dụng ý xấu của Freedom House. Những thành quả mà Việt Nam đã đạt được trong bảo đảm quyền tự do Internet thời gian qua là minh chứng rõ nét, hùng hồn nhất bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, sai sự thật của tổ chức Freedom House. Sự thật về tự do Internet ở Việt Nam như thế nào thì chỉ những người dân Việt Nam mới biết được. Freedom House ở cách xa nửa vòng trái đất không khảo sát thực tiễn mà chỉ dựa vào những thông tin cóp nhặt, vụn vặt theo kiểu “nghe hơi nồi chõ” để đánh giá, xếp hạng tự do Internet ở Việt Nam là không thể chấp nhận được. Việt Nam kịch liệt phản bác lối chấm điểm, đánh giá, xếp hạng vô căn cứ của Freedom House./.

 

TỔ CHỨC KHÔNG BIÊN GIỚI LẠI GIỞ TRÒ

 


Tổ chức phóng viên không biên giới vừa công bố chỉ số “Tự do Báo chí thế giới năm 2022”, trong đó xếp Việt Nam ở vị trí 175/180 quốc gia trên thế giới. Kèm theo đó tổ chức này còn cho rằng Việt Nam là “một trong 10 quốc gia có tự do báo chí kém nhất thế giới”. Cần khẳng định mạnh mẽ ngay rằng đây là một sự xuyên tạc, vu cáo trắng trợn trong tự do báo chí.

Quyền tự do báo chí ở Việt Nam được bảo đảm bằng Hiến pháp, pháp luật và được thực thi trong thực tiễn. Hiến pháp năm 2013 quy định “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Để quyền tự do báo chí của mọi công dân được thực thi trong cuộc sống theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội Việt Nam đã ban hành nhiều đạo luật quan trọng như Luật Báo chí, Luật An ninh mạng; Luật Xuất bản… và Chính phủ cũng đã ban hành rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho báo chí Việt Nam phát triển, quyền tự do báo chí của công dân được bảo đảm. Điều 13 Luật Báo chí hiện hành quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước đối với quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân: “1. Nhà nước tạo Điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình. 2. Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân. 3. Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng.” Cùng với tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình, Luật Báo chí cũng quy định rõ, trách nhiệm, chính sách của Nhà nước về phát triển báo chí, trong đó khẳng định Nhà nước “Có chiến lược quy hoạch phát triển và quản lý hệ thống báo chí” đồng thời “xây dựng, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển báo chí”. Cùng với tôn trọng và bảo đảm quyền tự do báo chí, cũng như mọi quốc gia trên thế giới Việt Nam kiên quyết xử lý nghiêm minh các trường hợp lợi dụng quyền tự do báo chí để vi phạm pháp luật, chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân. Như vậy, có thể nói ở Việt Nam quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí đã được bảo đảm bằng hệ thống pháp luật chặt chẽ, rõ ràng và công khai, minh bạch. Trên thế giới không phải nước nào cũng làm được như Việt Nam. Trong mấy năm gần đây, báo chí Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ, toàn diện. Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, hiện cả nước có 868 cơ quan báo chí, 72 đài phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử. Báo chí Việt Nam một mặt thông tin đầy đủ, chính xác mọi mặt hoạt động của xã hội, một mặt báo chí là diễn đàn của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Báo chí Việt Nam là nơi để công dân Việt Nam và cả bạn bè quốc tế bày tỏ tâm tư, nguyện vọng với Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Báo chí Việt Nam còn là kênh phản biện quan trọng về những chủ trương chính sách kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước. Thực tế, thời gian qua nhiều vấn đề quan trọng của đất nước, qua sự phản biện của báo chí đã giúp cho các cơ quan của Nhà nước thay đổi, điều chỉnh chính sách, thận trọng trước khi đưa ra những chủ trương, giải pháp, quyết sách lớn. Điểm qua vài nét như vậy đã đủ thấy bức tranh sinh động về tự do báo chí ở Việt. Chúng ta chẳng lạ gì động cơ, mục đích của Tổ chức phóng viên không biên giới. Chiêu trò của tổ chức này từ nhiều năm nay vẫn thế. Nhưng sự thật tự do báo chí ở Việt Nam đã bác bỏ mọi luận điệu bóp méo, xuyên tạc, vu cáo của tổ chức này. Họ cho rằng Việt Nam là “một trong 10 quốc gia có tự do báo chí kém nhất thế giới” nhưng có lẽ họ chưa hề đến Việt Nam và chưa hiểu những đóng góp to lớn của báo chí Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, họ chưa biết rằng Việt Nam đã trở thành quốc gia hàng đầu trong khu vực. Tất cả những thông tin của họ chỉ là vơ bèo vặt tép, cóp nhặt vô căn cứ. Những thành tựu về nhân quyền nói chung và tự do báo chí nói riêng của Việt Nam đã được thế giới ghi nhận và đáng giá cao. Chính những từ thành tựu ấy và những đóng góp vào thúc đẩy, phát triển nhân quyền nói chung, tự do báo chí nói riêng mà Việt Nam đã được bầu trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Đây là minh chúng rõ ràng bác bỏ mọi luận điệu bóp méo, xuyên tạc theo kiểu “nghe hơi nồi chõ” của Tổ chức phóng viên không biên giới./.

