Thứ Năm, 5 tháng 1, 2023

"Gáo nước lạnh" giội vào những kẻ hiềm khích, chống phá

 

Ngày 12-5, sau 6 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra. Thành công của Hội nghị Trung ương (HNTƯ) 7 là minh chứng sinh động, luận cứ thuyết phục, vạch trần toàn bộ âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc thâm độc, bịa đặt trắng trợn của các thế lực phản động, chống phá cách mạng Việt Nam.

Lật tẩy hai chiêu trò dơ bẩn

Từ đầu tháng 5, trên các trang mạng nước ngoài tung ra nhiều tin đồn, suy đoán rằng tại HNTƯ 7, khóa XII của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ có biến cố, xáo trộn về nhân sự ở vị trí "tứ trụ" (tức nhân sự ở các chức danh: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội). Tác giả của những bài viết toan lo, rằng sự xáo trộn ấy sẽ ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, nhất là gây mất đoàn kết trong Đảng, do các phe cánh bày mưu tính kế, hạ bệ lẫn nhau... Và sự bịa đặt trắng trợn ấy ngay lập tức bị giội thẳng "gáo nước lạnh", khi mà kỳ họp lần này của Trung ương diễn ra thành công tốt đẹp. Theo đó, Trung ương chỉ bầu bổ sung hai Ủy viên Ban Bí thư, kiện toàn chức danh lãnh đạo Ủy ban Kiểm tra Trung ương, nhằm mục đích tăng cường kiểm soát quyền lực, đẩy mạnh kiểm tra giám sát, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ ngày càng trong sạch, ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Kết quả biểu quyết và bầu nhân sự cũng rất tập trung (với số phiếu trên 96%), cho thấy sự đồng thuận, thống nhất, đoàn kết cao trong tập thể Ban Chấp hành Trung ương.

Trước thềm HNTƯ 7, khóa XII, các luận điệu còn tung hô: Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ chủ ý bưng bít thông tin về hội nghị lần này, bởi tính nhạy cảm về nội dung mà hội nghị thảo luận. Thế nhưng, thực tế trước, trong và sau khi hội nghị diễn ra hoàn toàn không phải vậy!

Xin kể lại rằng: Ngay từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII, Trung ương Đảng, Ban Bí thư đã quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về xây dựng Đề án "Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ" thực hiện nhiệm vụ khảo sát, xin ý kiến các tầng lớp xã hội, tổ chức, cơ quan, đơn vị để hoàn thiện các dự thảo văn kiện trình HNTƯ 7, khóa XII xem xét, quyết nghị. Và suốt thời gian chuẩn bị, hàng chục cuộc hội thảo, cuộc họp ở nhiều khu vực do Ban Chỉ đạo tổ chức, cùng 128 hội nghị cấp đảng bộ trực thuộc Trung ương bàn về công tác cán bộ được công khai rộng rãi trên các phương tiện truyền thông. Cùng với đó, cơ quan tư vấn cho Trung ương là Hội đồng Lý luận Trung ương cùng đội ngũ trí thức nước nhà đã tổ chức nhiều diễn đàn khoa học, tiến hành khảo sát thực tế ở nhiều địa phương, tạo ra nhiều kênh thông tin đa chiều, phong phú nhằm huy động sự đóng góp của toàn dân cho dự thảo đề án công tác cán bộ và các dự thảo văn kiện khác... Với cách làm đó nên tinh thần của Trung ương lần này được đến với dân rất sớm, rất đầy đủ, công khai. Trước ngày hội nghị khai mạc khoảng 2 tháng, nhiều cơ quan báo chí Trung ương và địa phương đã mở chuyên trang, chuyên đề tuyên truyền sâu rộng về tinh thần, nội dung sẽ được HNTƯ 7, khóa XII xem xét, quyết nghị. Việc tuyên truyền được tiến hành với tinh thần thẳng thắn, công khai, bảo đảm tính thời sự và đúng sự thật. Nhiều cơ quan báo chí còn chủ động tổ chức vệt bài phân tích sâu về hạn chế, yếu kém trong công tác cán bộ của Đảng thời gian qua; tạo dấu ấn lớn trong dư luận, khích lệ tinh thần trách nhiệm cán bộ, đảng viên, quần chúng, huy động ý kiến đa chiều của nhiều giai tầng, tạo nên diễn đàn chính trị sâu rộng trong toàn xã hội... Với nội dung các văn kiện vừa được quyết nghị tại HNTƯ 7, khóa XII, cho thấy Ban Chấp hành Trung ương Đảng rất cầu thị, trân trọng ý dân, chủ động lĩnh hội, tiếp thu đóng góp của nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương để bổ sung, hoàn thiện 3 đề án quan trọng, có ý nghĩa chiến lược lâu dài đối với sự nghiệp cách mạng.

Trong các ngày diễn ra hội nghị, phóng viên các cơ quan báo chí đều có mặt tại các phiên thảo luận để phản ánh trung thực những diễn biến hội nghị. Sau mỗi lần hoàn thành đầu việc chương trình, sau mỗi quyết định của Trung ương các báo đều nhất loạt đăng tải tin, bài, cung cấp đến toàn dân cái nhìn đa chiều, toàn diện về diễn biến và kết quả của hội nghị. Đó là sự thật hiển nhiên có thể thấy được; là tinh thần, nội dung chủ lưu trong dòng chảy thông tin báo chí, dư luận xã hội, cũng như trên không gian mạng Việt Nam những ngày qua. Hơn thế, tự thân sự thật đó đã bóc mẽ, hạ bệ, vạch trần lối xuyên tạc bịa đặt trắng trợn, suy diễn về việc "cố tình bưng bít thông tin" của Đảng Cộng sản Việt Nam. 

Hạ bệ cái gọi là "lợi ích nhóm trên nghị trường"

Ngoài hai chiêu trò vừa vạch trần ở trên, trước HNTƯ 7, khóa XII, những kẻ hiềm khích còn tự nghĩ ra một khái niệm khá kỳ lạ: "Lợi ích nhóm trên nghị trường". Từ đó, chúng suy diễn: "HNTƯ là một dịp để những người cầm đầu bộ máy quyền lực túm lại với nhau, bàn thảo kế hoạch hiện thực hóa lợi ích nhóm".

Thực tế trong các phiên thảo luận cho thấy, đã có gần 50 ý kiến trình bày trực tiếp tại hội trường; hàng trăm ý kiến thảo luận ở tổ; và gần như đại biểu nào cũng có tham luận gửi về Đoàn Chủ tịch Hội nghị để tham gia góp ý bổ sung, hoàn thiện các văn kiện. Tinh thần nói thẳng, nói đúng, nói thật luôn xuyên suốt và bao trùm trong mỗi ý kiến. Thậm chí với những vấn đề mới và khó, các đại biểu tranh luận rất gay gắt, mạnh mẽ, bảo vệ quan điểm, chính kiến khác nhau trên cơ sở dân chủ, tôn trọng chân lý khoa học và thực tiễn khách quan.

