Thứ Ba, 3 tháng 1, 2023
Cả nước chung sức, đồng lòng, nỗ lực phấn đấu, đưa đất nước phát triển ngày càng cường thịnh
HIỂU ĐÚNG VỀ “ANH HÙNG”!
“Anh hùng thật là những người bất cứ việc to
việc nhỏ, luôn luôn cố gắng, vượt qua khó khăn, làm tròn nhiệm vụ”.
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích
trong bài “Anh hùng giả và anh hùng thật”, đăng trên Báo Nhân dân, số 149, từ
ngày 21 đến ngày 25 tháng 11 năm 1953.
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan
tâm đến công tác thi đua - khen thưởng, phát hiện, cổ vũ, động viên, phát huy
và nhân rộng những tấm gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến, các anh
hùng lực lượng vũ trang, anh hùng lao động… để nhân lên cái đẹp, đẩy lùi cái
xấu, góp phần hoàn thành nhiệm vụ cách mạng. Bác đã dạy: “Một trăm bài diễn
thuyết hay không bằng một tấm gương sống” và “Quần chúng chỉ quý mến những
người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho
người ta bắt chước”.
Thấu triệt tư tưởng của Người, Đảng, Nhà nước
ta đã luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tốt công tác thi đua - khen thưởng, xây
dựng và nhân rộng điển hình tiên tiến, tôn vinh các anh hùng lực lượng vũ
trang, anh hùng lao động có sức lan tỏa sâu rộng, tạo nên động lực, cổ vũ, động
viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thi đua hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ
cách mạng. Từng thời kỳ, từng giai đoạn, đều xuất hiện nhiều tấm gương người
tốt, việc tốt, những anh hùng tiêu biểu mẫu mực về nỗ lực vượt mọi khó khăn,
gian khổ, nói đi đôi với làm, nói ít là nhiều, làm có hiệu quả, không quản ngại
hy sinh, tận tâm, tận lực phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của
tập thể lên trên, lên trước, sống nghĩa tình, thủy chung… được mọi người tôn
vinh, học tập và noi theo.
Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, lớp lớp
các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn tích cực hưởng ứng
và thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, các
phong trào của các cấp, các ngành và đã cụ thể hóa thành phong trào thi đua
Quyết thắng được triển khai sâu rộng và được cán bộ, chiến sĩ toàn quân, lực
lượng dân quân tự vệ tích cực hưởng ứng thực hiện với quyết tâm chính trị và
trách nhiệm cao. Toàn quân luôn tận trung với Đảng, với Tổ quốc, tận hiếu với
nhân dân, không ngại khó khăn, gian khổ, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc
lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Toàn quân đã xuất hiện nhiều
tập thể, cá nhân anh hùng tiêu biểu tinh thần vượt mọi khó khăn, thử thách, nêu
cao ý chí tự lực, tự cường, chủ động, sáng tạo, quyết chiến, quyết thắng, đoàn
kết, thương yêu đồng chí, đồng đội, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng
chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân,
xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” nhân dân tin tưởng, yêu mến trao
tặng. St
Tinh thần trách nhiệm!
Tinh
thần trách nhiệm là gì? Là khi Đảng,
Chính phủ hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta
cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi, đến chốn, vượt mọi khó
khăn, làm cho thành công. Làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó
bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy, vv… là không có tinh thần trách
nhiệm".![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
Đó là lời của Bác Hồ trong Bài viết về
"Tinh thần trách nhiệm" được đăng trên Báo Nhân dân số 36, ngày 13
tháng 12 năm 1951. Đây là năm đầu thực hiện đường lối kháng chiến "toàn
dân, toàn diện, trường kỳ và nhất định thắng lợi" của Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ II đề ra, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên đã có một số biểu hiện
tư tưởng thiếu cố gắng, làm chưa hết chức trách, nhiệm vụ, nói nhiều, làm ít;
làm chưa đến nơi, đến chốn…, để kịp thời đấu tranh, khắc phục và làm cơ sở cho
các tổ chức học tập, chỉnh đốn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có bài viết về tinh
thần trách nhiệm.
Thực hiện lời chỉnh huấn của Bác, trong thời điểm
ấy, các tổ chức đảng đã tập trung tuyên truyền, giáo dục nâng cao tinh thần
cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; nắm chắc tình hình, nhiệm vụ, chủ động
khắc phục khó khăn, đoàn kết gắn bó với nhân dân, thi đua phấn đấu hoàn thành
thắng lợi nhiệm vụ của Đảng và Chính phủ giao phó, tạo tiền đề huy động sức
mạnh của toàn dân tộc tích cực tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp, mà
đỉnh cao là thắng lợi Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.
Trong tình hình hiện nay, nhiệm vụ xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc đặt ra yêu cầu ngày càng cao; đại đa số cán bộ đảng viên và quần
chúng đều nêu cao vai trò trách nhiệm, thực hiện nghiêm quy định, quy chế làm
việc của tổ chức, cơ quan, đơn vị; luôn thể hiện rõ tinh thần chủ động, dám
nghĩ, dám làm, tâm huyết, tận tụy với công việc. Cán bộ, chiến sĩ tích cực, tự
giác trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, rèn luyện, chấp hành nghiêm kỷ luật,
pháp luật; chủ động, sáng tạo, không ngại khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và
hoàn thành mọi nhiệm vụ cấp trên giao. Tuy nhiên, cũng còn một số cán bộ đảng
viên, quần chúng có biểu hiện trốn tránh trách nhiệm, bớt xén giờ giấc, làm
không đúng quyền hạn, chức trách, nói nhiều, làm ít; làm qua loa chiếu lệ… Đòi
hỏi việc học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy về "Tinh thần trách nhiệm"
không chỉ là yêu cầu, trách nhiệm chính trị đối với mọi cán bộ, đảng viên, mà
còn có ý nghĩa sâu sắc đối với mọi tổ chức, cá nhân và mọi công dân yêu nước
trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.St
Thấm nhuần lời Bác dạy!
“Việc to cũng như việc nhỏ. Đảng và Chính phủ
ta đều lo phục vụ lợi ích của nhân dân”.
Lời căn dặn trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được
trích trong bài viết “Cần phải nâng cao chất lượng hàng hóa”, bút danh “T.L”,
đăng trên Báo Nhân dân, số 3176, ra ngày 05 tháng 12 năm 1962.
Đây là thời điểm miền Bắc nước ta đang đẩy
mạnh thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (1961-1965) nhằm
không ngừng phát triển kinh tế - xã hội để trở thành hậu phương lớn chi viện
cho chiến trường miền Nam đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai
ngụy quân, ngụy quyền giành thắng lợi, thống nhất đất nước.
Là người sáng sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt
Nam, khai sinh ra Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh
luôn xác định Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung
thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân
tộc; Chính phủ là của dân, do dân và vì dân. Do vậy, Đảng và Chính phủ phải tôn
chỉ mục đích duy nhất là giữ vững độc lập, tự do của Tổ quốc, giải phóng nhân
dân khỏi mọi áp bức, bóc lột, xây dựng cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc, phục vụ
nhân dân từ việc to cho đến việc nhỏ. Lấy sự hài lòng của người dân làm thước
đo năng lực lãnh đạo của Đảng, điều hành của Chính phủ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ công khai mục
đích hoạt động của Đảng ta, của Chính phủ ta trước quốc dân đồng bào và bạn bè
quốc tế, thể hiện sâu sắc, đúng đắn tính giai cấp, tính tiền phong, trí tuệ,
đạo đức và tính quần chúng trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền
tự Trung ương đến cơ sở. Đồng thời, đây còn là tư tưởng chỉ đạo để Đảng và Nhà
nước ta luôn hành động đúng tôn chỉ, mục đích, gắn bó mật thiết với nhân dân,
một lòng, một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, đại biểu
trung thành cho lợi ích của giai cấp, nhân dân lao động và của dân tộc lãnh đạo
cách mạng Việt Nam giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Thấm nhuần lời Bác dạy, cấp ủy, chỉ huy các
cấp, mọi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam luôn tận trung với
Đảng, với Tổ quốc, tận hiếu với nhân dân, không ngừng phấn đấu, tu dưỡng, rèn
luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên
trên, lên trước lợi ích cá nhân; ra sức phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện, vượt qua
mọi khó khăn, thử thách, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, chủ động, sáng tạo,
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất,
toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội
chủ nghĩa... Cấp ủy, chỉ huy các cấp luôn thấm nhuần và thực hiện đúng điều Bác
Hồ kính yêu đã căn dặn: Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ
đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán
bộ không được kêu mình mệt; với bộ đội, cán bộ các cấp luôn thân thiết như
người chị, công bình như người anh, hiểu biết như người bạn, đồng cam, cộng
khổ, chi ngọt, sẻ bùi với bộ đội trên tình thương yêu đồng chí, lúc thường cũng
như lúc ra trận, thực hiện toàn quân một ý chí.St.