 

Giá đắt phải trả cho những kẻ ảo tưởng "sức mạnh” trên không gian mạng

 “Ảo tưởng sức mạnh” trên không gian mạng, nhiều đối tượng đã lợi dụng quyền dân chủ và tự do ngôn luận có các hoạt động tuyên truyền, phá hoại tư tưởng; phát ngôn xâm phạm đến quyền lợi của các cá nhân, tổ chức… Thực chất, hoạt động của các đối tượng chỉ với mục đích “đánh bóng tên tuổi” và kiếm tiền.

Hiện nay, trong xã hội và ngay trong đội ngũ cán bộ, đảng viên xuất hiện không ít ý kiến cho rằng, để Việt Nam tăng tốc phát triển, thoát bẫy thu nhập trung bình thì cần phải rập khuôn mô hình phát triển kinh tế, sao chép luật pháp, sao chép hệ thống giáo dục, sách giáo khoa của các nước phát triển. Thực tế cho thấy, những đòi hỏi trên là vô lý và nguy hiểm. Bởi sự rập khuôn đó rất dễ dẫn đến những sự chuyển hóa về chất của cả thể chế chính trị, xã hội và con người của một quốc gia. Đòi “tam quyền phân lập” - sự đánh tráo giá trị Nói về những đòi hỏi rập khuôn nêu trên xin được chỉ ra những ví dụ. Đầu tiên cần phải nhắc tới ý kiến đòi hỏi rập khuôn về mô hình tổ chức quyền lực nhà nước theo “tam quyền phân lập”. Những người yêu cầu rập khuôn mô hình nói trên cho rằng, chỉ có phân chia quyền lực nhà nước theo “tam quyền phân lập” thì mới kiểm soát được quyền lực, mới ngăn chặn được tham nhũng. “Tam quyền phân lập” với tư cách là một học thuyết là sản phẩm của nền dân chủ phương Tây. Có thể xem, học thuyết phân quyền có giá trị về chính trị-kỹ thuật pháp lý trong tổ chức quyền lực nhà nước. Bởi theo học thuyết này, quyền lực nhà nước không được tập trung vào một người hay một cơ quan mà được cấu thành từ 3 quyền cơ bản: Lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ba quyền được giao cho 3 cơ quan khác nhau, có nhiệm vụ, quyền hạn độc lập tương đối với nhau. Giữa 3 quyền này có sự kiểm soát, thậm chí có sự kiềm chế, đối trọng lẫn nhau. Hiện nay, các nước vận dụng học thuyết này hết sức đa dạng, muôn màu, muôn vẻ. Cũng phân chia quyền lực nhà nước thành lập pháp, hành pháp và tư pháp nhưng nhiệm vụ và quyền hạn cũng như cách thức tổ chức mỗi quyền thì ở từng nước quy định rất khác nhau. Có nước giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp không có sự độc lập đối trọng chế ước lẫn nhau (như nước Anh) mà dựa vào phe đối lập thiểu số trong nghị viện. Có nước, giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp lại độc lập, kiềm chế và đối trọng một cách cứng rắn (như nước Mỹ); có nước, kiềm chế đối trọng một cách mềm dẻo giữa các quyền (như ở Đức). Việc vận dụng học thuyết tam quyền phân lập vào tổ chức quyền lực nhà nước ở các nước tư sản khác nhau, bởi tổ chức quyền lực nhà nước về phương diện chính trị và kỹ thuật pháp lý phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, như: Tương quan lực lượng giữa các giai cấp, nhất là trong nội bộ của giai cấp cầm quyền, đặc thù của cuộc đấu tranh giai cấp ở trong nước và trên trường quốc tế, tư tưởng lập hiến của những người đương thời... Tất cả yếu tố đó đều là những nhân tố chi phối và ảnh hưởng đến việc vận dụng học thuyết phân quyền trong tổ chức quyền lực nhà nước của mỗi nước. Vì thế, không thể nói đơn giản rằng phân quyền theo mô hình của nước này