Tinh thần thẳng thắn, trách nhiệm càng được thể hiện rõ nét ở việc Trung ương cho ý kiến vào Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2017. Các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng đã không ngần ngại, cả nể hay nói tránh, mà thẳng thắn "điểm mặt, chỉ việc", tách bạch giữa thành quả và hạn chế, giữa ưu và khuyết, giữa được và chưa được trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo để tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư tiếp thu, đúc rút kinh nghiệm, nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ Ban Chấp hành Trung ương giao phó. Trên cơ sở những đóng góp đó, tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã cầu thị lắng nghe, tự phê bình sâu sắc.

Không chỉ mạnh mẽ chỉ rõ hạn chế, khuyết điểm, Trung ương còn thống nhất ban hành các giải pháp "rất mạnh tay" trong rèn luyện cán bộ, quản lý và kỷ luật cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược. Trong 8 nhóm giải pháp lớn của công tác cán bộ được HNTƯ xác định đều có điểm chung và rất hay ở chỗ: Đã đặt lợi ích của nhân dân, của tập thể lên trên lợi ích cán bộ; buộc cán bộ phải biết cách hy sinh, chấp nhận hy sinh vì lợi ích chung của sự nghiệp cách mạng.

Bởi thế, ngay sau khi bài phát biểu bế mạc HNTƯ 7, khóa XII của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được công khai rộng rãi (sáng 12-5), dư luận xã hội bày tỏ sự đồng thuận, phấn khởi trước chủ trương phải "nhốt" quyền lực vào lồng cơ chế, pháp luật. Người dân cho rằng, Trung ương quyết liệt như vậy là rất quý và đáng kính; thể hiện ý chí quyết tâm cao của những người đứng đầu đất nước. Bởi lẽ, tập thể Trung ương Đảng gồm phần lớn là cán bộ chủ chốt, chủ trì ở các cơ quan, đơn vị Trung ương và địa phương lại đi quyết định một chủ trương để khống chế, kèm cặp, ràng buộc chính mình. Nhiều người lật ngược vấn đề: Tại sao không để quyền lực tự do, tự tại để mỗi cán bộ Trung ương có điều kiện lợi dụng những kẽ hở hòng tư lợi cá nhân? Tại sao phải chống "chạy chức, chạy quyền", trong khi nếu vấn nạn này tiếp diễn thì có lợi cho những người đứng đầu tổ chức? Họ sẽ có thêm "lộc lá", quà cáp biếu xén và nhiều thứ lợi ích riêng tư khác cho bản thân, người thân, gia đình và lợi ích nhóm...? Và như vậy, chắc chắn, những quyết định của Trung ương lần này là vì lợi ích chung, để "ích nước, lợi nhà". Đó là bằng chứng sống, thuyết phục về tinh thần trách nhiệm vì dân, vì nước mà gạt bỏ mưu cầu cá nhân của đội ngũ các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII.

Cũng với quyết tâm chống "chạy chức, chạy quyền", nâng cao hiệu quả lãnh đạo, Trung ương nhất quán chủ trương bố trí bí thư cấp ủy cấp tỉnh, huyện không phải là người địa phương. Phần việc này được làm ngay sau thành công hội nghị và phấn đấu hoàn thành trong năm 2025. Trước quyết định này, toàn dân bày tỏ sự hoan nghênh, đồng thuận, bởi lẽ ai cũng hiểu, đây là giải pháp khả thi giúp khắc phục, đẩy lùi được ngay thực trạng kéo bè kéo cánh, cục bộ địa phương, nâng đỡ, bổ nhiệm người thân, người nhà... Đó là chủ trương có lợi cho tổ chức, nhân dân. Cùng với đó, người dân cũng hiểu được, những người quyết định chủ trương này là các Ủy viên Trung ương Đảng và số đông đang giữ chức danh bí thư tỉnh ủy, thành ủy. Do đó, các đồng chí này phải tự ý thức rất cao, trách nhiệm rất lớn mới đi đến quyết định cuối cùng mà sắp tới họ phải làm gương thực hiện trước, chấp nhận hy sinh thiệt thòi về phần mình. Ấy là việc mỗi Ủy viên Trung ương Đảng là bí thư tỉnh ủy, thành ủy phải thực hiện nhiệm vụ ở những địa phương khác; phải chấp nhận những rào cản về tư tưởng, tâm lý, thời gian, không gian khách quan chi phối; phải xa quê hương, xa gia đình với nhiều nảy sinh liên quan đến hậu phương cán bộ... Tất cả những vấn đề ấy được dự báo trước, được các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng nhận thức rõ, thế nhưng gần 180 cánh tay vẫn tự tin đưa cao, thống nhất quyết định cuối cùng. Điều đó chứng tỏ các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng đã biết đặt lợi ích của tập thể lên trên, biết hy sinh cá nhân vì sự nghiệp cách mạng chung.

Như vậy, tinh thần thẳng thắn, quyết liệt của Trung ương là khác xa, thậm chí trái ngược với những luận điệu ngụy biện, bịa đặt của các thế lực thù địch chống phá, rằng Trung ương đang "lợi ích nhóm trên nghị trường", cấu kết nhau để dò dẫm tìm cách mị dân, đề ra những quyết sách có lợi cho bộ phận tầng trên của hệ thống cầm quyền.

Rất dễ nhận thấy, sau HNTƯ 7, khóa XII thành công tốt đẹp, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta càng thêm vững tin vào vai trò lãnh đạo của Đảng. Tin tưởng rằng, sắp tới, những nghị quyết chiến lược khi được ban hành sẽ trở thành những ngọn đèn pha soi sáng để Đảng vững tay chèo, đưa con thuyền cách mạng cập bến những thành công mới. Và những nghị quyết chiến lược ấy sẽ soi rọi mọi ngõ ngách đời sống thực tiễn xã hội, để những kẻ xuyên tạc, chống phá không còn bóng tối để núp bóng, ẩn mình!

Đừng vì hiềm khích cá nhân...

 

Đầu cuộc trà buổi sáng, ông Minh, Chi hội trưởng chi hội cựu chiến binh thôn đã phải đứng ra giảng hòa cho ông Thanh và ông Trường. Ông Thanh phân trần:

- Bác Trường ạ, em đề nghị bác xóa cái ảnh bữa cơm tối qua và nội dung viết về cháu nhà em trên facebook đi. Bác bình luận nặng lời như vậy thì cứ như là cháu nó có lỗi lớn. Hơn nữa còn ảnh hưởng đến Quân đội...

- Tôi không xóa! Tôi vẫn cho rằng, cậu ấy như thế là xem thường các cựu chiến binh. Sĩ quan trẻ về nghỉ phép, ăn cơm với các chú, các bác cựu chiến binh mà cứ nâng chén rượu lên lại đặt nguyên xuống. Tôi chủ động mời nó cũng chẳng chịu uống chén nào. Bộ đội mà thế thì chẳng rèn luyện kém là gì? Ngày xưa, anh em mình đâu "kém tắm" thế!  

- Bác không thấy chiều hôm qua, cháu nó đã giải thích rõ lý do không uống rượu vì đã hết kỳ nghỉ phép, sáng sớm nay nó phải tự lái xe lên đơn vị. Nó còn có lời mong các chú, các bác thông cảm rồi còn gì. Bác nhận xét thế thì tội cho nó!

