Thứ Ba, 3 tháng 1, 2023

MỘT SỐ ĐIỂM NỔI BẬT TRONG NHẬN THỨC LÝ LUẬN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM QUA TÁC PHẨM CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG

Tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” thể hiện tầm cao tư tưởng của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong tổng kết, luận giải những vấn đề lý luận rất rộng lớn trên các lĩnh vực, đặc biệt là phân tích, hệ thống hóa, đưa ra những quan điểm, tư tưởng, nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Cuốn sách có ý nghĩa vô cùng quan trọng, truyền cảm hứng, khơi dậy khát vọng lớn lao của toàn dân tộc trong thực tiễn phát triển đất nước giai đoạn hiện nay.

Chủ nghĩa xã hội luôn luôn là mục tiêu lớn lao, lý tưởng cao đẹp của Đảng ta và nhân dân ta

Bằng lập luận chặt chẽ, phân tích sâu sắc, chắt lọc từ thực tiễn phong phú, đồng chí Tổng Bí thư đã tổng kết lịch sử phát triển của thế giới đương đại cũng như thực tiễn cách mạng Việt Nam, từ đó khẳng định một cách khoa học về con đường duy nhất đúng cho sự phát triển của đất nước - đó là con đường xã hội chủ nghĩa. Đồng chí nhấn mạnh: nhân dân Việt Nam đã trải qua quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, đầy gian khổ, hy sinh chống lại ách đô hộ và sự xâm lược của thực dân, đế quốc để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của đất nước, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của Đảng, là nguyên lý thành công của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh. Đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu duy nhất đúng để đạt được tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khái quát những thành tựu cơ bản, quan trọng của Đảng trong vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của nước ta. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và các nhà cách mạng tiền bối đã lựa chọn con đường phát triển theo con đường chủ nghĩa xã hội cho Việt Nam; tổ chức và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân từng bước hiện thực hóa những giá trị đó thành thực tế sinh động trên đất nước ta. Những giá trị ấy không chỉ được tổng kết về lý luận, mà đã được kiểm chứng bằng chính thực tiễn công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.

Đồng chí Tổng Bí thư chỉ rõ: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) một lần nữa khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử(1). Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn và luôn kiên định, kiên trì theo đuổi. Chủ nghĩa xã hội Việt Nam gắn liền với độc lập dân tộc, quyền tự quyết của dân tộc, gắn liền với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”. Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm độc lập cho dân tộc, quyền tự quyết của dân tộc và cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân, của mọi dân tộc trên đất nước ta. “Chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc(2).

Về những đặc trưng, giá trị, nội hàm của chủ nghĩa xã hội

Đồng chí Tổng Bí thư chỉ rõ: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện, các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới(3). Những giá trị đích thực ấy đã trở thành mục tiêu căn bản, định hướng con đường cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn, tin tưởng và luôn kiên định thực hiện.

Tổng kết về sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và con đường tư bản chủ nghĩa, đồng chí Tổng Bí thư đã chỉ ra: chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học và công nghệ. Nhiều nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều kiện kinh tế cao và do kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đã có những biện pháp điều chỉnh, hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước(4). Nhưng bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản là không thể che đậy, những mâu thuẫn vốn có cũng như các cuộc khủng hoảng “không thể giải quyết được một cách triệt để trong khuôn khổ của chế độ tư bản chủ nghĩa”(5). Chủ nghĩa tư bản vẫn còn dư địa phát triển, nhưng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là điểm dừng cuối cùng của lịch sử xã hội của loài người. Dân chủ vẫn chỉ là hình thức, không thực chất. Trong đời sống chính trị, xã hội, một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át. Tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là “tự do”, “dân chủ”, dù có thể thay đổi chính phủ, nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản(6). Các phong trào phản kháng xã hội bùng nổ mạnh mẽ tại nhiều nước tư bản phát triển trong thời gian qua càng làm bộc lộ rõ về bản chất của thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa. Thực tế là các thiết chế dân chủ theo công thức “dân chủ tự do” mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân - yếu tố bản chất nhất của dân chủ. Hệ thống quyền lực đó vẫn chủ yếu thuộc về thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội(7).

Từ đó, đồng chí Tổng Bí thư khẳng định: Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ xã hội, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé”, vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường. Và, chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có(8). Đây chính là những giá trị cốt lõi của chủ nghĩa xã hội; và, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội chính là con đường duy nhất đúng để đạt được những giá trị đó trong hiện thực đời sống của nhân dân.

Về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội

Đồng chí Tổng Bí thư chỉ rõ: Xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp cách mạng lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, phải tạo sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát ở Việt Nam là: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Phương hướng, giải pháp mang tính phương pháp luận để chỉ dẫn cho việc thực hiện con đường đi lên chủ nghĩa xã hội: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện(9).

Để hiện thực hóa mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam, đòi hỏi cả một sự nghiệp cách mạng vô cùng khó khăn và phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, cạnh tranh với nhau, luôn có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới. Đi lên chủ nghĩa xã hội là quá trình không ngừng củng cố, tăng cường, phát huy các nhân tố xã hội chủ nghĩa, để các nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và chiến thắng những nhân tố, thiết chế, thể chế phi xã hội chủ nghĩa, không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa. Phải đầu tư sức người, sức của to lớn, phải sáng tạo không mệt mỏi, đặc biệt là phải suy nghĩ, tìm tòi lộ trình và bước đi hợp lý, cách làm đúng đắn để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra; phải kiên trì, không chủ quan, nóng vội; phải xuất phát từ thực tiễn của đất nước, tôn trọng quy luật khách quan, tránh giáo điều, rập khuôn, máy móc.

Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được đồng chí Tổng Bí thư đề cập thể hiện ở các nội dung cơ bản sau:

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn liền với phát triển kinh tế tri thức; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tác phẩm của đồng chí Tổng Bí thư đề cập sâu sắc đến nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; được coi là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong thực hiện xây dựng nền tảng kinh tế - vật chất nhằm từng bước hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh ở Việt Nam. Phát triển kinh tế tri thức trở thành nội hàm của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trở thành phương thức phát triển thích hợp từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến tới xây dựng nền tảng vật chất của chủ nghĩa xã hội.

Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đột phá cơ bản và sáng tạo lý luận quan trọng của Đảng ta. Đây là kết quả quá trình lâu dài tìm tòi, nghiên cứu, phát triển tư duy lý luận, khảo nghiệm, tổng kết thực tiễn của Đảng ta, xuất phát từ thực tiễn trong nước và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh(10). Hình thái tổ chức kinh tế này vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc cơ bản và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: Sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối.

Tác phẩm của đồng chí Tổng Bí thư đã phân tích, làm rõ bản chất, thể chế, cấu trúc, cơ chế vận hành, mục tiêu, đặc trưng cơ bản, thuộc tính riêng có về định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường. Thuộc tính quan trọng, đặc trưng cơ bản, làm nên sự khác biệt của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam với những nền kinh tế thị trường khác là: “Gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội”(11). Đó là sự quan tâm đặc biệt đến chính sách xã hội, chính sách đối với con người, phát triển hài hòa giữa kinh tế với xã hội, không vì tăng trưởng kinh tế mà coi nhẹ tiến bộ, công bằng xã hội; phải tạo điều kiện cho con người được thụ hưởng mọi thành tựu của phát triển, cuộc sống của con người được cải thiện đồng thời với tiến trình xây dựng, phát triển kinh tế.

Phát triển văn hóa, nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; xây dựng con người, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Đồng chí Tổng Bí thư khẳng định: “Văn hóa là nói đến những gì là tinh hoa, tinh túy nhất, được chưng cất, kết tinh, hun đúc thành những giá trị tốt đẹp, cao thượng, đặc sắc nhất, rất nhân văn, nhân ái, nhân nghĩa, nhân tình, tiến bộ”(12). “Chúng ta coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; xác định phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”(13). Văn hóa được khẳng định là một trong bốn trụ cột chính sách của Đảng về xây dựng, phát triển đất nước; là sự bảo đảm cho định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế, thể hiện tính nhân văn, ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.

Tác phẩm phân tích: “Xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó cần và có điều kiện để xây dựng sự đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng xã hội”(14). Việt Nam xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội; kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những thành tựu, tinh hoa văn hóa của nhân loại.

Đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Trọng tâm xây dựng và phát triển văn hóa là xây dựng con người có nhân cách và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh”(15). Đây là một vấn đề có tính quy luật, bởi xét cho cùng, mọi sự phát triển đều do con người và vì con người. Mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội là mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc, tiến bộ và công bằng cho mọi thành viên trong xã hội, không phân biệt đẳng cấp, địa vị xã hội.

Củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh; xây dựng nền ngoại giao hiện đại, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và năng lực hội nhập quốc tế.

Đồng chí Tổng Bí thư chỉ rõ: “Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”(16). Tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội, công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu đến năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Xây dựng thế trận lòng dân, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc làm nền tảng cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Tổng Bí thư yêu cầu Đảng bộ Quân đội cần quán triệt đầy đủ, sâu sắc về vị trí, vai trò của quân đội ta là “Quân đội nhân dân, Quân đội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và được đặt dưới sự lãnh đạo “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” của Đảng; do vậy Quân đội phải tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, gắn bó máu thịt với nhân dân” (17), thực hiện tốt 6 nhiệm vụ về: Quán triệt, nhận thức sâu sắc về bản chất, trách nhiệm của quân đội; xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, gương mẫu, tiêu biểu; xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tăng cường mối quan hệ máu thịt của quân đội với nhân dân; sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; phối hợp các bộ, ngành, địa phương để tăng cường tiềm lực quốc phòng và thế trận quốc phòng toàn dân; thực hiện đồng bộ các giải pháp để xây dựng “Quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; một số quân, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại”.

Tổng Bí thư nhấn mạnh yêu cầu tập trung quyết liệt, thực hiện đồng bộ các giải pháp để xây dựng “lực lượng công an thật sự trong sạch, vững mạnh, gần dân, sâu sát cơ sở”(18); chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng, các bộ, ngành, địa phương và quân đội để “giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống; tuyệt đối không chủ quan, lơ là; không để bị động, bất ngờ”(19). Lực lượng công an phải “Kịp thời phát hiện, chủ động xử lý có hiệu quả các vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự, không để xảy ra các “điểm nóng”. Kịp thời đấu tranh trấn áp hiệu quả các loại tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm sử dụng công nghệ cao, băng nhóm ma túy”(20).

Về đối ngoại, đồng chí Tổng Bí thư phân tích, đưa ra nhận thức, tư duy mới: “Đối ngoại ngày nay không chỉ là sự nối tiếp của chính sách đối nội, mà còn là một động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của các quốc gia, dân tộc”(21). Từ việc tổng kết thực tiễn công tác đối ngoại của Đảng, ngoại giao của Nhà nước ta, Tổng Bí thư đã khái quát về trường phái ngoại giao “Cây tre Việt Nam” - mang đậm bản sắc dân tộc, “dĩ bất biến ứng vạn biến”, “giữ trái tim nóng, cái đầu lạnh”, “kiên quyết, kiên trì” để xử lý các thách thức đối ngoại một cách mềm mại mà hiệu quả, tranh thủ các điểm đồng về lợi ích để thúc đẩy hợp tác và phát triển, bảo vệ tối đa lợi ích của quốc gia - dân tộc. Việc xây dựng, phát triển và phát huy vai trò của trường phái ngoại giao “Cây tre Việt Nam” là điều kiện, cơ sở để hoạt động đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hoàn thành được nhiệm vụ cơ bản đặt ra là: “Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”(22). Tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại; nâng cao năng lực hội nhập, nhất là cấp vùng và cấp địa phương, doanh nghiệp; tận dụng tối đa các cơ hội từ quá trình hội nhập mang lại, nhất là các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam là thành viên. Xây dựng nền ngoại giao hiện đại, chú trọng đẩy mạnh ngoại giao quốc phòng, an ninh để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Tăng cường ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển; mở rộng và nâng cao hiệu quả ngoại giao văn hóa, đóng góp thiết thực vào quảng bá hình ảnh, thương hiệu quốc gia và tăng cường sức mạnh tổng hợp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tiếp tục tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, trọng tâm là nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị là nhiệm vụ then chốt, nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng Việt Nam. Nội dung này giữ vị trí đặc biệt quan trọng với gần một nửa số bài viết trong tác phẩm của đồng chí Tổng Bí thư; phản ánh vai trò, vị trí có ý nghĩa quyết định của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị đối với sự nghiệp cách mạng, cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Nội dung các vấn đề về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được bao quát một cách toàn diện, từ cơ sở lý luận chung đến những vấn đề cụ thể về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức, cán bộ; công tác tuyên giáo, tổ chức, kiểm tra, dân vận, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể nhân dân. Ở lĩnh vực nào Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng có sự am hiểu sâu sắc, sự sẻ chia, đồng cảm, sự gợi mở, định hướng thuyết phục.

Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo “Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta”, đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh phải đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa(23). Mục đích hướng tới của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là xây dựng “Một đảng cách mạng chân chính có đường lối đúng, có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, gương mẫu, tận tụy, gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân ủng hộ, thì đảng đó có sức mạnh vô địch, không thế lực nào ngăn cản nổi trên con đường dẫn dắt dân tộc đi lên(24).

Để tiếp tục nâng cao hơn nữa bản lĩnh và trí tuệ của Đảng, để Đảng thực sự “là đạo đức, là văn minh”, vấn đề quan trọng hàng đầu và có tính nguyên tắc là phải hết sức coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng. Kiên định, vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Cần thực hiện tốt hơn nữa các nguyên tắc tổ chức xây dựng Đảng; đặc biệt coi trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương, xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhằm “nhốt quyền lực trong lồng cơ chế”, nâng cao đạo đức, văn hóa, tính chuyên nghiệp của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Kiên trì, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. 

Tổng Bí thư yêu cầu, cần kiên trì, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, triệt để hơn, hiệu quả hơn; đồng thời, gắn phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng, củng cố hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đây là cuộc đấu tranh với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không bị tác động không trong sáng bởi bất kỳ tổ chức, cá nhân nào... Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi tham nhũng, tiêu cực; xử lý đồng bộ kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính và xử lý bằng pháp luật hình sự đối với những người vi phạm, bất kể đó là ai”(25).

Trong cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và các đoàn thể nhân dân giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Đây cũng là vấn đề được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề cập ở nhiều bài viết, bài phát biểu. Từ các quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”, “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”, đồng chí Tổng Bí thư đã khái quát thành luận điểm rất sâu sắc, quan trọng: Phải làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả. 

Nhằm củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí, quyết tâm và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, Tổng Bí thư yêu cầu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên cần “năng động, sáng tạo, đổi mới mạnh mẽ hơn nữa; thiết thực, hiệu quả cao hơn nữa, góp phần tập hợp ngày càng đông đảo các tầng lớp nhân dân trong khối đại đoàn kết dân tộc; tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Nhân dân với Đảng và chính quyền, tạo thành sức mạnh to lớn, vô địch để xây dựng Tổ quốc ta ngày càng cường thịnh, Nhân dân ta ngày càng hạnh phúc; Đất nước ta ngày càng phát triển, phồn vinh”(26).

Nhân dân là chủ thể của xã hội xã hội chủ nghĩa. Trong tất cả các nguồn lực để xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh: “nguồn lực con người là quan trọng nhất”(27) . Từ đó, phải đặc biệt coi trọng củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, dựa vào dân để xây dựng Đảng; không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo. Đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước”(28), là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam.

***

Cuốn sách Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có tầm khái quát lý luận cao, là sự tổng kết mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam, trên cơ sở vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên nền tảng tư duy lý luận sâu sắc, cuốn sách đã trình bày, phân tích, lý giải các vấn đề lý luận và thực tiễn về mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam và nội dung, giải pháp để từng bước xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam một cách khúc chiết, rành mạch, rõ ràng, dung dị và dễ hiểu. Cuốn sách là tài liệu hết sức quý báu phục vụ việc nghiên cứu, học tập, giáo dục chính trị, tư tưởng và nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, nhân dân ta và bạn bè yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về công cuộc đổi mới ở Việt Nam; khơi dậy và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra./.MT

-----------------------

(1), (2), (3) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr. 23, 22, 24
(4), (5), (6), (7), (8) Xem: Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt NamSđd, tr. 18 - 19, 20, 21, 21, 21 - 22
(9) Xem: Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt NamSđd, tr. 24 - 25
(10) Xem: Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt NamSđd, tr. 91
(11), (12), (13) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt NamSđd, tr. 92, 158 - 159, 27
(14), (15), (16), (17), (18) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 28, 165, 54, 443, 459
(19), (20), (21), (22) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 457, 61, 180, 192
(23) Xem: Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt NamSđd, tr. 29
(24), (25) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt NamSđd, tr. 226, 137

(26), (27), (28) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 118, 52, 110 

Kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

     Thực tế của Đảng Cộng sản Liên Xô đã chứng minh, một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ Liên Xô là do đã từ bỏ các nguyên tắc xây dựng Đảng dẫn đến sự tan rã của Đảng.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, trong các kỳ đại hội Đảng gần đây, vấn đề kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng là quá trình phát triển nhận thức lý luận của Đảng trên cơ sở tổng kết thực tiễn của 36 năm đổi mới theo hướng mở rộng và bao quát hơn những nội dung cần phải kiên định. Kiên định nguyên tắc là cơ sở để chúng ta phân biệt đối tượng, đối tác trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Đại hội lần thứ XIII, Đảng ta lần đầu tiên khẳng định: Kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng, bởi những lý do sau đây:

Thứ nhất, về lý luận, nguyên tắc là vấn đề có tính sống còn đối với một tổ chức. Tuân thủ các nguyên tắc thì tổ chức đó vững mạnh, từ bỏ hoặc thực hiện không nghiêm túc các nguyên tắc thì sẽ dẫn đến tổ chức rệu rã và có nguy cơ tan rã.

Kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Ảnh minh họa: Tạp chí Tuyên giáo. 

Trải qua hơn 90 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng ta luôn vận dụng và phát triển sáng tạo những nguyên tắc cơ bản của học thuyết Mác-Lênin về xây dựng Đảng. Tổng kết công tác xây dựng Đảng qua các thời kỳ cách mạng khác nhau, tuy cách diễn đạt về các nguyên tắc xây dựng Đảng có khác nhau một vài điểm nhưng nhìn chung, Đảng ta vẫn luôn khẳng định những nguyên tắc trên cơ sở vận dụng và tuân thủ các nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta phát triển nguyên tắc về nền tảng tư tưởng: “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động”. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc”.

Đây là lần đầu tiên Đảng ta xác định: Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là đội tiền phong của giai cấp công nhân mà còn là đội tiền phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Đồng thời, cũng tại đại hội lần này, Đảng ta bổ sung thêm nguyên tắc: “Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Tuân thủ nghiêm ngặt những nguyên tắc chủ yếu nói trên trong quá trình xây dựng Đảng là một trong những yếu tố có tính quyết định bảo đảm cho Đảng ta giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam; là cơ sở khoa học để Đảng ta không ngừng chăm lo xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, làm cho Đảng luôn xứng đáng vai trò người lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Trên cơ sở những nguyên lý về xây dựng chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân do Lênin nêu ra và thực tiễn hoạt động của Đảng ta, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI thông qua (các nhiệm kỳ XII và XIII thống nhất giữ nguyên Điều lệ) quy định về các nguyên tắc tổ chức và hoạt động như sau: “Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh, đồng thời thực hiện các nguyên tắc: Tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Từ đó đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định thực hiện nghiêm 5 nguyên tắc này và đó cũng là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của Đảng ta trong thời gian qua.

Thứ hai, quan điểm chỉ đạo là kiên định nhưng không phải là cứng nhắc, giáo điều và cũng không phải là đổi mới vô nguyên tắc.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.

Trong quá trình thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng, cần thấm nhuần quan điểm chỉ đạo: Kiên định và đổi mới, kế thừa và phát triển, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Kiên trì, kiên định nhưng không trở thành giáo điều, cứng nhắc; đổi mới, kế thừa và phát triển nhưng trên cơ sở giữ vững các nguyên tắc chứ không phải là vô nguyên tắc, dân chủ quá đà, lẫn lộn giữa đối tượng, đối tác.

Thứ ba, về thực tiễn, trong nghiên cứu, học tập, quán triệt thực hiện các nghị quyết của Đảng thì chỉ đạo và tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, chậm được khắc phục nên khi thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng rất cần phải kiên định tuân thủ các nguyên tắc. Nếu ai không tuân thủ sẽ phải chịu trách nhiệm bằng các hình thức kỷ luật của Đảng.

Đánh giá việc thực hiện các nguyên tắc và đổi mới phương thức lãnh đạo, văn kiện Đại hội XIII chỉ ra những ưu điểm sau: “Công tác xây dựng Đảng về chính trị được đặc biệt chú trọng. Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng, đường lối đổi mới và các nguyên tắc xây dựng Đảng”. “Phương thức lãnh đạo của Đảng tiếp tục được đổi mới. Ban hành và thực hiện nhiều quy định bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, đề cao nguyên tắc pháp quyền, phát huy dân chủ, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội”.

Trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng nêu rõ ưu điểm: “Đảng ta luôn vững vàng, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và không ngừng vận dụng, phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới và những nguyên tắc về xây dựng Đảng”.

Về hạn chế, khuyết điểm trong việc thực hiện nghị quyết của Đảng nói chung, các nguyên tắc xây dựng Đảng nói riêng vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm như Văn kiện Đại hội XIII chỉ ra: “Chỉ đạo và tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, chậm được khắc phục”.

Đánh giá việc thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng, Văn kiện Đại hội XIII nêu: “Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm, thậm chí còn vi phạm, mất đoàn kết nội bộ, có nơi còn biểu hiện cục bộ, lợi ích nhóm. Kiểm soát quyền lực còn lúng túng, hiệu quả thấp”. “Tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi còn hình thức. Thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là của người đứng đầu chưa tạo được sự lan tỏa sâu rộng”.

Một số cấp ủy, tổ chức đảng đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, thiếu kiểm tra, giám sát để xảy ra nhiều vi phạm, khuyết điểm kéo dài. Đây là điều rất đáng trăn trở vì trong nhiệm kỳ Đại hội XII, cấp ủy các cấp đã kiểm tra 264.091 tổ chức đảng và 1.124.146 đảng viên; ủy ban kiểm tra các cấp đã kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 15.920 tổ chức đảng và 47.701 đảng viên (trong đó có 23.432 cấp ủy viên). Qua kiểm tra, cấp ủy các cấp đã thi hành kỷ luật 1.329 tổ chức đảng và 69.600 đảng viên; ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 17.610 đảng viên. Riêng Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thi hành kỷ luật 10 tổ chức đảng và 60 đảng viên; Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 169 đảng viên (trong đó có 53 đồng chí là cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý). Các cấp ủy đã giám sát 193.993 tổ chức đảng và 528.652 đảng viên; ủy ban kiểm tra các cấp đã giám sát 124.469 tổ chức đảng và 185.731 đảng viên.