thì tốt, còn theo mô hình của nước kia thì không tốt, theo mô hình này thì dân chủ, theo mô hình kia thì không có dân chủ. Trên thế giới tuyệt nhiên không có sự sao chép, rập khuôn máy móc mô hình tổ chức nhà nước của nước này cho nước kia. Những đòi hỏi cho rằng, tổ chức quyền lực nhà nước của nước này phải giống nước kia mới có dân chủ và quyền con người chỉ là sự nhầm tưởng của một số người. Tại Việt Nam, mô hình tổ chức nhà nước của chúng ta không thực hiện “tam quyền phân lập” mà theo Hiến pháp 2013 thì “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Những minh chứng trên thực tế đã cho thấy mặc dù không thực hiện “tam quyền phân lập” nhưng việc kiểm soát quyền lực, chống tham nhũng có kết quả tích cực, các giá trị về dân chủ, quyền con người được Nhà nước ta thực hiện tốt, phù hợp với trình độ phát triển, được quốc tế công nhận. Không thể có một mô hình phát triển chung cho mọi quốc gia Trong xã hội còn có những đòi hỏi cải cách thể chế để tăng tốc phát triển kinh tế. Có ý kiến cho rằng, cần phải áp dụng thể chế kinh tế của các nước phát triển thì Việt Nam mới thoát được bẫy thu nhập trung bình. Câu hỏi đặt ra là, vậy liệu có mô hình phát triển nào có sẵn phù hợp để bê nguyên xi vào Việt Nam hay không? Tại sao mô hình Anh, Mỹ đưa lại sự phát triển cho Anh, Mỹ, Australia, New Zealand, Canada nhưng lại không đưa lại sự phát triển cho Philippines. Trước đây, Ấn Độ là thuộc địa của Anh nhưng mô hình thể chế của Anh cũng không đưa lại sự phát triển đột biến ở Ấn Độ. Tại sao lại như vậy? Tại sao mô hình nhà nước kiến tạo phát triển đưa lại sự thịnh vượng và đưa một số nước có văn hóa Đông Bắc Á từ nước đang phát triển lên thành nước phát triển, nhưng mô hình này không thành công với các nước khác? Cũng để nhằm xây dựng thể chế phù hợp cho phát triển kinh tế, nhiều ý kiến lại cho rằng Việt Nam không cần vất vả trong xây dựng luật pháp, mà chỉ cần áp dụng các luật tiến bộ của các nước phương Tây. Điều này bị chính các nhà nghiên cứu của các nước phương Tây phủ định. Nhà chính trị học kinh điển người Pháp Pierre Legrand đã bác bỏ khả năng rập khuôn pháp luật nước ngoài: “Nói một cách thẳng thắn, trong trường hợp tốt nhất, điều có thể du nhập từ nước này vào nước khác chỉ là những từ ngữ vô hồn”. Thực tế cho thấy, vào thập niên 1960, Mỹ đã thất bại trong việc “xuất khẩu” những tư tưởng pháp lý vào các nước Nam Mỹ, châu Phi; hoặc các nước XHCN cũ vay mượn những khái niệm, chế định của Liên Xô cũng thất bại... Ở Việt Nam, việc áp dụng máy móc pháp luật Liên Xô thời mệnh lệnh hành chính đã cho thấy những bất cập. Và ngay cả những quy định của pháp luật phương Tây nếu áp dụng máy móc cũng không thể thực hiện được, ví dụ như Luật Phá sản năm 2004 hay Luật Doanh nghiệp năm 1999. Trong các trường hợp này, những từ ngữ pháp lý xa lạ được bê nguyên xi vào bối cảnh nội địa. Cùng với đó, người làm luật nếu chỉ chú trọng du nhập văn bản và quy định pháp luật, mà ít lưu tâm đến những học thuyết làm nền tảng cho các quy định đó vận hành thì luật khó điều chỉnh được quan hệ pháp lý ngoài thực tiễn. Bởi pháp luật liên quan tới thể chế chính trị, pháp luật bị ảnh hưởng bởi văn hóa, thực trạng xã hội nên việc tiếp