- Tối qua uống rượu, sáng nay mới lái xe thì có sao đâu? Nó không tôn trọng chúng tôi nên lý do lý trấu thế thôi!

Thấy ông Trường đã sai rõ ràng, ông Minh nhẹ nhàng bảo:

- Tôi chẳng bênh cháu nó đâu, nhưng nó là đảng viên, cán bộ Quân đội, có ý thức giữ gìn, không uống rượu để bảo đảm an toàn giao thông, tránh vi phạm Luật Giao thông đường bộ thì mình là bậc cha chú phải khen nó mới phải các ông ạ. Mà giả sử nếu nó có gì sai thì chúng ta nên nhẹ nhàng góp ý trực tiếp, chứ không nên cố chấp, đưa lên mạng xã hội với lời lẽ chê bai thái quá. Người ta đọc nội dung đó có thể hiểu sai về mối quan hệ giữa cựu chiến binh với sĩ quan trẻ. Hơn nữa, việc cán bộ Quân đội không uống rượu để bảo đảm an toàn khi lái xe thì không phải là kém rèn luyện, mà chính là tự giác rèn luyện và qua đó cho thấy Quân đội ta đã rèn quân rất tốt đấy chứ.

Ông Trường thấy mình đuối lý liền vớt vát:

- Sao bác Minh lại "chuyện bé xé ra to" thế. Tối qua em hơi bực mình nên đăng facebook cá nhân lời bình luận nửa đùa nửa thật để giải tỏa thôi. Em đâu có ý nói xấu Quân đội với gây chia rẽ như bác nói.

- Tôi không hề "xé ra to" đâu! Ông cứ hình dung thế này, nội dung ông đăng trên mạng xã hội chỉ là suy nghĩ bột phát cá nhân, thậm chí chỉ là trêu đùa, nhưng các đối tượng xấu có thể mượn chuyện để xuyên tạc, thêm thắt hòng gây chia rẽ mối đoàn kết giữa cán bộ, sĩ quan đương chức với các cựu chiến binh, rồi lợi dụng nói xấu Quân đội rèn quân yếu kém như lời ông viết thì hậu quả sẽ không nhỏ!

Ông Trường chột dạ nhận ra: "Vậy thì đúng là em nghĩ đơn giản, sơ suất vì cảm xúc nhất thời. Em xin lỗi hai bác và sẽ gỡ bỏ nội dung đó ngay".

Vạch trần mưu đồ lừa phỉnh, kích động công nhân đình công, biểu tình

 

Lợi dụng tình hình khó khăn trong bảo đảm ổn định thu nhập, việc làm của một số doanh nghiệp xuất khẩu trong thời gian qua, trên mạng xã hội xuất hiện những bài viết kích động công nhân đình công, biểu tình.

Các bài viết này phủ nhận vai trò của Công đoàn Việt Nam, cho rằng Công đoàn Việt Nam không đấu tranh đòi tăng lương cho người lao động, và rằng chỉ có các tổ chức công đoàn độc lập với Công đoàn Việt Nam mới chăm lo tốt cho quyền lợi của người lao động. Đây là âm mưu nguy hiểm, với ý đồ muốn phá hoại ổn định chính trị, phá hoại môi trường đầu tư tại Việt Nam.

Luôn quan tâm, quyết liệt đề nghị tăng lương cho người lao động

Thời gian qua, những khó khăn của tình hình thế giới tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, quan hệ lao động tại khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước, nhất là tại các doanh nghiệp thâm dụng lao động như: Da giày, dệt may, gỗ... Có ít đơn hàng xuất khẩu, nhiều doanh nghiệp buộc phải giảm việc làm, thậm chí cắt giảm lao động ngay vào thời điểm cuối năm 2022 và cận Tết Quý Mão năm 2023, làm ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập, đời sống của công nhân, người lao động.

Do kinh tế thế giới khá ảm đạm, lạm phát cao, nhu cầu tiêu dùng thấp nên theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), số người thất nghiệp năm 2022 có thể lên tới 207 triệu người. Như thế, bảo đảm việc làm, thu nhập cho người lao động đang là khó khăn chung của các nước trên thế giới.

Bất chấp thực tế khách quan đó, có quan điểm sai trái được lan truyền trên mạng cho rằng, Công đoàn Việt Nam hiện nay bỏ mặc, không còn quan tâm tới đấu tranh đòi quyền lợi, không đòi tăng lương cho người lao động, mà chỉ quan tâm kết nạp đoàn viên công đoàn.

Thực tế là vấn đề đấu tranh đòi tăng lương, yêu cầu bảo vệ quyền lợi cho người lao động luôn là mối quan tâm hàng đầu của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Thực tế là trong các cuộc họp của Hội đồng Tiền lương quốc gia, tiếng nói của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam luôn là tiếng nói đầy trọng lượng và rất quyết liệt. Mỗi lần họp bàn về tăng mức lương tối thiểu vùng, đại diện Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam luôn đưa ra một mức đề xuất cao nhất so với các ý kiến khác và đấu tranh quyết liệt với đại diện người sử dụng lao động để bảo vệ đề xuất ấy.

Cụ thể, ngay trong năm 2022 vừa qua, từ những đề xuất của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trong Hội đồng Tiền lương quốc gia, ngày 12-6-2022, Chính phủ đã ban hành Nghị định tăng lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.

Nghị định đã có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2022. Theo đó, mức lương tối thiểu tháng đã tăng bình quân 6% (tương ứng tăng từ 180.000-260.000 đồng/tháng) so với mức cũ. Về mức lương tối thiểu giờ, nghị định cũng quy định các mức lương tối thiểu giờ theo 4 vùng: Vùng I là 22.500 đồng/giờ, vùng II là 20.000 đồng/giờ, vùng III là 17.500 đồng/giờ, vùng IV là 15.600 đồng/giờ. Các mức lương tối thiểu trên là mức lương thấp nhất làm cơ sở để doanh nghiệp thỏa thuận và trả lương đối với người lao động.

Để bám sát tình hình, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam yêu cầu các cấp công đoàn chỉ đạo công đoàn cơ sở chủ động tham gia với người sử dụng lao động trong quá trình xây dựng thang, bảng lương của doanh nghiệp theo quy định mới về mức lương tối thiểu.

Đồng thời liên đoàn lao động tỉnh, thành phố, công đoàn ngành, công đoàn tại các tổng công ty trực thuộc tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng trên địa bàn tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát việc chấp hành pháp luật lao động, công đoàn, bảo hiểm xã hội... của các doanh nghiệp, nhất là việc thực hiện nghị định của Chính phủ.

Đồng thời, các cấp công đoàn cũng nắm bắt thông tin, tâm tư, nguyện vọng của người lao động, kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật lao động, công đoàn, bảo hiểm xã hội.