TỰ HÀO DANH XƯNG “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”
Trên thế giới, chưa một nước nào, người lính
lại được vinh dự gắn với tên một Anh hùng giải phóng dân tộc, lãnh tụ của mình
như ở Việt Nam. Danh xưng “Bộ đội Cụ Hồ” thực sự là sự sáng tạo của nhân dân
ta, là nét độc đáo trong văn hóa Việt Nam và lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ
nước của dân tộc ta.
“Bộ đội Cụ Hồ” là giá trị tiêu biểu trong dòng
chảy của nền văn hóa Việt Nam, thời đại Hồ Chí Minh. Cái hay cái đẹp của dạnh
xưng “Bộ đội Cụ Hồ” là ở chỗ nó được vun đắp, phát triển phù hợp với thực tiễn
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
“Bộ đội Cụ Hồ” - một giá trị văn hóa, một danh hiệu vinh dự do
nhân dân khen tặng. Từ đội quân chủ lực đầu tiên là “Việt Nam tuyên truyền giải
phóng quân” và “Quân giải phóng” thời Tiền khởi nghĩa đến “Vệ quốc đoàn”, “Quân
đội quốc gia”, “Quân đội nhân dân” thời kì chống Pháp, và “Quân giải phóng miền
Nam” thời kì chống Mỹ, “Quân tình nguyện Việt Nam” tại Lào và Campuchia trong
chiến tranh Đông Dương, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân
Việt Nam từ đời cha đến đời con nối tiếp truyền thống đi đánh giặc cứu nước đã
hun đúc nên một phẩm chất cao đẹp, một bản lĩnh mà nhân dân ta trìu mến gọi là “Bộ
đội Cụ Hồ” và nhân dân nước bạn gọi là “Đội quân Nhà Phật”.
“Bộ đội Cụ Hồ” là một danh hiệu vinh dự và
trách nhiệm. Một danh hiệu cao quý do nhân dân khen tặng. Đó là danh hiệu của
lòng dân. Được dân gọi là “Bộ đội Cụ Hồ”, đó là vinh dự lớn lao, là phần thưởng
cao quý nhất đối với quân đội ta, là sự xác nhận của nhân dân rằng: Quân đội ta
thật sự là Quân đội nhân dân, thật sự là quân đội của dân, do dân, vì dân, từ
nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu.St
“Gia đình là hạt nhân của xã hội”!
“Gia đình là hạt nhân của xã hội”.
Trích
trong bài viết “Phải thật sự bảo đảm quyền lợi của phụ nữ” Hồ Chí Minh viết,
đăng trên Báo Nhân dân, số 3199, ngày 28 tháng 12 năm 1962.
Sinh
thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vai trò của gia đình, bởi theo Bác
nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã
hội tốt thì gia đình càng tốt hơn, hạt nhân của xã hội là gia đình. Vậy nên,
quan tâm đến gia đình nhỏ trước tiên là phải thực hiện nam - nữ bình quyền. Với
quan điểm đó, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, vấn đề gia đình đã được Hiến pháp đầu tiên
của nước ta thông qua với nhiều điểm tiến bộ. Trong quan hệ gia đình, nam - nữ
bình đẳng như nhau, chế độ hôn nhân được pháp luật quy định là một vợ một
chồng...
Trải qua các thời kỳ lịch sử, quan
hệ gia đình ngày càng được củng cố và hoàn thiện góp phần thúc đẩy việc hình
thành và từng bước hoàn thiện quyền dân chủ trong quan hệ gia đình ở Việt Nam,
trở thành môi trường tốt để giáo dục nhân cách con người, là cơ sở để xây dựng
đời sống mới của xã hội mới, trở thành hạt nhân của xã hội Việt Nam.
Nhận
thức gia đình có vị trí, vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình phát
triển của đất nước, Đảng, Nhà nước, Chính phủ luôn quan tâm công tác chăm lo
xây dựng gia đình bằng nhiều chủ trương, chính sách cụ thể: Ban Bí thư Trung
ương Đảng khóa IX đã ban hành Chỉ thị 49-CT/TW ngày 21 tháng 02 năm 2005 về
“Xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước”, ngày
29 tháng 5 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 629/QĐ-TTg
về phê duyệt Đề án “Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm
nhìn đến năm 2030” với mục tiêu hướng tới là xây dựng gia đình Việt Nam no ấm,
tiến bộ, hạnh phúc, thực sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã
hội.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII,
XIII Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh: Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc,
thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội. Như vậy, gia đình không chỉ giữ vai trò
nền tảng, tế bào của xã hội, mà còn là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo
dục nếp sống, hình thành nên nhân cách con người. Gia đình giữ vai trò đặc biệt
quan trọng tới số lượng, chất lượng dân số và cơ cấu dân cư của quốc gia. Gia
đình không chỉ dừng lại ở việc duy trì nòi giống, mà quan trọng hơn, gia đình
phải trở thành môi trường tốt, đầu tiên để giáo dục nếp sống, hình thành nhân
cách con người.St.
LỜI BÁC HỒ DẠY!
“Trong công tác lưu thông phân phối, có hai
điều quan trọng phải luôn luôn nhớ:
- Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng,
- Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không theo”.
Ngày 29 tháng 12 năm 1966, tại phiên họp cuối
năm của Hội đồng chính phủ, khi đề cập đến khuyết điểm của công tác lưu thông
phân phối Bác đã căn dặn những điều trên. Ở đây, Bác đề cập đến “không sợ
thiếu”, “không sợ nghèo” không phải là cam tâm chịu nghèo, chịu thiếu. Cách
mạng là để cuộc sống con người giàu có hơn, sung sướng hơn. Nhưng trước cái
thiếu, cái nghèo còn đang hiện hữu thì phải làm sao thiếu mà được công bằng,
nghèo mà lòng dân vẫn yên. Sợ sự không công bằng và sợ lòng dân không theo là
biểu thị thái độ, trách nhiệm của người quản lý. Trước đó, năm 1947 để giữ
nghiêm pháp luật và kỷ luật Bác đã phải thức trắng đêm để suy nghĩ và đi đến
quyết định bác đơn xin ân xá của Đại tá Trần Dụ Châu, nguyên Cục trưởng Cục
Quân nhu vì những vi phạm nghiêm trọng về mặt đạo đức, quản lý không tốt, bớt
xén của bộ đội để dùng vào việc riêng.
Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Người, đội ngũ
cán bộ, nhân viên làm công tác phân phối hàng hóa trong hệ thống phân phối của
nhà nước đã đề cao trách nhiệm, tận tâm, tận lực hoàn thành tốt nhiệm vụ, nhất
là giai đoạn đất nước còn trong chiến tranh và thực hiện cơ chế bao cấp, góp
phần vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Trong Quân đội, mọi chế độ, tiêu chuẩn, chính
sách của cán bộ, chiến sĩ được quy định cụ thể trong các văn bản, được phổ biến
và niêm yết công khai theo quy định ở từng cấp để mọi quân nhân biết, thực
hiện. Hằng tháng, các cơ quan, đơn vị duy trì nghiêm nền nếp Ngày Dân chủ tham
gia góp ý trên mọi mặt công tác; qua đó tạo bầu không khí dân chủ, tin cậy đã
trực tiếp xây dựng đơn vị có môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, cơ quan,
đơn vị vững mạnh toàn diện.St.
ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG!
“Đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh
nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong bài “Đạo đức
cách mạng” đăng trên Tạp chí học tập số 12 tháng 12 năm 1958.
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất
hiện tương đối sớm và có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội.
Hồ Chí Minh là người bàn nhiều về đạo đức, nhất là đạo đức cách mạng; theo Bác,
đạo đức không chỉ là “gốc”, là nền tảng, là sức mạnh và nhân tố chủ chốt của
người cách mạng, mà còn là thước đo của lòng cao thượng của con người, là gốc
của cây, ngọn nguồn của sông nước. Đối với người đảng viên Đảng Cộng sản Việt
Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân
lao động và dân tộc Việt Nam, thì điều đầu tiên và vô luận trong mọi hoàn cảnh
phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết. Ở đây, chính là việc người
đảng viên thực hiện trọng vẹn lời hứa tại Lễ kết nạp đảng viên và giải quyết
tốt ba mối quan hệ cơ bản của mỗi con người (với mình, với người và với việc).
Người đảng viên có đạo đức cách mạng thì khi
gặp khó khăn, gian khổ, thất bại tạm thời... cũng không rụt rè lùi bước, khi
gặp thuận lợi và thành công, vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, khiêm tốn, chất
phác, không công thần, địa vị, kèn cựa hưởng thụ, thật sự trở thành người “lo
trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Người đảng viên thật sự có đức thì bao giờ
cũng luôn cố gắng học tập, nâng cao trình độ, rèn luyện năng lực để hoàn thành
mọi nhiệm vụ được giao.
Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, lớp lớp
đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội luôn không ngừng phấn đấu, tu dưỡng,
rèn luyện, trở thành hạt nhân lãnh đạo, trung tâm đoàn kết và là tấm gương sáng
về tinh thần sẵn sàng chiến đấu, hi sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ
nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua; thuyết
phục, chinh phục cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền bằng chính đạo đức cách mạng,
năng lực, trách nhiệm, tinh thần chịu đựng, vượt qua khó khăn, gian khổ, tận
tâm, tận lực, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Trong giai đoạn hiện nay, để xây dựng Quân đội
cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành tốt mọi nhiệm
vụ được giao; luôn giữ vững và không ngừng phát huy tốt phẩm chất cao đẹp “Bộ
đội Cụ Hồ” đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với việc xây dựng, rèn luyện và
phát huy tính tiền phong gương mẫu, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên
trong quân đội; nhất là đối với đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp.St.
Nhớ “Tết trồng cây”!
Trong không khí rộn ràng khi Tết đến Xuân về,
mỗi chúng ta lại nhớ tới cái “Tết” khác - một mỹ tục do Chủ tịch Hồ Chí Minh
kính yêu khởi xướng từ cuối năm 1959, đó là “Tết trồng cây”. Quan tâm đến môi
trường thiên nhiên và hiểu được ý nghĩa sâu sắc, giá trị thiết thực của môi
trường sống, Bác đã động viên và kêu gọi nhân dân ta tích cực trồng cây, giữ
lấy màu xanh của đất nước:
“Mùa xuân là Tết trồng cây,
Làm cho đất nước càng ngày càng Xuân…”
Ngày 28-11-1959, trên Báo Nhân dân số 2082,
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài “Tết trồng cây” và đề nghị tổ chức một ngày Tết
trồng cây để thiết thực kỷ niệm ngày thành lập Đảng. Trong bài viết, Bác nêu rõ
tác dụng của việc trồng cây là công việc đó “tốn kém ít mà ích lợi nhiều”, tất
cả nhân dân miền Bắc mỗi người phụ trách trồng một hoặc vài ba cây và chăm sóc
cho tốt. Tại thời điểm đó, Bác đã tính “ở miền Bắc có độ 14 triệu, trong số đó
độ 3 triệu là trẻ em thơ ấu, còn 11 triệu người từ tám tuổi trở lên đều có thể
trồng cây…Như vậy, mỗi Tết trồng được độ 15 triệu cây. Từ năm 1960 đến 1965,
chúng ta sẽ có 90 triệu cây, vừa cây ăn quả, cây có hoa, vừa cây làm cột nhà.
Và trong hai mươi năm, nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp hơn, khí hậu
điều hòa hơn, cây gỗ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải
thiện đời sống của nhân dân ta”. Cuối bài báo, Bác Hồ đã viết Tết trồng cây
“cũng là một cuộc thi đua dài hạn nhưng nhẹ nhàng mà tất cả mọi người - từ các
cụ phụ lão đến các em nhi đồng đều có thể hăng hái tham gia”. Điều đó có thể
thấy, ý nghĩa của “Tết trồng cây” là hết sức thiết thực và lớn lao.
Vào buổi sáng ngày 11/1/1960, không khí Tết
trồng cây đầu tiên mừng Đảng, mừng Xuân thật sôi nổi. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng
đồng bào Thủ đô đã trồng cây ở Công viên Hồ Bảy Mẫu (nay là Công viên Thống
Nhất). Tại nơi đây, Bác đã tự tay cầm xẻng, xúc đất vun cho một cây đa nhỏ.
Trồng cây xong, Bác nói chuyện thân mật với mọi người về lợi ích của việc trồng
cây. Người nói đại ý rằng, mấy năm trước nơi đây còn là bãi rác, nhờ có lao
động của mọi người mà nay cây đã lên xanh tốt. Ngày nghỉ, các cô, các chú dẫn
con cái ra đây hóng mát, xem hoa, ngắm cây vui chơi. Đây chính là vườn hoa của
các cô, các chú. Vậy chúng ta phải lao động cho thật tốt, ta làm cho ta và cho
con cháu đời sau.
52 mùa Xuân kể từ ngày ấy, Công viên Thống Nhất hôm nay đã trở
thành một khu vui chơi giải trí lớn của Thủ đô Hà Nội. Cây đa nhỏ năm xưa Bác
trồng giờ đã là một cây đa cổ thụ sum suê xanh tốt, tỏa bóng mát quanh năm.
Mùa Xuân năm 1969, sức khỏe của Bác yếu nhiều,
việc bố trí để Bác trồng cây ở một địa phương nào đó theo ý của Bác là một vấn
đề hết sức khó khăn. Những người phục vụ Bác rất lo lắng nên nhiều lần đề nghị
Bác hoãn lại việc trồng cây. Nhưng Bác rất kiên quyết. Người nói: “Đây là dịp
kỷ niệm 10 năm ngày phát động Tết trồng cây nên các chú phải bố trí cho Bác trồng
cây ở một địa phương nào đó có nhiều thành tích...”. Sau đó, Bác gợi ý chọn xã
Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội) là nơi có phong trào trồng
cây tốt.
Theo kế hoạch đã chuẩn bị, Bác đến địa điểm
trồng cây. Đông đảo các đại biểu, các tầng lớp nhân dân đã đứng trên những đồi
cây đón Bác. Bác trực tiếp trồng thêm một cây đa. Nhìn những xẻng đất, bình
nước Bác tưới mát cho cây, mọi người ai cũng xúc động. Trồng cây xong, Bác cùng
mọi người quây quần dưới tán bạch đàn và thân mật hỏi chuyện và chúc Tết mọi
người. Bác căn dặn: “Đất nước này là của chúng ta nên phải thi đua sản xuất
giỏi, trồng cây giỏi”.
Bác không chỉ nêu rõ giá trị của việc trồng
cây, gây rừng mà còn chỉ rõ những hậu quả và thiệt hại khi chặt phá rừng bừa
bãi, khai thác không hợp lý: “Ảnh hưởng đến khí hậu, ảnh hưởng đến sản xuất,
đời sống rất nhiều” và “nếu rừng kiệt thì không còn gì và mất nguồn nước thì
ruộng mất màu, gây ra lụt và hạn hán”. Chính vì thế mà Bác ví rừng là vàng và
căn dặn: “Chớ lãng phí vàng mà phải bảo vệ vàng của chúng ta”. Đau xót trước
cảnh rừng bị tàn phá, bị khai thác bừa bãi, Bác nói: “Những cây gỗ to bị chặt
để đốt hay cho mục nát không khác gì đồng bào mình tự đem tiền bạc bỏ xuống
sông”. Và rồi Bác kêu gọi nhân dân ta “phải có kế hoạch trồng rừng và tích cực
bảo vệ rừng… Phải bảo vệ rừng như bảo vệ nhà của mình”.