nhận pháp luật phải kéo theo việc tiếp nhận quan điểm, học thuyết về pháp luật sẽ không dễ dàng. Luật chỉ có thể có hiệu lực thực tế nếu tồn tại các tiền đề cần thiết trong xã hội. Tiếp nhận quan điểm pháp luật cần phải phù hợp với môi trường chính trị, xã hội, tập quán, truyền thống, đạo đức trong xã hội Việt Nam. Giáo dục phải hướng tới mục tiêu xây dựng con người Việt Nam XHCN Đối với lĩnh vực giáo dục, mục tiêu của hệ thống đào tạo của Việt Nam là phải đào tạo ra các công dân Việt Nam-một nước XHCN, có truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam. Vì vậy, hệ thống giáo dục-đào tạo của Việt Nam phải đáp ứng các chuẩn mực về chính trị và văn hóa, cùng với đó mới là tiếp nhận các giá trị chung tiến bộ của nhân loại. Mọi ý muốn sao chép, rập khuôn hệ thống giáo dục, sách giáo khoa của nước khác đều sẽ mang lại rủi ro lớn nếu không bám vào các chuẩn mực giáo dục của Việt Nam, nếu thiếu kiểm soát. Trong thời kỳ hội nhập hiện nay, trước rất nhiều sức ép về chính trị, kinh tế, nếu mỗi quốc gia, mỗi dân tộc không tự định vị được giá trị, bản sắc của mình thì rất dễ bị hòa tan và biến mất. Một quốc gia có thể mất chủ quyền ngay cả khi chưa có tiếng súng xâm lược nào vang lên, lãnh thổ quốc gia chưa bị xâm phạm. Ấy là khi người dân của quốc gia, dân tộc đó không còn thực sự hiểu rõ về mình, về cội nguồn của mình. Cho nên, đối với những vấn đề phát triển của một quốc gia như xây dựng thể chế, tăng trưởng kinh tế, các giá trị của dân chủ, quyền con người... đều phải phù hợp với hệ giá trị mà quốc gia đó định hướng xây dựng. Hội thảo quốc gia "Hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới" dự kiến được tổ chức ngày 29-11-2022 tại Hà Nội là một cơ hội rất cần thiết để các nhà nghiên cứu bàn luận, khẳng định về hệ giá trị của Việt Nam. Đó sẽ là lời nhắc nhở, soi rọi ra các vấn đề của xã hội, để đất nước ta phát triển mà không đánh mất bản s
XÂY DỰNG HỆ GIÁ TRỊ VĂN HÓA VIỆT NAM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN Hiện nay hệ giá trị văn hóa Việt Nam đang có những biến chuyển phức tạp trước sự thay đổi nhanh chóng của các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cũng như những tác động khó lường của bối cảnh trong nước và quốc tế. Việt Nam là đất nước ngàn năm văn hiến với một nền văn hóa có bề dầy truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986) cho rằng những truyền thống tốt đẹp của văn hóa Việt Nam là: “thương nước, thương nhà, thương người, thương mình”. Nghị quyết số 03-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII (năm 1998) xác định: “Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”. Nghị quyết số 33-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 9 khóa XI (năm 2014) chỉ rõ: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam với các đặc trưng: dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học”. Dự báo về xu hướng vận động Hiện nay hệ giá trị văn hóa Việt Nam đang có những biến chuyển phức tạp trước sự thay đổi nhanh chóng của các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cũng như những tác động khó lường của bối cảnh trong nước và quốc tế. Từ việc tham khảo một số công trình nghiên cứu đi