Thứ Tư, 4 tháng 1, 2023

Khơi dậy, nhân lên lòng yêu nước của mỗi người dân Việt Nam

 Giữa lúc tình hình dịch COVID-19 đang diễn biến phức tạp, hơn lúc nào hết, những giá trị văn hóa Việt Nam cần được khơi dậy và nhân lên, đặc biệt là lòng yêu nước - nhân tố quan trọng, quyết định trực tiếp đến sự toàn thắng của dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến chống đại dịch. Ngày 29-7 vừa qua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ra Lời kêu gọi đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài về công tác phòng, chống đại dịch COVID-19 lần thứ 2, không chỉ thể hiện sự kế thừa và phát huy lên tầm cao mới Lời hiệu triệu khi Tổ quốc lâm nguy mà còn là cơ sở, động lực, niềm tin, tiếp tục khơi dậy và nhân lên lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam.


Tháng 3-2020, Lời kêu gọi toàn dân phòng, chống dịch bệnh COVID-19 lần thứ nhất của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng được toàn dân, toàn quân và đồng bào Việt Nam ở nước ngoài hưởng ứng, nêu cao tinh thần yêu nước, đoàn kết một lòng, thống nhất ý chí và hành động, để rồi sau 3 tháng, Việt Nam lần lượt đẩy lùi và dập tắt dịch bệnh COVID-19 lần đầu xâm nhập vào nước ta, trở thành “điểm sáng” của thế giới về phòng, chống dịch. Trong lần thứ 2 này, một lần nữa, Lời kêu gọi đã chạm đến nơi sâu thẳm nhất, lay động trái tim mỗi người dân và nhận được sự hưởng ứng tích cực của các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước, từ đó, khơi dậy mạnh mẽ và nhân lên gấp bội lòng yêu nước trong mỗi người Việt Nam, cổ vũ sự quyết tâm, tinh thần đoàn kết của nhân dân, “chung lưng đấu cật”, đồng lòng thực hiện quyết liệt, hiệu quả những chủ trương, quyết sách của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, các bộ ngành, địa phương, sự xả thân của lực lượng tuyến đầu chống dịch, tiếp tục tạo ra nguồn động lực tinh thần vô song để Việt Nam sớm đẩy lùi dịch bệnh. 

Trong bài viết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân là trên hết, trước hết, thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi tha thiết kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và đồng bào ở nước ngoài, chúng ta đã cố gắng càng cố gắng hơn nữa; đã đoàn kết càng đoàn kết hơn nữa; đã quyết tâm càng quyết tâm cao hơn nữa; toàn dân tộc muôn người như một, đồng lòng cùng Đảng, Chính phủ, các cấp, các ngành tìm mọi cách quyết ngăn chặn, đẩy lùi bằng được, không để dịch lan rộng, bùng phát trong cộng đồng”. Lắng đọng qua từng câu, từng chữ trong Lời kêu gọi của Tổng Bí thư, mỗi người Việt Nam bồi hồi nhớ lại, khi đất nước đứng trước khó khăn, thách thức như “ngàn cân treo sợi tóc”, người đứng đầu đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có thư kêu gọi toàn quốc như: Thư kêu gọi khởi nghĩa vào tháng 8-1945, đến Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, ngày 19-12-1946 và Lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước ngày 17-7-1966... Đó là lời kêu gọi của non sông đất nước, lời hiệu triệu toàn dân thể hiện trọng trách với vận mệnh dân tộc. Hưởng ứng Lời kêu gọi của Bác, ông cha ta đã nhất tề đứng lên, với mọi vũ khí trong tay, đánh đuổi kẻ thù, bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Hôm nay, Lời kêu gọi của người đứng đầu đất nước đã chạm đến trái tim của mỗi người, như lời hiệu triệu toàn dân, toàn quân và đồng bào ta ở ngoài nước cùng chung sức, đồng lòng, “cố gắng hơn nữa, đoàn kết hơn nữa, quyết tâm cao hơn nữa, cùng Đảng, Chính phủ, các cấp, các ngành quyết tâm ngăn chặn, đẩy lùi bằng được dịch bệnh”. 

Lời kêu gọi ấy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vừa thể hiện trọng trách lớn lao, quan điểm lãnh đạo, lời tuyên bố của người đứng đầu Đảng đối với vận mệnh dân tộc, vừa thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước ta trước đại dịch. Tất cả đều hội tụ ở quan tâm chăm lo đến đời sống nhân dân, bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân là trên hết, trước hết. Điều đó đã tiếp thêm sức mạnh, niềm tin để mỗi người dân Việt Nam đã cố gắng càng cố gắng hơn nữa, đã đoàn kết càng đoàn kết, đồng lòng, chấp hành tốt các chỉ thị, quy định về giãn cách xã hội... Từng câu, từng chữ trong Lời kêu gọi của Tổng Bí thư một lần nữa khơi dậy và nhân lên tình yêu nước của mỗi người dân Việt Nam trong cuộc chiến chống đại dịch và một quyết tâm cháy bỏng: “Tôi tin tưởng sâu sắc rằng cả nước góp sức, toàn Đảng, toàn dân đồng lòng, thống nhất ý chí và hành động, cùng với sự giúp đỡ chí tình của đồng bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế, nhất định chúng ta sẽ chiến thắng đại dịch COVID-19 và phải chiến thắng cho bằng được, góp phần xứng đáng vào sự nỗ lực chung của toàn nhân loại vì một thế giới an toàn, lành mạnh, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và thịnh vượng, xứng đáng với truyền thống anh hùng vẻ vang của đất nước ta, dân tộc ta!”.

Đặt Lời kêu gọi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong hoàn cảnh cả nước đang gồng mình “chống dịch như chống giặc” mới thấy được hết tấm lòng thương dân sâu sắc của người đứng đầu Đảng. Điều đó cũng chứng tỏ, Tổng Bí thư luôn nhất quán giữa lời nói với hành động, nói đi đôi với làm, đặt chữ “an dân” ở vị trí trung tâm và trên hết. Tấm gương vì nước, vì dân của Tổng Bí thư có sức động viên to lớn đối với các tầng lớp nhân dân, khơi dậy, cổ vũ và thắp lên ngọn lửa quyết tâm ở mỗi người dân, củng cố niềm tin, huy động sức mạnh của toàn dân tộc vào cuộc chiến chống COVID-19 vô cùng cam go, khắc nghiệt. Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được hội tụ, khi ý Đảng quyện với lòng dân thành một khối, hiệu triệu kịp thời và tiếp thêm động lực cũng như ý thức trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị, đồng bào, chiến sĩ cả nước nêu cao hơn nữa trách nhiệm, “chung lưng đấu cật” cùng với Đảng, Chính phủ, các cấp, các ngành tìm mọi cách quyết ngăn chặn, đẩy lùi bằng được, không để dịch lan rộng, bùng phát rộng trong cộng đồng, bảo đảm sức khỏe, tính mạng của nhân dân và ổn định đất nước. 

Đoàn cán bộ, y, bác sỹ của Thanh Hóa tình nguyện lên đường chi viện cho miền Nam chống dịch Covid-19.