Ngay cả đến giờ phút sắp đi xa, trong Di chúc,
Bác Hồ cũng không quên nhắc nhở nhân dân ta phải tiếp tục công việc trồng cây
gây rừng: “Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây
hoa làm kỷ niệm. Trồng cây nào phải tốt cây ấy. Lâu ngày cây nhiều thành rừng,
sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho công nghiệp”.St
Ghi nhớ!
“Đại bác của bọn đế quốc không thể át tiếng nói yêu nước của nhân dân Việt Nam”
Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bài Con
đường cứu nước và giải phóng dân tộc trong thời đại ngày nay, viết vào tháng
1-1959, trong bối cảnh đất nước Việt Nam bị đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai dùng
bom đạn để đàn áp, giết hại nhân dân Việt Nam, Người chỉ rõ: Bọn vua quan và
phong kiến đê tiện và hèn nhát đầu hàng và cấu kết với bọn đế quốc để tiếp tục
nô dịch nhân dân Việt Nam nhiều hơn, khiến nhân dân Việt Nam khổ cực không kể
xiết. Nhưng đại bác của bọn đế quốc không thể át tiếng nói yêu nước của nhân
dân Việt Nam. Trong suốt gần một thế kỷ thống trị của thực dân Pháp, phong trào
cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam không ngừng phát triển, kẻ trước ngã,
người sau đứng dậy”.
Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một sự khẳng
định truyền thống yêu nước của dân tộc, ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác -
Lênin, Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 là cơ sở để Đảng ta hoạch định đúng đắn
đường lối, chủ trương cách mạng - nhân tố quyết định đến những thắng lợi của
cách mạng Việt Nam. Lời của Người đầu năm 1959 đã khích lệ, cố vũ toàn Đảng,
toàn dân, toàn quân ta phát huy truyền thống yêu nước, vượt qua khó khăn, thử
thách, đoàn kết đồng khởi, quyết tâm đấu tranh diệt ác, trừ gian, phá thế kìm
kẹp, giành chính quyền, chuyển cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang
thế tiến công mạnh mẽ, hình thành một cao trào cách mạng đồng khởi vũ trang của
quần chúng rộng khắp, tạo tiền đề đẩy nhanh thắng lợi sự nghiệp kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước.
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực, trong
nước có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; song lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh
viết vào năm ấy đến hôm nay vẫn đang lan tỏa sức mạnh, cổ vũ, động viên toàn
Đảng, toàn dân và toàn quân phát huy truyền thống yêu nước, kiên quyết, kiên
trì, sáng tạo đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế
lực phản động, thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Quân đội nhân dân Việt Nam, lực lượng nòng cốt
cùng toàn dân thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc xã hội
chủ nghĩa, luôn ghi sâu lời Bác, kiên định với mục tiêu lý tưởng của Đảng, tăng
cường bản chất giai cấp công nhân, gắn bó máu thịt với nhân dân, làm cho quân
đội ta luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành
và tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.St.
LỜI BÁC NHẮC NĂM MỚI!
“Năm mới ra sức thi đua ái quốc để thu nhiều
thắng lợi hơn năm cũ”.
Là lời thư chúc năm mới của Chủ tịch Hồ Chí
Minh vào ngày 1 tháng 1 năm 1952, đăng trên Báo Nhân dân ngày 03-1-1952, trong
bối cảnh nhân dân cả nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã trải qua gần 7 năm tiến
hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, giải phóng dân tộc:
"Nhân dịp Nguyên đán dương lịch 1952, tôi gửi lời thân ái chúc: Toàn thể
đồng bào và kiều bào, Toàn thể chiến sĩ, Các anh chị em cán bộ, Các cụ phụ lão,
các vị thân sĩ, Các cháu thanh niên, nhi đồng. Năm mới ra sức thi đua ái quốc
để thu nhiều thắng lợi hơn năm cũ”.
Lời Bác trong thư đầu năm mới thể hiện tấm
lòng thương nhớ da diết và trân trọng của Người đối với đồng bào, chiến sĩ cả
nước, kiều bào ta đang sinh sống ở nước ngoài và khích lệ, khơi dậy, động viên,
thôi thúc “con dân nước Việt” nêu cao truyền thống yêu nước, cống hiến sức mình
cho thắng lợi sự nghiệp đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc.
Đầu năm 1952, ngay khi đăng tải trên báo, lời
chúc đầu năm mới của Người đã được các tầng lớp nhân dân, kiều bào, cán bộ
chiến sĩ quân đội đón nhận, chuyển hóa thành khẩu hiệu “hành động cách mạng”
trên khắp tiền tuyến, hậu phương trong cả nước; cán bộ, chiến sĩ quân đội dấy
lên phong trào thi đua học tập, huấn luyện, đánh đuổi giặc ngoại xâm giải phóng
dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân dân cả nước, trên dưới đồng lòng, đưa
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta chuyển sang một
giai đoạn mới - giai đoạn phản công chiến lược, tạo ra thế phát triển tiến công
trên diện rộng, làm tiền đề đẩy nhanh thực hiện chiến cục Đông Xuân 1953 -
1954, mau chóng kết thúc chiến tranh chống thực dân Pháp xâm lược.
Vang vọng lời Bác năm xưa, mỗi dịp vui xuân,
đón tết Nguyên đán của dân tộc, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gửi lời chúc năm mới tới toàn thể đồng bào,
chiến sĩ cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài, phát huy trí tuệ, bản lĩnh,
truyền thống yêu nước, kiên cường, bất khuất của dân tộc, nắm bắt thời cơ, vượt
qua khó khăn thách thức, đoàn kết thi đua yêu nước, giành thắng lợi mới trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh, vẻ vang, sánh vai cùng bè bạn năm châu.
Trong những giờ phút thiêng liêng chuyển sang
năm mới, tự hào vững bước dưới Quân kỳ "Quyết chiến, quyết thắng",
cán bộ, chiến sĩ Quân đội khắc sâu lời chúc năm mới của Bác; tin tưởng tuyệt
đối vào vai trò lãnh đạo của Đảng, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nắm
chắc tay súng, giữ vững biên cương, chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, bảo vệ
Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ cuộc sống ấn no hạnh phúc của nhân
dân. St
Học theo gương Bác làm động lực cố gắng, phấn đấu.