trước và nhận diện các yếu tố tác động liên quan, có thể đưa ra một số dự báo về xu hướng vận động của hệ giá trị văn hóa Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế như sau: Xu hướng từ đề cao các giá trị tinh thần, đạo đức sang đề cao các giá trị vật chất, kinh tế. Đây là quá trình vận động của các giá trị gắn với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đề cao chính đáng các giá trị vật chất và làm giàu hợp pháp. Xu hướng coi trọng các giá trị tình cảm sang coi trọng giá trị pháp lý. Đây là kết quả tất yếu của sự chuyển đổi từ một xã hội tiểu nông sang xã hội công nghiệp, văn minh, hiện đại. Nền văn hóa Việt Nam xưa nay vốn là nền văn hóa trọng tình, “một trăm cái lý không bằng một tý cái tình”. Trong bối cảnh mới hiện nay, các nguyên tắc trọng lý đang dần dần chiếm ưu thế trước lối sống trọng tình truyền thống. Xu hướng dựa vào tập thể, đề cao cộng đồng chuyển sang khẳng định cái tôi, giá trị tài năng cá nhân. Một đặc trưng cơ bản của văn hóa truyền thống Việt Nam là tính cộng đồng làng xã tạo nên sự cố kết trong sản xuất nông nghiệp, chống thiên tai, địa họa. Nhưng xã hội hiện đại, dân chủ ngày nay đòi hỏi một nền văn hóa coi trọng các cá nhân có năng lực và bản lĩnh, tránh tình trạng cào bằng, dựa dẫm, ỷ lại tập thể, “cha chung không ai khóc”, “xấu đều hơn tốt lỏi”. Xu hướng tôn trọng kinh nghiệm, trọng lão sang đề cao tri thức khoa học, trọng tài năng, thực lực. Truyền thống đề cao kinh nghiệm, trọng lão, “trọng xỉ” trong nền kinh tế khép kín, tự cung tự cấp đang chuyển biến mạnh sang coi trọng trí tuệ, kiến thức khoa học kỹ thuật, tiếp thu cái mới, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức, nhất là trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0 hiện nay. Xu hướng trọng tĩnh chuyển sang trọng động. Trọng tĩnh, ưa ổn định là một trong những đặc trưng nổi bật của văn hóa Việt Nam, đến nay để đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập, đang chuyển mạnh sang trọng năng động, đổi mới và sáng tạo. Xu hướng sống theo tôn ti, trật tự chuyển sang đòi hỏi cuộc sống dân chủ, bình đẳng. Từ một xã hội chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo đề cao tôn ti, thứ bậc, gia trưởng, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, xu hướng coi trọng các giá trị mới, tiến bộ của phương Tây như dân chủ, tự do, bình đẳng, nhân quyền... ngày càng cởi mở. Xu hướng chuyển từ thế giới quan hướng nội đến nỗ lực hướng ngoại. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế mạnh mẽ hiện nay, các giá trị hướng nội sẽ dần dần được bổ sung hoặc thay thế bằng các giá trị hướng ngoại. Một số quan điểm Về quan điểm xây dựng hệ giá trị văn hóa Việt Nam hiện nay có nhiều luồng ý kiến khác nhau, nhưng về cơ bản có thể quy về ba trường phái cho rằng: 1) Chỉ nên đúc kết và nhấn mạnh những giá trị văn hóa đã định hình và đang tồn tại trong thực tế. Việc xác định hệ giá trị văn hóa chính là chắt lọc, tìm ra đúng các giá trị tiêu biểu, cốt lõi, mang tính đại diện cho văn hóa Việt Nam hiện nay; 2) Đưa ra những giá trị kỳ vọng, giá trị định hướng mà nền văn hóa Việt Nam cần hướng tới nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập; 3) Kết hợp