Từ lời hiệu triệu ấy, từng đoàn y, bác sĩ, nhân viên y tế vừa hoàn thành xong nhiệm vụ chống dịch ở Bắc Giang, Bắc Ninh cùng các tình nguyện viên là sinh viên các trường Y, các trường Công an, Quân đội tiếp tục xung phong, tình nguyện lên đường vào Nam, đem sức lực, trí lực, kinh nghiệm và cả niềm tin chiến thắng đại dịch đến nhân dân “Thành đồng Tổ quốc”. Ngày 1-8-2021, chuyến tàu SE 7 chở hơn 10 tấn trang thiết bị y tế gồm 20 máy thở, máy thở chức năng cao, 15 máy thở ô-xy dòng cao, 1 máy lọc thận, 45 monitor theo dõi bệnh nhân, hệ thống xét nghiệm sinh hóa tự động, 80 bơm tiêm điện, 80 máy truyền dịch, máy sốc tim, siêu âm màu, và nhiều nhu yếu phẩm khác… Toàn bộ số thiết bị trên của trung tâm hồi sức lớn nhất miền Bắc, được thiết lập trong cao điểm dịch COVID-19 tại Bắc Giang, nay được chuyển vào TP. Hồ Chí Minh. Số thiết bị này đủ sử dụng cho 100 giường hồi sức… Với tinh thần “Quân với dân một ý chí” và “Vì nhân dân phục vụ”, cũng trong ngày 1-8, Bệnh viện dã chiến truyền nhiễm số 5D (Bộ Quốc phòng) đã ra quân, lên đường vào Nam làm nhiệm vụ điều trị bệnh nhân Covid-19 tại TP. Hồ Chí Minh và Bình Dương. Bệnh viện có quân số 130 người, trong đó có 26 sỹ quan, 62 quân nhân chuyên nghiệp, 42 hạ sỹ quan, binh sỹ, gồm lực lượng từ Bệnh viện Quân y 105 (31 người), Viện Y học cổ truyền Quân đội (45 người) và Quân khu 7 (54 người)... 

Nhiều mô hình, sáng kiến, hoạt động nhân văn từ các tổ chức, cá nhân hoạt động thời gian qua tiếp tục được nhân lên, như chương trình “xăng 0 đồng” của lực lượng cảnh sát giao thông, “cửa hàng 0 đồng”, ATM gạo, ủng hộ Quỹ Vắc-xin phòng, chống COVID-19, những xuất cơm miễn phí ấm áp tình người. Từ các em đoàn viên, thanh niên, học sinh bớt đi ngày ăn sáng cho đến cụ già hơn 100 tuổi không còn sức lao động luôn sẵn sàng, thậm chí tiên phong trong phong trào nghĩa tình đồng bào. Hành động, việc làm của những cá nhân, dù nhỏ nhưng có ý nghĩa lớn, nhân lên tinh thần tương thân tương ái, đồng cam cộng khổ với người dân trong tâm dịch, thể hiện nghĩa cử cao đẹp “lá lành đùm lá rách”,“một miếng khi đói bằng một gói khi no” và truyền thống nhân văn của dân tộc Việt Nam “Bầu ơi thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. 

Đó còn là những chuyến xe lương thực, thực phẩm nặng nghĩa tình của miền Bắc thân yêu “vì miền Nam ruột thịt” nối tiếp nhau lên đường, đưa nhu yếu phẩm cần thiết và cấp thiết, kịp thời chia sẻ với người dân  đang gồng mình chống dịch. Trong đó, tiêu biểu là phong trào “Hướng về Thành phố mang tên Bác” của nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Từ ngày 17 đến 31-7, bên cạnh cử 109 cán bộ, y, bác sĩ đang làm việc trong các bệnh viện, cơ sở y tế trong tỉnh lên đường Nam tiến “chia lửa” cùng nhân dân TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phố phía Nam phòng chống dịch bệnh, Đảng bộ, chính quyền, nhân dân tỉnh Thanh Hóa còn quyên góp, ủng hộ tổng cộng khoảng 2.200 tấn nhu yếu phẩm thiết yếu để gửi vào hỗ trợ đồng bào miền Nam; hỗ trợ TP. Hồ Chí Minh 2 tỉ đồng, tỉnh Bình Dương 1 tỉ đồng…

Khi ngọn lửa dịch bệnh vừa được dập, tỉnh Bắc Giang đã nhanh chóng thành lập có đội xe “0 đồng” với hơn 10 xe và hàng chục tình nguyện viên là các tài xế lão luyện. 258 y bác sĩ có kinh nghiệm chống dịch đã xung phong lên đường vào Nam chống dịch. Có mặt tại TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, các y bác sĩ của Bắc Giang luôn cố gắng, nỗ lực, nhiệt huyết với tinh thần “miền Nam gọi, Bắc Giang luôn sẵn sàng”, đồng hành, chung sức cùng miền Nam cho đến khi nào nơi đây hết dịch mới về. Tất cả sự “chi viện” của nhân dân miền Bắc, không chỉ là sự sẻ chia về vật chất, vì “miền Nam kêu gọi, miền Bắc sẵn sàng đáp ứng. Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người…” mà còn thể hiện tình cảm, nghĩa cử cao đẹp của truyền thống “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng”. 

Cuộc chiến đấu chống đại dịch có thể còn kéo dài một thời gian nữa, nhưng nhất định chúng ta sẽ giành thắng lợi nhờ sức mạnh của lòng yêu nước, tinh thần và ý chí của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Lời hiệu triệu của Tổng Bí thư đã tiếp thêm sức mạnh tinh thần để mỗi người Việt Nam thống nhất ý chí và hành động, thực hiện quyết liệt, hiệu quả những chủ trương của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, chung sức đồng lòng đẩy lùi dịch bệnh, đưa đất nước trở lại trạng thái bình thường, tiếp tục thực hiện khát vọng Việt Nam phồn vinh hạnh phúc như Đại hội XIII của Đảng đề ra. 
VTT (St)

Xây dựng Ðảng về chính trị

 

Xây dựng Ðảng về chính trị thường được đặt lên hàng đầu khi bàn về bốn mục tiêu xây dựng Ðảng: Chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức. Bốn mục tiêu có mối quan hệ mật thiết, gắn bó với nhau, thậm chí ở những mức độ và cách thể hiện khác nhau, các mục tiêu thâm nhập vào nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Tuy nhiên, mỗi mục tiêu có nội hàm và những khía cạnh đặc trưng cần được làm rõ và nhấn mạnh.

Chính trị hiểu ngắn gọn là toàn bộ tư tưởng, lý luận, tổ chức liên quan đến nhiệm vụ, nội dung, hình thức hoạt động của Ðảng; liên quan đến cuộc đấu tranh giai cấp và sự nghiệp cách mạng nhằm khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, giải quyết mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam và quan hệ quốc tế.

Xây dựng Ðảng về chính trị được đặt lên hàng đầu bởi những nội dung thuộc chủ trương, đường lối, cương lĩnh của Ðảng nhằm lãnh đạo Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, thực hiện mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội, bước tới đài vinh quang, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Xây dựng Ðảng vững mạnh về chính trị có nhiều nội dung, tập trung ở đường lối chính trị đúng, bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng và tác phong cư xử chính trị chuẩn mực, có văn hóa của cán bộ, đảng viên.

Về đường lối chính trị đúng. Hồ Chí Minh chỉ rõ một đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Ðường lối chính trị đúng là một đường lối có chất lượng khoa học, cách mạng và nhân văn. Ðường lối đó được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xuất phát, phù hợp với đặc điểm, hoàn cảnh, thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thế giới; tôn trọng quy luật khách quan; phản ánh đầy đủ khát vọng, lợi ích của quốc gia - dân tộc, vừa cơ bản trước mắt vừa có tính chiến lược, lâu dài.

Ðường lối chính trị đúng của Ðảng trước hết phản ánh ở đường lối chung, kịp thời thể chế hóa, cụ thể hóa, triển khai đúng đắn, hiệu quả trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Tuy nhiên, tính khoa học và cách mạng của một đường lối chính trị đúng cho dù trong một nhiệm kỳ đại hội cũng không bao giờ chỉ giới hạn trong nhiệm kỳ đó. Ðảng phải có những dự báo tình hình thế giới và đất nước về tất cả các mặt trên hai phương diện thuận lợi - thời cơ và khó khăn - thách thức, để chỉ ra được những nguy cơ lớn phải phòng và chống. Từ năng lực dự báo của Ðảng để thấy những vấn đề mới đặt ra, những yêu cầu mới, to lớn, phức tạp trong sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, mà Ðảng, Nhà nước và nhân dân phải kiên trì, kiên quyết, tín tâm, quyết tâm, đồng tâm nỗ lực, phấn đấu nhiều hơn nữa, mạnh mẽ hơn nữa.