BÀI HỌC TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
Cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX, trong bối cảnh Việt Nam diễn ra cuộc khủng hoảng chính trị, “tình hình
đen tối tưởng chừng như không có đường ra”, người thanh niên yêu nước Nguyễn
Tất Thành đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước, mang theo hoài bão lớn giành
lại “độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do cho đồng bào tôi”. Câu hỏi lớn cần lời giải
đáp: Lựa chọn con đường nào để giành độc lập dân tộc, cứu nước, cứu dân đã được
Nguyễn Tất Thành từng bước làm sáng tỏ trên hành trình bôn ba ở hải ngoại. Suy
nghĩ ấy ngày càng được củng cố và phát triển khi Nguyễn Tất Thành đi sâu tìm
hiểu, nghiên cứu kỹ hơn về các cuộc cách mạng tư sản. Đặc biệt, khi Nguyễn Tất
Thành được đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và
thuộc địa” của V.I. Lênin đăng trên báo “Nhân đạo” của Đảng Xã hội Pháp
(16/7/1920). Có thể nói chính sự kiện này đã tạo ra sự chuyển biến căn bản
trong tư tưởng của Nguyễn Tất Thành - từ nhận thức của người thanh niên yêu
nước, chuyển sang nhận thức của người cộng sản. Nhờ bản “Sơ thảo lần thứ nhất
những Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I. Lênin mà tư tưởng “Tự
lực cánh sinh”, “Dựa vào sức mình là chính” của Nguyễn Ái Quốc được củng cố
vững chắc và phát triển thành tư tưởng “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Tư
tưởng về con đường giải phóng dân tộc “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” của
Nguyễn Ái Quốc được nâng lên ở tầm cao mới khi Người quyết định đến với quê
hương của Cách mạng Tháng Mười, đến với Chủ nghĩa Mác - Lênin. Được hình thành,
phát triển mạnh mẽ ngay sau sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập vào ngày
3-2-1930, tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng nói chung và tư tưởng
“Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” chính thức được truyền bá sâu rộng và phù
hợp với điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Bằng tư tưởng, tinh thần ấy,
Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo ra một sự chuyển biến mạnh mẽ cho phong
trào cách mạng Việt Nam. Hàng loạt cuộc đấu tranh quy mô lớn, nổi bật là phong
trào Xô viết - Nghệ Tĩnh. Khí thế cách mạng sục sôi của cao trào Xô viết - Nghệ
Tĩnh đã lan rộng nhanh chóng ra khắp cả nước với hàng loạt các cao trào, cuộc
khởi nghĩa. Đây chính là quá trình Đảng ta bổ sung và hoàn thiện đường lối
chính trị, phương thức tiến hành, chuẩn bị lực lượng cho cuộc Tổng khởi nghĩa
trên toàn quốc sau này. Khi thời cơ cách mạng xuất hiện, công tác chuẩn bị đã
sẵn sàng, tinh thần đoàn kết của toàn dân đã lên đến đỉnh điểm, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã kêu gọi đồng bào cả nước nhất tề đứng lên giành chính quyền. Ngay trong
lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Hỡi đồng bào yêu
quý! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng
dậy, đem sức ta mà tự giải phóng cho ta…”. Hưởng ứng lời kêu gọi của Người, kế
thừa và phát huy truyền thống của dân tộc qua các thời kỳ lịch sử, bằng tư
tưởng “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, Đảng ta đứng đầu là Hồ Chủ Tịch đã
dẫn dắt cả dân tộc đứng lên tận dụng triệt để thời cơ lịch sử giành thắng lợi
to lớn trong cách mạng Tháng Tám năm 1945. Sau khi cách mạng Tháng Tám thành
công, chính quyền non trẻ đứng trước muôn vàn khó khăn, thử thách, vận mệnh đất
nước trong cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”. Trước tình hình đó, dưới sự lãnh đạo
của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quân và dân ta tiếp tục phát huy tinh thần tự
lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính, “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”
để vượt qua tất cả. Nhấn mạnh tinh thần ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:
“Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì
không xứng đáng được độc lập”. Bằng tư tưởng “Đem sức ta mà tự giải phóng cho
ta”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Đảng ta đã vững vàng chèo lái đưa dân tộc
vượt mọi chông gai, băng qua mọi thác ghềnh kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến
trường kỳ 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược bằng chiến dịch lịch sử Điện Biên
Phủ “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Thành quả và những bài học kinh
nghiệm rút ra từ cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn còn nguyên giá trị,
trong đó, bài học về tinh thần “Phát huy sức mạnh nội sinh”, “Dựa vào sức mình
là chính”, “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” có ý nghĩa thời sự sâu sắc,
luôn được Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta xác định vừa là phương châm, vừa là
giải pháp để hoàn thành thắng lợi các mục tiêu của cách mạng. Đặc biệt, bằng
tinh thần “Tự lực cánh sinh”, “Dựa vào sức mình là chính”, “Đem sức ta mà tự
giải phóng cho ta” dưới sự lãnh đạo của Đảng đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh,
nhân dân ta đã giành nhiều thắng lợi to lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam. Bằng cuộc tổng tấn công và
nổi dậy mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, quân và
dân ta đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước bước
vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do, thống nhất và chủ nghĩa xã hội. Trong
sự nghiệp đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, chính
nhờ kế thừa và phát huy tư tưởng, tinh thần “Dựa vào sức mình là chính”, “Đem
sức ta mà tự giải phóng cho ta” mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đã giành được
những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thành tựu ấy là sự kết tinh ý chí,
tinh thần, nghị lực, sức sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Trong
điều kiện mới hiện nay, bài học “Dựa vào sức mình là chính”, “Đem sức ta mà tự
giải phóng cho ta” từ cách mạng Tháng Tám năm 1945 tiếp tục được Đảng ta kế
thừa và phát huy nhằm khơi dậy tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường, năng
động, sáng tạo xây dựng và phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, quốc gia
hùng cường, thịnh vượng như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định./.
CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC “CHỐNG THAM NHŨNG LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN KINH TẾ VIỆT NAM”
Cuộc chiến chống tham
nhũng là cuộc chiến lâu dài, gay go, quyết liệt. Chính vì sự quyết tâm trong
cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã củng cố niềm tin
trong nhân dân và đó cũng chính là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã
hội.
Với sự
lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt trong cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng Cộng
sản Việt Nam, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, trong đó có sự ủng hộ của
nhân dân, cuộc chiến này đã có chuyển biến tích cực, rõ rệt và mang lại những
thành quả quan trọng. Đánh giá về nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, trong cuộc
họp của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực
ngày 18/11/2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo đã nhấn mạnh:
“Càng đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Đảng của chúng ta
càng mạnh lên, càng củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà
nước và chế độ, làm cho bộ máy trong sạch, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, góp
phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững ổn định chính
trị, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại, đồng thời bác bỏ luận điệu
sai trái của các thế lực xấu, thù địch, chống đối cho rằng đấu tranh phòng,
chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên sai phạm là “đấu đá nội bộ”, “phe
cánh”, làm “nhụt chí” những người khác”.Tham nhũng là tệ nạn kéo lùi sự phát
triển kinh tế của một quốc gia, hủy hoại uy tín, danh dự của lực lượng cầm
quyền, lãnh đạo đất nước. Và chính tham nhũng hiện nay cũng đang trở thành hiểm
họa, vấn nạn mà tất cả các quốc gia đều quan tâm. Trong đó, những quốc gia đang
phát triển và chậm phát triển thì vấn đề này như một căn bệnh mà nếu không ngăn
chặn được sẽ để lại nhiều hậu quả khó lường.“Cuộc chiến chống tham nhũng của
Đảng đang làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế” - đó là lập luận của những cá nhân, tổ
chức, các trung tâm truyền thông chống Đảng, Nhà nước Việt Nam đang tập trung
tuyên truyền. Luận điệu này được Đài RFA đăng tải trên website ngày 28/11/2022,
cho rằng “cuộc chiến chống tham nhũng rộng khắp của Đảng Cộng sản Việt Nam đang
khiến cho nhiều giao dịch kinh tế bị tê liệt, có thể ảnh hưởng đến đầu tư trực
tiếp nước ngoài, giảm xuất khẩu”. Đài RFA dẫn lời của Reuters suy diễn rằng,
việc chống tham nhũng về dài hạn được nhìn nhận là tích cực nhưng trong ngắn
hạn có thể làm tê liệt hoạt động kinh doanh, đặc biệt “nếu việc thực thi pháp
luật bị cho là không rõ ràng và có động cơ chính trị”… Đài VOA tiếng Việt hôm
29/11/2022 rêu rao, chiến dịch chống tham nhũng của Việt Nam làm tê liệt chuỗi
cung ứng đầu tư. Họ lập luận rằng, chiến dịch chống tham nhũng ở Việt Nam đã
làm tê liệt nhiều giao dịch thông thường trong nước, gây ra tình trạng thiếu
hàng hóa thiết yếu và làm giảm niềm tin của nhà đầu tư vào một trong những nền
kinh tế phát triển nhanh nhất châu Á. Cùng phụ họa với RFA, VOA là các cá nhân,
tổ chức chống phá Việt Nam đã chia sẻ bài viết lên các trang mạng xã hội, từ đó
đi đến quy kết, xuyên tạc bản chất cuộc chiến chống tham nhũng, hạ uy tín của
Việt Nam trên trường quốc tế, tác động vào tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của
người dân, nhất là đối với các doanh nhân, cán bộ trong bộ máy Nhà nước. Luận
điệu “chống tham nhũng làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế” là hoàn toàn không có cơ
sở. Trước tiên, cần phải nhìn nhận, tham nhũng tác động trực tiếp đến sự ổn
định và phát triển đối với mọi mặt của đời sống xã hội. Hành vi này gây ra
những hậu quả, tác hại to lớn trên các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn
hóa-xã hội, nhất là đối với kinh tế, tình trạng tham nhũng gây thất thoát
nghiêm trọng tài sản công, bào mòn ngân sách nhà nước để làm lợi cho một cá
nhân, nhóm người tham nhũng. Tham nhũng còn đe dọa sự ổn định, an ninh xã hội,
xâm hại các thể chế và giá trị dân chủ, các giá trị đạo đức, công lý… Nếu không
kịp thời ngăn chặn, tham nhũng sẽ trở thành mối đe dọa đặc biệt nghiêm trọng
đối với sự phát triển kinh tế xã hội, đe dọa đến tồn vong của chế độ. Do đó,
lập luận cho rằng chống tham nhũng làm ảnh hưởng xấu đến phát triển kinh tế là
sai trái. Quan điểm trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà
nước Việt Nam rất rõ ràng, những đối tượng tham nhũng thì phải chịu trách nhiệm
trước pháp luật. Đồng thời, Nhà nước tạo điều kiện, khuyến khích mọi cá nhân,
tổ chức trong xã hội tích cực thúc đẩy các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thu
hút đầu tư, tạo môi trường lành mạnh, trong sạch trong cả đầu tư công và môi
trường đầu tư tư nhân. Như vậy, quan điểm rõ ràng “cây ngay không sợ chết
đứng”, đã trong sạch, không tham ô, tham nhũng thì không phải e dè trong công
việc của mình. Do đó, không thể cho rằng vì lý do chống tham nhũng nên nhiều cá
nhân sợ không dám làm, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, tác động đến các chuỗi
cung ứng trong kinh tế. Cần phải nhận thức rằng, tình trạng tham nhũng làm suy
giảm các lực lượng cạnh tranh vốn có của thị trường, gây ra sự cản trở sự phát
triển của khu vực kinh tế tư nhân. Tham nhũng làm cạn nguồn đầu tư nội địa, làm
giảm đáng kể các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tham nhũng không chỉ gây
trở ngại cho hoạt động kinh tế vĩ mô mà còn kìm hãm hoạt động của các hãng
riêng lẻ. Cuộc chiến chống tham nhũng tại Việt Nam tạo động lực không ngừng cho
đầu tư, phát triển kinh tế, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà đầu tư
vào Việt Nam. Cuộc chiến chống tham nhũng được tất cả các quốc gia trên thế
giới quan tâm. Để đối phó với tình trạng này, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã ban
hành Công ước về chống tham nhũng vào ngày 9/12/2003. Cuộc chiến chống tham
nhũng cũng là một phần không thể thiếu đối với những quốc gia phát triển như
Mỹ, Liên minh Châu Âu (EU). Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, các quốc gia Đông
Nam Á… đều tăng cường cuộc chiến chống tham nhũng để tạo đà cho sự phát triển
kinh tế xã hội. Các quốc gia tổ chức triển khai cuộc chiến chống tham nhũng tạo
động lực to lớn cho tốc độ tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt, một quốc gia trong
khối ASEAN là Indonesia đã tổ chức cuộc chiến chống tham nhũng rất bài bản với
việc công bố “đường dây nóng” để người dân có thể trực tiếp thông báo những vấn
đề họ bức xúc; thành lập Ủy ban Chống tham nhũng quốc gia (KPK); thành lập Tổ
cố vấn của Tổng thống về chống tham nhũng… Những việc làm quyết liệt đó đã tạo
động lực to lớn cho sự phát triển kinh tế, xã hội ở đất nước này. Do đó, hoàn
toàn không có lý lẽ nào để tô vẽ, nguỵ biện rằng, cuộc chiến chống tham nhũng
của Đảng đang làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế. Thời gian qua, các thế lực chống
phá Việt Nam luôn viện dẫn nhiều lý do để chỉ trích Việt Nam, khi cuộc chiến
chống tham nhũng đang cho thấy hiệu quả rất tích cực thì họ cũng không muốn
điều đó xảy ra. Những thông tin sai trái từ các cá nhân, tổ chức, trung tâm
chống phá Việt Nam về cuộc chiến chống tham nhũng đòi hỏi người dân cần cảnh
giác, không phụ họa, chia sẻ trên mạng xã hội. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng –
Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã khẳng
định: “Công tác chống tham nhũng, tiêu cực đã trở thành xu thế không thể đảo
ngược”; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không làm nản chí,
chùn bước, sợ sai không dám làm của cán bộ, đảng viên, mà chỉ làm chùn bước
những ai có động cơ không trong sáng, đã trót “nhúng chàm” và những người không
nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, thiếu bản lĩnh, thiếu kiến thức và
kinh nghiệm”. Cuộc chiến chống tham nhũng đi vào thực chất, không còn vùng cấm
và việc nhận được sự ủng hộ tích cực từ phía người dân chính là động lực để
cuộc chiến này càng thêm vững vàng với mục tiêu xây dựng một xã hội thực sự
trong sạch, vì quyền lợi của mọi người dân, vì lợi ích của quốc gia dân tộc.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tập trung dân chủ trong thực tiễn hoạt động của Đảng
CÔNG TÁC XÂY DỰNG LUẬN CỨ KHOA HỌC, BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI THÙ ĐỊCH HIỆN NAY
Để bảo vệ nền tảng tư
tưởng của Đảng, xây dựng luận cứ đấu tranh phản bác quan điểm sai trái thù
địch, trước hết cần coi trọng công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận,
củng cố vững chắc tính cách mạng, khoa học của nền tảng tư tưởng, đặc biệt là lý
luận về đường lối đổi mới, lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.
Bởi vậy, Đảng ta rất coi trọng công tác lãnh đạo, chỉ đạo vấn đề này. Cụ thể
là: Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đánh giá cao vai
trò của lý luận và công tác nghiên cứu lý luận, ban hành nhiều văn bản có tính
pháp lý cao trong lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai công tác lý luận. Từ Đại hội VI
đến nay, mỗi nhiệm kỳ Đại hội đều ban hành nghị quyết chuyên đề về công tác lý
luận hoặc đưa ra giải pháp đẩy mạnh nghiên cứu lý luận.