giữa các giá trị đang tồn tại với các giá trị định hướng nhằm hướng tới sự phát triển bền vững và có tầm nhìn xa. Tác giả bài viết ủng hộ quan điểm thứ ba. Về nguyên tắc xác định hệ giá trị văn hóa Việt Nam hiện nay, qua tham khảo kinh nghiệm quốc tế và xuất phát từ thực tiễn Việt Nam có thể đưa ra một số lưu ý: Một là, nhìn chung, khó có thể bao quát hết toàn bộ các giá trị của một nền văn hóa, do vậy, việc xác định hệ giá trị văn hóa Việt Nam chỉ nên dừng lại ở các giá trị mang tính cốt lõi, trọng điểm, tiêu biểu. Hai là, hệ giá trị mới cần kế thừa có chọn lọc các giá trị truyền thống đã được định hình lâu đời trong lịch sử Việt Nam. Trong bối cảnh đương đại, một số giá trị đã trở nên lỗi thời, bị lịch sử vượt qua, trở thành vật cản cho sự phát triển thì phải cương quyết sàng lọc, gạt bỏ. Ba là, tiếp thu, bổ sung những giá trị mới, tiến bộ của văn hóa nhân loại. Trong tương quan với các giá trị truyền thống, các giá trị ngoại sinh có thể đem tới những sức mạnh lớn lao. Đó thường là những giá trị văn minh, hiện đại mà chúng ta còn thiếu hoặc có ở mức thấp. Bốn là, bám sát các điều kiện thực tiễn của Việt Nam, gắn với trình độ phát triển của nền kinh tế, đặc điểm của thể chế chính trị, mặt bằng dân trí, nền tảng giáo dục, năng lực pháp luật và quan trọng nhất là những đặc thù về văn hóa. Năm là, cấu trúc của hệ giá trị cần cô đọng, súc tích, dễ nhớ, dễ thuộc. Kinh nghiệm của các nước cho thấy hệ giá trị thường chỉ có từ 4-5 giá trị, nếu dài hoặc khó hiểu quá, người dân sẽ khó tiếp thu, khó đi vào cuộc sống, chẳng hạn, Philippines đề xuất 9 giá trị, Thái Lan đề xuất 12 giá trị, đến nay đều không phát huy tác dụng. Các giá trị cũng không nên quá cao siêu, lý tưởng, mà phải gần gũi, thiết thực, khả thi với điều kiện sống hôm nay. Những giá trị cốt lõi Trên cơ sở tổng kết, đúc rút kết quả nghiên cứu của một số công trình đi trước, tham khảo kinh nghiệm quốc tế đồng thời bám sát quan điểm, định hướng của Đảng, kế thừa có chọn lọc các giá trị văn hóa truyền thống kết hợp với bổ sung các giá trị mới của thời đại, kiểm chứng và đo lường qua điều tra xã hội học, xin đề xuất hệ giá trị văn hóa Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế với 4 giá trị cốt lõi là: Dân tộc, dân chủ, nhân văn, tiến bộ. Có thể diễn giải về nội hàm và căn cứ lựa chọn các giá trị nêu trên như sau: Thứ nhất, giá trị dân tộc thể hiện một nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc, toát lên truyền thống văn hiến Việt Nam. Đó cũng là nền văn hóa độc lập, tự chủ, có nội lực, không bị lấn át trước văn hóa ngoại lai. Nền văn hóa đó cũng có khả năng tiếp thu, “dân tộc hóa”, “Việt hóa” những ảnh hưởng tốt đẹp của văn hóa bên ngoài, làm giàu và nâng tầm cho văn hóa dân tộc. Tính dân tộc có thể được biểu hiện qua cả nội dung và hình thức của nền văn hóa. Trên thực tế, dân tộc là giá trị nổi bật của văn hóa Việt Nam, từ đó tạo nên bản sắc, cốt cách, tinh hoa của văn hóa Việt Nam. Đây cũng là giá trị luôn được đề cao và nhất quán trong đường lối lãnh đạo văn hóa, văn nghệ của Đảng ta, từ Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 đến Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII và Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI. Trong cơn lốc của toàn cầu hóa hiện nay, việc giữ gìn bản sắc dân tộc càng cần thiết hơn bao giờ hết để chúng ta “hòa nhập mà không hòa tan”. Đề cao giá trị dân tộc chính là đối trọng để giữ thế cân bằng, tạo sức đề kháng trước nguy cơ “xâm lăng văn hóa” cũng như vươn lên khẳng định văn hóa Việt Nam trên bản đồ văn hóa thế giới. Thứ hai, giá trị dân chủ là biểu hiện của một nền văn hóa của dân, do dân và vì dân. Người dân vừa là chủ thể vừa là khách thể của văn hóa, vừa là người sáng tạo vừa là người hưởng thụ văn hóa. Một nền văn hóa dân chủ góp phần đề cao quyền tự do cá nhân, tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do sáng tạo văn hóa. Mọi công dân đều được bình đẳng và tôn trọng trong phát triển văn hóa, làm đối trọng chống lại tình trạng độc tôn quyền lực, lạm dụng quyền lực, xâm phạm quyền làm chủ của nhân dân. Dân chủ cũng là giá trị tiến bộ của thời đại mà đa số các quốc gia văn minh đều hướng tới. Đây cũng là một trong những mục tiêu lớn mà Đảng và Nhà nước ta đang phấn đấu để “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Dân chủ cũng là một yêu cầu mà Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI đã đề ra và là giá trị chúng ta còn khá yếu, cần tập trung xây dựng. Thứ ba, giá trị nhân văn thể hiện ở nền văn hóa yêu thương con người, nhân ái, bao dung, lấy con người làm gốc. Nhân văn có nội hàm rộng hơn bác ái của phương Tây, còn có ý nghĩa tôn trọng nhân phẩm, đề cao nhân quyền, tôn trọng quyền con người. Văn hóa Việt Nam từ xưa đến nay là nền văn hóa trọng tình cảm, thương yêu con người, đề cao tình yêu thương đồng loại. Từ truyền thống “Đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” thời Nguyễn Trãi đến tinh thần nhân ái, vị tha “thương người như thể thương thân” ngày nay luôn thể hiện tính nhân văn sâu sắc của văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay giá trị này đang bị đe dọa trước lối sống vị kỷ, vô cảm trong cơ chế kinh tế thị trường. Vì những mục tiêu vụ lợi người ta có thể xâm hại, chà đạp, vùi dập nhân phẩm của nhau. Do vậy, rất cần khôi phục và củng cố sự tử tế, lòng nhân ái, nghĩa tình vốn sẵn có trong văn hóa Việt Nam. Nhân văn cũng là một giá trị mà Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI đề ra đối với văn hóa Việt Nam. Thứ tư, giá trị tiến bộ thể hiện một nền văn hóa ngày càng phát triển theo chiều hướng đi lên, tốt hơn trước, phù hợp với xu thế thời đại và nhân loại. Tiến bộ đối lập với thụt lùi, trì trệ, bảo thủ, chậm tiến. Giá trị tiến bộ sẽ khắc phục những biểu hiện cổ hủ, lạc hậu, phản khoa học trong văn hóa. Tựu trung, hệ giá trị văn hóa Việt Nam nêu trên đã cố gắng đảm bảo sự cân đối, hài hòa giữa các chiều kích: truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, ổn định và phát triển. Việc xác định hệ giá trị văn hóa Việt Nam là một công việc vô cùng khó khăn, tuy nhiên, khó hơn nữa là việc triển khai thực thi những giá trị đó trong đời sống thực tiễn. Còn rất nhiều công việc chúng ta phải làm để có thể xây dựng một nền văn hóa vừa giàu truyền thống lịch sử, mang đậm bản sắc dân tộc, vừa bắt kịp với bước tiến của nhân loại và mang hơi thở của thời đại.