Giải quyết nhiệm vụ trước mắt cùng với bản lĩnh, năng lực dự báo thể hiện Ðảng phải tập trung giành thắng lợi trong từng bước đi lên của sự nghiệp đổi mới. Ðường lối chính trị của Ðảng cứng rắn về chiến lược, kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược, linh hoạt về phương thức tiến hành, tập hợp lực lượng của toàn dân, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, thích ứng năng động trước những chuyển biến của tình hình.

Về bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng. Chúng ta đang sống trong một thế giới toàn cầu còn nhiều diễn biến hết sức nhanh chóng, phức tạp, khó lường; một số lĩnh vực, khu vực cạnh tranh gay gắt, tiềm ẩn nhiều bất ổn, căng thẳng. Trong nước, bốn nguy cơ mà Ðảng ta chỉ ra vẫn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn, chứa đựng những thách thức lớn. Bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng trước hết thể hiện ở nhận thức thấu đáo của Ðảng về tình hình thế giới và đất nước. Ðảng phải thấy rõ trong mọi giai đoạn cách mạng khác nhau, từng bước đi lên của đất nước, bao giờ cũng xuất hiện những tình huống phức tạp, bước ngoặt hiểm nghèo, những cản lực trên con đường phát triển. Càng gần thắng lợi càng nhiều gian nan, đó là điều có tính tất yếu của cách mạng.

Nói kiên định, vững vàng bản lĩnh chính trị không có nghĩa chủ quan, duy ý chí, rập khuôn, máy móc, bảo thủ, cứng nhắc, giáo điều, mà là sự kết hợp chặt chẽ giữa nhìn nhận hiện tại, dự báo tương lai với tổng kết thực tiễn và kinh nghiệm. Kinh nghiệm và thực tiễn từ trước và hiện nay được gom góp lại, phân tích, kết luận thành lý luận. Sự phong phú của lý luận bằng chính những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn.

Vì vậy, bản lĩnh chính trị vững vàng trong xây dựng Ðảng về chính trị hiện nay là kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Ðây là nền tảng tư tưởng, lý luận của cách mạng Việt Nam gần một thế kỷ qua. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới 35 năm qua có nhiều nhân tố, nhưng phải nhấn mạnh nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Ðảng ta đã vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Ðây là cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, sợi chỉ đỏ xuyên suốt cách mạng Việt Nam từ khi có Ðảng. Chín mươi năm qua, nhờ kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà cách mạng Việt Nam đã tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là bài học hàng đầu được Ðảng ta tổng kết trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam, đặc biệt qua 35 năm đổi mới.

Kiên định đường lối đổi mới, để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Ðường lối đổi mới được hình thành và từng bước hoàn thiện, phát triển 35 năm qua, đưa đất nước đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, khẳng định đường lối lãnh đạo của Ðảng là đúng đắn, tạo tiềm lực to lớn để bảo vệ Tổ quốc. Ðổi mới ngày càng sâu rộng phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của thế giới là con đường duy nhất đúng thể hiện bản lĩnh, ý chí kiên cường và quyết tâm đi tới của cả dân tộc trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.

Kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác xây dựng Ðảng. Ðó là lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh "làm cốt"; tập trung dân chủ; gắn bó mật thiết với nhân dân; tự phê bình và phê bình; giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Ðảng; kỷ luật nghiêm minh, tự giác; đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung… Chín mươi năm qua, nhất là qua 35 năm đổi mới, nhờ kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc, Ðảng ta trong sạch, vững mạnh, giữ vững được vai trò lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Ðảng, lãnh đạo nhân dân ta tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Trong bất kỳ tình huống nào, đường lối chính trị của Ðảng phải luôn luôn thể hiện sự kiên định, vững vàng, không dao động, ngả nghiêng. Trong khi kiên định những vấn đề nền tảng vững chắc của Ðảng ta thì phải luôn luôn đổi mới và sáng tạo theo tinh thần biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Cách mạng là sáng tạo, là đổi mới. Không sáng tạo, không đổi mới là lạc hậu, xã hội không thể phát triển. Xã hội, con người luôn luôn đổi mới. Ðổi mới là một cách thức để phát triển, làm cho sự vật ngày càng tốt hơn, tiến bộ hơn. Phát triển phải gắn liền với đổi mới. Ðổi mới phải nắm vững quy luật, xu hướng phát triển. Ðổi mới vô nguyên tắc sẽ dẫn đến chệch hướng, "đổi màu". Kiên định mà không đổi mới, sáng tạo thì không thể phát triển. Vì vậy, kiên định phải gắn liền với sáng tạo, đổi mới; sáng tạo, đổi mới phải trên cơ sở kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thế giới.

Về tác phong cư xử chính trị chuẩn mực, có văn hóa của cán bộ, đảng viên. Chính trị có khía cạnh đấu tranh giai cấp, khẳng định địa vị, vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân mà Ðảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong, người đại diện. Ðảng là mỗi chúng ta. Mỗi đảng viên, cán bộ trong sạch, vững mạnh thì Ðảng trong sạch, vững mạnh. Ðảng mạnh là do cái chất của người đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, cán bộ cấp chiến lược phải thường xuyên nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, nhân cách văn hóa, đạo đức cách mạng, trình độ trí tuệ, phong cách và phương pháp công tác.

Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Ðảng không chỉ thể hiện ở đường lối và bản lĩnh chính trị của Ðảng, mà còn thông qua tính chiến đấu của tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là vai trò tiên phong, gương mẫu, tinh thần trách nhiệm, tự phê bình và phê bình của người đứng đầu. Xây dựng Ðảng vững mạnh về chính trị là thực hành dân chủ trong Ðảng, phát huy quyền làm chủ thật sự của nhân dân trong tham gia xây dựng Ðảng gắn liền với kỷ luật, kỷ cương của Ðảng.

Xây dựng Ðảng về chính trị là một bộ phận quan trọng trong xây dựng văn hóa chính trị, văn hóa Ðảng, cùng với xây dựng Ðảng về tư tưởng, tổ chức, đạo đức là một chỉnh thể trong xây dựng, chỉnh đốn Ðảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Ðảng.

VTT (St)

Nghiêm túc thực hiện việc cấm biếu, tặng quà Tết lãnh đạo các cấp

 

Nghiêm túc thực hiện việc cấm biếu, tặng quà Tết lãnh đạo các cấp

Theo Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Trịnh Thị Thủy, Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện nghiêm việc không tổ chức thăm, chúc Tết cấp trên, lãnh đạo các cấp.

Chiều 3/1, tại buổi họp báo Chính phủ thường kỳ, phóng viên đặt câu hỏi về việc thực hiện Chỉ thị của Ban Bí thư về việc tổ chức Tết Quý Mão năm 2023.

Chỉ thị yêu cầu không tổ chức thăm, chúc Tết cấp trên và lãnh đạo các cấp; không tổ chức đoàn của Trung ương thăm, chúc Tết cấp ủy, chính quyền các tỉnh, thành phố. Chỉ thị cũng nghiêm cấm biếu, tặng quà Tết cho lãnh đạo các cấp dưới mọi hình thức; chỉ dự lễ chùa, lễ hội khi được phân công; không tham gia các hoạt động mê tín dị đoan.

Trả lời vấn đề này, bà Trịnh Thị Thủy - Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho biết, thực hiện Chỉ thị số 19 của Ban Bí thư về tổ chức Tết Quý Mão năm 2023, Thủ tướng đã có Chỉ thị số 22/CT-TTg ngày 23/12/2022 tăng cường các biện pháp bảo đảm đón Tết Nguyên đán Quý Mão 2023 vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm. Chỉ thị của Thủ tướng đã xác định các nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm để triển khai thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến Chỉ thị của Ban Bí thư.

Nghiêm túc thực hiện việc cấm biếu, tặng quà Tết lãnh đạo các cấp - 1

Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Trịnh Thị Thủy.