Điều cần lưu ý là rất nhiều vi phạm xảy ra từ nhiệm kỳ trước nhưng đến nay mới bị phát hiện và xử lý. Như vậy trước đó, việc tuân thủ các nguyên tắc xây dựng Đảng chưa thật sự được coi trọng, thậm chí bị buông lỏng. Thực trạng này do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là các nguyên tắc xây dựng Đảng chưa được coi trọng và thực hiện nghiêm túc. Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên có nguyên nhân khách quan, nhưng chủ yếu là nguyên nhân chủ quan: Một số cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới; việc quán triệt các nghị quyết của Đảng ở một số nơi chưa kịp thời, sâu sắc. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa chủ động, sâu sát, thiếu quyết liệt; chưa coi trọng việc tự kiểm tra, xử lý vi phạm. Một số nơi, người đứng đầu chưa phát huy hết trách nhiệm, thiếu bản lĩnh, chưa gương mẫu, còn thụ động, né tránh, trông chờ vào chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên. Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm, thậm chí còn vi phạm, mất đoàn kết nội bộ, có nơi còn biểu hiện cục bộ, lợi ích nhóm. Kiểm soát quyền lực còn lúng túng, hiệu quả thấp. Sự phối hợp giữa một số cấp ủy với đảng đoàn, ban cán sự đảng có lúc, có nơi thiếu chặt chẽ, hiệu quả chưa cao. Việc phân định trách nhiệm của người đứng đầu trong mối quan hệ với cấp ủy và tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị chưa rõ; chưa phát huy đúng mức vai trò của cá nhân trong tập thể. Việc xây dựng, phát huy vai trò của các cơ quan tham mưu về công tác xây dựng Đảng có lúc, có nơi chưa được quan tâm đúng mức; một bộ phận cán bộ tham mưu chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Trong thời gian tới, để góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 25-10-2018 của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” cần thực hiện đồng bộ một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

Thứ nhất, kiên định những nguyên tắc xây dựng Đảng gắn với thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 25-10-2018 của Bộ Chính trị. Tăng cường tuyên truyền trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về nội dung các nguyên tắc xây dựng Đảng để từ nhận thức sẽ có hành động đúng và tạo sự lan tỏa theo phương châm “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”.

Thứ hai, tập trung xây dựng, thông tin chủ động, chính xác, kịp thời, toàn diện, đúng đối tượng về các hoạt động, sự kiện chính trị, xã hội của đất nước. Nâng cao chất lượng, hiệu quả các chuyên trang, chuyên mục, fanpage, blog, tài khoản mạng xã hội (Zalo, Facebook...) về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Thứ ba, thường xuyên theo dõi, nắm bắt tình hình tư tưởng, kịp thời định hướng dư luận xã hội; thực hiện tốt quy chế phát ngôn, cung cấp thông tin chính thống, kịp thời cho báo chí; công khai kết quả kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng trên các phương tiện truyền thông; xử lý nghiêm những thông tin phản ánh không đầy đủ, phiến diện, tiêu cực một chiều trên báo chí, mạng xã hội.

Thứ tư, quán triệt, thực hiện nghiêm Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về những điều đảng viên không được làm; Quy định số 22-QĐ/TW ngày 28-7-2021 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; Quy định số 69-QĐ/TW ngày 6-7-2022 về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong khai thác, sử dụng internet, mạng xã hội; thường xuyên tuyên truyền đến cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động và các tầng lớp nhân dân nêu cao tinh thần cảnh giác, không tham gia bình luận tiêu cực hoặc chia sẻ những thông tin xấu độc trên không gian mạng.MT

Tình quân dân ở cửa biển Rạch Gốc

     Tổng kết công tác biên phòng và Phong trào Thi đua Quyết thắng năm 2022, Đồn Biên phòng Rạch Gốc (Bộ đội Biên phòng tỉnh Cà Mau) được Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng tặng đơn vị danh hiệu Thi đua Quyết thắng. Đó là ghi nhận thành tích của đơn vị đã hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn đóng quân.

Chúng tôi đến cửa biển Rạch Gốc vào thời điểm cuối năm, chứng kiến không khí lao động sản xuất của nhân dân tràn đầy niềm tin vui hứng khởi, cho thấy sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương ven biển này ngày càng khởi sắc.

Tại cửa biển, hàng trăm phương tiện đánh cá của ngư dân địa phương và các tỉnh lân cận tấp nập ra vào hoạt động, giao lưu hàng hóa. Nhờ vậy, các điểm thu mua hải sản thu gom được nhiều sản phẩm tươi ngon chuẩn bị cho thị trường Tết Nguyên đán. Từng khay mực tươi, từng sọt cá to được các thanh niên lực lưỡng chuyển lên cân và nhanh chóng đưa lên xe lạnh để vận chuyển đi các tỉnh, thành phố lớn.

Chị em phụ nữ thì nhanh tay phân từng loại tôm, cá còn lại, phần thì phơi khô, phần chọn làm mắm, phần làm thức ăn gia súc, gia cầm… Dưới sông, những ngư dân tranh thủ bảo trì phương tiện, máy móc, khâu vá lại ngư lưới cụ để chuẩn bị cho chuyến ra biển tiếp theo.

“Mùa này vào chướng, biển sóng nhiều hơn do gió Nam thổi sòng, nhưng ngư dân đánh bắt đạt hiệu quả hơn các mùa khác trong năm. Vì vậy, ngư dân vẫn bám biển để đánh bắt, nhiều ngư dân vẫn hoạt động qua tết mới vào bờ”, Trung tá Nguyễn Văn Hệ - Đồn trưởng Đồn Biên phòng Rạch Gốc thông tin.

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ, đông vui, tấp nập nơi cửa biển, là sự phức tạp về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; các loại tội phạm và tệ nạn xã hội lợi dụng để hoạt động. Nhiều đối tượng có tiền án, tiền sự trà trộn vào những tốp ngư phủ để lẩn tránh sự truy xét của pháp luật gây khó khăn cho công tác quản lý địa bàn của đơn vị.

Trung tá Nguyễn Văn Hệ - Đồn trưởng Đồn Biên phòng Rạch Gốc cho biết thêm: “Trước đây, trên địa bàn thường xuyên xảy ra các vụ việc vi phạm pháp luật, chủ yếu là trộm cắp, cờ bạc, gây rối, nhất là những khi hết con nước đánh bắt ngoài biển, ngư dân các tỉnh vào neo đậu, mua bán hàng hóa… nên lao động hay lên bờ tổ chức ăn nhậu rồi phát sinh mâu thuẫn, gây rối trật tự, có vụ xảy ra xung đột gây chết người. Nhằm lập lại trật tự trong địa bàn, chúng tôi đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng công an, quân sự các địa phương tăng cường tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho nhân dân. Nhờ quần chúng nhân dân, chúng tôi đã kịp thời triệt phá nhiều vụ việc phức tạp. Bắt nhiều đối tượng và thu giữ nhiều tang vật có liên quan”.