Sau các
kỳ Đại hội, Đảng ta đều tiến hành tổng kết công tác lý luận, đề ra phương hướng
cho nhiệm kỳ tiếp. Tại Đại hội VIII, Đảng ta tiến hành tổng kết 10 năm đổi mới;
Đại hội IX, tổng kết 15 năm đổi mới; Đại hội X, tổng kết 20 năm đổi mới và Đại
hội XI, tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, tổng kết 20 năm thực hiện Hiến pháp 1992
và 30 năm đổi mới đất nước. Đặc biệt, trong nhiệm kỳ khóa IX, Ban Chấp hành
Trung ương đã ban hành Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 “Về nhiệm vụ
chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới” và trong nhiệm
kỳ khóa X, tại Hội nghị Trung ương 5, thông qua Nghị quyết “Về công tác tư
tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới“, và khóa XI, Nghị quyết số
37-NQ/TW, ngày 09/10/2014, của Bộ Chính trị về công tác lý luận và định hướng
nghiên cứu đến năm 2030. Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị khóa XII về bảo vệ nền
tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Đại
hội XIII, ngoài nội dung văn kiện Đảng với nhiều vấn đề lý luận sâu sắc, còn
tổng kết 10 năm thực hiện Cương lĩnh ( bổ sung, phát triển năm 2011). Hiện nay,
Hội đồng Lý luận Trung ương chủ trì, cùng các cơ quan đang triển khai hàng loạt
công trình nghiên cứu giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra và hướng tới
chuẩn bị Văn kiện Đại hội XIV của Đảng vào năm 2026, trong đó có vấn đề về xây
dựng luận cứ khoa học. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ đạo nhiều vấn
đề lớn trong công tác lý luận; nghe các cơ quan nghiên cứu, các nhà lý luận
trình bày kết quả, đóng góp ý kiến về những vấn đề mà Đảng, Nhà nước quan tâm;
cho ý kiến về kết quả nghiên cứu, về những vấn đề cần thiết khác, tạo điều kiện
cho công tác lý luận phát triển thuận lợi. Định kỳ 5 năm, theo nhiệm kỳ của Đại
hội Đảng, các cơ quan tham mưu của Đảng về công tác lý luận phối hợp với các cơ
quan quản lý khoa học của Nhà nước, xây dựng các chương trình nghiên cứu lớn
trong nhiệm kỳ trình Ban Bí thư phê duyệt. Trên cơ sở các định hướng của Ban Bí
thư, Chính phủ phê duyệt các chương trình nghiên cứu khoa học trọng điểm quốc
gia, trong đó có các chương trình nghiên cứu lý luận. Năm 2022, Hội đồng Lý
luận Trung ương tiếp tục tư vấn cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư về những vấn đề lý
luận lớn, cấp bách. Đặc biệt là vấn đề về đất đai, xây dựng và hoàn thiện Nhà
nước pháp quyền XHCN, về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, về kinh tế tập
thể.. hiện nay đang xây dựng các báo cáo tư vấn về trí thức và chính sách xã
hội. Hệ thống các chương trình, đề tài khoa học cấp nhà nước về lý luận được tổ
chức hoạt động thành nề nếp nhằm nghiên cứu những vấn đề trọng tâm mà Trung
ương đề ra trong mỗi kỳ đại hội. Hội đồng Lý luận Trung ương coi trọng hợp
tác với một số cấp uỷ đảng, địa phương về công tác lý luận, thường xuyên tổng kết
thực tiễn, đúc kết lý luận, tăng cường giáo dục để nâng cao trình độ lý luận
cho cán bộ, đảng viên theo kịp yêu cầu của công cuộc đổi mới. Như Hà Nội, Thành
phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Tây Ninh… trong nghiên cứu, giải quyết những vấn
đề do thực tiễn đặt ra, xây dựng, cung cấp các các luận cứ cho việc hình thành
chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo… Các cơ quan nghiên cứu lý luận của
Trung ương và một số ngành, địa phương đã có nhiều cố gắng triển khai việc tổng
kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, chất lượng và khả năng ứng dụng các kết quả
nghiên cứu lý luận đã tiến bộ hơn trước. Tăng cường phối hợp với Hội đồng Lý
luận Trung ương, chắt lọc kết quả nghiên cứu, là nguồn đầu vào cho hang loạt
các công trình nghiên cứu khác. Trong năm 2022, mặc dù có những khó khăn
do Đại dịch COVID, Hội đồng Lý luận TW vẫn tiếp tục duy trì kênh hợp tác nghiên
cứu với nước ngoài về những đề lý luận trong, ngoài nước quan tâm, với nhiều
đối tác có kinh nghiệm, góp phần bổ sung, hoàn thiện một số chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước ta. Hoạt động trao đổi, tham vấn trong lĩnh vực lý
luận, có bước bộ tiến thông qua nhiều cuộc trao đổi lý luận với một số đảng cầm
quyền, đảng tham chính, như : Đảng Nhân dân Cách mạng Lào; Đảng Cộng sản Pháp,
Đảng Cộng sản Nhật Bản và một số Đảng cánh tả Châu Âu; phong trào công sản và
công nhân quốc tế… Kết quả nghiên cứu, trao đổi là cở sở quan trong cho
các cơ quan lý luận, cơ quan quản lý, đào tạo ở Trung ương và địa
phương. Hội đồng Lý luận Trung ương đã coi trọng một số ngành khoa học
quan trọng như: Quản trị quốc gia hiện đại, Nhà nước pháp quyền, kinh tế học
phát triển, chính trị học, văn hóa và phát triển, xây dựng hệ giá trị quốc gia,
hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và hệ giá trị con người Việt Nam… Đặc
biệt, ngành khoa học nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh và vận dụng trong thực
tiễn có bước phát triển nhanh và đi vào chiều sâu. Việc tập trung nghiên cứu,
truyền bá giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh đã bước đầu đạt kết quả tốt. Công tác
đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch được tăng cường, tính thuyết
phục được nâng cao từ cơ sở khoa học, luận cứ lý luận, tạo được những tác động
tích cực trong đời sống xã hội.
![]()
NHẬN DIỆN PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VỀ VẤN ĐỀ BẤT BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC
Việt
Nam là quốc gia đa dân tộc, trong đó có 01 dân tộc đa số và 53 dân tộc thiểu số
(DTTS). Đảng, Nhà nước ta luôn khẳng định: “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết,
tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ
dân tộc… Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để
các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”.
Bình
đẳng giữa các dân tộc là nguyên tắc cơ bản, nhất quán trong xây dựng và thực
thi chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Nhờ vậy, trong những năm
qua đời sống của đồng bào các DTTS được nâng lên đáng kể, diện mạo vùng DTTS và
miền núi ngày càng thay đổi theo hướng tích cực. Tuy vậy, so với mặt bằng chung
của cả nước, đời sống của đồng bào các DTTS vẫn còn nhiều khó khăn, kinh tế -
xã hội vùng DTTS và miền núi phát triển còn chậm. Lợi dụng điều này, các thế
lực thù địch, phản động ra sức rêu rao rằng, đồng bào các DTTS đang chịu bất
bình đẳng dân tộc so với đồng bào đa số, cụ thể là. Lợi dụng sự chênh lệch về
trình độ phát triển kinh tế- xã hội giữa dân tộc Kinh và đồng bào DTTS và những
bất cập trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc ở một số địa phương, các
thế lực thù địch đã xuyên tạc rằng, Đảng, Nhà nước đối xử không công bằng, chỉ
chăm lo cho người Kinh mà không chăm lo cho đồng bào DTTS, khiến cho cuộc sống
của đồng bào khó khăn, nghèo đói. Khi Đảng, Nhà nước đầu tư các nguồn lực để
xây dựng các công trình, dự án ở vùng đồng bào DTTS chúng lại rêu rao rằng,
việc đầu tư đó chủ yếu tập trung ở các thị trấn, thị tứ, thành phố với mục đích
là để phục vụ người Kinh và cán bộ, công chức trong chính quyền của người Kinh
chứ không phải dành cho đồng bào DTTS. Chúng còn lợi dụng những hiện tượng cục
bộ do lịch sử để lại để vu cáo Đảng, Nhà nước ta đã tạo điều kiện cho người