Thủ tướng chỉ đạo các bộ ngành, địa phương, các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, không tổ chức đi thăm chúc Tết cấp trên và lãnh đạo các cấp; không tổ chức đoàn của Trung ương thăm, chúc Tết cấp ủy, chính quyền các tỉnh, thành phố; nghiêm cấm biếu, tặng quà Tết cho lãnh đạo các cấp dưới mọi hình thức; không sử dụng ngân sách nhà nước, phương tiện, tài sản công trái quy định; không tham gia các hoạt động mê tín, dị đoan; chỉ dự lễ chùa, lễ hội khi được phân công.

Thứ hai, Thủ tướng chỉ đạo các bộ ngành, địa phương tăng cường quán triệt, chỉ đạo, phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi gây nhũng nhiễu, phiền hà cho doanh nghiệp, người dân trong giải quyết công việc; tăng cường các biện pháp phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng trong hoạt động công vụ.

Thứ ba, Thủ tướng giao Bộ Nội vụ tăng cường tuyên truyền, quán triệt đến cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thực hiện nghiêm các quy định về văn hóa công vụ, kỷ luật, kỷ cương hành chính, thực hành tiết kiệm chống lãng phí, phòng, chống tham nhũng.

"Một giải pháp nữa trong chỉ đạo điều hành của Thủ tướng Chính phủ là giao cho các bộ ngành, địa phương chăm lo đời sống cho cán bộ, công chức, người lao động và nhân dân trong việc đón Tết. Chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ nêu rất rõ, đây là nhiệm vụ trọng tâm, đặt lên hàng đầu trong công tác chuẩn bị đón Tết tại các bộ ngành, địa phương để mọi người, mọi nhà đều có Tết và không để gia đình, người dân nào không có Tết", bà Thủy nói.

Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Trịnh Thị Thủy nhận định, xét về khía cạnh văn hóa truyền thống, Tết luôn có một giá trị rất thiêng liêng trong tâm thức của người dân Việt Nam. Việc tặng quà hay biếu quà nhân dịp Tết là một truyền thống, một nét văn hóa rất tốt đẹp, qua đó thể hiện tấm lòng thành kính đối với các bậc bề trên, cho những người cao tuổi và những người đã giúp đỡ trong cuộc sống hằng ngày. Điều này thể hiện tình cảm, không đặt nặng yếu tố vật chất.

"Vì vậy, chúng tôi cho rằng giải pháp quan trọng là phải tăng cường công tác tuyên truyền để mọi người dân nhận thức được giá trị của Tết truyền thống cũng như giá trị văn hóa của việc tặng quà Tết, qua đó người dân hiểu, nhận thức đầy đủ và thực hành cho đúng truyền thống văn hóa, truyền thống Tết, chúc Tết cũng như tặng quà Tết", bà Thủy nói.

 

 

HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CỦA UKRAINA
ĐƯỢC XÂY DỰNG TRÊN CƠ CỞ NÀO? VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG ĐỂ CHÚNG TA THAM KHẢO VÀ KIỂM CHỨNG

  Về lý luận các Chính trị học – Nhất là những quan điểm theo phép biện chứng duy vật đã chỉ ra: Mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị luôn luôn có mối quan hệ tắc động biện chứng với nhau. Thể chế và thiết chế để xây dựng nên một hệ thống chính trị, một bộ máy để định hướng, lãnh đạo hiệu quả đất nước ổn định, tăng trưởng, phát triển là một trong những điều kiện quan trọng, cần thiết cho một quốc gia, dân tộc trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay.Do vậy, bất cứ một chính đảng nào lên nắm quyền lãnh đạo, nếu không có một đường lối đúng đắn, không xây dựng được một bộ máy quản lý và điều hành đất nước hợp lý, hợp hiến chắc chắc trước sau rồi cũng thất bại….Chúng ta hãy khảo cứu hệ thống chính trị của đất nước Ucraina thông qua thông qua các dữ liệu sau đây:

Ukraina là một nước cộng hoà bán tổng thống với các nhánh lập pháphành pháp, và tư pháp riêng biệt. Tổng thống được bầu bởi các cử tri phổ thông với nhiệm kỳ năm năm là lãnh đạo chính thức của nhà nước.[1]

Nhánh lập pháp Ukraina là nghị viện đơn nhất gồm 450 ghế, tiếng Ukraina gọi là Verkhovna Rada, có nghĩa là "Hội đồng tối cao"[2] Bên cạnh chức năng lập pháp, Nghị viện còn có trách nhiệm phê chuẩn việc thành lập cơ quan hành pháp (Nội các) do Thủ tướng lãnh đạo, được Tổng thống chỉ định.[3]

Luật, đạo luật của nghị viện và nội các, nghị định tổng thống, và đạo luật của nghị viện Crimea có thể bị Toà án Hiến pháp huỷ bỏ, nếu chúng vi phạm Hiến pháp Ukraina. Các đạo luật có tính quy phạm khác cũng là đối tượng xem xét lại của nhánh tư pháp. Toà án Tối cao là cơ quan chính trong hệ thống toà án của tư pháp chung.

Việc tự quản lý của địa phương được chính thức đảm bảo. Các hội đồng địa phương và các thị trưởng thành phố được dân chúng bầu ra và thực hiện quyền kiểm soát với ngân sách địa phương. Các lãnh đạo vùng và các cơ quan hành chính quận được tổng thống chỉ định.

Ukraina có rất nhiều đảng chính trị, nhiều đảng trong số đó có ít thành viên và không được công chúng biết tới. Các đảng nhỏ thường tham gia vào các liên minh đa đảng (khối bầu cử) cho mục tiêu tham gia vào bầu cử nghị viện.

Theo đó, một thể chế “ có rất nhiều đảng chính trị, nhiều đảng trong số đó có ít thành viên và không được công chúng biết tới” có khả năng hoạch định đường lối và triển khai thực hiện nội dung đường lối đó trong thực tiễn cuộc sống của người dân, bảo vệ quyền và chủ quyền, lợi ích của đất nước hiệu quả hay không?

-------------

1- Half a million displaced in eastern Ukraine as winter looms, warns UN refugee agencyUnited Nations (ngày 5 tháng 12 năm 2014)
2- Ukraine conflict: Refugee numbers soar as war ragesBBC News (ngày 5 tháng 8 năm 2014)
3- UN Says At Least 6,400 Killed In Ukraine's Conflict Since April 2014RFE/RL (ngày 1 tháng 6 năm 2015)
 

Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng gặp mặt đại biểu cán bộ cao cấp Quân đội nghỉ hưu, nghỉ công tác khu vực phía Nam

 

Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng gặp mặt đại biểu cán bộ cao cấp Quân đội nghỉ hưu, nghỉ công tác khu vực phía Nam

Ngày 4-1, tại TP Hồ Chí Minh, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tổ chức gặp mặt đại biểu cán bộ cao cấp Quân đội nghỉ hưu, nghỉ công tác năm 2022 khu vực phía Nam. Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì buổi gặp mặt.

Cùng dự buổi gặp mặt có Đại tướng Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam.

Dự buổi gặp mặt có các đồng chí: Đại tướng Lê Văn Dũng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam; các đồng chí Thứ trưởng Bộ Quốc phòng: Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam; Thượng tướng Võ Minh Lương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương; Thượng tướng Phạm Hoài Nam, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương; Thượng tướng Trần Đơn, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Cùng dự buổi gặp mặt có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng; lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam; lãnh đạo Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam và các đồng chí là tướng lĩnh, cán bộ cao cấp Quân đội đã nghỉ hưu, nghỉ công tác khu vực phía Nam; đại biểu thủ trưởng các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng đóng quân trên địa bàn phía Nam; lãnh đạo Quân khu 7; đại biểu Hội Cựu chiến binh TP Hồ Chí Minh...

Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tổ chức gặp mặt đại biểu cán bộ cao cấp Quân đội nghỉ hưu, nghỉ công tác hằng năm thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Quân đội đối với các thế hệ cán bộ đi trước. Đây là dịp để Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng gặp gỡ, động viên, thăm hỏi, cung cấp thông tin, tăng cường đoàn kết, gắn bó giữa các thế hệ cán bộ; nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tạo sự đồng thuận về tư tưởng chính trị; đồng thời tiếp thu những kinh nghiệm quý báu của đội ngũ cán bộ cao cấp Quân đội nghỉ hưu, nghỉ công tác đối với sự nghiệp củng cố quốc phòng, xây dựng Quân đội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tại buổi gặp mặt, thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đại tướng Phan Văn Giang bày tỏ niềm phấn khởi, vui mừng được đón và gặp lại các đồng chí đại biểu cán bộ cao cấp quân đội đã nghỉ hưu, nghỉ công tác qua các thời kỳ trong những ngày đầu năm mới 2023 và chuẩn bị đón Tết cổ truyền Quý Mão sau hơn 2 năm bùng phát dịch Covid-19.

Đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thông báo tình hình thời sự quốc tế, khu vực, trong nước; âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; những thành tựu nổi bật trong công tác quân sự, quốc phòng (QS, QP) năm 2022 và mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ QS, QP năm 2023; toàn quân phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng QĐND Việt Nam do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã đề ra: Đến năm 2025 cơ bản xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu đến năm 2030 xây dựng QĐND Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng, giao phó. Đặc biệt, đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thông báo một số nội dung về công tác tham mưu chiến lược với Đảng, Nhà nước về QS, QP, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng QĐND Việt Nam; kết quả nổi bật trong thực hiện nhiệm vụ đối ngoại quốc phòng thời gian qua.

 

Đại tướng Phan Văn Giang khẳng định: Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng luôn trân trọng, đánh giá cao, tiếp thu cầu thị các ý kiến, kinh nghiệm quý báu của đội ngũ cán bộ cao cấp Quân đội đã nghỉ hưu, nghỉ công tác đối với sự nghiệp củng cố quốc phòng, xây dựng Quân đội và bảo vệ Tổ quốc. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, các cán bộ Quân đội cao cấp đã nghỉ hưu, nghỉ công tác luôn là lực lượng chính trị quan trọng, tin cậy của Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân; là nguồn kinh nghiệm thực tiễn quý báu; là những tấm gương sáng để các thế hệ cán bộ, chiến sĩ tiếp bước, noi theo. Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng luôn mong muốn các đồng chí tiếp tục phát huy truyền thống Bộ đội Cụ Hồ, có nhiều đóng góp, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và sự nghiệp xây dựng QĐND Việt Nam ngày càng vững mạnh…

Nhân dịp chuẩn bị đón Tết cổ truyền Quý Mão 2023, Đại tướng Phan Văn Giang trân trọng gửi lời thăm hỏi, chúc sức khỏe, hạnh phúc tới gia đình và toàn thể các đại biểu tham dự buổi gặp mặt.

 

Khai mạc trọng thể kỳ họp bất thường lần thứ 2, Quốc hội khóa XV

 

Khai mạc trọng thể kỳ họp bất thường lần thứ 2, Quốc hội khóa XV

Việc tổ chức kỳ họp bất thường lần thứ 2, Quốc hội khóa XV có ý nghĩa quan trọng nhằm xem xét, quyết định những vấn đề cấp bách, cần thiết, đáp ứng kịp thời yêu cầu của cuộc sống.

Sáng 5/1, Kỳ họp bất thường lần thứ 2, Quốc hội khóa XV khai mạc trọng thể tại Nhà Quốc hội, Thủ đô Hà Nội.

Theo chương trình, Quốc hội sẽ họp tập trung trong thời gian 4 ngày.

Tại Kỳ họp này, Quốc hội xem xét, thông qua Luật Khám bệnh, chữa bệnh (sửa đổi).

Quốc hội cũng xem xét, thông qua 3 Nghị quyết, gồm: Nghị quyết về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Nghị quyết về tiếp tục thực hiện một số chính sách liên quan đến công tác phòng, chống dịch COVID-19 tại Nghị quyết số 30/2021/QH15 và tiếp tục sử dụng giấy đăng ký lưu hành thuốc, nguyên liệu làm thuốc hết thời hạn hiệu lực từ ngày 1/1/2023 mà chưa kịp gia hạn theo quy định của Luật Dược; Nghị quyết về việc bổ sung dự toán ngân sách nhà nước nguồn vốn viện trợ không hoàn lại của nước ngoài (nguồn chi thường xuyên) năm 2021; điều chỉnh dự toán kinh phí bảo đảm hoạt động chưa sử dụng hết năm 2021 của Tổng cục Thuế và Tổng cục Hải quan; điều chỉnh kế hoạch vốn vay lại năm 2022 của các địa phương.

Kỳ họp Quốc hội bất thường: Phê chuẩn miễn nhiệm, bổ nhiệm nhân sự mới]

Quốc hội xem xét công tác nhân sự đại biểu và nhân sự khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội (nếu có).

Đài Truyền hình Việt Nam (VTV1), Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV1), Truyền hình Quốc hội Việt Nam sẽ tổ chức tường thuật trực tiếp Phiên khai mạc và Phiên bế mạc kỳ họp.

Truyền hình Quốc hội Việt Nam tổ chức tường thuật trực tiếp phiên Quốc hội thảo luận ở hội trường về: Một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự án Luật Khám bệnh, chữa bệnh (sửa đổi); Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 để cử tri và nhân dân theo dõi.

Kỳ họp bất thường lần thứ 2 diễn ra trong bối cảnh cả nước đang tiếp tục nỗ lực triển khai thực hiện các nhiệm vụ chính trị nhằm cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII, các Nghị quyết Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XV.

Việc tổ chức Kỳ họp có ý nghĩa quan trọng nhằm xem xét, quyết định những vấn đề cấp bách, cần thiết, đáp ứng kịp thời yêu cầu của cuộc sống./.

 

 

BẢN LĨNH VỮNG VÀNG TRƯỚC THÔNG TIN XUYÊN TẠC

 

Chỉ cần mở điện thoại thông minh, lên mạng xã hội là mỗi người chúng ta đã có thể bị tấn công bởi rất nhiều tin giả, tin đồn thất thiệt, xuyên tạc. Do đó, nếu cán bộ, đảng viên không đủ bản lĩnh, không tỉnh táo nhận diện thì rất dễ mắc mưu, dẫn đến những trạng thái tâm lý, những hành động tiêu cực.

 

Cạm bẫy từ những “bả thông tin”

 

Tôi quen một bác cán bộ đã nghỉ hưu, từng có nhiều năm công tác và có những đóng góp nhất định tại một bộ nọ. Thời gian gần đây, bác liên tục thể hiện trên facebook một trạng thái tâm lý và những phát ngôn tiêu cực về thực trạng đất nước. Theo cách nhìn của bác thì bất cứ lĩnh vực nào của Việt Nam cũng "rất tệ hại". Với những thành tựu trong phát triển kinh tế thì bác cho rằng số liệu không đúng. Với kết quả rõ ràng của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, bác lại cho rằng đó chẳng qua là đấu đá trong nội bộ Đảng. Hay kể cả niềm vui sau những thành công vang dội của bóng đá Việt Nam, bác cũng lắc đầu bảo là do ăn may. Quan sát cách cán bộ nghỉ hưu này thu thập, tiếp nhận thông tin, tôi phần nào lý giải được tại sao bác lại có một thế giới quan nhiều màu xám. Ấy là do bác chủ yếu chỉ tiếp nhận thông tin qua mạng xã hội facebook, youtube, những trang thông tin mù mờ trên mạng, hoặc những trang thông tin của các tổ chức, đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước. Bác nhầm lẫn cho rằng, những trang thông tin ấy "dám nói thẳng, nói thật" vào những vấn đề mà các cơ quan báo chí chính thống không dám đề cập. Đáng lo ngại là không chỉ các cán bộ đã nghỉ hưu mà ngay cả những cán bộ đang đương chức nếu không tỉnh táo, không có bản lĩnh vững vàng thì cũng rất dễ bị lừa phỉnh, bị ăn phải "bả thông tin".