Trong năm 2022, đơn vị tiếp nhận 12 nguồn tin về tội phạm liên quan đến chết người, thuyền viên mất tích, tai nạn trên biển. Bằng các biện pháp nghiệp vụ, đơn vị đã phát hiện, bắt giữ, khởi tố 1 vụ án hình sự về tội vận chuyển trái phép chất ma túy; 1 vụ/3 đối tượng trộm cắp tài sản tại dự án điện gió Viên An Cà Mau. Phối hợp Công an phát hiện, bắt 2 vụ/2 đối tượng bị truy nã về tội phạm ma túy, trộm cắp tài sản khi các đối tượng đang làm việc tại tàu cá trên biển. Xử phạt vi phạm hành chính 9 vụ/26 đối tượng với tổng số tiền 131.400.000 đồng.

Mới đây, vào ngày 21-12, qua công tác kiểm tra, kiểm soát người, phương tiện ra vào cửa biển, lực lượng làm nhiệm vụ của đơn vị đã phát hiện trên một tàu đánh cá có 1 túi đồ bên trong có gói nylon chứa chất tinh thể màu trắng, nghi là ma túy. Qua điều tra, tàu đánh cá KG 92724 TS do ông Võ Minh Duyệt, 49 tuổi, ngụ ấp Ô Rô, xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển làm chủ kiêm thuyền trưởng. Ông Võ Minh Duyệt cho biết, túi đồ nói trên là của bà Danh Ngọc Phượng, ngụ ấp Ô Rô, xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển gửi ra cho chồng bà Phượng đang làm thuê trên tàu đánh cá khác ngoài biển.

Làm việc với cán bộ điều tra Bộ đội Biên phòng, bà Phượng khai nhận tinh thể rắn màu trắng trong túi nylon là ma túy đá do chồng bà là Trần Quang Băng, kêu bà đến nhận từ 1 người lạ và trả số tiền là 3 triệu đồng, sau đó đóng gói nhờ ông Duyệt đem ra biển cho chồng bà để sử dụng.

Trước đó, vào ngày 16-11, cũng qua công tác kiểm tra, kiểm soát, đơn vị phát hiện và bắt giữ đối tượng có lệnh truy nã về tội trộm cắp tài sản đang đi trên tàu đánh cá của ngư dân tỉnh Kiên Giang. Đơn vị đã hoàn chỉnh thủ tục và bàn giao đối tượng cho Công an huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu theo quy định.

Đối tượng bị bắt tên Lý Hòa, sinh năm 1991, ngụ ấp Thị trấn B, thị trấn Hòa Bình, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu. Lý Hòa đang bị cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu truy nã về tội trộm cắp tài sản từ tháng 9-2018. Đối tượng bỏ trốn khỏi nơi cư trú và xin đi làm thuê trên tàu đánh cá KG 91432 TS do ông Nguyễn Thanh Phong, 34 tuổi, ngụ ấp Tân Điều, xã Mỹ Lâm, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang làm thuyền trưởng. Ngày 17-11, ông Nguyễn Thanh Phong điều khiển tàu KG 91432 TS chạy vào cửa Rạch Gốc, huyện Ngọc Hiển, Cà Mau để bán sản phẩm. Khi vào đến cửa biển Rạch Gốc thì lực lượng nghiệp vụ đồn Biên phòng phối hợp Công an huyện Hòa Bình tiến hành kiểm tra và bắt giữ đối tượng Lý Hòa.

Để làm tốt công tác vận động quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, phát triển kinh tế, xây dựng quê hương, đơn vị đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương thường xuyên tuyên truyền đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến người dân. Thông qua công tác bám nắm địa bàn, đơn vị đã hiểu điều kiện sống, hoàn cảnh của từng gia đình để có sự giúp đỡ kịp thời. Bên cạnh đó, đơn vị còn phối hợp với các ngành, các cấp ở địa phương vận động nhà hảo tâm, các doanh nghiệp hỗ trợ thuốc men, tặng quà, sách vở cho học sinh và gia đình có hoàn cảnh khó khăn, giúp nhiều lao động nông thôn tìm được việc làm cho thu nhập ổn định.

Năm 2022 đơn vị phối hợp các địa phương trên địa bàn đóng quân tổ chức “Ngày hội Biên phòng toàn dân” và trao tặng 2 căn nhà Đại đoàn kết trị giá mỗi căn nhà 50 triệu đồng; 10 suất quà, mỗi suất trị giá 500.000 đồng cho gia đình chính sách, hộ nghèo và 7 suất quà cho học sinh trong Chương trình “Nâng bước em đến trường” (trị giá mỗi suất 500.000 đồng).

Ngoài ra, đơn vị đã tham mưu cho Bộ Chỉ huy tổ chức Chương trình "Xuân Biên phòng ấm lòng Người dân biển". Theo đó, trong Chương trình đã tổ chức “Phiên chợ Tết 0 đồng” với giá trị hơn 10 triệu đồng; khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho 25 hộ nghèo, gia đình chính sách; tặng 27 suất quà, mỗi suất trị giá 1,3 triệu đồng cho hộ nghèo, gia đình chính sách và học sinh được Bộ đội Biên phòng tỉnh nhận hỗ trợ theo chương trình “Nâng bước em đến trường” và 1 nhà “Mái ấm Biên cương" trị giá 60 triệu đồng.

Đi dọc các huyện ven biển ở Cà Mau hôm nay, đời sống nhân dân được nâng lên về mọi mặt. Với những mô hình và đóng góp tích cực cho cộng đồng, Bộ đội Biên phòng Cà Mau đã và đang tiếp tục khẳng định vai trò đặc biệt của công tác “Dân vận khéo” - yếu tố quan trọng góp phần xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trên dọc dài biên giới của Tổ quốc.MT

CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY CẨN PHẢI GƯƠNG MẪU TRƯỚC NHÂN DÂN!