LỜI BÁC DẠY NGÀY 04 THÁNG 12

 

Khi phải đương đầu với kẻ địch hung ác, một dân tộc dù bé nhỏ, nếu luôn luôn cảnh giác, đoàn kết nhất trí, kiên quyết và bền bỉ đấu tranh, thì cuối cùng nhất định thắng lợi”. Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết “Ủng hộ Cuba chống đế quốc Mỹ”, bút danh “T.L”, đăng trên Báo Nhân dân, số 3175, ra ngày 04 tháng 12 năm 1962.  Đây là thời điểm nhân dân Cuba vừa giành được nền độc lập và tuyên bố xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời chịu sự bao vây, chống phá quyết liệt của chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ hòng ngăn chặn, xóa bỏ tiền đồn chủ nghĩa xã hội ở Tây bán cầu. Lời của Bác như một chân lý, một lời hiệu triệu, cổ vũ động viên phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, trong đó có nhân dân Cuba hãy tin tưởng vào cuộc chiến tranh chính nghĩa của mình, sẵn sàng chiến đấu hy sinh để bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chủ nghĩa xã hội và dù là một dân tộc nhỏ bé, nhưng nếu luôn cảnh giác, đoàn kết nhất trí, kiên quyết và bền bỉ đấu tranh, thì cuối cùng nhất định thắng lợi.

Từ thực tiễn của cách mạng Việt Nam, với thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đã chứng minh một chân lý của thời đại: Một nước nhỏ, kinh tế chậm phát triển, nhưng luôn có đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn, sáng tạo, biết phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, được nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hoà bình trên thế giới đồng tình ủng hộ thì nhất định sẽ đánh bại bất kỳ kẻ thù xâm lược nào... Tiếp đó, thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta lại một lần nữa tiếp tục khẳng định và làm sáng tỏ hơn chân lý trên.

Hiện nay, trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực đang có nhiều diễn biến phức tạp, cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Gần 60 năm đã trôi qua, lời của Bác đến nay vẫn giữ nguyên giá trị, góp phần cổ vũ động viên các dân tộc dũng cảm, kiên cường giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; chống mọi sự can thiệp, áp đặt và xâm lược để bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, dân tộc; lạc quan, tin tưởng thực hiện thắng lợi công cuộc giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Thực hiện lời dạy của Bác, Quân đội ta phải tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân; chiến đấu vì mục tiêu lý tưởng cao cả của Đảng, của giai cấp, của dân tộc, là vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân; kiên trì xây dựng, phát triển mối quan hệ đoàn kết hữu nghị với quân đội và nhân dân các nước, phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội cần nâng cao tinh thần cảnh giác, nhận thức sâu sắc đối tượng, đối tác của cách mạng, đối tượng tác chiến của quân đội trong thời kỳ mới; ra sức thi đua huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm, sẵn sàng chiến đấu cao, quyết tâm phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao./.

                                                                                     VHT.