Mấy ngày gần đây, liên quan đến sự việc cơ quan công an bắt bà Trương Mỹ Lan, Chủ tịch Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, xuất hiện những tin đồn, những lời xì xầm to nhỏ, những thuyết âm mưu là vụ việc liên quan đến vị lãnh đạo này, quan chức kia, rồi những sự đổ vỡ... Các thông tin được thổi phồng, cắt ghép, khớp nối có vẻ hợp lý, nếu người nghe thiếu hiểu biết, không đủ bản lĩnh thì rất dễ mắc bẫy, sẽ tin vào những thông tin xuyên tạc đó. Khi hỏi những người lan truyền thông tin là họ nghe thông tin từ đâu, thì họ nói rằng nghe trên đài, trên báo. Hỏi kỹ hơn là: “Đài, báo nào?” thì họ kể ra một loạt cái tên, hóa ra lại là toàn các trang mạng điện tử chuyên đưa thông tin phản động, các trang thông tin mù mờ không rõ ràng về nguồn gốc. Mặc dù trên Đài Truyền hình Việt Nam đã có những lãnh đạo đầu ngành trả lời rất rõ ràng về các vấn đề liên quan đến vụ việc này, thế nhưng vẫn có người bán tín, bán nghi, vẫn xì xào về các thông tin mù mờ trên mạng mà mình xem, nghe được.

Những người tiếp nhận và tin theo các thông tin mù mờ trên mạng là hết sức ngây thơ. Bởi họ không biết, hoặc biết không đầy đủ rằng các tổ chức khủng bố, phản động như Việt Tân, Hội anh em dân chủ... thiết lập rất nhiều website, blog, facebook, youtube, mở nhiều diễn đàn, câu lạc bộ nhằm tán phát các thông tin, tài liệu, hình ảnh, video clip có nội dung xấu, độc. Một số cơ quan báo chí của phương Tây như RFA, BBC Việt ngữ, hay các trang thông tin do một số đối tượng có tiền án, tiền sự, chống đối Đảng, Nhà nước ta lập ra như thoibao.de... thường xuyên đăng tải, tung những thông tin sai sự thật, xuyên tạc nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Phạm vi của các thông tin xuyên tạc là rất rộng, các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, đối ngoại, quốc phòng, an ninh... đều là "chiến địa" của chúng. Đối tượng công kích của chúng rất đa dạng từ các cơ quan Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành địa phương, cơ quan, đơn vị cho tới các tổ chức chính trị-xã hội, từ lãnh đạo cấp cao cho tới cả các nghệ sĩ, nhà báo, doanh nhân, người nổi tiếng đều có thể trở thành mục tiêu của họ... Đến cả việc Việt Nam vừa trúng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc thông qua phiên bỏ phiếu tại Đại hội đồng Liên hợp quốc một cách dân chủ, công khai, khách quan, chứng tỏ uy tín cao của Việt Nam trên trường quốc tế thì trên trang facebook của mình, tổ chức Việt Tân vẫn trơ trẽn xuyên tạc rằng kết quả trên chứng tỏ Việt Nam đã hoàn toàn lệ thuộc vào một nước khác (!?)...

Nhìn chung những thông tin xấu, độc đều có một mục đích là bôi đen hiện thực Việt Nam; thổi phồng những hạn chế, khiếm khuyết trong quá trình lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; xuyên tạc về cán bộ, về công tác nhân sự; phóng đại những tiêu cực trong xã hội; bóp méo các chủ trương, chính sách, luật pháp hòng gây rối tình hình đất nước; kích động, chia rẽ nội bộ, ảnh hưởng đến uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội... Từ đó tạo ra nhận thức sai lệch về hiện thực theo chiều hướng xấu, hình thành tâm lý chán ghét, phẫn nộ, thậm chí căm thù chế độ và bộ máy chính quyền các cấp.

Thông qua mạng xã hội, các phần tử xấu, cơ hội chính trị cũng điên cuồng chống phá, không từ một thủ đoạn nào, từ xuyên tạc sự thật lịch sử cho đến tìm mọi cách hạ thấp uy tín, bôi nhọ lãnh tụ Đảng ta, bài bác, hòng phủ nhận giá trị của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Các thế lực thù địch còn ra sức rêu rao: Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập là điều kiện cần thiết để thực thi dân chủ ở Việt Nam, để chống tham nhũng có hiệu quả, để bảo đảm đất nước phát triển; rằng lựa chọn con đường cách mạng vô sản, đi lên chủ nghĩa xã hội là sai lầm của dân tộc ta...

Thông thường thì những thông tin xấu, độc này lại được đăng tải dưới những chủ đề khá hấp dẫn và thu hút người đọc, bởi nó khơi gợi sự tò mò và tâm lý phản kháng, bất mãn trước những tiêu cực của một bộ phận cán bộ, quan chức. Những thông tin như vậy thường có tính kích động, tạo cảm xúc tiêu cực cho người đọc. Những kẻ thực hiện các thông tin xuyên tạc cũng rất tinh vi trong việc đưa thông tin. Thường thì chúng đưa khoảng 6-7 phần là sự thật, rồi cài 3-4 phần là xuyên tạc, suy diễn với các thuyết âm mưu vào để dẫn dắt người đọc, người xem. Nếu không thận trọng để nhận diện chính xác vấn đề, người đọc sẽ dần dần hình thành niềm tin vào các trang thông tin chống phá Nhà nước, chống phá chế độ.

 

Đừng tự biến mình thành “cục máu đông”

 

Trong buổi nói chuyện tại lễ bế mạc Lớp bổ túc trung cấp, được Báo Vệ quốc quân đăng lại trên số 15, ngày 10-10-1947, Bác Hồ ví một tập thể, một tổ chức như một cơ thể và mỗi khâu, mỗi cá nhân là một bộ phận hợp thành cơ thể ấy. Người nói: “Mệnh lệnh cũng như dòng máu chảy từ tim ra đến đầu, các tứ chi. Nếu chảy đến tay mà mắc nghẽn, thì tay bại. Tay bại người sẽ yếu đi”.

Có thể thấy, việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước hiện nay cũng như “dòng máu chảy từ tim ra đến đầu, các tứ chi”, tắc ở bộ phận nào là “bại” ở bộ phận ấy, “bại” ở một bộ phận cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực hiện chủ trương lớn. Do đó, việc rèn luyện bản lĩnh chính trị, đủ tỉnh táo trước các thông tin xuyên tạc, bịa đặt chính là một yêu cầu để cán bộ, đảng viên không tự biến mình thành một “cục máu đông” trong đơn vị, tổ chức.

Trước những thông tin bịa đặt, có những cán bộ, đảng viên suy nghĩ một cách giản đơn rồi chia sẻ, bình luận trên mạng xã hội hoặc tán phát trong cộng đồng. Vô hình trung những thông tin này có vỏ bọc vững chắc hơn vì nó được nói ra từ những cán bộ, đảng viên có trách nhiệm. Mảnh đất sống màu mỡ nhất của thông tin xấu, độc chính là dư luận. Nếu như không bình tĩnh, tỉnh táo tiếp nhận thông tin thì cán bộ, đảng viên sẽ mắc bẫy và tiếp tay, lan truyền những thông tin xấu, độc của các đối tượng chống phá.

Ngoài ra, còn có một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, phai nhạt lý tưởng, cơ hội, đầy tham vọng quyền lực cá nhân. Những người có thể sẽ phản bội lại quá khứ, phản bội lại lý tưởng, và nguyên nhân của sự phản bội đó đôi khi bắt nguồn từ sự bất mãn, không đồng ý một số vấn đề cụ thể trong chính sách, hay cách ứng xử của những cơ quan, đơn vị nơi người đó công tác. Họ rất dễ trở thành "miếng mồi ngon" cho những thông tin xấu, độc và bản thân họ cũng có thể trở thành những tác nhân của thông tin xấu, độc, cả những khiếu nại, tố cáo với mục đích không trong sáng gây nhiễu loạn nội bộ.  