 


Cán bộ, đảng viên là những người tiên phong, gương mẫu trước nhân dân về mọi phương diện: tư tưởng, hành động, lối sống, sự hy sinh phấn đấu cho lợi ích chung của Đảng, của nhân dân và dân tộc. Đảng lãnh đạo nhân dân bằng sự gương mẫu, tiền phong của Đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nhân dân nhìn thấy cán bộ, đảng viên miệng nói, tay làm, tiền phong gương mẫu là sẽ làm theo. Nhân dân ta có câu “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Trong mọi hoàn cảnh dù khó khăn gian khổ, sống chết kề bên hay lúc bình yên vinh hoa phú quý, bao giờ cũng cần sự gương mẫu tiền phong của người cán bộ, đảng viên. Đó là sự gương mẫu hy sinh phấn đấu vì Đảng quang vinh, vì dân giàu, nước mạnh, văn minh hạnh phúc, trong đó có niềm vinh dự của chính mình. Đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên là “miệng nói, tay làm”, “nói ít làm nhiều”, đã nói thì làm, làm cho bằng được, làm có hiệu quả, vì lợi ích chung. Nhân dân rất kính trọng, khâm phục, tin tưởng, đi theo những cán bộ, đảng viên luôn gương mẫu trước nhân dân, trước Đảng trong mọi công việc, trong cuộc sống hằng ngày.St

 

 

CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY LÀ PHẢI KỶ CƯƠNG LUÔN COI TRỌNG VÀ ĐOÀN KẾT THẬT CHÂN THÀNH!

 


KỶ CƯƠNG LUÔN COI TRỌNG

Là cán bộ, đảng viên, không những phải gương mẫu tuân thủ pháp luật, mà phải thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương, điều lệ, nghị quyết của Đảng. Đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên là thực hiện nghiêm, chủ động, sáng tạo, có hiệu quả mọi chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; mọi quy định của cộng đồng từ việc nhỏ đến việc lớn. Sự gương mẫu chấp hành, thực hiện nghiêm sẽ tạo thành nếp sống nghiêm túc, luôn tuân thủ kỷ luật kỷ cương, pháp luật của Đảng và Nhà nước, tạo nên phẩm chất đạo đức của người cách mạng.

Giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật Đảng là bảo vệ Đảng, là nguyên tắc, là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên. Giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương sẽ giúp cho cán bộ, đảng viên không mắc sai lầm, không xa rời Đảng, không bị kẻ xấu lôi kéo, có đủ bản lĩnh đấu tranh, bác bỏ mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, bảo vệ Đảng vững chắc.

ĐOÀN KẾT THẬT CHÂN THÀNH

Đoàn kết là sức mạnh làm nên mọi thắng lợi của Đảng và nhân dân ta trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng, là bài học vô cùng quý giá của Đảng. Bao giờ, ở đâu, lĩnh vực nào cũng cần có sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, trong nhân dân để tạo ra sức mạnh. Đoàn kết về tư tưởng, hành động, tổ chức gắn kết mọi cán bộ, đảng viên trên cơ sở vì lợi ích chung, lâu dài.

Sự đoàn kết của cán bộ, đảng viên, nâng tầm là đạo đức cao quý của Đảng, là yêu cầu của nhân dân, của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ, đảng viên phải giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Người nhấn mạnh: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công! Để trở thành phẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên, sự đoàn kết như Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta yêu cầu, phải thực sự vì lợi ích chung; phải thật sự chân thành, trung thực, gạt bỏ mọi mưu đồ, lợi ích, thủ đoạn cá nhân được che đậy bằng “đoàn kết”. Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy ta phải yêu thương đồng chí, không đố kỵ, ghét ghen, không dùng quyền lực loại người tài đức, đưa con cháu, người thân, cùng cánh vào thay, kéo cả nhà làm quan…

Đoàn kết phải trên nền tảng đạo đức của người cộng sản, vì tạo nên sức mạnh, nội lực kiên cường của Đảng.St

 

 

CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY PHẢI KIỆM, CẦN TRONG LỐI SỐNG!

 


Đây là sự đồng nhất trong phẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên. Người cán bộ, đảng viên phải thực sự là người lao động cần cù, sáng tạo trong lĩnh vực mà mình đảm nhiệm, đóng góp hết mình cho nhân dân, cho đất nước. Tiết kiệm thời gian, công sức, tiền của, cần mẫn học tập, không ngừng trau dồi tri thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lao động sáng tạo, tạo ra những thành quả vật chất, tinh thần thiết thực, hữu ích cho đất nước, cho xã hội, đó chính là những phẩm chất quý báu của người cán bộ, đảng viên.

Bác Hồ chỉ rõ, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là hướng rèn luyện, là phương châm hành động, là phẩm chất của người cán bộ, đảng viên. Người nhấn mạnh, tiết kiệm là yêu cầu cần thiết, là đức tính, là khoa học trong công tác của người cán bộ, đảng viên. Nếu làm ra của cải mà không tiết kiệm, không chi dùng đúng việc, phung phí thì khác nào như “gió vào nhà trống”. Tiết kiệm không có nghĩa là bủn xỉn, thấy việc cần mà không dám làm, không dám chịu trách nhiệm. Trước mỗi công việc, cần cân nhắc, tính toán cẩn thận, xem xét hiệu quả, cân đối toàn diện, nhìn nhận trước mắt, lâu dài, tránh tình trạng “vung tay quá trán”, hình thức, gây lãng phí tiền của của nhân dân. Gần đây, có những hiện tượng lãng phí ghê gớm về tiền của, sức lao động, tài nguyên, nhất là tài nguyên đất đai,… do hàng loạt dự án “treo”, công trình dở dang, đầu tư không hiệu quả, chất lượng kém… rất đáng báo động. Tình trạng này là hệ quả xấu của tâm lý nhiệm kỳ, của sự vô trách nhiệm, xa rời, buông lỏng vai trò lãnh đạo, quản lý, là sự vi phạm nghiêm trọng đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên. Trong rất nhiều lĩnh vực khác, nếu cán bộ, đảng viên thiếu đạo đức cách mạng, buông lỏng, lơ là với vị trí, vai trò, trách nhiệm của mình, không thực sự cần kiệm, đều gây ra những thiệt hại lớn cho xã hội, đất nước, làm mất lòng tin của nhân dân, ảnh hưởng xấu đến uy tín, thanh danh của Đảng.St

 

CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY CẨN PHẢI LIÊM CHÍNH TRONG CÔNG VIỆC!