Theo Cục Quan hệ lao động và Tiền lương (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội), năm nào nhà nước có điều chỉnh lương tối thiểu vùng thì tiền lương thực tế của người lao động sẽ được tăng cao hơn mức tăng bình quân khoảng 2%. Trong 10 năm qua, tiền lương của người lao động tăng bình quân 6-7% mỗi năm. Năm Covid-19 tác động mạnh, Nhà nước không điều chỉnh lương tối thiểu, tỷ lệ tăng có giảm còn 5-6%. Những năm kinh tế phát triển tốt, mức tăng đạt 8-9%. Chỉ khi thiếu giờ làm, tiền lương của người lao động mới phải giảm do doanh nghiệp cũng không có nguồn để bảo đảm. Tuy nhiên, hụt đơn hàng, thiếu việc cũng chỉ ở nhóm ngành sản xuất. Một số ngành như dịch vụ ăn uống vẫn có sự tăng trưởng.

Kịp thời giải quyết khi có tranh chấp lao động tập thể

Khi có tranh chấp lao động tập thể, ngừng việc tập thể, đình công tự phát, các cấp công đoàn đều chủ động phối hợp với UBND và các cơ quan chức năng trên địa bàn kịp thời giải quyết, bảo đảm quyền lợi của tập thể người lao động, không để xảy ra điểm nóng về an ninh trật tự.

Đồng thời cần khẳng định rằng, việc chăm lo, bảo vệ quyền lợi cho người lao động không phải chỉ là trách nhiệm của Công đoàn Việt Nam mà còn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa luôn quan tâm chăm lo, bảo vệ, đấu tranh cho quyền lợi của người lao động.

Khi dịch Covid-19 gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống kinh tế-xã hội, nhiều người lao động mất việc, cả hệ thống chính trị của Việt Nam đã quan tâm, hỗ trợ, giúp đỡ công nhân, người lao động, trong đó vai trò của Công đoàn Việt Nam rất nổi bật.

Từ việc các cấp công đoàn quan tâm, phát hiện những khó khăn của người lao động, đề xuất các giải pháp hỗ trợ, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 1-7-2021 tập trung hỗ trợ 2 nhóm đối tượng là người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng sâu bởi đại dịch Covid-19, chủ yếu là công nhân và người lao động trực tiếp. Sau hơn một năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP, cả nước đã hỗ trợ cho gần 36,5 triệu người lao động, người dân, 394.000 đơn vị sử dụng lao động và 500.000 hộ kinh doanh với tổng số tiền là 45.600 tỷ đồng.

Nghị quyết số 68/NQ-CP được ban hành nhanh chóng, kịp thời, thể hiện sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất, sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước trong việc chăm lo cho đời sống người dân, người lao động và người sử dụng lao động trước tác động của đại dịch, được người dân, doanh nghiệp, người lao động tích cực ủng hộ thực hiện, qua đó ngày càng tạo được niềm tin của công nhân, người lao động cũng như toàn thể nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước.

Không tổ chức nào thay thế được Công đoàn Việt Nam

Cũng do luôn sâu sát, nắm bắt đời sống, tâm tư, nguyện vọng của công nhân, người lao động nên ngay từ cuối quý III năm 2022, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã lên kế hoạch chăm lo Tết Quý Mão 2023. Theo đó, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam dự kiến sẽ chủ trì, trực tiếp tổ chức 21 Chương trình "Ngày hội công nhân-Phiên chợ nghĩa tình năm 2023" tại các địa phương có đông công nhân, người lao động, vùng sâu, vùng xa, có điều kiện kinh tế khó khăn; dành gói hỗ trợ khoảng 500 tỷ đồng phân bổ về các công đoàn ngành, địa phương, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở để chăm lo, hỗ trợ cho đoàn viên công đoàn, người lao động có hoàn cảnh thực sự khó khăn, mức hỗ trợ 500.000 đồng/người, được chi bằng tiền mặt (ước có khoảng 1 triệu đoàn viên công đoàn, người lao động có hoàn cảnh khó khăn được hỗ trợ-bằng 10% tổng số đoàn viên công đoàn).

Bên cạnh đó, công đoàn cơ sở căn cứ vào nguồn lực hiện có, tự quyết định mức chi chăm lo cho đoàn viên, người lao động. Ví dụ như, Liên đoàn Lao động TP Hồ Chí Minh đã ban hành Kế hoạch số 61/KH-LĐLĐ về tổ chức các hoạt động chăm lo cho đoàn viên công đoàn, người lao động nhân dịp Tết Quý Mão 2023 với phương châm “Tết đến với mọi đoàn viên, người lao động”.

Dự trù kinh phí chăm lo Tết Quý Mão năm 2023 cho đoàn viên, người lao động khó khăn của Liên đoàn Lao động TP Hồ Chí Minh khoảng 140 tỷ đồng, trong đó, cấp thành phố bảo đảm từ 25-28 tỷ đồng, công đoàn cấp trên chăm lo 110 tỷ đồng. Bên cạnh đó, các đơn vị, doanh nghiệp, đoàn thể khác có hỗ trợ chăm lo Tết cho công nhân. Các hoạt động như tặng quà Tết, tặng vé xe về Tết, tổ chức chợ Tết bình ổn giá... rất thiết thực với công nhân, người lao động.

Như thế có thể thấy, ý kiến cho rằng người lao động bị Công đoàn Việt Nam bỏ mặc, Công đoàn Việt Nam không quan tâm đến đấu tranh đòi tăng lương, không quan tâm đấu tranh cho đời sống người lao động là ý kiến hoàn toàn sai trái. Nguy hại hơn nữa là mưu đồ kích động người lao động đình công tự phát, biểu tình để đòi tăng lương. Cần nhận thức rằng doanh nghiệp chính là môi trường làm việc, là nơi trả lương và bảo đảm đời sống cho người lao động.

Vì thế, công nhân, người lao động phải có trách nhiệm cùng xây dựng để doanh nghiệp phát triển, từ đó mới có nguồn lực để tăng lương, bảo đảm đời sống. Xây dựng mối quan hệ gắn bó, bảo đảm quyền lợi hài hòa, cùng chia sẻ khó khăn giữa công nhân và người sử dụng lao động là một chủ trương đúng đắn của Công đoàn Việt Nam. Môi trường kinh doanh có ổn định thì các doanh nghiệp mới yên tâm đầu tư vào Việt  Nam. Do đó, việc kích động công nhân biểu tình, đình công tự phát là lừa phỉnh họ, xui họ làm điều sai trái, để rồi tự hủy hoại nồi cơm của chính mình.

Có thể khẳng định, từ khi ra đời cho tới nay, Công đoàn Việt Nam vẫn luôn là tổ chức có vai trò chính trị quan trọng, có uy tín cao, hiệu quả cao trong việc đấu tranh cho quyền lợi của công nhân, người lao động, chưa có tổ chức nào có thể thay thế vai trò của Công đoàn Việt Nam. Không sự bôi nhọ, xuyên tạc nào có thể phủ nhận được thực tế rõ ràng đó.

Kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Thực tế của Đảng Cộng sản Liên Xô đã chứng minh, một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ Liên Xô là do đã từ bỏ các nguyên tắc xây dựng Đảng dẫn đến sự tan rã của Đảng.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, trong các kỳ đại hội Đảng gần đây, vấn đề kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng là quá trình phát triển nhận thức lý luận của Đảng trên cơ sở tổng kết thực tiễn của 36 năm đổi mới theo hướng mở rộng và bao quát hơn những nội dung cần phải kiên định. Kiên định nguyên tắc là cơ sở để chúng ta phân biệt đối tượng, đối tác trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Đại hội lần thứ XIII, Đảng ta lần đầu tiên khẳng định: Kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng, bởi những lý do sau đây:

Thứ nhất, về lý luận, nguyên tắc là vấn đề có tính sống còn đối với một tổ chức. Tuân thủ các nguyên tắc thì tổ chức đó vững mạnh, từ bỏ hoặc thực hiện không nghiêm túc các nguyên tắc thì sẽ dẫn đến tổ chức rệu rã và có nguy cơ tan rã.

Trải qua hơn 90 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng ta luôn vận dụng và phát triển sáng tạo những nguyên tắc cơ bản của học thuyết Mác-Lênin về xây dựng Đảng. Tổng kết công tác xây dựng Đảng qua các thời kỳ cách mạng khác nhau, tuy cách diễn đạt về các nguyên tắc xây dựng Đảng có khác nhau một vài điểm nhưng nhìn chung, Đảng ta vẫn luôn khẳng định những nguyên tắc trên cơ sở vận dụng và tuân thủ các nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta phát triển nguyên tắc về nền tảng tư tưởng: “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động”. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc”.

Đây là lần đầu tiên Đảng ta xác định: Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là đội tiền phong của giai cấp công nhân mà còn là đội tiền phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Đồng thời, cũng tại đại hội lần này, Đảng ta bổ sung thêm nguyên tắc: “Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Tuân thủ nghiêm ngặt những nguyên tắc chủ yếu nói trên trong quá trình xây dựng Đảng là một trong những yếu tố có tính quyết định bảo đảm cho Đảng ta giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam; là cơ sở khoa học để Đảng ta không ngừng chăm lo xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, làm cho Đảng luôn xứng đáng vai trò người lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Trên cơ sở những nguyên lý về xây dựng chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân do Lênin nêu ra và thực tiễn hoạt động của Đảng ta, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI thông qua (các nhiệm kỳ XII và XIII thống nhất giữ nguyên Điều lệ) quy định về các nguyên tắc tổ chức và hoạt động như sau: “Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh, đồng thời thực hiện các nguyên tắc: Tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Từ đó đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định thực hiện nghiêm 5 nguyên tắc này và đó cũng là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của Đảng ta trong thời gian qua.

Thứ hai, quan điểm chỉ đạo là kiên định nhưng không phải là cứng nhắc, giáo điều và cũng không phải là đổi mới vô nguyên tắc.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.

Trong quá trình thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng, cần thấm nhuần quan điểm chỉ đạo: Kiên định và đổi mới, kế thừa và phát triển, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Kiên trì, kiên định nhưng không trở thành giáo điều, cứng nhắc; đổi mới, kế thừa và phát triển nhưng trên cơ sở giữ vững các nguyên tắc chứ không phải là vô nguyên tắc, dân chủ quá đà, lẫn lộn giữa đối tượng, đối tác.

Thứ ba, về thực tiễn, trong nghiên cứu, học tập, quán triệt thực hiện các nghị quyết của Đảng thì chỉ đạo và tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, chậm được khắc phục nên khi thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng rất cần phải kiên định tuân thủ các nguyên tắc. Nếu ai không tuân thủ sẽ phải chịu trách nhiệm bằng các hình thức kỷ luật của Đảng.

Đánh giá việc thực hiện các nguyên tắc và đổi mới phương thức lãnh đạo, văn kiện Đại hội XIII chỉ ra những ưu điểm sau: “Công tác xây dựng Đảng về chính trị được đặc biệt chú trọng. Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng, đường lối đổi mới và các nguyên tắc xây dựng Đảng”. “Phương thức lãnh đạo của Đảng tiếp tục được đổi mới. Ban hành và thực hiện nhiều quy định bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, đề cao nguyên tắc pháp quyền, phát huy dân chủ, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội”.

Trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng nêu rõ ưu điểm: “Đảng ta luôn vững vàng, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và không ngừng vận dụng, phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới và những nguyên tắc về xây dựng Đảng”.

Về hạn chế, khuyết điểm trong việc thực hiện nghị quyết của Đảng nói chung, các nguyên tắc xây dựng Đảng nói riêng vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm như Văn kiện Đại hội XIII chỉ ra: “Chỉ đạo và tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, chậm được khắc phục”.

Đánh giá việc thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng, Văn kiện Đại hội XIII nêu: “Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm, thậm chí còn vi phạm, mất đoàn kết nội bộ, có nơi còn biểu hiện cục bộ, lợi ích nhóm. Kiểm soát quyền lực còn lúng túng, hiệu quả thấp”. “Tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi còn hình thức. Thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là của người đứng đầu chưa tạo được sự lan tỏa sâu rộng”.

Một số cấp ủy, tổ chức đảng đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, thiếu kiểm tra, giám sát để xảy ra nhiều vi phạm, khuyết điểm kéo dài. Đây là điều rất đáng trăn trở vì trong nhiệm kỳ Đại hội XII, cấp ủy các cấp đã kiểm tra 264.091 tổ chức đảng và 1.124.146 đảng viên; ủy ban kiểm tra các cấp đã kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 15.920 tổ chức đảng và 47.701 đảng viên (trong đó có 23.432 cấp ủy viên). Qua kiểm tra, cấp ủy các cấp đã thi hành kỷ luật 1.329 tổ chức đảng và 69.600 đảng viên; ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 17.610 đảng viên. Riêng Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thi hành kỷ luật 10 tổ chức đảng và 60 đảng viên; Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 169 đảng viên (trong đó có 53 đồng chí là cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý). Các cấp ủy đã giám sát 193.993 tổ chức đảng và 528.652 đảng viên; ủy ban kiểm tra các cấp đã giám sát 124.469 tổ chức đảng và 185.731 đảng viên.

Điều cần lưu ý là rất nhiều vi phạm xảy ra từ nhiệm kỳ trước nhưng đến nay mới bị phát hiện và xử lý. Như vậy trước đó, việc tuân thủ các nguyên tắc xây dựng Đảng chưa thật sự được coi trọng, thậm chí bị buông lỏng. Thực trạng này do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là các nguyên tắc xây dựng Đảng chưa được coi trọng và thực hiện nghiêm túc. Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên có nguyên nhân khách quan, nhưng chủ yếu là nguyên nhân chủ quan: Một số cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới; việc quán triệt các nghị quyết của Đảng ở một số nơi chưa kịp thời, sâu sắc. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa chủ động, sâu sát, thiếu quyết liệt; chưa coi trọng việc tự kiểm tra, xử lý vi phạm. Một số nơi, người đứng đầu chưa phát huy hết trách nhiệm, thiếu bản lĩnh, chưa gương mẫu, còn thụ động, né tránh, trông chờ vào chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên. Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm, thậm chí còn vi phạm, mất đoàn kết nội bộ, có nơi còn biểu hiện cục bộ, lợi ích nhóm. Kiểm soát quyền lực còn lúng túng, hiệu quả thấp. Sự phối hợp giữa một số cấp ủy với đảng đoàn, ban cán sự đảng có lúc, có nơi thiếu chặt chẽ, hiệu quả chưa cao. Việc phân định trách nhiệm của người đứng đầu trong mối quan hệ với cấp ủy và tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị chưa rõ; chưa phát huy đúng mức vai trò của cá nhân trong tập thể. Việc xây dựng, phát huy vai trò của các cơ quan tham mưu về công tác xây dựng Đảng có lúc, có nơi chưa được quan tâm đúng mức; một bộ phận cán bộ tham mưu chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Trong thời gian tới, để góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 25-10-2018 của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” cần thực hiện đồng bộ một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