Để tránh những tác hại lan truyền của thông tin xấu, độc, mỗi cán bộ, đảng viên cần xây dựng cho mình hệ miễn dịch trước thông tin xấu, độc, cần nhận thức sâu sắc, giữ vững bản lĩnh chính trị, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, với những giải pháp như sau:

Thứ nhất, thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đảng viên về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Thứ hai, mỗi cán bộ, đảng viên phải nghiêm túc học tập, kết hợp tự học, tự nghiên cứu nâng cao trình độ về chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, kiến thức pháp luật, quản lý nhà nước..., hình thành thói quen chỉ tiếp nhận thông tin qua các kênh thông tin chính thống của Đảng, Nhà nước. Từ đó nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, năng lực công tác và phông nhận thức, hiểu biết, tạo thành bản lĩnh vững vàng trước các thông tin xấu, độc.

Thứ ba, các tổ chức đảng trong sinh hoạt thường kỳ nên lồng ghép những buổi sinh hoạt tư tưởng, nhanh nhạy nắm bắt, phát hiện các thông tin xấu, độc, bịa đặt lan truyền trong xã hội, đặc biệt là trên không gian mạng để kịp thời có sự định hướng bằng những thông tin đúng đắn, các luận điểm thuyết phục để phản bác, hạn chế sự lan tỏa, ảnh hưởng của các luồng thông tin xấu, độc trong đơn vị.

Thứ tư, các tổ chức trong hệ thống chính trị, cơ quan nhà nước cần phát huy vai trò của báo chí, truyền thông; chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động báo chí, truyền thông, xuất bản; tăng tính đấu tranh của báo chí với các thông tin xuyên tạc. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý và sử dụng internet, mạng xã hội, trong đó chú trọng xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ năm, các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Ðảng, Nhà nước, nghiêm cấm lan truyền những thông tin sai lệch hoặc tán phát những đơn thư nặc danh, mạo danh có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động.

Để những thông tin xấu, độc không còn đất dung thân thì cán bộ, đảng viên phải giữ vững lập trường, quan điểm, giữ gìn đạo đức, lối sống trong sáng, bình tĩnh trong việc tiếp nhận thông tin, kiểm chứng thông tin, thận trọng trong lan truyền thông tin. Đồng thời, việc cung cấp thông tin chính thống kịp thời, đúng đắn, chính xác của các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan chức năng, cơ quan báo chí sẽ có tác động rất lớn giúp cho đảng viên và nhân dân có thêm kiến thức, sự hiểu biết và tư tưởng ổn định, giúp loại bỏ các khoảng trống cho thông tin xấu, độc.

 

Kỷ niệm 257 năm ngày sinh đại thi hào Nguyễn Du: Một đời thơ huy hoàng ghi tạc vào lòng thế kỷ văn chương

Nguyễn Du (1765-1820), tên chữ là Tố Như, hiệu Thanh Hiên, sinh tại kinh thành Thăng Long (nay là thủ đô Hà Nội). Cha là Hoàng giáp Nguyễn Nghiễm (1708-1776) quê xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, làm quan đến chức Tham Tụng (Tể tướng) dưới triều Lê, mẹ là bà Trần Thị Tần quê ở Kinh Bắc - Bắc Ninh.

 

Ảnh Đại thi hào Nguyễn Du (Nguồn: internet)

 

Năm Tân Mão (1771), Nguyễn Nghiễm thôi giữ chức Tể tướng, Nguyễn Du theo cha về quê, đến năm 13 tuổi thì mồ côi cả cha lẫn mẹ. Năm 1783, Nguyễn Du thi đậu Tam trường, được tập ấm một chức quan võ của người cha nuôi họ Hà (Hà Mỗ) ở Thái Nguyên. Sau đó, Nguyễn Du lấy vợ là bà Đoàn Thị Huệ, người làng An Hải, huyện Quỳnh Côi, trấn Sơn Nam (nay là tỉnh Thái Bình) con gái của tiến sỹ Đoàn Nguyễn Thục. Năm Mậu Thân (1788), khi Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu Quang Trung, Nguyễn Du lánh về nhà anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn tại Thái Bình.

Mười năm ở quê vợ là quãng “Mười năm gió bụi”, bao cảnh cơ hàn, bần cực đã đến với Nguyễn Du. Khi bố vợ là Đoàn Nguyễn Thục mất, người con trai lớn mất, Nguyễn Du cùng người con trai nhỏ Nguyễn Tứ về quê cũ ở xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Trở lại quê, dinh cơ của cha đã tan hoang, anh em đôi ngã, Nguyễn Du thốt lên “Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán” (trở về Hồng Lĩnh, gia đình không còn, anh em lưu tán). Nguyễn Du được bà con họ tộc chia cho mảnh đất tại thôn Thuận Mỹ làm nhà để ở. Và cũng từ đây, Nguyễn Du có biệt hiệu “Hồng Sơn liệp hộ”(người đi săn ở núi Hồng) và “Nam Hải điếu đồ” (người câu cá ở bể Nam).

Năm Nhâm Tuất (1802), Gia Long lên ngôi, Nguyễn Du được bổ làm Tri huyện Phù Dung (phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam); tháng 11 làm Tri phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam (tỉnh Hà Tây). Năm Quý Hợi (1803), được cử cùng phái bộ nghênh tiếp sứ thần nhà Thanh sang sắc phong cho vua Gia Long. Mùa thu năm Giáp Tý (1804), Nguyễn Du cáo bệnh về quê. Năm Ất Sửu (1805), được thăng Đông Các Đại học sĩ, tước Du Đức hầu (hàm ngũ phẩm). Tháng 9 năm Đinh Mão (1807) giữ chức giám khảo thi Hương ở Hải Dương, sau xin về quê. Năm Kỷ Tỵ (1809), ông giữ chức Cai Bạ tỉnh Quảng Bình. Tháng 9 năm Nhâm Tuất (1812), Nguyễn Du xin nghỉ về quê 2 tháng để xây mộ cho anh là Nguyễn Nễ, tháng 2 năm Quý Dậu (1813) có chỉ triệu về kinh, được thăng hàm Cần Chánh điện học sĩ, cử đi sứ Trung Quốc với tư cách là Tuế cống Chánh sứ. Tháng 4 năm Giáp Tuất (1814), Nguyễn Du trở về nước, có tập thơ “Bắc Hành tạp lục” và được vua Gia Long thăng chức Hữu Tham tri bộ Lễ (hàm Tam phẩm). Mùa thu năm Kỷ Mão (1819), được cử làm Đề điệu trường thi Quảng Nam, ông dâng biểu từ chối, được chuẩn y. Tháng 8 năm Canh Thìn (1820) vua Gia Long mất, Minh Mạng lên ngôi, Nguyễn Du được cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh báo tang và cầu phong. Tuy nhiên, chưa kịp thực hiện thì ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn (6/9/1820), Nguyễn Du bị cảm bệnh và mất tại kinh thành Huế, hưởng thọ 55 tuổi.

2. Sự nghiệp sáng tác

Nguyễn Du đã để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm văn chương bất hủ, cả chữ Hán và chữ Nôm, trong đó, sáng tác chữ Hán, bao gồm:

“Thanh Hiên thi tập”(Tập thơ của Thanh Hiên) gồm 78 bài, viết chủ yếu trong những năm tháng trước khi làm quan nhà Nguyễn. “Nam trung tạp ngâm” gồm 40 bài thơ làm từ năm 1805 đến cuối năm 1812, ông viết khi làm quan ở Huế, Quảng Bình và những địa phương ở phía nam Hà Tĩnh. “Bắc hành tạp lục”(Ghi chép trong chuyến đi sang phương Bắc) gồm 131 bài thơ, viết trong chuyến đi sứ sang Trung Quốc.