 


Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chỉ rõ, phải “cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư”. Đặc biệt, với cán bộ, đảng viên, Người nghiêm khắc yêu cầu phải thực sự liêm chính trong thực hành công việc, bất cứ to hay nhỏ; lớn hay bé. Cán bộ, đảng viên được Đảng, nhân dân giao nắm giữ những nhiệm vụ là để phục vụ nhân dân, tuyệt đối không được lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bòn rút, trục lợi cá nhân bằng mọi thủ đoạn tinh vi, trắng trợn, liên kết bè nhóm khuất tất hòng che mắt nhân dân, làm giàu bất chính. Bác Hồ cũng từng chỉ rõ tiền của đó là mồ hôi, nước mắt, sức lực của nhân dân. Bác gọi những người tham nhũng “chiếm công vi tư” là một thứ “giặc” - giặc nội xâm. Thứ giặc này nằm ngay trong chúng ta, phá chúng ta từ bên trong, mà bản chất của nó chính là chủ nghĩa cá nhân, là phi đạo đức. Cho nên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Mỗi cán bộ, đảng viên muốn có được đạo đức cách mạng trong sáng, thực sự, xứng đáng, phải thường xuyên cảnh giác, rèn luyện, tự chống lại những ham muốn cá nhân chủ nghĩa, phải liêm chính, ngay thẳng, minh bạch trong mọi công việc và đời sống của mình.St

CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY LÀ PHẢI TRUNG THÀNH VỚI LÝ TƯỞNG!

 

Đảng lãnh đạo cách mạng, định hướng con đường lý tưởng cho nhân dân đi và tổ chức thực hiện thông qua hàng triệu cán bộ, đảng viên của mình. Vì thế, người cán bộ, đảng viên phải có đạo đức cách mạng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ là “thay đi cái cũ, xã hội cũ lạc hậu, xây lên cái mới, xã hội mới tốt đẹp hơn”. Lý tưởng của chúng ta đã được Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta lựa chọn là “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Ngay từ ngày đầu đến hôm nay, trong quá trình từng bước thực hiện lý tưởng ấy, đã có biết bao tấm gương hy sinh vô điều kiện của các thế hệ cán bộ, đảng viên và nhân dân, đưa đất nước ta từ thân phận nô lệ, kiếp ngựa trâu, đánh đổ đế quốc xâm lược và phong kiến, giành độc lập chủ quyền dân tộc, xây dựng và phát triển không ngừng để có cơ đồ, vị thế vinh quang, sánh vai với các nước trên thế giới, đời sống nhân dân hòa bình, dân chủ, ấm no, hạnh phúc, văn minh, tiến bộ như ngày nay, làm thỏa tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

“Trung thành với lý tưởng” của Đảng là trung thành với lợi ích của dân tộc; trung thành với lý tưởng “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Đã là cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc, đầy đủ, hoàn chỉnh về mục tiêu lý tưởng đó để không những củng cố niềm tin vững chắc cho bản thân, mà còn tuyên truyền, giáo dục, vận động đông đảo quần chúng nhân dân cùng nhận thức đúng đắn, sâu sắc, đầy đủ và làm theo. Một số cán bộ, đảng viên đã “phai nhạt lý tưởng” dẫn đến “tự diễn biến, tự chuyển hóa” đã là không còn phẩm chất cách mạng của người cán bộ, đảng viên; là không còn xứng đáng là cán bộ, đảng viên; thậm chí là đã đi ngược lý tưởng của Đảng, phản bội nhân dân. Vì thế, trung thành với lý tưởng của Đảng là phẩm chất cơ bản, là nền tảng, là sức mạnh để người cán bộ, đảng viên hy sinh, phấn đấu, đóng góp thiết thực vào sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.St

 

CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY!

 

Để quy tụ và cụ thể những chuẩn mực đạo đức giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên phấn đấu, rèn luyện có hiệu quả, cần khái quát ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, dễ kiểm tra, đánh giá, ở mấy điểm chính sau: Trung thành với lý tưởng; Liêm chính trong công việc; Gương mẫu trước nhân dân; Kiệm cần trong lối sống; Kỷ cương luôn coi trọng; Đoàn kết thật chân thành.

Đạo đức cách mạng là gốc của người cách mạng như Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn thường dạy. Có nhiều cách tiếp cận để xác định chuẩn mực đạo đức của người cách mạng - người cán bộ, đảng viên, trong đó cách tiếp cận cơ bản, cốt lõi nhất là căn cứ vào vị trí, vai trò, trách nhiệm người cán bộ, đảng viên đối với Đảng, với dân, với nước. Đó là sự hy sinh phấn đấu vô điều kiện cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của Tổ quốc và nhân dân. Điểm chung của đạo đức người cán bộ, đảng viên là vậy, thường xuyên phải tu dưỡng, rèn luyện, giữ vững, thể hiện trong công tác, đời sống và mọi mối quan hệ hằng ngày. Để quy tụ và cụ thể những chuẩn mực đạo đức giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên phấn đấu, rèn luyện có hiệu quả, cần khái quát ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, dễ kiểm tra, đánh giá, ở mấy điểm chính sau: Trung thành với lý tưởng; Liêm chính trong công việc; Gương mẫu trước nhân dân; Kiệm cần trong lối sống; Kỷ cương luôn coi trọng; Đoàn kết thật chân thành.

Có thể coi đó là những nội dung cơ bản, cốt lõi về chuẩn mực đạo đức của người cán bộ, đảng viên ở mọi giai đoạn cách mạng. Trong mỗi chúng ta, có được những phẩm chất đó, mới xứng danh là cán bộ, đảng viên. Ngược lại, nếu không có được những phẩm chất đó một cách thực chất, chỉ hình thức, hời hợt, trá hình, giả tạo,… thì không thể xứng đáng, không thể là cán bộ, đảng viên chân chính.St