Thứ nhất, kiên định những nguyên tắc xây dựng Đảng gắn với thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 25-10-2018 của Bộ Chính trị. Tăng cường tuyên truyền trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về nội dung các nguyên tắc xây dựng Đảng để từ nhận thức sẽ có hành động đúng và tạo sự lan tỏa theo phương châm “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”.

Thứ hai, tập trung xây dựng, thông tin chủ động, chính xác, kịp thời, toàn diện, đúng đối tượng về các hoạt động, sự kiện chính trị, xã hội của đất nước. Nâng cao chất lượng, hiệu quả các chuyên trang, chuyên mục, fanpage, blog, tài khoản mạng xã hội (Zalo, Facebook...) về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Thứ ba, thường xuyên theo dõi, nắm bắt tình hình tư tưởng, kịp thời định hướng dư luận xã hội; thực hiện tốt quy chế phát ngôn, cung cấp thông tin chính thống, kịp thời cho báo chí; công khai kết quả kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng trên các phương tiện truyền thông; xử lý nghiêm những thông tin phản ánh không đầy đủ, phiến diện, tiêu cực một chiều trên báo chí, mạng xã hội.

Thứ tư, quán triệt, thực hiện nghiêm Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về những điều đảng viên không được làm; Quy định số 22-QĐ/TW ngày 28-7-2021 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; Quy định số 69-QĐ/TW ngày 6-7-2022 về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong khai thác, sử dụng internet, mạng xã hội; thường xuyên tuyên truyền đến cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động và các tầng lớp nhân dân nêu cao tinh thần cảnh giác, không tham gia bình luận tiêu cực hoặc chia sẻ những thông tin xấu độc trên không gian mạng.

GẮN GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG ĐẢNG

 

Vận dụng ở đây không đơn giản là dùng những kiến thức lý luận đã học để áp dụng vào thực tế mà để phân tích, mổ xẻ thực tiễn. Phải đem những điều học được để phân tích và giải quyết các vấn đề thực tế trong công tác của bản thân mình và của Đảng, như vậy thì việc nghiên cứu, học tập, vận dụng lý luận mới có hiệu quả. Khi đem những kiến thức lý luận áp dụng vào thực tiễn phải phân tích những điều kiện cụ thể của thực tiễn để lựa chọn lý luận nào và kinh nghiệm thực tiễn nào vào cải tạo thực tiễn. Cần vận dụng lý luận một cách sáng tạo và hiệu quả vào thực tiễn để nâng cao hiệu quả công tác. Học tập lý luận cốt là vận dụng vào thực tiễn, phục vụ cải tạo thực tiễn, nếu không sẽ trở nên giáo điều về lý luận.

Phải tăng cường tính thực tiễn là gắn các tri thức lý luận với thực tiễn công tác, thực tiễn đất nước, làm cho thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm tăng hiệu quả hoạt động thực tiễn công tác của mình. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần phải tăng tính thực tiễn trong học tập lý luận, nghĩa là học lý luận để phục vụ thực tiễn làm việc, từ đó khắc phục được bệnh giáo điều lý luận. Người cán bộ, đảng viên phải có thái độ đúng đắn mới có thể khắc phục được bệnh giáo điều trong nghiên cứu, học tập lý luận. Như vậy, thay đổi nhận thức về việc học tập lý luận là quán triệt quan điểm thực tiễn để chống bệnh giáo điều trong học tập lý luận.

Phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ, làm cho nó đầy đủ dồi dào thêm”. Đó chính là quá trình tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận. Làm được như vậy có nghĩa là làm cho lý luận được “bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động”. Đồng thời, thực tiễn mới sẽ được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận mới.

Phong cách thực tiễn là một trong những nét nổi bật trong hệ thống phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phong cách thực tiễn của Bác luôn dựa trên thực tiễn và xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn Việt Nam để tiếp thu chọn lọc những gì hợp lý, đúng đắn và định hướng cho quá trình tìm ra hệ thống lý luận cũng như phương pháp cách mạng để giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam. Đó là một phong cách hành động khoa học, lấy thực tiễn là cơ sở, điểm xuất phát của quá trình nhận thức chân lý. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trong đó nghiên cứu và học tập phong cách thực tiễn của Người là rất cần thiết đối với mỗi người, bởi đó là phương thức góp phần loại bỏ căn bệnh giáo điều trong cán bộ, đảng viên hiện nay.

VAI TRÒ CỦA DÂN CHỦ VÀ KỶ LUẬT TRONG QUÂN

 

Nếu kẻ thù phát động cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, thì đây sẽ là một thử thách khốc liệt đối với chính trị - tinh thần, tâm lý và phẩm chất chiến đấu của bộ đội. Bởi vậy cần phải chuẩn bị cho bộ đội vững vàng về tư tưởng, chịu đựng được mọi thử thách khốc liệt, căng thẳng, kéo dài của chiến tranh, giữ vững khả năng chiến đấu và bản lĩnh làm chủ vũ khí và trang bị kỹ thuật trong mọi tình huống, tuyệt đối chính xác trong hành động; vì vậy, cần thiết phải:

Phát huy truyền thống dân chủ và kỷ luật của quân đội ta hiện nay sẽ không đạt được kết quả mong muốn nếu thiếu những cơ sở vật chất và các điều kiện bảo đảm cần thiết. Để thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa cần có các quy định, quy chế, chế độ cụ thể. Muốn xây dựng chính quy, tăng cường kỷ luật phải có hệ thống điều lệnh, điều lệ hoàn chỉnh và hệ thống doanh trại, trang thiết bị cần thiết.

Vì vậy, để phát huy truyền thống dân chủ và kỷ luật cần xây dựng và thể chế hóa các giá trị dân chủ và kỷ luật; cụ thể hóa quyền hạn và trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ, các tổ chức lãnh đạo, chỉ huy, quần chúng trong quân đội; quy định rõ các quyền hạn, lợi ích, nghĩa vụ quân nhân trong thực hiện dân chủ về kinh tế, dân chủ về chính trị, dân chủ về quân sự, bảo đảm quân nhân biết, quân nhân bàn, quân nhân làm, quân nhân kiểm tra.

Quân đội nhân dân Việt Nam là một bộ phận của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hệ thống điều lệnh, điều lệ, quy chế dân chủ, chế độ quy định phải dựa trên nguyên tắc pháp lý và tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Nhà nước. Nhưng do tính đặc thù của hoạt động quân sự, quân đội phải có hệ thống điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định, chính sách cụ thể phù hợp.