Sáng tác chữ Nôm, gồm có: “Đoạn trường tân thanh” (Tiếng kêu mới về nỗi đau đứt ruột), tức tác phẩm Truyện Kiều, gồm 3254 câu thơ theo thể lục bát. “Văn chiêu hồn” nguyên có tên là “Văn tế thập loại chúng sinh”, nghĩa là Văn tế mười loại người, là một ngâm khúc gồm 184 câu viết theo thể song thất lục bát. “Thác lời trai phường nón” gồm 48 câu, cũng được viết bằng thể lục bát, nội dung thay lời người con trai phường nón làm thơ tỏ tình với cô gái phường vải. “Văn tế sống Trường Lưu nhị nữ”gồm 98 câu, viết theo lối văn tế…

3. Tác phẩm Truyện Kiều

Truyện Kiều của Nguyễn Du nguyên có tên là “Đoạn trường tân thanh”. Đây là tác phẩm truyện thơ nôm lục bát viết dựa trên cốt truyện "Kim Vân Kiều truyện" của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc). Mượn bối cảnh xã hội Trung Quốc đời nhà Minh (Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh) nhưng Truyện Kiều chính là bức tranh rộng lớn về cuộc sống thời đại lúc nhà thơ đang sống. Tác phẩm gồm 3254 câu lục bát kể về cuộc đời 15 năm lưu lạc, chìm nổi của Thúy Kiều, người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng vì gia biến phải bán mình chuộc cha, rơi vào cảnh “Thanh y hai lượt, thanh lâu hai lần”, bị các thế lực phong kiến dày xéo, chà đạp.

Về giá trị hiện thực, tác phẩm đã phơi bày bộ mặt xã hội phong kiến bất công, tàn bạo, đồng thời phản ánh nỗi khổ đau, bất hạnh của con người, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam.

Về giá trị nhân đạo, Truyện Kiều là tiếng nói đề cao tình yêu tự do, khát vọng công lí và ngợi ca vẻ đẹp của con người. Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du thể hiện ước mơ đẹp đẽ về một tình yêu tự do, trong sáng, chung thủy trong xã hội mà quan niệm về tình yêu, hôn nhân còn hết sức khắc nghiệt. Mối tình Kim - Kiều được xem như là bài ca tuyệt đẹp về tình yêu lứa đôi trong văn học dân tộc. Truyện Kiều còn là bài ca ca ngợi vẻ đẹp của con người, là vẻ đẹp của tài, sắc, tình, lòng hiếu thảo, trái tim nhân hậu, đức tính vị tha, thủy chung, chí khí anh hùng… Thúy Kiều, Kim Trọng, Từ Hải là hiện thân cho những vẻ đẹp đó. Thông qua nhân vật Từ Hải, người anh hùng hảo hán, một mình dám chống lại cả xã hội bạo tàn, Nguyễn Du còn thể hiện khát vọng công lí tự do, dân chủ giữa một xã hội bất công, tù túng.

Cùng với đó, Truyện Kiều còn là tiếng nói lên án các thế lực tàn bạo, chà đạp lên quyền sống con người. Thế lực đó được điển hình hóa qua các nhân vật như Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Tú Bà, qua bộ mặt quan tham như Hồ Tôn Hiến... Đó còn là sự tàn phá, hủy diệt của đồng tiền trong tay bọn người bất lương tàn bạo, nó có sức mạnh đổi trắng thay đen, biến con người thành thứ hàng hóa để mua bán, chà đạp.

Về giá trị nghệ thuật, Nguyễn Du đã kết hợp tài tình tinh hoa của ngôn ngữ bác học với tinh hoa của ngôn ngữ bình dân. Với Truyện Kiều, tiếng Việt và thể thơ lục bát dân tộc đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ của nghệ thuật thi ca, là sự kết tinh thành tựu nghệ thuật văn học dân tộc trên các phương diện ngôn ngữ, thể loại. Công đóng góp của Nguyễn Du về phương diện ngôn ngữ là có một không hai trong lịch sử.

Nghệ thuật tự sự trong Truyện Kiều cũng đã có bước phát triển vượt bậc, từ nghệ thuật dẫn chuyện đến nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, khắc họa tính cách nhân vật và miêu tả tâm lí con người. Trong lời tựa cuốn Truyện Kiều ra mắt lần đầu tiên vào năm 1820, Mộng Liên Đường chủ nhân (Nguyễn Đăng Tuyển, 1795-1880) đã viết: “… Tố Như tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trông thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt ngàn đời, thì tài nào có bút lực ấy…”.

Với những giá trị to lớn ấy, hàng trăm năm nay, Truyện Kiều luôn được lưu truyền rộng rãi và có sức chinh phục lớn đối với mọi tầng lớp độc giả từ trí thức tới người bình dân, làm lay động trái tim của bao thế hệ người Việt Nam, là cảm hứng sáng tác cho rất nhiều thi sỹ, nhạc sỹ sau này. Và cũng từ tác phẩm Truyện Kiều đã ra đời nhiều hình thức sinh hoạt, sáng tạo văn hóa, nghệ thuật liên quan độc đáo như: trò Kiều, chèo Kiều, vịnh Kiều, lẩy Kiều, bói Kiều, đố Kiều… Truyện Kiều trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều liên môn khoa học xã hội nhân văn trong và ngoài nước.

Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng đã góp phần đưa văn học Việt Nam vượt ra khỏi bờ cõi của một quốc gia, trở thành một phần tinh hoa của văn hóa nhân loại, ghi dấu ấn văn học Việt Nam trên thi đàn quốc tế. Với Truyện Kiều nói riêng và toàn bộ trước tác của Nguyễn Du nói chung, ông được các thế hệ người Việt Nam tôn vinh là Đại thi hào dân tộc, Hội đồng Hòa bình thế giới vinh danh là Danh nhân văn hóa thế giới.

Đánh giá về Truyện Kiều, trong Lời đầu sách “Từ điển Truyện Kiều” (1974), Giáo sư Đào Duy Anh viết: "…Trong lịch sử ngôn ngữ và lịch sử văn học Việt Nam, nếu Nguyễn Trãi với “Quốc âm thi tập” là người đặt nền móng cho ngôn ngữ văn học dân tộc thì Nguyễn Du với Truyện Kiều lại là người đặt nền móng cho ngôn ngữ văn học hiện đại của nước ta…".

Giáo sư - Nhà giáo Nhân dân Lê Đình Kỵ đã có những trang văn nhận định: “Truyện Kiều nổi lên so với những giá trị văn học đương thời và khiến sáng tác của Nguyễn Du gần với chúng ta ngày nay, về cả nội dung và hình thức nghệ thuật.... Trước sau Truyện Kiều vẫn là di sản vĩ đại, là tuyệt đỉnh của nền văn học dân tộc quá khứ. Quan điểm lịch sử cũng như đòi hỏi muôn đời của giá trị văn học đều cho phép ta khẳng định điều đó".

Phát biểu tại Hội thảo quốc tế "Đại thi hào dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Du: Di sản và các giá trị xuyên thời đại" do Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam và UBND tỉnh Hà Tĩnh tổ chức vào năm 2015, đồng chí Đinh Thế Huynh, Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Nguyên Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương đã phát biểu: “Sáng tạo của Nguyễn Du là sáng tạo gắn liền với sự chiêm nghiệm sâu sắc về đời sống, về những số phận, những kiếp người. Nguyễn Du khóc thương cho những thân phận đau khổ, đặc biệt là số phận của người phụ nữ, lên án bất công xã hội, ước mơ giải phóng con người… Vì vậy, nhiều câu thơ của Nguyễn Du là sự khái quát thành những triết lý nhân sinh sâu sắc về cuộc đời, về con người, về những cảnh huống của đời người. Đó không phải là những vấn đề của một thời mà của nhiều thời. Đó không phải là những vấn đề của một quốc gia, một cộng đồng, một con người mà là của toàn nhân loại…”.

Đến nay, Truyện Kiều đã được dịch ra trên 30 thứ tiếng trên thế giới trong đó tiếng Pháp có trên 15 bản dịch, tiếng Anh và tiếng Hán có trên 10 bản, tiếng Nhật 5 bản…/.