Kinh cướp đất của đồng bào DTTS, do vậy, đồng bào mới thiếu đất ở, thiếu đất
sản xuất và mới đói nghèo. Ở các vùng DTTS, cùng với những khó khăn về điều
kiện địa lý, tự nhiên, môi trường là những hậu quả của chế độ phong kiến, thực
dân để lại đã tạo ra sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa
người Kinh và đồng bào DTTS. Đảng và Nhà nước ta đã có rất nhiều cố gắng để rút
ngắn khoảng cách chênh lệch này. Đảng ta khẳng định: “Huy động, phân bổ, sử
dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo sự chuyển biến
căn bản về kinh tế, văn hoá, xã hội ở vùng có đồng bào dân tộc thiểu số”. Đặc
biệt, Đảng, Nhà nước rất chú trọng phát huy tính tích cực, ý chí tự lực,
tự cường của đồng bào DTTS trong phát triển kinh tế- xã hội. Nhờ vậy, đời sống
của đồng bào DTTS, tình hình kinh tế - xã hội ở vùng DTTS ngày càng được cải
thiện. Tính đến tháng 6/2021, 100% huyện vùng DTTS có đường đến trung tâm
huyện; 98% xã có đường ô tô đến trung tâm xã, 100% xã và 97,2% thôn bản có điện
lưới quốc gia; 93,9% hộ gia đình được sử dụng điện; 100 % xã có trường tiểu học
và trung học cơ sở; 99,7 % xã có trường mần non; 99,3%; 99,3% xã có trạm y tế;
65,8% xã và 76,7% thôn có nhà văn hóa/nhà sinh hoạt cộng đồng. Tuy vậy, để đời
sống của đồng bào DTTS và kinh tế - xã hội ở vùng DTTS phát triển ngang bằng
với các vùng khác đòi hỏi phải có thời gian, không thể nôn nóng được. Các thế
lực thù địch, phản động liên tục rêu rao rằng, đồng bào DTTS không được tham
gia bình đẳng vào đời sống chính trị của đất nước như người Kinh, đồng bào DTTS
không có quyền hành gì đối với đất nước. Lợi dụng nhận thức chưa đầy đủ của một
bộ phận đồng bào DTTS, chúng còn tuyên truyền, Đảng, Nhà nước Việt Nam khẳng
định lấy chủ nghĩa Mác- Lênin làm nền tảng tư tưởng nhưng thực chất đang làm
trái với quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về quyền dân tộc tự quyết! Từ đó
chúng đã kích động đồng bào các DTTS (Mông, Chăm, Ê đê, Ba na, Khơme) đòi tách
ra thành lập nhà nước riêng để bảo đảm quyền lợi của mình. Sau khi Liên hợp
quốc thông qua “Tuyên ngôn về quyền của người bản địa” (2007), trong đó từ Điều
1 đến Điều 5 của Tuyên ngôn này nói rằng: Các dân tộc bản địa có quyền tự
quyết. Trên tinh thần đó họ có quyền tự do quyết định tình trạng chính trị và
tự do mưu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Các thế lực thù địch, phản
động đã cố tình đánh tráo khái niệm, gọi một số dân tộc thiểu số tại chỗ như:
đồng bào Chăm ở duyên hải miền Trung, đồng bào Khơme ở Tây Nam Bộ, đồng bào Ê
đê, Ba na ở Tây Nguyên là các dân tộc bản địa và từ đó rêu rao rằng, các dân
tộc bản địa này bị các nông, lâm trường của người Kinh và người Kinh cướp đất,
vì vậy phải tách ra thành lập nhà nước riêng để đòi lại những gì “thuộc về”
mình. Trên thực tế, Đảng, Nhà nước ta luôn tạo cơ hội, điều kiện để đồng bào
DTTS tham gia xây dựng hệ thống chính trị, quản lý đất nước. Đặc biệt, Đảng,
Nhà nước rất chú trọng đến chính sách phát triển đội ngũ cán bộ DTTS. Nhờ đó,
đội ngũ cán bộ DTTS tham gia vào các cơ quan Đảng, Nhà nước ngày càng tăng về
số lượng và nâng cao về chất lượng. Kết quả bầu cử tại 67 đảng bộ trực thuộc
Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025 có 11,68% cấp ủy viên người DTTS (cao hơn nhiệm
kỳ trước 0,72%). Tại Đại hội XIII của Đảng có 13 Ủy viên Trung ương Đảng là
người DTTS. Tại Quốc hội khóa XV có 89 đại biểu người DTTS, chiếm 17, 84% số
đại biểu (là tỷ lệ cao nhất từ trước đến nay). Chủ nghĩa Mác - Lênin về quyền
dân tộc là nói đến quyền của các dân tộc quốc gia (nation) trong hoàn cảnh chủ
nghĩa chủ nghĩa tư bản đã phát triển thành chủ nghĩa đế quốc đi xâm chiếm thuộc
địa, các dân tộc thuộc địa (nation) có quyền tự quyết/tách ra để thành lập quốc
gia độc lập. Việc các thế lực thù địch đánh tráo khái niệm dân tộc quốc gia
(nation) với khái niệm dân tộc tộc người (ethnic) để rêu rao Đảng, Nhà nước ta
làm trái với quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin là sự xuyên tạc trắng trợn. Khái
niệm “người bản địa” có nguốn gốc lịch sử gắn liền với thời kỳ chủ nghĩa đế
quốc đi xâm chiếm, áp đặt sự thống trị ở các nước thuộc địa. Ở các nước này có
2 tầng lớp người: một là những “quan cai trị” và những người di cư đến làm ăn
có quan hệ mật thiết với bộ máy cai trị và một là cộng đồng những người dân
thuộc địa, bị thống trị được gọi là “người bản địa” hoặc “người bản xứ”. Ở Việt
Nam, khi chế độ thực dân xâm lược bị đánh đổ thì khái niệm “người bản địa” cũng
không còn cơ sở tồn tại. Đây là một sự thật lịch sử không thể bác bỏ. Việc các
thế lực thù địch kích động lợi dụng sự hiểu biết chưa đầy đủ của một bộ phận
đồng bào DTTS để kích động tư tưởng ly khai, tự trị, để đồng bào đòi tách ra
thành lập quốc gia riêng là hành động gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc ở
nước ta. Trước những thay đổi về văn hóa - xã hội ở các vùng DTTS theo hướng
hiện đại, tiến bộ, các thế lực thù địch, phản động vu khống Đảng, Nhà nước Việt
Nam không tôn trọng bản sắc, văn hóa truyền thống của đồng bào DTTS, cố tình
“đồng hóa về văn hóa” ở vùng đồng bào DTTS theo văn hóa người Kinh để “Kinh hóa
đồng bào DTTS”. Trước những khó khăn về y tế, giáo dục ở vùng đồng bào DTTS,
chúng rêu rao rằng, chính quyền của người Kinh ngược đãi đồng bào DTTS, không
chú ý đến việc chăm sóc sức khỏe, nâng cao dân trí ở vùng DTTS để “dễ bề cai
trị”. Đảng, Nhà nước Việt Nam đã dành nhiều sự quan tâm để giữ gìn, phát triển
văn hóa truyền thống của các DTTS, gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hóa”. Đến nay, đã có 03 di tích quốc gia, 08 di tích lịch sử
- văn hoá, danh lam, thắng cảnh liên quan đến đồng bào DTTS được xếp hạng di
tích quốc gia; có 126 di sản văn hóa phi vật thể, 276 nghệ nhân ưu tú là người
DTTS. Đã chính thức tổ chức dạy và học 06 thứ tiếng DTTS: Mông, Khmer, Chăm,
Gia Rai, Ba Na, Ê Đê. Việc tổ chức dạy và học tiếng DTTS được triển khai ở 23
tỉnh, thành phố. Có 95% xã được phủ sóng phát thanh, truyền hình (có nhiều
chương trình/kênh phát bằng tiếng DTTS;100% xã có điện thoại cố định và di
động; 81,5% số xã có hệ thống loa truyền thanh đến thôn. Để tạo cơ hội, điều
kiện cho con em đồng bào DTTS học tập, Đảng, Nhà nước đã triển khai các chính
sách: cử tuyển, đào tạo có địa chỉ…, đầu tư xây dựng 3.126 trường phổ thông dân
tộc nội trú tại 49 tỉnh, thành phố, 4 trường dự bị đại học, 1 trường phổ thông
dân tộc nội trú có chương trình dự bị đại học và 3 khoa dự bị đại học cho con
em đồng bào DTTS tại các trường đại học. Những kết quả đáng ghi nhận này chứng
minh tính đúng đắn, hiệu quả của các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước
trong việc phát triển văn hóa- xã hội ở vùng DTTS, chứ không phải như luận điệu
vu khống trắng trợn của các thế lực thù địch. Những luận điệu hết sức thâm độc
kể trên của các thế lực thù địch, phản động đã làm xói mòn niềm tin của một bộ
phận đồng bào DTTS với Đảng, Nhà nước; phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc; tạo ra
nhiều nguy cơ phức tạp về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, đe doạ
đến an ninh quốc gia. Vì vậy chúng ta cần vạch rõ thực chất những luận điệu vu
khống, xuyên tạc của chúng.