Hiện nay, nhu cầu hoàn thiện quy chế dân chủ, hệ thống điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định bảo đảm phát huy truyền thống dân chủ và kỷ luật trở nên cấp bách. Toàn bộ hệ thống huấn luyện và giáo dục phải chuẩn bị cho bộ đội sẵn sàng chiến đấu với một kẻ thù có âm mưu xảo quyệt và ưu thế về trang bị kỹ thuật. Con người, vũ khí trang bị phải thường xuyên ở tư thế sẵn sàng chiến đấu tiêu diệt quân thù trong mọi điều kiện, mọi thời gian.

SỰ CẦN THIẾT VÀ THƯỜNG XUYÊN ĐỐI VỚI PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

 

Sự cần thiết và thường xuyên đối với phương thức lãnh đạo của Đảng trước hết phải bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng về chiến lược, chiến dịch và chiến đấu, về tư tưởng và tổ chức; về con người và trang bị vũ khí nhằm phát huy sức mạnh tập thể và sức sáng tạo của mọi công dân, cán bộ, chiến sỹ, tăng cường được nền tảng chính trị - tinh thần của lực lượng vũ trang đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

Trước tiên cần: Đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Quân nhân là người dân tộc thiểu số, tôn giáo được chăm lo và có nhiều tiến bộ; mối quan hệ đoàn kết quân dân, đoàn kết nội bộ được giữ vững và tăng cường, góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện.

Đồng thường xuyên đổi mới tăng cường công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh cho già làng trưởng bản, chức sắc, chức việc tôn giáo để họ nhận thức sâu sắc chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước, công tác dân tộc, tôn giáo gắn với quốc phòng an ninh, tích cực Phương thức lãnh đạo của Đảng là một bộ phận hữu cơ hợp thành sự lãnh đạo của Đảng. Phương thức lãnh đạo của Đảng không chỉ là cách thức, phương pháp mà còn là quan điểm, chủ trương, cơ chế vận hành sự lãnh đạo của Đảng.

Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương phải lãnh đạo chặt chẽ sự nghiệp xây dựng, củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội theo phương hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, lấy xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị tư tưởng và tổ chức là yêu cầu cần thiết, thường xuyên.

Nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh và xây dựng quân đội của Đảng và Nhà nước thì không những làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc, mà còn đưa đến những hậu quả. Do vậy, tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước; chủ động phối hợp chặt chẽ với các cấp, các ngành, các lực lượng để tuyên truyền nhằm đạt được chất lượng tốt.

PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG DÂN CHỦ VÀ KỶ LUẬT CỦA QUÂN ĐỘI

 

Phát huy truyền thống dân chủ và kỷ luật của quân đội ta hiện nay sẽ không đạt được kết quả mong muốn nếu thiếu những cơ sở vật chất và các điều kiện bảo đảm cần thiết. Để thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa cần có các quy định, quy chế, chế độ cụ thể. Muốn xây dựng chính quy, tăng cường kỷ luật phải có hệ thống điều lệnh, điều lệ hoàn chỉnh và hệ thống doanh trại, trang thiết bị cần thiết.

Nếu kẻ thù phát động cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, thì đây sẽ là một thử thách khốc liệt đối với chính trị - tinh thần, tâm lý và phẩm chất chiến đấu của bộ đội. Bởi vậy cần phải chuẩn bị cho bộ đội vững vàng về tư tưởng, chịu đựng được mọi thử thách khốc liệt, căng thẳng, kéo dài của chiến tranh, giữ vững khả năng chiến đấu và bản lĩnh làm chủ vũ khí và trang bị kỹ thuật trong mọi tình huống, tuyệt đối chính xác trong hành động; vì vậy, cần thiết phải:

Vì vậy, để phát huy truyền thống dân chủ và kỷ luật cần xây dựng và thể chế hóa các giá trị dân chủ và kỷ luật; cụ thể hóa quyền hạn và trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ, các tổ chức lãnh đạo, chỉ huy, quần chúng trong quân đội; quy định rõ các quyền hạn, lợi ích, nghĩa vụ quân nhân trong thực hiện dân chủ về kinh tế, dân chủ về chính trị, dân chủ về quân sự, bảo đảm quân nhân biết, quân nhân bàn, quân nhân làm, quân nhân kiểm tra.

Quân đội nhân dân Việt Nam là một bộ phận của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hệ thống điều lệnh, điều lệ, quy chế dân chủ, chế độ quy định phải dựa trên nguyên tắc pháp lý và tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Nhà nước. Nhưng do tính đặc thù của hoạt động quân sự, quân đội phải có hệ thống điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định, chính sách cụ thể phù hợp.

Hiện nay, nhu cầu hoàn thiện quy chế dân chủ, hệ thống điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định bảo đảm phát huy truyền thống dân chủ và kỷ luật trở nên cấp bách. Toàn bộ hệ thống huấn luyện và giáo dục phải chuẩn bị cho bộ đội sẵn sàng chiến đấu với một kẻ thù có âm mưu xảo quyệt và ưu thế về trang bị kỹ thuật. Con người, vũ khí trang bị phải thường xuyên ở tư thế sẵn sàng chiến đấu tiêu diệt quân thù trong mọi điều kiện, mọi thời gian.

XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN BẢO VỆ TỔ QUỐC

 Phát triển kinh tế, xã hội, đoàn kết liên minh công-nông- trí thức, phát huy tối đa tiềm năng của họ trong thực hiện mục tiêu dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và tích cực tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc; đồng thời xác định các chính sách đúng hợp lòng dân tạo nên động lực mạnh mẽ phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc

Thường xuyên nâng cao tinh thần cảnh giác, có quan điểm và phương pháp đúng trong giải quyết các vấn đề liên quan đến dân tộc, tôn giáo, không để các thế lực thù địch lợi dụng kích động, chia rẽ nội bộ nhân dân, các dân tộc, các tôn giáo. Đấu tranh kiên quyết với những âm mưu và hành động chia rẽ dân tộc, chủ nghĩa ly khai của các thế lực thù địch. Đồng thời, xây dựng, nâng cao vai trò, vị thế của giai cấp công nhân, nông dân và trí thức Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà nước phải tăng cường giáo dục nâng cao giác ngộ về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cho giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức; giải quyết việc làm, thu nhập lao động cho từng giai cấp phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Luôn phải chăm lo xây dựng lực lượng nòng cốt của khối đại đoàn kết toàn dân là khối liên minh công nhân-nông dân- trí thức, nâng cao vai trò, vị thế của giai cấp công nhân, nông dân và trí thức, đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cần phát huy vai trò của các tổ chức chính trị-xã hội trong xây dựng tiềm lực chính trị-tinh thần của nền quốc phòng toàn dân trong tình hình mới.

Thực hiện tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò chủ động, tích cực của các tổ chức quần chúng; mặt khác, phải tăng cường vai trò của chính quyền các cấp trong quản lý nhà nước về các hoạt động và các tổ chức chính trị-xã hội. Nhằm nâng cao khả năng quốc phòng, an ninh đáp ứng yêu cầu của công cuộc bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. 

PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ DÂN CHỦ TRONG TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA CỦA DÂN TỘC

 

Quân đội ta luôn cá tinh thần kiên quyết, dũng cảm xả thân vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tình hữu ái giai cấp, bình đẳng về chính trị, chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ; tính kỷ luật tự giác nghiêm minh, cán bộ, chiến sĩ thương yêu nhau như ruột thịt, hết lòng giúp đỡ lẫn nhau lúc thường cũng như khi ra trận; đoàn kết thống nhất toàn quân một ý chí; tinh thần tập thể và chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Trong điều kiện hiện nay, cần làm cho mỗi quân nhân nhận thức đúng đắn mối quan hệ giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại trong phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và kỷ luật tự giác nghiêm minh.

Thường xuyên giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ biết trân trọng giữ gìn, phát huy những giá trị dân chủ trong truyền thống văn hóa của dân tộc phải giáo dục truyền thống dân chủ và kỷ luật của quân đội ta đã xây đắp trong những năm qua. Đó là lòng trung thành với Đảng, với nhân dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, hơn bao giờ là cần thiết phải đề cao và giáo dục truyền thống dân chủ và kỷ luật trong quân đội chỉ được nảy nở, phát triển khi mỗi quân nhân có nhận thức đúng, có thái độ trân trọng đối với các giá trị truyền thống tốt đẹp. Vì vậy, hoạt động giáo dục, phát triển ý thức dân chủ, năng lực làm chủ, ý thức kỷ luật cho quân nhân là một nhiệm vụ trọng tâm của sự nghiệp xây dựng quân đội về chính trị và phải được tiến hành thường xuyên, liên tục trong sự kết hợp chặt chẽ với các hoạt động chính trị - xã hội, quân sự.

Luôn phát huy truyền thống cách mạng anh hùng và vẻ vang nâng cao chí khí phấn đấu, giữ vững kỷ luật, đoàn kết trên dưới, đoàn kết quân dân, nhằm làm tròn mọi nhiệm vụ do Đảng giao cho. Do đó, cần thiết phải nâng cao giáo dục ý thức, năng lực dân chủ phải gắn liền với giáo dục phát triển ý thức tự giác chấp hành kỷ luật của quân nhân, làm cho mọi quân nhân có niềm tin khoa học vào bản chất tốt đẹp của kỷ luật tự giác nghiêm minh. Như vậy, mới đủ sức chiến đấu, để hoàn thành trách nhiệm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TĂNG CƯỜNG CHỐNG PHÁ ĐẢNG TRÊN LĨNH VỰC QUỐC PHÒNG AN NINH

 

Mục tiêu cơ bản: Xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, dựng lên chính quyền lệ thuộc vào nước ngoài. Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đã nhận định: Các thế lực thù địch tăng cường hoạt động chống phá ta về chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hóa, về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo; tuyên truyền, kích động, thực hiện “diễn biến hòa bình” nhằm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Âm mưu thủ đoạn và biện pháp tiến hành: Tuyên truyền xuyên tạc nhằm xóa bỏ chủ nghĩa chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, hình thành đa nguyên Các cấp, các ngành đã quyết liệt trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện đồng bộ công tác phòng, chống tham nhũng; tăng cường quản lý thực thi công vụ của cán bộ, công chức, viên chức, siết chặt kỷ cương, kỷ luật hành chính trong cơ quan Nhà nước.

Trên lĩnh vực quốc phòng và an ninh: Cấp ủy, chính quyền tỉnh đã triển khai thực hiện tốt các nội dung xây dựng phòng chống diễn biến hòa bình. Các nội dung xây dựng kinh xã hội, chính trị-tinh thần, quốc phòng an ninh đã dần được cụ thể hóa trong thực tiễn, được trú trọng, quan tâm xây dựng vững mạnh, từng bước, tạo nên sự vững chắc sức mạnh trong phòng chống chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ.

Lực lượng vũ trang đứng chân trên địa bàn đã kiện toàn tổ chức biên chế, trang bị hiện đại, tích cực tham gia giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương, truy quét tội phạm và các băng nhóm tổ chức phản động, sâu sát cơ sở, xây dựng thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc.

Đảng bộ tỉnh tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân góp phần ngăn ngừa có hiệu quả các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động gây bạo loạn lật đổ, ngăn chặn hiệu quả tình trạng buôn lậu, vượt biển trái phép và các tệ nạn xã hội không để chúng du nhập vào địa bàn.

 

BIỆN PHÁP CƠ BẢN GIỮ VỮNG AN NINH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI

 

Nội dung xây dựng nền quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, liên quan đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, các cấp, các ngành, các lực lượng phải nghiên cứu, quán triệt toàn diện, sâu sắc để tổ chức thực hiện có hiệu quả. Để xây giữ vững an ninh, trật tyự xã hội trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng phải tiến hành tổng hợp các biện pháp.

Chủ động giải quyết kịp thời, triệt để các vấn đề kinh tế, xã hội phức tạp, không để các đối tượng lợi dụng kích động, tổ chức biểu tình xâm phạm an ninh, trật tự; giải quyết kịp thời, có hiệu quả những vụ việc phức tạp trong xã hội, mâu thuẫn trong nội bộ; giải quyết đơn, thư, khiếu nại, tố cáo của công dân, phát hiện sớm và giải quyết triệt để các mâu thuẫn phát sinh trong nội bộ nhân dân, không để hình thành các “điểm nóng” về an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; quan liêu, tham nhũng.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động quần chúng, xây dựng, củng cố phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; gắn nội dung tuyên truyền vận động, xây dựng phong trào với giải quyết những lợi ích thiết thực của người dân. Đặc biệt, phải coi lợi ích chính đáng của quần chúng nhân dân vừa là mục tiêu, nội dung nhưng đồng thời cũng là động lực để thúc đẩy phong trào. Quá trình tổ chức công tác tuyên truyền, vận động quần chúng, phát động phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc phải có sự phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trên địa bàn nhằm tạo sức mạnh tổng hợp.

Đổi mới hình thức, nội dung vận động, phát động phong trào theo hướng đa dạng hóa các hình thức, nội dung tuyên truyền. Chú trọng xây dựng và nhân rộng các mô hình quần chúng bảo vệ an ninh trật tự ở cơ sở phát huy hiệu quả, nhất là các mô hình “tự phòng, tự quản về an ninh trật tự”, mô hình “khu dân cư an toàn”, mô hình “dòng họ an toàn về an ninh trật tự”...

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh trật tự, nhất là đối với các lĩnh vực báo chí, xuất bản, thông tin, truyền thông, đặc biệt là Internet; tăng cường thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện và xử lý kịp thời những vi phạm trong hoạt động Internet; quản lý, giám sát chặt chẽ và ngăn chặn số đối tượng cầm đầu, cốt cán, số khiếu kiện chây ỳ thường xuyên tham gia tụ tập đông người, tuần hành, biểu tình gây rối an ninh, trật tự xâm phạm an ninh trật tự.